CƯỠI NGỌN SÓNG 22

cuoingonsam

richardbotkin
Chương 17

Kinh Kông vẫn sống mãi!

Tiến trình để anh chàng Đại úy trẻ George Philip làm quen với cái thế giới tương đối hạn hẹp của các cố vấn TQLC Hoa Kỳ mất vào khoảng năm ngày tại Sài Gòn. Nhịp độ của công việc tại cái hậu phương được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông” này vào thời điểm cuối hè 1971 thật khác xa với những gì anh nhớ lại từ lần điên loạn đầu tiên khi anh mới đến Đà Nẵng vào năm 1968.

Trong năm ngày nhàn rỗi này, George gặp hết tất cả các cố vấn đang ở Sài Gòn và được tường trình về các cuộc hành quân của binh chủng TQLC Việt Nam. Anh cũng giải quyết cho hết các thủ tục giấy tờ và các chuyện riêng tư. Hằng ngày anh theo dõi các cuộc điện đàm giữa bộ tư lệnh và các đơn vị ngoài mặt trận cách xa đó gần ba trăm dặm đường. Trong những lần đi chơi tối tại câu lạc bộ Hòa Bình George tiếp tục uống bia và vui chơi cùng cái nhóm mà anh mới được gia nhập vào. Anh cũng nhận ra, qua cung cách lịch sự đặc biệt mà những người dân bình thường đã biểu lộ ra khi tiếp xúc với họ, là người Việt rất kính trọng các sĩ quan Hoa Kỳ trong bộ quân phục rằn ri của TQLC Việt Nam.

Khi mọi chuyện đã xong xuôi, George được lệnh mang túi bưu tín để chuyển cho các cố vấn Hoa Kỳ đang ở phía Bắc. Anh xách túi hành trang và lên xe ra phi trường Tân Sơn Nhất. Lúc này thì anh đã quen với vấn đề lưu thông của Sài Gòn rồi. Chuyến xe jeep ra phi trường có vẻ đỡ căng thẳng hơn lần đi vào chỉ vài ngày trước đó.

Anh đáp một chiếc máy bay vận tải C-123 chở đầy lính TQLC Việt Nam, một vài phụ nữ đi thăm chồng con, cùng với một mớ gà vịt và heo. Anh lại thong dong lên đường ra mặt trận tuốt ngoài Vùng I Chiến Thuật, lần này với tư cách cố vấn quân sự Hoa Kỳ.

Vào mùa Hè 1971, công tác phòng thủ phần cực Bắc của Vùng I Chiến Thuật do Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH và ba lữ đoàn TQLC Việt Nam luân chuyển nhau đảm trách. Vùng trách nhiệm bao gồm các lãnh thổ tiếp giáp với khu phi-quân-sự và khu vực phía Đông của biên giới Lào, kể cả Khe Sanh mà trước kia thuộc trách nhiệm phòng thủ của Sư Đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ (Sư Đoàn 1 phụ trách khu vực phía Nam của Sư Đoàn 3).

Sư Đoàn 3 BB VNCH là một sư đoàn được thành lập sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 và gồm các binh lính được động viên hầu hết từ các tỉnh chung quanh vùng cực Bắc này. Sư Đoàn 3 BB cũng được ngầm hiểu là đơn vị chứa các thành phần bất mãn với chính quyền và các lao công đào binh. Vì là một đơn vị lớn xa Sài Gòn nhất, họ được điều ra đây với mục đích bị trừng phạt và cũng khó mà trốn đi đâu nổi ngoại trừ đào ngũ qua phía Bắc Việt thay vì phục vụ đàng hoàng trong quân ngũ.

Các lữ đoàn TQLC (mỗi lữ đoàn gồm ba tiểu đoàn tác chiến, một tiểu đoàn pháo binh, các đơn vị yểm trợ khác nhau và một bộ tư lệnh tương đối gọn nhẹ so với tiêu chuẩn của quân đội Hoa Kỳ), đã mang lại thế quân bằng cho khả năng mong manh của các đơn vị địa phương VNCH, và trở thành các trụ cột chống đỡ cho chính phủ và dân chúng đang trông mong vào họ nhằm ngăn chận không cho Cộng sản tràn vào phía Nam của vùng phi-quân-sự. Thông thường, các lữ đoàn TQLC Việt Nam hoạt động trong ba tháng tại đây trước khi được hoán chuyển về Sài Gòn và Thủ Đức để dưỡng quân, nghỉ phép và tiếp liệu trong một tháng. Mục đích của chuyện này nhằm luôn luôn có hai trong số ba lữ đoàn, hay ít nhất là có hai trong số ba tiểu đoàn của mỗi lữ đoàn sẵn sàng ứng chiến bất cứ lúc nào.

Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC Việt Nam hiện là đơn vị hỏa lực cho Lữ Đoàn 369. Đó cũng chính là đơn vị mà George Philip đã được bổ nhiệm làm cố vấn. Do tình hình không có đụng độ nhiều lắm nên anh được điều về Pháo Đội B để quan sát và phụ trách phối hợp hỏa lực yểm trợ nếu tình hình đột nhiên biến động.

Pháo Đội B hiện trấn giữ căn cứ hỏa lực Gio Linh ở tận cùng cực Bắc của miền Nam Việt Nam. Nằm vào khoảng vài cây số về phía Bắc của Đông Hà, Gio Linh là thị trấn cuối cùng của Quốc Lộ 1 hướng về khu phi-quân-sự, là điểm tận cùng, điểm xa nhất từ Sài Gòn không nằm trong vùng địch. Trên bản đồ quân sự, Gio Linh được gọi là A-2 hay Alpha 2 và chỉ là một gạch nhỏ của một phân tây nằm ngay sát phía Nam vùng phi-quân-sự. Ngay khi chiếc xe jeep bắt đầu lăn bánh chở George lên căn cứ A-2, mặc dù vắng tiếng súng nhưng George thấy rõ là anh đang đi vào vùng có kẻ thù rồi. Sài Gòn và cuộc sống thành thị đã cách rời hàng triệu dặm xa xôi.

Từ vị trí các hầm trú ẩn kiên cố cũ – có một cái được xây dựng từ thời Tây – và các đài quan sát, nằm trên vùng đất cao ngay phía Đông của Quốc Lộ 1, các TQLC Việt Nam và cố vấn Hoa Kỳ có thể nhìn thấy vượt qua sông Bến Hải, biên giới chính thức giữa hai nước Việt Nam, cái lá cờ Bắc Việt tung bay vật vờ trong bầu không khí ẩm ướt. Khi hai bên không nhả đạn vào nhau, vả lại sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhịp độ chiến sự nay đã giảm đi đột ngột, tại đây dường như có một sự thỏa thuận ngưng bắn ngầm, không chính thức và rất kỳ khôi.

Một toán riêng gồm năm người thuộc hỏa lực hải quân Hoa Kỳ được kết hợp với Pháo Đội B. Họ được trang bị các thiết bị tối tân nhất như ống nhòm nhìn trong bóng đêm và máy xác định vị trí bằng hệ thống laser. Những thiết bị này có lẽ cân nặng khoảng 50 cân Anh, không rõ có hiệu quả hay không nhưng chắc chắn đã nâng tính sát hại lên một mức cao hơn vì căn cứ A-2 và các vùng lân cận nằm trong tầm bắn của các chiến hạm Hoa Kỳ đang lởn vởn ngoài khơi bờ biển phía Bắc. Đối với George thì được nói chuyện với các quân nhân người Mỹ cũng khá thú vị.

Cho đến đầu tháng Chín thì George đã khá quen thuộc với các công việc thường lệ. Anh đã học hỏi và hiểu được nhiệm vụ của một cố vấn quân sự, cũng như mọi thứ khác phải ra sao. Anh đã trở thành một chiến sĩ kỳ cựu… thêm một lần nữa. Như dự tính mong muốn và theo đúng thời hạn, anh đã tạo được tình thân với các chiến sĩ Việt Nam và hứng thú khi làm việc với anh chàng truyền tin. Anh cũng hoàn thành được phần đóng góp của mình trong nỗ lực yểm trợ hỏa lực đồng minh. Anh chỉ cảm thấy hơi kỳ lạ là tuy ở ngay sát cạnh khu phi-quân-sự, trong tầm hoạt động và quan sát của kẻ thù mà không bị đụng độ thường xuyên hơn. Thế nhưng, mặc dù George đã có ý tưởng này hay các ý nghĩ kỳ quặc nào khác nữa, anh vẫn phải tự nhủ là anh đang ở Việt Nam.

Các kinh nghiệm và kỳ vọng tại Việt Nam của người Mỹ bị hạn chế bởi kinh nghiệm của họ như tại các nơi khác. Hoa Kỳ được an toàn không bị xâm lăng nhờ hai đại dương làm trái đệm thành thử cho đến mùa Hè 1971 không còn ai đang sống trong “pháo đài Hoa Kỳ” có thể nhớ nổi những thảm họa của cuộc Nội Chiến như thế nào. Các binh sĩ của đất nước đều đi ra ngoài lãnh thổ quốc gia để chiến đầu cho nền dân chủ. Những người còn lại trong nước, đặc biệt là trong Thế Chiến thứ Hai thì được tuyên truyền mạnh mẽ về nhu cầu phải làm cho thế giới an toàn hơn về tinh thần dân chủ. Là những người dân thường, họ làm việc cật lực ngoài giờ để tạo ra các máy bay ném bom, các chiến xa và tầu chiến nhằm áp đảo khối Trục.

Tất cả cho nền Dân Chủ! Bức tranh nổi tiếng và được lan truyền rộng rãi “Bốn Thứ Tự Do” (Four Freedoms) của họa sĩ Norman Rockwell là một thiên tài về kỹ thuật tuyên truyền đã nói lên ý thức quốc gia, sự nhận thức về công lý và tính hào hiệp, lòng yêu nước của người dân Mỹ mà không ai có thể làm nổi. Bức tranh này đã lấy cảm hứng từ một bài diễn văn của Tổng thống Franklin D. Roosevelt vào năm 1941 và được đăng lần đầu tiên trên tờ Saturday Evening Post năm 1943. Ngay cả trong những giây phút đen tối nhất sau ngày 7 tháng 12 năm 1941 – trước cuộc đột kích Doolittle, trước trận đánh Midway và cuộc xâm lăng Bắc Phi – rất ít người Mỹ, ngoại trừ những người sinh sống tại Hawaii, có thể nghĩ rằng sẽ có một cuộc chiến tranh trên bộ xảy ra trong tương lai do kẻ thù xâm lược đất nước. Những người ở trong nước thì hiếm khi còn mang nỗi lo trực tiếp đến an ninh của họ.

Người Mỹ trong nước trải qua suốt cuộc Chiến Tranh Lạnh đã sống trong mối hiểm họa có thể bị hủy diệt đồng loạt một cách chắc chắn do người Xô Viết nhưng lại không bị mối nguy lũ quỷ đỏ sẽ xuất hiện trên ngưỡng cửa tại các thành phố Detroit, Denver hay Duluth của họ. Trong khi đó thì những bậc cha mẹ và con cái họ sống trên mảnh đất Việt Nam Cộng Hòa lại không hề có được sự yên tâm như vậy.

Điều mà người Mỹ không nhận thức được là trong khi họ đi truyền bá một cách ngây thơ các lý tưởng của dân chủ và kinh tế tự do thì họ đã không cảm nhận được đất nước họ đã được một sự đặc ân và các nhu cầu bình an của người dân thường được đặt cao hơn là các tư tưởng về nhân quyền và tự do cá nhân. Người Cộng sản không bị những ràng buộc như vậy. Kẻ thù Cộng sản phương Bắc không bị ai xâm chiếm trong cuộc chiến này và họ chỉ bị ảnh hưởng một cách hạn chế bởi những cuộc ném bom của Hoa Kỳ. Họ hiểu rất rõ hiệu quả của sự khủng bố nhằm lôi kéo dân chúng ra khỏi tầm kiểm soát của người Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà họ cho là tay sai của Hoa Kỳ. Điều mừng nhất là cho đến mùa Hè 1971, các nỗ lực và khả năng khủng bố của Cộng sản đã bị suy giảm đáng kể. Niềm tin vào chính quyền và hiệu năng của các lực lượng quân sự của VNCH đã không bị rơi vào tay các lãnh tụ của Hà Nội.

Công việc thường lệ tại căn cứ Alpha 2

Cuộc sống của một cố vấn quân sự Hoa Kỳ trong binh chủng TQLC Việt Nam cần một số điều chỉnh nhất định. Mặc dù có những sự khó khăn rõ rệt vì sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ nhưng đồng thời cũng có những lợi điểm khác thường. Trong cơ chế tổ chức về cấp bậc, binh đoàn TQLC Hoa Kỳ đã huấn luyện các tân binh từ lúc họ được tuyển dụng tại Parris Island hay San Diego về sự kính trọng cấp trên nhưng cũng đồng thời nhấn mạnh về tinh thần trách nhiệm của một thuộc cấp. Nhu cầu bảo đảm an sinh cho binh lính luôn luôn được đặt sau mục tiêu phải chu toàn nhiệm vụ đã giao phó. Các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ phải là người có mặt đầu tiên ngoài mặt trận và là người cuối cùng rời trận địa. Họ phải là người lãnh đạo nổi bật ngoài tiền tuyến trong mọi tình huống. Quan niệm này đã được thể hiện ra trong các mặt khác của nghệ thuật chỉ huy, bao gồm những chuyện như binh lính được chăm lo trước các sĩ quan v.v… Các cấp chỉ huy được cấp dưới hỗ trợ trong phạm vi để hoàn thành nhiệm vụ mà thôi. Sự giúp đỡ này không bao hàm chuyện phải hầu hạ cá nhân. Làm tôi tớ là chuyện bị ghét cay ghét đắng trong văn hóa quân sự của người Mỹ.

Làm việc chung với TQLC Việt Nam thì hơi khác một chút. Văn hóa Á châu chịu ảnh hưởng bởi những điều khác với người Mỹ vẫn thường biết, ít bình đẳng hơn do tinh thần sùng bái thượng cấp đã luôn luôn hiện diện trong mọi tầng lớp chỉ huy quân sự.

Tất cả các sĩ quan, kể cả các sĩ quan cấp úy trong quân đội Việt Nam đều có người phục vụ riêng. Được bổ nhiệm để theo giúp một sĩ quan, chẳng hạn như làm nhân viên truyền tin, làm vệ sĩ hay tùy viên – gọi là “tà-loọc” hay “cowboy” theo lối Mỹ – không bị coi là một công việc khúm núm hay “nâng bi.” Được gia nhập vào nhóm “tùy tùng” của thượng cấp tức là đã thuộc vào thành phần chỉ huy, giống như là gia nhập vào nhóm cốt lõi rồi. Cho dù là công việc gì đi chăng nữa, đó là một nhiệm vụ quan trọng và đầy danh dự.

Với trách nhiệm của mình, George Philip không có một nhân viên truyền tin riêng và những chuyện này anh có thể làm lấy một mình được. Tuy nhiên anh được phân bổ một người phục vụ riêng. Hạ sĩ Tường tương đối khá lớn tuổi so với cấp bậc (anh này có một người con trai là quân nhân VNCH đang phục vụ đâu đó tại Việt Nam) nhưng anh chu toàn trách nhiệm “tà-loọc” cho Đại úy Philip một cách tận tụy và chuyên nghiệp. Tường không bao giờ xin Đại úy Philip đặc ân nào cả và luôn luôn trân trọng những gì mà George đã giúp anh, chẳng hạn như mua cho anh mấy bao thuốc lá Mỹ. Hai người rất hợp nhau và lo cho nhau với sự tương kính và trân quý thật tình.

Mỗi buổi sáng thức dậy Đại úy Philip có thể tin tưởng chắc chắn, giống như mặt trời bao giờ cũng phải mọc, là sẽ có một tô súp nóng và một chậu nước nóng để anh cạo râu. Nếu Hạ sĩ Tường cảm thấy đêm hôm trước đôi giầy của xếp có vẻ dơ rồi thì sáng hôm sau chúng đã sạch bong và để sẵn sàng bên chân giường bất cứ lúc nào anh thức dậy. Cho dù có pháo binh bắn yểm trợ cho các đơn vị hay mọi chuyện đang yên tĩnh thì Hạ sĩ Tường luôn luôn chu toàn nhiệm vụ một cách xuất sắc.

Bất thường tại căn cứ A-2

Bất cứ một người nào có thể nghĩ đến hai ý tưởng trọng đại kế tiếp nhau cùng một lúc thì đều hiểu ngay chiến tranh là địa ngục và chiến tranh là kỳ cục. Một điều chắc chắn là những ai biết đọc và biết nghe đều nhận thức ra rằng cuộc chiến tại Việt Nam là một cái gì đó vượt khỏi sự suy nghĩ thông thường của mọi người. Một điều làm cho cuộc chiến Việt Nam càng bất thường đến gần như phi lý nữa là cho đến mùa Hè 1971 đối với những người Mỹ còn hiện diện, cùng với sự giảm thiểu nhanh chóng những người phục vụ tại Đông Nam Á, họ vẫn làm mọi thứ cho tới cùng để giúp đỡ nhau, có khi trong những tình huống lạ lùng có thể là buồn cười nữa.

Số là, dù còn trẻ và khỏe mạnh, chưa đầy 27 tuổi nhưng Đại úy George Philip lại bị bệnh trĩ, nhưng cũng nhẹ thôi. Mặc dù nó không nguy hiểm gì đến tính mạng hay có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng phối hợp hỏa lực yểm trợ như anh vẫn làm từ trước tới nay, nhưng đó cũng là một vấn đề khó khăn đối với anh. Tóm lại, có thể vì sự căng thẳng trong chiến sự hay vì chế độ ẩm thực không được hoàn hảo, bệnh trĩ đã hành hạ George Philip. Chứng bệnh này kèm theo triệu chứng đau đớn, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Không chút mắc cở, anh bốc máy gọi ngay về tổng hành dinh Lữ đoàn hỏi xem ai có thứ gì cho anh không?

Thật là ngạc nhiên khi không đầy một tiếng đồng hồ sau, có một chiếc trực thăng Huey thuộc một đơn vị Không kỵ của quân đội Hoa Kỳ gọi đến xin đáp xuống sân bay căn cứ A-2 với một bưu kiện cho Đại úy Philip. George chạy vội đến chiếc trực thăng mới đáp xuống nhưng chưa tắt máy. Anh cúi đầu để tránh cánh quạt máy bay còn đang quay và tiến tới cánh cửa bên phía tay phi công phụ. Lúc anh đến, vẫn còn cúi rạp, tay phi công đầu đội nón bay che cả mắt, cười toe trao cho anh qua cánh cửa nhỏ một tấm bưu thiếp của binh đoàn Không kỵ và một tuýp thuốc nhỏ trị bệnh trĩ hiệu Preparation H. Sau đó, viên phi công chào anh bạn TQLC mới quen, tống ga và cất cánh đi một cách nhanh chóng. George tự nhủ không biết Thượng nghĩ sĩ William Proxmire, người nổi tiếng đã thông đồng với chính phủ trong việc gian lận, lãng phí và lạm quyền sẽ nghĩ sao nếu biết về sự việc này.

Đại úy Philip giống như phần lớn các TQLC khác cùng địa vị, tỏ ra rất trân trọng lòng dũng cảm được thể hiện bởi các TQLC Hoa Kỳ hay Việt Nam, hay cả những đơn vị khác mà giới TQLC thường cho là không ngang tầm cỡ với mình. George Philip tin chắc là nếu tính chung cả nhóm thì có lẽ “lũ” điên khùng và can đảm nhất trên toàn Việt Nam phải là các hạ sĩ quan kỳ cựu lái trực thăng Hueys. Anh đã từng chứng kiến trong quá khứ nhiều trường hợp các tay này dám bay vào những vùng mà những người có đầu óc bình thường đều phải từ chối. Đối với anh và nhiều người khác nữa thì đó là một điều yên tâm khi biết rằng luôn luôn có các trực thăng quân đội ứng chiến gần đó để đáp ứng các yêu cầu về tản thương khẩn cấp, bắn hỏa lực hay tiếp liệu, kể cả chuyện bị bệnh trĩ luôn.

Đại úy Philip cũng rất trân trọng Hải quân. Trong những tháng đầu tiên tại căn cứ Alpha 2, anh và nhóm Hỏa Lực Hải Quân đã điều phối khá nhiều công tác bắn yểm trợ từ các tuần dương hạm và khu trục hạm khác nhau đậu ngoài khơi. Có lẽ vì cha anh đã từng là hạm trưởng chiến hạm khi ông bị tử trận trong Thế Chiến Thứ Hai thành thử anh dành nhiều tình cảm cho những chiếc tầu anh không thể thấy được từ các vị trí hầm trú ẩn gần khu phi-quân-sự trong căn cứ A-2. Anh luôn luôn tin tưởng là họ sẵn sàng đáp ứng khi có yêu cầu và rất mong có dịp được thăm họ.

Từ lúc người Mỹ đổ bộ lần đầu tiên lên Việt Nam vào đầu năm 1965, lớp phòng thủ hỏa lực phụ trội bởi các đơn vị hải quân hoạt động trong tầm hải pháo của hàng chục chiếc tầu của Đệ Thất Hạm Đội là một yếu tố quan trọng cho sự thành công của người Mỹ chống lại Cộng sản. Khi phần lớn các đơn vị tác chiến của Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Việt Nam vào giữa năm 1971, các chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội đã ở lại để giữ nguyên mức yểm trợ cho các đơn vị TQLC VNCH hoạt động gần bờ biển. Hiện nay vì không còn bao nhiêu người Mỹ phụ trách công tác yểm trợ này nữa thành thử mối quan hệ giữa những người Mỹ ở trên đất liền và ngoài khơi đã trở nên chặt chẽ và thân thiện hơn.

Cũng chẳng có gì lạ là, trong một ngày nắng ấm, khi mọi chuyện vẫn vô sự, viên sĩ quan liên lạc hỏa lực hải quân trên chiến hạm USS Rupertus (DD-851) gọi điện thoại vào bờ và hỏi George Philip có muốn bay lên thăm chiếc tầu gần đây vẫn từng giúp bắn yểm trợ hỏa lực hay không? Dĩ nhiên là Đại úy Philip chụp lấy cơ hội ngay lập tức. Anh dụ khị phi hành đoàn một chiếc Huey đưa anh ra tầu. Đây là lần đầu tiên phi hành đoàn Huey thử đáp xuống một chiến hạm đang lênh đênh trên biển thành thử cũng không phải là chuyện dễ dàng gì. Tuy nhiên nhóm phi hành đoàn này đã không hề ngại ngùng đáp ngay xuống con tầu mà còn tham gia vào đoàn thăm viếng chiếc Rupertus rồi cùng đi ăn trưa nữa.

Ngày hôm đó, điều làm George khoái trí nhất là sau khi đã quá ớn với các bữa ăn dã chiến của Hạ sĩ Tường rồi, anh lại có dịp được ngồi đàng hoàng với tấm khăn trải bàn thật sự, được ăn với bộ muỗng nĩa bạc thứ thiệt và – tuồng như anh đã qua đời và lên thiên đàng vậy – được ăn tráng miệng bằng kem lạnh thỏa thích. Khi đến giờ chia tay, viên hạm trưởng còn tặng cho mỗi vị khách một cái bật lửa có huy hiệu của chiếc Rupertus gắn trên đó và một hộp thịt bí-tết đông lạnh nữa.

Để đáp lại tấm thịnh tình theo đúng phong cách TQLC Hoa Kỳ, George mời lại viên chỉ huy chiếm hạm cho một sĩ quan lên bờ thăm căn cứ Alpha 2 trong một ngày trời để quan sát cuộc chiến trên bộ và đời sống của các chiến binh TQLC như thế nào. Khi anh chàng chuẩn úy hải quân đó trở về tầu chắc hẳn sẽ có khối chuyện chiến sự để mà kể lại, và có thể kể cho cả con cháu của anh sau nầy nữa. Những chuyện đó đã diễn ra trong những ngày tốt đẹp khi chưa có biến cố xấu nào đáng kể xảy ra.

Kể ra thì không phải tất cả mọi điều đều là chuyện đùa vui, ngay cả những khi chúng có dính dáng đến vui chơi. Thậm chí khi không có đụng độ với quân Bắc Việt, luôn luôn có những sự kiện xảy ra nhắc nhở mọi người rằng cuộc sống trên bờ cũng nghiêm trọng như thế nào.

Chuyện xảy ra là có một anh lính trẻ thuộc một trong các tiểu đoàn TQLC Việt Nam đóng gần căn cứ Alpha 2 đã thua một số tiền khá lớn khi chơi bạc với đồng đội. Viên Trung đội trưởng ra lệnh anh phải trả nợ khi hay tin anh muốn quỵt món tiền này. Trong một phút điên rồ tối hôm đó, hắn đã ném một quả lựu đạn vào trong lều của Trung đội trưởng làm chết một sĩ quan và làm bị thương nhiều người khác.

Sáng hôm sau, trước mặt toàn tiểu đoàn, phạm nhân nay vừa bị tuyên án tử hình và loại ra khỏi binh chủng TQLC, bị bắt phải tự đào lấy hố chôn để khi bị tiểu đội hành quyết bắn chết, thân xác anh sẽ rớt xuống hố làm công việc mai táng dễ dàng hơn. Các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ thường tránh có mặt trong những buổi xét xử kiểu TQLC như vậy và điều này khiến họ luôn luôn nhớ rằng họ đang ở Việt Nam.

pic2 (800 x 800)

CƯỠI NGỌN SẤM 21

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 16

Trở lại mặt trận, thế là xong

Mặc dù có chiến tranh hay không, nhưng một khi được đi học tại trường Sinh Ngữ Quốc Phòng DLI, bạn không thể nào mà không tìm dịp để đi một vòng vui chơi ở Carmel và Monterey, ấy thế mà George Philip chỉ chực ra đi. Anh đã chứng kiến quá nhiều cảnh chết chóc và hoang tàn rồi, đã được thỏa mãn đầy đủ tất cả những sự háo hức mà một người chiến sĩ thường gặp trước trận thử lửa đầu tiên. Anh đã từng tự nhủ: “liệu mình có đủ nghị lực hay không? Và có dám cầm súng đứng lên hay không?” Anh tự biết là mình đã trải qua những thứ đó rồi.

Cuộc chiến đã gần tàn và George không có nhiệm vụ phải trở lại Việt Nam nữa. Đối với hầu hết các quân nhân chuyên nghiệp Hoa Kỳ thì chiến tranh đã chấm dứt. Những cơ hội để được phục vụ, trừ các phi công và phi hành đoàn ra, đều đã bị cắt giảm đáng kể. Đối với các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ thì nhiệm vụ cố vấn là nhu cầu đứng đắn duy nhất còn sót lại, ngoại trừ một số trách nhiệm đặc biệt khác. Nhưng TQLC là nghề của George và việc trở lại chiến trường chỉ là một nghĩa cử cao quý đáng phải làm mà thôi. Ngoài ra, dư luận chung trong nước có khuynh hướng ghét giới quân đội làm George rất chán nản. Mấy tay nhạc sĩ phản chiến như Neil Young, Joan Baez và bầu đoàn của họ chắc chẳng bao giờ đi vào Vùng I Chiến Thuật hay bất cứ nơi nào mà George sẽ phục vụ với những người bạn mới trong TQLC Việt Nam. Nhiệm vụ như một người cố vấn là một chuyện có ý nghĩa và đầy sức sống mà anh có thể đảm đương được.

George được thăng cấp Đại úy ngay trước khi hoàn tất khóa học tại trường Sinh Ngữ Quốc Phòng. Anh tận dụng một tháng phép được cấp thêm một lần nữa trước khi trở lại Đông Nam Á.

Chuyến công tác lần thứ hai này ít ồn ào và không quá căng thẳng như lần trước. Hiện nay không còn bao nhiêu người Mỹ hiện diện nữa thành thử anh gần như là chỉ có một mình trong chuyến bay và có thời giờ để suy ngẫm về hoàn cảnh riêng của mình. Anh cười thầm trong bụng khi nhớ lại chuyến đầu tiên anh đi Việt Nam vào đầu năm 1968. Lúc đó anh chỉ sợ là đã quá trễ và không có dịp tham gia vào cuộc chiến. Giờ đây, ngót bốn năm sau, anh đang trở lại một cuộc chiến tranh mà dưới quan điểm riêng của anh, vẫn chưa thấy được đoạn kết trong tầm nhìn đâu cả.

Tái hồi với Vùng I Chiến Thuật

Đời sống của các TQLC và binh lính Hoa Kỳ tại Việt Nam là một cuộc chiến đấu không ngừng với phong thổ địa lý. Điều này đặc biệt đúng đối với các đơn vị bộ binh vì họ phải luôn chịu đựng các yếu tố về sức nóng, bụi bặm, ẩm ướt, dơ dáy, đói khát và nỗi sợ hãi thường trực. Yếu tố thời gian cũng không kém phần nguy hiểm như kẻ thù quân Bắc Việt và nó dường như ngừng trôi trong khi các biến cố trong nước tưởng chừng như chuyển động với tốc độ chóng mặt, chắc chắn là ngoài sức tưởng tượng của họ.

Nỗi ám ảnh lớn nhất đối với người lính là tại quê nhà các người yêu hay vợ trẻ có thể thoát ra khỏi cái vũ trụ mà họ đang sống và xoay trở trong đó. Trong một số chiến binh còn có nỗi lo, cũng có thể pha chút giận dữ, khi những người thân không thể nào hiểu nổi sự độc nhất vô nhị của mối căng thẳng trong chiến trận tại Việt Nam.

Một điều khác thường nữa là cuộc sống của những người dân mà tài sản của họ lọt vào những nơi mà chiến tranh đang xảy ra. Đối với một số người sống nơi thành thị và hầu hết những người dân ở thôn quê, họ là thành phần chính của văn hóa Việt Nam, cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn như thường lệ. Cho dù cảm tình của họ dành cho chính phủ VNCH, hay cho Cộng sản, đơn giản hơn là họ chỉ muốn được yên thân, người dân thường chỉ muốn có cơm ăn áo mặc, nhà ở và những thứ khác cần thiết cho cuộc sống.

Nhà văn nổi tiếng người Nga Fyodor Dostoevsky đã nhận xét con người là một sinh vật có khả năng thích ứng với tất cả mọi thứ. Có vẻ như ông đã mô tả những người dân thường Việt Nam sống tại nông thôn. Họ đã từng chịu đựng bao nhiêu thế hệ rồi và sẽ tiếp tục còn phải chịu đựng thêm mãi.

Trong các làng mạc và xã ấp hẻo lánh tại vùng phía Bắc miền Nam Việt Nam, cuộc sống hằng ngày xoay quanh việc cóp nhặt các nguồn lợi được cung cấp từ mảnh đất nghèo nàn và khô cằn. Gạo là mạch sống của mọi thứ. Trồng cấy, chăm sóc, gặt đập và giã gạo là đặc biệt quan trọng cho mọi cuộc sống. Ngoài lúa gạo ra, người nông dân còn nuôi thêm gà vịt, thỉnh thoảng một vài con heo và chài lưới bắt cá bất cứ chỗ nào có thể bắt được – cá biển, cá sông, rạch, cá từ các cánh đồng ngập nước hay những vũng nước tạo ra bởi mưa lũ nhiệt đới, bất kể ở đâu. Cá hầu như là nguồn cung cấp chất đạm chính ở khắp nơi.

Đối với những người Mỹ nào không thông cảm nổi sự dè dặt một cách khó hiểu của văn hóa Đông phương thì dân Việt Nam có vẻ chỉ là một phần vô hồn trong cái môi trường khắc nghiệt mà họ đã quá quen thuộc với những sự kinh hoàng của chiến tranh đang vây bủa. Khi một TQLC hay chiến sĩ Hoa Kỳ bình an sau chu kỳ nhiệm vụ của mình và trở về nhà thì những người dân địa phương nơi đó vẫn phải ở lại chốn cũ và sống tiếp trong cơn ác mộng mà những người Mỹ đã trải qua tại Việt Nam. Đối với người lính VNCH là những người có liên quan nhiều nhất đến cuộc chiến thì hầu hết bị người Mỹ bỏ quên hay không chú ý đến.

Hẳn nhiên là với địa vị một sĩ quan cấp úy, George Philip không biết nhiều về sự liên hệ chặt chẽ giữa binh đoàn TQLC Hoa Kỳ và binh chủng TQLC Việt Nam đã có từ năm 1954, lúc mà anh chỉ mới học đến lớp bốn. Rất ít người Mỹ, ngay cả những người đã từng tham dự mật thiết vào cuộc chiến từ 1965 đến 1971 biết được điều đó. Hầu hết chỉ biết đến “những kinh nghiệm về Việt Nam” trong đó sự liên quan của họ đối với quân lực VNCH hay binh chủng TQLC Việt Nam ở mức rất hạn chế.

Vào thời điểm anh đến phi trường Tân Sơn Nhất ở ngoại ô Sài Gòn để bắt đầu nhiệm vụ lần thứ hai của mình, Đại úy George Philip đã được huấn luyện cấp tốc về ngôn ngữ và văn hóa cần thiết. Trong số gần 400.000 TQLC Hoa Kỳ đã đến và đi khỏi Việt Nam tính đến giữa năm 1971, chỉ có non 600 người được bổ nhiệm làm cố vấn.

Nhiệm vụ cố vấn cho binh chủng TQLC Việt Nam là một trách nhiệm khá lạ lùng. Đến năm 1971, các cấp chỉ huy của chín Tiểu đoàn tác chiến và ba Tiểu đoàn pháo binh đều là Thiếu tá (cấp số của quân đội Hoa Kỳ là Trung tá). Trong khi hầu hết các sĩ quan Hoa Kỳ nhận nhiệm vụ cố vấn đều đã trải qua ít nhất một chu kỳ nhiệm vụ thì tất cả các cấp chỉ huy của các Tiểu đoàn VNCH đều khởi đầu binh nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Do họ chưa chết hay chưa bị trọng thương và vì cuộc chiến chưa chấm dứt, họ vẫn phải tại ngũ trong cái nhiệm vụ duy nhất và liên tục của họ.

Theo nhu cầu tác chiến của TQLC Việt Nam, mỗi Tiểu đoàn cần đến hai sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ. Thông thường ngoài mặt trận, các Tiểu đoàn TQLC Việt Nam được chia ra thành hai bộ phận chỉ huy. Bộ phận đầu được gọi là ban chỉ huy Alpha, gồm sĩ quan Tiểu đoàn trưởng và sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ thâm niên nhất, thường là một Đại úy hay Thiếu tá. Bộ phận thứ hai được chỉ huy bởi Tiểu đoàn phó. Nhóm thứ hai này gọi là ban chỉ huy Bravo, được thành lập với mục đích là trong trường hợp ban chỉ huy Alpha bị tiêu diệt hay bất khiển dụng thì Tiểu đoàn phó có thể lên thay thế. Quyền chỉ huy được phân chia như vậy có thể bảo đảm là kẻ thù không dễ dàng gì làm tê liệt toàn bộ cơ cấu tổ chức của một tiểu đoàn. Nếu tiểu đoàn có một cố vấn quân sự Hoa Kỳ thứ hai thì người này đi theo Tiểu đoàn phó và thường mang cấp bậc Đại úy hoặc kém thâm niên hơn người kia nếu cùng cấp bậc.

Một trong những điều tâm lý động viên tinh thần lớn nhất cho các binh sĩ là cho họ khái niệm là họ thuộc vào thành phần của một gia đình hay một nhóm mà mọi đồng đội có thể hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Tình huynh đệ chi binh đã được nâng lên ở (một) mức cao nhất không thấy nơi các đơn vị khác. Hầu như mọi người đã thể hiện lòng dũng cảm không phải vì phục tùng hay nhắm hưởng bổng lộc mà chỉ vì họ muốn bảo bọc lẫn nhau. Ít nhiều, nhiệm vụ cố vấn đã làm phức tạp thêm khái niệm này.

Các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ phần nào đã thoát ra khỏi những mối liên hệ chặt chẽ họ đã từng có với những người mà họ đã phục vụ chung, đã từng chỉ huy hay từng dưới quyền chỉ huy.

Với nhiệm vụ cố vấn, họ không có quyền hạn thật sự và vì là người Mỹ, mặc dù đã được huấn luyện về ngôn ngữ, hầu hết cũng chưa có đủ khả năng để trao đổi một cách chân thành và sâu sắc nhất với những quân nhân mà họ chia sẻ các khó khăn của cuộc đời lính chiến. Không thế nào mà không phải trải qua những giây phút cô đơn, nhất là khi khả năng của họ lúc ban đầu đang bị những người họ làm cố vấn và các binh sĩ chung quanh đánh giá một cách lạnh nhạt. Thể tạng những người Hoa Kỳ cao lớn và lông lá cũng là một đề tài để họ quan sát.

Mỗi một Tiểu đoàn trưởng TQLC Việt Nam đều có ít nhất là tám đến mười năm tác chiến lâu hơn so với một cố vấn Hoa Kỳ thâm niên và lão luyện nhất. Do đó kinh nghiệm chiến đấu không phải là mặt mạnh của các cố vấn Hoa Kỳ.

Dù không thâm niên bằng nhưng nhu cầu cần cố vấn Hoa Kỳ rất cao vì họ được sống trong một văn hóa đã thấm nhuần các khái niệm thực tế về sự phối hợp và sử dụng hỏa lực một cách có hiệu quả. Ngay cả trong một vài trường hợp hiếm hoi, dù sĩ quan Việt Nam không ưa các cố vấn đi theo họ lắm nhưng họ không bao giờ chê các phương tiện hỏa lực mà cố vấn Hoa Kỳ nắm trong tay.

Ngoài khả năng có thể gọi hỏa lực yểm trợ cần thiết khi được yêu cầu và đòi hỏi, các cố vấn Hoa Kỳ đều phải nhớ, giống như khi họ còn chỉ huy trung đội và đại đội, rằng họ luôn luôn bị những người chung quanh quan sát họ. Tâm trạng cô đơn của người cố vấn còn tăng thêm vì sự khác biệt tương đối so với các binh sĩ Việt Nam mà họ đang phục vụ và sống chung với nhau.

Cho đến năm 1971, TQLC Việt Nam đã có được một khả năng về pháo binh khá hùng hậu. Điều mà họ chưa có, và có lẽ không bao giờ có được là một hạm đội hải quân với số lượng vô giới hạn về đạn hải pháo bắn đi từ các hộ tống hạm và chiến hạm như Hải quân Hoa Kỳ. Họ cũng không thể nào có nổi một không lực với khả năng thả một khối lượng bom như một cuộc không tập ARCLIGHT B-52 hay bất kỳ phóng pháo – chiến đấu cơ nào khác mà Không Lực Hoa Kỳ đang có trong tay.

Mặc dù cố vấn Hoa Kỳ có thể được châm chước về những phong cách khác lạ của người ngoại quốc, đặc biệt nếu anh là người giỏi hoặc anh hòa đồng tốt với những người anh trực tiếp làm việc chung, chẳng hạn như nhân viên truyền tin và đám lính “ba trợn,” tức những người mà các lời rỉ tai tốt hay xấu sẽ được lan truyền tới những người khác trong tiểu đoàn, anh vẫn luôn luôn phải nhớ anh là ai và đang ở đâu.

Trên thực tế, cố vấn Hoa Kỳ ngoài chuyện phải can trường và tuyệt giỏi về công tác phối hợp hỏa lực yểm trợ, còn phải là viên “đại sứ” Hoa Kỳ trong bộ quân phục rằn ri của TQLC Việt Nam nữa. Trong mọi tình huống, cố vấn Hoa Kỳ phải biết thông cảm với những sắc thái văn hóa và sự khác biệt giữa những gì anh vẫn làm lúc còn là TQLC Hoa Kỳ và những chuyện cần làm bây giờ trong binh chủng TQLC Việt Nam. Quan trọng hơn hết là anh phải biết thế nào là “thể diện” và “giữ thể diện.”

Khuynh hướng của người Mỹ muốn giải quyết các vấn đề một cách trực tiếp và chóng vánh nhất thường đi ngược lại với phong thái Khổng giáo. Những vi phạm nghiêm trọng đến các điều nhạy cảm về văn hóa một cách nghịch lý có thể thành một vấn đề lớn. Một cố vấn khôn ngoan cần phải biết cách đối phó với những vấn đề này mọi lúc, mỗi ngày.

Tất cả các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ đã từng làm việc chung với TQLC Việt Nam đều trải qua những giai đoạn bị cô lập và lẻ loi, mặc dù là sau này họ có thể gần gũi với các đồng đội TQLC Việt Nam hơn. Điều này khiến cho tình bạn giữa các cố vấn Hoa Kỳ với nhau vô cùng quan trọng, nhất là trong thời kỳ Việt Nam hóa chiến tranh đã khiến cho sự hiện diện của người Mỹ trên đất nước mà họ đang giúp đỡ càng lúc càng vắng dần. Khi các đơn vị được nghỉ ngơi dưỡng quân tại Thủ Đức gần Sài Gòn thì các sĩ quan Hoa Kỳ thường tìm gặp nhau ngoài giờ làm việc. Chính trong một dịp như vậy mà Đại úy George Philip đã gặp được một số người mà sau này trở thành những người bạn thân thiết nhất.

Bằng trực giác và được nghe qua những mẩu chuyện cũng như lời đồn đãi trước khi đến Việt Nam, George tin chắc là hầu hết các cố vấn Hoa Kỳ có mặt tại Việt Nam đều là những tay chiến binh kỳ cựu, những kỳ tích chân chính được lưu truyền trong tập thể TQLC Hoa Kỳ. Trong hai cuộc Thế Chiến Thứ Nhất và Thứ Hai, những nhân vật như John Ripley, Ray Smith, Walt Boomer và nhiều người nổi danh can trường khác nữa luôn luôn được dư luận Hoa Kỳ trân trọng và ghi nhận. Cuộc chiến này thì khác hẳn. Trong khi ai cũng biết đến Trung úy Calley và những hành động bỉ ổi của hắn tại Mỹ Lai thì chỉ có cái nhóm nhỏ chuyên nghiệp mới biết đến ai là những thủ lĩnh thật sự và những hành động dũng cảm nào mà họ đã thực hiện được.

George cảm thấy rằng trong chu kỳ nhiệm vụ trước đây, khi anh là TQLC Hoa Kỳ đánh nhau trên Vùng I Chiến Thuật thì cũng giống như anh tham dự một đội bóng loại xoàng. Nay làm cố vấn Hoa Kỳ, anh hiểu ra là anh đã được tham gia vào một đội siêu đẳng. Nhóm “cầu thủ” tài danh mà binh đoàn TQLC Hoa Kỳ đã tập hợp cho nhiệm vụ đặc biệt này là những sĩ quan trẻ tài ba nhất. George tự cảm thấy vừa khiêm tốn vừa hãnh diện.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn

Cho đến mùa Hè năm 1971 có vào khoảng hơn 200 triệu người Hoa Kỳ chưa bao giờ đổ mồ hôi hay xương máu ngày nào tại Đông Nam Á. Do đó, đối với hầu hết trong số họ, Việt Nam chỉ là một sự phiền nhiễu vu vơ gây ra sự bực mình hằng đêm khi xem truyền hình hoặc chỉ là một vấn đề làm khó chịu và gây thất vọng.

Đối với những người trong nước, cuộc chiến Việt Nam vẫn còn ảnh hưởng đến họ và làm họ thay đổi theo những chiều hướng rất khó diễn tả, khó lường được và cũng khó hiểu nữa. Những sự thay đổi và biến động hiện nay trong xã hội, phong trào nhân quyền, tệ nạn ma túy, cách mạng về tình dục, sự bất tuân mọi hình thức của quyền lực chính quyền, tất cả những thứ đó dường như quyện vào nhau và là thành phần của một hiện tượng Việt Nam lớn hơn bao trùm tất cả lứa tuổi đủ già dặn để nhớ lại là đã xem được những cuốn phim như “Leave it to Beaver” hay “The Adventures of Ozzie and Harriet” trước khi những cuốn phim này được mang ra chiếu lại.

Cho đến mùa Hè năm 1971, nước Mỹ đã bắt đầu bước qua trang sử mới. Số người Mỹ còn ở lại Việt Nam mang cái ảo tưởng là mức độ rủi ro của họ không đáng kể vì chỉ có một số ít trong số hơn 100 ngàn người còn ở lại Việt Nam được lãnh các nhiệm vụ nguy hiểm. Lệnh động viên vẫn còn hiệu lực nhưng đã tiết giảm dần. Số lượng tổn thất giảm đáng kể so với các năm 1968 và 1969. Ngay cả âm nhạc cũng có vẻ đã vượt qua thời kỳ chiến tranh vì những bản nhạc phản chiến cũng đã ít dần đi.

Cho đến mùa Hè 1971 rõ ràng là tương lai của nước Mỹ không có hình ảnh của Việt Nam trong đó nữa. Tuy nhiên các kỷ niệm về Việt Nam vẫn còn trong kính chiếu hậu, nhất là đối với các thanh niên đã từng qua đó, đã trở về và đang cố gắng mưu cầu lại cuộc sống bình thường, bất kể những ước vọng đó như thế nào.

Trong số khoảng 43.000 người được động viên vào binh đoàn TQLC Hoa Kỳ thì có rất ít người được chỉ huy một trung đội tác chiến. Mặc dù không có hồ sơ ghi chép chính xác nhưng có lẽ Chuck Goggin là người đã nắm kỷ lục thời gian nhanh nhất từ Hạ sĩ lên Trung sĩ chỉ trong vòng hai tháng, và đã được nắm quyền chỉ huy trung đội.

Chiến Thương Bội Tinh duy nhất mà anh đã được trao tặng mặc dù anh đã bị thương ba lần khác nhau bởi đạn thù đã nói lên cái thói quen của những chiến sĩ như anh. Họ vẫn thường từ chối không chịu cho tản thương hay công nhận là đã bị thương mà chỉ muốn ở lại chiến đấu cùng với đồng đội trong rừng đang cần đến họ.

Đại đội trưởng John Ripley đã đề nghị anh được huân chương Silver Star nhưng sau đó nó đã bị hạ xuống còn huy chương Bronze Star vì trong thời gian đó cấp chỉ huy của Tiểu đoàn 3 thuộc Sư đoàn 3 rất bủn xỉn trong việc tưởng thưởng các loại huy chương anh dũng.

Được giải ngũ vào ngày 10 tháng Hai năm 1968, gần hai năm sau ngày nhập ngũ, Chuck Goggin đến Vero Beach, Florida chín ngày sau đó để tham dự khóa tập luyện mùa Xuân với đội bóng chày Dodgers. Trong khi các đồng đội cũ của anh còn ở Việt Nam và tham dự hàng loạt trận đánh kể từ cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân thì giờ đây Chuck sống ngoài lề và tách ra khỏi những chuyện đó. Hiện anh cũng có những “trận đánh” riêng của anh để được ở lại trong đội bóng.

Trong phạm vi các cầu thủ đội bóng chày có rất ít hay hầu như không có các cuộc trao đổi về chiến tranh tại Việt Nam thành thử chẳng ai màng tới chuyện Chuck đã làm gì trong thời gian đó. Chuyện duy nhất mọi người quan tâm là không phải đi Việt Nam. Trên thực tế, anh biết nhiều cầu thủ đã cố ý tham gia các đơn vị trừ bị hay Vệ Binh Quốc Gia chỉ vì muốn tránh bị phục vụ tại Việt Nam. Huy chương này hay huy chương kia chẳng có nghĩa lý gì đối với những người chỉ muốn theo đuổi những mục đích vinh thân phì gia.

Từ kỳ tập luyện mùa Xuân năm 1968 cho mãi đến mùa Hè 1971, cuộc sống của Chuck không sôi nổi như các cuộc hành quân tại Vùng I Chiến Thuật mà chỉ là một sự mờ ảo của những hoạt động không dứt của một thế giới xoay quanh môn bóng chày. Tiếp theo khóa huấn luyện mùa Xuân đầu tiên, anh chơi cho đội tuyển hạng AA tại Albuquerque suốt mùa hè, còn mùa Đông thì tại Arizona, nơi anh được Tommy Lasorda dìu dắt, một người mà anh đặc biệt quý mến. Năm sau, cũng trong tổ chức của Dodgers và vẫn dưới quyền huấn luyện của Lasorda, anh chơi cho đội AAA tại Spokane. Sau đó anh được hoán đổi cho tổ chức Pirates để Dodgers lấy về một tay ném bóng trẻ hơn, là Jim Bunning.

Chuck Goggin chơi cho các đội AA và AAA của Columbus, Charleston, Waterbury tại Connecticut và còn dành thời gian để chơi cho đội Mexico trong mùa Đông nữa. Trong suốt thời gian đó, qua biết bao nhiêu lần bị chấn thương trong đó có một lần bị gãy cổ chân khá nặng, Chuck Goggin vẫn chịu đựng được và cố gắng vươn lên cao. Anh hy vọng anh sẽ được vào đội tuyển các đội ngoại hạng.

Cho đến mùa Hè năm 1971 thì hầu như không có ngày nào trôi qua mà Chuck không nghĩ về thời gian anh phục vụ tại Việt Nam mặc dù anh không hề kể lại cho ai nghe về kinh nghiệm của anh về Việt Nam bao giờ.

Cho đến mùa Hè năm 1971 Chuck Goggin đã gắn chặt đời mình vào bóng chày và lập gia đình với một cô dâu mới. Anh đã đoạn tuyệt với quá khứ. Anh không hề tiếc nuối thời gian qua tại Việt Nam nhưng anh vui là đối với anh, đó chỉ là kỷ niệm và không phải là cuộc sống hiện tại nữa.

Việt Nam… Phần hai

Chuyến bay đến Tân Sơn Nhất không xảy ra biến cố gì. Trong lần nhiệm vụ trước, Đại úy George Philip chưa bao giờ xuống đến Sài Gòn. Tất cả kinh nghiệm của anh với Việt Nam, giống như các TQLC Hoa Kỳ khác, là đến, chiến đấu và ra đi, mọi chuyện đều xảy ra tuốt phía Bắc và trong phạm vi Vùng I Chiến Thuật.

Lúc đến nơi, George được hai người cố vấn đồng đội ra đón và giúp làm các thủ tục cần thiết tại phi trường. Ngoại trừ đây đó có những vị trí được tấn bao cát dọc theo bên đường đưa vào thành phố cùng sự hiện diện của quân nhân và cảnh sát Việt Nam, người ta cũng khó mà biết là vào thời điểm tháng Tám 1971, chiến tranh vẫn còn đang xảy ra.

Thành phố Sài Gòn náo nhiệt với cuộc sống và buôn bán. George Philip rất thích ngắm cảnh và sự náo nhiệt của đường phố nhưng anh lại rất hãi hùng về cách lái xe của dân chúng. Anh tưởng chừng như có thể bị tử thương ngay trong ngày đầu tiên khi vừa lái ra khỏi phi trường.

Từ phi trường họ lái thẳng về Bộ Tư Lệnh TQLC Việt Nam ngay trung tâm Sài Gòn. George được viên chỉ huy phó cố vấn đón tiếp. Anh cũng được phát đồ trận rằn ri (George đã gởi kích thước của mình đến trước để thợ may sẵn sàng quân phục khi anh đến nơi là có ngay) và cái nón bê-rê đặc biệt mà anh sẽ đội trong suốt một năm phục vụ. Vì đã trễ rồi và vì đằng nào những thủ tục giấy tờ và thời gian hội nhập cũng phải mất vài ngày thành thử George được cho về nhằm kịp lấy phòng tại khách sạn Splendid, cũng trong trung tâm thành phố, nơi mà hầu hết cố vấn Hoa Kỳ đang trú ngụ.

Mặc dù rất mệt nhưng anh cũng gia nhập một nhóm cố vấn gồm các Thiếu tá và Đại úy, tất cả đều thâm niên hơn anh. Họ mới trở về từ mặt trận và rủ nhau đi câu lạc bộ Hòa Bình, một chốn ưa thích tại Sài Gòn mà các cố vấn Hoa Kỳ thường chọn để lui tới. Ngay từ lúc anh mới ngồi xuống và chưa kịp uống ngụm bia đầu tiên, anh đã thấy rõ ràng là cái nhóm sĩ quan TQLC Hoa Kỳ này hết sức đặc biệt rồi. Anh hiểu ngay là anh đang nhập bọn với những nhân vật tên tuổi. Tâm trạng anh giống như đã được gia nhập vào nhóm Robin Hood của thế kỷ 20. Nhóm người thần kỳ này là một kinh nghiệm duy nhất từ trước đến nay đối với anh.

Anh định cáo lui sớm để nghỉ ngơi hầu lấy lại sức vì sự sai biệt về múi giờ đã làm anh thiếu ngủ và trong máy bay anh cũng không ngủ được bao lâu. Thiếu tá Andy DeBona *, một trong những người kỳ diệu nhất trong nhóm, có thể tượng trưng cho nhân vật Little John trong chuyện Robin Hood, đã phản đối ý định của viên Đại úy trẻ không muốn ở lại suốt buổi tối với nhóm. Lúc George đứng dậy lễ phép muốn cáo từ, Thiếu tá DeBona hỏi anh:

“Anh định đi đâu đấy?”

George cố giải thích.

“Dẹp đi ngay. Anh phải ở đây uống với chúng tôi đã.”

Thế là George bị kẹt lại. Tất cả những gì viên Đại úy trẻ có thể đáp lại cũng chỉ tương tự như tâm trạng của một sinh viên sĩ quan Hải quân đối với cấp trên:

“Xin tuân lệnh thượng cấp.”

__________________________________________________________

* Vào tháng Chín năm 1967, Andy DeBona là Đại đội trưởng Đại đội M, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 26 TQLC Hoa Kỳ. Anh được tưởng thưởng huân chương Navy Cross vì lòng dũng cảm đặc biệt trong trận đánh đẫm máu với bộ đội Bắc Việt tại Cồn Thiên. DeBona đã là một huyền thoại lúc anh còn trong TQLC Hoa Kỳ. Những hành động của anh khi làm cố vấn quân sự cho Tiểu Đoàn 7 TQLC Việt Nam còn làm cho anh nổi danh thêm với tư cách là một người chiến sĩ.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM 20

cuoingonsam

eric-joseph-hieu

Chương 15
Trở về Hoa Kỳ

Hội nhập trở lại cuộc sống khi về Mỹ có những sự khó khăn nhất định của nó. Đối với nhiều cựu chiến binh Việt Nam hồi hương thì khía cạnh đau khổ và gây hãi sợ nhất sau thời kỳ phục vụ trong quân ngũ không phải là các kinh nghiệm ghê gớm mà họ đã trải qua vẫn thỉnh thoảng ám ảnh họ trong giấc ngủ. Không phải là vì tất cả mọi người đã từng phục vụ và sống sót đều có bạn bè bị mất mạng trong những điều kiện khắc nghiệt và khủng khiếp nhất. Cũng không phải ai cũng bị thương tích và bị biến đổi mãi mãi về thể xác cũng như tinh thần chỉ vì đã đáp lại lời gọi của sông núi. Điều làm George ưu tư hơn tất cả mọi thứ, điều làm anh và các đồng đội làm việc tại Trường Sinh Viên Sĩ Quan OCS (Officer Candidates School) bối rối hơn cả là cách bị đối xử khi họ trở về nước bởi những người chưa hề đi lính bao giờ.

Vào mùa Xuân năm 1970, sau khi đã giúp xong bốn khóa huấn luyện Sinh viên Sĩ quan với vai trò Trung đội trưởng, George được chính thức bổ nhiệm làm huấn luyện viên cho trường OCS. Anh rất hài lòng với nhiệm vụ mới này.

Vào khoảng thời gian các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH vượt qua biên giới Cambodia để tấn công vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh và các khu an toàn rộng lớn của Bắc Việt mà cho tới khi đó vẫn được phe địch sử dụng một cách tự do, Trung úy George Philip cảm thấy bất an và không thoải mái lắm trong vai trò huấn luyện viên tại trường OCS nữa. Anh nghĩ là anh có thể làm một cái gì đó cao hơn thế.

George bắt đầu cảm thấy buồn chán với công việc đều đặn được giao tại trường OCS. Anh muốn tìm một công việc khác, một nhiệm vụ nào hay hơn là việc cạo giấy, một trách nhiệm tích cực và có ý nghĩa hơn. Anh nghe nói có những cơ hội dành cho các sĩ quan từ các ngành chuyên môn khác có thể chuyển qua Không quân. Triển vọng được lái trực thăng chiến đấu khá hấp dẫn và có thể thỏa mãn được tính phiêu lưu mạo hiểm vẫn còn nung nấu trong anh.

George đã được leo trực thăng khá nhiều tại Việt Nam, đã thấy tận mắt các phi công Lục quân và TQLC thực hiện những phi vụ rởn tóc gáy và hào hùng bay vào bay ra các bãi đáp trong lửa đạn địch quân. Lái trực thăng chắc chắn sẽ ngon lành hơn là dạy học về y tế phòng ngừa ngoài mặt trận cho các SVSQ tại Quantico rồi. Lái trực thăng cũng sẽ đưa anh trở lại với công tác hoạt động tích cực và không thể nào buồn chán được.

Trung úy George Philip nộp tất cả các giấy tờ cần thiết. Mắt anh tốt. Anh vượt qua được các cuộc thi viết. Anh cũng qua luôn vụ khám sức khỏe phi hành. Anh có đủ các giấy giới thiệu. Và anh được nhận. Anh đã sẵn sàng và được chuyển qua trại Ft. Rucker ở Alabama để nhập trường của Lục quân.

Tuy nhiên chỉ trong một vài ngày sau khi được nhận, binh đoàn TQLC bỗng dưng ngưng hết mọi cuộc tuyển dụng. Cái nhu cầu lớn cần thêm phi công tự nhiên chấm dứt không biết tại sao. Khá thất vọng, George ghé lên Washington, D.C. để gặp sĩ quan chỉ huy đỡ đầu hầu thăm dò các khả năng khác.

Ngồi thẳng trước vị sĩ quan đã từng chỉ huy đỡ đầu cho các sĩ quan pháo binh trẻ dạo nào, thoạt tiên George hơi bồn chồn một chút. Viên chỉ huy chăm chú lược qua xấp hồ sơ mà binh đoàn TQLC có sẵn về trường hợp Trung úy George Philip. Ông nhận thấy có một chuyện có thể làm được. Ông thấy các điểm trắc nghiệm của George đã chứng tỏ là anh có một khả năng đặc biệt về ngoại ngữ. Do đó, tại sao anh không tham dự một khóa học bẩy tháng về Việt ngữ tại trường Sinh Ngữ Quốc Phòng ở Monterey California để trở thành cố vấn quân sự về pháo binh cho binh chủng TQLC VNCH? Bất ngờ và hơi nản, George cố nén một nụ cười. Lúc còn học trung học anh đã phải trải qua hai năm để học xong lớp 1 tiếng Tây Ban Nha. Giờ đây binh đoàn nói là anh có khả năng giỏi về sinh ngữ. Anh là ai mà dám cãi lại sự khôn ngoan của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ? Ngoài ra, bẩy tháng tại Monterey cũng không đến nỗi nào. Cái trò cố vấn và binh chủng TQLC Việt Nam thì anh chẳng có một tí ý niệm nào cả, hay ít nhất là chưa, nhưng được cái là anh rất phóng khoáng. Viên Thiếu tá nói anh suy nghĩ vài ngày nữa đi. Ngày hôm sau George gọi lại. Anh nhận lệnh.

Cuộc xâm lăng Cambodia và hậu quả tiếp theo

Hình phạt kinh hoàng giáng lên quân Bắc Việt qua cuộc tấn công vào những cứ điểm an toàn lâu nay bất khả xâm phạm của chúng tại Cambodia rất đáng kể. Các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH đã thực hiện, theo lời TT Nixon. “Một cuộc hành quân thành công nhất trong cuộc chiến Việt Nam.” Từ 29 tháng Tư đến 30 tháng Sáu 1970 các lực lượng đồng minh, với cái tổn thất cộng chung là 1.200 người thiệt mạng, địch quân đã bị thiệt hại gấp 10 lần số lượng đó. Thêm vào đó và có lẽ quan trọng hơn cả là đã chận đứng được nguồn tiếp vận của đối phương nhằm thực hiện các cuộc công kích. Hằng ngàn tấn gạo, hàng triệu đạn dược khác nhau và đủ các loại trang thiết bị tối cần thiết đã bị tịch thu hoặc phá hủy. Khả năng tác chiến của bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng đã bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng.

Hoạt động của quân Bắc Việt và Việt Cộng đã suy giảm rõ rệt, đặc biệt là tại hai Vùng III và IV Chiến Thuật của miền Nam Việt Nam (Vùng III Chiến Thuật là vùng bao gồm Sài Gòn và Vùng IV nằm ở phía Nam Sài Gòn) đã tạo phần dễ thở cho các lực lượng Hoa Kỳ để họ triệt thoái ra khỏi Việt Nam một cách có trật tự. Điều này cho phép chương trình Việt Nam hóa chiến tranh được thực hiện dưới một áp lực nhẹ hơn của đối phương. Sự giảm thiểu hoạt động của Cộng sản cũng tạo thêm thời gian cho QLVNCH phát triển thêm về khả năng chiến đấu và lòng tự tin đang chớm nở nơi họ.

Tiểu đoàn 3 TQLC Việt Nam, với Đại úy Lê Bá Bình làm Tiểu đoàn phó, đã tham gia chiến dịch Cambodia trong thành phần Lữ đoàn 147 TQLC. Mặc dù không phải là một cuộc dạo chơi nhưng khu vực họ phụ trách hoàn toàn thuận lợi để chống lại kẻ thù trong tình huấn thật bất ngờ không sửa soạn được bất kỳ điều gì ngoài chiến trường. Qua cái nhìn của một Tiểu đoàn phó, công tác giao cho đơn vị anh đã được hoàn thành xuất sắc. Các binh sĩ Tiểu đoàn Sói Biển đã hạ sát được rất nhiều Cộng quân mà chỉ chịu một sự tổn thất không đáng kể.

George tại Monterey

George Philip được chuyển về Viện Ngôn Ngữ Quốc Phòng DLI (Defense Language Institute) học trong bẩy tháng. Viện này nằm khá gần trường Hậu Đại Học nổi tiếng của bộ Hải Quân Hoa Kỳ NPGS (U.S. Navy Post Graduate School).

Có một câu chuyện đùa có tính cách biểu lộ và hơi khó chịu nhiều hơn là khôi hài được truyền tụng như sau:

“Một người nói được ba thứ tiếng thì gọi là gì?”
Tam ngữ
“Một người nói được hai thứ tiếng?”
Song ngữ
“Còn người chỉ nói được một thứ tiếng?”
Ngưòi Mỹ

Nhiệm vụ của trường DLI là cố gắng thay đổi cái quan niệm trên, dù trong một phạm vi nhỏ hẹp nào đó. Trong trường quy tụ cả nam và nữ đang phục vụ trong các ngành khác nhau của quân đội và các cơ quan chính quyền. Họ được học về các ngôn ngữ cần thiết cho chính sách ngoại giao và thu thập tình báo cho Hoa Kỳ. Các sinh ngữ được dạy gồm những thứ tiếng khá thông dụng như tiếng Nga, tiếng Quan Thoại, tiếng Tây Ban Nha cho đến các thứ tiếng đặc biệt như tiếng Swahili, tiếng Farsi và tiếng Hindi. Ngoài ra trường còn dạy một số ngôn ngữ mà người Mỹ bình thường có thể chưa bao giờ được nghe đến. Các giáo viên, đặc biệt là những người dạy các ngôn ngữ thiết yếu cho công tác phòng thủ trong Chiến Tranh Lạnh, thường là những người tỵ nạn đến từ các quốc gia đang bị Cộng sản đàn áp. Thời gian tại Monterey, một địa danh mà Eric Burdon đã thể hiện trong bài hát diễn tả Hội Nhạc Rock (Pop Festival) 1967, hoàn toàn thoải mái đối với George. Nhạc sĩ Burdon còn thốt lên: “Cả cảnh sát cũng múa với chúng ta…”

Có những lúc mà George không nhớ là đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh nữa. Nhiều bạn đồng khóa cũ của anh từ trường Annapolis, hầu hết là sĩ quan Hải quân đang là khóa sinh tại trường NPGS. Trong thời gian George thụ huấn tại Monterey, anh cũng đã chơi cho đội bóng chày của họ.

Thời khóa biểu học khá chặt chẽ nhưng không đến nỗi khó khăn lắm. Nhóm giảng viên đều sinh trưởng từ miền Bắc Việt Nam và là dân di cư vào trong Nam năm 1954. Mỗi người đều có những câu chuyện của cải bị tịch thu và người thân bị sát hại thảm khốc bởi bọn Cộng sản. Mỗi ngày, lặng ngập suốt sáu tiếng đồng hồ của lớp học và còn phải cộng thêm hai hay ba tiếng đồng hồ làm bài tập nữa.

Vì còn độc thân nên George có khả năng sắm được một chiếc xe gắn máy. Trong những ngày nghỉ lễ hay nghỉ cuối tuần anh thường lái trên xa lộ số 1 và thưởng thức cảnh đẹp tuyệt vời ngoài bãi biển của những vùng như Big Sur. Một thời gian ngắn sau khi đến trường anh đã gặp và làm quen được với một phụ nữ quyến rũ đang dạy tiểu học tại thị trấn Carmel.

Trường hợp của George Philip, một học viên sinh ngữ tại trường DLI và đã từng hoàn tất cả một chu kỳ nhiệm vụ tại Đông Nam Á, bây giờ mới là lần đầu tiên được biết về văn hóa Việt Nam và tiếp xúc với những người Việt Nam thì thật là một bằng chứng trớ trêu và đáng buồn về đường lối mà Hoa Kỳ đang tiến hành chiến tranh tại Việt Nam. Giống như 90% các người Mỹ khác đã từng đến Việt Nam sau 1964 nhưng họ chỉ nằm trong cái vỏ bọc văn hóa Mỹ, George không hề tiếp xúc thật sự với người Việt Nam hay tạo các mối thân tình bạn hữu ngoài phạm vi các đồng đội TQLC của anh. Hầu hết lính Mỹ chỉ làm việc với người Việt lúc nào họ cần và từ những góc cạnh hạn hẹp đó, các kinh nghiệm thường không được tốt đẹp lắm.

Những chú lính thiếc và sự xuất hiện của Nixon

Lẫn lộn trong công tác tường thuật của báo chí về các hoạt động chung quanh việc tấn công qua Cambodia và những kết quả của nó là tác động tích cực, trực tiếp về mặt tinh thần đối với các binh lính đang tham gia cuộc chiến bên đó. Mặc dù không có một người lính Mỹ nào muốn trở thành người cuối cùng bị mất mạng trong tiến trình Việt Nam hóa chiến tranh đang diễn ra, nhưng đã có một sự nhẹ nhõm đối với những người đang chiến đấu ngoài mặt trận vì các quy tắc kỳ cục về giao tranh cuối cùng đã được bãi bỏ. Các quy tắc này trước kia không cho phép lính Mỹ thực hiện các cuộc tảo thanh kẻ thù vào tận các hang ổ của chúng.

Trước khi vượt biên giới vào những vùng hậu cần của kẻ thù tại Cambodia, lực lượng Hoa Kỳ trong năm năm trời giống như những con chó trong phim hoạt họa bị xích lại và chỉ có thể tự vệ và làm chủ, mặc dù không trọn vẹn lắm, trong phạm vi cái xích cho phép. Cho đến cuối tháng Tư 1970, cái xích đã giữ họ chỉ được hoạt động trong phạm vi lãnh thổ VNCH. Còn quân Cộng sản giống như con thỏ Bugs Bunny hay con vịt Daffy Duck đối diện với con chó canh tuyệt vọng, tha hồ hưởng tự do mỗi lần họ vượt biên giới màu nhiệm của Lào hay Cambodia. Chúng lại còn thường xuyên chọc quê đối thủ Hoa Kỳ, lúc này giống như con chó trong phim hoạt họa nói trên chỉ biết sủa và gầm gừ một cách tức tối.

Nói cho cùng, cái số lượng hơn 12 ngàn lính Bắc Việt bị tiêu diệt bởi các lực lượng Hoa Kỳ và QLVNCH tại Cambodia không hẳn là vô ích. Phản ứng ngược từ quyết định của TT Nixon đã xảy ra nhanh chóng và đắt giá trong dư luận chính trị quốc nội. Với một nhận thức mới là chiến tranh đã lan rộng, đã có một sự phẫn nộ gần như là tức thời trong toàn nước Mỹ. Hàng ngàn sinh viên trong hàng trăm trường đại học xuống đường phản đối mạnh mẽ.

Thảm kịch xảy ra tại trường đại học Kent State, được đưa vào những bài hát bất tử của Crosby, Stills, Nash và Young, đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cho phong trào phản chiến vừa được hâm nóng lại. Bất cứ vì lý do nào, những người phản chiến đã trở thành các đồng minh vô tình hay cố ý cho cho bọn lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Chúng đã nhìn thấy trước một cách sâu sắc và tinh ma sau biến cố Tết Mậu Thân, trọng tâm của cuộc chiến đã chuyển từ các khu vực rừng rú và các cánh đồng lúa ở Đông Nam Á vào trong đấu trường chính trị của Hoa Kỳ.

Chiến tranh và tất cả những gì liên quan đến nó từ khía cạnh chính trị trong nước đã làm đảo lộn tất cả mọi thứ và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của mọi người. Sự kiện Vệ Binh Quốc Gia đã bắn chết các sinh viên tay không đã khẳng định cho những người chống chiến tranh rằng tất cả những gì nhỏ nhặt nhất về Việt Nam đều đáng nghi ngờ, và sự đê tiện, tính tàn ác và tình trạng tham nhũng ở Việt Nam đều là sự thật.

Thay vì là một trường hợp đơn độc, đặc biệt, và là một vết nhơ không thể tả đã làm vẩn đục danh dự của quân đội Hoa Kỳ, bây giờ nhiều người tin rằng những hành động tại Mỹ Lai là cái lối thông thường khi quân đội Hoa Kỳ tiến hành các cuộc hành quân. Trong nước, cho dù một câu chuyện có hoang tưởng hay không, và nguồn gốc có thể từ một người này đã quen một người kia, và người kia có bà con với người đó đang làm việc tại Bing Bang Bong – luôn luôn có những chuyện hoang đường được vẽ vời, thêm mắm thêm muối, kể đi kể lại về những tội ác, giết chóc, ma túy v.v… và vì không có chuyện gì ở Việt Nam là quá hoang tưởng, nên tất cả những gì về Việt Nam đều có thể tin được, nhất là nếu đó là những điều xấu xa.

Tại Washington, phản ứng chính trị trực tiếp sau cuộc xâm lăng Cambodia là những toan tính hạn chế quyền lực của Tổng thống để theo đuổi chiến tranh khi không được sự chấp thuận rõ ràng của Quốc hội. Nhiều người tin rằng ngành Hành pháp từ hồi TT Franklin Roosevelt đã từ từ lấn quyền khai chiến của Quốc hội, vốn đã được Hiến pháp công nhận. Tu chính án Cooper-Church là điều khoản bổ sung Hiến pháp đầu tiên nhằm giới hạn quyền hạn của Tổng thống trong chiến tranh. Mục đích của nó nhằm từ chối cung cấp tài chánh cho các lực lượng trên bộ của Hoa Kỳ đang được sử dụng tại Lào và Cambodia sau tháng Sáu 1970.

Bản Tu chính án đầu tiên đã không được thông qua. Vả lại khi đó các lực lượng Hoa Kỳ cũng đã rút trở về biên giới VNCH rồi. Bản Tu chính án sửa lại nhẹ nhàng hơn được lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ thông qua vào cuối tháng Mười Hai và trở thành luật vào đầu tháng Giêng 1971. Từ nay, mặc dù các hạn chế về cách sử dụng hỏa lực trên không trong tương lai chỉ ở mức tối thiểu, nhưng các lực lượng trên bộ của Hoa Kỳ bất cứ nơi nào trong vùng Đông Nam Á, cho dù là vai trò cố vấn cho quân đội VNCH đều bị cấm ngặt.

Chiến dịch tiếp theo của QLVNCH nhằm triển khai các thắng thế sau cuộc hành quân Cambodia từ tháng Tư đến tháng Sáu 1970 đã phá vỡ được các khu an toàn của Cộng quân được đặt tên là Hành Quân Lam Sơn 719. Khe Sanh, chính cái căn cứ mà TQLC Hoa Kỳ đã chiến đấu với quân Bắc Việt trong cuộc bao vây lừng danh 77 ngày đêm trong năm 1968, được dùng làm bàn đạp cho các lực lượng VNCH. Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, các đơn vị VNCH cuối cùng đã biết sử dụng Khe Sanh theo phương cách mà tướng Westmoreland đã nhìn ra trước đó và phải dùng cái căn cứ quân sự đó như thế nào mới đúng.

Mục đích của cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 nhằm tấn công vào các khu an toàn của bộ đội Bắc Việt và chiếm đóng các phần thiết yếu của hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh cho đến tận Tchepone và làm tê liệt khả năng của kẻ thù đánh phá miền Nam Việt Nam. Đối với QLVNCH, cuộc hành quân vĩ đại nầy sẽ rất là quan trọng và đầy tham vọng cho nỗ lực chiến tranh không khác gì trận đột phá Cambodia trước đó.

Vào cuối tháng Giêng 1971, khi chiến dịch Lam Sơn 719 khởi sự thì Tu chính án Cooper-Church đã có hiệu lực hoàn toàn. QLVNCH trên bộ vẫn còn lệ thuộc nặng nề về mọi khía cạnh vào Không yểm của Hoa Kỳ. Từ những cuộc dội bom rộng rãi của B-52 theo kế hoạch ARCLIGHT cho đến vô số các cuộc không tập chiến thuật thả những trái bom thông thường và bom napalm để yểm trợ gần cho các hoạt động của bộ binh, vai trò hỏa lực của Không quân Hoa Kỳ rất đáng kể. Quan trọng hơn phóng pháo cơ và chiến đấu cơ là sự phụ thuộc vào hàng trăm chiếc trực thăng của quân lực Hoa Kỳ cần thiết cho việc xâm nhập, đón rước, tiếp tế, tản thương, dọ thám, chỉ huy tuần tra và bắn yểm trợ. Các sĩ quan bộ binh Hoa Kỳ với vai trò cố vấn cho các đơn vị QLVNCH và TQLC tham dự chiến trận là những cặp mắt và bộ óc bổ sung để hỗ trợ công tác sửa soạn cho chiến dịch và quan trọng hơn cả, họ là những người phối hợp hỏa lực yểm trợ của Hoa Kỳ. Họ đều ở lại căn cứ Khe Sanh và theo dõi diễn tiến trận đánh bằng điện đàm trong các hầm trú ẩn đã được sửa chữa lại.

Xét trên mọi khía cạnh, Hành Quân Lam Sơn 719 là một nỗ lực vĩ đại. Vị tướng VNCH được giao trách nhiệm chỉ huy chiến dịch là tướng tư lệnh từ 1965 của các lực lượng QLVNCH thuộc Vùng I Chiến Thuật, còn được phía Hoa Kỳ biết dưới cái tên là Quân Đoàn 1. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm tương đối có uy tín đối với người Mỹ. Tuy nhiên các sĩ quan cao cấp của TQLC Việt Nam không ưa ông ta lắm.

Để thực hiện các mục tiêu đầy tham vọng của Lam Sơn 719, tướng Lãm có trong tay một lực lượng hùng hậu gồm nhiều đơn vị khác nhau của QLVNCH. Ngoài Sư Đoàn 1 BB, một số đơn vị pháo binh, thiết giáp và mấy tiểu đoàn Biệt Động Quân, Trung tướng Lãm còn được quyền điều động gần như toàn bộ lực lượng Tổng Trừ Bị gồm cả hai sư đoàn Nhẩy Dù và TQLC. Lam Sơn 719 có thể coi là chiến dịch đầu tiên mà TQLC Việt Nam được đưa toàn bộ sư đoàn ra mặt trận.

64 ngày đêm xa luân chiến kéo dài từ ngày 30 tháng Giêng cho đến ngày 24 tháng Ba 1971. Tuy QLVNCH chịu những sự tổn thất khá nặng nề nhưng mọi người đều đồng ý là họ cũng tiêu diệt được một số lượng kẻ địch lớn hơn. Bộ đội Bắc Việt đã đưa vào trận đánh những đơn vị xuất sắc nhất và thật nhiều phương tiện để chống lại lực lượng VNCH và TQLC. Sau khi chiến dịch hoàn tất có nhiều cuộc tranh cãi về các thắng lợi đã đạt được. Mặc dù không được nói gì nhiều trên truyền thông, nhưng trên thực tế quân Bắc Việt đã bị giáng cho những đòn chí tử gây tổn thất đáng kể, cũng giống như cuộc đột phá Cambodia trước đó vậy.

Nhưng nếu nhìn dưới nhãn quan của TT Nixon muốn hướng mục tiêu vào nỗ lực Việt Nam hóa chiến tranh thì Lam Sơn 719 là một thảm bại về truyền thông báo chí. Mỗi một sự yếu kém hay thiếu sót của quân lực VNCH đều bị tường thuật và thổi phồng bởi giới truyền thông Tây phương. Các vấn đề của QLVNCH khởi đầu với sự can thiệp của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào tiến trình cuộc hành quân. Vị Tổng thống này được bầu ra trong một đất nước có một nền dân chủ còn non trẻ thành thử hết sức nhậy cảm và sẽ là hậu quả tiêu cực về phương diện chính trị nếu quân lực bị tổn thất quá nhiều. Phe lãnh đạo Cộng sản Hà Nội thì không hề bị áp lực này.

Những thử thách về các mặt chỉ huy, kiểm tra và phối hợp ngoài mặt trận đã được tường thuật lại bởi một hệ thống truyền thông báo chí không mấy thiện cảm với VNCH. Sự trình bày dai dẳng, lặp đi lặp lại nhiều lần về chiến dịch Lam Sơn 719 trong giới truyền thông Tây phương chỉ là những đoạn phim về lính VNCH tự ý trèo lên trực thăng tiếp tế. Những đoạn phim này được chiếu đi chiếu lại trong nước Mỹ giống như các khúc phim kinh hoàng của Tết Mậu Thân vậy. Những người trong nước thật sự khó mà có cảm tình nổi với những binh lính có vẻ như không chịu chiến đấu cho chính đất nước họ trong khi người Mỹ đã đổ máu quá nhiều để giúp đỡ, và còn tiếp tục làm như vậy bằng cách yểm trợ trực thăng cho toàn bộ chiến dịch, để rồi một số phi hành đoàn đã bị địch bắn hạ và giết chết.

Mặt tích cực của Lam Sơn 719 thì đã bị bỏ quên trong khi các phóng viên làm nhiệm vụ tường thuật của họ. Cũng tương tự như lần ở Cambodia, các lực lượng Bắc Việt cùng các phương tiện của họ đã bị thiệt hại nặng nề. Điều được ghi nhận rộng rãi bởi tình báo đồng minh là các cuộc xâm nhập qua đường mòn Hồ Chí Minh và các hoạt động của kẻ thù trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã bị suy giảm trong những tháng tiếp theo.

Thành tích của TQLC Việt Nam trong suốt quá trình Lam Sơn 719, khi tổng kết, được công nhận là khá xuất sắc. Tuy nhiên lòng dũng cảm và sự hy sinh của các TQLC Việt Nam phần nào đã bị vẩn đục bởi sự lạm dụng để củng cố mình của các cấp cao hơn tại bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Sự tranh chấp cay đắng và tai hại giữa một số sĩ quan cao cấp, trong đó đặc biệt tướng Lãm nổi tiếng là thù hằn với TQLC và ngược lại sự khinh ghét của Trung tướng Lê Nguyên Khang (mới lên từ Thiếu tướng) và các sĩ quan thuộc hạ đối với tướng Lãm cũng đã tăng thêm mà thôi.

Lam Sơn 719 là một sự lặp lại đối với lực lượng TQLC đã từng đụng độ với kẻ thù đáng ghét chỉ vài tháng trước đây tại Cambodia. TQLC Việt Nam đánh nhau lần này trên một địa thế hiểm trở hơn thành thử họ đã phải trả một cái giá tương xứng với những tổn thất giáng lên địch quân.

Tiểu đoàn 3 với Lê Bá Bình làm Tiểu đoàn phó hoạt động như một đơn vị thuộc Lữ đoàn 258. Hầu hết TQLC hành quân tập trung gần một vùng gọi là Cơ Rốc. Địa thế núi non hiểm trở và rừng rậm dày đặc là kẻ thù đối với họ không kém gì quân Bắc Việt ngoan cố. Cuộc đụng độ nặng nề nhất của Tiểu đoàn Sói Biển là khi Tiểu đoàn 1 bị một Trung đoàn Bắc Việt tấn công và Tiểu đoàn 3 đã xung phong đánh ngang hông địch để giải tỏa áp lực đang đè nặng trên người anh em TQLC. Khi trận chiến tàn lụi và lực lượng VNCH cũng như TQLC Việt Nam rút về lại miền Nam, Bình và ban chỉ huy của anh là những người rời chiến trường cuối cùng để đáp trực thăng bay về Khe Sanh.

Các công tác tiếp vận và soạn thảo kế hoạch càng lúc càng cần thiết vì sự lớn mạnh của binh chủng TQLC Việt Nam. (Năm 1970 Tiểu đoàn 9 TQLC được thành lập thêm). Việc duy trì hai phần ba các đơn vị TQLC liên tục chiến đấu ngoài mặt trận Vùng I Chiến Thuật đã khiến cho công tác hỗ trợ hạ tầng cơ sở trở nên căng thẳng. Các sĩ quan cao cấp cùng làm việc với các sĩ quan Hoa Kỳ nhằm bàn bạc và thực hiện các nhu cầu càng lúc càng nhiều hầu chăm sóc cho các TQLC đang chiến đấu và gia đình của họ trong những chung cư ở trong và chung quanh Thủ Đức. Các phương tiện về xây dựng đã được dành ra để thiết lập các khu gia binh, trạm y tế v.v…

Chăm lo cho các chiến sĩ và gia đình của họ một cách đầy đủ là một trong những vấn đề mà các nhà soạn thảo kế hoạch đã phải rất bận tâm. Các gia đình quân nhân được khuyến khích trồng rau cải và lúa gạo trong những thửa ruộng thuộc quyền kiểm soát của TQLC để tăng thêm thu nhập vào tiền lương ít ỏi bằng các phương tiện sẵn có. Có một chuyện xảy ra được ghi nhận là trong cuộc hành quân Vũ Ninh XII, không lâu trước chiến dịch Lam Sơn 719, là có nhiều quân nhân TQLC đã từng chiến đấu tại Vùng I Chiến Thuật sau một thời gian dài đã phải được tản thương về với các triệu chứng tương tự như sốt rét. Hóa ra, những binh sĩ đó đã bị mắc chứng bệnh thiếu chất đạm trong khẩu phần ăn của họ. Tựu chung thì bệnh này dễ chữa hơn là bệnh sốt rét do muỗi cắn.

Giải pháp cho vấn đề thiếu chất đạm một phần đã được giải quyết bởi một cố vấn Hoa Kỳ tháo vát có tên là Gene Harrison. Trước khi tình nguyện đi chiến đấu, Thiếu tá Harrison là một nông gia và một công chức quận hạt tại Florida. Giải pháp của ông để cải thiện khẩu phần thịt cho các TQLC là đi Philippines tìm mang về một giống heo tốt hơn và cho nhiều thịt hơn. Thiếu tá Harrison trở thành một người rất nổi tiếng với tất cả mọi người và còn được các gia đình sống trong khu vực trại Thủ Đức mang ơn nhiều nhất. Sau vụ mang giống heo tốt và nhiều thịt về thì hiếm khi nào có chuyến tiếp tế từ phi trường Tân Sơn Nhất bay ra ngoài trận địa ở phía Bắc mà không có một vài con lợn chở ra theo cho các tiểu đoàn TQLC để bổ sung vào khẩu phần ăn mà họ tự kiếm được tại địa phương.

CƯỠI NGỌN SẤM19

cuoingonsam

richardbotkin
Chương 14

Trở lại Việt Nam

Bước sâu vào trong năm 1971, sinh viên các trường đại học Mỹ tiếp tục biểu tình phản đối chiến tranh song song với những vấn đề bất công khác có thật hay do họ cảm nhận thấy như vậy. Từ đỉnh cao sức mạnh với 543.400 quân đạt được vào tháng Tư năm 1969, sự nôn nóng của Tổng Thống Nixon muốn thoát ra khỏi vùng Đông Nam Á đã đưa con số binh lính xuống còn 430.000 vào cuối năm 1969. Mười hai tháng sau chỉ còn 280.000 quân ở lại. Điều đáng khuyến khích, ít nhất là trong một khía cạnh chừng mực nào đó, là nỗ lực Việt Nam hóa chiến tranh đã làm giảm đi số người Mỹ bị thiệt mạng. Số lượng TQLC bị chết đã hạ từ 4.634 trong năm 1968 và chỉ còn chưa tới phân nửa của số đó vào năm 1969. Năm 1971 tổng cộng chỉ có 41 TQLC bị chết tại Việt Nam. Đối với tất cả những người nào không tham gia vào cuộc chiến hoặc bị kẹt trong các trại tù của kẻ địch thì Việt Nam chỉ còn là một ký ức đau thương, dù mới gần đây thôi.

Cho đến tháng Bẩy năm 1971 thì đơn vị cuối cùng của lực lượng bộ binh TQLC chính quy đã rời khỏi Việt Nam. Vào cuối tháng Mười Hai chỉ còn dưới 160.000 người Mỹ ở lại trên đất nước này, mà chưa đầy một ngàn trong số đó là TQLC.

Trong lúc chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng thống Nixon đang được quảng cáo rộng rãi và đang tiến triển tốt đẹp thì binh đoàn TQLC Hoa Kỳ cố gắng quay lại với “sinh hoạt bình thường” và chú tâm vào những cam kết toàn cầu khác của họ – ở mọi nơi và mọi chỗ. Đối với các TQLC trước 1965 và sau 1971 thì “sinh hoạt bình thường” có nghĩa là nhận nhiệm vụ một lần nữa tại Okinawa – nơi được nhắc đến một cách vừa trìu mến vừa mỉa mai là cái “Tảng Đá.” Đối với Gerry Turley mới vừa được thăng cấp Trung tá thì bây giờ đã đến lúc ông phải thi hành chu kỳ nhiệm vụ một lần nữa trong một năm trời tại “Tảng Đá” rồi.

Khi thảo luận về các cơ hội phục vụ hiện đang có sẵn cho một quân nhân với khả năng và cấp bậc như Gerry, viên sĩ quan điều hành báo cho Gerry biết về một chỗ trống tại Việt Nam. Đó là đơn vị Cố vấn TQLC, một tổ chức với nhiệm vụ chính là cung cấp các sĩ quan cố vấn quân sự về bộ binh và pháo binh cho nhiều tiểu đoàn khác nhau của TQLC Việt Nam. Họ đang cần một nhân vật thứ hai vào vai trò chỉ huy phó với danh xưng là “Phụ tá Cố vấn trưởng TQLC.” Nếu Gerry chịu thì có thể nhận công việc này.

Gerry lập tức liệt kê trong đầu một danh sách nên và không nên cho mỗi địa điểm. Đối với cả Việt Nam lẫn “Tảng Đá” ông vẫn phải xa Bunny và mấy đứa nhỏ trong một năm, dù gì đi chăng nữa.

Làm việc ở Okinawa có những tiện nghi tân thời của nó: ông có thể được ăn ngon, được ngủ những nơi sạch sẽ, chơi với những bạn bè TQLC ông đã quen và kết thân với những người mới. Ông sẽ tương đối an toàn. Ông chắc sẽ có một công việc không nguy hiểm đến tính mạng, nếu so sánh với nhiệm vụ trước đây tại Việt Nam. Những lúc không đi làm ông có thể tập thể dục, đọc sách, nghỉ ngơi hay làm việc nhiều hơn nữa vì không có ai chờ đợi ông vào ban đêm.

Làm việc tại Okinawa cũng không hẳn là một cuộc đi dạo mát. Vào cuối năm 1971, binh đoàn TQLC Hoa Kỳ, cũng như các ngành quân sự khác, đã bị vấn nạn kỳ thị chủng tộc và tệ nạn ma túy tràn lan. Cuộc cách mạng văn hóa khởi đầu từ nhiều năm trước đã lây qua binh đoàn TQLC với những hậu quả kinh khủng, liên tục và chưa có cách nào giải quyết được. Một số vấn đề nghiêm trọng về chỉ huy đã được bộc lộ ra mà Gerry và các đồng đội TQLC thuộc thế hệ trước, chỉ mới vài năm trước đây đã không tưởng tượng ra nổi.

Sử gia nổi tiếng kiêm bình luận gia, Đại tá TQLC hồi hưu Robert Heinl, Jr., trong tháng Sáu năm 1971 đã nhận xét về những vấn nạn đang xảy ra trong các ngành quân sự và tuyên bố là tình hình hiện nay đã chứng minh rằng “tinh thần phục vụ của quân đội đang ở vào mức thấp nhất trong lịch sử đất nước.”

Nếu đi Okinawa, Gerry sẽ rơi vào trọng tâm của vấn đề và với phong cách của mình, ông sẽ tình nguyện dấn thân vào những nhiệm vụ khó khăn nhất. Nếu có một cái gì đó bị hỏng thì Gerry Turley sẽ làm tất cả những gì mà ông Trời cho phép để sửa chữa nó. Giả sử nếu có một chức vụ như “Sĩ quan chống bạo động chủng tộc và kiểm soát ma túy của Sư Đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ” thì Trung tá Turley sẽ giơ tay nhận nhiệm vụ đó ngay, không phải vì ông muốn làm điều đó, nhưng vì đó là chuyện đáng phải làm.

Đơn vị cố vấn cho TQLC ở Việt Nam là một tổ chức tương đối nhỏ; non sáu mươi người và hầu hết được điều động đi hỗ trợ cho chín tiểu đoàn Bộ binh và ba tiểu đoàn Pháo binh của TQLC Việt Nam. Nhiệm vụ chỉ huy phó có lẽ sẽ liên quan đến các vấn đề tiếp vận và thủ tục giấy tờ, có thể sẽ ra ngoài chiến trường một chút nhưng không đáng kể, và có thể thỉnh thoảng bị gián tiếp nằm trong tầm đạn của kẻ địch.

Điều mà mọi người trong giới sĩ quan TQLC đều biết rõ là các quân nhân phục vụ trong vai trò cố vấn cho các tiểu đoàn TQLC Việt Nam đều là những sĩ quan đại úy và thiếu tá, bộ binh cũng như pháo binh thuộc thành phần khá nhất, xuất sắc và hoàn hảo nhất của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ. Tại Việt Nam sẽ không có thời gian cho các vấn đề như ma túy và kỳ thị chủng tộc chen vào. Mặc dù các đơn vị Mỹ không còn tác chiến nữa, “Việt Nam hóa chiến tranh” có nghĩa là VNCH phải chiến đấu chung lưng sát cánh với các cố vấn quân sự. Là nhân vật thứ hai chắc chắn ông sẽ không phải đích thân điều động binh sĩ vào chốn hiểm nguy, nhưng khả năng chỉ huy, chuyên môn về quản trị và kinh nghiệm bản thân có thể sẽ giúp ích phần nào cho những người trực tiếp cầm súng. Tương tự như hồi ông tham gia toán trinh sát nhỏ trong những năm đầu tiên tại Việt Nam, bằng trực giác, ông nhận ra ngay là gia nhập vào cái nhóm chiến sĩ đặc biệt này sẽ là một công tác có nhiều vinh quang. Ông chỉ cần phải thuyết phục bà vợ Bunny rằng đó là một quyết định đúng nhất. Không biết là Bunny có tin ông ta hay không nhưng ông tin chắc là nàng sẽ cam tâm chấp nhận quyết định của ông.

Gia đình Ripley giữa hai chu kỳ nhiệm vụ tại Việt Nam

Chắc hẳn đã có một điều thần kỳ gì đó xảy ra tại Radford, Virginia. Chẳng lẽ chỉ vì cách nấu nướng của Verna Ripley hay lề lối dạy con của Bud Ripley? Tuy không phải là trường hợp duy nhất nhưng chắc chắn không phải là gia đình người Mỹ nào cũng có thể tự hào và dứt khoát cho ba đứa con trai đi chiến đấu tại Việt Nam trong cùng một thời điểm cả. Điều mà cả ba đều sống sót trở về mới là một phép lạ không nhỏ chút nào.

Sau khi hoàn tất thời gian học tại Trường Tác Chiến Đổ Bộ AWS (Amphibious Warfare School) ở Quantico, đồng thời cũng mãn hạn nhiệm vụ bắt buộc và buồn nản là làm sĩ quan hậu sự tang lễ tại Tổng Hành Dinh TQLC, sự may mắn lại đến với anh chàng đại úy trẻ tuổi nhưng chững chạc cùng với đại gia đình của anh. Được chọn làm một sĩ quan trao đổi với Hải quân Hoàng gia Anh, sự nghiệp của John Ripley thực sự như diều gặp gió.

Mối quan hệ giữa đại đơn vị TQLC Hoa Kỳ và binh đoàn TQLC Hoàng Gia Anh nhỏ bé hơn nhưng lâu đời và truyền thống nhất thế giới có lẽ là một sự liên quan huynh đệ đặc biệt và chân thành nhất giữa hai tổ chức quân sự thuộc hai quốc gia khác nhau trong lịch sử cận đại. Với tầm vóc nhỏ hơn, TQLC Hoàng Gia Anh là một đơn vị chuyên biệt về bộ binh giống như lực lượng trinh sát TQLC hay Biệt động quân Hoa Kỳ vậy.

Một sĩ quan TQLC Hoa Kỳ muốn được chọn làm nhiệm vụ này cần phải có quá trình chỉ huy không một chút tì vết cũng như một thể lực dồi dào tới mức tuyệt đối. Phục vụ trong TQLC Hoàng Gia Anh đòi hỏi người sĩ quan trao đổi phải hoàn tất một khóa huấn luyện về Biệt kích hết sức nghiêm ngặt và nguy hiểm đến thể xác. Mặc dù các khoá sinh đã được tuyển lựa kỹ lưỡng trước rồi nhưng chỉ có tính gan lì, trí tuệ sắc bén, lòng quyết tâm không bao giờ bỏ cuộc dù dưới điều kiện huấn luyện khắt khe ghê gớm, và cũng phải có một chút ít may mắn mới bảo đảm cho người đó qua được khoá học.

Tuy có nhiều ngón nghề kỹ thuật mà John đã khám phá ra trong suốt thời gian học với các biệt kích tương đối mới mẻ nhưng hầu hết cũng chỉ là những điều củng cố và nhấn mạnh thêm các bài học giá trị mà anh đã từng học trong trường Biệt động quân và trường đời tại Việt Nam. Anh không hề ngờ rằng chính những tài năng đó sẽ sớm trở thành hữu ích cho bản thân anh sau này.
Mặc dù quá trình huấn luyện ban đầu cũng như các nhiệm vụ được bổ nhiệm sau này đều rất khó khăn về thể lực cũng như về tinh thần – người Anh cũng rất chú trọng về chiến lược “có mặt tại khắp mọi nơi” như người anh em Hoa Kỳ – nhiệm vụ của gia đình Ripley, khi John chưa được bổ nhiệm đi đâu, rất nặng phần trình diễn và đòi hỏi một sự cố gắng lớn trong lãnh vực giao tiếp. Khi John phải đi huấn luyện về chiến tranh mùa đông tuốt trên Na Uy, đi học về tác chiến trong sa mạc tại Aden, hay chiến đấu trong rừng rậm tại Malaysia, thỉnh thoảng trong điều kiện chiến trường thực thụ, thì Moline luôn luôn phải thực hiện một cái gì đó để tạo hay duy trì mối liên hệ ngoại giao thân thiện với bạn bè người Anh quốc chủ nhà.

Gia đình Ripley chờ đợi sự ra đời của đứa con thứ ba khi họ vừa đến. Thomas, đứa con trai thứ hai được sinh ra tại Anh quốc tiếp theo sau cô chị nhỉnh hơn một chút là Mary. John và Moline không thể nào tìm thấy hạnh phúc ở nơi nào hơn thời kỳ làm việc tại đây. Họ đều hiểu rằng nếu John sống sót đủ lâu thì những người bạn họ kết thân được trong chu kỳ nhiệm vụ đặc biệt này sẽ là những người bạn thâm giao nhất.

John Ripley là mẫu sĩ quan TQLC Hoa Kỳ trẻ điển hình không cần phải nghỉ ngơi lâu giữa các kỳ nhiệm vụ khó khăn mà lại còn cảm thấy cuồng tay cuồng chân nếu không được hoạt động và thử thách. Được viên sĩ quan điều hành bắt liên lạc trong khi đang phục vụ với người Anh, John biết có một cơ hội được trở lại Việt Nam với nhiệm vụ cố vấn quân sự cho TQLC Việt Nam. Hiện nay giai đoạn tái phối trí cho tất cả các đơn vị tác chiến của TQLC Hoa Kỳ đang rời bỏ Đông Nam Á sắp hoàn thành. Anh hăm hở nhận ngay những thách thức của nhiệm vụ cố vấn vì đó là cách duy nhất còn được hoạt động thật sự.

Từ xứ sở Anh quốc cổ xưa họ trở về Virginia, chỉ vừa đủ thời gian để sắp xếp cho Moline và mấy đứa trẻ được ở gần ông bà nội trong lúc anh vắng nhà. Trong giai đoạn chuyển tiếp này thì tai họa đã xảy đến với đại gia đình Ripley.

Thiếu Tá Mike Ripley, 33 tuổi, lớn hơn cậu em John một năm và thêm vài tháng, đã gia nhập vào TQLC qua chương trình Sinh viên Sĩ quan Hàng không (Aviation Officer Candidate – AOC) trong khi John còn đang là một học viên tại Học viện Hải quân. Giống như hai đứa em mình, Mike là một thanh niên có thể lực đặc biệt, và có được sự phối hợp tốt giữa tay và mắt cùng nhiều tài năng cần thiết khác để điều khiển các máy bay có kỹ thuật cao.

Đầu tiên là anh được chỉ định lái A-4 – loại chiến đấu cơ tấn công một chỗ ngồi cải tiến của Hải quân và TQLC Hoa Kỳ, thường được sử dụng để yểm trợ tầm gần cho bộ binh. Sau khi trở về từ các phi vụ chiến đấu tại Việt Nam, anh được chọn vào chương trình phi công bay thử của Hải quân và TQLC đóng tại Patuxent River, Maryland.

Trong giới hàng không, phi công bay thử thường được coi là những người tuyệt giỏi. Không những họ phải là mẫu người cứng rắn về thể lực, mà sự hoạt động liên tục và vấn đề sống chết còn thường tùy thuộc vào khả năng phán đoán cấp kỳ các yếu tố phức tạp khác nhau và từ những thông tin lặt vặt riêng lẻ đúc kết lại thành những giải pháp thích đáng nhất. Ngoài ra, làm phi công bay thử đơn giản là một việc làm nguy hiểm, và điều này dĩ nhiên làm tăng thêm sức hấp dẫn của nó.

Thiếu tá Mike Ripley, đã lập gia đình và là cha của ba đứa trẻ chưa đầy 6 tuổi, sắp bước vào sự nghiệp của một viên phi công bay thử đầu tiên của TQLC trong chương trình nghiên cứu khai triển chiến đấu cơ tấn công AV-8A Harrier VSTOL cho Binh đoàn. VSTOL – tên tắt của “Cất cánh và hạ cánh theo chiều thẳng đứng hay dùng phi đạo cực ngắn” (Vertical/Short Take-Off and Landing) – là một kỹ thuật mới tinh vào đầu thập niên 1970 và chiếc máy bay trong bước đầu lại gặp phiền phức do nhiều trở ngại lớn trong việc vận hành, mà những trở ngại này chỉ có thể được giải quyết bởi biết bao cơ man về nhân sự trong những chuyến bay được thực hiện bởi những phi công bay thử tài ba và dạn dĩ, can đảm nhất.

Khái niệm căn bản của chiếc Harrier, nếu có thể đạt được các mục tiêu của chương trình đề ra, sẽ thích hợp một cách lý tưởng cho sứ mạng chiến đấu viễn chinh của binh đoàn TQLC Hoa Kỳ. Lý do là vì chiếc này có khả năng cất cánh và đáp xuống bằng đệm hơi cho nên sẽ giảm thiểu tối đa nhu cầu phải có những hàng không mẫu hạm lớn với máy phóng dùng hơi nước, hay những đường băng bằng bê tông dài trên đất liền. Trên lý thuyết, những chiếc Harrier có thể được đưa vào sử dụng trên bất kỳ các chiến hạm nào có bãi đáp đủ cho trực thăng cất cánh và hạ cánh xuống được. Trên đất liền những chiếc này có thể núp trong tàng cây rồi bay ra để tung những đợt tấn công chết người và tiêu diệt kẻ thù trong những khu vực trống trải tương đối nhỏ và bằng phẳng.

Nếu chiếc Harrier được sử dụng tối đa tiềm năng của nó, sự lệ thuộc vào một hạm đội để bảo vệ TQLC trong những đợt đổ bộ trên một bãi biển ở một nơi đang tranh chấp sẽ giảm đi rất nhiều. Các hạm trưởng hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ rất thích cái ý tưởng không phải vào gần các bãi biển đổ bộ để bảo vệ các TQLC đang tiến vào bờ trong những cuộc xung đột trong tương lai nữa, nhất là từ khi hiểm họa hải quân Xô Viết manh nha trỗi dậy. Các nhà kế hoạch của TQLC thì rất vui có thêm một sức mạnh là chiếc Harrier có thể được dùng để yểm trợ tầm gần hay đóng một vai trò tấn công sâu trong lòng địch.

Chiếc AV-8A Harrier có rất nhiều điều hứa hẹn. Tuy nhiên trước khi đạt được tất cả những lợi ích đó thì vẫn còn một danh sách dài thật dài các vấn đề cần sửa chữa để chiếc máy bay có thể xứng đáng với sự đầu tư được bỏ ra. Tuy nhiên ngay trong thời điểm này của chương trình triển khai thì đáng buồn thay nó lại là một mối đe dọa lớn cho các phi công hơn là cho các kẻ thù mà nó sẽ được sử dụng để chống lại sau này.

Cuộc điều tra sơ khởi, rồi sau đó được xác định lại bởi một cuộc điều tra chính thức và chi tiết hơn trong vụ tai nạn làm thiệt mạng Thiếu tá Mike Ripley đã cho biết là trong khi thực tập bắn hỏa tiễn vào một mục tiêu ngay trong vùng vịnh Chesapeake bên cạnh sông Patuxent, chiếc Harrier đã không còn điều khiển được nữa khi Mike kéo máy bay lên cao sau một đợt nhào xuống bắn mục tiêu. Điều an ủi duy nhất là người chồng và cha của ba đứa nhỏ đã chết ngay khi chiếc máy bay đâm xuống mặt nước trong cái buổi sáng ngày 18 tháng Sáu 1971 đó.

Định mệnh đã an bài như thế. Một tang lễ với đầy đủ nghi thức danh dự quân đội cho Thiếu tá Mike Ripley được tổ chức trong vòng 24 tiếng đồng hồ trước khi Đại úy John Ripley có lịch trình đi Việt Nam. Cả đại gia đình Ripley, nhất là Bud và Verna, rất đau khổ khi phải nói lời vĩnh biệt với một người con và có thể sẽ phải vĩnh biệt một đứa thứ hai trong một thời gian ngắn như vậy. Với lệnh thuyên chuyển của John Ripley đi Việt Nam, trước mắt họ lại có thêm 12 tháng trời hoang mang nữa. Nhưng tiếng gọi của Tổ quốc luôn luôn phải được đáp ứng.

Bình, trong khoảng thời gian đó

Huệ Tân kém Lê Bá Bình bẩy tuổi, ra trường trung học vào năm 1964 và ngay lập tức đã gia nhập vào không quân Việt Nam (VNAF). Nhu cầu phát triển nhanh chóng của tất cả các ngành phục vụ trong quân đội và khả năng Anh ngữ của anh đã giúp anh nhanh chóng thăng tiến lên cấp bậc Thượng sĩ vào năm 1968. Tân làm việc cho Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng (DAO) trong vai trò liên lạc viên.

Gia đình Tân ở ngay bên cạnh nhà của Bình, chỉ băng qua con hẻm nhỏ thẳng góc với đường Hai Bà Trưng là con phố chính chạy qua Tân Định. Lúc còn nhỏ, anh chơi thân với một cậu em cùng cha khác mẹ của Bình, nghịch những trò giống nhau, cùng chơi các trò chơi mà Bình cũng đã chơi chỉ vài năm trước đó.

Vào cuối năm 1968 và đầu năm 1969 Tân thường ở nhà cha mẹ khi “đại ca” Bình về thăm. Theo lề lối thông thường hàng xóm với nhau, họ ngồi hàng giờ tại phòng khách, nhà nào cũng được, nhâm nhi trà và tán gẫu về những đề tài mà thanh niên ở đâu cũng thích bàn cãi như vậy.

Trong công việc của mình tại DAO, Tân đã có cơ hội để tiếp xúc với người Mỹ và anh cũng gặp họ ở khắp nơi khi đi làm nhiệm vụ cho đơn vị Không Quân. Giống như Bình là người đã từng đi học ở Quantico, Tân cũng thích và tò mò để ý đến người Mỹ. Cả hai đều có thể bỏ qua những ảnh hưởng tiêu cực mà người Mỹ mang theo họ qua đây, một điều mà không phải tất cả người Việt Nam nào đều nghĩ như vậy. Tuy thế, Tân và Bình vẫn không thể nào hiểu nổi tại sao Hoa Kỳ lại có thể gởi con em họ qua chiến đấu và chết để đánh đuổi Cộng sản ra khỏi Việt Nam.

Tân khoái trêu chọc “đại ca” Bình rằng người yêu mới của anh – đến đầu năm 1969 thì rõ ràng là Bình sẽ lấy Bành Cầm nếu anh không bị tử trận trước – đẹp quá mức so với anh. Đó là Tân đã hiểu rõ nhân tình thế thái, những người đàn ông có quyền uy thường ưu tiên mua được lòng các giai nhân. Và trước 1968, điều hiển nhiên như mặt trời mọc đối với những ai đã từng quen biết hay nghe nói về Đại úy Bình đều phải công nhận ông ta là một người đầy uy quyền.

Lần nào về nhà Bình cũng đều ngồi xe jeep riêng có tài xế, đàng sau có ít nhất là hai, đôi khi ba “tà-loọc” hay vệ sĩ. Dường như lúc nào Bình cũng đang dưỡng thương, một vài vết thương chiến trận nào đó mà anh không muốn nhắc hay biết đến. Bình không bao giờ nói về bản thân mình hay về những gì anh đã làm. Khi anh thả bộ một mình trong ngõ hẻm để đi thăm hàng xóm, thì các đệ tử hay tài xế của anh mới huyên thuyên với gia đình và bạn bè anh về những câu chuyện thần kỳ và dũng cảm của vị tiểu đoàn trưởng. Mọi người ở Tân Định, đặc biệt là những ai ở gần nhà thời niên thiếu của Bình thì chia sẻ và truyền tụng lại các mẩu chuyện về chiến công của người anh hùng thần tượng Lê Bá Bình của họ.

Khác với người Mỹ, đối với Lê Bá Bình và các chiến hữu kỳ cựu của anh, họ không hề có dự tính ngắn hạn, không bao giờ có chuyện chấm dứt nhiệm vụ, cũng như không có nghỉ ngơi thật sự. Khi Gerry Turley, John Ripley, George Philip hay tất cả các chiến sĩ Hoa Kỳ khác thi hành nhiệm kỳ thứ hai, thì họ vẫn có thời gian hay công tác xen kẽ giữa đó. Trong khi đó thì Lê Bá Bình vẫn còn ở đâu đó trong nỗ lực giúp đất nước của mình hầu thắng cuộc chiến này.

Đúng là Quân lực VNCH vào cuối thập niên 1960 đã đủ lớn mạnh và thiện chiến để gởi một số sĩ quan đi thụ huấn các trường huấn luyện trung và cao cấp tại Hoa Kỳ. Thậm chí có một số sĩ quan TQLC Việt Nam được đi học trở lại tại Quantico khi đã đeo cấp bậc Đại úy và Thiếu tá rồi. Bình không thuộc vào nhóm đó. Anh bị kẹt lại vì chính sự thành công, tài năng và khả năng chỉ huy của anh đã khiến anh phải ở lại với Tiểu đoàn 3 trong thời gian đó.

Cuộc thắng cử của Richard Nixon vào tháng Mười Một 1968 đã kèm theo nhiệm vụ vào đầu năm sau là phải thực hiện lời hứa Việt Nam hóa chiến tranh của ông. Trong khi toàn bộ binh chủng TQLC và một số đơn vị Quân lực VNCH có thể cho là họ chưa thực sự lâm trận vào cuộc chiến nhưng các cử tri Hoa Kỳ ngày càng mệt mỏi với sự đầu tư mà cho tới nay vẫn chỉ mang lại quá ít lợi ích thiết thực.

Gần năm năm qua Việt Nam đã chiếm gần hết mục tiêu của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Trong các khu vực khác của thế giới, lợi ích chiến lược của Mỹ đã gần như bị bỏ quên. Sự phát triển của học thuyết Nixon nhằm tìm cách tập trung trở lại các tài nguyên quốc gia trong chiều hướng thích hợp cho những nhu cầu toàn cầu, trong khi đó thì thực sự tách ra khỏi Đông Nam Á, bằng cách cung cấp và đào tạo các lực lượng VNCH để họ tự chống lại quân xâm lược miền Bắc.

Đối với Bình và mỗi người Việt Nam nào có liên quan đến chung cuộc của cuộc chiến đấu cho đất nước, họ không muốn phải nhìn xa hơn thế và không màng đến ảnh hưởng của Liên Xô tại Âu Châu, Nam Mỹ hay Bắc Á. Tất cả những gì quan trọng, ngoại trừ những quyết định chính trị xảy ra tại Washington có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn viện trợ cho Việt Nam, đều xảy ra tại khắp bốn Vùng Chiến Thuật của VNCH.

Ngay từ những ngày đầu Cầm đã quen phải sống xa Bình suốt những khoảng thời gian dài, họa hoằn lắm mới được ngắt quãng bởi vài lần ghé thăm nhà, không thường xuyên và không báo trước từ một góc nào đó xa xôi nhất của đất nước. Mối duyên tiền định vợ chồng của hai người ngay từ đầu có lẽ sẽ không có điều gì bất ngờ xảy đến… nếu Bình vẫn còn sống mãi.

Tình cảm nẩy nở gữa Bình và Cầm vừa có tính cách tân thời, lại vừa phong kiến nhưng có có lẽ theo nề nếp cũ nhiều hơn. Bình là một người con biết vâng phục, hiếu thảo và cũng rất kính mến bà mẹ vợ tương lai của mình. Cầm là một cô gái hiếu hạnh và ân cần. Những lần hẹn hò và viếng thăm của họ trong những lần Bình về thăm luôn luôn được canh chừng và giám sát. Đối với Bình thì sau khi đã trải qua chiến trận và thấy được những sự tồi tệ của nó thì giữ đạo hiếu làm con mang lại cho anh sự an bình và thanh thản.

George Philip, trong khoảng thời gian đó

Đối với dân chuyên nghiệp, được gọi một cách trân trọng hay bị coi thường là “chung thân” thì trở về từ Việt Nam khác hẳn với với người lính theo truyền thống lịch sử Hoa Kỳ. Lính quân dịch hay tình nguyện chỉ một nhiệm kỳ vào quân ngũ, đi Việt Nam, hồi hương, và sau đó cố gắng hội nhập lại đời sống thường trải qua những kinh nghiệm đón tiếp khác hẳn.

Những người như Gerry Turley và John Ripley, khi họ quay về từ Việt Nam, được hòa nhập ngay lập tức vào một tổ chức đã công nhận họ, nuôi dưỡng họ và tránh cho họ đến một mức độ nào đó về các thực tế phũ phàng về những sự thay đổi trong cái xã hội lớn hơn. Họ vẫn còn giữ được niềm tự hào của đời quân ngũ, và tuy không nói ra nhưng vẫn còn một sự tôn trọng thật sự về hệ thống quân giai giữa các chiến binh đã từng chịu đựng khó khăn gian khổ trong thời gian đi chiến đấu.

Trong thế giới dân sự và trong cuộc chiến này, không có diễn hành đón mừng nào, không có những vòng tay ôm nồng ấm hay vỗ vào lưng để tỏ lời cảm ơn, chẳng ai hỏi chuyện bằng những cách có thể biểu lộ sự kinh ngạc hay khâm phục dành cho những người đã phục vụ trong quân ngũ. Đối với nhiều người đã đáp lời sông núi, kinh nghiệm Việt Nam là một điều phải bỏ qua đằng sau, vứt nó đi, đóng kín lại rồi quên nó đi.

Đối với những thanh niên như George Philip, sinh ra để phục vụ nhưng vẫn còn quá trẻ để được gọi là “chung thân,” chưa có một người vợ để khẳng định mình là một mẫu đàn ông trong cái văn hóa đã lớn lên từ thuở nhỏ; do đó họ có một cái cảm giác lúng túng, một cái gì đó day dứt không rõ vị trí của mình ở đâu khi trở lại trong cái thế giới này.

Sau một tháng nghỉ phép, George trở về nhận nhiệm vụ mới tại trường Sinh viên sĩ quan OCS tại Quantico ở miền Đông. Anh chẳng có gì khó khăn lắm để nhận ra ở khắp chốn cái cảm giác khó chịu và ác cảm của đất nước đối với chiến tranh Việt Nam và đặc biệt là đối với những người mà họ cho là thuộc giới quân nhân chuyên nghiệp.

Bất chấp dư luận chung của cả nước, đối với George thì được làm Trung đội trưởng sinh viên sĩ quan trong cái chương trình 10 tuần tại OCS là một công việc khá thích thú. Mặc dù có sự kiện là vào cuối mùa hè 1969 có 500.000 thanh niên nam nữ tham dự lễ hội Woodstock tại White Lake, New York – hầu hết trong số họ đều cực lực phản đối chiến tranh – nhưng trong quan điểm của anh khi làm việc tại Quantico, George mừng là vẫn có một số lớn thanh niên ước ao được trở thành sĩ quan TQLC trong một cuộc chiến càng lúc càng gây nhiều sự tranh cãi. Vì nhu cầu cần các sĩ quan thiếu úy còn cao nên trường OCS phải hoạt động tối đa. Chỉ trong vòng một năm trời mà George đã giúp hoàn thành được bốn lớp khóa sinh OCS.

Trước khi tốt nghiệp tại Annapolis vào năm 1967, George đã dành khá nhiều thời gian với bạn bè đồng khóa đi chơi bời vui vẻ trong các quán ba và quán rượu sinh viên ngay trong vùng đại học Washington và những khu quanh đó. Trở lại chốn xưa vào cuối mùa hè 1969 và tìm kiếm lại những thú vui cũ của hai năm trước nhưng chỉ mang lại một sự cay đắng trong lòng.

Ngay trong cái quán đầu tiên mà George và một tay trung úy bạn bước vào khi mới trở lại Washington D.C. là một sự nhắc nhở thô bạo về những sự thay đổi đã xảy ra từ cái thuở huy hoàng trước. Vì chỉ có hai người mang mái tóc nhà binh cho nên họ nổi bật lên. Mặc dù không có ai dám nói thẳng với họ điều gì nhưng sự thù nghịch thì lộ hẳn ra. Sau khi uống vội mỗi người một lon bia, George quay lại cảnh cáo người bạn: “Thôi mình đi thôi. Mình không còn thuộc chốn này nữa…”

Hành quân với Tiểu đoàn 3

Lúc người Mỹ chính thức nắm vai trò chủ động khi tiến hành cuộc chiến Việt Nam vào năm 1965, họ đã thay đổi hoàn toàn các phương cách hành động. Tác chiến theo lối của người Mỹ, dựa trên quan điểm của đồng minh VNCH, giống như Texas đối với phần còn lại của Hoa Kỳ. Cái gì cũng lớn hơn và có vẻ vĩ đại hơn. Cách Mỹ đánh nhau là luôn luôn tìm những trận đánh quyết định, gần như là huy hoàng, với các đại đơn vị sử dụng tối đa hỏa lực dựa vào một nguồn tiếp vận vô tận. Cách họ sử dụng quân đội, nhất là các sĩ quan chỉ huy từ cấp tiểu đoàn đến cấp sư đoàn, nói lên quyết tâm tìm kiếm và giành chiến thắng bằng cách nào nhanh nhất.

Mỗi đợt tham chiến ở Việt Nam kéo dài 12 tháng đối với quân đội và 13 tháng cho TQLC. Hầu hết các sĩ quan chỉ được giao quyền chỉ huy trong một nửa thời gian tại Việt Nam, do đó khuynh hướng tự nhiên đối với những người ở vị trí chỉ huy này là lùng sục để đụng độ với kẻ thù, đánh bọn chúng những đòn quyết định để đời càng nhanh càng tốt.

Về phía người Việt thì có một điều không được hoàn toàn công bằng khi nói là cấp chỉ huy quân sự VNCH đã không tích cực, và theo cách nói của người Mỹ, không tìm cách “xác định vị trí, tiếp cận, và tiêu diệt” kẻ thù trong mọi cơ hội có được. Sự không đồng bộ về văn hóa cùng với những hạn chế về tiếp vận và nguyên vật liệu đã làm các phương pháp theo đuổi chiến tranh kiểu Việt Nam khác hẳn so với cách được huấn luyện và ưa chuộng bởi phương Tây.

Song song với việc người Mỹ để ý đến sự kém xông pha của đồng minh miền Nam Việt Nam thì các lãnh đạo chính trị và quân sự của VNCH cũng bị lúng túng khi Hoa Kỳ ngày càng có vẻ cố chấp trong thái độ cho rằng chiến lược phòng ngự là cách tốt nhất để tiến hành chiến tranh. Thậm chí cha của Bình, người đã khuyên người con trưởng của ông gia nhập TQLC để một ngày nào đó có thể tham gia vào việc giải phóng quê hương cũ gần Hà nội, vẫn mong trong một tương lai không xa lắm sẽ có những cuộc tấn công trên bộ nhằm giải cứu miền Bắc thoát ra khỏi áp bức của Cộng sản.

Lấy kinh nghiệm đã có một triệu Hồng quân Trung Cộng vượt sông Áp Lục vào tháng Mười Một 1950 khi lực lượng của Tướng MacArthur tiến hơi sâu vào lãnh thổ Bắc Triều Tiên, giới lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ đã tự nhủ rằng, nếu muốn tránh cho Xô Viết và Trung Cộng không nghĩ đến chuyện đưa quân vào thì Hoa Kỳ nên giới hạn các cuộc bộ chiến trong phạm vi lãnh thổ của VNCH mà thôi. Dĩ nhiên là bọn Cộng sản Liên Xô và Trung Cộng rất vui và đã khuyến khích cũng như khai thác lối suy nghĩ đó.

Trong khi Cộng sản Việt Nam quan niệm tất cả những gì gọi là Đông Dương thuộc Pháp ngày trước là một chiến trường rộng lớn và hợp pháp thì Hoa Kỳ đã chọn giới hạn các nỗ lực trên bộ trong phạm vi biên giới của VNCH. Người Mỹ còn tự thuyết phục rằng khả năng cơ động dồi dào và hỏa lực của họ dư sức để bù đắp vào các hạn chế về địa dư, và Cộng sản cuối cùng rồi sẽ phải hoặc bỏ cuộc hoặc ngồi vào bàn đàm phán sau khi đã mất quá nhiều quân lính.

Một loạt thử thách mà các lực lượng vũ trang VNCH đã phải đối phó từ năm 1954 luôn luôn đáng kể. Với sự kiện là người Mỹ vào cuối năm 1968 muốn chuyển giao phần lớn trách nhiệm chiến đấu cho người đồng minh nhỏ bé thì các vấn đề này lại càng nghiêm trọng hơn nữa. Một trong những hậu quả không dự tính trước của việc người Mỹ lãnh phần lớn công việc đánh đấm từ 1965 là cấp chỉ huy Quân lực VNCH, trong nhiều trường hợp, đã ỷ lại quá đáng vào ân nhân Hoa Kỳ. Sự phát triển các đức tính trừu tượng nhưng vô cùng quan trọng trong nghệ thuật chỉ huy, chẳng hạn như sự chủ động, sáng tạo, và khả năng chuyên nghiệp đã bị hạn chế trong khi lẽ ra phải được tăng cường và khuyến khích. Sự lệ thuộc vào hỏa lực yểm trợ mà chỉ có quân đội Hoa Kỳ có thể cung cấp được lại là một yếu tố không thể tránh khỏi.

Cùng với các trở ngại về kỹ thuật mà Quân lực VNCH mắc phải lại còn các vấn đề lớn hơn nữa về tệ nạn tham nhũng, niềm tin về chính trị và khả năng chiến đấu nói chung. Hình ảnh của Quân lực VNCH qua truyền thông phương Tây là kết tụ của sự bất lực, kém hiệu quả, và thậm chí trong nhiều trường hợp đã có những đơn vị bội phản được điều hành chỉ để phục vụ cho lợi ích của những ông quan tướng thực chất là những lãnh chúa thời đại mới không hơn không kém.

Từ ngày thành lập của quốc gia vào năm 1954, máu của những chiến sĩ trẻ và TQLC trong các đơn vị miền Nam Việt Nam đã bị đổ ra quá nhiều trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Lòng dũng cảm và tài ba khi chỉ huy không bao giờ thiếu trong các đơn vị tinh nhuệ như TQLC, Nhẩy Dù, Biệt Động Quân và Lực Lượng Đặc Biệt. Nơi các sư đoàn bộ binh chính quy còn lại, bao gồm khoảng 90 phần trăm của Quân lực VNCH thì phẩm chất không được đồng nhất. Điều chắc chắn là có những vị tướng đã khích lệ được binh lính với tinh thần chiến đấu cao và xông xáo. Tuy nhiên đã có quá nhiều trường hợp mà tinh thần gia đình trị, tham nhũng, huấn luyện chưa tới mức và chỉ huy yếu kém đã dẫn đến sự sa sút về tinh thần và hiệu quả kém cỏi.

Tiểu sử của TQLC Việt Nam

Ngay từ khởi đầu, TQLC Việt Nam là một tổ chức không hề có chuyện bê bối và tham nhũng. Bị bắt buộc sau ngày thành lập là phải phát triển, thích nghi hoặc bị đào thải cho nên TQLC đã trở thành một sự pha trộn tinh hoa phát xuất từ tinh thần thượng võ Đông và Tây. Trong vòng năm năm từ khi được hình thành, nhiều sĩ quan trẻ của đơn vị đã được thường xuyên gởi đến Quantico để học tại Trường Căn Bản, chung với các thiếu úy người Mỹ mới ra trường. Còn các hạ sĩ và thượng sĩ trẻ nổi bật nhất thì cũng được gởi đi học để trở thành các huấn luyện viên quân đội.

Đến tháng Sáu 1959 thì TQLC và đơn vị ưu tú và trung thành về chính trị tương tự là Sư Đoàn Nhẩy Dù (cả hai binh chủng lúc đó vẫn còn ở cấp số lữ đoàn) được chỉ định làm lực lượng tổng trừ bị chiến lược cho quốc gia. Với những áp lực nổi loạn ngày càng tăng của Cộng sản thì binh chủng TQLC tự nhiên phải lớn mạnh theo cả hai khía cạnh quy mô và tầm vóc. Tiểu đoàn bộ binh đầu tiên được thành lập vào năm 1954 và cho đến 1960 thì phát triển thành bốn tiểu đoàn. Vào năm sau, với sự trợ giúp của các cố vấn TQLC Hoa Kỳ, một lữ đoàn được thành lập, bao gồm một tiểu đoàn pháo binh và các đơn vị yểm trợ nhỏ hơn để giải quyết các vấn đề về chỉ huy, kiểm soát và tiếp liệu khác nhau.

Khoảng cuối năm 1968, TQLC có tám tiểu đoàn bộ binh được chia thành ba lữ đoàn. Với quân số tương đương với ba trung đoàn, binh chủng TQLC được chính thức công nhận là sư đoàn. Hạ tầng cơ sở về tiếp vận cũng được tăng cường để duy trì các nhu cầu ngày càng cao trên chiến trường. Theo kế hoạch thì sẽ có thêm một tiểu đoàn bộ binh thứ chín để hoàn chỉnh lữ đoàn 3 khi đã tuyển mộ và huấn luyện đủ quân số. (Một lữ đoàn trên căn bản là một trung đoàn cộng thêm một số đơn vị phụ thuộc để tăng cường hiệu năng chiến đấu. Một trung đoàn thường có ba tiểu đoàn. Trong trường hợp của TQLC Việt Nam, một lữ đoàn có ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh và một loạt các đơn vị yểm trợ nhỏ khác. Thoạt tiên khi TQLC thành lập được ba lữ đoàn, các đơn vị này được đánh số là Lữ đoàn 147, 258 và 369. Lữ đoàn 147 ban đầu bao gồm tiểu đoàn 1, 4 và 7, v.v… Sau một thời gian, các tiểu đoàn được hoán chuyển giữa bộ chỉ huy của ba lữ đoàn, vì vậy tiểu đoàn 1 thỉnh thoảng đi với hai lữ đoàn khác v.v… nhưng tên gọi của lữ đoàn thì vẫn giữ nguyên).

Mặc dù TQLC Việt Nam cũng giống như TQLC Hoa Kỳ về các mặt như sự dũng mãnh khi chiến đấu, tiêu chuẩn cao về kỷ luật và chỉ huy, nhưng những sự khác biệt không phải là ít. Binh đoàn TQLC Hoa Kỳ được người dân Mỹ biết đến như là một ngành truyền thống, khó khăn và khắc khổ nhất trong bốn ngành của quân lực Hoa Kỳ. Sự khắc khổ này có vẻ đã lỗi thời trước những sự thay đổi của xã hội đang xảy ra. Trong khi đó thì các quy tắc về ứng xử chính thức cũng như mặc nhiên được công nhận theo kiểu võ sĩ đạo đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong phạm vi nhỏ hẹp của TQLC Việt Nam khiến cho người anh em TQLC Hoa Kỳ có vẻ không khắt khe bằng.

Các vấn đề liên quan đến tội phạm và mất danh dự được giải quyết một cách nghiêm khắc trong nội bộ TQLC, nhất là nếu vi phạm trong khi chiến đấu. Hình phạt về thể xác đối với các loại tội phạm hay vi phạm kỷ luật được thực hiện ngay ở cấp tiểu đoàn hoặc thấp hơn. Nếu một hành vi tội lỗi thật sự nghiêm trọng thì hình phạt tử hình được thi hành bởi đích thân tiểu đoàn trưởng trước sự có mặt của tất cả các TQLC của đơn vị. Quyền lực gần như là tuyệt đối được trao cho cấp chỉ huy quân sự đã cho phép sự thi hành công lý cấp thời đối với những tội phạm nào được coi là nghiêm trọng.

Nhiều hơn bất cứ một ai khác, tính khí, phong cách chiến binh và uy tín tuyệt đối của các TQLC đã được thấm nhuần, truyền bá, thấm sâu, truyền tụng, và khuyến khích phần lớn do một vị sĩ quan có tầm nhìn xa trông rộng đã nhận lãnh vai trò chỉ huy từ khi đơn vị mới thành lập và sau đó đã trở thành vị tư lệnh đầu tiên từ năm 1960. Bắt đầu là một sĩ quan cấp úy mới tinh khôi của một đơn vị tuần giang để rồi cuối cùng phát triển thành binh chủng TQLC Việt Nam, Lê Nguyên Khang là người được coi là đúng người, đúng lúc và đúng việc. Ông là một trong những người miền Bắc di cư sau này được thăng tiến vào những vị trí quyền lực của chính quyền VNCH. Tài chỉ huy xuất sắc của thiếu tướng Khang và viễn kiến của ông về vấn đề TQLC cần phải phát triển ra sao, đã được cộng thêm với lòng hận thù Cộng sản khắc sâu trong tâm hồn.

Những nỗi khó khăn mà tướng Khang và binh chủng TQLC Việt Nam gặp phải, tuy thực sự có vẻ to lớn, nhưng không đến nỗi đáng kể như của Quân lực VNCH do bởi cơ cấu này lớn hơn nhiều nên không có phẩm chất đồng đều giữa các sĩ quan và binh sĩ. Trở ngại lớn nhất trong việc cải thiện thành công toàn bộ tổ chức cho tất cả các lực lượng VNCH trên chiến trường chính là khuynh hướng dựa trên sự tôn trọng cứng ngắc vào quyền hành.

Các quan niệm Khổng giáo lâu đời như lòng kính trọng các trưởng lão và cấp trên đã giới hạn nhiều đến các sáng kiến cá nhân và sự tự do phát biểu ý kiến. Tính “sùng bái lãnh tụ” chỉ có lợi khi mà mọi chuyện đi vào chiều hướng thuận lợi cho đơn vị nhưng lại phụ thuộc quá nhiều vào thiên tài quân sự của người chỉ huy. Khi các điều kiện chiến trường chuyển biến thì luôn luôn cần phải có sự thay đổi trong các kế hoạch đã được thiết lập và đã được thực tập trước khi lâm trận. Một khi chiến trận được bày ra thì sự linh động lúc hành động thường bị cản trở bởi nhu cầu phải có sự chấp thuận rõ rệt của cấp trên trước khi thực hiện những sự thay đổi cần thiết và các quyết định quan trọng. Trong tất cả các trường hợp thường xuyên xảy ra chuyện phải mất quá nhiều thời giờ khiến các mạng sống và phương tiện quý giá bị thiệt hại. Trùng hợp với các hệ thống chỉ huy theo quân giai cứng ngắc là các vấn đề về sĩ diện và giữ thể diện, một khái niệm mà người cố vấn Hoa Kỳ rất khó mà coi trọng khi sự thành bại của công tác đang nằm trên cán cân.

Một điểm yếu quan trọng khác đã trở thành cấp bách hơn khi binh chủng TQLC tiếp tục đảm nhận một phần trách nhiệm chiến thuật lớn hơn từ các đơn vị Hoa Kỳ tại Vùng I Chiến Thuật, và khi họ chuyển lối tác chiến từ cấp tiểu đoàn riêng rẽ lên cấp lữ đoàn (ba tiểu đoàn), là sự cần thiết phải huấn luyện và thực hiện tốt hơn các trách nhiệm tham mưu cho các chiến dịch quân sự tinh vi hơn. Nhiều điều có tính cách thông thường và thuộc về bản chất thứ hai của các sĩ quan quân đội đào tạo từ các quân trường chính quy, chẳng hạn như sự quan trọng của các chương trình bảo quản một cách có hiệu quả quân trang quân dụng, không hẳn là rõ rệt dưới chế độ “tôn sùng lãnh tụ” theo lối cổ. Sự thiết yếu phải phát triển các bộ phận phối hợp có hiệu quả và các thủ tục căn bản về vận hành để các phần hành chánh (S1), tình báo (S2), hành quân (S3) và tiếp vận (S4) có thể phối hợp nhịp nhàng với nhau một cách có hiệu quả, và vận dụng được tối đa cơ hội thành công của chỉ huy trưởng ngoài chiến trường là những điều mà cố vấn quân sự Mỹ phải rất khó khăn lắm mới truyền đạt nổi cho phía VNCH.

CƯỠI NGỌN SẤM 18 : MỸ LAI

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 13

Mỹ Lai

Cuộc thảm sát hơn ba trăm thường dân vô tội tại ngôi làng nhỏ Mỹ Lai, một hành động ghê tởm nhất kể từ thời của các cuộc chiến tranh chống lại người da đỏ gần một trăm năm về trước lại gây nên bởi một đơn vị bộ binh Hoa Kỳ, đã xảy ra vào ngày 16 tháng 3 năm 1968. Biến cố này xảy ra trong phạm vi Vùng I Chiến Thuật một vài tuần trước khi George Philip đến. Mặc dù sự việc đã không được công bố với dân chúng Mỹ cho đến năm 1969 nhưng nó đã trở thành nguyên nhân đình đám cho tất cả những người phản đối sự tham gia của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.

Đối với những người được thông tin một cách sai lạc hay họ cố tình không chịu tìm hiểu, chữ “Mỹ Lai” đã trở thành một tĩnh từ có tính cách diễn tả, một biện pháp mà mọi người cho rằng đó là phương cách mà giới quân sự thường sử dụng để hoạt động và thực hiện các cuộc hành quân. Trên thực tế, cuộc thảm sát tại Mỹ Lai là kết quả của sự yếu kém trong vai trò chỉ huy của một số đơn vị thuộc Sư Đoàn Americal và là một điều sai lầm, hoàn toàn đối nghịch với đường lối tiến hành các cuộc hành quân tác chiến.

Sự kiện tại Mỹ Lai thật ra chỉ là một trang sách phụ so với sách lược của Việt cộng, một sự lặp lại, ở một quy mô nhỏ hơn rất nhiều, của các hành động của quân đội Bắc Việt tại Huế vừa rồi, hoặc những chuyện xảy ra thường xuyên trong các cuộc tổng công kích của Cộng sản vào những năm 1972 và 1975. Tất cả những điều này đã làm cho sự kiện Mỹ Lai trở thành gần như vô nghĩa nếu so về số lượng tuyệt đối và sự độc ác tàn bạo.

Các tin tức trong nước và quốc tế, tuy sự kiện về Mỹ Lai chưa được tiết lộ, cũng không được khích lệ lắm trên quan điểm chính trị của người Mỹ. Xung đột về chủng tộc và các cuộc biểu tình phản chiến liên tục và quá nhiều ở các trường đại học trên toàn quốc đã làm chuyển hướng, làm loãng và tiêu tan đi quyết tâm của chính phủ đã có từ trước nhằm chấm dứt chiến tranh bằng một sự chiến thắng truyền thống nào đó.

Vụ chiếc tầu USS Scorpion (SSN-589) – một chiếc tầu ngầm xung kích nguyên tử – bị đắm một cách bí ẩn vào ngày 22 tháng Năm đã gây bối rối lớn cho Hải quân Hoa Kỳ nói chung và Toán Công Tác Thầm Lặng (Silent Service) nói riêng. Chưa đầy năm năm sau khi bị mất chiếc USS Thresher (SSN-593) và ngay tức thời sau khi chiếc USS Pueblo bị vây bắt, sự mất mát của chiếc Scorpion chỉ là một sự kiện phụ trội làm giảm sút thêm niềm tin của công chúng vào tiềm năng phục vụ của quân đội.

Việc chiếc USS Scorpion bị chìm là mối quan tâm lớn cho các cấp cao nhất của chính quyền và giới quân sự. Vụ này xảy ra chỉ khoảng 10 tuần sau khi chiếc tầu Xô Viết K-129 bị mất, một chuyện mà công chúng Hoa Kỳ không hề biết, và có những câu hỏi được đặt ra là liệu chiếc Scorpion đã bị đánh chìm bởi hành động thù địch hay thật sự là bị hỏng máy móc? Có khi nào người Nga đã hiểu lầm rằng chiếc K-129 đã bị tấn công bởi một tiềm thủy đĩnh hay lực lượng chống tầu ngầm nào đó của Hoa Kỳ, thành thử họ đã tấn công chiếc Scorpion để trả đũa chăng? Đó là câu hỏi mà Tổng thống và các cố vấn của ông đã đặt ra mặc dù vấn đề này không thể công bố ra ngoài được.

Ngay cả việc, dù đã có một số lượng lớn quân Bắc Việt và Việt cộng bị giết và bị bắt trong cuộc tấn công tết Mậu Thân, nhưng những người Mỹ trước kia vẫn tin tưởng vào lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo cho rằng đã thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm thì nay càng lúc họ càng thấy có quá nhiều rối rắm xảy ra. Ý chí quốc gia phải tiếp tục đầu tư xương máu và tài sản đến tận mạng vào Đông Nam Á đã nhạt dần đi. Quyết định của Tổng thống Johnson từ chối lời yêu cầu của Đại Tướng Westmoreland về việc cho bổ sung hai trăm ngàn binh sĩ và sự không tỏ thiện chí trong việc gọi thêm quân trừ bị cho thấy sự do dự của ông. Vấn đề này đã không tránh khỏi sự chú ý của các lãnh đạo ở Hà Nội, Bắc Kinh, và Moscow.

Việc Robert Kennedy bị bắn sau khi thắng cuộc bầu cử sơ bộ trong kỳ tranh cử Tổng Thống tại California vào buổi tối ngày 5 tháng 6 và cái chết của ông vào sáng sớm hôm sau đã khép lại mãi mãi hoài vọng luôn ấp ủ của nhiều người Mỹ, đặc biệt là những người phản chiến, hầu có thể trở lại những ngày tháng dường như là huyền diệu trong nhiệm kỳ tổng thống của ông anh trai.

Vào cuối tháng Sáu, cuối cùng căn cứ Khe Sanh đã chính thức được đóng cửa và bị bỏ phế. Ngày 1 tháng Bẩy, Đại tướng Westmoreland chuyển giao nhiệm vụ Chỉ Huy Yểm Trợ Quân Sự tại Việt Nam (MACV) lại cho Đại tướng Creighton Abrams. Đại tướng Westmoreland lên làm Tham mưu trưởng quân đội. Sự ra đi của ông khỏi vùng Đông Nam Á sau bốn năm nắm quyền chỉ huy cũng – ít nhất là trong thời khắc đó – đã làm tiêu tan đi hết các kế hoạch trọng yếu tấn công thẳng ra miền Bắc bằng các lực lượng bộ binh, tấn công vào các sào huyệt của Cộng sản bên Lào hay vào hệ thống hạ tầng cơ sở vĩ đại của con đường mòn Hồ Chí Minh

Nuôi dưỡng con quái vật

Khi Gerry Turley kết thúc thành công chu kỳ nhiệm vụ đầu tiên tại Việt Nam với tư cách là một sĩ quan Trung đoàn và sau đó là sĩ quan hành quân và Tiểu đoàn phó của tiểu đoàn 3, Sư đoàn 7 TQLC Hoa Kỳ; và khi John Ripley bàn giao quyền chỉ huy của Đại đội Lima, có thể nói là họ đã chiến thắng. Hay ít nhất là Turley và Ripley, cùng tất cả các TQLC khi chung sức với nhau đã nghĩ như vậy. Nhìn dưới bất cứ khía cạnh nào mà đầu óc người Mỹ hay người phương Tây có thể lý luận được thì đều thấy là người Mỹ đang chiến thắng tại Việt Nam. Ngày qua ngày rồi tháng qua tháng đã có thêm nhiều đồng đội bị hy sinh. Nhiều người khác nữa bị thương trầm trọng. Nhưng cũng trong những ngày tháng đó, trong những trận đánh hầu hết không có tên gọi, họ đã chiến đấu rất dũng cảm, đôi khi uyển chuyển nhưng không bao giờ chịu thua, và đã giành lấy vinh quang trong mỗi lần đụng độ. Trong tất cả những lần ra trận. Ít nhất là họ đã trở về nhà, trong lòng tin tưởng họ đã chu toàn nhiệm vụ, tin chắc là những sự hy sinh đều có giá trị và chiều hướng cuộc chiến đang thuận lợi cho họ.

Mùa xuân Praha

Mùa Hè năm 1968 không thể gọi là “Mùa Hè của tình yêu, phần hai”* nổi. Trong giai đoạn này của cuộc chiến, với những cuộc nổi loạn lan rộng về chủng tộc và biến động xã hội mà phần lớn có vẻ như được gắn liền với sự mục ruỗng thấy rõ của các chính sách ngoại giao và đối nội Hoa Kỳ, thật khó mà còn nhớ nổi là nước Mỹ không phải là nguồn gốc phát sinh duy nhất của tội ác. Các trang nhất trên báo, và tin tức truyền hình đều thiếu vắng tin tức về các cuộc đàn áp thực tế đang diễn ra tại một số quốc gia độc tài cảnh sát trị.

Sự gia tăng chậm rãi nhưng liên tục về các lợi ích tất nhiên của nền Tự Do và kinh tế tự do đang được thúc đẩy ở khắp mọi nơi tại Châu Á ngoại trừ Trung Cộng và Bắc Triều Tiên cũng không được tường trình đầy đủ. Trung Hoa Quốc Gia, Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines, và đặc biệt là Nhật Bản, không ở đâu là không có vấn đề, nhưng tất cả đã cho thấy những dấu hiệu của sự tăng trưởng về kinh tế và sự phát triển của những nước không theo chủ nghĩa cộng sản.

Hầu hết người dân Nhật Bản đã vượt qua thời đại của “ba báu vật” (máy giặt, tủ lạnh và truyền hình đen trắng) và đang tiến vào thời kỳ “ba chữ C” (Car/Xe hơi, Color television/Truyền hình màu, và Cooler-Air conditioner/Máy lạnh-Máy điều hòa). Các nền kinh tế khác nhỏ hơn đang cố gắng bắt theo sau. Một khi đã được tiếp xúc với những tiện nghi của nền Tự Do và đạt mức sống căn bản cao hơn thì rất khó mà quay đầu ngược trở lại.

Cùng lúc đó và gần như không ai ở phương Tây để ý đến là sự thù hận ngày càng lớn giữa hai nước đàn anh chính của Bắc Việt. Đến tháng Tư năm 1968 Liên Xô đã bắt đầu điều động một phần ba lực lượng bộ binh tác chiến đấu hầu chống lại một lực lượng tương đương của Mao Trạch Đông cũng đang trải dọc theo đường biên giới chung dài bốn ngàn dặm. Thật không may cho Lê Bá Bình, George Philip, và tất cả các chiến hữu có liên quan là các chính trị gia Hoa Kỳ đã thiếu khả năng trong việc khai thác thuận lợi từ sự rạn nứt giữa hai cường quốc đỏ này.

Trong hơn hai mươi năm, “nữ thần” Tự Do đã bị cố tình nhốt chặt vào trong cái bình thần bởi Hiệp ước Warsaw – đưa ra bởi Liên Xô – tại những nơi như Hungary, Ba Lan và Đông Đức. Các nỗ lực để phá vỡ luôn luôn bị nghiền nát, bị áp đảo bởi cảnh sát và quân đội. Bấy giờ, vào mùa Hè năm 1968, các sinh viên Tiệp Khắc đã bị nhiễm con “vi trùng” tự do và dường như bệnh dịch này được truyền qua những người khác trong dân chúng và họ bắt đầu đứng lên đòi hỏi một sự thay đổi. Để đè bẹp căn dịch này, các thầy thuốc Liên Xô đã đề ra một toa thuốc mạnh là 600.000 quân lính và hàng ngàn chiến xa – một lực lượng đông hơn quân số của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong cùng thời điểm, hay bất kỳ lúc nào – để chữa con bệnh.

Phải mất ba tuần liều thuốc kiểu Liên Xô mới có hiệu quả trong việc “chữa bệnh” cho bệnh nhân. Hàng ngàn người Tiệp Khắc vô tội, hầu hết là tay không hoặc nếu có võ trang thì chỉ có các vũ khí thô sơ đã bị tàn sát mà không có một cơ quan truyền thông nào tường trình lại. Giống như các hành động giết người của quân Bắc Việt tại Huế chỉ sáu tháng trước đó, sự kiện này cũng chẳng gây ra sự bất mãn tại Hollywood và cũng chẳng có một cuộc biểu tình để lên án các hành động của Liên Xô tại bất cứ một khuôn viên Đại học nào đó tại Hoa Kỳ.

Trong khi đó, trở lại chiến trường – tháng Chín 1968

Đại đội Bravo và phần còn lại của 1/26 tiếp tục đụng trận trên khắp Vùng I Chiến Thuật và chuyển quân như những con cờ đến những nơi mà những người quyền hành ở trên cao quyết định họ cần có mặt tại chỗ nào trọng yếu nhất. Giống như trước đây, các cuộc hành quân không bao giờ kết thúc. Khác với hầu hết các binh sĩ đã biết chính xác họ còn bao nhiêu ngày nữa trong chu kỳ nhiệm vụ của họ, George Philip còn chưa khởi đầu đồng hồ đếm ngược thời gian để hồi hương.

Tính chất và cường độ tác chiến bao gồm những cuộc đụng độ nhỏ với súng cá nhân cho tới các trận đánh lớn mà cả Tiểu đoàn phải tham gia vào. Đó là những lúc mà George chứng kiến được là trong hầu hết các trường hợp, mọi chuyện có vẻ ăn khớp với nhau, sự phối hợp các loại vũ khí với nhau như không quân và pháo binh (và hải pháo nếu các chiến hạm ở gần bờ), mọi bộ phận đều cố gắng hết mức để yểm trợ cho bộ binh, y chang như những gì “quảng cáo” trong trường Huấn Luyện Căn Bản.

Trong suốt thời gian đại đội Bravo ở ngoài chiến trường, thường thì những kỳ nghỉ ngắn ngủi lại trở nên là giai đoạn đáng nhớ nhất. Với sự đều đặn và vật vã trong suốt thời gian lăn lội trong rừng bụi, ngoại trừ những lần đụng độ lớn hay có chuyện xấu xảy ra cho đồng đội thân cận, những gì còn lưu lại trong hồi ức của một người chiến binh là những điều nhỏ nhoi, thỉnh thoảng lại là những điều hay, có khả năng phá vỡ được cái nhịp đều đặn thường ngày.

Không rõ vì lý do gì đối với thiếu úy George Philip, và cũng giống như những ngày khi họ được lệnh di chuyển đi từ nơi này qua nơi khác bởi các ông thần vẽ kế hoạch hành quân, có một hôm họ đang làm việc ở một nơi nào đó thuộc phía Nam của Đà Nẵng rồi, không một lời giải thích, lại được lệnh lên xe vận tải bốc thẳng từ chiến trường về hậu cứ tại Đà Nẵng.

Luôn luôn là một sự bất ngờ khi trở về từ mặt trận, được trở lại với những người còn sống, còn thở, được tiếp xúc với những tên TQLC chưa bao giờ ra ngoài chiến trường, những tay được nhận thư từ hằng ngày, được “ị” trong nhà cầu đàng hoàng, được tắm rửa đều đặn, được mua sắm tại PX hay được đi phố với các “em.” Những tên này được ngủ trên giường tử tế và thường xuyên được ăn mỗi ngày hai bữa nóng với trái cây thật sự cùng bánh mì và sữa tươi. Nhóm TQLC rừng rú, những tay TQLC thứ thiệt gọi bọn này là bọn REMFs (Rear Echelon Mother F…s). Bọn này rất dễ nhận ra. Họ đi giày bốt láng bóng và quân phục phẳng phiu còn mới tinh. REMFs thường mày râu nhẵn nhụi và béo tốt hơn nhóm đồng đội bụi đời thiếu thốn bơ sữa và thức ăn. Nhóm TQLC thứ thiệt thường vừa có cảm giác bực mình ra mặt nhưng đồng thời cũng thầm ganh tỵ với bọn REMFs đó.

Vào cái ngày mà George và hầu hết các sĩ quan Bravo khác đến Đà Nẵng thì trạm dừng chân đầu tiên của họ là một trụ sở câu lạc bộ sĩ quan tại thành phố này. Giống như vừa trở về sau vài tuần ngoài mặt trận, mà họ đã như vậy, mình mẩy hôi hám mùi rừng rú và mồ hôi đã thấm vào tận da thịt và quân phục, họ bị dính chấu như dân da đen lọt vào phòng họp của bọn KKK và bị đối xử đúng y như vậy.
Sau khi sắp hàng và mỗi người chất đầy đĩa thức ăn của mình với một khối lượng không thể nào ăn hết nổi, sau khi đã thưởng thức vài ly sữa tươi mát lạnh và “Bug Juice” ** lúc đang sắp hàng, rồi lại rót đầy thêm ly trước khi tìm chỗ ngồi, xa bọn REMFs, nhóm George Philip nhận ra một điều khá đặc biệt.

Trong vô số những chuyện căn bản mà các chàng trai trẻ bị thiếu thốn do phải lặn lội hằng tuần trong những khu rừng già và các đồng lúa hôi hám cùng khắp Việt Nam là cái niềm vui thật đơn giản được ngắm nhìn và nói chuyện với một phụ nữ Hoa Kỳ bằng xương bằng thịt.

Những gì có sẵn cho các binh lính và TQLC ngoài tiền tuyến về phương diện liên hệ với phụ nữ tại Việt Nam, nếu đàng hoàng thì bọn REMFs đã dành mất rồi. Họ chỉ thường có cơ hội giao dịch với vài “bà má” luống tuổi để họ dọn dẹp chỗ ở hay giặt giũ quần áo, hoặc nếu có thân mật hơn chút nữa thì là một cuộc trao đổi tình dục có thể đưa đến chuyện bị mắc một vài chứng bệnh xã hội nào đó. Còn khả năng được tiếp xúc với một hay nhiều phụ nữ Hoa Kỳ, các nữ y tá, tiếp viên hàng không, phóng viên, hay bất kỳ lãnh vực nào luôn luôn là một chuyện đáng nhớ bởi vì nó ít khi nào xảy ra.

Ngay lúc George và các sĩ quan khác của Đại đội Bravo đã vào bàn rồi và anh nhìn lên thì chợt bàng hoàng khi thấy ba người phụ nữ. Những phụ nữ người Mỹ. Họ là nhóm y tá Hồng Thập Tự Hoa Kỳ “Búp Bê Donut,” có lẽ đang làm việc cho “USO” (United Service Organizations), và dường như muốn bước về hướng các sĩ quan của đơn vị Bravo đang ngồi.

Mang thức ăn cho họ và ngoan ngoãn đi theo sau là ba anh chàng sĩ quan cấp úy REMFs mặt mũi nhẵn bóng, quần áo ủi hồ phẳng phiu. Những tay này chưa nhận ra nhóm của George. Anh ra hiệu cho đồng đội chú ý, ngưng ăn uống để ngắm cái phép lạ đang diễn ra. Cả toán sĩ quan Bravo đồng loạt thẳng lưng lại và sửa soạn cho một cuộc tiếp chuyện văn minh, bất kỳ kiểu nào cũng được. Cả bọn ý thức được là bề ngoài và tình trạng vệ sinh của họ còn thiếu sót đáng kể nhưng họ tin vào sự độ lượng vượt mức của các kiều nữ “Florence Nightingale” thời đại mới này. Vào thời điểm này của chu kỳ nhiệm vụ, họ sẵn sàng làm bất cứ thứ gì để tạo sự chú ý của nữ giới. Nhóm “búp bê Donut” không hẳn tuyệt đẹp như tài tử Ann Margret nhưng thời gian dài lặn bờ lặn bụi đã làm cho tiêu chuẩn của gã đàn ông sút giảm nhiều lắm. Trang bị đầy đủ các thứ và y phục cần thiết, ít nhất họ là phụ nữ.

Phút chờ mong ngắn ngủi thật là tuyệt vời. George Philip cảm thấy mình như một cậu bé lớp bẩy phải lòng cô nữ sinh trung học trong toán múa “cheerleader.” Tất cả chỉ xảy ra trong vòng một vài giây đồng hồ thì thực tế phũ phàng chụp xuống. Bọn REMFs nhận ra sự hiện diện của các sĩ quan Đại đội Bravo nên đột ngột dẫn nhóm “búp bê Donut” đi qua khu vực khác, lịch sự hơn trong câu lạc bộ. Thật là một sự bẽ bàng. Nhóm sĩ quan Bravo tiếp tục ăn uống lại, miệng lẩm bẩm những lời nhận xét khác nhau nhưng cùng một nghĩa chung là “bọn chó đẻ REMFs…”

Mặc dù chẳng ai bàn tán gì nhiều về độ thâm niên của các thiếu úy nhưng khi George bắt đầu thời kỳ sáu tháng của anh với tư cách sĩ quan đề lô của B 1/26, thì anh đã trở thành một TQLC khá dày dạn kinh nghiệm, ít nhất là theo tiêu chuẩn của người Mỹ. Bởi đã sống sót được từng ấy thời gian nên đối với các lính mới nên anh đã là hàng trưởng lão. Kinh qua hàng chục lần xáp trận rồi nên chẳng có chuyện gì có thể làm anh giao động được nữa. Anh có thể bung ra trong nháy mắt một khối lượng hỏa lực khủng khiếp gieo rắc sự chết chóc và tàn phá một cách chính xác. Anh đã ghi nhận lời khuyên của Đại tá Helmer, đã áp dụng nó và truyền lại cho những người khác.

Vào tháng Chín năm 1968 George Philip, anh bạn Matt Dillon, và nhiều người khác trong nhóm kỳ cựu TQLC của Đại đội Bravo bị mắc một chứng bệnh ngoài da trong rừng rậm – một loại bệnh kỳ cục chưa ai biết là thứ gì, chỉ tấn công ngoài da, đặc biệt là những vùng nhậy cảm. Cách chữa trị đúng duy nhất là phải từ giã Việt Nam và đến một nơi nào đó an lành hơn như quê nhà chẳng hạn.

Mặc dù có những cơ hội được ăn uống thả dàn như trong câu lạc bộ sĩ quan Đà Nẵng nhưng hiện nay George chỉ cân nặng vào khoảng từ 120 tới 125 cân Anh, sụt khá nhiều so với 150 cân trước kia, tuy lúc đó anh vẫn bị coi là gầy. Bề ngoài của George bây giờ trông khá giống một trong những ông già vừa thoát ra khỏi trại Đức quốc xã Auschwitz hay Buchenwald vào giữa năm 1945. Toàn thân anh được bôi vàng bởi một thứ kem gì đó đáng khả nghi mà các y sĩ quân đội hay dùng để chữa tất cả các loại bệnh ngoài da. Nếu mẹ anh mà thấy được bộ dạng anh bây giờ ra sao thì chắc bà sẽ bị đứt gân máu mất.

Trở lại Pháo đội Alpha 1/13

Vào khoảng giữa chu kỳ nhiệm vụ 13 tháng, theo thông lệ đối với các sĩ quan pháo binh, đã đến lúc George phải thuyên chuyển về lại pháo đội trọng pháo. Nhiệm vụ này tuy không hẳn là dễ dàng gì nhưng thật khác xa, không khắc khổ và nguy hiểm như thời gian nửa chu kỳ đầu nhiệm vụ lặn lội trên các con đường mòn và ruộng lúa với đám lính bộ binh.

Tháng 12 năm 1968 là một cái mốc đã đánh dấu tháng thứ 45 kể từ khi TQLC Hoa Kỳ đổ bộ lên bờ biển Việt Nam và bắt đầu các nỗ lực đánh lớn của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á.

Vào tháng thứ 45 trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ, miền Nam Hoa Kỳ đang trên bờ của sự sụp đổ. Tướng William Tecumseh Sherman, tay sát nhân đối với dân miền Nam mà tên tuổi xấu xa vẫn còn được nhắc mãi đến một trăm năm sau ở dưới lằn ranh Mason-Dixon, đang tụ tập quân lính tràn xuống Georgia và sau đó nhanh chóng chuyển qua các tiểu bang Carolinas, tiêu diệt hết mọi thứ trên đường tấn công của hắn.

45 tháng sau khi Hoa Kỳ tuyên chiến với Đức vào tháng Tư năm 1917, “cuộc chiến để chấm dứt tất cả các cuộc chiến” đã diễn ra hơn hai năm rồi. Người Mỹ đang sửa soạn để hưởng một sự thịnh vượng chưa từng có bao giờ và múa may theo các điệu Jitterbug và Charleston suốt cho đến thập niên 1920 đầy sinh động.

45 tháng sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ đang chuẩn bị để “bắn phát súng ân huệ” bằng cách thả trái bom nguyên tử “Fat Man” xuống Hiroshima và “Little Boy” xuống Nagasaki. Chán chiến tranh rồi, người Mỹ lại một lần nữa hướng về hòa bình – điều mà sau đó tỏ ra là hoang tưởng và không thực tế – bằng cách tiêu xài hết tiền bạc dành dụm được trong chiến tranh vào những thứ được sản xuất bởi một nền kỹ nghệ đã thoát ra khỏi các sự trói buộc trong thời chiến.

45 tháng sau khi các chiến xa T-34 do Liên Xô viện trợ lăn bánh lần đầu tiên vào Seoul, hiệp ước ngưng bắn đã có hiệu lực được chín tháng rồi.

45 tháng sau khi khởi đầu cuộc chiến tại miền Bắc Á Châu, ca sĩ Bill Haley và ban nhạc Comets đã thâu xong bản “Rock Around the Clock.”

Khi năm 1968 sắp kết thúc, ngay cả với việc quân Bắc Việt và Việt Cộng đã chết chồng lên nhau như củi khối, cũng không có bằng chứng nào khả dĩ để người Mỹ tại hậu phương nghĩ rằng phe ta đang thắng thế trong trận chiến này khi nó đang đi vào một cái năm đẫm máu và tốn kém nhất trong suốt cuộc chiến tranh. Mặc dù đã nỗ lực tối đa trong suốt 12 tháng đó, chỉ cần liếc vào bản đồ là thấy chẳng có gì thay đổi khá hơn. Các cuộc đụng độ vẫn xảy ra khắp nơi trên toàn cõi Việt Nam Cộng Hòa. Cả nước bắt đầu mệt mỏi thấy rõ vì sự cam kết đã chỉ mang lại một kết quả cay đắng. Nếu như quân Bắc Việt và các lực lượng còn lại của Việt Cộng có mất tinh thần chiến đấu hay không thì với cấp bậc của George Philip và đồng đội, họ cũng không thể biết được.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn/Bình gặp Cầm/Cuộc chiến của người cha

Trong những tháng tiếp theo thời gian phục vụ tại cầu Bình Lợi, tiểu đoàn 3 và tất cả các đơn vị lưu động khác của TQLC Việt Nam tiếp tục nhận nhiệm vụ ở bất cứ nơi nào cấp trên quyết định rằng sự hiện diện của họ là khẩn thiết nhất. Tuy nhịp độ hành quân khá lộn xộn nhưng ai nấy cũng đều tuân theo một phương pháp và thông lệ nào đó.

Lợi dụng những khoảng thời gian ngắn lúc Tiểu đoàn 3 luân chuyển về Thủ Đức nhằm tái trang bị và bổ sung quân số, Đại úy Bình tranh thủ nhanh chóng về nhà thăm gia đình và bạn bè. Giống như mọi lần và theo lệnh cấp trên, anh luôn luôn đi với một toán vệ sĩ và tà-loọc bây giờ đã cảnh giác hơn đối với sự nguy hiểm rình rập sau biến cố Tết Mậu Thân vừa qua. Sự hiện diện và đi lại của anh khiến cho hàng xóm vừa cảm thấy nghiêm trọng, lại vừa yên tâm hơn vì nhiều gia đình cũng có con em đang phục vụ trong quân ngũ.

Đối với những người Mỹ chỉ thấy chiến tranh trên truyền hình hoặc đọc về nó trong các tập san và báo chí, nhận thức của họ về cuộc sống thường nhật ở Việt Nam gần như không thể nào hiểu nổi. Với hầu hết những người này, mọi miền đất nước dường như tràn ngập VC và lính Bắc Việt, dày đặc các nhà sư Phật Giáo chỉ tìm cớ để châm lửa vào bộ tăng bào màu vàng nghệ của họ. Những đường phố chính trong thành phố thì đầy rẫy những tên bán dạo lừa đảo và gái điếm. Chuyện mạch sống vẫn trôi như từ trước tới nay chỉ được biết đến bởi những người đang sống thực tế trong đó. Và rồi cuộc sống, trong mọi hướng đi và trong mỗi chu kỳ, vẫn diễn ra đều đặn với chỉ một vài thay đổi nhỏ.

Lễ cưới Yến, em gái của Bình vào ngày 17 tháng 11 năm 1968 đặc biệt đáng ghi nhớ đối với vị đại úy TQLC dày dạn trận mạc này. Yến làm việc trong văn phòng kế toán của Trung Tâm Buôn Bán PX quân đội Hoa Kỳ từ năm 1966. Trong số các bạn bè thân nhất của cô, Bành Cầm là một phần tử trong cái nhóm nhỏ phụ nữ trẻ hấp dẫn và đang tuổi cập kê. Giống như mọi cô em hãnh diện về anh của mình, Yến đã liên tục ca ngợi lòng tốt và sự hào hùng của ông anh mình với Cầm từ nhiều tháng trước khi đám cưới. Bình hầu như lúc nào cũng phải đi hành quân xa còn mẹ của Cầm vẫn giữ lề lối xưa thành thử họ chưa có cơ hội nào để được chính thức giới thiệu với nhau. Đám cưới của Yến đã tạo một cơ hội hay nhất. Phần còn lại, như họ vẫn thường nói, chỉ là duyên số.

Mặc dù chiến thắng ở Đông Nam Á có vẻ khá mơ hồ, không phải tất cả mọi thứ vào tháng Mười Hai năm 1968 đều báo động sự sụp đổ của văn minh Tây phương. Đất nước đã thật sự vui mừng khi thủy thủ đoàn chiếc USS Pueblo được trở về, những người mà đã phải chịu đựng suốt cả 11 tháng trời dưới sự tra tấn và hành hạ trong tay bọn Bắc Triều Tiên.

Mặc dù quân đội Hoa Kỳ có vẻ bị lún sâu vào các bãi sình lầy và ruộng lúa tại Việt Nam nhưng vụ phóng phi thuyền Apollo 8, lần đầu tiên con người tiến hành bay vào quỹ đạo của mặt trăng đã đánh dấu tính ưu việt về khoa học kỹ thuật của Hoa Kỳ. George Philip và một số ít đồng đội TQLC đã nghe được tin này qua hệ thống truyền thanh của quân đội Hoa Kỳ vào ngày Giáng Sinh, tức chiều hôm trước Giáng Sinh tại quê nhà. Họ nghe được những lời chào mừng Giáng Sinh bất ngờ của ba phi hành gia Apollo 8 cách xa hằng trăm ngàn dặm từ trong cái phi thuyền tý hon của họ.

Trong lần phát sóng có lẽ đã được chú ý nhiều nhất lúc bấy giờ, các phi hành gia William Anders, Jim Lovell, và Frank Borman mỗi người đọc một đoạn ngắn từ cuốn “Sáng-thế Ký” (Genesis) của Cựu Ước. Anders bắt đầu:

Đối với tất cả những người trên trái đất phi hành đoàn Apollo 8 chúng tôi có một thông điệp muốn gởi đến các bạn: Ban đầu Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất. Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Ðức Chúa Trời vận hành trên mặt nước. Ðức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng. Ðức Chúa Trời thấy sự sáng là tốt lành, bèn phân sáng ra cùng tối.

Lovell đọc tiếp:
Ðức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày; sự tối là đêm. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhứt. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước. Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy. Ðức Chúa Trời đặt tên khoảng không là trời. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhì.

Borman kết luận:

Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy. Ðức Chúa Trời đặt tên chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Ðức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. (Genesis 1:1-1:10)

Và từ phi hành đoàn Apollo 8, chúng tôi xin chấm dứt với lời chúc một đêm ngủ ngon, chúc may mắn, một mùa Giáng Sinh vui vẻ, và xin Thiên Chúa ban ơn cho tất cả mọi người… tất cả nhân loại sống bình yên trên trái đất.” (nguồn: NASA, Wikipedia).

Thật khuya trong đêm Giáng Sinh hôm đó, George ngồi bên ngoài hầm chỉ huy nhìn lên mặt trăng đã gần tròn, mơ màng như các thanh niên trẻ vẫn thường làm. Anh nghĩ về những người thân, về các anh chị em, về chiến tranh, về các đồng đội mà anh đã thấy là họ ngã xuống hoặc bị thương. Anh nghĩ thật kỳ lạ là gần nửa triệu thanh niên Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam trong những hoàn cảnh thô sơ nhất trong khi có ba người khác thì đang bay vòng quanh mặt trăng. Thật là vô ích nếu anh cố hiểu những gì không thể hiểu nổi. Anh miên man suy nghĩ thêm, suy nghĩ mãi rồi trở vào hầm trú ẩn.

Giống như các TQLC đã quá bận rộn đánh nhau với quân Bắc Việt đến nỗi không nghe được lời phán tháng Hai của Walter Cronkite rằng họ sắp bị khốn khổ tại Khe Sanh tới nơi rồi, thật cũng là một điều hay là hầu hết các binh sĩ tại Việt Nam đã tránh không phải nghe đến kết quả một cuộc thăm dò năm ngoái cho thấy là nhân vật mà các sinh viên đại học tại Hoa Kỳ hâm mộ nhiều nhất lại là Che Guevara. Năm 1968 đã sắp chấm dứt, George Philip vừa được thăng cấp lên Trung úy, vậy mà mỗi lúc liên tưởng đến những gì đã xảy ra và có thể sẽ xảy ra, anh đều trở lại tâm trạng trước kia, khi anh vẫn thường nghĩ rằng “đây không phải như là cuộc chiến của cha mình.”
__________________________________________________________

* Mùa Hè năm 1967, mệnh danh là “Mùa Hè của Tình Yêu,” đã được liên kết chặt chẽ với phong trào hippy và phong cảnh của San Francisco, và đã trở thành bất tử bởi mùa hội Monterey Pop Festival năm 1967 cùng với các bài hát như “San Francisco – Be Sure to Wear Some Flowers in Your Hair” của Scott McKenzie.

** Bug Juice – cái tên dùng để mô tả loại nước uống có pha mùi như kiểu Kool-Aid thường được phân phát trên tầu, trong các câu lạc bộ, ngay cả cho binh lính ngoài mặt trận nữa trước khi có kỹ thuật làm các loại thức uống có ga. Bug Juice về căn bản chỉ là nước đường có màu nhân tạo. Bug Juice cũng là tên của một loại thuốc đuổi muỗi chứa trong những lọ nhựa nhỏ mà các TQLC và binh lính gắn lên nón sắt bằng những sợi băng cao su.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM 17

richardbotkin

Chương 12

“Đề Lô” Đại đội Bravo 1/26

Ngay từ lúc đầu, khi các lực lượng chiến đấu Hoa Kỳ tham gia vào Thế Chiến Thứ Hai thì sự lệ thuộc vào sức mạnh vật chất của các ngành kỹ nghệ dân sự để sản xuất ra những khối lượng chiến cụ khổng lồ đã tác động rõ ràng lên phương cách chiến đấu của họ. Các ứng dụng về hỏa lực hùng hậu và tinh vi bất kỳ khi nào làm được nhằm thay thế nhân sự đã được ứng dụng rộng rãi trong mọi trường hợp cho phép. Binh đoàn TQLC Hoa Kỳ đã đi tiên phong trong việc cố gắng áp dụng và phối hợp các phương tiện hủy diệt khác nhau có trong tay – hải pháo, phi pháo, pháo binh – và hội tụ sức tàn phá của các vũ khí này xuống một vùng thật nhỏ mà họ vẫn kiểm soát được.
Tất cả các sĩ quan TQLC đã tham dự ở trường huấn luyện TBS đều được học qua về lý thuyết phối hợp tác chiến với hỏa lực yểm trợ. Khi các Trung đội trưởng mới đến nhận nhiệm vụ tác chiến tại Việt Nam, họ phải có khả năng gọi và điều chỉnh hỏa lực yểm trợ súng cối và pháo binh, cũng như phải biết gọi không quân yểm trợ ở khoảng cách gần.

Một khi anh đã nắm quyền chỉ huy một đại đội bộ binh, anh phải có thể làm chủ được khả năng gọi và phối hợp mọi phương tiện hủy diệt người ta dành cho anh. Sự lanh lợi của một cấp chỉ huy để có thể sử dụng các phương tiện này một cách khéo léo và quản lý được chúng là một trong số vài ba tài nghệ anh không được phép để sơ sẩy. Toàn bộ sự sống còn của đại đội thường tùy thuộc vào những phương tiện này.

Để trở thành sĩ quan đề lô giỏi, một sĩ quan trẻ cần phải làm nhiều chuyện cho thật đúng và cùng một lúc. Đề lô sắc bén lại cần phải hiểu và đoán trước hướng suy nghĩ của vị chỉ huy mà anh đang làm việc chung. Trong tình huống đang đụng độ hay có thể sắp đụng độ, đề lô cần phải biết ý định của chỉ huy khi ông ta đang tính kế hay khi ra lệnh.

Đề lô phải nhận thức được phong thái chỉ huy riêng của từng Đại đội trưởng. Anh cũng cần phải hiểu thấu đáo nhiệm vụ của mình – ngày cũng như đêm – và phải lưu tâm đến nhiều tình huống bất ngờ khác nhau. Anh cần phải nắm vững địa hình, độ cao thấp của mặt đất thuộc khu vực mà đơn vị anh đang hoạt động và di chuyển, cũng như hiệu quả của hỏa lực sẽ ra sao. Đề lô còn phải có kỹ thuật di hành giỏi và trong mọi lúc, phải nắm chắc vị trí chính xác của đơn vị mình để đến khi gọi tác xạ yểm trợ thì đạn rơi trúng kẻ thù chứ không phải là phe ta. Ngoài ra anh cần phải đi trước hai hay ba bước trong đầu Đại đội trưởng để khi các TQLC bị cú bất ngờ, hỏa lực yểm trợ sẽ nhanh chóng, chính xác và áp đảo.

Khi đại đội thiết lập hệ thống phòng thủ cho buổi tối, sĩ quan đề lô cần phải xây dựng một bức màn thép theo nghĩa đen – gọi là lưới lửa ban đêm – chung quanh vị trí của đại đội để phòng hờ trong trường hợp kẻ thù tấn công.

Thường thì cũng hữu ích nếu biết tính toán và xác định – tức bắn thăm dò – mục tiêu từ trước. Khi các pháo thủ phía sau đã có sẵn các dữ kiện kỹ thuật rồi thì việc bắn đi những quả đạn trúng mục tiêu dễ dàng hơn khi có yêu cầu. Việc chuyển nòng bắn qua các mục tiêu lân cận cũng nhanh hơn nếu tọa độ các mục tiêu đã được xác định sẵn, trước khi đụng độ thật sự xảy ra.

Trong vấn đề nhân sự, sĩ quan đề lô cần biết chắc là nhân viên truyền tin được chỉ định đi chung phải là một người giỏi và có đầy đủ khả năng. Một đề lô biết lo xa còn phải bỏ thời gian để chỉ cho truyền tin cách gọi hỏa lực yểm trợ càng kỹ càng tốt để phòng hờ trường hợp anh bị trúng đạn, truyền tin vẫn tiếp tục thi hành được công tác. Trong chuyện này George cực kỳ may mắn có được tay truyền tin đã từng làm việc chung tại Khe Sanh với tay sĩ quan đề lô đã tử trận gần đây. Đó là Binh nhất Tom O’Grady. Anh chàng này đã chăm sóc cho George để bảo đảm viên sĩ quan đề lô mới được nhập cuộc và sẵn sàng. Hai người sau đó đã hết sức gần gũi với nhau trong điều kiện cấp bậc cho phép và họ trở thành một toán đề lô làm việc rất hiệu quả.

Một sĩ quan đề lô pháo binh tài ba là một kỹ thuật viên khéo léo trong lãnh vực khoa học pháo binh. Nếu anh càng giỏi chừng nào trong cái nghệ thuật “hủy diệt” đó thì nỗi lo lắng của sĩ quan chỉ huy càng ít đi chừng đó khi bước vào chiến trận.

Theo quân số thì mỗi đại đội bộ binh TQLC ra chiến trường tại Việt Nam đều phải có một sĩ quan đề lô pháo binh tốt nghiệp từ trường Ft. Sill. Tuy nhiên thực tế không phải lúc nào cũng vậy. Cũng theo cấp số thì mỗi đại đội bộ binh TQLC đưa vào chiến trường Việt Nam đều phải có một đại đội trưởng hoàn toàn sẵn sàng nhập cuộc và đầy đủ khả năng trên mọi phương diện. Trên thực tế cũng không phải lúc nào cũng vậy.

Đại đội Bravo tại Khe Sanh đã từng được chỉ huy bởi Đại úy Ken Pipes. Giống như John Ripley, Kenny Pipes là một chiến binh lão luyện và hết sức nhiệt tình với lòng trung thành mà các thuộc cấp dành cho anh. Các TQLC dưới quyền đều tôn thờ và yêu mến vị chỉ huy của mình. Trong mọi hoàn cảnh có thể tưởng tượng ra được, thời chiến cũng như thời bình, Đại úy Pipes có lẽ là một mẫu người chỉ huy rất khó mà ai bắt chước nổi. Đại úy Pipes vừa hết quyền chỉ huy Đại đội Bravo thì George Philip đến và huyền thoại của vị Đại đội trưởng cũ vẫn còn sống mãi trong những câu chuyện truyền tụng lại bởi các binh sĩ và sĩ quan của đại đội.

Tay Đại đội trưởng mới thay thế Đại úy Pipes chứng tỏ cho George Philip thấy là ngay cả binh đoàn TQLC cũng có những người không giỏi lắm. Đại đội trưởng mới này xuất thân chỉ là trưng tập, còn gọi là “ngựa hoang” (mustang) và không thể nào sánh nổi bằng Đại úy Pipes. Những lời nhận xét thừa thãi và mang tính chỉ trích của anh khi nói chuyện trước toàn thể đại đội hay từng toán nhỏ chỉ làm bực mình thêm các TQLC, ngựa hoang hay không hoang cũng vậy. May mắn là cái nhóm nhỏ Trung đội trưởng từng được Pipes huấn luyện đã bổ sung cho các thiếu sót từ cấp chỉ huy ở trên. Do đó Đại đội Bravo vẫn duy trì được sức chiến đấu hữu hiệu.

Thiếu úy Philip trên thực tế đã trình diện Đại đội Bravo tại thôn Mỹ Thủy, nằm trên bờ gần cửa biển của sông Cửa Việt. Toàn bộ Lục Quân, Hải Quân và TQLC đã gầy dựng nên một hệ thống tiếp vận gần bờ, gọi là LOTS (Logistics Over The Shore) nhằm đón nhận các đồ tiếp viện sau đó được chuyển bằng tàu đổ bộ ngược dòng sông cho đến Đông Hà. Với một cái tên như thôn Mỹ Thủy thì chẳng bao lâu sau những người Mỹ không nói được tiếng Việt phải chế ra một cái tên khác dễ đọc hơn.

Trung tá Charles Sunder nắm quyền chỉ huy Tiểu đoàn Chuyển Vận 159 của quân đội, đơn vị chính lo chuyện tiếp vận tại đây. Thuộc cấp của ông tự nhận là “các ông thần của Wunder.” Từ đó địa danh Mỹ Thủy được đặt thêm tên là “bãi biển Wunder.” Nghe không hợp lý lắm nhưng rồi cũng chết cái tên luôn.

Bộ đội Bắc Việt và quân Việt Cộng thường không ngần ngại xâm nhập vào những vùng mà quân Hoa Kỳ quan tâm nhiều nhất thành thử do vị trí chiến lược cộng với lưu thông đường thủy và đường biển nơi sông Cửa Việt đổ vào Biển Đông đã tạo cho “bãi biển Wunder” trở thành một vùng tranh chấp. Tuy nhiên đối với các TQLC của Tiểu đoàn 1/26 thì công tác giữ an ninh tại “bãi biển Wunder” tuy không hẳn là một cuộc dạo chơi nhưng cũng thoải mái hơn mặt trận mà họ vừa trải qua.

Đại đội Bravo hiện được giao trách nhiệm trong vùng bãi biển Wunder đã may mắn có các Trung đội trưởng, chỉ riêng chuyện họ sống sót qua trận Khe Sanh, đã trở thành một nhóm chiến binh dày dạn và đầy kinh nghiệm chiến đấu. George Philip ngay lập tức cảm thấy thoải mái như người nhà khi được đón tiếp bởi những người như John “Matt” Dillon, Pete Weiss, và Charlie Sharples. Cả ba đều là những sĩ quan TQLC tích cực, có khả năng, chuyên nghiệp, giỏi về chiến thuật và lúc nào cần thiết cũng tỏ ra có óc khôi hài một cách ồn ào. Trong ba người thì “Matt” Dillon, giống như nhân vật trong tập phim truyền hình Gunsmoke mà anh được gán cho cái tên, thật sự là sếp sòng trong nhóm và khi nào Đại đội trưởng đi vắng là anh sẽ dẫn dắt Đại đội Bravo theo phong cách mà thần tượng và ông thầy Đại úy Pipes hẳn sẽ rất hãnh diện.

George Philip được nhập cuộc vào các hoạt động của Đại đội Bravo 1/26 ngay lập tức. Cũng may là anh có tay truyền tin là Binh nhất O’Grady đã có chút vốn liếng kinh nghiệm trong túi rồi và những tay Trung đội trưởng thì có vẻ có thiện cảm với anh. Cùng với sự huấn luyện về kỹ thuật đã được học qua, chỉ riêng lời khuyên của người bố dượng trước khi anh lên đường, “Liệu mà cúi đầu cúi đít thấp xuống con ạ” đã chứng tỏ rất chí lý ngay từ đầu.

Một buổi trưa trong tuần lễ đầu tiên tại đơn vị mới lúc còn đang đóng tại bãi biển Wunder, George và Binh nhất O’Grady lên nóc chót vót của một cái lô-cốt cũ từ thời Pháp, phơi mình ra tứ phía với sự tin tưởng là không có kẻ thù chung quanh. Họ làm công tác đề lô và đánh dấu các mục tiêu một các thong thả, cứ như trong thời bình vậy, chẳng dè bị sơ suất. Lúc đó Thiếu úy Philip đang ở trần và đang tập trung vào một mục tiêu cách đó vào khoảng một ngàn thước. Anh mải ngắm ống kính nên thoạt đầu không thấy cái tên VC lẻ loi mặc áo bà ba đen đang mò ra khỏi hàng cây ngoài tầm ngắm của anh. May là Binh nhất O’Grady lại vừa nhìn về hướng đó.

May mắn cho anh là tên VC có lẽ được trang bị một khẩu súng nào đó không phải là loại cực mạnh chuyên để bắn sẻ. Hắn bắn vội vàng vài phát trước khi O’Grady bắn trả lại. Không biết những viên đạn bắn hụt qua anh vài phân hay vài gang tay nhưng George Philip cũng cảm thấy cái áp lực và luồng không khí xé ngang khi những viên đạn gần như là sượt qua tai. Anh rất bực với chính mình vì đã quá cẩu thả và đáng lẽ phải biết chuyện này rồi. Tuy vậy ngay sau đó anh cũng cảm thấy biết ơn về bài học đầu tiên và duy nhất ngoài chiến trường đáng giá này. Anh sẽ không bao giờ mắc phải cái sai lầm này nữa. Anh tự nhủ, “Con biết rồi, bố ơi.” Trong nháy mắt, tên VC biến mất vào trong bụi rậm nơi hắn vừa chui ra, làm như không có chuyện gì xảy ra vậy.

Trường đời thực tế trong chiến đấu luôn luôn mở rộng ngày và đêm trong suốt quá trình chu kỳ nhiệm vụ của một quân nhân tại Việt Nam. Chỉ một vài ngày sau sự việc xảy ra trên nóc lô-cốt cũ thời Tây, Đại đội Bravo cho bố trí canh phòng đêm quanh vùng bãi biển Wunder. Như đã được huấn luyện và lần này thì làm thật ở Việt Nam, sĩ quan đề lô George Philip sửa soạn các mục tiêu có thể phải tác xạ ban đêm. George báo về pháo đội tọa độ các mục tiêu phải yểm trợ cho Đại đội đêm hôm đó. Sự chọn lựa các mục tiêu phòng thủ ban đêm tương đối dễ và dựa vào sự suy nghĩ thông thường, khác với việc bắn pháo binh thực thụ đòi hỏi sự tính toán nhiều hơn.

Trường hợp này, đề lô chỉ cần đoán kẻ thù có thể tấn công từ đâu, và đặt súng chỗ nào v.v… Sau đó thì cố gắng “sơi” chúng trước khi chúng bắn phe ta. Việc nhận dạng các mục tiêu hiển nhiên và mơ hồ như vậy đã được thảo luận trong lớp học và trong những buổi thực tập tại Ft. Sill. Không có chuyện đúng hoặc sai trong việc lựa chọn mục tiêu để bắn khi phòng thủ ban đêm. Sau khi chắc chắn là những mục tiêu không nhắm vào thường dân vô tội, tất cả những gì thực sự quan trọng còn lại là giết được kẻ thù và không cho chúng hại phe ta.

Trong lúc George và truyền tin đang lập danh sách mục tiêu thì họ thấy có một vị trí quá rõ không thể sót được. Đó là một con đường đất trải dài vài ngàn thước qua một cánh đồng trống trải và chấm dứt nơi một rặng cây. Đúng là một chỗ lý tưởng để đặt súng cối. Trong ba hay bốn mục tiêu đã chọn, George còn báo cho pháo đội bắn thử trái khói vào những chỗ đó cho chắc ăn lúc trời còn sáng. Bây giờ nếu thật sự cần thiết chỉ cần gọi điện đàm báo cho pháo thủ bảo bắn vào mục tiêu số mấy, số mấy là xong. Mọi chuyện sắp sẵn cả rồi.
Khuya hôm đó, George thấy một điều tưởng chừng như không bao giờ thấy được và khi thấy rồi thì sẽ nghĩ là chắc không thể xảy ra thêm một lần nào nữa. Trong bóng đêm xuyên qua lỗ châu mai anh thấy những tia chớp không thể lầm được và vài giây sau đó là tiếng “đề-pa” đạn súng cối rời khỏi nòng… ngay từ chỗ mà anh và Binh nhất O’Grady đã đoán trước và sửa soạn sẵn rồi.

Ngay tích tắc sau đó, George gọi điện về pháo đội yêu cầu bắn yểm trợ: “Yêu cầu bắn yểm trợ… Mục tiêu Alpha Tango…” Một lệnh yêu cầu hoàn hảo nhất. George hết sức phấn khởi vì anh nghĩ rằng nếu mọi chuyện y như trong trường huấn luyện thì pháo binh trả đũa sẽ xảy ra ngay tức khắc và sơi được vài tên gian ác. Nhưng đây là Việt Nam. Và họ không còn ở Khe Sanh nữa. Bãi biển Wunder gần khu đông dân cư và có nhiều dân thường thật sự người Mỹ không thể sát hại được.

Thay vì xác định đã nhận được yêu cầu và cho bắn rồi thì pháo đội trả lời: “Chờ một chút… over.” “Chờ một chút” rốt cuộc thành “nhiều chút.” Lúc này thì viên sĩ quan đề lô thực sự đã bị tạt gáo nước lạnh vào mặt vì thực tế các quy tắc giao tranh trong những vùng mà người dân sinh sống gần đó hay những nhu cầu về chính trị đã vượt qua cơ hội có thể tiêu diệt các mục tiêu bất ngờ.

George được ai đó báo cho biết là trước khi bắn phải xin phép ông xã trưởng tại địa phương và “chờ một chút” trở thành nửa tiếng đồng hồ. Đến khi lệnh bắn được chấp thuận thì dĩ nhiên là khẩu bích kích pháo của địch đã cao bay xa chạy mất rồi. George than thở với Binh nhất O’Grady: “thằng khốn nạn giờ này đã chạy về núp váy mẹ nó rồi.” Anh bực dọc hủy bỏ lệnh bắn. Chào mừng đã nhập cuộc. Chào mừng đến Việt Nam. Liệu mà giữ cái đầu và cái đít thấp xuống con ạ…

Những gì mà mọi người cho là bình thường, ghê gớm hay khôi hài sẽ trở thành những điều hoàn toàn khác hẳn nếu đem vào hoàn cảnh tàn bạo của chiến tranh. Đối với những người chiến đấu trong rừng rậm Việt Nam thì sự chết chóc hay bị cụt tay chân luôn luôn là bạn đồng hành với họ, cho bản thân họ hay cho đồng đội. Phương thức mà mỗi người tự chọn để đáp ứng lại, tùy theo tính khí của người đó đối với sự khốc liệt của chiến tranh và các tình huống đưa đến sự khôi hài đen chính là khả năng thích ứng và kiên trì của họ.
Chưa đầy một tuần lễ sau biến cố pháo kích ban đêm từ rặng cây thì Đại đội Bravo được điều đi hành quân trong một vùng rừng sâu. Địa thế hiểm trở muôn thuở đã khiến họ phải đi hàng dọc theo con đường mòn trong rừng. Như thường lệ sau mỗi giờ di hành, đại đội được dừng quân để nghỉ trong vòng 10 phút. Lúc này cơ thể Thiếu úy Philip vẫn chưa quen nổi với khẩu phần C-rations và uống nước suối rừng nên anh khập khiễng lê bước, thỉnh thoảng lại bị những cơn tháo dạ hành hạ.

Vào sâu trong lòng vùng địch, các binh sĩ Đại đội Bravo buông mình xuống tạm thời nghỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi trong lúc vẫn phải canh chừng an ninh chung. Đi gần đầu hàng quân, George vượt qua trinh sát và lặng lẽ ra hiệu cho biết anh muốn đi đâu và định làm cái gì. Từ con đường mòn, George tạt khoảng 15 độ vào khu rừng, bước thêm chục bước rồi sụp xuống tụt quần ra. Mải cởi quần để giải quyết vấn đề, anh chưa kịp ngồi một cách ngay ngắn thì chợt nghe một vài tiếng vọng rõ ràng không phải là của phe TQLC.

Thấp thoáng qua bụi rậm từ vị trí ngồi xổm, anh trông thấy bóng dáng bốn tên bộ đội Bắc Việt. Chúng có lẽ thuộc vào một toán súng cối hay gì đó.

Ngay lập tức cơn đau bụng biến mất. Anh rút khẩu .45 ra và không kịp kéo quần lên, vội vã lom khom mò về vị trí của Đại đội Bravo. Cái mông trắng như hoa lily vẫn còn lồ lộ ra đó, anh thảng thốt thều thào, khá giống nhân vật Paul Revere (thời nội chiến Hoa Kỳ lúc báo sự xuất hiện của quân Anh tại Lexington), cố gắng nói đủ lớn cho phe ta nghe mà không đánh động đến kẻ thù: “VC! VC!”

Các TQLC gần anh lập tức truyền tin xuống hàng dưới. Ngay lúc George vừa nhập bọn và mặc quần lại, các TQLC lập tức nhả đạn ra từ tất cả các loại vũ khí có sẵn theo một phong cách hoàn toàn đặc trưng của người Mỹ. Bốn tên VC vội vã vọt chạy trên con đường mòn với hy vọng sẽ thoát khỏi hàng ngàn và hàng ngàn viên đạn súng trường M.16 và súng đại liên M.60, bồi thêm bốn hay năm phát súng lục mà Thiếu úy Philip nhả ra một cách chính xác nữa.

Với số lượng đạn dược bắn ra như vậy thì Đại đội Bravo sau cùng cũng hạ được một tên bộ đội Bắc Việt. Xác hắn bị đồng bọn bỏ lại đằng sau. Chẳng rõ còn có tên nào trong số ba tên còn lại bị trúng đạn hay không, nhưng không thấy có vết máu để lại phía sau.

Chiều hôm đó, lúc Đại đội Bravo thiết lập vị trí phòng thủ ban đêm và các sĩ quan túm tụm lại tán dóc tại ban chỉ huy thì câu chuyện cuối cùng cũng lái về tên VC bị giết. Với gưong mặt tỉnh bơ, tuy không nhìn thẳng vào mặt George nhưng cố ý cho anh nghe được, Matt Dillon nói với Weiss và Sharples: “Hê, tụi bay có thấy thằng VC không? Nó có ba hay bốn viên súng lục .45 trong mình là cái chắc!” Tất cả đồng loạt quay đầu lại ngó George, các khuôn mặt nghiêm trang bấy giờ trở thành méo mó vì cố nhịn cười. George chắc chắn đã được nhập bọn rồi.

Ngoại trừ những lúc giỡn chơi và khôi hài, mọi chuyện bắt đầu với George là một giai đoạn hành quân liên tục mà không xảy ra biến cố gì quan trọng lắm, ít nhất là dưới khía cạnh tác chiến và chiến thuật đang ngày càng tiến bộ của anh. Đại đội Bravo có thể di chuyển chiến đấu tại những vùng có các địa thế khác nhau nhưng tựu chung đối với mọi người, một ngày trong rừng rậm là một cơ hội để họ có thể bị mất mạng hay bị thương. Các cuộc đụng độ với đối phương không khác nhau mấy. Mỗi lần đụng trận họ thường không thấy tận mắt kẻ địch đâu cả. Chiến tranh cứ thế mà diễn ra, ngày nào cũng như ngày nấy. Họ ra đi trong hai tuần, về lại để nghỉ vài ngày rồi lại đi tiếp. Cứ thế mãi, trừ phi họ tham gia vào một cái gì đó lớn hơn, một chiến dịch có “tên” đàng hoàng và trong trường hợp đó thì họ có thể ở lại lâu hơn. Không có ngày nghỉ cuối tuần, không có giờ hạnh phúc tan tầm, không có tiền lương giờ phụ trội. Suốt các tháng Năm, tháng Sáu, tháng Bẩy, tháng Tám qua đến tháng Chín chỉ là những chuỗi ngày chiến đấu vất vả. Giống như trường hợp các trinh sát của Ripley, cái ngày đánh dấu một tuần là ngày Chủ nhật khi tay thường vụ đại đội phân phát thuốc ngừa sốt rét.

Bưu tín và tin có thư là biến cố thật lớn và quan trọng. Các em gái Jody và Betsy của George rất siêng năng viết cho ông anh về mọi chuyện xảy ra trong gia đình, các vấn đề mà các cô thiếu nữ thường để tâm đến, và những lời khuyên theo lối dễ thương và ngây thơ của các cô gái mới lớn là ông anh ráng “núp cho kỹ vào.” Ngoài ra các cô cũng tiếp tế cho ông anh thật đầy đủ bánh sô-cô-la, cứ mỗi lần nhận được là chia hết cho mọi người và tiêu thụ lập tức.

Thư của George gởi về nhà thì kỹ lưỡng và vô thưởng vô phạt. Ông bố dượng Will Helmer rành sáu câu lắm rồi trong khi những người khác thì không cần thiết phải biết hết mọi chuyện. Mấy cô em còn quá trẻ và anh không muốn mẹ anh phải lo lắng vì chắc chắn bà sẽ đọc những lá thư đó và tìm mọi lý do để mà rầu rĩ.
Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM 16

cuoingonsam

richardbotkin
Chương 11
Lòng người ở nhà

Khóa Căn Bản Sĩ Quan Pháo Binh mà George Philip tham dự được hoàn tất vào đầu tháng 3 năm 1968 tại Ft. Sill. Cho đến ngày tốt nghiệp, anh được tin có thêm nhiều đồng đội đã tử trận tại Việt Nam, trong số đó có một Thiếu úy bộ binh, một người bạn vừa mới cùng đi chơi Giáng Sinh chung tại Disneyland. Người này đã bị thiệt mạng trong vòng một tuần khi mới đến Việt Nam.

George Philip bắt đầu tin rằng thần chết không chừa một ai cả và có lẽ bất cứ lúc nào anh trình diện Vùng I Chiến Thuật cũng sẽ không thiếu mục tiêu để chiến đấu. Do đó anh tận dụng hết tháng nghỉ phép được cấp cho các quân nhân trước khi họ lên đường xuất ngoại. Lời nhắn nhủ chia tay khôn ngoan tuy có vẻ tầm thường của cha kế anh lại hóa ra vô cùng sâu sắc và thấm thía: “Liệu mà cúi đầu cúi đít thấp xuống con ạ.”

Các tháng Hai, tháng Ba và tháng Tư là thời gian đã chứng kiến nhịp độ tăng mạnh của những sự kiện lớn và quan trọng, hầu hết có liên quan đến các vấn đề xung quanh cuộc chiến Việt Nam, tuy không phải là tất cả. Tin tức về chiến tranh đang tiếp diễn trong vùng Đông Nam Á được tường thuật trong các chương trình truyền thanh truyền hình hằng đêm và trên trang đầu của tất cả các tờ báo, chung với những câu chuyện về sự căng thẳng chủng tộc tại các thành phố lớn tại Mỹ cũng như sự bất mãn đang tăng dần của dư luận đối với chiến tranh nói chung, đặc biệt là tại các trường đại học trên toàn quốc. Quan điểm về chính trị đang biến chuyển một cách triệt để.

Những tổn thất nặng nề giáng lên phe Việt Cộng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng của họ, cùng với các thiệt hại của bộ đội Bắc Việt đã không làm hài lòng những người chỉ chăm chú vào số lượng kỷ lục của quân Mỹ bị chết và bị thương trong tháng Hai. Nếu cho đấy là chiến thắng, thì vinh quang này đã phải trả bằng một giá quá đắt. Trong ngày cuối cùng của tháng Hai, Robert Strange McNamara từ chức Bộ trưởng Quốc Phòng.

Mang nặng áp lực chính trị và lộ vẻ quan trọng hóa hơn là trên thực tế, các thông báo hằng đêm của Walter Cronkite càng lúc càng tỏ ra bi quan hơn. Được đánh bóng là con người đáng được tin cậy nhất của nước Mỹ, phần phát hình ngày 27 tháng Hai của ông gồm một loạt nhận xét sau chuyến đi Việt Nam mới nhất cùng với dự đoán riêng của ông là “hơn bao giờ hết cuộc chiến đẫm máu tại Việt Nam sẽ đi đến tình trạng bế tắc.” May phúc là sự đánh giá của Cronkite về những hoạt động tại Khe Sanh không được chiếu cho các TQLC đang chiến đấu tại đó xem, trong đó có lời tuyên bố: “Một cuộc đối đầu có lẽ đang xảy ra trong một trận đánh lớn ở phía Nam vùng phi-quân-sự. Khe Sanh có thể sẽ thất thủ với một sự tổn thất khủng khiếp về nhân mạng, uy tín và tinh thần của người Mỹ và đây là một thảm kịch cho sự ngoan cố của chúng ta tại nơi đó.” Người ta cho rằng Tổng thống Johnson đã bị bối rối một cách sâu sắc bởi các nhận xét của Cronkite và thú nhận với các cố vấn của ông rằng, “nếu tôi mất Cronkite, coi như là tôi đã mất nước Mỹ rồi.”

Trong khi đó thì sự kiện con tàu USS Pueblo vẫn chưa giải quyết xong. Thủy thủ đoàn bị tra tấn và hành hạ liên tục, còn khả năng của Hoa Kỳ nhằm đối phó lại sự việc thì tỏ ra quá yếu ớt và bất lực. Ngày 7 tháng Ba, một chiếc tiềm thủy đĩnh trang bị hỏa tiễn của Liên Xô với ký hiệu K-129 đã bị phát nổ một cách khó hiểu và chìm ở độ sâu mười ngàn bộ dưới mặt biển, cách Trân Châu Cảng khoảng 400 dặm về phía Bắc. Công chúng Hoa Kỳ, và thậm chí ngay cả dân Liên Xô cũng không biết sự kiện có một bộ phận chống tàu ngầm của Hoa Kỳ đã từng theo dõi chiếc K-129. Do đó các sự việc chung quanh vụ phát nổ và chìm tàu này chỉ làm phức tạp thêm mối quan hệ đang sa lầy giữa Liên Xô và Hoa Kỳ. Cùng lúc đó, sự căng thẳng giữa Trung Quốc và Liên Xô đã tăng dần lên mà Hoa Kỳ vẫn không lợi dụng được tình thế để rút tỉa ra một chút ít thắng thế nào trên chiến trường Việt Nam hoặc tranh thủ dư luận quốc tế.

Việc sử dụng có hiệu quả gián điệp và các phương tiện khác trong giới truyền thông ở nước ngoài đã khiến cho cơ quan KGB tiến hành công tác tung tin sai lạc hoặc bóp méo thông tin nhằm gây ra các thiệt hại lớn cho uy tín của người Mỹ. Một ví dụ cụ thể là việc ngụy tạo theo kiểu Liên Xô một bức thư và gởi đi từ Phòng Nghiên Cứu Hải Quân Hoa Kỳ nhằm “tiết lộ sự tồn tại (trên thực tế không hề có) của vũ khí vi trùng của người Mỹ tại Việt Nam và Thái Lan.” Tin nầy khởi đầu được đăng trên tờ Bombay Free Press Journal và sau đó được in trên tờ London Times trong số ngày 7 tháng 3. Những kẻ thù của nước Mỹ và thành phần phản chiến đã hoan hỉ đón nhận bản tin này và đều công nhận đó là một sự kiện có thật.

Thực trạng chính trường của người Mỹ ở trong nước đã trở thành đặc biệt cấp bách cho Tổng thống Lyndon Johnson. Trong lần tranh luận đầu tiên trong cuộc bầu cử sơ bộ giữa các ứng cử viên Tổng thống của đảng Dân Chủ tại New Hampshire, LBJ rất khó khăn mới qua mặt được ứng cử viên phản chiến mạnh mẽ Eugene McCarthy vào ngày 16 tháng Ba. Trong khi vị Tổng thống Dân Chủ đương nhiệm đang bị xuống dốc thì Thượng nghị sĩ Robert Kennedy của tiểu bang New York, người em trai đang lên của John Kennedy thông báo việc nhập cuộc đua của mình trong cùng ngày.

Ngày 25 tháng Ba, kết quả của một cuộc thăm dò do Harris tổ chức cho thấy rằng trong sáu tuần vừa qua sự ủng hộ căn bản của người Mỹ cho chiến tranh đã giảm từ 74% xuống còn 54%. Có tới 60% người khi được hỏi đã tin rằng cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân là một thất bại cho các mục tiêu của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á.

Ngay từ khởi đầu của sự dính líu quan trọng của Hoa Kỳ và từ lần trả đũa đầu tiên bằng không tập vào Bắc Việt Nam cuối năm 1964, các quyết định lúc nào thả bom, thả tại đâu và cường độ thả bom ra sao tại các mục tiêu trong lãnh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã được Tổng thống Johnson và nhóm cố vấn thân cận của ông sử dụng nhằm gởi một thông điệp lạ lùng nhưng rất rõ ràng cho Hồ Chí Minh và đám quần thần của hắn. Tuy nhiên vào tối ngày 31 tháng Ba, Tổng thống Johnson đã lên tiếng trước toàn dân trong một bài phát biểu táo bạo làm chấn động mọi người. Trong một nỗ lực chính thức tích cực nhất nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho Đông Nam Á, ông đơn phương tuyên bố ngưng tất cả các cuộc không tập nằm phía trên vĩ tuyến 20, tức một khu vực bao gồm 90% lãnh thổ của Bắc Việt. Bài diễn văn dài được kết thúc với sự kiện ông sẽ không ra tranh cử Tổng thống nữa, lấy cớ là ông chỉ muốn tập trung sức lực vào việc tìm kiếm hòa bình mà thôi.

Dù có giải thích cách nào đi chăng nữa về ý nghĩa của việc ngưng đánh bom này nhưng phe Cộng sản không màng đến các khái niệm “ngụy quân tử” về sự thành tín mà những người Mỹ ngây thơ có vẻ coi trọng quá đáng. Chính thức ngưng ném bom chỉ tạo cơ hội cho Cộng sản tái phối trí lại các nguồn lực ít ỏi của họ đến các nơi mà họ có thể sử dụng để giành thắng lợi.

Chuyện đã làm chấn động cho toàn đất nước và cả thế giới trong bài phát biểu của Tổng thống trước toàn dân vào ngày 31 tháng Ba đối với George Philip chẳng có gì là quan trọng cả. Anh không hề tán thành đường lối tiến hành chiến tranh của LBJ và chuyện Tổng thống có ra tái tranh cử hay không cũng không hề ảnh hưởng đến những chuyện mà George Philip đang sửa soạn phải dấn thân vào.

Ba ngày trước chuyến đi Việt Nam như đã dự định, vào ngày 4 tháng Tư, một tay sát thủ đã bắn chết thủ lĩnh Martin Luther King của phong trào nhân quyền tại Memphis, Tennessee. Trong vòng vài tiếng đồng hồ sau đó một cuộc nổi loạn đã được dấy lên khắp đất nước và chỉ vài ngày sau bạo lực và hỗn loạn đã bao trùm lên ít nhất là 60 thành phố tại Hoa Kỳ. Thủ đô nước Mỹ là một trong các thành phố bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Trong khi xem tin tức truyền hình và đợi chuyến bay trong phòng chờ thuộc căn cứ Không quân Travis để đi Okinawa là trạm chuyển tiếp vào Việt Nam, George Philip, hàng trăm TQLC và các thủy thủ khác cùng chuyến bay sang “The Rock” thấy những cảnh bạo lực rùng rợn được chiếu hết đoạn phim này đến đoạn phim khác, từ thành phố này qua thành phố khác. Điều trớ trêu là chính anh đang lên đường chiến đấu trong khi bà chị, hiện đang học hậu đại học tại trường đại học George Washington tại D.C. thì cũng đang sống trong một thành phố có chiến sự. Tuy nhiên bà chị Snow đã liên lạc được trước khi anh lên đường và báo cho anh yên tâm là Vệ Binh Quốc Gia đã ổn định được tình hình và anh không phải lo lắng gì cho chị ta. Đối với Thiếu úy TQLC Hoa Kỳ George Philip thì đây là một chuyện thật lạ lùng. Đấy chắc chắn không phải là quan niệm về chiến tranh của cha anh rồi.

Những điều kỳ lạ tiếp diễn càng lúc càng nhiều. Thời gian George Philip bỏ ra lang thang trong các tiệm nhẩy rẻ tiền và các quán ba tại Lawton, cái tỉnh nhỏ sát cạnh trại Ft. Sill ở Oklahoma, lúc anh đang học tại đó chẳng thấm thía gì đối với cái khoảng thời gian bốn ngày vào đầu tháng Tư từ khi anh đặt chân lên Okinawa để làm thủ tục chuyển vận đi Việt Nam và sau cùng là thật sự bay qua Đà Nẵng về hướng Nam.

Với George Philip, nếu Lawton hay Tijuana là miền tây hoang dã, thì Okinawa còn man rợ gấp hàng chục lần. Nếu anh chàng sĩ quan trẻ này mà bị buộc phải viết lại một bộ Cựu Ước mới, thì những hoạt động bên ngoài của mỗi doanh trại TQLC và căn cứ Không quân trên cái đảo tí hon đó phải được mô tả là những thành phố Sodom và Gomorrah tân thời. Nếu như mà các bà nội, bà ngoại, mẹ, các bà vợ, bạn gái, cô dì và bà dì ở Mỹ biết được những chuyện gì đã xảy ra…

Bị Hoa Kỳ chiếm đóng sau trận đánh đổ bộ cuối cùng của Thế Chiến Thứ Hai với một sự tổn thất khủng khiếp, đến năm 1968 đảo Okinawa vẫn còn thuộc quyền kiểm soát của người Mỹ và được sử dụng như một thành trì chiến tranh lạnh vùng Tây Thái Bình Dương. Binh đoàn TQLC và bộ Không Quân Hoa Kỳ đã đặt những căn cứ quan trọng khắp nơi trên hòn đảo. Với tất cả các hạ tầng cơ sở và phương tiện yểm trợ được phát triển tại chỗ cho Sư Đoàn 3 TQLC, đó là một nơi hợp lý nhất để dưỡng quân khi họ đến hay trở lại từ vùng Đông Nam Á. Vì vậy, Okinawa đầy rẫy các thanh niên trai tráng, hàng ngàn và hàng ngàn người trẻ tuổi sung sức và tràn đầy cảm xúc. Họ đến và đi, chung chạ với nhau. Một số thì lên đường chiến đấu, tin chắc là họ sẽ bỏ mạng hoặc ít nhất là trong một thời gian dài nữa sẽ không còn cơ hội chia sẻ các thú vui thừa mứa, rẻ tiền và có sẵn bất kỳ giờ giấc nào. Một số khác thì trên đường hồi hương, vừa trải qua những thời gian dài trong địa ngục thiếu vắng các điều vui thú nay cũng thừa mứa, rẻ như bèo và sẵn sàng bất cứ lúc nào.

Okinawa đồng thời vừa là một cơn ác mộng và vừa là một sự hoang tưởng, ồn ào và quái đản. Chữ Okinawa theo tiếng Nhật đáng lẽ phải có ý nghĩa là “đồi trụy.” Okinawa đẩy các cấp chỉ huy vào tình trạng khó xử. Nếu một quân nhân trên đường qua Việt Nam vi phạm kỷ luật, trễ giờ cấm trại buổi tối hay say sưa đánh nhau ngoài hàng quán thì xử làm sao với anh ta? Gửi trả về nước ư? Có thể nói rằng lý do mà hàng trăm TQLC đã không mất mạng trong những lần đánh lộn trong quán ba hoặc vì các chuyện khác, một phần không nhỏ là hoàn toàn do may mắn và tài năng của các cấp chỉ huy đơn vị nhỏ.

Thời gian lẽ ra chỉ cần một hay hai ngày nhưng đã được kéo dài đến bốn ngày. Dù vậy hầu hết các quân nhân đều không hề buồn phiền gì lắm khi phải chịu đựng khoảng thời gian chuyển tiếp kéo dài đến 96 tiếng đồng hồ trên hòn đảo The Rock vì tiếp sau đó chỉ là chiến trận mà thôi. Nếu ai đó chưa tỉnh rượu nổi khi đến giờ đáp chuyến bay xuôi về Nam thì cái khoảnh khắc vài tiếng đồng hồ đó có thể cho anh ta cơ hội để suy ngẫm về những gì sắp xảy đến với anh.

Tại Việt Nam, cách bán chính thức dùng để xác định giá trị của một cá nhân đối với đơn vị phần lớn dựa trên thời gian anh đã phục vụ trong quân ngũ. Lính mới, bất kể cấp bậc, thường bị nghi ngờ là chưa được thử lửa, chưa chứng tỏ được khả năng, và do đó có thể gây nguy hiểm cho mọi người. Những chữ như “Cherry,” “Boot,” “F-ing New Guy,” hay ngắn hơn như “FNG”, là những biệt danh mà không ai muốn bị gán cho, dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi.

Bộ máy hành chánh của binh đoàn TQLC lo chuyện điều động Thiếu úy George Philip từ điểm nhập cảnh đến tận cái mũi nhọn tuyến đầu hay một nơi khỉ ho cò gáy nào đó mà lính TQLC đang chiến đấu và cần đến tài năng của một sĩ quan pháo binh đã tỏ ra khá hữu hiệu sau ba năm chiến tranh liên tục. Điều này có nghĩa là George Philip có được vài ngày để lo thủ tục giấy tờ và làm quen với phong thổ ngay tại hậu phương Đà Nẵng. Anh được giúp giải quyết một số vấn đề về hành chánh và được phát quân phục thích hợp. Thời gian này cũng giúp anh làm quen với cái nóng và độ ẩm của Việt Nam. Anh cũng biết rằng bất kỳ anh đi đâu, cặp lon và bộ quân phục mới sẽ lộ cho mọi người thấy anh là lính mới, nhưng biết làm sao bây giờ?

Từ Đà Nẵng, toán sĩ quan pháo binh cùng đến với George tự túc đón một chuyến bay ngắn bằng C-130 đến Đông Hà ở hướng Bắc. Tại đây họ được phát thêm súng lục (sĩ quan được phát súng .45 khác với lính thường), áo giáp và những đồ trang bị khác để đi rừng. Từ đó, họ lên xe vận tải theo Quốc Lộ 9 hướng về căn cứ Carroll và Trung đoàn 12 Pháo Binh TQLC ở phía Đông. Trung đoàn pháo binh này yểm trợ cho Sư đoàn 3 TQLC. Chính những khẩu 175 ly của căn cứ Carroll đã bắn hàng ngàn trái đạn để bảo vệ căn cứ Khe Sanh và hiện vẫn còn hướng nòng về phía đó.

Viên Thiếu tá hành chánh mà họ phải đến trình diện tại Trung đoàn 12 TQLC là người thẩm định nhu cầu của binh đoàn làm thế nào để có thể được giải quyết tốt nhất trong việc bổ nhiệm các sĩ quan mới được tăng viện đến. Ông cầm trong tay xấp hồ sơ của mỗi người và điều này lại biểu lộ một lần nữa cái tính cách gia đình cục bộ của binh đoàn TQLC. Ông lướt qua các thông tin cá nhân của George Philip và khi đọc đến tờ “Thân nhân khi cần báo tin” viên Thiếu tá ngước lên khá ngạc nhiên: “Anh là con của Will Helmer hả?”
“Thưa Thiếu tá, đúng vậy.”

Họ trao đổi một vài câu bông đùa. Chỉ có vậy thôi. Một lúc sau, viên Thiếu tá tuyên bố: “Thiếu úy Philip, tôi thấy là anh còn độc thân. Tôi cho anh đi Khe Sanh.”

Như thể là độc thân hoặc có gia đình cũng là một việc quan trọng vậy, George Philip trả lời một cách sẵn sàng: “Vâng, thưa Thiếu tá.”
Quang cảnh từ trên cao trong suốt hành trình trực thăng đưa George Philip vào căn cứ tác chiến Khe Sanh trông giống một sự kết hợp hài hòa của phim “Địa Ngục Dante” và “Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh.” Lực lượng quân sự tại Khe Sanh đã giảm đi đáng kể khi George Philip được điều tới. Từ vị trí trên độ cao, anh chỉ có thể thấy được một vài Đại đội khinh binh, dàn trọng pháo của anh và các đơn vị yểm trợ lẻ tẻ đang giúp thu dọn đóng cửa căn cứ.

Quan sát từ trên không, George Philip thấy được toàn diện các hố bom rải rác khắp nơi làm loang lổ mặt đất, các lô cốt bị sụp đổ, các lớp bao cát bị tan rã và vô số các cuộn kẽm gai rào chung quanh chu vi căn cứ chằng chịt xen kẽ với các giao thông hào giờ đây hoang tàn do quân Bắc Việt đã đào bới tỉ mỉ khi họ tiến dần vào chu vi phòng thủ của TQLC cho mãi đến gần ngày cuối của trận bao vây. Anh cũng thấy xác một chiếc C-123 bị nám đen nằm bên cạnh phi đạo mà cả thế giới đã chứng kiến cả ngàn lần trong các bản tin buổi tối lúc nó đang bị cháy. Ngoài ra còn có đầy rẫy các vỏ đạn pháo binh khắp nơi và vô số các dấu tích chứng minh trận đánh vừa qua. Nếu không kể những khoảng xanh nằm thật xa của rừng rậm và đồi núi thì anh có cảm tưởng như đang xem một cuốn phim đen trắng về địa ngục trần gian hay cái phần tối của mặt trăng.

Những mảnh vụn của chiến trận nằm lăn lóc khắp nơi. Nổi bật và nhiều nhất là những chiếc dù tí hon và vỏ rỗng của hàng ngàn trái hỏa châu được pháo binh bắn lên hay do Không quân Hoa Kỳ thả xuống trong suốt tiến trình cuộc bao vây dài đằng đẵng. Những cái dù nhỏ này để lại các dấu chấm đầy mặt đất và nhiều cái còn xoắn xít hay quay mòng mòng như thể muốn bứt ra khỏi sức bám của Khe Sanh mỗi lần có cơn gió hiếm hoi thổi qua vùng.

Đỉnh đồi rộng lớn của căn cứ tác chiến Khe Sanh mà George Philip đã xem quá nhiều trong những đoạn phim thời sự hay hình ảnh, cũng như đã được nghe đến hoặc đọc qua quá nhiều về nó, giờ đây trông giống như một cái mỏ vàng bị bỏ hoang, một thành phố ma mà các thợ mỏ đã không còn chú ý đến nữa và đã bỏ đi nơi khác nhiều hứa hẹn hơn. Thật là “không giống ai” khi chiếc trực thăng CH-46 Sea Knight chỉ chở có một mình Thiếu úy Geroge Philip đáp vội xuống một vùng mà cách đây vài tuần lễ vẫn còn là trọng tâm của giới truyền thông báo chí trên toàn thế giới.

Trận đánh ở Khe Sanh đã chính thức kết thúc khoảng một tuần trước khi George đến. Sau này nhớ lại thì anh thấy đã sai lầm như thế nào khi nghĩ rằng, trong bao nhiêu điều anh hằng suy tư khi cuối cùng bước vào được cuộc chiến, là có lẽ anh đã lỡ mất cơ hội để chiến đấu vì đã đến quá trễ.

Pháo Đội Alpha, Tiểu đoàn 1 Pháo Binh thuộc Trung đoàn 13 PB/TQLC Hoa Kỳ được mọi người biết đến với cái tên là “Alpha 1/13” là đơn vị thuộc quyền điều động hành quân của Trung đoàn 12 TQLC. Alpha 1/13 là đơn vị pháo binh còn sót lại của căn cứ tác chiến Khe Sanh và đang cần một sĩ quan mới.

Chiếc CH-46 thả George Philip xuống bãi đáp gần vị trí đóng quân của Alpha 1/13 chỉ vừa đủ thời gian để anh chạy vội xuống cái bửng đã hạ sẵn với toàn bộ quân trang trên người. Tay cơ khí trưởng đã bắt đầu thủ tục kéo bửng lên lúc George Philip chưa kịp đặt chân xuống mặt đất cứng. Ngay cả lúc anh chưa ra khỏi phạm vi cánh quạt, hắn đã báo cho phi công bay đi ngay lập tức. Chỉ trong một khoảnh khắc, chiếc trực thăng, trông giống như một con cào cào khổng lồ bằng kim loại xứng đáng được dùng trong các loại phim rẻ tiền hạng B của thời đại 1950 với các màn thảm kịch hạt nhân, phụ nữ vú thỗn thện và những con côn trùng quái vật khổng lồ, đã bay ra khỏi vùng và chuồn nhanh ra khỏi Khe Sanh.

Một mình trên bãi đáp, Thiếu úy Philip nhận thấy sự yên tĩnh đến lạ kỳ, ngoại trừ tiếng trực thăng đang nhanh chóng xa dần và dấu hiệu của một cơn gió thoảng biểu lộ qua tiếng phành phạch nhẹ nhàng của những chiếc dù tí hon còn dính vào những vỏ hỏa châu và vướng vào hàng rào kẽm gai rải rác khắp nơi.

Sự tĩnh mịch biến đi một cách nhanh chóng. Trong phút chốc, rõ ràng là chuyến đi của anh đã được báo trước thành thử có một Binh nhất tên là Brown chạy ra bãi đáp. Brown là một tay TQLC da đen lực lưỡng. Anh để ngực trần, mặc một chiếc áo giáp buộc nút cẩn thận. “Chào mừng Thiếu úy đến Khe Sanh. Thiếu úy theo em ngay.” Binh nhất Brown thật là một chiến sĩ dày dặn kinh nghiệm, anh khuyên Geroge Philip: “Nếu Thiếu úy nghe thấy tiếng ầm ì thì đó là hỏa tiễn của bọn Cộng sản đấy. Thiếu úy hít đất ngay như em vậy. Nếu chúng ta gần lô cốt nào đó thì nhào xuống ngay.”

Tuy nhiên đoạn đường vài trăm mét từ bãi đáp đến hầm chỉ huy Tiểu đoàn 1/13 không bị ăn hỏa tiễn Cộng sản. Viên sĩ quan Pháo đội trưởng hiện đang ở Đông Hà. Sĩ quan Pháo đội phó nắm quyền chỉ huy, nhưng mọi công việc thường lệ, nhất là vì thời gian gần đây không có công tác bắn yểm trợ nào nữa, được giao cho tay TQLC trưng tập thâm niên đầy khả năng là Thượng sĩ nhất Bauerman. Sau Binh nhất Brown thì Thượng sĩ nhất Bauerman là người thứ hai Thiếu úy Philip gặp mặt khi đến đơn vị mới.

Thượng sĩ nhất Bauerman là mẫu người TQLC mà các sĩ quan trẻ tại trường TBS đã từng được nghe đến. Họ là những Hạ sĩ quan thâm niên công vụ, là cái xương sống, là khung sườn và hệ thần kinh của Mẹ TQLC. Họ cũng là kho tàng kiến thức của tập thể, là lớp trưởng lão TQLC thật sự nắm sức mạnh công lý trong tay. Được kính sợ và tôn sùng, kiêu hãnh và thường ăn nói bạt mạng, họ chính là chất dầu bôi trơn giữ cho binh đoàn TQLC luôn là một bộ máy chạy trơn tru, đồng thời duy trì các truyền thống thiêng liêng và tiêu chuẩn cao cho đơn vị.

Vào thời điểm này trong lịch sử của TQLC Hoa Kỳ, chuyện những chiến binh già này đã từng tham dự ba cuộc chiến tranh không phải là điều bất thường. Thượng sĩ nhất Bauerman hoàn toàn là mẫu người điển hình như vậy. Tại Iwo Jima anh là lính trơn, rồi cộng thêm thời gian phục vụ tại Triều Tiên, nay anh đã sắp kết thúc binh nghiệp ở Khe Sanh. Giữa những khoảng thời gian hòa bình mong manh, anh đã thực hiện và thấy hầu hết tất cả mọi thứ có thể làm và thấy được. Nói cách khác là đã tham dự trên “tất cả các vùng chiến thuật và khí hậu khác nhau…”

George Philip tỏ ra rất trọng vọng Thượng sĩ nhất Bauerman mặc dù bản thân anh cũng đã trưởng thành từ trong môi trường TQLC, mặc dù một trong những thằng bạn thời ấu thơ là con của Chesty Puller, mặc dù cha kế anh và tất cả những người mà Trung tá Helmer gần gũi đã từng phục vụ tại những địa danh mà ai đó dù không biết nhiều về quân sử Hoa Kỳ cũng phải biết đến.

Cho dù anh là con cưng của quân đội và biết bao nhiêu chuyện về binh đoàn TQLC có thể là mới lạ đối với các sĩ quan trẻ khác sống trong môi trường dân sự nhưng đó chỉ là bản chất thứ hai của anh, còn George Philip vẫn hết sức trân trọng Thượng sĩ Bauerman. Mẫu người như Bauerman được tôn sùng, đặc biệt bởi các TQLC mới nhập ngũ, mặt còn đầy mụn và vân vân…, đơn giản là vì họ xứng đáng được tôn thờ.

Khi anh đặt chân lên bãi đáp Khe Sanh, George Philip chỉ còn thiếu năm tháng nữa là được 24 tuổi. Đối với Thiếu úy Philip thì tay Thượng sĩ nhất của anh trông đã già dặn và lão luyện, kinh nghiệm và khôn ngoan lắm rồi. Vào ngày sinh nhật thứ 24 của Thượng sĩ nhất Bauerman thì có lẽ ông đã là cựu chiến binh của cuộc chiến thứ hai rồi. Bây giờ ngoài 40 tuổi, Bauerman thật sự là một con khủng long hay có vẻ như vậy đối với viên sĩ quan TQLC trẻ mới khởi đầu sự nghiệp.

George không thể nhớ nổi là có ai nhắc hay đã nghe đến tên thánh của Thượng sĩ nhất Bauerman khi nào. Với tư cách là quân nhân trưng tập cao cấp nhất của đơn vị, không ai có thể sánh bằng Bauerman. Anh làm việc cho đơn vị trưởng. Đối với các Thiếu úy thì anh có nhiệm vụ phải chịu đựng và hướng dẫn, còn đối với các binh sĩ thì anh vừa là người anh lớn vừa là cái “búa.” Tên anh thật sự chỉ là “Thượng sĩ nhất.” Đó là cái lề lối như vậy khắp binh đoàn TQLC trong từng đơn vị cấp Pháo đội hay Đại đội cũng vậy.

Trong khoảng một tuần lễ sau khi Thiếu úy Philip được bổ nhiệm về Pháo đội Alpha 1/13 tại Khe Sanh thì đơn vị anh chỉ được lệnh tác xạ một đôi lần. Đến cuối tháng Tư thì Pháo đội của anh cùng với vài Đại đội bộ binh và đơn vị công binh chiến đấu nhập thành một đoàn công voa khá lớn triệt thoái ra khỏi khu vực. Cảm giác của George lúc đó là căn cứ tác chiến Khe Sanh đã bị bỏ rơi. Anh nhìn thấy tận mắt công binh chiến đấu cho phá nổ và ủi sập tất cả những gì có giá trị để khi quân Bắc Việt trở lại đó thì chẳng còn gì chúng có thể sử dụng được.

Đoàn vận tải đi theo Quốc Lộ 9 từ Khe Sanh theo hướng đông đến tận Đông Hà, ngang qua căn cứ Cà Lũ – một căn cứ vừa mới được xây dựng bởi các đơn vị công binh được mọi người biết đến với cái tên “Bãi đáp Stud,” vượt qua căn cứ Rockpile, căn cứ Carroll, và Cam Lộ. Những địa danh này là các nơi mà chỉ trong vài tuần trước đây, chuyện các chiếc xe đi trên đường bị địch quân phục kích và đụng độ gần như là chắc chắn như chuyện sương mù buổi sáng tại Vùng I Chiến Thuật. Bộ đội Bắc Việt, theo tin tình báo cho biết thì có lẽ hầu hết đã rút về Lào để củng cố lực lượng và tái trang bị thành thử hành trình của đoàn công voa không bị vấn đề gì. Ngay lúc này thì Quốc Lộ 9 chỉ là một con đường tiêu điều, đầy gió hú, gập ghềnh ở giữa vùng hoang vu và có nhiệm vụ nối một vài chấm địa danh rải rác lại với nhau.

Tại Đông Hà, cuối cùng George đã được giao nhiệm vụ cụ thể mà anh hằng mong muốn. Anh được chỉ định làm sĩ quan đề-lô cho Đại đội Bravo, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 26 TQLC – B 1/26. Anh thay thế sĩ quan đề-lô cũ của Đại đội đã tử trận một vài tuần trước đó.

Trong cuộc bao vây tại Khe Sanh, B 1/26 là một trong những Đại đội bộ binh TQLC hứng chịu những trận đánh khốc liệt nhất. Thường là trong lúc cực điểm giao tranh họ giáng cho kẻ thù những tổn thất nặng nề nhưng đồng thời họ cũng chịu thiệt hại nghiêm trọng. Cho đến khi Tiểu đoàn 1/26 rút ra khỏi Khe Sanh thì các TQLC sống sót của các Đại đội trực thuộc đều đã trở thành các chiến binh tinh khôn và được tôi luyện ngoài chiến trường rồi

CƯỠI NGỌN SẤM (15)

cuoingonsamChương 10
richardbotkin

Tổng tấn công Tết Mậu Thân: Trận chiến mở màn

Nếu Hoa Kỳ còn cân nhắc việc sử dụng sức mạnh quân sự để giải cứu thủy thủ đoàn của tàu USS Pueblo hay giản dị hơn là trừng phạt Bắc Triều Tiên, thì các cuộc tấn công trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu vào sáng sớm 31 tháng 1 (1968) chắc chắn đã buộc Washington phải chú ý trở lại vùng Đông Nam Á và chứng tỏ các giới hạn hay sự miễn cưỡng của họ trong việc sử dụng các giải pháp theo lối chiến tranh qui ước nhằm giải quyết nhiều cuộc khủng hoảng xảy ra trong cùng một lúc.

Thật khó để có thể đánh giá hết được sự thiêng liêng về Tết của hầu hết người Việt Nam. Tết là một lễ hội có tính cách tôn giáo từ lâu đời, bắt nguồn từ Đạo Phật và bao trùm mọi tầng lớp người Việt, giống như Giáng Sinh đối với hầu hết người Mỹ thế tục. Nếu khái niệm Giáng Sinh được dùng để người dân Mỹ thường hiểu được thì Tết của người Việt được xem là tổng hợp ý nghĩa của các lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, Tạ Ơn, và còn hơn thế nữa đối với những người đón Tết.

Nặng về văn hóa hơn là tôn giáo, việc đón mừng Ngày Đầu Năm Âm Lịch là một lễ hội truyền thống được tổ chức khắp mọi nơi thuộc Á Châu. Tuy nhiên, Tết là tập tục đặc biệt của người Việt và được đón chào bởi toàn dân Việt bất kể là tín hữu Phật Giáo, con chiên Công Giáo hay bất kỳ ai khác. Ngay cả đối với Việt Cộng, mặc dù sau một thời gian coi nhẹ trong 10 năm trời, truyền thống Tết có vẻ như đã thấm nhập vào ngay cả chủ nghĩa Cộng Sản.

Bắc Việt và Việt Cộng đã sử dụng những phương tiện khó tin nhằm lên kế hoạch, sửa soạn tiếp liệu và điều động các cánh quân vào vị trí sẵn sàng tấn công ở các mặt trận không sao kể siết trên cả nước vào dịp Tết Nguyên Đán. Dựa trên tính qui mô của kế hoạch và sự áp đảo bất ngờ, những người vẽ kế hoạch của Hà Nội đã hy vọng rằng cùng với sự hiện diện của tám chục nghìn quân giải phóng đủ để kích động người dân Miền Nam đang chịu nô lệ đứng lên chống lại chính phủ mà họ cho là bù nhìn do Mỹ dựng lên và chào đón những người anh em phía Bắc như là những người được quyền thừa kế hay là người mang ngọn đuốc dẫn đường cho chủ nghĩa dân tộc Việt Nam.

Dựa vào hoạt động của địch quân tại Khe Sanh, các tay phân tích tình báo Mỹ tin rằng sắp có nhiều trận chiến trên quy mô rộng lớn hơn đang được chuẩn bị. Cùng với việc ngưng bắn gần kề trong dịp Tết, Tướng Westmoreland đã được mật tin về chuyện này. Do đó ông đặt tất cả các lực lượng Hoa Kỳ trong tình trạng báo động toàn diện chỉ một ngày trước khi kỳ nghỉ Tết bắt đầu. Vì lý do nào đó, Tướng Westmoreland đã không chia sẻ thông tin tình báo với người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hòa.

Đối với hầu hết người Việt Nam, Tết âm lịch được tổ chức trong suốt một tuần và được chuẩn bị thật trang trọng trong mọi gia đình. Tết cũng là dịp để người Việt thực hiện những tập tục cổ truyền, thể hiện niềm tin cho sự may mắn. Trước Tết, họ lau chùi nhà cửa, khi quét dọn, họ sẽ quét từ ngoài vào trong để chắc chắn rằng tất cả các điều tốt lành phải được ở lại trong gia đình, họ chuẩn bị thật nhiều những món ăn đặc biệt hầu có đủ để thết đãi bạn bè, bà con, những người chắc chắn sẽ đến để chúc tụng, tặng quà cho nhau trong dịp Tết cổ truyền.

Đối với người dân thường, ngay cả trong thời chiến, họ vẫn có thể tự do vui chơi với gia đình suốt cả một tuần lễ hội. Trong khi đó thì các quân nhân trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nếu không thuộc 50% quân số cấm trại, cũng chính thức được nghỉ bốn ngày phép để về nhà đón Tết với gia đình. Những người ở lại trong đơn vị, nếu không trực tiếp tác chiến, thì cũng có thể được thoải mái một phần nào để đón Tết.

Hầu hết trẻ em Việt Nam và nhiều người lớn đi ngủ vào buổi tối ngày 30 tháng 1 (1968) với cả niềm an lạc, chờ đón năm mới Mậu Thân với bao hy vọng ngọt ngào giống như ký ức rộn ràng về buổi chiều trước Giáng Sinh. Ngay cả tiếng súng hay các tiếng nổ lớn trừ khi quá gần, họ vẫn nghĩ rằng âm thanh của pháo giao thừa đang báo hiệu niềm hạnh phúc và tin mừng xuân đến.

Thực tế rất kinh hoàng, hàng loạt những cuộc tấn công mở màn cho đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân vào sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968 đã hết sức liều lĩnh và tàn bạo. Đột nhiên không biết từ đâu Cộng sản xuất hiện khắp nơi ở toàn Miền Nam đồng loạt tàn phá các thành phố thị trấn, làng mạc của Miền Nam Việt Nam.

Để mở màn cho trận Tết Mậu Thân, Cộng Sản đã tấn công vào ba mươi chín căn cứ quân sự, bốn mươi bốn tỉnh lỵ, sáu mươi bốn quận lỵ, một số lớn làng mạc, gần như tất cả sân bay, căn cứ của đồng minh và các cơ sở, đồn bót quan trọng của Miền Nam Việt Nam. Ở Sài Gòn họ tấn công vào tòa đại sứ Mỹ, dinh Tổng thống, Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân, sân bay Tân Sơn Nhất, bộ chỉ huy Hải quân VNCH, và đài phát thanh Sài Gòn. Chỉ trong vài ngày đầu tiên, các thành phố Huế, Đà Lạt, Kontum, và Quảng Trị đã bị cộng quân tàn phá. Cũng tương tự như những gì người Nhật đã thực hiện vào ngày 7 tháng 12 năm 1941 khi bất ngờ mở cuộc tấn công xuyên Thái Bình Dương vào Trân Châu Cảng, Mã Lai Á, Hồng Kông, Guam, Phi Luật Tân, và đảo Wake. Chỉ khác ở điều là Cộng quân đã thực hiện các cuộc tấn công trong lúc đang tiến hành một cuộc chiến.

Mặc dù xảy ra trên cùng một đất nước, trong lúc này trận chiến đã hoàn toàn khác hẳn. Trước kia Miền Nam phải đánh nhau với kẻ thù luôn lẩn tránh trong những vùng hầu hết là thôn quê hẻo lánh hay địa thế rừng núi hiểm trở thì giờ đây Cộng quân cải trang như dân thường tập trung tấn công vào ngay các vùng đô thị trong những tình huống thuộc chiến tranh qui ước.

Chỉ vài giờ sau khi tình thế bị bất ngờ ban đầu đã được cải thiện, lực lượng Nam Việt Nam và quân đội Mỹ đã tái phối trí và bắt đầu phản công để nắm lại thế chủ động ngoài chiến trường. Thương vong phe ta khá cao, đặc biệt là các thường dân vô tội. Phía Cộng quân thì còn cao hơn nữa, rất cao.

Tình trạng hỗn loạn ban đầu của cuộc tổng tấn công Tết đã là đề tài hấp dẫn cho báo chí. Trận đánh tại Tòa Đại Sứ Mỹ đặc biệt được chú ý. Mặc dù toán đặc công 19 tên phá nổ bờ tường để xâm nhập vào Tòa Đại Sứ đã bị giết hết chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, khán giả truyền hình Hoa Kỳ đã có cái cảm giác sai lầm rằng Việt cộng đã hoàn toàn kiểm soát Tòa Đại Sứ cũng như các cơ sở then chốt khác trong khắp cả nước.

Mặc dù cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân chỉ là một loạt các cuộc tấn công mang tính qui ước của Cộng sản, tạo điều kiện cho lực lượng đồng minh có dịp may bằng vàng để phát hiện, tiếp cận và tiêu diệt một kẻ thù lâu nay vẫn né tránh giao tranh với lợi thế hỏa lực của Hoa Kỳ, giới truyền thông bị ảnh hưởng bởi sự bất ngờ và cường độ của trận đánh vẫn tiếp tục đưa tin tức có lợi cho kẻ thù.

Gần như ngay từ đầu, các sự kiện có vẻ như thoát ra khỏi tầm kiểm soát nếu nhìn theo khía cạnh của hệ thống truyền thông. Đối với những người phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ, thì những hình ảnh ghê gớm nhất của cuộc chiến Việt Nam cho đến cuối năm 1967 chỉ thể hiện qua sự kiện tự thiêu của các nhà sư để phản đối các tệ nạn của chế độ Ngô Ðình Diệm đã được lan truyền một vài năm trước đó. Giờ đây mọi chuyện thay đổi hẳn.

Đối với đại đa số người dân Việt Nam, đặc biệt là những người sống tại các thị xã và thành phố lớn, cho đến thời điểm các trận tấn công ngày 31 tháng 1 năm 1968, chiến tranh hay khủng bố là một cái gì đó mà họ phần lớn chỉ đọc được trên báo hay được nghe lại từ một ai đó. Điều này giờ đây đã thay đổi hoàn toàn. Truyền thông phương Tây ghi nhận sự cố tình và tính chất toàn diện về các cuộc tấn công của Cộng quân. Máu người vô tội và cả du kích Cộng quân ngụy trang như dân thường bắt đầu đổ ra trên các đường phố thương mại trước kia rất sầm uất của Sài Gòn.

Ngày 01 tháng Hai, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố thiết quân luật và các lực lượng hỗn hợp Việt Mỹ đã kiểm soát lại được phi trường Tân Sơn Nhất.

Bây giờ, phóng viên báo chí có dịp dễ dàng hơn để quan sát các lực lượng Hoa Kỳ và Quân lực VNCH phản công lại kẻ thù. Trong thế chiến II, tại Iwo Jima, Joe Rosenthal đã chụp lại được vĩnh viễn cái giây phút sau này trở thành biểu tượng hào hùng của đơn vị Thủy Quân Lục Chiến lúc họ dựng cái lá cờ lịch sử trên đỉnh Suribachi. Những gì nhiếp ảnh gia của hãng thông tấn Associated Press, Eddie Adams, đã ghi lại về hành động của Tướng Nguyễn Ngọc Loan ngày 1 tháng 2 năm 1968, đã không cho các lực lượng Nam Việt Nam cái phút huy hoàng như Joe Rosenthal đã làm. Mặc dù họ cũng tử chiến dưới lằn đạn của kẻ thù tàn bạo và hiếu chiến tựa như quân Nhật núp trong các hang động tại Iwo Jima.

Khoảng cuối năm 1967, Tướng Nguyễn Ngọc Loan được chọn để nhận nhiệm vụ Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Vốn nổi tiếng thông minh, gan dạ, đầy khả năng và thanh liêm, viên tướng xuất thân là phi công được cầm quân nơi tuyến đầu. Từng có nhiều kinh nghiệm ngoài chiến trường cả trên không lẫn dưới đất, trong buổi sáng ngày 1 tháng Hai, tướng Loan lại đích thân xuất hiện trên đường phố Sài Gòn, lần này tại Chợ Lớn để điều binh khiển tướng.

Cảnh sát và quân đội VNCH đã phối hợp tác chiến chống lại lực lượng Cộng Sản, đa số cải trang như thường dân hoặc thậm chí giả làm nhân viên cảnh sát trà trộn vào vào đám đông bất hạnh và hoảng loạn. Bắt quả tang một tên Đại úy VC giả dạng như thường dân đã tàn sát gia đình một sĩ quan cảnh sát cùng với vợ và ba đứa con nhỏ, tướng Loan mang tên Cộng sản này ra xử ngay tại chỗ. Chiếu theo điều luật là thành phần đặc công và khủng bố không được hưởng các quyền lợi theo như thông lệ tù binh chiến tranh được hưởng, và sau khi chắc chắn về tội ác của hắn, tướng Loan đã hành động theo lẽ thông thường chấp nhận được ngoài mặt trận là hành quyết tên Việt Cộng ngay tại chỗ.

Thật không may cho Tướng Loan và chính quyền Miền Nam, bức hình sau này đoạt giải thưởng Pulitzer chụp được cái thực tế khủng khiếp của tên cán bộ Việt Cộng bị bắn vỡ sọ, văng óc ra ngoài một bên đầu đã được tung ra mà không có lời mào đầu hay giải thích rõ ràng. Cái nhân vật mà trước đó không lâu đã sát hại không thương tiếc cả một gia đình đã bỗng nhiên trở thành nạn nhân vô tội của một đám đông cuồng sát một cách sai lầm. Thêm vào bức hình bất động của Eddie Adams, một đoàn làm phim khác cũng ghi được toàn cảnh cuộc hành quyết. Không có lời bình kèm theo nhằm giải thích sự việc đã xảy ra tại chỗ. Điều này làm tăng thêm nhận thức không chính xác về hành động của Tướng Loan. Với tấm hình và đoạn phim được phát hành và chiếu đi chiếu lại trên thế giới Tự Do lẫn Cộng Sản, tướng Loan lập tức trở thành nhân vật điển hình cho tất cả những điều thối nát và quái quỷ của chính phủ bù nhìn do Hoa Kỳ dựng lên.

Với tấm hình đăng trên trang nhất của các tờ báo khắp nơi trên thế giới và đoạn phim cảnh xử án chiếu lệ được chiếu đi chiếu lại đến phát ngấy, tướng Loan vẫn chỉ huy thuộc cấp trong các trận đánh cận chiến tàn bạo trong từng căn nhà trong vùng đô thị và bị những vết thương nghiêm trọng có thể đi đến việc phải cưa mất một chân.

Huế

Trận đánh tại Huế diễn ra chậm rãi hơn. Gần Hà Nội hơn là Sài Gòn, cái thành phố mang một ý nghĩa lịch sử và văn hóa quan trọng đối với tất cả người Việt Nam này lâu nay đã tránh không bị những tác động lớn trong cuộc chiến Việt Nam. Trong nhóm lãnh tụ Cộng sản thì Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh (trước khi mang tên là Hồ Chí Minh) đều đã từng theo học tại ngôi trường Trung học ưu tú Quốc Học nằm trong trung tâm của thành phố. Điều lạ lùng và trớ trêu là chính ông Ngô Đình Diệm cũng là môt trong những cựu học sinh xuất thân từ trường này ra.

Trong những ngày đầu cûa trận đánh, từ bốn ngàn đến sáu ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em bất hạnh đã bị Cộng sản và bọn cán bộ kết tội là phản động hay thân chính quyền VNCH bắn giết, đánh đập bằng gậy gộc, đâm chết bằng lưỡi lê trước khi bị đem chôn tập thể, trong số đó có người bị chôn sống. Giới truyền thông Hoa Kỳ không hề chú ý đến sự kiện này. Nếu như có ai ở Hollywood, Berkeley, Madison hay Ann Arbor có nhỏ ít giọt lệ cho những nạn nhân này thì giới báo chí không hề biết đến.

Trận chiến đánh vào thành phố Huế, khởi đầu một ngày sau khi đợt tổng tấn công Tết đã nổ ra ở khắp miền Nam Việt Nam đặc biệt hết sức đẫm máu và kéo dài, đó là chưa kể đến các hành động tàn bạo của đám Cộng quân hung ác. Quân đội Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng đã quyết định điều động 14 tiểu đoàn bộ binh vào trận chiến kéo dài hai mươi bảy ngày đêm mà kết quả có khoảng 85 phần trăm trong số 6.000 bộ đội Cộng Sản tham gia trận chiến đã bị giết ngay trên trận địa. Khoảng 400 lính Việt Nam Cộng Hòa cùng với 147 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bị chết trong trận đánh nầy.

Ở Khe Sanh, cuộc vây hãm kéo dài 77 ngày đêm khốc liệt. Sự kiên cường của TQLC cộng với hỏa lực Hoa Kỳ liên tục và gần như vô tận đã đánh tan các sư đoàn Bắc Việt dàn hàng ngang để tấn công họ. Nếu kể cả những người thiệt mạng khi một chiếc C-123 bị bắn rớt trên phi đạo Khe Sanh vào ngày 6 tháng 3 thì tổng cộng có 248 quân nhân trong lực lượng phòng thủ bị tử thương trong một chiến dịch mà TQLC Hoa Kỳ mệnh danh là chiến dịch Scotland. Trong khi đó, rất khó để xác định được số lượng chính xác về thiệt hại của đối phương trong cùng thời gian, nhưng tình báo đã ước lượng có khoảng 10.000 tới 15.000 quân Bắc Việt đã bỏ mạng tại Khe Sanh và các vùng phụ cận.

Trận vây hãm Khe Sanh, được giới quân sự và báo chí ghi nhận lại là Chiến dịch Scotland và kéo dài 77 ngày đã không thật sự kết thúc sau 11 tuần lễ. Tiếp sau đó là các chiến dịch Pegasus và Scotland II được tiến hành gần như là song song và cuộc chiến kép dài thêm vài tháng nữa với các đơn vị chủ lực của bộ binh và TQLC Hoa Kỳ. Trong lúc các đơn vị còn sống sót của Bắc Việt phân tán nhỏ ra để rút chạy về nơi trú ẩn của họ tại Lào thì các hoạt động tại Khe Sanh và vùng phụ cận từ từ lắng xuống để rơi vào một sự bình yên vô lý, giống như cả hai bên cuối cùng đã chẳng còn thiết tha gì nữa.

Những nỗ lực trên bộ và trên không đã gây thiệt hại lớn cho quân đội Bắc Việt. Tuy nhiên mặc dù với các pháo đài bay B-52 không kích suốt ngày đêm, lực lượng Hoa Kỳ cũng không thể tiêu diệt nổi các vị trí trọng pháo nằm sâu trong các hang động của rặng núi Cơ Rốc về phía Tây của căn cứ hỏa lực, ngay sát bên trong biên giới Lào. Qua các cuộc tranh luận bất tận sau này thì rất khó mà kết luận rằng mặt trận Khe Sanh là một thủ đoạn chiến thuật được nghiên cứu kỹ lưỡng của kẻ thù nhằm đánh lạc hướng các trận đánh Tết hay chỉ đơn thuần là một nỗ lực tạo ra một chiến thắng Điên Biên Phủ thứ hai chống quân đội Hoa Kỳ, hay là cả hai mục đích một lúc.

Ngoại trừ chiến trận tại Khe Sanh và Huế, các cuộc tấn công ồ ạt của cộng quân vào dịp Tết đã bị đánh bại trong vòng hai tuần. Tổng số thương vong của dân thường miền Nam, QLVNCH và quân đội Hoa Kỳ đã đạt những mức độ cao chưa từng thấy trong cuộc chiến Việt Nam nhưng với sự ước lượng tổn thất của Cộng sản vào khoảng từ 45 tới 50 ngàn bị giết và hàng ngàn tù binh bị bắt sống, giới quân sự Hoa Kỳ cũng như giới lãnh đạo chính trị và quân sự Việt Nam Cộng Hòa đã tuyên bố các loạt hành động vừa qua là một chiến thắng lớn cho phe đồng minh.

Chiến trận trải dọc theo các vùng nông thôn và rừng rậm của miền Nam Việt Nam vẫn tiếp tục. Mặc dù đạt được yếu tố bất ngờ, các lực lượng Cộng sản đã thất bại thê thảm trong mục tiêu kích động người miền Nam đứng lên đồng loạt, để chống lại Mỹ và “ngụy quân.” Vả lại, Quân lực VNCH thường giữ vững được trận tuyến; và với sự yểm trợ tối đa của lực lượng Hoa Kỳ, họ đã tiêu diệt các hạ tầng cơ sở của Việt Cộng nay đã bị lộ ở khắp các địa phương. Thêm vào các thiệt hại, bản chất dối trá và lọc lừa của Cộng sản lần đầu tiên bị mọi người nhận xét và trải nghiệm đã là nguyên nhân tạo ra một cao trào của những thanh niên nay tình nguyện phục vụ Tổ Quốc. Binh chủng TQLC Việt Nam cũng được lợi nhiều từ cái tâm lý của dân miền Nam tương tự như sự kiện Trân Châu Cảng đối với người Mỹ.

Ngoài chuyện đếm xác ngoài mặt trận, tính chất tàn bạo khủng khiếp của cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân đã không được khán giả Mỹ tán thành mấy khi họ ngồi xem truyền hình trong các bản tin buổi tối. Trong khi tướng Westmoreland muốn có thêm quân đội để truy kích sâu vào lãnh thổ Lào hay ngay cả vùng phía nam của Bắc Việt nhằm đánh một đòn chí mạng hầu kết thúc cuộc chiến, một yêu cầu đã bị từ khước, thì cuộc tấn công của Cộng sản đã thành công làm một cuộc “đảo chánh” lớn về tuyên truyền đối với dư luận Mỹ mà chính viên bại tướng Võ Nguyên Giáp cũng không thể nào mơ nổi.

Những tên cướp biển Crimson

Lúc Đại đội I của Sói Biển được giao trách nhiệm bảo vệ cầu Bình Lợi thì Lê Bá Bình đã phục vụ trong TQLC gần sáu năm trời và đã có thừa kinh nghiệm chiến trận nhiều hơn là anh tưởng. Đại đội anh đã thuần thục trong những chuyện như tuần tra, phục kích, vượt rừng, lội ruộng, khám xét làng mạc, và gần đây nữa là địa hình thành thị. Họ có thể đổ bộ vào đất liền hay nhảy bằng trực thăng như những tay chuyên nghiệp dày dạn. Tuy vậy, vẫn còn vài chuyện họ chưa bao giờ thực hiện.

Sài Gòn và các khu vực phụ cận được bao quanh bởi nhiều sông, rạch và cửa sông. Có hàng chục cây cầu huyết mạch cho việc giao thông trật tự và buôn bán thường lệ. Thường thì việc mất đi một cây cầu sẽ gây trở ngại cho thành phố và cả nước tuy không phải là một đòn trí mạng. Hầu hết mọi nơi và trong đa số các trường hợp nếu có một chiếc cầu nào đó bị phá hủy thì đều có thể tìm được một con đường vòng khác.

Cầu Bình Lợi là một kiến trúc chắc chắn sẽ gây chú ý cho kẻ thù chuyên nhắm vào tấn công và phá hủy các mục tiêu có giá trị về chiến lược. Đó là một cây cầu sắt then chốt cho tuyến xe hỏa vẫn còn chạy giữa Sài Gòn và Huế. Do đó công tác bảo vệ cầu hết sức quan trọng về cả hai mặt tiếp vận và tâm lý. Với các nhịp cầu bắc qua nhánh sông Đồng Nai đổ vào sông Sài Gòn, cầu Bình Lợi chỉ cách phi đạo Tân Sơn Nhất không đầy năm cây số về phía Đông. Căn nhà của bố mẹ Bình ở Tân Bình cũng chỉ nằm trong tầm súng cối về phía Tây Nam nơi mà anh đang hành quân.

Khởi thủy được vẽ kiểu bởi người Pháp và xây dựng bởi nhân công Việt Nam, chiếc cầu dài hơn 300 mét chưa kể đoạn đầu cầu. Tuy được xây dựng để chịu đựng một trọng tải nhỏ hơn đường theo kiểu Mỹ, cầu cũng đủ chỗ tương đương cho một lằn đường được sử dụng hầu hết bởi người bộ hành và xe đạp, nhưng càng ngày càng được nhiều xe cộ trọng tải nhẹ dùng hơn. Công tác bảo vệ cầu một cách thích hợp, do bởi kích thước khá dài và độ uốn cong nhẹ của giòng sông, đã phải đòi hỏi sự huy động cả ba Đại đội của Tiểu đoàn 3 TQLC và tăng cường thêm một Đại đội luôn luôn ở vị thế trừ bị nữa.

Các sĩ quan cao và trung cấp của Quân lực VNCH và TQLC Việt Nam tin rằng vào giai đoạn cuối của cuộc công kích Tết Mậu Thân này, kẻ thù đã không còn đủ nguồn nhân lực ở địa phương để mở bất kỳ cuộc tấn công qui ước nào trên cầu Bình Lợi nữa. Tuy vậy, vẫn không loại trừ khả năng những tên khủng bố và đặc công lén vào để phá sập cầu với hy vọng phá hủy con đường thương mại huyết mạch quan trọng nầy.

Điều trớ trêu cho Lê Bá Bình là trải qua gần hai ngàn ngày chiến đấu và quá trình huấn luyện tốn kém tại Quantico, cái ý tưởng cuối cùng đưa đến chuyện cứu cây cầu Bình Lợi khỏi bị phá hủy không bắt nguồn từ những cuốn sách hay bài giảng quân sự mà từ các định luật về vật lý mà anh đã thấy áp dụng một cách hời hợt trong một cuốn phim hạng bét chẳng ai nhớ đến do Burt Lancaster đóng vào đầu thập niên 1950.

Trong thời gian dẫn đến tổng công kích Tết Mậu Thân và trước khi được điều về bảo vệ cầu Bình Lợi, Tiểu đoàn 3 TQLC đã từng đóng góp một phần không nhỏ trong các cuộc hành quân. Trong những thành tích được ca ngợi nhất là cuộc hành quân hỗn hợp vào tháng 7/1967 trong đồng bằng sông Cửu Long cùng với Tiểu đoàn 4 TQLC, được biết đến như là Tiểu đoàn “Kình Ngư” và Sư đoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ. Chính thức mệnh danh là chiến dịch Coronado II, các lực lượng VNCH và Hoa Kỳ đã chiến đấu trong nhiều ngày chống lại một số lực lượng đối đầu quan trọng của Cộng sản.

Trong lúc cuộc chiến đang diễn tiến thì viên sĩ quan cao cấp của Hoa Kỳ, Trung tướng Fred Weyand đã bay vào mặt trận để khuyên bộ chỉ huy của hai Tiểu đoàn TQLC Việt Nam nên rút ra, không nên trực diện với kẻ thù để hỏa lực không quân Mỹ đạt hiệu quả hơn. Câu trả lời chung của TQLC Việt Nam là nếu triệt thoái ra sẽ tạo cơ hội cho đối phương tẩu thoát. Thay vào đó, cả hai Tiểu đoàn trưởng đã ra lệnh cho lính của họ tấn công thẳng vào vị trí của Việt Cộng. Số kẻ thù bị giết trong trận giao tranh đó tổng cộng lên tới 145 người.

Những tay TQLC Việt Nam này khác hẳn đa số các đơn vị VNCH khác. Họ biết chiến đấu. Trên thực tế họ rất hào hứng khi được đánh nhau. Họ không bao giờ lùi bước trước một cuộc giao tranh. Tinh thần chiến đấu và khả năng của cấp chỉ huy TQLC cuối cùng đã được người Mỹ biết đến, ra đến cả ngoài cái nhóm nhỏ các sĩ quan TQLC Hoa Kỳ luân phiên làm cố vấn cho họ trong nhiều năm qua.

Trước Tết thì toàn bộ Tiểu đoàn Sói Biển, trừ vài người đã được cấp phép nghỉ Tết, được bố trí đến Vĩnh Lộc. Đây là một vùng làng mạc buồn tẻ, bằng phẳng, thoáng và dân cư tương đối thưa thớt nằm vào khoảng bẩy cây số về hướng Tây Tây Nam của sân bay Tân Sơn Nhất. Nhờ địa hình bằng phẳng nên đây là một chỗ lý tưởng để đối phương bắn hỏa tiễn và bích kích pháo vào sân bay. Do đó Việt cộng thường chơi bẩn bằng cách thỉnh thoảng lén lút trà trộn vào khu vực nầy để bắn vài ba loạt đạn nhằm làm gián đoạn hoạt động của sân bay. Bộ Tư Lệnh TQLC đã quyết định thường xuyên phái một Tiểu đoàn luân lưu về Vĩnh Lộc, nếu như có Tiểu đoàn TQLC nào đóng quân gần đó và đang ở tình trạng bất khiển dụng. Vào cuối tháng Giêng 1968 thì Tiểu đoàn Sói Biển đang trong tình trạng như vậy nên được nhận nhiệm vụ đó.

Nhờ đã quen với địa hình nên Tiểu đoàn trưởng bố trí cẩn thận bốn Đại đội trải rộng trên một khu vực vài cây số vuông nhằm tăng cường tối đa sự hiện diện và hỏa lực cơ hữu của đơn vị. Mục đích chuyện này là để ngăn Việt Cộng mưu toan bất cứ điều gì, ít nhất là khi Tiểu đoàn còn đó. Vào chiều ngày 30 tháng Giêng năm 1968, tất cả các Đại đội của Tiểu đoàn 3 đều có mặt ở trong và chung quanh Vĩnh Lộc và họ cũng đang chờ đón bình minh của năm con Khỉ.

Khi đất trời, kể cả Sài Gòn và vùng phụ cận, nổ tung trong khói lửa của địa ngục trong những giờ đầu của ngày 31 tháng Giêng 1968 thì Tiểu đoàn 3 TQLC vẫn hoàn toàn kiểm soát Vĩnh Lộc. Cách trận đánh gần nhất khoảng năm cây số, các quân nhân đều đã thức và sẵn sàng trong tư thế chiến đấu trước khi bình minh ló dạng. Ngay tại Vĩnh Lộc thì yên tĩnh một cách kỳ lạ. Thay vì cố gắng bắn súng cối từ các khu vực chung quanh thì Việt Cộng đã tấn công toàn lực thẳng vào Tân Sơn Nhất và hàng chục các vị trí khác có vẻ như là đồng loạt một lúc.

Tin tức và thông tin chính xác ở cấp độ lính tráng trong những giờ sớm sủa của ngày đầu tiên chiến trận mới này không được rõ ràng. Tại khu vực bộ chỉ huy nhỏ bé của Tiểu đoàn, các nhân viên truyền tin bù đầu liên lạc với các đơn vị khác. Những điều nghe được ban đầu không phấn khởi chút nào cũng như không tạo được niềm tin cho mọi người. Mối quan tâm chính đáng của các sĩ quan và lính tráng là lo lắng cho gia đình, hầu hết ở Sài Gòn hay sống trong căn cứ TQLC tại Thủ Đức gần đó. Người bình thường có thể sẽ bỏ trốn về nhà để tìm cách giúp đỡ, nhất là Thủ Đức cũng không xa nơi đó bao nhiêu. Tuy nhiên không hề có chuyện bất tuân thượng cấp. Họ là lính TQLC. Họ cương quyết với nhiệm vụ được giao là canh phòng Vĩnh Lộc nhưng khao khát được xung phong để trả thù kẻ thù giờ đây đang tập trung và táo tợn.

Trong vòng 24 tiếng đồng hồ đầu tiên của cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, những người lính của Tiểu đoàn Sói Biển chủ yếu là án binh bất động, tình hình chiến sự có vẻ như bỏ qua họ. Thỉnh thoảng chỉ có một vài loạt đạn súng cối bắn vu vơ vào khu vực họ và không gây thương vong nào cả. Sau cùng thì Tiểu đoàn được giải tỏa lệnh phòng thủ Vĩnh Lộc khi có một Chi đội thiết giáp M-48 Hoa Kỳ đến thay thế các vị trí của họ.

Từ Vĩnh Lộc họ lập tức được điều động vào trung tâm Sài Gòn. Tại đây, mỗi đại đội của Tiểu đoàn được phối hợp với lực lượng địa phương và thành phần cảnh sát quốc gia, hành quân tích cực vào các khu vực tương đương với quận hạt hành chánh Việt Nam.

Bình và Đại Đội 1 được phái đến hoạt động tại Quận Nhất tại phía Nam trung tâm Sài Gòn, không xa hơn ba cây số nhà của bố mẹ anh. Lực lượng địa phương nắm vững tình hình thành thị hơn thành thử TQLC được sử dụng hầu hết là đóng chốt và vây kín các khu vực lại trong khi cảnh sát đi vào từng căn nhà và các tòa kiến trúc để lùa kẻ thù ra.

Qua giây phút ban đầu bị bất ngờ, các lực lượng địa phương đã nhanh chóng nắm lại thế chủ động chiến đấu. Thật dễ dàng để nhận diện ra kẻ xấu. Với làn da nhợt nhạt trắng hơn so với người miền Nam mà họ đến để “giải phóng,” những người miền Bắc lạc lõng lại thường ăn mặc khác thường đủ cho họ dễ bị nhận ra là mục tiêu. Nhiều tên Việt Cộng cải trang khá kỹ nhưng lại mang những thứ như các tấm khăn quàng cổ quá lộ liễu làm lộ nguyên hình ngay lập tức. Nhiều tên khác thì chạy lên chạy xuống đeo AK-47 là dấu hiệu chắc chắn để thành mục tiêu đáng giá. Trong vài trường hợp, nếu không phải là trong lúc đang giao chiến thì có thể là tức cười nữa. Nhiều tên Việt Cộng chạy lăng quăng làm như mỗi đứa đang đeo một cái tấm bảng thật lớn “Bắn tôi đi.” Các lực lượng địa phương và lính Sói Biển đã hăng say bắn chết những tên quỷ đỏ này.

Ngoài việc Việt Cộng rõ ràng là thiếu hiểu biết về phong hóa của Sài Gòn, quân phòng thủ còn được hỗ trợ bởi chính quyền địa phương đã khoá lại hầu như tất cả các ngõ hẻm và đường kiệt hẹp dẫn vào hoặc ra khỏi mỗi một khu phố nhỏ trong thành phố. 15 năm trước đó, Bình và đứa em tên An cùng tất cả bạn bè cũng đã từng phòng thủ địa bàn trong trò chơi chiến tranh bằng cách đóng lại chính các ngõ ngách này, bây giờ đã được khóa chặt để ngăn chận những kẻ xâm nhập thực thụ không lọt vào được. Hầu hết thường dân nằm trong nhà và đóng chặt cửa để đối phó với các bạo động bên ngoài đã lan tràn qua nhiều khu vực rồi. Bởi chính sự hiện diện của họ ngoài đường phố và không tìm được nơi trú ẩn, nhất là trong tình hình giới nghiêm đã khiến quân khủng bố Việt Cộng buộc phải đi vào vùng tử địa của Cảnh sát Sài Gòn, của lính VNCH và TQLC tràn lòng căm thù và giận dữ.

Cộng với việc khóa chặt hoàn toàn từng vùng khu phố rộng lớn, hàng ngàn căn nhà và cơ sở buôn bán tại Sài Gòn cũng đóng chặt ngăn không cho bên ngoài dễ dàng len vào. Sự an toàn còn được củng cố thêm bởi một quyết định nhanh chóng của tướng Loan. Nhờ ông đã thả dàn phân phát cho thường dân ngay trong những ngày đầu của các cuộc tổng tấn công một số lượng lớn vũ khí nhẹ và đạn dược, bọn Việt Cộng rất ngán chuyện phải chui vào nhà dân để trốn tránh sự truy lùng của lực lượng Cảnh sát và quân đội VNCH. Tổ chức nhân dân võ trang mới của thành phố Sài Gòn mà bản chất là một lực lượng nội bộ đáng kể đã làm nên sự khác biệt trong công việc phòng thủ thành phố. Quyết định của chính quyền phát sinh từ nhu cầu thực tế khi giao việc tự vệ cho chính các công dân của mình đã chứng tỏ là một quyết định khôn ngoan. Điều này chắc không bao giờ được thử nghiệm tại miền Bắc. Ý thức tự lực tự cường bắt nguồn từ quyết định đó đã phát triển và giúp rất nhiều vào việc vãn hồi bình yên và trật tự.

Trong suốt thời gian chiến trận trong thành phố, Bình không dám mạo hiểm về thăm bố mẹ mặc dù nhà chỉ cách một khoảng đi bộ. Trong khi một tỉ lệ lớn quân tấn công và khủng bố là người miền Bắc và dễ dàng bị nhận diện ra, mọi người cũng biết là có một số gián điệp địa phương và kẻ phản bội đã giúp đỡ kẻ thù. Nếu có ai đó có thể chỉ điểm cho Cộng sản rằng Bình là một Đại úy TQLC và thấy anh về thăm cha mẹ, gia đình thì anh có thể thành mục tiêu của bọn Việt Cộng chỉ biết khủng bố dân lành, nhất là những người mà chúng cho là chống đối kịch liệt với “Cách mạng.” Bình phải chờ một vài tuần trước khi có thể thực sự về nhà. Trong lúc chờ đợi, anh chỉ có thể liên lạc với gia đình qua những người trung gian.

Sau một thời gian vài ngày tại Quận Nhất và cả thành phố Sài Gòn, lực lượng địa phương, Cảnh sát Quốc gia và các đơn vị quân đội VNCH tiếp tục tái chiếm lại những vùng trước kia nằm trong tay kẻ thù và tiễu trừ dần các ổ kháng cự. Sau tuần lễ thứ nhất, thành phố đã đủ an toàn để khỏi bị nạn khủng bố, và Tiểu đoàn 3 được điều về giữ một vai trò chiến lược hơn trong công tác phòng thủ cầu Bình Lợi.

Có lẽ vì hàng chục và hàng chục cuốn phim mà anh đã từng xem trong các rạp xi-nê đông đúc tại Tân Định cũng như trong các vùng lân cận đã quá xa rời thực tế tại Việt Nam cho nên chỉ có một con người nhạy cảm như Lê Bá Bình mới nhớ nổi từng chi tiết một cách kỳ lạ tất cả các tình tiết và câu chuyện của những cuốn phim hay cũng như dở mà anh đã thích thú theo dõi, bây giờ tưởng chừng như đã xa xưa lắm rồi.

Nhằm luôn luôn ở tình trạng sẵn sàng, mỗi Đại đội của Tiểu đoàn 3 được luân chuyển từng vùng được chỉ định trong công việc bảo vệ cầu Bình Lợi. Một Đại đội được trấn ngay trên cầu và vùng tiếp giáp cầu. Đại đội thứ hai thì đóng vị trí tại bờ Sài Gòn của giòng sông và Đại đội thứ ba chịu trách nhiệm bờ bên kia. Còn Đại đội thứ tư thì được Tiểu đoàn trưởng giữ lại làm dự phòng trong trường hợp một trong ba Đại đội kia cần tăng viện hay để đáp ứng tình huống bất ngờ nào đó. Hiểm họa có thật và mọi TQLC đều trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Đại úy Bình rất kỹ lưỡng trong công việc được giao phó. Mỗi ngày và nhiều lần trong ngày anh đích thân tuần tra địa hình mà Đại đội của anh chịu trách nhiệm. Anh nắm rõ địa thế chung quanh, những nét đặc biệt của bờ sông trong vùng anh phụ trách, từng khúc uốn quanh của giòng sông, biết con nước chảy và chỗ nào có nước xoáy. Nơi nào anh không đích thân kiểm tra được thì anh quan sát cặn kẽ bằng thị giác. Bản thân anh và các chiến sĩ Đại đội 1 luôn luôn canh chừng cẩn mật, chú ý đến các dấu hiệu có thể hé lộ kẻ thù có thể mưu toan phá cầu như thế nào.

Giống như một tay thám tử khảo sát hiện trường tội ác để tìm dấu vết, Bình để ý đến tất cả những điều hiển nhiên cũng như khó nhận ra, tìm những sự thay đổi khác thường có thể báo hiệu có điều gì đó không ổn. Anh biết kẻ thù rất xảo quyệt và bọn Việt Cộng có khả năng sử dụng các phương tiện hạn hẹp để tạo sức tấn công lớn. Qua cường độ và mức tinh quái mà cuộc tổng công kích đã chứng minh, cũng như việc cố tình vi phạm một cách trắng trợn sự linh thiêng của truyền thống Tết, tất cả những điều này đã chứng tỏ là không có một chuyện gì mà bọn quỷ đỏ không dám làm.

Vào khoảng vài trăm thước phía Đông và hạ lưu của cây cầu, trong hàng ngàn chuyện phải quan sát thì Bình thấy có hai cái thùng nằm trên một cái bến đã hai ngày nay rồi. Ngày thứ ba khi anh đưa ống nhòm lên mắt để quan sát lần đầu tiên trong buổi sáng thì anh thấy mọi việc vẫn y nguyên như chiều hôm trước, chỉ trừ chuyện là hai cái thùng đã biến mất.

Không hiểu vì lý do gì, anh nhớ lại một cảnh từ bộ phim cũ “Những tên cướp biển Crimson” của Burt Lancaster. Trong đoạn phim đó, Lancaster cùng hai diễn viên phụ đã khôi hài sử dụng không khí tích trong một cái thuyền bị lật ngược để thoát khỏi một tình huống xấu mà không bị phát hiện. Nếu một chiếc ghe bị lật ngược có đủ dưỡng khí để các tay anh hùng xi-nê có thể tẩu thoát ngon lành dưới nước thì Bình tự nhủ liệu kẻ thù địa phương có thể nào sử dụng cái ý tưởng tương tự với hai cái thùng giờ đây đã biến mất? Có khi nào bọn Việt Cộng đã đặt chúng vào chân cầu dưới mặt nước và dùng nguyên tắc như vậy để đặt chất nổ?

Sự kiện hai cái thùng biến mất đã làm viên Đại úy trẻ lo lắng đủ để anh ra lệnh thuộc hạ đi tìm và mượn về một cái máy phát điện từ một cửa hàng tại địa phương. Trong vòng một tiếng đồng hồ, TQLC của Đại đội 1 đã mang về một cái máy phát điện lớn nhất chạy bằng xăng mà họ có thể tìm được. Một tiếng đồng hồ nữa thì họ chạy máy phát điện và châm giây điện xuống giòng nước lặng lờ chảy ngay dưới chân cầu Bình Lợi. Lính của Bình cho nổ máy điện từng chập vài phút đồng hồ như là một biện pháp phòng thủ chống lại những mưu toan đánh sập cầu. Một vài TQLC nghĩ rằng chuyện này thật điên khùng. “Cái ông Đại úy Bình này định làm cái trò gì vậy?”

Vậy mà thành công. Sáng sớm hôm sau, xác chết tươi của hai tên người nhái Việt Cộng cùng với một khối lượng lớn chất nổ đã được một Đại đội khác của Tiểu đoàn 3 TQLC phát hiện vào khoảng vài trăm thước ở mé sông phía dưới trong đám cỏ cao. Xác của hai tên này không hề có vết đạn hay vết đâm, chẳng có gì cả. Cả hai rõ ràng bị chết đuối trong khi âm mưu giật sập cầu Bình Lợi. Chiều cùng ngày, người nhái của chính Tiểu đoàn 3 lặn xuống dưới chân cầu và tìm ra những cái thùng tương tự như những cái bị biến mất mà Bình đã thấy. Những cái thùng này được cột chặt vào chân cầu ngay dưới mặt nước giống như Bình đã tưởng tượng ra vậy.

Dù đang giữa tình huống chém giết và điên cuồng, Bình cũng phải bật cười. Đám lính TQLC của anh thì rất hả hê. Trong bộ phim đời thật của Lê Bá Bình, không có Burt Lancaster, anh đã tinh ranh hơn và thắng được những tên cướp biển Crimson thật ngoài ít nhất là lần này và trong màn này.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM14

cuoingonsam
richardbotkin

Chương 9

1968: Khởi đầu của một đoạn kết

Tháng Giêng 1968 là tháng thứ 34 mà Hoa Kỳ đã tiến hành các trận địa chiến lớn tại Việt Nam. Dùng kinh nghiệm “đắc ý” của Thế Chiến Thứ Hai làm tiêu chuẩn thì chẳng thấy có dấu hiệu gì đáng kể ngoại trừ một vài lời khẳng định của Tổng thống Johnson và các giới chức cao cấp quân sự Hoa Kỳ rằng đang có những tiến bộ để tiến dần đến chiến thắng.

Đến tháng thứ 34 kể từ khi nước Mỹ tham chiến vào Thế Chiến Thứ Hai thì đã có một loạt chiến thắng và thành tựu liên tục mà dân chúng trong nước có thể theo dõi được diễn tiến trên những tấm bản đồ của National Geographic. Trên mặt trận Thái Bình Dương, các chiến công đẫm máu của Hoa Kỳ tại các địa danh như Midway, Guadalcanal, Tarawa, Guam và Philippines cho thấy đế quốc Nhật Bản đang bị thu hẹp dần.

Đến tháng thứ 34 của sự can dự của Hoa Kỳ trong Thế Chiến Thứ Hai, trên địa bàn Âu Châu, Đức Quốc Xã đã bị đánh đuổi ra khỏi Bắc Phi và Phát Xít Ý đã bị loại ra khỏi cuộc chiến. Quân đội Đồng Minh đã vượt qua các đầu cầu trên bãi biển D-Day, giải phóng được thủ đô Paris và tiến dần đến Berlin. Trong khi đó, quân Liên Sô đang tiến đều từ phía Đông. Stalin, Churchill và Roosevelt đã công khai bàn bạc về một thế giới hậu chiến rồi. Dân Mỹ lúc đó vẫn quyết tâm chịu đựng nhưng ít nhất họ cũng cảm thấy là chiến thắng đã thấp thoáng đâu đó nơi một chân trời đang mở ra.

Đến tháng thứ 34 của sự tham chiến của Hoa Kỳ vào Thế Chiến Thứ Hai thì người Mỹ đã được uốn nắn đến nơi đến chốn và họ đồng tình tham gia vào nỗ lực chiến tranh chung. Với 12 triệu người, nam và nữ tại ngũ trong một dân số 140 triệu người thì ít có gia đình nào mà không có người con, người chồng, cháu hay bà con đang phục vụ trong quân ngũ. Nhu cầu về kinh tế để yểm trợ toàn bộ chiến tranh hầu như bảo đảm là mặc dù một gia đình nào đó không có người thân hay bạn hữu mặc quân phục thì họ cũng phải dính dáng bằng cách nào đó đến chiến tranh, hay có ảnh hưởng đáng kể qua chức vụ dân sự của họ.

Về mặt văn hóa thì đến tháng thứ 34 của Thế Chiến Thứ Hai, người Mỹ đã quen dần với các tin tức hàng tuần liệt kê các thành tích của quân đội Đồng Minh gặt hái được trên địa bàn quốc tế. Họ cũng quen thuộc với lối diễn xuất của các tài tử anh hùng “lá cải,” những người trên thực tế không hề thực sự tham gia chiến tranh nhưng biết diễn tả kẻ thù xảo quyệt trong các cuốn phim như Corregidor, Fighting Seabees, Air Force, Guadalcanal Diary, Wake Island, Behind the Rising Sun, Five Graves to Cairo, Destination Tokyo, and Foreign Correspondent. Có phim coi được nhưng cũng có phim chẳng hay ho gì lắm.

Vào tháng Giêng năm 1968, âm nhạc cũng không còn giống như trước nữa, có thể nói là tiến hóa lên hay thoái hóa xuống tùy theo sự nhận thức của mỗi người. “Rum & Coca Cola” nay trở thành “Purple Haze” và “Eight Miles High.” Sự ngọt ngào và tính chân thật của những nhạc phẩm như “Don’t Sit Under the Apple Tree” và “The White Cliffs of Dover” đã biến thể thành sự phi lý và hỗn loạn trong “White Rabbit” và tiếp theo đó là những thể loại như “The Fish Cheer.” Từ những giọng hát của Andrews Sisters và Dinah Shore, bước nhảy vọt qua dục tính sống sượng của Grace Lick, còn Janis Joplin không nói lên được sự toàn vẹn, lòng quyết tâm hay niềm tin vào chiến thắng như người ta vẫn thường thấy nữa.

Ngay cả nếu dùng cuộc chiến Triều Tiên vừa qua để làm thước đo cho sự tiến bộ cũng không thấy điều gì khả quan hết. Ngoài sự kiện là cuộc chiến tại Việt Nam cho tới nay không làm thiệt mạng nhiều hơn so với chiến tranh Triều Tiên và không kéo theo sự tham dự trực tiếp của Liên Bang Sô Viết và Trung Cộng – ít nhất là trên mặt chính thức – thì cho đến tháng thứ 34 của các cuộc giao tranh lớn tại bán đảo Triều Tiên, một hòa ước đã gần được ký kết rồi.

Khởi đầu năm 1968 tại Hoa Kỳ, chính phủ vẫn chưa cần phát hành công khố phiếu, chưa cần phải tận dụng phế liệu kim loại, dân chúng chưa cần phải nhịn ăn thịt các ngày thứ Ba, cũng như chưa phải hạn chế xăng dầu và đường ăn. Người công nhân Hoa kỳ bình thường chưa phải sàn xuất bom đạn hay tàu chiến. Cũng không có hiện tượng phải “giữ mồm giữ miệng” và mẫu người “em gái hậu phương” cũng chưa cần phải xuất hiện để ủng hộ chiến tranh. So sánh với thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai mà mức chịu đựng và hy sinh chung đã khiến cho cứ 12 người dân Mỹ thì một người phải mặc quân phục và có lẽ một nửa số này phải phục vụ đâu đó ở hải ngoại, thì trong thời điểm chiến tranh Việt Nam đang xảy ra có lẽ chỉ có 1/100 phải phục vụ trong quân đội và 1/400 đồn trú tại Đông Nam Á. Vào cuối thập niên 60 nếu một gia đình nào đó không có con em, chồng hay bạn hữu trực tiếp phục vụ tại Việt Nam, và nếu người đó không thật sự tham dự vào các trận chiến trong rừng rậm thì sự liên quan của Hoa Kỳ là cả một sự bực mình cho đến phiền nhiễu, một điều gì đó làm họ khó chịu cho tới khi bản tin buổi chiều trên đài truyền hình chấm dứt và chương trình chuyển qua các phim tập như Batman, Dragnet, Laugh-In và The Monkees.

Đánh dấu mốc thời gian

Đến lúc Gerry Turley, John Ripley, Chuck Goggin và hàng trăm ngàn chiến binh Hoa Kỳ khác đã hoàn tất chu kỳ nhiệm vụ thứ nhất của họ, thường cũng là lần cuối, và nhiệm kỳ của Thiếu úy George Philip, tốt nghiệp khóa 1967 trường huấn luyện Hải Quân Hoa Kỳ khởi đầu thì Đại úy Lê Bá Bình vẫn còn đang thi hành công vụ một cách vô hạn định.

Binh lính Hoa Kỳ trên khắp bốn Vùng Chiến Thuật thường sốt ruột đếm từng ngày thời gian còn lại của họ tại Việt Nam. Khi một người nào đó chỉ còn 90 ngày hay ít hơn thì được gọi là “lùn xủn,” hoặc “chú lùn hai số.” Nếu chỉ còn ít hơn 10 ngày thì thành “lùn tè” và được mệnh danh là “chú lùn một số.” Tại Đại đội Lima, các trinh sát của Ripley có một truyền thống riêng và John Ripley phát cho mỗi người một bộ bài cào khi họ chỉ còn 52 ngày còn lại của nhiệm kỳ. Ngoại trừ con ách bích được dành cho ngày cuối cùng, mỗi ngày họ rút ra cầu âu một quân bài để đánh dấu mốc thời gian. May rủi trong ngày đến với anh ta tùy thuộc vào lá bài anh rút. Một cách nữa để biết thời gian là ngày Chủ nhật khi người thường vụ phân phát cho mọi người thuốc ngừa sốt rét để uống.

Đối với Lê Bá Bình, các lính tráng của Đại đội Sói Biển, và cả binh chủng TQLC VNCH thì không có chuyện mai hậu, không có bóng chày hay tóm lại chẳng cái gì để mà mong chờ. Trên thực tế thì họ còn vợ con, cha mẹ, bạn gái hay gia đình vẫn luôn chờ đó nhưng đó là chuyện bình thường và họ cũng không ở đâu xa xôi gì cho cam. Người Việt không có viễn ảnh nào to tát để mà suy tư. Trong khi các mưu toan về chiến lược và dàn xếp của Hoa Kỳ trải dài khắp địa cầu từ Á sang Âu và cả các đại dương nằm ở giữa, trong khi nước Mỹ nắm trong tay các ưu điểm về nhân sự và kỹ nghệ để yểm trợ trách nhiệm của họ khắp mọi nơi, thì Việt Nam chỉ là một phần nhỏ trong số đó – tuy là trách nhiệm đẫm máu nhất vào lúc này – nhưng vẫn chỉ là một trong những quân cờ đô-mi-nô cần phải yểm trợ mà thôi. Đối với người Việt thì chiến tranh chống Cộng sản là một cuộc chiến toàn diện. Vậy thôi, chẳng có gì để phải cân nhắc cả.

Giới quân sự Hoa Kỳ rất sáng suốt trong quyết định là khi một chiến binh bị thương ba lần trong một kỳ công vụ mà vẫn còn sống sót thì tốt nhất là cho anh ta về nhà. Không nên để họ đánh đu với thần chết làm chi nữa và cũng chẳng nên đòi hỏi gì thêm ở một người đã cống hiến nhiều như vậy. Trong khi đó thì đến tháng Giêng 1968, Đại úy Lê Bá Bình đã bị thương năm lần từ lúc ra trường vào năm 1962. Nhưng đất nước anh không có cái xa hoa hay dư thừa nhân sự để cho anh giải ngũ được.

Cũng vào khoảng tháng Giêng năm 1968 thì số người Mỹ bắt đầu đặt câu hỏi liệu Hoa Kỳ có nên quyết tâm theo đuổi chính sách của mình hay không tăng dần lên sau khi TT Kennedy hứa là sẽ “trả bằng bất cứ mọi giá và nhận lãnh mọi trách nhiệm…” Họ cảm thấy những thành quả đạt được quá ít so với cái giá về nhân mạng và vật chất đã bỏ ra, thành thử lối suy nghĩ như vậy có vẻ không hợp lý. Đối với các thanh niên Mỹ trong lứa tuổi từ 18 đến 25 thì viễn tượng đi chiến đấu và chết cho một cuộc chiến không phải của họ ngay từ khởi đầu đã không có sức hấp dẫn gì lắm.

Dư luận Hoa Kỳ có thể tha hồ tranh cãi hoặc tỏ ý phản chiến với nhau một cách lịch sự hay bất lịch sự cũng chẳng sao cả. Hiểm họa trực tiếp của quân Bắc Việt hay Việt Cộng chẳng nghĩa lý gì đối với Hollywood, Berkeley, Madison hay Ann Arbor. Tuy nhiên đối với những người Việt Nam không muốn sống dưới ách Cộng sản thì họ không có sự chọn lựa nào khác. Hiểm họa Cộng sản đối với họ rất cụ thể và ngay sát bên hông. Tất cả các biến cố ngoài nước Việt Nam chỉ làm họ bận tâm khi nào chúng có tác động đến khả năng và sự quyết tâm của Hoa Kỳ nhằm yểm trợ và tiếp viện cho họ để bảo vệ nền Tự do.

Bối cảnh dẫn đến Khe Sanh và Tết Mậu Thân 1968

Cho dù có mặt tại chỗ hay không, nhưng sau một thời gian, các phóng viên tường thuật về Việt Nam đã để lại cho độc giả và khán giả truyền hình cái cảm tưởng là suốt chiều dài đất nước Việt Nam chỗ nào cũng chằng chịt đường hầm và nơi trú ẩn an toàn của kẻ thù. Cán bộ Việt Cộng thì ngụy trang khéo léo và kiểm soát hoàn toàn vùng rừng rậm để rình rập tấn công vào các xóm làng và thành thị. Cảm giác chung của mọi người là không có ai và nơi nào được an toàn cả. Điều này không đúng sự thật.

Bỏ sự tuyên truyền của cộng sản và báo chí Tây phương ­– thường là tàn nhẫn và làm mất cảm tình – sang một bên, nền dân chủ non trẻ của nước Việt Nam Cộng Hòa mới được thành lập còn đang phôi thai, vào năm 1966, đã cho thấy sự tiến bộ thực sự và có hứa hẹn. So với những nhân vật nắm quyền trước đây của thực dân sau Thế Chiến thứ II ở Âu châu và sự khó khăn vô vàn để giữ vững giềng mối qua những thay đổi trong chính phủ mà người Pháp đã trải qua, tình hình ở Việt Nam, nếu được xét theo một tiêu chuẩn tương tự, không đến nỗi nguy kịch khủng khiếp.

Tiếp theo sau chuyện loại bỏ Ngô Đình Diệm năm 1963 rồi những cuộc đảo chánh và chống đảo chánh liên tiếp nhau, sau khi Nguyễn Cao Kỳ trở thành thủ tướng, một sự ổn định ngoài mặt đã được thành lập, cho dù quốc gia đang còn trong tình trạng chiến tranh. Vào năm 1966, 85 phần trăm công dân đủ điều kiện để bỏ phiếu đã thực sự cố gắng đi bầu.

Tổng tuyển cử toàn quốc tại Việt Nam được tổ chức vào tháng Mười Một năm 1967 và sự trong sạch trong cuộc bầu cử nói chung là một phép lạ không nhỏ. Trong khi giới truyền thông Hoa Kỳ và Âu Châu vội vàng kêu lên là các ứng cử viên có khuynh hướng thiên cộng (với mục tiêu lật đổ các chính quyền không cộng sản bằng bạo lực) không được phép ra tranh cử, hàng chục phái đoàn tôn giáo và chính trị bàng quan được gởi đến với tính cách quan sát viên cũng không tìm ra một sự gian lận nào cả. Đúng là Nguyễn Văn Thiệu đã thắng như người ta dự kiến, nhưng sự kiện ông ta chỉ thắng với tỉ lệ 35% cử tri đi bầu đã vô hiệu hóa lời cáo buộc của Cộng sản là cuộc bầu cử đã có sự sắp xếp trước. Đối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) thì chẳng bao giờ có tự do phát biểu chính kiến như vậy cả.

Tại hậu phương Hoa Kỳ, có rất nhiều người vẫn còn trông mong vào sự thắng lợi và tin vào những lời của những kẻ lạc quan và bè phái muôn thuở về chính trị. Tướng Westmoreland, sĩ quan cao cấp nhất tại Việt Nam trong một buổi nói chuyện tại Washington DC cho Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia vào ngày 21 tháng 11 năm 1967, khi đả động đến Năm Mới sắp đến, đã tiếp tục đưa ra một sự nhận định khả quan được mọi người ghi nhận. Ông phát biểu: “Đoạn kết đã bắt đầu trông thấy được rồi.” Ông cũng xác định thêm là trong vòng non hai năm nữa thì người Mỹ sẽ trao lại một phần lớn gánh nặng cho Quân lực VNCH.

Bài phát biểu của Tổng Thống Johnson trong dịp báo cáo tình hình quốc dân đầu tháng Giêng 1968 hết sức cương quyết và dứt khoát. Ngay lúc bắt đầu trình bày về Việt Nam ông nhận định:

“Kể từ lần tôi báo cáo với quý vị vào tháng Giêng năm ngoái, ba cuộc bầu cử đã được tiến hành tại Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh và dưới mối đe dọa liên tục của bạo lực. Một Tổng Thống, một Phó Tổng Thống, Thượng Viện, Hạ Viện và các viên chức làng xã đã được tuyển chọn bằng một cuộc bầu cử toàn dân trong sạch. Kẻ thù đã bị đánh bại liên tiếp từ mặt trận này qua mặt trận khác. Số lượng người dân miền Nam Việt Nam được sinh sống trong sự bảo vệ của chính phủ đã tăng lên tính đến chiều nay, là hơn một triệu kể từ tháng Giêng năm ngoái.

Đây toàn là những dấu hiệu của sự tiến bộ. Nhưng: kẻ thù vẫn tiếp tục đổ người và của vượt qua biên giới đưa vào chiến trận mặc dù họ đã chịu sự tổn thất nặng nề. Họ vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng hy vọng sẽ bẻ gãy được lòng quyết tâm của chúng ta. Tôi xin thưa là họ đã lầm. Hoa Kỳ sẽ luôn luôn kiên trì. Sự kiên nhẫn và cương quyết của chúng ta luôn phù hợp với sức mạnh sẵn có. Mọi cuộc xâm lăng sẽ không bao giờ thành công. Nhưng mục tiêu của chúng ta là hòa bình – và hòa bình càng sớm càng tốt…”

Tiếp theo, Tổng Thống Johnson phác họa một cách ngắn gọn mục tiêu của ông nhằm đạt một dạng hòa bình nào đó với Cộng sản tại Hà Nội. Ngoài chuyện đó ra thì phần lớn bài diễn văn của ông chú trọng vào các đường lối chính sách của chính quyền nhằm xóa bỏ nạn nghèo và kỳ thị chủng tộc trong nước.

Trong cùng thời điểm này thì các kế hoạch gia quân sự Hoa Kỳ đang tìm cơ hội để áp sát và tiêu diệt các đại đơn vị của quân Bắc Việt. Khe Sanh là một ngôi làng hẻo lánh phía Bắc Vùng I Chiến Thuật trên quốc lộ 9 sát biên giới Lào. Địa danh này có vẻ phù hợp với người Mỹ để thiết lập một vùng ngăn chận đường mòn Hồ Chí Minh và có thể làm bàn đạp tiến qua bên Lào hay cả Bắc Việt sau này nữa.

Mặc dầu có những bó buộc ngặt nghèo về tiếp vận nhưng lợi điểm đối với người Mỹ khi giao tranh xa các vùng đông dân cư là cơ hội sử dụng toàn bộ hỏa lực không quân mà không sợ giết lầm dân lành.

Trong nhiều năm liền đã xảy ra các cuộc tranh cãi giữa các tướng lãnh Lục quân và Hải quân làm cách nào tốt nhất để tiến hành cuộc chiến tại Việt Nam. Giới TQLC có vẻ chịu các giải pháp thu phục nhân hòa bằng cách kiểm soát các thành phố và làng mạc dọc theo ven biển và ngăn chận không cho Cộng sản ảnh hưởng đến dân chúng. Giải pháp này đã từng được họ sử dụng tại cuộc chiến Banana chống lại quân thổ phỉ và đã đạt được nhiều sự thành công. Trong khi đó thì tướng Westmoreland và bộ tham mưu tướng lãnh lục quân MACV chủ trương cố gắng đánh kẻ thù tại các nơi xa vùng đông dân cư để tận dụng ưu thế hỏa lực và khả năng tiếp viện nhanh chóng. Vì vậy vào cuối năm 1967, Sư đoàn 3 TQLC được phái đi đóng tại những vị trí hầu như là cố định nằm cận khu phi-quân-sự và sát cạnh Khe Sanh. Quyết định này phần lớn phát sinh từ viễn ảnh chiến lược của tướng Westmoreland.

1967 là năm mang lại sự thử thách và hy sinh lớn nhất từ trước đến nay cho các lực lượng bộ binh và không quân tại Việt Nam. Số lượng gần 10.000 người bị thiệt mạng trong 12 tháng đó nhiều hơn là tất cả các sự thiệt hại của các năm trước cộng lại. Tại phía cực Bắc của Vùng I Chiến Thuật ngay sát dưới khu phi-quân-sự, lực lượng TQLC phải chiến đấu một cách vất vả trong những điều kiện mà họ không thích chút nào.

Sở trường tiến hành các cuộc hành quân tấn công chớp nhoáng của TQLC đã bị cản trở bởi trách nhiệm phụ thuộc là thiết lập và bảo vệ nỗ lực xây dựng cái mà sau này bị nhạo báng là “tuyến McNamara,” được đặt theo tên của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Strange McNamara. Khái niệm dựng một hàng rào hữu hiệu để ngăn chận các cuộc xâm lăng từ phía Bắc xuống đã được cứu xét khá kỹ lưỡng trong nhiều năm qua và có lúc ngay cả một số sĩ quan cao cấp TQLC cũng có vẻ đồng tình.

Được biết đến với cái tên “Dyemarker” (đánh dấu mực), trọng điểm của hệ thống “hàng rào điện tử McNamara” là một dải đất dọn sạch trắng rộng từ 600 đến 1.000 thước chạy dài từ Đông sang Tây ngang qua khu phi-quân-sự. Mìn bẫy, sensor điện tử và dây kẽm gai được gài đặt để chống lại sự xâm nhập của địch quân hoặc lùa chúng vào những vị trí mà lực lượng đồng minh có thể tiêu diệt họ một cách dễ dàng hơn. Ngoài ra hệ thống “Dyemarker” còn bao gồm các lô cốt bê tông rải rác để các đơn vị TQLC và VNCH có thể quan sát và phòng thủ đường tuyến.

Các cấp chỉ huy của TQLC rất bực mình khi bị giao trách nhiệm xây dựng tuyến phòng thủ vì họ cảm thấy sự vô ích của nỗ lực này. Nó giống như một sự lặp lại của tuyến phòng thủ Maginot của Pháp đã từng thất bại thời Thế Chiến Thứ Hai. Nhu cầu để có đủ phương tiện tại chỗ nhằm dọn bãi, gài mìn và sensor điện tử, thiết lập các lô cốt bê tông… mà lại còn phải bảo vệ trong lúc đang xây dựng cái công trình khổng lồ này đã làm suy giảm thêm nguồn lực của các đơn vị được giao chuyện này.

Ngay từ tháng 7/1967, Trung tướng Victor Krulak, nguyên tư lệnh TQLC tại chiến trường Thái Bình Dương, cổ súy chiến lược không để kẻ thù nắm lòng dân mà phải thu phục nhân tâm họ và tránh phải tiến hành một cuộc chiến phòng vệ tại những nơi xa dân cư. Ông trình bày phương cách tiến hành giao tranh tại khu phi-quân-sự và nhận định các mục tiêu của quân Bắc Việt nhằm: “… kéo chúng ta càng gần càng tốt đến hỏa lực và các lực lượng của chúng, dìm chúng ta trong những trận trọng pháo tầm gần, đẩy chúng ta vào những màn cận chiến với những cuộc giao tranh đẫm máu, cố ý đánh đổi tổn thất thật cao với một số ít binh sĩ của chúng ta và rút lui về các mật khu tại miền Bắc để tái trang bị lại.”

Các TQLC và binh sĩ chiến đấu trực tiếp với địch quân cho đến nay rất khó chịu bởi những qui định về giao chiến hết sức kỳ cục và nghịch lý. Không những họ không được phép rượt đuổi các đơn vị địch quân đang tháo lui qua các mật khu Cam-bốt, Lào và Bắc Việt mà phong cách không đàng hoàng lương thiện trong khái niệm tôn trọng về các vụ ngưng bắn nhằm những ngày lễ cũng khôi hài không kém. Trong thời gian ngưng bắn trong mùa Giáng Sinh 1967 và Năm Mới vào tuần lễ sau đó, bọn Cộng sản đã liên tục vi phạm ngưng bắn. Thiếu tá Gary Todd, một sĩ quan tình báo của Sư đoàn 3 TQLC diễn tả một điều mà ai cũng biết rằng: “phát súng cuối cùng trước khi ngưng bắn giống như phát súng lệnh báo hiệu cuộc đua cho bọn Bắc Việt rùn người xuống và phóng thục mạng” xuống miền Nam để tiếp viện cho các lực lượng của họ.

Tướng Giáp và bộ sậu Bắc Việt được kể lại là họ trông chờ trận đánh sắp diễn ra và dường như không thể tránh khỏi tại Khe Sanh là một cơ hội để lập lại chiến thắng các lực lượng Pháp tại Điên Biên Phủ năm 1954. Họ quan niệm là nếu kéo được một số lượng đáng kể lực lượng Hoa Kỳ về đó, tìm cách cô lập và tiêu diệt đi thì dư luận Mỹ cuối cùng sẽ chán nản về một cuộc chiến mà Cộng sản đã tỏ ra không bao giờ chịu đầu hàng dù phải trả bằng bất cứ giá nào.

Quân Bắc Việt đã huy động một số lượng đáng kể về nhân vật lực trong và chung quanh vùng Khe Sanh. Vào những tháng cuối năm 1967, những cuộc đụng độ lẻ tẻ nhưng mãnh liệt trên các ngọn đồi chung quanh căn cứ Mỹ, mà chẳng bao lâu sau lan rộng ra hơn đã xác nhận các nguồn tin của tình báo Hoa Kỳ là có ít nhất ba sư đoàn với đầy đủ quân số của Bắc Việt đã có mặt và nóng lòng gây chiến với TQLC Hoa Kỳ.

Từ tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Johnson đặc biệt chú ý đến trận đánh sắp diễn ra và số phận của trung đoàn TQLC đóng tại đó như một cái mồi để bẫy địch quân. Giới báo chí bắt đầu so sánh Khe Sanh với Điện Biên Phủ. Tổng Thống Johnson muốn chắc chắn là sẽ không mắc phải sai lầm đáng hổ thẹn của các tướng lãnh Pháp khi họ không đếm xỉa gì đến khả năng xoay sở thần tình của địch quân và không màng đến các nguyên tắc căn bản nhất khi tiến hành chiến tranh. Điều đó đã làm thiệt mạng biết bao nhiêu là binh sĩ can trường.

Tại Điện Biên Phủ quân Pháp đóng trong những vị trí trong lòng chảo và nhường các cao điểm lại cho Việt Minh, nghĩ rằng chúng không tài nào có thể đặt nổi trọng pháo tầm xa trên các ngọn núi lân cận. Về mặt tiếp vận, Điện Biên Phủ là một cơn ác mộng vì quá xa các căn cứ bạn. Các chiến đấu cơ không có đủ thời gian để hoạt động một khi đã đến vị trí. Việt Minh đã khôn khéo đặt súng phòng không rất hiệu quả làm các phóng pháo cơ không thể hạ cao độ để thả bom một cách chính xác hơn được. Những chiếc máy bay vận tải C-119 nặng nề dùng để thả đồ tiếp tế bị buộc phải thả từ độ cao và khi điều kiện gió bất lợi, các đạn dược, thực phẩm và thuốc men thường rơi vào khu vực kiểm soát của kẻ thù càng lúc càng lan rộng dần.

Các lực lượng Hoa Kỳ có nhiều lợi thế mà người Pháp không có. Khe Sanh nằm trên một vùng đất cao và TQLC kiểm soát hữu hiệu một số ngọn đồi chính yếu kề bên. Mặc dù bộ đội Bắc Việt vẫn có thể bố trí một loạt trọng pháo tầm xa tại các ngọn núi Ai-Lao ở phía Tây và có khả năng bắn phá gần như liên tục, và dù đã cắt đứt được quốc lộ 9 giữa Khe Sanh và Đông Hà, nhưng họ vẫn không thể ngăn chận được các đoàn công-voa tiếp tế và hỏa lực không quân Hoa Kỳ với một số lượng lớn trực thăng và máy bay cánh thẳng. Điều này đã khiến TQLC Hoa Kỳ có thể duy trì chiến đấu một cách vô thời hạn. Những khẩu đại pháo 175 ly tại căn cứ Carroll có đủ tầm xa và sức mạnh cần thiết để bảo vệ căn cứ Khe Sanh đối với các cuộc tấn công của quân Bắc Việt. Trong khi đó thì các cuộc hành quân tại Vùng I Chiến Thuật và những nơi còn lại tại Việt Nam vẫn tiếp diễn không ngừng nghỉ.

Cầm Bành

Vào cuối năm 1967 Cầm Bành là một nhân viên 21 tuổi làm việc tại khu mua hàng của trung tâm trao đổi Hải Quân Hoa Kỳ, còn gọi là PX tại thành phố Sài Gòn gần Chợ Lớn. Đến thời điểm này, cuộc đời nàng và gia đình phản ảnh các hỗn loạn và thay đổi của đất nước từ lúc Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt.

Sinh ra tại Hà Nội vào năm 1946, Cầm Bành là người con thứ hai, có một chị gái và đã theo mẹ, người chị và hai đứa em trai vào Sài Gòn trong năm 1952. Theo phong tục Việt Nam thì không có gì lạ khi một người đàn ông lấy vợ hai và lập thêm mái ấm với người đàn bà đó. Điều này làm cho mẹ của Cầm Bành và những đứa con bị đẩy vào hoàn cảnh khó khăn. Mẹ của Cầm Bành cũng không có sự chọn lựa nào khác khi chồng quyết định như vậy. Bà lập tức mang theo bốn đứa con thơ xuôi vào Nam, hai năm trước cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã kéo thêm một triệu người Bắc đi tìm tự do trốn sự đàn áp của Cộng sản. Mẹ của Cầm Bành đã may mắn tìm được một công việc thư ký trong bộ phận tương đương với tòa Đô chánh Sài Gòn.

Khi người chị lập gia đình và dọn đi nơi khác, Cầm Bành bỏ học vào năm 1962 để phụ mẹ kiếm tiền nuôi hai đứa em trai. Trước khi làm việc tại trung tâm trao đổi PX của Hải quân Hoa Kỳ, cô đã từng làm việc tại nhiều nơi khác rồi.

Sức tác động vào nền kinh tế Việt Nam do sự tiêu xài của các quân nhân Mỹ tại địa phương hết sức đáng kể. Quyền lợi của những người được làm việc cho người Mỹ do đó tăng nhanh một cách bất cân xứng so với công việc của họ. Sự kiện người Mỹ sẵn sàng trả tiền cao hơn trước cho tất cả các dịch vụ được hưởng đã có những hậu quả lâu dài tác hại đến vật giá và sự phân bổ các nguồn tài nguyên vốn đã hiếm hoi trong thời chiến.

Đối với Cầm Bành và gia đình, công việc tại trung tâm PX đã khiến nàng trở thành người kiếm tiền trụ cột và đời sống cả nhà khá hẳn lên so với thời kỳ nàng chưa làm việc cho người Mỹ. Thu nhập từ công việc của Cầm Bành cộng với lương của mẹ nàng tại tòa đô chánh đã bảo đảm cho hai đứa em trai được tiếp tục ăn học mà không bị trở ngại nào cả.

Cuộc sống của cô gái trẻ đẹp Cầm Bành vào cuối năm 1967 tương đối khả quan theo tiêu chuẩn của người Việt Nam và cũng không khác mấy so với các phụ nữ đồng trang lứa.

Mỗi buổi sáng trong những ngày làm việc, Cầm Bành gia nhập vào cái khối người đông đảo đang chuyển động mà đối với một người đứng ngoài thì có vẻ như một đám đông biểu tình nhưng đối với các cư dân của thành phố Sài Gòn tự do và sinh động thì đó chỉ là một ngày đi làm như thường lệ. Di chuyển bằng xe xích-lô từ nhà ở Phú Nhuận đến sở làm PX, nàng có dịp thưởng thức phong cảnh, hương vị và âm thanh của cái thành phố đã dung dưỡng nàng. Trên đoạn đường 10 cây số Cầm Bành có dịp chiêm ngưỡng sinh hoạt bình thường của dân chúng, nhìn các trẻ em mặc đồng phục đi đến trường học, đi qua các hàng quán và gánh hàng rong ngoài lề đường sẵn sàng bán hàng hóa cho tất cả khách qua đường bất kỳ lúc nào, và xem các cảnh sát viên điều hành lưu thông. Thỉnh thoảng có các quân nhân Mỹ và Việt Nam lái xe jeep ngoái cổ lại bàng hoàng ngắm Cầm Bành và các cô gái trẻ đẹp khác trong những chiếc áo dài thướt tha.

Sự ưu việt của nền văn hóa Việt Nam đã được khẳng định một cách tuyệt đối với sự phát minh của chiếc áo dài. Bộ trang phục này đã tạo cho người phụ nữ tất cả những gì mà các ngôn ngữ hay văn hóa khác không thể làm được.

Áo dài được thiết kế rất đơn giản nhưng hết sức gợi cảm và làm nổi bật tất cả các ưu điểm và nữ tính của người đàn bà. Khác hoàn toàn với khuynh hướng Tây phương thô kệch, hở hang và không để lại cảm xúc gì trong tâm trí, chiếc áo dài không phô trương điều gì nhưng làm cho người đàn ông nào thích thưởng lãm các đường nét hài hòa về hình học sẽ phải thắc mắc và tưởng tượng về những gì ẩn núp bên dưới lớp vải. Thật là một điều lạ lùng là với quá nhiều các nét đẹp trên đường phố như vậy thì các quân nhân và TQLC còn tìm nổi ở đâu sức lực hầu tập trung vào việc đánh nhau với kẻ thù?

Lưu thông tại Sài Gòn phần lớn gồm xe đạp và một số nhỏ xe gắn máy và xe hơi đang tăng nhanh dần lên. Thành phố Sài Gòn luôn luôn chuyển động. Dân chúng cần đủ loại hàng hóa để sinh sống và ăn uống. Các sản phẩm không sản xuất được trong phạm vi nội thành được chở đến hầu hết từng lượng nhỏ, thật nhỏ vừa sức chở của những chiếc xe đạp thồ, cho dù đó là gà lợn, chuối hay mít, các bao gạo hay các bó rau xanh. Chẳng có phương tiện ướp lạnh nào cả. Những gì bán trong ngày thứ Hai được sử dụng ngay trong ngày thứ Hai. Đến thứ Ba thì quá trình bắt đầu lại từ đầu. Chu trình này diễn ra bất tận.

Sự hiện diện gần như thường trực của những người bán hủ tíu rong ngoài lề đường – một dạng cung cấp hàng ăn liền độc đáo và nguyên thủy – với những “quán ăn” tí hon lưu động có thể được thiết lập một cách chớp nhoáng để phục vụ cho bất cứ ai và bất kỳ chỗ nào. Họ gánh từ chỗ này đến chỗ kia hai cái vạc lớn đong đưa trên quang gánh hay khá hơn một chút là đẩy trên cái xe nhỏ để phục vụ cho dân thành thị đang tỉnh giấc. Sinh hoạt bề ngoài đối với người Mỹ có vẻ ồn ào và vô tổ chức nhưng sự đều đặn và kiên trì này là chuyện buôn bán thường lệ và là dấu hiệu cho thấy công dân của đất nước Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ đang mơ ước một tương lai sáng sủa và ổn định hơn.

Mặc dù mẹ của Cầm Bành còn quan niệm phong kiến và nghiêm ngặt giống như xã hội Việt Nam thời đó đối với chuyện trai gái hẹn hò tán tỉnh nhưng hoàn cảnh nói chung khá an bình thành thử Cầm Bành vẫn được phép đi chơi khuya những lúc không có chuyện nhà phải làm. Nàng được phép đến các câu lạc bộ và phòng trà cùng với bạn gái để vui đùa với cuộc sống Sài Gòn về đêm, được nhảy đầm và nghe nhạc.

Phim ảnh quốc nội không được sản xuất nhiều trong nước nhưng các phim ảnh ngoại quốc được lồng hay phụ đề tiếng Việt không hề thiếu. Cầm Bành rất thích các tài tử Sophia Loren và Gina Lollobrigida lúc nào cũng rực rỡ và tuyệt đẹp cho dù họ nói bằng ngôn ngữ gì đi nữa. Tuy nhiên thần tượng tuyệt đối của Cầm Bành vẫn là “thiên thần” của nàng, cái tên Cầm Bành đặt cho tài tử Elizabeth Taylor.

Sinh viên sĩ quan Nguyễn Lương

Nguyễn Lương bắt đầu lớp học để trở thành sĩ quan chuyên nghiệp khi anh gia nhập khóa 24 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt vào mùa thu năm 1967. Được biết qua số thứ tự của khóa học, toán hơn 300 thanh niên đầy lòng yêu nước của anh sẽ ra trường với cấp bậc Thiếu úy vào tháng 12 năm 1971 nếu mọi chuyện diễn tiến đúng như theo kế hoạch.

Khởi thủy, trường VBQGĐL được thành lập bởi người Pháp vào năm 1948 với cái tên là trường Võ Bị Liên Quân tại Huế. Rập theo khuôn mẫu trường St. Cyr tại Pháp, và tương đương với trường West Point của Hoa Kỳ, trường VBQGĐL có nhiệm vụ đào tạo huấn luyện một tầng lớp cán bộ sĩ quan chuyên nghiệp đáng tin cậy. Trong những người nổi tiếng đã từng tốt nghiệp có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thuộc khóa 1 đầu tiên.

Nằm trong thị trấn nghỉ mát Đà Lạt với khí hậu mát dịu vào khoảng 140 dặm về hướng Đông Bắc của Sài Gòn, trường VBQGĐL trong suốt quá trình tồn tại có chương trình phần lớn là hai năm. Với sự trợ giúp của người Pháp và người Mỹ, chương trình đã được mở rộng thành ba và sau đó là bốn năm vào cuối thập niên 1950. Tuy nhiên đến thập niên 1960 do khó khăn của thời cuộc, cộng thêm nhu cầu gia tăng để chiến đấu chống hiểm họa Cộng sản và đòi hỏi của chiến trường cần liên tục các sĩ quan trẻ, chương trình đã trở lại thành hai năm.

Cùng với sự dính líu của Hoa Kỳ ngày càng nhiều, trường VBQGĐL được khuyến khích áp dụng mô hình bốn năm của trường võ bị West Point vào giữa thập niên 1960. Khóa 22 thực tế được chia ra làm hai lớp khác nhau: khóa 22A với chương trình hai năm và khóa 22B bốn năm. Cả hai khóa 23 và 24 đều có chương trình bốn năm. Từ đó kế hoạch sẽ theo phương cách đó vô hạn định.

Điều kiện gia nhập trường VBQGĐL, giống như West Point của Hoa Kỳ, rất khó khăn và có tính cách tranh đua cao. Từ một số lượng vài ngàn ứng viên đủ điều kiện đầy nhiệt tình chiến đấu cho Tổ Quốc, khóa 24 được gạn lọc còn khoảng 300 người với số điểm học vấn và thể lực cao nhất. Vì đất nước chưa được phát triển và đủ tài chánh để có thể thành lập học viện cho từng ngành như Không quân, Hải quân và TQLC, các sĩ quan trẻ mới tốt nghiệp được phân bổ với tỉ lệ nhiều hơn cho các binh chủng nào có nhu cầu cao.

Điều thông lệ là các sĩ quan tốt nghiệp với số điểm cao nhất đều thể hiện tinh thần dấn thân, vị quốc vong thân của trường trong mọi thời đại và tình nguyện vào các binh chủng Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.

Nguyễn Lương sinh năm 1947 tại Biên Hòa, một thành phố cách Sài Gòn 25 dặm về hướng Đông Bắc. Anh là con trai trưởng trong năm anh em trai và một gái. Cha anh đã từng làm sĩ quan hiến binh thời Pháp trước khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954. Khi Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, cha của Lương được chuyển qua sở bưu điện và làm việc trong một bộ phận có tính cách đặc biệt và bí mật, chuyên kiểm duyệt các thư từ bằng mật mã giữa Cộng sản ở miền Bắc và cán bộ nằm vùng của họ trong Nam. Thường thì các loại thư từ như vậy được gởi thông qua ngã Âu châu hay gởi cho các địa chỉ có vẻ vô hại nhằm tránh các cặp mắt săm soi của những nhân viên như cha của Lương.

Lớn lên, Lương thích chơi tây-ban-cầm, nhất là nhạc cổ điển tây phương. Giống như mọi thiếu niên khác, ảo tưởng và sự hấp dẫn của phim ảnh đã thu hút óc tưởng tượng của anh. Các loại phim hành động, phim cao bồi, phim giả tưởng đều làm anh thích thú. Những cuốn phim như “Hai vạn dặm dưới đáy biển” của Jules Verne là loại phim mà anh luôn luôn nhớ lại với niềm thân thương.

Là đoàn viên của một toán hướng đạo sinh tại địa phương, anh và các bạn thường cắm trại tại các vùng vắng vẻ chung quanh Nha Trang, Thủ Đức và Bình Dương. Cũng có lúc anh cắm trại ngay trong chùa Giác Lâm ở Sài Gòn. Rất nhiều lần các hướng đạo sinh trẻ được giao thực tế một số nhiệm vụ cứu trợ hay từ thiện, tùy theo nhu cầu của một đất nước còn nhiều khó khăn. Họ thường xuyên tổ chức cứu trợ nạn nhân bị hỏa hoạn, tham gia những dự án xây cất mới, phụ giúp sửa chữa đường xá, cầu cống bị chiến tranh tàn phá hay làm bất cứ chuyện gì để góp một bàn tay lúc cần thiết.

Mức học vấn của Lương trước khi gia nhập trường VBQGĐL bao gồm hai năm cao đẳng kỹ thuật, nếu tính chương trình học tương đương bên Mỹ. Tại Việt Nam chương trình tại các trường cao đẳng kỹ thuật đòi hỏi trình độ cao về toán và khoa học. Điều này rất quan trọng vì đã giúp cho Lương làm quen với chuơng trình VBQGĐL rập khuôn theo trường West Point Hoa Kỳ cũng chú trọng về các môn học kỹ thuật.

Vào năm 1967 tại Mỹ, việc gia nhập quân đội – hay có vẻ như đang trong quân ngũ – không làm cho các chàng trai trẻ tăng thêm bao nhiêu cơ hội làm quen với các phụ nữ trong tuổi cập kê. Tại Việt Nam, một quốc gia đang chiến đấu cho sự sống còn, thì các sĩ quan tương lai được giới khác phái chú ý một cách thuận lợi hơn nhiều vì họ được quan niệm là các anh hùng bảo vệ đất nước. Do đó các sinh viên sĩ quan trường VBQGĐL thường được coi là khá “đắt giá.”

Những lúc không bận học hành hay thực hành ngoài bãi tập thì Lương giữ một mối liên lạc với một thiếu nữ trẻ cùng quê ở Biên Hòa. Ngay từ đầu mối tình của hai người rất sâu đậm và nàng vẫn hạnh phúc và chung thủy chờ đợi chàng thi hành nghĩa vụ công dân trở về.

Thiếu úy George Philip III, TQLC Hoa Kỳ

Thiếu úy George Philip III, khóa 1967 trường Hải Quân Hoa Kỳ lo lắng sẽ để lỡ cơ hội được nhìn thẳng vào tận “mắt con voi” trước khi anh có thể đến Việt Nam để tham dự vinh quang của chiến thắng. Do đó anh tự ý cắt ngắn thời gian và chỉ sử dụng một nửa số ngày nghỉ phép sau khi tốt nghiệp để trình diện tại Quantico nhằm tham dự khóa Huấn Luyện Căn Bản (The Basic School TBS) được mở ra sớm hơn. Anh ngạc nhiên và thích thú khi thấy có tám hay chín bạn bè đồng khóa cũng trình diện sớm và nôn nóng để bắt đầu quá trình thực tập.

George trình diện TBS và Đại đội Alpha 1-68 (lớp đầu tiên sẽ tốt nghiệp trong năm 1968 vào khoảng trung tuần hay hạ tuần tháng 10) vào cuối tháng 6 năm 1967 với ý định sẽ tốt nghiệp khóa Sĩ quan bộ binh 0302-MOS. TQLC thực chất thuộc về bộ binh. Nếu bạn trong bộ binh mà không phải là TQLC thì bạn phải phục vụ cho những người là TQLC. Đơn giản là như vậy, ít nhất là trong quan niệm của anh chàng Thiếu úy mới ra trường.

Con đường dẫn đến Annapolis, Quantico và Việt Nam đối với Thiếu úy George Philip khởi đầu hơi khác với đa số các bạn bè sĩ quan đồng khóa mới quen. Đối với hầu hết mọi người, con đường sĩ quan chuyên nghiệp và sự dấn thân vào cuộc đời lính chiến bắt đầu từ ngày họ bước vào trường học viện Hải Quân hay OCS. Hẳn nhiên là họ đã bị ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp bởi xã hội và lịch sử Mỹ, bởi các bậc phụ huynh, anh em, chú bác và bạn bè, những người đã từng phục vụ trong quân ngũ và có các chuyện thần kỳ kể lại cho họ nghe. Tính ưu việt của binh chủng TQLC, niềm tự hào và sự thỏa mãn của những con người đó qua các kinh nghiệm trong quân ngũ của họ đã toát ra một vẻ khôn ngoan và sâu sắc một cách đặc biệt. Điều này đã thu hút những đứa trẻ nôn nóng muốn được trải qua các bài học đó. Sự hấp dẫn của các câu chuyện đã đánh động tính hiếu động và lãng mạn của giới trẻ lúc nào cũng muốn tham dự vào một công việc nào đó thật sự có ý nghĩa. Không có tiếng gọi nào có thể mang lại cho một thanh niên cơ hội đối diện với các thử thách lớn, sự hiểm nguy và khả năng thỏa mãn về trí tuệ và bản thân cao hơn là đi lính TQLC.

Quá trình cuộc đời binh nghiệp của George Philip đã bắt đầu từ trước khi anh có ý tưởng đó. Dòng họ Taussig về phía mẫu thân từ thời Nội Chiến đã có một loạt các nhân vật hy sinh theo chiến hạm và đã từng phục vụ xuất sắc trong quân đội. Ngoài việc mất người chồng thứ nhất là cha của George – và điều này đã làm cho George trở thành người thừa kế nam duy nhất của cha anh – mẹ của George còn có một người em trai tốt nghiệp khóa 1941 trường Hải Quân Hoa Kỳ đã từng được tặng thưởng huân chương Navy Cross và bị cụt một chân lúc phục vụ trên chiến hạm USS Nevada với cấp bậc Hải quân Thiếu úy trong trận Pearl Harbor ngày 7 tháng 12 năm 1941.

Bất kỳ họ dọn di đâu theo công vụ của người chồng kế là sĩ quan TQLC, mẹ của George đều trưng trên bức tường lớn nhất trong nhà hình chân dung của dòng họ Taussig, những khuôn mặt rắn rỏi, nghiêm nghị mà tên tuổi nhiều người được liệt kê trong các sách quân sử Hải quân, những chiến sĩ mà lòng quả cảm và sự nghiệp trung thành đã giúp biến đổi Hải quân Hoa Kỳ từ một đơn vị tuần duyên yếu ớt trở thành một sức mạnh tuyệt đối trên toàn cầu.

Về phía phụ hệ, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh cho tổ quốc cũng không kém phần quan trọng. Bà nội của George, Alice Waldron Philip, mang trong người một phần tư dòng máu bộ lạc da đỏ Sioux. Em trai của bà, John Waldron tốt nghiệp học viện Hải Quân Hoa Kỳ khóa 1924 là người đầu tiên trong dòng họ bên nội theo đuổi sự nghiệp hải quân. Ông là phi công không đoàn trưởng không đoàn Torpedo Eight (VT-8) trên chiến hạm USS Hornet (CV-8). Vào đầu tháng 6, 1942 trong chiến dịch mở màn cho trận đánh Midway, Hải quânThiếu tá Waldron dẫn đầu 15 chiếc máy bay cũ kỹ TBD-1 Douglas Devastators bay vào một trận đánh cảm tử vô vọng nhằm tấn công các hàng không mẫu hạm của Hải quân Hoàng gia Nhật. Hành động của đơn vị đầu tiên đã phát hiện và xung trận này vào ngày 4 tháng 6, 1942 đó đã đưa đến kết quả là toàn bộ không đoàn bị xóa sổ, tất cả các phi công đều hy sinh trừ một người là Hải quân Thiếu úy George Gay. Nhưng họ đã đạt mục tiêu là kéo được phần lớn các chiến đấu cơ Nhật xuống cao độ thấp và không còn khả năng bảo vệ hạm đội Nhật nữa. Nhờ vậy, một chốc sau các lực lượng không quân Hoa Kỳ đã đẩy lui thành công bước tiến của hải quân Nhật mà không gặp sức kháng cự nào, đó là nhờ những gì không đoàn Torpedo Eight đã làm trước đó. Chỉ một trận đánh đó, và các biến cố tiếp theo sau trong vòng từ bốn đến tám phút đồng hồ đã khiến cục diện của chiến trường Thái Bình Dương nghiêng hẳn về phía Hoa Kỳ. Qua chiến công chỉ huy quên mình và anh dũng ngày hôm đó, John Waldron đã được truy tặng huân chương Navy Cross.

Ba năm sau, trong trận đánh Okinawa, ông cậu của George là Hải quân Trung tá George Philip, Jr., tốt nghiệp khóa 1935 học viện Hải Quân Hoa Kỳ, sau khi tham dự một loạt chiến dịch khốc liệt trong vùng đảo Solomons, Philippines và Iwo Jima, lúc ông đang chỉ huy chiến hạm USS Twiggs (DD-521) làm nhiệm vụ tuần tra thì chiến hạm của ông bị các phi công Kamikaze Nhật tấn công. Nhiều người trên chiến hạm sống sót nhưng cũng có một số lớn bị thiệt mạng, trong đó Trung tá Philip là một trong 174 thủy thủ đoàn đã đền nợ nước. Giống như cậu là John Waldron, Trung tá Philip cũng được truy tặng huân chương Navy Cross.

Thế Chiến Thứ Hai đã gây ra hậu quả là có biết bao nhiêu là quả phụ và cô nhi bị mất cha. Margaret Taussig Philip mới chỉ 26 tuổi khi chồng chết. George Philip III, sau này tốt nghiệp khóa 1967 học viện Hải Quân Hoa Kỳ lúc đó mới chín tháng tuổi và chị của anh tên là Snow mới ba tuổi khi cha mất.

Lúc chiến hạm USS Riggs bị nạn thì Wilbur Helmer, Thiếu tá pháo binh TQLC trẻ tuổi vừa trải qua các địa ngục Bougainville, Guam, Iwo Jima và đang chiến đấu chống quân Nhật trên đảo Okinawa. Mẹ của George và Thiếu tá Helmer gặp nhau sau chiến tranh và hai người thành hôn vào năm 1947. Vào những năm sau đó, họ có thêm được ba đứa con nữa.

Mặc dù mẹ đã tái giá với ông Helmer, sau này lên Đại tá, hai chị em George và Snow vẫn thường được nghỉ hè tại nhà bà nội ở South Dakota để làm quen với truyền thống của bên họ nội. Bà nội Philip cũng thường nhắc nhở họ về di sản dân tộc da đỏ Sioux của gia đình. Bà vẫn dắt hai chị em đi chơi những vùng như Wounded Knee ngay từ lúc trước khi chuyện này trở thành thời thượng. Họ được giáo dục rõ ràng họ là hậu duệ của những người Mỹ đầu tiên trên đất nước Hoa Kỳ.

Sự kết hợp giữa hai dòng họ Philip và Taussig đã mở đường cho George vào một gia đình hỗn hợp quân sự – quý tộc tuy không thường gặp nhưng không phải là duy nhất trên đời. Họ thuộc dòng dõi quý tộc không phải ở cái ý nghĩa thật giàu có về của cải mà vì qua hàng bao nhiêu thế hệ, dòng họ đó đã sản sinh ra các nhân tài để phụng sự và có khả năng đặc biệt lúc nào cũng vươn lên mức cao nhất trong binh nghiệp. Họ không cần thiết phải cầm đầu các công ty kỹ nghệ nhưng chắc chắn một điều là họ đã chỉ huy những chiến hạm và đưa các chiến sĩ vào sinh ra tử. Đó là truyền thống gia đình mà George Philip đã được sinh ra từ đó.

Quyết định của George để trở thành một TQLC mà không phải là một thủy thủ cũng không gặp trở ngại gì mấy. Tuy dưới ảnh hưởng trực tiếp của cha là thuyền trưởng khu trục hạm nhưng không hề có một áp lực nào khiến anh phải gia nhập Hải quân. Cha kế của anh là TQLC cũng không hề đẩy anh đi theo con đường của ông. George Philip được sinh ra để trở thành TQLC, chỉ đơn giản có thế mà thôi.

Từ Trường Huấn Luyện Căn Bản đến trại Ft. Sill

Vào giữa năm 1967, chương trình của trường Huấn Luyện Căn Bản TBS không hề sơ sài hay thừa thãi nhưng đã được gạn lọc xuống chỉ còn những khái niệm cần thiết nhất. Nhu cầu phải cung cấp các trung đội trưởng bộ binh cho chiến trường Việt Nam ngày càng tăng đã buộc các kế hoạch gia của Quantico cắt bỏ đi những phần trong chương trình mà họ nghĩ là không trực tiếp có lợi cho khả năng chỉ huy của các sĩ quan chiến đấu. Thời gian thụ huấn tại TBS được giảm xuống chỉ còn năm tháng. Hai khóa cuối cùng của năm 1967, Đại đội N và O đã được nhập chung lại thành một và gần 80% sĩ quan tốt nghiệp được phái đi Việt Nam với tư cách sĩ quan bộ binh. Phần còn lại được điều động cho các ngành như pháo binh, thiết giáp, tiếp liệu, thông tin v.v…

Công việc huấn luyện các sĩ quan Thiếu úy được binh đoàn TQLC đặc biệt chú trọng và nhấn mạnh. Các phương tiện nhằm trang bị kiến thức cho các sĩ quan trẻ sẽ tốt nghiệp Quantico để đi chiến đấu ngoài chiến trường rất đáng chú ý. Hầu hết sĩ quan huấn luyện viên đều là Đại úy, những người vừa trở về từ Việt Nam với kinh nghiệm trực tiếp đã từng thi hành tất cả những điều mà các sĩ quan học viên sẽ phải làm sau này. Bộ Tư Lệnh TQLC đặc biệt để ý đến khả năng của các sĩ quan mà họ bổ nhiệm làm huấn luyện viên vì họ sẽ tác động mạnh đến phẩm chất của các sĩ quan sắp tốt nghiệp.

Các sĩ quan khoá sinh được huấn luyện năm ngày rưỡi mỗi tuần và không cần phải nhắc nhở họ về sự quan trọng của khóa học và nơi mà họ sắp đến sau này. Các bài giảng trong lớp học được tiếp nối sau đó với các buổi thực tập nặng ngoài bãi tập và ứng dụng thực tế trong mọi đề tài, từ hỏa lực bộ binh và chiến thuật tiểu đội cho đến các cấp trung đội và đại đội. Trong phạm vi khuôn khổ đó, các sĩ quan phải trải qua một lượng lớn thời gian để tập di hành, đi tuần tra, tập các chiến thuật xung kích, phòng thủ, phục kích, cách sử dụng một cách hiệu quả các hỏa lực yểm trợ, v.v… và v.v… Không có chuyện gì là không quan trọng cả. Nếu điều gì có vẻ hời hợt hay kỳ cục thì sĩ quan đại úy huấn luyện viên sẽ có ngay một kinh nghiệm chiến đấu thật để giải thích tại sao đề tài đó là tối quan trọng. Những câu mào đầu như “Nghe đây các bạn, đây có thể là bài giảng quan trọng nhất mà các bạn sẽ được học,” hay lời cảnh cáo “Chú ý đây, quý vị, điều này có thể sẽ cứu mạng sống của bạn và đồng đội bạn…” được nghe đi nghe lại hằng ngày.

Thiếu úy George Philip đã đến trường Huấn Luyện Căn Bản với ý định sẽ đi Việt Nam với tư cách là một sĩ quan bộ binh TQLC. Điều này có thể do người cha kế của anh là sĩ quan pháo binh TQLC đã tác động vào tiềm thức mà anh không biết. Mặc dù TQLC là một binh chủng bộ binh nhưng lại phải lệ thuộc vào các phương tiện khổng lồ để yểm trợ cho khả năng bộ binh của chính nó. TQLC cần phải có các sĩ quan khác trong các ngành chuyên biệt để hỗ trợ cho mình. Các ngành này bao gồm pháo binh, thiết giáp, không quân, thông tin liên lạc và hằng hà sa số các nhu cầu trung gian khác. Các học viên sĩ quan tại Quantico đến giữa khóa học thì sẽ được phân bổ – giống như hai khóa trước khóa Đại đội Alpha 1-68 – ra chiến trường với tư cách sĩ quan bộ binh hay lại sẽ tranh nhau để nộp đơn chọn các chỗ trống trong các ngành chuyên môn.

Trong các quán ba, quán rượu hay các lớp học, cho dù say mèm hay tỉnh táo, không ai có thể phủ nhận rằng TQLC Hoa Kỳ, thứ nhất và quan trọng hơn hết, là một tổ chức chú trọng vào nguồn gốc bộ binh của mình. Trong lúc trà dư tửu hậu, bạn bè được quyền cãi nhau ai là người có ảnh hưởng nhiều nhất, ai khôn khéo nhất hay ai “đẹp trai” nhất v.v… Các phi công thường trêu chọc bạn bè bộ binh rằng sở dĩ bộ áo bay của họ có nhiều túi là để chứa tiền phụ cấp bay được hưởng thêm. Còn TQLC bộ binh thì đáp lại là phi công chỉ là lính cậu vì có khi nào ngủ bờ ngủ bụi hay ăn khẩu phần C-rations như các “chiến binh TQLC thứ thiệt” đâu? Giữa bộ binh và pháo binh cũng có các cuộc tranh cãi đã có từ lâu rồi nhưng vẫn được các thế hệ sĩ quan trẻ duy trì là binh chủng nào có tác động đáng kể nhất về kết quả của một trận đánh? Sĩ quan pháo binh thì mạnh dạn và trắng trợn cho rằng ngành chuyên môn của họ là “vua của chiến trường.” Các sĩ quan bộ binh đã “rành sáu câu” thì đáp lại câu nhận xét đó với câu “bạn có thể là vua chiến trường nhưng hoàng hậu (bộ binh) có quyền ra lệnh bạn thả ‘tạc đạn’ tại đâu.” Và cuộc tranh cãi cứ thế mà tiếp diễn.

Có lẽ Thiếu úy George Philip quyết định nộp đơn vào ngành chuyên môn không phải sau khi đã suy nghĩ chín chắn. Chuyện là, dù biết rằng anh cũng sẽ phải phục vụ hoặc trong bộ binh, pháo binh hay thiết giáp, nhưng số phận anh đã được định đoạt sau một buổi thực tập ngoài bãi tại Quantico. Hôm đó toàn Đại đội khóa sinh 1-68 tụ tập một cách ngơ ngác để chứng kiến một cuộc biểu diễn hỏa lực pháo binh. Viên Đại úy chịu trách nhiệm buổi thực tập đặc biệt đó là một sĩ quan pháo binh mới từ chiến trường Việt Nam về. Anh kêu mọi người chú ý đến một cụm đất đàng trước mặt cách đó khoảng vài trăm thước. Tay cầm một cái microphone, anh dùng điện đàm gọi pháo binh một cách hết sức chính xác và chuyên nghiệp, y như những điều các khóa sinh đã học được trong lớp giảng. Các khóa sinh chăm chú nhìn về hướng mục tiêu và căng tai ra chờ. Lệnh bắn được đưa ra và điện đàm trả lời “fire, over” tiếp theo là “fire, out” có nghĩa là sự hủy diệt sẽ xảy ra tức khắc.

Đối với hầu hết các khóa sinh, có lẽ đây là lần đầu tiên họ được quan sát một cuộc bắn pháo binh thực sự ngoài đời ở ngay sát một bên. Chấn động của những quả đạn như xé nát mặt đất ra. Tuy mọi người đứng ở tầm xa đủ cho sự an toàn nhưng cũng còn khá gần để cảm nhận được sức nổ. Hình ảnh diễn ra chậm chạp như của một khúc phim chiếu chậm với đất cát bị nổ tung bắn lên trời và chung quanh, rồi tiếp theo là tiếng gầm đì đùng mà trên thực tế là một loạt nhanh các tiếng đùng, đùng, đùng vì các trái đạn trọng pháo được bắn đi cách nhau vài phần ngàn giây một. Trong khi đó thì mặt rung lên. Sự chấn động mạnh làm không khí bị chuyển động là cảm giác sau cùng đập vào mặt các sĩ quan khóa sinh. Điều hiển nhiên đối với mọi người là trong trường hợp pháo kích như thế này thì chẳng thà là kẻ “cho” tốt hơn là làm kẻ “nhận.” George tự nhủ một cách hùng hồn, “Cái này đúng là của mình rồi.”

TQLC Hoa Kỳ còn phải phụ thuộc khá nhiều vào các đơn vị bạn để thực hiện công tác huấn luyện cho các sĩ quan trẻ đã chọn ngành chuyên môn. Các ngành như y khoa, nha khoa và công tác mục vụ đều phải lệ thuộc hoàn toàn vào sự trợ giúp của bộ Hải Quân. Ngoài ra tất cả các phi công TQLC đều học chung với các phi công Hải Quân và tốt nghiệp cùng với họ tại Pensacola, Florida.

Mặc dù bộ tư lệnh TQLC đã quyết định đúng khi phụ trách hoàn toàn các mặt huấn luyện về bộ binh nhằm bảo đảm truyền thống và danh tiếng TQLC được thấm nhuyễn vào các sĩ quan khóa sinh, nhưng họ không có đủ nguồn lực và hạ tầng cơ sở để phát triển hoàn toàn về mặt sĩ quan thiết giáp và pháo binh. Do đó các sĩ quan khóa sinh chọn ngành thiết giáp sẽ được gửi đi học tại Ft. Knox ở Kentucky còn pháo binh thì đi học tại Ft. Sill ở Oklahoma.

Dù với tư cách là “khách” nhưng trong tất cả các quân trường bạn, các sĩ quan khóa sinh TQLC luôn được nhắc nhở là trong mọi tình huống họ phải tuân thủ tinh thần kỷ luật cao, phải luôn luôn nhớ họ là ai và dứt khoát không được làm bất cứ điều gì có thể thương tổn đến danh tiếng của TQLC Hoa Kỳ, một danh tiếng không phải là tự nhiên mà có được.

Trong khi đó… tại mặt trận

Sau những kỳ ngưng bắn giả dối trong các ngày lễ và việc hành quân trở lại như thường lệ vào đầu tháng Giêng 1968 thì đối với lính bộ binh và TQLC, cũng như đối với các phi hành đoàn bay yểm trợ, cuộc chiến “vũ như cẩn,” chỉ là khác ngày mà thôi. Đối với những người trong nước có điều kiện tập trung vào các vấn đề khác hơn là chiến tranh thì đội Green Bay Packers dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Vince Lombardi đã thắng giải vô địch NFL lần thứ ba và cúp Super Bowl lần thứ hai. Trong khi đó thì Cộng sản lén lút điều động quân và trang thiết bị để sửa soạn hai cuộc âm mưu tấn công Khe Sanh và tổng tấn công quy mô lớn hơn vào dịp Tết Mậu Thân trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Các nhà phân tích tình báo của đồng minh đoán chắc có chuyện gì đó sắp xảy ra. Dù bắt được các dữ kiện trao đổi của kẻ thù và dù giải thích bằng cách nào đi chăng nữa nhưng có vẻ phe đồng minh không có kế hoạch đối phó hiệu quả với tầm mức của các nỗ lực bí mật của Hà Nội.

Bằng chứng về những dự đoán của tình báo về âm mưu của kẻ địch tại Khe Sanh đã thành hình nhanh chóng. Vào ngày 20 tháng Giêng 1968 những trận đánh khốc liệt giữa TQLC Hoa Kỳ và các đơn vị chính quy Bắc Việt cho thấy là trận chiến chờ đợi từ lâu đang bắt đầu diễn ra. Sự leo thang gần như là tức khắc với hai bên cùng đổ ra những phương tiện lớn để tiến hành một trận đánh quan trọng có mang thêm một sắc thái chính trị không kém trong đó. Trong những ngày tiếp theo thì Khe Sanh được giới thông tin báo chí đặc biệt chú trọng đến.

Cuộc tranh đấu giành nhân tâm trong dư luận Mỹ qua truyền hình trong phòng khách tại quốc nội không được khả quan lắm. Khi báo cáo về các trận giao tranh tại Khe Sanh, một số lớn phóng viên bay vào căn cứ quân sự chỉ đủ thời gian để quay cảnh các TQLC đang bị pháo kích và tìm chỗ ẩn núp rồi vội vã bay trở ra vùng an toàn để uống bia và viết tường thuật.

Các đoạn phim kinh hãi chiếu đi chiếu lại cho thấy pháo binh Bắc Việt bắn nổ kho đạn chính tại Khe Sanh đã tạo cho dư luận trong nước một hình ảnh về TQLC khác biệt với những gì họ thường biết. Nhìn cảnh các chiến binh TQLC oai hùng hứng chịu mưa pháo đêm này qua đêm nọ đã để lại cho người dân trong nước một cảm giác sai lạc về trận chiến đang diễn ra như thế nào. Sự nhận thức sai lầm này lại còn bị làm trầm trọng thêm qua các cuộc tấn công ban đầu của cộng quân và các báo cáo về sự thành công của họ trong trận Tết Mậu Thân.

Ngày 23 tháng Giêng 1968, người Mỹ lại còn bị thức tỉnh là các lợi ích chiến lược của họ còn bị đụng chạm xa hơn phạm vi hạn hẹp của Đông Nam Châu Á nữa. Dù không khiêu khích ai, chiếc tầu tình báo USS Pueblo của Hoa Kỳ đã bị lực lượng Bắc Hàn bắt giữ. Sự kiện này rõ ràng là một hành động gây chiến đối với Hoa Kỳ. Toàn thế giới sửa soạn cho một cuộc trả đũa của Hoa Kỳ, có thể là một cuộc không kích hay xâm lăng toàn bộ nước Bắc Hàn*.
____________________________________________________________________

*Việc bắt giữ chiếc Pueblo đã mang lại cho Liên Bang Sô Viết một thành công rất lớn về mặt tình báo. John Walker, một tên phản bội tổ quốc trước đó đã trao lại cho kẻ thù các mật mã của Hoa Kỳ. Nay họ lại có thêm các trang thiết bị để đọc chúng nữa. Vào thời điểm đó thì người Mỹ chưa biết được điều này.

Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM

CƯỠI NGỌN SẤM (13)

cuoingonsam

richardbotkin

Chương 8

Đoạn kết của một khởi đầu

Cuối hè 1967

Quyết định của Đại úy John Ripley để Trung sĩ mới thăng cấp Chuck Goggin tiếp tục làm Trung đội trưởng Trung đội 1 sau biến cố đầu tháng Tư, cái sự kiện đã làm thiệt mạng vị Trung đội trưởng cũ, cho đến hết nhiệm vụ tác chiến của anh không phải do muốn tiết kiệm tiền thuế hay do lòng thận trọng. Mặc dù người thọ thuế Mỹ, nhất là binh đoàn TQLC có thể tiết kiệm được khoản tiền lương sai biệt 109,50 đô-la mỗi tháng (thời giá năm 1967) giữa một Trung sĩ và một Thiếu úy trong vòng năm tháng trời, John Ripley đã quyết định điều này vì anh nhận ra tài năng của Chuck Goggin.

Trở về từ Hawaii

Mặc dù đã trải qua những thời gian hạnh phúc và lãng mạn trong khoảng thời gian 115 tiếng đồng hồ đầu của thời hạn 120 giờ, tạm xa vắng cái viễn ảnh khủng khiếp là John Ripley có thể bị thiệt mạng trong địa ngục của Vùng I Chiến Thuật, nhưng những giây phút cuối cùng tại Honolulu đã khiến cho cặp tình nhân trẻ trở về với cái thực tế không hay. Khi họ trở lại trung tâm tiếp đón của trại Ft. DeRussy để từ giã nhau, John và Moline Ripley, giống như các cặp khác, đều ý thức rằng vòng tay ôm cuối cùng có thể sẽ là một nụ hôn, một vòng tay ôm hay một lời nói “anh yêu em” cho một lần cuối. Trong giây phút cuối, nỗi đau khổ của biệt ly dường như đã xóa đi khoảng thời gian sung sướng và hạnh phúc ban đầu, hoặc lấn áp luôn cả chúng nữa.

Lúc này thì bề ngoài họ có vẻ săn dòn hơn lúc mới đến, da dẻ bị cháy nắng lẫn với những khoảng da bị sạm đen đi. Họ không còn ngượng ngùng trong những bộ đồ thời trang lòe loẹt aloha nữa và rất tự nhiên như ở nhà vậy. Tuy nhiên nỗi sầu biệt ly khá hiển nhiên ai cũng có thể nhận ra được. Những giọt lệ rơi và tiếng nức nở chỉ làm tạm nguôi ngoai cõi lòng đứt ruột của họ.

Theo qui lệ thì các chàng trai ra đi trước, cũng bằng những chiếc xe buýt tại trại Ft. DeRussy mà chẳng bao lâu trước đó mới đổ xuống bến những quân nhân và TQLC còn tươi tỉnh để họ bắt đầu một qui trình y hệt như những người kém hạnh phúc hơn vừa chấm dứt xong kỳ nghỉ phép của họ. Tại đúng cái chỗ mà năm ngày trước “aloha” có nghĩa là “chào mừng,” nơi mà mùi hương vòng hoa leis cùng với mùi nước hoa xức đặc biệt, cũng cái chốn mà nhạc Hawaii cùng hòa quyện với nhau để nói lên ý nghĩa chờ đợi những giây phút hạnh phúc, thì nay tất cả những sự kiện đó lại làm cho chữ “aloha” đổi nghĩa thành “tạm biệt.”

Từ Waikiki các quân nhân đi ngược về hướng phi trường. Chuyến xe đưa họ, lẻ bóng một mình, đi trở qua các địa điểm mà chỉ vài ngày trước họ đã xây dựng biết bao nhiêu là kỷ niệm trìu mến. Sau đó thì họ đáp các chuyến bay bao thuê dân sự mới đến vài giờ trước đó từ Việt Nam sang. Quang cảnh chung trên các chuyến bay về hướng Tây chẳng có gì là vui vẻ cả. Ít ra thì Đại úy Ripley còn có dịp tâm sự với vài người bạn mà anh mới quen trong chuyến bay từ Việt Nam qua Honolulu. Cùng với ba sĩ quan TQLC nữa, một Đại úy và hai Trung úy, họ tự mệnh danh là bốn chàng “Ngự Lâm Pháo Thủ.”

Moline Ripley ở lại một mình. Nàng không có sự lựa chọn nào khác và buộc lòng phải chịu đựng cho qua đi nỗi buồn. Sự cô đơn tại thiên đường là một trải nghiệm đau đớn nhưng là cái giá phải trả và nàng phải cắn răng trả cho xong. Giống như tất cả các phụ nữ khác đồng thuyền đồng hội, Moline cũng phải thực hiện những điều cần phải làm và chịu đựng những gì cần phải chịu đựng.

Nỗi biệt ly đau lòng mà những cặp vợ chồng trong nhóm “Ngự Lâm Pháo Thủ” của Ripley không hề là những cảm xúc có tính cách bông đùa hay trẻ con. Đối với hai trong số bốn người vợ thì rốt cuộc chuyến nghỉ phép của chồng đã trở thành là đoạn cuối của con đường đời họ. Trong vòng sáu tuần sau đó, hai trong số bốn sĩ quan TQLC kia đã bị tử trận.

Sự việc John Ripley trở lại mặt trận hoàn toàn không có gì trở ngại, ngoại trừ việc cố tạm quên đi một số kỷ niệm tuyệt vời của chuyến đi nghỉ phép nhằm tập trung vào nhiệm vụ trong suốt thời hạn nhiệm kỳ còn lại. Cường độ và sự tàn bạo của các trận đánh mà Đại đội Lima tham dự không hề thuyên giảm. Trận giao tranh trong cái ngày của tháng Ba mà Chuck Goggin trở thành Trung đội trưởng chỉ là một đoạn phim có thể cắt ra từ bất kỳ chỗ nào trong một cuốn phim hiện thực với những màn cường điệu được chiếu đi chiếu lại không có đoạn kết. Tất cả mọi người đều có cùng một sự suy nghĩ, từ viên chỉ huy cho đến người lính trơn, họ đều quyết tâm sống còn sau mọi cuộc đụng độ. Trừ phi người lính bị thiệt mạng hay bị trọng thương, anh ta chỉ biết chờ đợi những trận đánh kế tiếp cho đến khi nào hoàn tất chu kỳ nhiệm vụ của mình.

Tốc độ xoay vòng về nhân sự của các Đại đội với quân số hơn 50 người của 18 Tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 1 và 3 TQLC Hoa Kỳ tại Vùng I Chiến Thuật vào khoảng giữa năm 1967 thật chóng mặt. Cứ mỗi tuần trôi qua lại càng có nhiều TQLC bị thiệt mạng hay bị thương hơn. Sự khát máu của chiến tranh đối với cấp chỉ huy các đơn vị nhỏ không hề giảm cường độ. Tại vị trí chỉ huy các cấp Đại đội và Trung đội dường như có một cánh cửa mở xoành xoạch với những sĩ quan mới, khỏe mạnh đi vào và những người bị gãy đổ hoàn toàn hay từng phần loạng quạng bước ra.

Theo diễn tiến thường lệ của các biến cố, Đại đội Lima được bổ sung tương đối đầy đủ sĩ quan và hạ sĩ quan. Có một điều lạ là Đại úy Ripley luôn thuyên chuyển họ qua các Trung đội 2, Trung đội 3 và Trung đội Pháo binh. Trung sĩ Goggin tiếp tục làm Trung đội trưởng Trung đội 1 và không ai phàn nàn điều gì cả.

Nhiệm vụ của Trung sĩ Goggin với cương vị sĩ quan chỉ huy của Trung đội 1 không hề nhàn rỗi chút nào. Trong một ngày khi anh đã nắm Trung đội gần được sáu tuần thì toàn bộ Đại đội được lệnh thực hiện một cuộc di hành tuần tiễu và tảo thanh sâu trong khu vực phía Tây của con đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc hành quân được thực hiện bằng đường bộ vào khoảng 25 đến 30 dặm trong một ngày trời. Đại đội Lima đã đạt gần đến mục tiêu trong ngày 13 tháng Tư năm 1967, sâu trong vùng đất địch. Trung đội 1 đi tiên phong trong suốt buổi sáng và chẳng may một trinh sát đã bị trúng đạn mất mạng trong buổi sáng hôm đó. Cuộc hành quân lục soát con đường mòn vẫn tiến hành và thi thể anh được bốn đồng đội TQLC thay phiên nhau từng toán mang theo trong tấm poncho đưọc gấp đôi.

Tàng cây trong rừng già quá dày đặc để tản thương như thường lệ nên họ cố gắng mang xác bạn ngược về hướng cũ, vừa đi vừa hết sức nâng niu và trân trọng thân xác của đồng đội. Trong một lúc thay đổi người khiêng, không rõ vì nguyên nhân nào hay vì ai đạp phải, khi chuyển vị trí để đổi phiên, một trái mìn bên cạnh con đường mòn chợt phát nổ. Cả bốn TQLC lãnh đủ sức nổ và miểng của trái mìn trong đó Trung đội trưởng Chuck Goggin trúng phần nặng nhất. Địa điểm tải thương còn cách xa đến hàng dặm và vì đoàn quân còn dưới tàng cây nên trực thăng tản thương không thể đáp xuống được. Cách duy nhất cho Chuck Goggin là đành phải tiếp tục đi bộ mà thôi. Do đó anh buộc lòng phải bước đi trong sự đau đớn thêm ba hay bốn dặm nữa.

Phương cách tản thương vào thời kỳ đặc biệt đó không giống như các đoạn phim trên truyền hình mà dân chúng tại nhà vẫn thường được xem. Lúc đó chẳng hề có trực thăng chờ sẵn để bốc ngay Trung sĩ Goggin và các thương binh về hậu cứ cho các bác sĩ giải phẫu tài giỏi của Hải quân chữa trị cấp tốc.

Sau khi Đại đội Lima đi bộ nốt đoạn cuối dài ba bốn dặm về đến điểm hẹn thì người chết và các thương binh được mang lên xe vận tải chạy ngược về Cà Lũ theo quốc lộ 9. Những người không bị thương thì tiếp tục phải cuốc bộ.

Trung sĩ Goggin bị trúng tổng cộng 14 miểng mìn trên đôi chân, sau lưng và một mảng vai trái. Anh may mắn không bị tàn phế nhờ cái ba lô đã lãnh phần lớn của cú nổ. Chuyến xe vận tải về Cà Lũ còn được thay bằng một chuyến xe bầm dập nữa chạy tiếp trên quốc lộ 9 về hướng Đông cho đến Đông Hà. Tại đó anh được khiêng vào một trạm xá dã chiến tầm thường của Hải quân để được mổ và gắp miểng mìn ra khỏi cơ thể.

Từ trạm xá dã chiến đó, sau cùng Trung sĩ Goggin được bốc trực thăng về một bệnh viện Hải quân ở Đà Nẵng để được săn sóc về một vấn đề quan trọng hơn nữa là nguy cơ bị nhiễm trùng. Nhằm tránh chuyện này, các bác sĩ quyết định chưa khâu các vết thương của Goggin lại vội. Do đó mỗi ngày hai lần trong vòng một tuần lễ rưỡi, Chuck buộc lòng phải chịu đựng sự kỳ cọ , rửa ráy và sát trùng của từng vết thương một trong số 14 lỗ thủng trên thân thể. Cách chữa trị này còn tệ hại gấp mấy lần cơn đau của chấn thương ban đầu.

Trong lúc còn là thương binh trong bệnh viện Hải quân tại Đà Nẵng thì có một vị tướng TQLC đã đến thăm Chuck và gắn cho anh một Chiến Thương Bội Tinh. Chẳng may là lúc ông tướng đến thăm thì Chuck còn đang nửa tỉnh nửa mê và chỉ được hay về cuộc thăm viếng sau khi anh tỉnh dậy và thấy cái huy chương ghim trên tấm chăn.

Sau khi các bác sĩ đã hài lòng là nguy cơ nhiễm trùng đã qua, Chuck được khâu các vết thương lại và bốc bằng trực thăng ra tàu bệnh viện USS (AH-16) để dưỡng sức và hồi phục. Mặc dù anh rất trân trọng môi trường yên tĩnh, chăn nệm sạch sẽ và thức ăn ngon lành nhưng Chuck cảm thấy chán muốn chết. Trong khi anh đang nằm không chẳng phải làm gì thì anh chứng kiến nhiều đồng đội cùng Đại đội Lima đã bị đụng độ nặng nề hơn nữa trong lúc anh vắng mặt. Anh biết rằng anh phải trở về đơn vị mà thôi. Phải trở về ngay lập tức. Và anh xoay sở sao đó nên được trả về khá sớm.

Trong lúc Trung sĩ Goggin vắng mặt thì Đại đội Lima nhận được một Thiếu úy mới được thuyên chuyển đến Trung đội 1. Chuck không thấy có vấn đề gì cả. Lúc trở về anh tự động nhận lãnh vai trò Trung sĩ của Trung đội và vui vẻ giúp ý kiến cho vị chỉ huy mới.

Tuy nhiên viên Thiếu úy này chỉ kéo nổi non một tháng thì bị gục ngã bởi bệnh sốt rét. Vào cuối tháng 5 thì Trung sĩ Goggin một lần nữa lại trở thành Trung đội trưởng.

Đại úy Ripley không phải là người duy nhất nhận ra giá trị của Trung sĩ Goggin đối với binh đoàn TQLC. Ngay khi trở về nhiệm vụ, Chuck đã được mời làm sĩ quan. Mặc dù rất trân trọng niềm hãnh diện và lòng tin đã được đặt vào nơi mình, Chuck Goggin vẫn bám víu vào giấc mơ trở lại với bóng chày nếu anh không bị tử trận hay bị trọng thương. Anh từ chối lời mời một cách chân thành vì nếu nhận, anh sẽ phải ở lại phục vụ thêm một năm nữa, điều này giống như thiên thu trong ngành thể thao chuyên nghiệp.

Đoạn kết của các Trinh Sát Ripley

Hầu hết mọi chốn tại Việt Nam và chắc chắn là toàn bộ khu vực phía bắc Vùng I Chiến Thuật mà Đại đội Lima đã chiến đấu trong suốt thời kỳ Ripley làm chỉ huy, thuộc về loại các khu vực thường được gọi là “nằm giữa hoang vu.” Ngay cả cái huy hoàng tương đối của đồi Cà Lũ, bản doanh của Đại đội với các tiện nghi chưa bằng một xóm nghèo tại quê nhà nhưng đã là một ốc đảo đối với các TQLC của Lima rồi, cũng hoàn toàn đúng như sự nhìn nhận của mọi người; chỉ là “một cõi hoang vu…” mà thôi.

Trong khoảng thời gian từ 12 đến 13 tháng tại Việt Nam, John Ripley đã làm Đại đội trưởng Đại đội 6, làm “bố già” cho Đại đội Lima, Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ. Cùng hoàn cảnh với anh bạn đồng đội trẻ Chuck Goggin, anh cũng muốn sống sót và rời khỏi Việt Nam. Hơn bao giờ hết, anh nhớ vợ vô cùng và muốn ôm đứa con trai vào lòng, đứa con giờ đây chắc không còn nhớ bố nó nữa. Nhưng cường độ thường nhật của chiến trận, nhu cầu chỉ huy đã đòi hỏi anh phải tập trung toàn bộ 100% tâm trí và thời gian đến mức anh không còn chút thời gian nào để suy nghĩ về vấn đề ra đi nữa. John Ripley phải dốc hết tất cả sức lực và khả năng để Đại đội Lima có thể sống sót được và còn phải chiến thắng nữa.

Nhiệm kỳ thông thường của một Đại úy Đại đội trưởng là tối đa sáu tháng trời, nếu anh ta không bị tử trận hay bị trọng thương trước thời hạn đó. Chiến tranh đã lấy đi mạng sống của các sĩ quan bộ binh trẻ, đặc biệt là cấp úy nhanh đến nỗi có quá nhiều đại đội để mà chọn lựa. Được chỉ huy một trong các đơn vị tác chiến đó là một đặc ân trong binh đoàn TQLC thành thử bộ tư lệnh đã có đủ sự sáng suốt để bổ nhiệm các đại úy có khả năng vào những vị trí đó.

Đại úy John Ripley thuộc vào một số nhỏ thành phần các sĩ quan trẻ được toàn quyền hành động vì đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc cho đến khi nào bắt buộc phải cho họ về vườn. Trong khoảng thời gian 12 tháng Ripley chỉ huy Đại đội Lima, đặc biệt từ đầu tháng Ba cho đến tháng Mười Một, cuộc chiến gần như không ngừng nghỉ. Rất ít người tại nhà, mặc dù khi số lượng thiệt hại về nhân mạng ngày càng tăng cao, có thể hiểu rõ và cảm nhận được sự tàn bạo và cường độ mà các TQLC và binh sĩ khác đã phải chạm trán thường xuyên, đặc biệt là tại Vùng I Chiến Thuật.

Cho đến đầu 1967 thì Đại úy Ripley bắt đầu quan sát thấy sự thành kiến của giới truyền thông phương Tây về những sự kiện đã xảy ra và những gì họ tường thuật cũng như không tường thuật lại. Họ quan niệm là những hành động thường xuyên khủng bố dân làng Việt Nam của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt không có giá trị về thông tin. John Ripley đã nổi điên lên với các ký giả khi báo chí Mỹ từ chối không tường thuật sự vụ đã có vài TQLC bị kẻ thù bắt sống và đóng đinh họ như Chúa Giê-Su vào thân cây ngay bên ngoài vị trí phòng thủ gần Cồn Thiên để các binh sĩ Mỹ nghe thấy tiếng kêu la đau đớn cho đến chết của họ.

Trong thời hạn một năm mà John Ripley làm Đại đội trưởng, quân số Đại đội Lima 6 đã xoay vòng hơn ba lần. Đơn vị anh đã chịu thiệt hại hơn 300%. Hầu hết đều bị thương như bản thân anh và Chuck Goggin, những thương binh được gởi về hậu phương trong một thời gian và sau đó trở lại đơn vị để nhận nhiệm vụ mới. Nhiều TQLC của Lima đã trải qua hành trình này hơn một lần. Đại úy Ripley, được ân thưởng duy nhất một Chiến Thương Bội Tinh trong chu kỳ nhiệm vụ này, đã bị thương ba lần. Ngoài những thương vong trong giao chiến, Đại đội Lima đã mất sáu mươi người trong cùng thời kỳ đó, do sốt rét.

Từ lúc John Ripley làm Đại đội trưởng cho đến khi anh rời khỏi nhiệm vụ chiến đấu, cuộc chiến tại phía Bắc Vùng I Chiến Thuật đã từ mức độ nóng bỏng tăng lên cường độ cực nóng. Cứ mỗi lần hành quân là có đụng độ. Mỗi lần chạm trán với bộ đội Bắc Việt, TQLC đều chịu tổn thất nhưng mỗi lần đánh nhau họ đều thắng. Quân Bắc Việt là những chiến sĩ giỏi, không ai phủ nhận điều đó, nhưng họ không đủ sức cầm cự nổi với TQLC Hoa Kỳ. Lúc John Ripley từ giã Việt Nam để trở về nhà thì quân lực Hoa Kỳ đang chiến thắng kẻ thù.

Mặc dù rất khổ tâm khi phải trao quyền chỉ huy Đại đội Lima lại cho người khác nhưng John Ripley biết đấy là chuyện không thể tránh khỏi. Giấc mơ trở về với vợ con như trong mọi câu chuyện thần tiên có hậu chỉ có thể được thực hiện nếu anh chịu rời bỏ chiến trường.

Sau khi tháng nghỉ phép với gia đình chấm dứt và tình cha con với đứa con trai Stephen đã được kết nối lại mỹ mãn, John Ripley được phái đi học một khóa huấn luyện ngắn hạn sáu tháng về Hành Quân Đổ Bộ tại Quantico. Đây là một lớp học mà binh đoàn TQLC Hoa Kỳ gởi các Đại úy có triển vọng nhất đi thụ huấn. Sau đó anh được bổ nhiệm về Bộ Tư Lệnh binh đoàn TQLC tại Washington, DC. với tư cách giám sát viên cho các Thiếu úy bộ binh. Nhiệm vụ này trên thực tế là một quân vụ cố vấn và là gạch nối giữa các sĩ quan chuyên nghiệp và binh đoàn TQLC. Trách nhiệm của họ là điều hòa nhu cầu của binh đoàn và ước nguyện được phục vụ của các thành viên. Tuy nhiên trong thời kỳ Đại úy John Ripley làm giám sát viên, công việc của anh không có gì nhức đầu cả vì hầu hết tất cả các sĩ quan cần bổ nhiệm đều được phái đi Việt Nam.
Screen Shot 2015-06-03 at 9.18.31 AM