CHẠNH LÒNG THƯƠNG MỘT ĐÓA THU RƠI

truongdinhphuong

cho tôi một phút nghe mùa rụng
chạnh thấy lòng thương nhánh cỏ gầy
và em như đóa tình năm ấy
xanh mãi bờ xưa những ước mơ…

buồn như sợi chỉ xuyên ngày tháng
đan kín đời tôi vạn nẻo đường
những buổi chiều hoen lòng viễn xứ
giật mình, thèm khát một mùi hương…

tháng chín, chừng như thu đã chớm
áo heo may, ai để tơ chùng
nắng tà hay mắt người xưa nhỉ?
sao mình chợt thấy nhớ mông lung?

một phút, người ơi, xin một phút
thoảng nghe trong gió tiếng ai cười
hồn nhiên như buổi đầu tiên ấy
cho tình thơm mãi tuổi hai mươi!

Trương Đình Phượng

VỀ CHƯA MUÔN VẠN NỖI ĐỜI

truongdinhphuong

1.
Về chưa, cơn mộng cuối mùa
Cho tôi làm kiếp gió lùa qua hiên
Khẽ ru nhánh có rất hiền
Nghe từ mạch đất ý thiền vạn năm

2.
Về chưa, giọt nước, cuối nguồn
Cho tôi làm gợn sóng buồn đi rong
Về chưa những mạch tim đồng
Cho tôi làm ánh nắng hồng ban mai…

3.
Về chưa, năm tháng mệt nhoài
Cho tôi, lặng lẽ, đứng ngoài gió mưa
Về chưa những phím âm thừa
Cho tôi làm nốt nhạc vừa, thiết tha…

4.
Về chưa, muôn dặm đường xa
Cho cay đắng giữa hồn cha, ngọt dần
Về chưa, muôn nỗi tảo tần
Cho tay mẹ dịu những phần bão giông…

Trương Đình Phượng

CHÌM LÁ BUỒN ĐAU

truongdinhphuong

CHÌM

Một mình về giữa đêm côi
Phố không là biển
Hồn tôi bỗng chìm…

LÁ BUỒN

Tôi về tỉa tót hồn tôi
Hình như bớt được một đôi lá buồn!

ĐAU

Phố đau như một buổi nào
Người đi
Trút lại mưa rào
Riêng tôi…

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

ĐÊM VÀ TA

truongdinhphuong

Vét đêm, ta gầy cuộc nhớ
Chiếu, chăn lạnh: nửa góc nằm
Em giờ, như trang cổ tích
Mơ hồ, bóng khói, xa xăm…

Ngoài kia, phố chừng đã ngủ
Chỉ còn lá, gió buồn hiu
Hiên cũ, chìm vào mỏi mệt
Nghe, dòng ký ức lên rêu…

Trương Đình Phượng

XIN EM ĐỪNG KHƠI TÀN TÍCH

truongdinhphuong

Thưa em, cái mùa thu cũ
Chết rồi, nhắc để mà chi
Một lần, nhẹ bước ra đi
Tìm về, thêm đau tàn tích…

Phố xưa, bây giờ lá đổ
Không còn, những bóng tình nhân
Cầm tay, nghe lòng đồng điệu
Nên đêm, tê buốt muôn vàn…

Áo tình, người thay mấy bận
Mùi hương, bao độ phai nồng
Núi kia, ngàn năm cứ đợi
Và mây, còn mãi phiêu bồng…

Nhắc gì, cơn mưa chiều cuối
Chẳng làm ướt dáng người đi
Kẻ ở, ngập hồn vạn kỷ
Chơ vơ, tìm xác tim mình…

Trương Đình Phượng

RANH GIỚI. ANH HÙNG. BẠO CHÚA!!!

truongdinhphuong

Nguyễn Ánh bị Huệ ép cho cùng đường đành sang cầu cứu Xiêm La và người Pháp.Một mưu thần dưới trướng bảo Ánh:
-Thưa minh công, theo ngu ý của tôi ngài nên nằm gai nếm mật đợi thời chờ cho lực lượng nhà Tây Sơn suy yếu rồi hãy phản công bằng thực lực của chính mình. Nếu bây giờ dựa vào sức ngoại bang có thể ngài sẽ dành lại được giang sơn mau chóng nhưng tôi e là sẽ xảy ra thảm cảnh rước voi dày mả tổ chăng?
Ánh trợn trừng hai con ngươi mà rằng:
-Nhà ngươi có đứng vào vị trí của ta mới hiểu được lòng ta. Toàn bộ gia tộc nhà ta bị một tay bè lũ Tây Sơn giết hại nếu ta không trả được thù thì có xứng làm kẻ đứng trong trời đất hay chăng?
Kẻ đó nói:
-Thưa tôi hiểu mối uất hận của ngài. Nhưng thiển nghĩ thù nhà tuy quan trọng nhưng non sông này còn quan trọng hơn ngàn vạn lần.Nếu một mai ngài trả được mối hận nhà mà non sông lại lọt vào tay giặc thì biết tính sao?
Ánh vắt tay lên trán suy nghĩ rất lung. Những thây người đẫm máu, những tiếng than khóc xé ruột của người thân lần lượt hiện về trong tâm trí Ánh. Ánh ngẩng đầu lên dứt khoát:
-Đúng sai gì hãy để hậu thế phẩm bình, nay ta hãy cứ thỏa mãn chí tang bồng của ta. Ngươi có biết không, ai cũng nghĩ ta chỉ vì thù tư mà dựa dẫm người Xiêm La và người Pháp để tiêu diệt nhà Tây Sơn, thật sự tất cả các ngươi đều lầm, các ngươi biết một mà không biết hai.Ánh nghĩ một lát lại thở dài nói tiếp. Hiện nay nền chính trị cũng như đời sống xã hội nước ta đang sa vào vũng lầy cổ tục, nếu không chấn hưng thì e là sẽ tụt hậu trầm trọng so với các nước lân bang.
Ta nhìn ra phương Tây thấy tư tưởng cũng như nền văn hóa của họ vượt xa chúng ta cả mấy trăm năm, nếu được sau khi mượn tay họ trả mối thù giết hại dòng tộc ta muốn dựa vào họ để cải cách lại nền văn hóa nước nhà.
Kẻ mưu sĩ nhìn Ánh đầy nghi hoặc. Ánh cười ha hả:
-Ôi chí của chim hồng chim hộc loài cỏ lác có thể hiểu được sao? Ta nói cho ngươi hay Huệ là một tay thân thịt áo lông, lòng chồn dạ cáo.Bên ngoài hắn tỏ vẻ vì dân nước và phục tùng nhà Tây Sơn nhưng thật sự trong bụng hắn chứa đầy tham vọng.
Kẻ mưu sĩ lắc đầu cười thầm cúi mình xá Ánh rồi cáo lui. Ba hôm sau kẻ mưu sĩ ấy bỏ Ánh mà chạy sang đầu quân cho Huệ. Huệ nhìn kẻ ấy thấy mình hạc mặt chuột thì nghĩ:
-Cổ nhân bảo mình hạc thì ác mặt chuột thì gian, kẻ này ta có nên sử dụng hay chăng?
Tính Huệ xưa nay vốn hào sảng yêu chuộng người tài bởi vậy chỉ nghĩ thoáng qua một chút rồi cười nói:
-Ta áo vải cờ đào, một niềm đau đáu vì non sông nòi giống nay ngươi bỏ chỗ tối sang nơi sáng nguyện giúp ta tiêu trừ tên chuột nhắt Nguyễn Ánh âu cũng thuận theo lẽ tự nhiên vậy.
Kẻ mưu sĩ cúi gập mình mà rằng:
-Cảm tạ sự ưu ái thâu nhận của ngài tôi nguyện óc gan lầy đất cũng không từ nan.
Huệ hỏi:
-Nhà ngươi ở dưới trướng của hắn bao lâu?
Kẻ sĩ đáp:
-Dạ thưa gần mười năm.
Huệ nói:
-Vậy là người theo hắn từ thuở hắn còn trứng nước?. Ta muốn ngươi nói rõ cho ta về tính cách cũng như suy nghĩ của hắn liệu có được chăng?
Kẻ sĩ sửa áo đáp:
-Ánh là kẻ bên ngoài cương nhưng bên trong nhu. Điểm yếu chết người của hắn là luôn mang nặng trong lòng mối thù gia tộc, tôi nghĩ kẻ nào mà chỉ đau đáu trả tư thù thì trí tuệ sẽ luôn bị bó buộc bởi hai chữ vì thân.Nếu Ánh nghĩ thông suốt đem lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu hắn sẽ là một tay anh hùng lật đất đổi trời.
Kẻ có tham vọng làm vương mà hạ mình cầu cứu ngoại bang đã là một sai lầm nghiêm trọng, theo ngu ý của tôi tốt nhất mình hãy tự lực tự cường. Muốn đất nước phát triển có thể nhìn vào nền văn minh của người ta mà thay da đổi thịt nhưng không đồng nghĩa với việc để cho người kiềm tỏa mình. Ánh nói thì hay mà suy nghĩ của Ánh tôi nghĩ còn nhiều điều chưa thoát ly khỏi gấu váy đàn bà.
Huệ cười thầm tự nhủ:
-Tên này ăn nói cũng khéo đấy, vừa nói về Ánh nhưng đồng thời hắn “dạy khéo” cả ta.
Kẻ mưu sĩ chưa lập gia đình nên Huệ cho hắn tạm thời sang ở cùng Ngô Thời Nhậm.
Từ đó kẻ mưu sĩ đã ngày đêm cống hiến nhiều kế hay giúp cho Huệ lắm phen khiến quân của Ánh khốn đốn. Ánh thề một ngày tiêu diệt được Tây sơn sẽ băm vằm kẻ phản tặc.
Năm 1792 Huệ đột ngột lâm trọng bệnh qua đời khi mới 40 tuổi. Con trai Huệ là Quang Toản lên nắm quyền. Quảng trí hèn, tài sơ cuối cùng bị Ánh tiêu diệt, vương triều Tây Sơn hoàn toàn sụp đổ. Sau khi giành thắng lợi Ánh bắt đầu cuộc trả thù bỉ ổi nhất trong lịch sử Việt Nam.
“ Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt, 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệđều bị xử lăng trì[170].
Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác[171][172], đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục[171].
Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày[172], chồng bà là Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho quân Nguyễn[172] nên xin được Nguyễn Ánh tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết…
Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi[171], đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối[173][174][175].
Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về (riêng Ngô Thì Nhậm thì bị Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên cho người đánh chết.
(trích từ bách khoa toàn thư điển tử Wikipedia)
Ánh cho người lùng xục khắp hang cùng ngõ hẻm quyết tìm cho được kẻ mưu sĩ. Hơn mười ngày quân lính xục xạo từ hang chuột góc bếp vẫn không thấy kẻ ấy.
Mấy năm sau, vào một buổi sáng Ánh lúc này đã lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đang thiết triều thì được quân lính canh cổng thành vào bẩm báo có một kẻ cụt chân hò hét bên ngoài đòi diện kiến cho bằng được nhà vua.
Ánh cho là sự lạ liền khiến quân lính cho kẻ đó vào.
Nhìn kẻ đứng dưới vóc hạc mặt chuột Ánh hơi nghi nghi nhưng kẻ này râu ria xồm xoàm lại chột một bên mắt nên Ánh chưa dám chắc bèn hỏi:
-Ngươi là ai muốn gặp trẫm có chuyện gì?
Kẻ cụt chân cười ha hả nói:
-Cách xa chưa bao lâu lẽ nào ngài vội quên kẻ mưu sĩ đã theo ngài từ thuở còn hàn vi?
Ánh ồ lên một tiếng, rồi cười nói:
-Qủa nhiên là ngươi, nếu là mấy năm trước khi ta vừa tiêu diệt xong Huệ tìm được ngươi hẳn ta đã ban cho ngươi cái chết không nhẹ nhàng, nhưng bây giờ ta đã ở ngôi cao muôn dân trong vào ta cũng chả thèm chấp một kẻ đã thành đứa vô dụng như ngươi.
Kẻ cụt chân con mắt còn lại long sòng sọc nhìn Ánh:
-Khi các người kéo quân đánh vào quân Tây Sơn lẽ ra ta đã bị vùi xác trong chiến loạn nhưng ta đã gắng gượng chạy thoát và cố gắng sống cho đến ngày hôm nay, ngài có biết vì sao chăng?
Ánh lắc đầu:
-Thú thật là ta không biết, ngươi có thể nói rõ ta nghe được chăng?
Ánh nhìn kẻ ấy vẻ tò mò. Kẻ cụt chân vung gậy chỉ vào mặt Ánh:
-Là để gặp lại ngươi đấy.
Ánh giật nảy mình suýt chút nữa thì đứng bật dậy.Nhưng Ánh cố kìm nén ngồi im.
Kẻ cụt chân nói tiếp:
-Ngươi từng nói với ta sẽ không vì tư thù mà rước ngoại bang vào dày xéo non sông, ngươi lại còn vung vít rằng sẽ thay da đổi thịt cho đất nước này. Nay thì sao?
Ngươi diệt nhà Tây Sơn trả thù một cách bỉ ổi táng tận lương tâm đến cầm thú cũng phải ghê sợ. Nay người ngồi ngôi cao lại đặt ra sưu cao thuế nặng khiến sinh linh khốn khổ. Ta đã từng nghĩ ngươi rốt cuộc cũng chỉ là kẻ miệng chó mõm quạ nay thì thật đúng lắm thay.
Nếu ta là ngươi thì đã không như bây giờ. Tại sao ngươi không lập nên đất nước của riêng ngươi cùng Huệ chia đôi hai miền nam bắc ngươi quản Nam để Bắc Hà cho Huệ song song cùng tồn tại, gạt bỏ mối tư thù, nước sông không phạm nước giếng.
Nếu ngươi làm được như vậy thì hậu thế ngàn đời ngợi ca ngươi thay vì ngươi trở thành mảnh gương xấu cho muôn đời phỉ nhổ.
Nghe những lời ấy Ánh rúng động tâm can lẩm bẩm:
-Nếu ta làm vậy liệu có được không?
Nhìn kẻ cụt chân nói:
-Nếu ta làm như ngươi nói thì liệu Huệ có tha cho ta chăng? Huệ là tay tham vọng không hề nhỏ.
Kẻ cụt chân nói:
-Đúng vậy Huệ tham vọng không nhỏ nhưng tấm lòng vì dân vì nước của Huệ là vô cùng bao la. Nếu như ngươi cố quên thù cũ đưa ra sách lược cùng Huệ chia đôi hai miền để non sông ổn định thì Huệ chắc chắn sẽ nghe.
Ánh nói:
-Tại sao trước đây ngươi không nói cho ta điều này?
Kẻ cụt chân cười:
-Ngươi còn nhớ có lần ta dâng ngươi một chiếc túi chăng, ta nói trong chiếc túi đấy có chứa một cẩm nang giúp ngươi thực hiện được hoài bão của ngươi mà không cần phải đổ máu người dân vô tội nhưng ngươi chỉ cười trừ xem ta là tên nói xằng.
Kẻ cụt chân thở dài :
-Dù sao mọi sự cũng đã rồi nói nhiều cũng chả được gì. Từ nay ta mong ngươi hãy suy nghĩ thấu đáo vì nhân dân mà thay đổi những đạo luật hà khắc. Dân là gốc triều đình là ngọn không có nhân dân thì ngôi cao quyền trọng cũng chỉ là phù du, kẻ nào dùng cái ác để quản lý đất nước lấy bất công để cai trị bá tánh thì sớm muộn cũng bị diệt vong mà thôi.
Kẻ cụt chân nặng nề lê tấm thân tàn rời hoàng cung. Ánh ra lệnh cho quân lính không được cấm cản hắn.
Đêm đấy Ánh đang nằm ngủ, giật mình choàng dậy vì một giấc mơ kinh hoàng. Ánh thấy rất nhiều người máu me be bét quây quanh mình khóc lóc, chửi bới đòi đền mạng. Khuôn mặt Huệ uy nghi hai mắt như điện chiếu thằng vào Ánh mà nói:
-Ta sẽ được ngàn đời nhắc đến với sự ngưỡng vọng nuối tiếc còn ngươi sẽ bị hậu thế nguyền rủa.
Ánh hét lớn:
-Không, không ta không phải thế, ta không phải thế.
Một tiếng sét đinh tai, rồi mưa như trút. Ánh hốt hoảng chạy lại mở toang cửa nhìn ra sân. Từng dòng nước mưa chảy tràn, dưới làn chớp sáng ngời đỏ quạch như máu.

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

TÊN TÙ

truongdinhphuong

Hận cố ngóc cổ về phía có chút nắng sớm hiếm hoi lọt qua những kẽ hở cánh cửa phòng giam. Đã ba tháng từ hôm người ta đưa hắn vào đây, chưa một lần hắn được phép đặt chân ra ngoài hít thở khí trời. Ban đêm cũng như ban ngày hắn quan sát mọi vật nhờ ngọn điện mờ câm mờ tịt.
Cả tuần nay hắn dường như quên hết nỗi u uất trong lòng, tất cả tâm trí hắn đang để vào công việc quan sát cái tổ kiến nơi hốc tường phòng giam. Ngày qua ngày lũ kiến đi đi về, kiên trì nhẫn nại. Những con kiến thợ miệt mài xây tổ. Những con kiến chuyên đi kiếm mồi, thân thể bé nhỏ mà mang trên lưng những thực phẩm to tổ chảng.
Có hôm mấy con kiến lăn quay ra chết, cả đàn kiến bu quanh, có lẽ là để tưởng tiếc, hôm đó sinh hoạt của tổ kiến trầm hẳn đi. Đám kiến thợ và đám kiến nội trợ không rời tổ mà quanh quanh quẩn quẩn như đang để tang.
Hận bỗng nghĩ về thế giới con người.
Làng theo tên người ta gọi từ thuở xa xưa là làng Cồn, vì nơi đây trước kia là khu nghĩa địa chôn chung của tầng lớp dân đen, sau này người ta kéo nhau tới đào mả, lập nhà sinh sống, ban đầu chỉ lẻ tẻ dăm ba người khốn khó rồi dần dần số nóc nhà tăng lên gần trăm. Thế là làng ra đời.
Bố mẹ Hận là người miền nam chạy giặc ra bắc. Mùa đông năm ấy trời rét dữ dằn. Vào khoảng chập tối người ta thấy một người đàn ông dìu một người đàn bà đi vào làng Cồn. Người đàn bà hình như đang mang bầu. Ở cái thời dân trí còn thấp người ta hay sợ bóng sợ vía, nên không ai dám chứa chấp hai người lạ hoắc lạ hươ trong nhà. Đêm đó vì không có chỗ trọ nên người đàn ông đành cùng vợ ngủ tạm trong vườn chuối ngoài rìa sông. Nửa khuya gió bấc cắt da cắt thịt, người đàn bà chuyển dạ. Không có bếp và dụng cụ để đun nước sôi, người chồng đành xé những y phục mang theo lau cho con và vợ. Đứa bé thật ngoan, chỉ khóc lên vài tiếng chào thế gian rồi chìm vào giấc ngủ. Người đàn bà ôm con vào lòng gối đầu lên chân chồng. Ngoài sông gió vẫn rít từng hồi. Vườn chuối lá cọ vào nhau như ma cười quỷ rú.
Hận bước vào cõi trần gian như thế. Ban đầu cha hắn đặt tên hắn là Hạnh. Với dự định sau này nếu sinh thêm đứa con gái sẽ đặt tên là Phúc. Sáu năm sau mẹ Hạnh mang bầu em gái hắn, nhưng số phận nghiệt ngã đã trút xuống gia đình Hạnh, đứa trẻ chết ngay khi vừa mới lọt lòng. Người ta nói mẹ Hạnh bị viêm buồng trứng, sau này sẽ không thể sinh sản được nữa. Hận trời, tủi đời… bố Hạnh đổi tên hắn thành Hận: Hồ Hận!
Năm Hận mười bốn tuổi bố hắn qua đời do một cơn tai biến. Mẹ hắn suy sụp hoàn toàn. Hận bỏ học dở chừng, đi làm khuân vác. Sớm va vấp cuộc sống Hận đánh mất sự hồn nhiên trong sáng của đứa trẻ nhà nghèo. Hắn bắt đầu học hút thuốc lá, uống rượu. Mẹ Hận sau hai năm để tang cha hắn nỗi đau dần nguôi ngoai, bà trở về với nghề buôn cau. Sáng sớm bà bắt tàu vào Hà Tĩnh thu mua cau, chiều tối lại trở về Hà Nam. Cuộc sống hai mẹ con cứ rối nhàu trong vòng luẩn quẩn ấy. Năm Hận mười tám tuổi. Có người mai mối cho hắn một cô gái người Hà Nội, nghe đâu cô ta là giáo viên tiểu học. Thương mẹ, muốn có cô con dâu đỡ đần cho bà Hận quyết định cưới vợ. Thế nhưng, sau ngày cưới được bốn tháng vợ Hận đã cuỗm sạch số tiến mẹ hắn dành dụm bao nhiêu năm “tếch bến”. Hận thề sẽ không bao giờ còn đếm xỉa tới đàn bà.
Cuộc đời hai mẹ con lại lầm lũi trôi qua như những nhánh lục bình trên dòng sông đục ngàu.
Gần bốn mươi tuổi. Hận thành gã đàn ông ế vợ. Hắn góp nhóp tiền mua xe máy. Bỏ nghề làm thuê, chuyển qua đi xe lai.
Tối hôm đó, chờ dài cổ chả có khách nào đi, Hận và mấy tay đồng nghiệp rủ nhau đi ăn thịt chó. Độ mười hai giờ, Hận về, hắn say.
Đường vắng. Hận cho xe chạy chậm. Gió đêm làm hắn tỉnh táo hẳn ra.
-Cứu tôi, cứu!
Giọng cầu cứu theo gió vẳng tới tai Hận.Hận dừng xe. Hình như là một người đàn bà. Hận định bỏ mặc, đi tiếp. Nỗi đau xưa vẫn còn in hằn trong trái tim hắn. Đàn bà. Hắn không thể khiến lòng hắn nguôi quên mối căm oán ngày xưa.
-Chết mất, có ai không cứu, cứu…
Tiếng kêu cứu càng thảm thiết, vang trong đêm trường như tiếng ma khóc.
Một lằn áp thấp chạy dọc sống lưng, lạnh toát. Hận tỉnh thêm. Hắn nghiêng tai nghe ngóng. Tiếng kêu bi thiết vẳng ra từ một nhà ven đường. Hận rời xe, liêu xiêu tiến về phía tiếng rên. Dưới ánh đèn đường mờ ảo, một cô gái nằm trong vũng máu, hai mắt đã gần lạc thần. Hận ngồi xuống, đỡ cô gái dậy, hỏi dồn:
-Cô, cô bị sao vậy?
Cô gái yếu ớt nói:
-Cướp…cướp…chúng nó giết bố mẹ và em tôi rồi.
Dứt lời cô gái, tắt thở. Hận chạy vào trong nhà. Đồ đạc rối tung. Trên nền nhà ba cái xác đã lạnh tự bao giờ.
Bỗng nhiên Hận sợ. Lúc này chừng như rượu đã ngấm. Cơn say lại áp chế tâm thần của Hận. Hắn dường như đang nghe người ta hò hét, đánh đập hắn và vu cho hắn là tên giết người. Hận lao ra khỏi căn nhà chết chóc… Đêm nồng nặc mùi tử khí.
Hai hôm sau, buổi trưa Hận vừa đi xe lai về tới ngõ đã thấy rất nhiều người đứng trước nhà hắn. Người ta chỉ chỉ trỏ trỏ bàn tán xôn xao. Hận chạy vội vào nhà. Mẹ hắn ngồi thất thần trên ghế. Mấy tay công an đang hỏi han gì đó. Mẹ hắn nước mắt ngắn dài phân bua:
-Xin các anh xem xét lại, chắc chắn không có chuyện đó đâu, tôi sinh con tôi biết mà, tính nó ham vui, thỉnh thoảng có rượu chè nhưng giết người thì nó không bao giờ dám đâu.
Một tay công an đanh giọng nói:
-Bằng chứng rõ ràng, không chối tội được đâu bà.
Hận bước lại, ngơ ngác hỏi:
-Có chuyện gì vậy mẹ?
Một tay công an khác chụp lấy tay Hận, tra còng, nói:
-Anh Hận anh đã bị bắt vì tình nghi có liên can tới vụ cưỡng dâm và giết người tại cửa hàng bán vàng Tịnh Ký ở khu phố Nguyễn Du.
Hận hốt hoảng thanh minh:
-Các anh lầm rồi, tôi không có làm. Tôi không biết gì hết….
-Anh có làm hay không cũng cứ đi theo chúng tôi, trước cơ quan hành pháp tất cả sẽ rõ ràng.
… Sau một tuần tra vấn hỏi cung, mặc dù Hận kiên quyết minh oan cho mình, cuối cùng người ta cũng cứ khăng khăng khẳng định kẻ cướp của giết người là hắn. Dựa vào dấu vân tay trên cổ nạn nhân, và trên một số đồ vật trong nhà người ta kết luận đó là dấu vân tay của Hận.
Hận ngồi dậy. Đêm đã rất khuya. Hắn không sao vỗ về giấc ngủ. Giờ này ở nhà hẳn mẹ hắn còn thức, nỗi đau hành hạ tâm hồn bà, liệu bà có chịu đựng nổi không? Hận thấy thù ghét chính mình, giá như hắn không cố chấp chuyện cũ lấy vợ lần nữa thì giờ này bên mẹ hắn đã có người sớt chia phiền muộn. Chít chít… Hận đưa mắt nhìn. Con chuột già theo lỗ hổng chân tường đã lại chui vào “nhận hàng cứu trợ”. Hôm nào Hận cũng bớt khẩu phần ăn của mình cho con chuột già ấy. Khi thì miếng thịt, lúc khúc cá. Hận chỉ cần để gần lỗ hổng đêm khuya con chuột sẽ tự động chui vào đem đi. Không biết tự bao giờ Hận thấy tình yêu thương đã mạnh mẽ nảy mầm đơm lộc trong con người hắn.
Một chiếc lá rụng lọt qua song cửa vào phòng giam. Một cánh chim chao chát lưng trời chiều. Một con gián chết bên vỉa tường… đều khiến trái tim Hận rung lên những âm vực xót xa.

Hận tựa vào tường… Lắng ghe. Ngoài kia đang mưa. Những hạt mưa rơi trên những tán lá như những tiếng tâm sự đời đứt nối. Ngày mai là phiên tòa cuối cùng. Có thể người ta sẽ kết án tự hình Hận, giết bốn mạng người, ăn cướp mười tám cây vàng và hơn hai tỷ đồng, từng đó tội trạng đủ đưa Hận rời xa nhân thế… Hận thiu thiu ngủ. Trong tiếng mưa đêm Hận nghe vẳng lại tiếng ru của mẹ:
À ơi! Trăm năm một kiếp con người
Làm sao phân biệt khóc cười, buồn vui
Đớn đau trong đục, ngọt bùi
Rồi ra một nắm xương vùi bãi hoang!

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

NGÔN NGỮ MỚI… HÀNH TRÌNH CỦA THƠ CA TỚI TRÁI TIM HAY SỰ DỊ DẠNG CỦA THỜI ĐẠI

truongdinhphuong

Thời gian không bao giờ ngừng và cuộc sống cũng theo dòng chảy ấy mà vận động. Mỗi ngày trôi qua con người lại muốn tìm tới những sự đổi mới, chúng ta, lột da cái cũ để khoác vào tấm áo hiện đại hơn. Từ khi con người xuất hiện trên trái đất, cũng là khi ngôn ngữ khởi sinh, nhu cầu tất yếu của sự sống, sự vận động của xã hội dẫn đến chữ viết ra đời. Và con người đã dùng chữ viết để ghi chép lại những hiện tượng sự việc diễn ra hàng ngày xung quanh mình. Tiến xa hơn, chúng ta sử dụng chữ viết để nói lên những mạch nguồn tâm tư của xã hội loài người, văn chương hình thành.
Trải qua hàng ngàn năm, bao biến cố thăng trầm của lịch sử nhân loại, văn chương cũng theo đó mà biến đổi về cấu trúc và hình hài. Tuy nhiên cái cốt lõi nhất vẫn không mất đi, chính là, hàm lượng chất của “tình cảm” được biểu đạt thông qua những ngôn từ.
Đất nước Việt Nam đi qua bốn ngàn năm lịch sử, thì, đã mất gần ngàn năm bị đô hộ bởi người Phương Bắc, vì lẽ đó mà cấu trúc địa tầng văn chương của chúng ta ít nhiều đã bị đồng hóa theo người Trung Hoa. Thế nhưng với ý chí gìn giữ nền tự chủ của dân tộc cũng như tiếng nói của ông cha, dù các văn nhân xưa dùng chữ Hán để viết, thì cái tư tưởng trong văn họ vẫn thấm đượm hồn non sông xứ sở. Tuy nhiên dù thế nào thì chữ Hán vẫn là ngôn từ của dân ngoại, bởi vậy ông cha chúng ta đã tạo ra chữ Nôm, dù còn bị ảnh hưởng theo cấu trúc chữ Tàu nhưng phần nào đã mang hình hài “ dân tộc” của mình. Cho đến khi chữ quốc ngữ ra đời, nhờ công của giáo sỹ “ Alexandre de Rhodes (phiên âm tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ, A-lếc-xăng Đơ-rốt” dân tộc Việt mới thật sự có chữ viết riêng của mình. Từ đây văn chương Việt Nam mới thật sự lột kén, thoát ly hẳn “bóng ma” của người Tàu.
Những năm đầu thế kỷ 20, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển mình chưa từng thấy trong lịch sử, từ văn xuôi tới thơ ca đã bước ra hẳn ngoài địa hạt cũ, để tiến xa hơn, đặt chân tới biên giới của sự hiện đại, điều đó nhờ vào dự du nhập của văn hóa Phương Tây. Lúc bấy giờ, những nhà văn nhà thơ như những con chim mới rời tổ say sưa hót theo thanh âm mới, một cuộc chiến cũ và mới diễn ra vô cùng “dữ dội”. Người ta chê bai cái nền văn học đã tồn tại bao đời của tổ tiên, họ muốn làm một cuộc cách mạng toàn diện, họ muốn khoác lên thân thể của dân tộc mình tấm áo hoàn toàn mới. Nhưng rồi, cuối cùng sau những cuộc chiến nảy lửa ấy họ nhận ra, dù viết theo phương thức nào, đi theo hướng đi nào thì, cái hồn vía của người Việt Nam cũng không thể lẫn với người ngoài. Bởi lẽ tình cảm, cuộc sống của người Việt, không hề giống với bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới này. Cuối cùng họ những con người của sự cách tân đã phải “thừa nhận” cũ và mới không có đường ranh nào rõ rệt, chỉ có cái “chân tình” trong văn chương mới thật sự là nền tảng để những tác phẩm sống mãi trong trái tim dân chúng.
Trong bối cành nước ta còn bị người Pháp đô hộ, và những tinh hoa của tiếng Việt đứng trước mối nguy cơ bị nền văn hóa Phương tây xâm thực đồng hóa, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Chúng ta biết rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du, tuy là cốt truyện vay mượn của người Tàu, nhưng với tài năng xuất chúng, Nguyễn đã dùng chính ngôn ngữ của dân tộc Việt thổi hồn vào thể thơ lục bát, một thể thơ độc nhất vô nhị của riêng đất nước Việt Nam, tạo nên một kiệt tác thi ca có thể đứng ngang tầm những tác phẩm vĩ đại của toàn nhân loại. Vậy do đâu mà Truyện Kiều xứng đáng đứng vào hàng ngũ danh tác thế giới? Thưa rằng, bởi nó nói lên được tâm tư tình cảm phong phú của con người Việt Nam. Ngôn ngữ trong Truyện Kiều tuy là thứ ngôn ngữ bác học nhưng lại mang dáng dấp ngôn ngữ bình dân, nó gần gũi với tất cả mọi tầng lớp độc giả. Những câu thơ chứa chan cảm xúc, tình người ấy đã thẩm thấu vào bất cứ mọi trái tim tạo nên những rung cảm bất tận.
Đến thời đại hôm nay, bước sang thế kỷ 21, chúng ta những người cầm bút, đã và đang thực hiện một cú “xông phi” với ý định một lần nữa đại cách mạng văn chương. Những nhà thơ trẻ, hừng hực khí thế, vác tâm hồn mình vượt đèo cao núi dốc tìm tòi những tình sâu ý hiếm, từ lạ ngữ mới để biểu diễn “ý tưởng” hồn mình theo cái mà họ gọi là “triệt tiêu” sự lỗi thời.
Vậy thì sự đổi gam màu thi ca theo kiểu mới hiện nay có thật sự đem lại những “khung hồn hoàn hảo” hay không, hay chỉ tạo nên những mảnh hồn “ dị dạng”?
Theo cảm nhận chủ quan của cá nhân tôi, chúng ta, những người viết trẻ, đang loay hoay trong những khu rừng mịt mờ, chúng ta vung gươm múa kiếm như những gã kiếm khách cuồng, không ra một bài bản nào rõ rệt. Những ngôn ngữ mới được chúng ta lắp ráp theo một mô hình “trôn ốc”, mà khi những người mà chúng ta gọi là độc giả nhìn vào họ chỉ thấy một mớ rối rắm như cuốn chỉ bị vò nhàu.
Thơ ca giống như một nàng thiếu nữ, vẻ đẹp không phải chỉ dựa vào bộ quần áo lòe loẹt trên thân thể gợi cảm, mà “cốt tủy” là ở nội hàm tâm hồn.
Hãy đọc một câu thơ cũ:
“Hồn em như hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo anh”
(Nguyễn Bính)
Có phải rất dễ cảm và dễ dàng ngấm vào sâu thẳm cõi hồn ta hay chăng?
Và một câu thơ mới:
“Hồn em như móng vuốt loài yêu tinh
Một đêm cấu nát trái tim ngục tù của tôi
Ôi nỗi đớn đau: thần diệu”
(Một tác giả mới )
Có phải gây ra sự ức chế cho người đọc lắm chăng? Chúng ta thấy gì sau mớ ngôn từ nhiễu loạn kia: một nỗi đau thấu tim, một sự cấu cào nát buồng gan cuống phổi hay chỉ là một dòng điện loạn chiều không thể chạm tới tâm tư người đọc?
Có một người bạn, một nhà thơ còn rất trẻ, nói với tôi “muốn thành công thì phải đổi mới, hãy lột xác hoàn toàn, đoạn tuyệt với lối viết đã tồn tại hàng ngàn năm trên mảnh đất hình chữ S này. Thơ của thời đại hôm nay, không phải là thứ thơ để hiểu, để diễn giải tâm tư tình cảm chung của con người theo kiểu có thể sờ mó được, mà bắt buộc người ta phải vắt óc đào sâu trí tuệ của mình mà cảm.”
Vâng, thơ hiện đại là để cảm. Thế thì cảm thế nào đây khi mà, mới bước vào người ta đã thấy một màn sương lạnh lẽo như nghĩa trang, dày đặc những tấm bia tâm hồn vô cảm.
Cá nhân tôi, đã từng thử bước ra khỏi ngôi nhà cảm xúc đơn thuần và bước vào khu vũ trường ngôn ngữ, sau mấy hôm nhảy nhót cuồng loạn trong đó, khi trở ra, tôi thấy mình như tên say rượu, chừng như quên mất đường về nhà, và tấm áo tôi mặc trên người giống y chang hằng hà những tấm áo thiên hạ đang mặc. Chúng ta đã và đang tự chui vào chiếc bao tải hỗn độn lũ vi trùng ngôn ngữ , như thế liệu chúng ta có bị ngộp thở vì bị bóp nghẹt yết hầu sáng tạo hay không?
Sự thay đổi là không tránh khỏi, bởi đó là quy luật tất yếu của cuộc sống, nhưng sự thay đổi thái quá có lẽ sẽ chỉ đưa lại kết quả tồi tệ hơn mà thôi.
Chúng ta là người Việt Nam, vậy thì hãy dùng ngôn ngữ người Việt Nam, đừng vì bất cứ lý do gì, đem cái thứ ngôn từ ngoài hành tinh xa xôi nào đó “hãm hiếp” người đọc.

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

NHỮNG PHƯƠNG THỨC SINH RA VÀ CHỂT

truongdinhphuong

Sinh ra từ biển
và chết trên đất liền
những cơn bão hả hê sống đời kẻ hủy diệt !

Sinh ra từ đất
và chết trên những chiếc bình sặc sỡ
loài hoa tự nguyện hiến dâng !

sinh ra từ đắng cay đời mẹ
và mặn chát đời cha
rồi chết trên manh chiếu giấc mơ dang dở
con người bỏ lạc chính mình

TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG

SUY NIỆM TRẮNG

truongdinhphuong

Có lẽ người không biết
Nỗi buồn sinh ra trước tôi một ngày
Hôm ấy trời đầy gió
Lũ lá cúi đầu xếp hàng đưa tang mùa thu
Tôi rời bụng mẹ
Vừa lúc gã mùa đông đặt chân vào thành phố
Hôm ấy trần gian co quắp
tinh người nép sau những tà áo ấm…
Cha tôi vốc yêu thương thả vào nồi cháo cám
Đôi tay gầy khuấy loãng âu lo
Tôi nằm trên manh chiếu chằng chịt vết sẹo thời gian
Toe miệng cười
Mẹ tôi gom muôn nỗi đắng cay
Chôn vào mắt bão đáy lòng
Dùng những sợi tơ từ trái tim đằm thắm
kết nên những mầm xanh về một mùa xuân xa vợi xa vời
Ầu ơ ru tôi…
Ba mươi năm bao chuyến tàu chở tôi đi qua những sân ga vui buồn/được mất
Mẹ tôi còng lưng
cho đời tôi đứng thẳng
và cha tôi đã nhập vào đội ngũ những vì sao trên bầu trời xa tắp
tài sản để lại cho tôi là những bài học làm người…
Chiều nay trời đầy gió
Tôi và nỗi buồn tương ngộ
Hai đứa ngồi trên tháp chuông cuộc đời
Gom những giấc mơ vẽ hình hài cổ tích
Có lẽ người không biết…

Trương Đình Phượng