Quán Biên Thùy

1.

Đêm Giao Thừa. Trên ngọn đồi 101, mà ai đã đặt cho cái tên là Quán Biên Thùy, cuộc vui vẫn đang tiếp tục. Đám người ngồi vây quanh bếp lửa. Ánh lửa đủ soi những gương mặt chập chờn và đỏ gay vì hơi rượu. Những người lính già thì yên lặng. Những người lính trẻ thì phấn kích hơn bao giờ. Lần này, họ đòi cho được Mỵ hát. Họ la: “Cô Mỵ phải hát cho chúng tôi nghe một bài. Cô Mỵ phải trổ tài.” Một người cầm cốc rượu đứng dậy, nói với người đại đội trưởng: “Đại úy phải nói làm sao để cô Mỵ hát cho chúng tôi nghe, nếu không, Đại úy phải bị phạt uống đền!” Sau đó, anh ta quay sang đám bạn, hỏi: “Phải không anh em? ” Cả bọn đồng đáp: “Phải!”. Rồi tiếng la gào cổ võ cực độ: “Cô Mỵ, hát đi, hát cho chúng tôi nghe đi cô Mỵ!” “Cho tràng pháo tay cổ động cô Mỵ đi anh em!” “Đại úy, 40 cốc đang chờ Đại úy!” Người đại đội trưởng chỉ biết nhìn cô em gái như cầu cứu “Em cứu anh với, Mỵ”.

Mỵ ngần ngại gật đầu. Người đại đội trưởng thở phào như trút cả một gánh nặng. Anh cảnh cáo:
– Chúng ta cùng vui Giao Thừa. Nhưng tôi xin anh em đừng uống nhiều. Anh em hẳn biết đơn vị chúng ta hiện ứng chiến cho sư đoàn. Sau đây tôi xin nhường lại cho cô em tôi…
Đám lính vỗ tay vang dội. Có người la lên:
– Cô Mỵ thương lính rồi, cô Mỵ hát bài lính chiến xa nhà đi cô Mỵ!

Riêng Mỵ, nàng đứng yên. Chưa lúc nào nàng cảm động như lúc này. Nàng đã có mặt tại một nơi mà nàng chỉ được nghe qua báo chí, hay những lời kể lại. Bởi vì Sài Gòn của nàng bình an quá! Bởi vì đời sống của nàng chỉ biết cuối tuần, chiếc áo dài tha thướt trên vỉa hè Lê Lợi, và ly nước mía ở đường Gia Long. Bởi vì mắt của nàng chỉ thấy bầu trời của Sài Gòn trên những phố lầu bình an, và rừng người yên ổn dạo chơi, không bao giờ bận tâm những gì ở xa, như ngọn đồi 101 này.

Rõ ràng, Sài Gòn của nàng chưa thật sự gần gũi cùng chiến tranh. Đêm nàng có thể trở về khuya và ngày vẫn yên tâm trên trang sách vở. Chiến tranh hình như chỉ xảy ra ở một cõi nào đó. Nàng chẳng bao giờ bận tâm thắc mắc. Nàng chẳng bao giờ lo âu về những tin tức từ chiến trường. Dù miền Quảng Trị nóng bỏng với đại lộ kinh hoàng, dù A Sao, A Lưới đã thấy bóng những chiến xa T54. Dù An Lộc, Bình Long, quân ta vẫn anh dũng trước lớp lớp hàng hàng kẻ thù. Dù bao binh đoàn Bắc quân đang tiếp tục theo đường mòn Hồ Chí Minh để tiến về miền Nam. Nàng vẫn chưa biết được sự thật, và cũng vì vậy nàng mới đánh điện tín ra ông anh. Nàng muốn xem cái Quán Biên Thùy mà anh nàng vẫn hằng nhắc ra thể nào. Tờ điện tín đã làm cho anh nàng phải điên đầu: “Em sẽ đón Giao Thừa ở Quán Biên Thùy. Stop. Đón em ở phi trường. Stop. Chuyến bay… Stop.” Anh nàng đã hiểu rõ được cái bướng bỉnh của cô em gái. Lúc nào nó muốn là nó làm. Nó không đợi một câu trả lời… Nó đã thật sự đặt cho anh nó vào một chuyện đã rồi.

Và chuyện đã rồi là cô gái Sài gòn đã đứng ở cửa phi cơ nhìn về khu nhà khách. Nàng mang bộ đồ lính màu hoa rừng, đuôi tóc cột sợi dây thun, đôi kính đen che gần phần trên của gương mặt. Trông nàng vừa có vẻ bướng bỉnh, vừa có vẻ kiêu hãnh. Người đại đội trưởng bảo với người trung đội trưởng: “Con bé cứng đầu bướng bỉnh kia đã đến rồi đấy!” Rồi anh ta cười: “Mày chịu nó không, để tao giới thiệu giùm cho.” Trọng, tên người trung đội trưởng, có vẻ xấu hổ. Dù cõi lòng chàng chợt nổi lên một sự rung động vô cớ. Chàng liên tưởng đến một cánh chim, một hôm nào đậu lại bên khung cửa của đời chàng. Ít ra, có một cánh chim xinh đẹp như thế trong cõi cô liêu này của chàng cũng là một nguồn an ủi lắm rồi. Chàng biết chàng đã bắt gặp một cái gì thân mến nhất mà chàng không thể cắt nghĩa nổi.

Người con gái Sài Gòn đã làm rộn ràng cả nhà đợi. Nàng liến thoắng và nhí nhảnh khác hẳn với đa số cô gái đồng tuổi, thùy mị và đoan trang. Người anh của nàng giới thiệu người đi cùng: “Đây là anh Trọng, Thiếu úy Trọng độc thân.” Anh ta nheo mắt nhìn Trọng. Mỵ đưa tay bắt tay Trọng, rồi nói: “Anh Hai của em có nhắc anh nhiều lần. Hôm nay em mới được gặp.”
– Tôi cũng hân hạnh được đón tiếp một cô gái Sài Gòn.
Trọng trả lời. Đến đây, Mỵ giục anh nàng: “Mau cho em về xem Quán Biên Thùy của anh đi!”
– Không phải của tao đâu, của anh Trọng đấy.
Nàng quay sang Trọng:
– Cắt nghĩa cho em tại sao anh lại đặt là Quán Biên Thùy? Nếu là quán thì phải có cô hàng. Quán anh có cô hàng nào chưa? Cho em biết với.
– Chờ cô Mỵ đấy – Trọng nói.
– Nếu vậy thì quán của anh sẽ bị lỗ nặng. Không tin anh hỏi anh Hai của em đi, có phải em là một tay ăn hàng…
– Chẳng những mày ăn hàng mà mày còn ăn vụng. Tao bắt tại trận nhớ không Mỵ?
– Em ăn vụng ở chỗ nào? Tại em xót thương mấy thức ăn ngon lành không ai làm ơn cứu độ mà thôi. Hứ, anh khó thấy mồ!
– Tao khó ở chỗ nào?
– Thế thì tại sao giờ này anh không có một cô nào? Này nhá, phải có gì cho em rồi em giúp…
Cả bọn cười vui trước câu nói của Mỵ.

Ngày cuối năm, ngày của trở về. Trên gương mặt của mỗi người hôm nay, dù đợi giờ lên phi cơ hay dù bước xuống tàu, đều hiện lên ánh mắt hân hoan và cảm động. Có lẽ lát nữa họ sẽ có mặt tại ngôi nhà cũ, gặp lại những người thân yêu, và sống lại những giờ khắc bé nhỏ như ngày xưa. Họ sẽ sống lại cùng thế giới của lòng mẹ, lòng cha, của ông bà nội ngoại, mà họ đã xa cách vì cuộc sống và vì chiến tranh. Nhưng với một người con gái Sài Gòn này, sự có mặt của nàng còn mang một ý nghĩa khác: Người đại đội trưởng có thể tìm lại qua nàng hình ảnh gia đình cùng cõi thân yêu cũ. Và Trọng, chàng bắt gặp ở nàng một niềm hạnh phúc thầm kín. Ít ra, vẫn còn có con chim Họa Mi tìm đến Quán Gió, hót lên tiếng hót, cho những đời trai miệt mài trong dòng cuồng lưu hung bạo.

Dọc đường, Mỵ nói chuyện huyên thuyên. Nơi này quả thật xa lạ và mới mẻ đối với người con gái Sài Gòn. Nàng hỏi anh nàng về từng tên của dòng sông, chiếc cầu, ngôi làng. Nàng bắt anh nàng phải kể về ngôi nhà thờ đổ nát mà anh nàng đã viết trong thư: “Không biết ông lão kéo chuông còn ở đấy không hở anh? Không biết những con sáo đen có còn trở về mỗi buổi chiều không hở anh? Không biết những xuồng ghe còn đổ về trong ngày phiên chợ không hở anh? Này anh, những cô thôn nữ chắc đẹp lắm, phải không anh?…” Và bởi vì nàng thắc mắc nhiều quá nên Hải, anh nàng, phải dùng Trọng để trả lời thay. “Anh Trọng biết nhiều lắm. Mày nên hỏi anh Trọng thì hơn. Để tao còn thì giờ lái xe”.

Đến khu rừng thưa, chợt Hải rồ máy, Trọng lên đạn cây M16 và chĩa ra bên đường. Chiếc xe Jeep phóng ào trên con lộ vắng, hai bên đường nổi lên những lùm tre, lùm dừa bất trắc… Hành động của hai người đã làm Mỵ run sợ, mặt mày tái mét. Nàng bấu chặt lấy tay Trọng, và im thin thít. Bây giờ nàng mới có thể hiểu về một nơi mà người ta gọi là chiến tranh, một nơi mà nàng chỉ nghe mà không hề thấy. Nàng đã bắt đầu chạm vào cái khối không gian của hiểm nguy và từng thước đất của đe dọa thường trực. Nàng nghe cái ớn lạnh như chiếm lấy cả da thịt đến nỗi nàng phải run lên. Những lùm cây đó, những bờ mương, bờ rạch đó, chúng quá vô tri, vô giác, tại sao chúng lại tỏa ra nỗi đe dọa không rời. Thì ra, nàng nhớ anh Hải vẫn hay nhắc về những con ma rình rập mà ngày ngày anh phải đối diện, có phải là những con ma này không. Bên cạnh, Trọng vẫn hờm súng. Chiếc xe vẫn tiếp tục thả hết tốc độ về phía trước, trên con đường ngập những ổ gà và bụi mù. Và Mỵ đã nép sát vào người Trọng lúc nào nàng cũng không hay.

Khi qua khỏi khu rừng thưa, thấy lại xóm nhà, Trọng mới bỏ súng xuống. Mỵ nói không ra hơi: “Các anh làm em sợ muốn đứng cả tim.” Trọng cười: “Chúng tôi chỉ đề phòng. Cái chỗ rừng thưa này, bọn nó hay về bắn tỉa, hoặc đón xe đò.” Lúc này Mỵ mới nhận ra mình đang cầm tay Trọng và nép sát vào người chàng. Nàng bẽn lẽn đến đỏ mặt. Nàng cắn ngọn tóc đang bay xòa trước mặt, và ngồi im không nói.

2.

… Bây giờ Mỵ đứng dậy. Dưới ánh lửa, nàng có thể nhìn những người lính già, thu mình trong chiếc áo ấm rộng thùng thình. Nàng không thể ngờ họ lại có mặt tại nơi này. Đáng lẽ ở cái tuổi của họ, đêm nay họ phải có mặt bên lũ cháu nội ngoại. Đáng lẽ giờ này họ sẽ mặc lại chiếc áo cổ truyền để thắp những thẻ nhang trước bàn thờ gia tiên. Nàng lại nhìn những người lính trẻ. Có gương mặt của ruộng đồng còn in trên nét phong sương. Có người râu và tóc mọc đầy. Có người mang kính cận thị. Và nàng cũng bắt gặp đôi mắt của Trọng nữa. Từ đôi mắt ấy, có cả một khối buồn, khối thao thức, bâng khuâng, dằn vặt của một người trí thức. Nàng nghe anh nói Trọng có cử nhân văn chương và hơn nữa, cái tên Quán Biên Thùy do chính chàng đặt ra. Chàng đã làm một bài thơ nói về một ngọn đồi nắng lửa, bốn bề là rừng tiếp rừng. Bài thơ được đại đội chuyền nhau đọc, và người đại đội trưởng quá thích, đã cho lính dựng lên tấm bảng đề Quán Biên Thùy ngay ở cổng trại. Phải, anh Trọng ơi, em phải cảm tạ anh vì anh đã làm cho em hiểu được những giọt mồ hôi của các anh, của định mệnh đang đè nặng lên đất nước chúng ta. Em ao ước được mang về những ngọn gió dịu dàng, tình tự đến cùng các anh.

Ánh lửa trước cơn gió đêm làm hình bóng những người ngồi trên sân trở nên chập chờn, có lúc sáng lên, có lúc mất đi vì gió đánh bạt. Và Mỵ ấp úng nói: “Thưa các anh, cám ơn các anh đã dành cho Mỵ nhiều cảm tình. Trong đời Mỵ, Mỵ chưa bao giờ có một đêm hạnh phúc như đêm nay. Mỵ mới hiểu rõ về nỗi hy sinh vô bờ của các anh. Giờ này, Sài Gòn của Mỵ đang làm lễ giao thừa. Nhưng giờ này, các anh đang ngồi đây bỏ quên những giờ phút thiêng liêng nhất…” Nàng nói đến đây, không còn cầm được nước mắt. Có phải nàng hiểu giá trị của một nỗi an bình là kết quả của bao nhiêu nỗi hy sinh quá thầm lặng từ những người đã có mặt, sống và chết vô danh?

Mọi người im lặng. Họ hiểu người con gái Sài Gòn đang quá chừng xúc động. Tiếng củi cháy kêu lách tách. Có bóng người lính cầm súng ở chòi canh. Những tiếng nổ rời rạc đâu đó. Đó là tiếng súng thay tiếng pháo. Và nàng bắt đầu cất lời hát. Nàng đã từng được tiếng là người hát hay nhất của trường. Trong các buổi văn nghệ ở nhà trường, mỗi lần tên nàng được giới thiệu là cả một rừng pháo tay vang động, và không bao giờ đám học trò bạn học lại không bắt nàng hát thêm bài thứ hai, thứ ba. Tuy nhiên, những lần hát như thế, nàng ít khi bắt gặp cái hồn của âm nhạc, cái cảm thông của người hát và người nghe. Nhưng bây giờ, tiếng hát là tiếng lòng đích thực. Tiếng hát cất lên như niềm cảm tạ, như nỗi tri ân, như lời vỗ về an ủi, như cả dòng lệ đẩy đưa cái nôi hoạn nạn gian khổ từ những con người, như u ẩn nỗi lòng của người cô phụ chờ chồng trở lại. Ai lướt đi ngoài sương gió, không dừng chân đến em bẽ bàng… Em ngồi đan áo… Ừ nhỉ, giao thừa sao lại buồn tàn thu. Nàng cũng không biết tại sao nàng lại cất lên nỗi niềm của người cô phụ? Phải rồi, mùa xuân vẫn còn có biết bao người cô phụ vẫn còn ngồi đan áo. Phải rồi, nhắm mắt lại, người con gái Sài Gòn còn thấy được những người ngoài sương gió, bỏ quên cuộc đời, bỏ quên tuổi trẻ, bỏ quên hiện tại, tương lai.

Bài hát đã hết, nhưng âm hưởng vẫn còn lắng lại vào tâm hồn người lính xa nhà, đến nỗi sau đó, là nỗi lặng yên đọng trên từng khối đêm như mặc niệm cùng quá khứ, như hoài niệm lấy dĩ vãng của mỗi người. Rồi trong một thảng thốt, tiếng vỗ tay như pháo nổ đồng loạt vang dậy, và tiếng la, tiếng hét tiếp tục. “Họa mi hát nữa đi, hát cho chúng tôi nghe thêm nữa đi!” Người con gái quay lại nhìn anh nàng. Hải vừa vỗ tay vừa nói với em: “Em hát thật xuất thần. Chưa bao giờ anh nghe em hát hay như thế!” Bỗng một tiếng nói cất lên từ trong một góc tối: “Tôi có đề nghị, chúng ta không thể để cho cô Mỵ hát một mình mãi. Đêm còn dài, chúng ta phải chứng tỏ ở Quán Biên Thùy có nhiều tài năng. Tôi biết có một người hát thật hay, chơi đàn cũng thật giỏi. Thiếu úy Trọng…”

Tiếng vỗ tay lại nổi dậy: “Phải đó. Mời Thiếu úy Trọng. Đừng để Quán Biên Thùy phải mất mặt bầu cua…” Mỵ nhìn Trọng, đôi mắt ngời sáng. Trọng lúng túng nhìn Mỵ rồi lắc đầu. Nhưng chàng không thể ngồi yên như vậy được. Những người ngồi xung quanh đang đòi chàng phải đại diện. Họ giục. Họ khuyến khích. Họ đưa mắt nhìn người trung đội trưởng chờ đợi. “Thôi Thiếu úy đừng xấu hổ nữa. Có em đây. Em đứng đằng sau Thiếu úy đây.” Một người lính trẻ cầm tay Trọng kéo dậy: “Thôi mà ông thầy, bộ ông thầy muốn làm mất mặt Quán Biên Thùy này sao?”

Cuối cùng Trọng phải đứng dậy. Hát cho ai. Hát cho người nào. Con chim từ đâu đã bay lại, đậu trên đồi một đêm. Con chim từ đâu đến đây làm tôi nhớ lại ngôi trường Văn Khoa, con đường Nguyễn Du cây xanh bóng mát. Và gió Bạch Đằng. Và nhà thờ Đức Bà. Và ly chanh đường. Uống môi em ngọt. Đêm càng khuya, sương càng dày, đồi càng lộng gió. Tiếng súng bắt đầu rộn ràng và đồng loạt. Giây phút Giao Thừa. Đợi chờ một phút, cho hoài niệm. Những tia đạn lửa xẹt ngang dọc cắt bóng tối. Ở chòi canh, người lính đã bắn súng mừng giao thừa. Trọng bắt đầu hát. Giọng chàng thật ấm. Từ trong đám đông, Mỵ nhìn người thanh niên. Nàng bỗng nghe thân thể nóng ran khi nhớ lại lần nắm chặt tay Trọng, cùng nép sát vào người Trọng. Có phải đó là dấu hiệu khởi đầu cho một tình yêu hay không?

3.

Đêm còn lại, Mỵ trằn trọc không thể nào chợp mắt. Hay tại vì nàng đang ở tại một nơi xa lạ, cách biệt hẳn cái thế giới quen thuộc của nàng? Không còn căn phòng với ánh đèn mờ nhạt. Không còn chiếc giường nệm và tủ áo dài, cái bàn trang điểm. Hay tại vì nàng đã chạm vào cái thế giới vừa tội nghiệp vừa bi tráng của Quán Biên Thùy? Hay tại vì người thanh niên có đôi mắt quá buồn, nhưng dáng dấp thì kiêu ngạo? Nàng vói tay lấy chiếc áo dạ nhà binh mặc vào người, rồi bước ra cửa hầm. Nàng bước co ro trong bóng tối. Đêm đặc quạnh, chỉ nghe tiếng gió đập vào mái tôn kêu lách cách. Đôi mắt nàng khốn khổ để làm quen với cõi lạ. Dưới đồi, sân bay quân sự và bản doanh của sư đoàn còn thấy những ngọn đèn nhiều nến, mờ nhạt trong sương đêm. Nàng đứng yên lặng. Lạnh. Run rẩy. Bỗng nhiên nàng nghe tiếng nói của người thanh niên. Tiếng nói như thân thiết tự một kiếp nào: “Cô Mỵ, cô chưa ngủ sao? Chắc là nơi này không quen với cô…” Mỵ quay sang nhìn Trọng: “Anh Trọng, em chưa muốn ngủ. Em muốn được hưởng một đêm trọn vẹn tuyệt vời như đêm nay.” Trọng lại hỏi Mỵ:
– Tại sao cô Mỵ lại lặn lội đến Quán Biên Thùy này? Cô Mỵ không sợ nguy hiểm sao?
– Bộ các anh coi chuyện chiến tranh chỉ dành riêng cho các anh hay sao?
– Nhưng nơi đây không thể hợp cho một người con gái Sài Gòn. Cô làm cho anh cô phải lo đến điên khùng khi nhận tấm điện tín của cô.
– Nhưng đêm nay là đêm giao thừa. Chiến tranh cả năm ít ra còn chừa một đêm ngừng bắn. Em nghe nói hai bên hưu chiến.
– Phải. Ít ra đêm nay người ta bỏ qua thù hận, chém giết.
– Cầu mong 365 đêm là 365 Giao Thừa.
– Cô Mỵ có ý kiến thật ngộ nghĩnh. Nếu thế thì đất nước ta là thiên đàng.
– Và mọi người trên thế giới sẽ nạp đơn xin về Việt Nam.

Mỵ cười thật vui. Lòng Trọng đâm ấm áp lạ lùng. Chàng hỏi Mỵ:
– Đi ngoài đêm, cô Mỵ có lạnh không?
– Em không lạnh. Em có cả chiếc áo dạ nhà binh trên người.
– Cô Mỵ à.
– Dạ, thưa anh.
– Văn Khoa của mình còn thầy T. dạy không?
– Dạ còn.
– Ông là vị thầy tôi kính nể. Nhờ ông mà tôi yêu văn chương. Mỗi lần ông giảng bài hay mỗi lần ông đọc thơ, là mỗi lần tôi phải ngồi chết trân. Ông đã giúp tôi tìm về chữ nghĩa. Một câu mà tôi vẫn nhớ mãi: “Văn chương là hơi thở.” Ngày ấy tôi vẫn còn nghi ngờ, nhưng giờ đây tôi mới biết. Hơi thở hụt hẫng từ những đêm những ngày của chiến tranh. Hơi thở ấy đến cả từng dấu chấm, dấu phết.
– Anh Hải nói như anh đang viết văn làm thơ.
– Phải, tôi dùng nó để mang hơi thở của tôi, của đồng đội tôi và tuổi trẻ của tôi.
– Và cả của em nữa, anh Trọng à!
– Thưa cô…
– Anh đọc cho em nghe một bài thơ của anh đi.
– Vâng, tôi làm nhiều thơ, nhưng không bao giờ thuộc hết. Để tôi rán nhớ xem… Vâng, tôi nhớ ra rồi. Bài Quán Biên Thùy.
Đồi đưa tôi lên tận mặt trời. Tôi lưng chảy dài những giọt mồ hôi. Mồ hôi tôi trộn vào nơi khói lửa. Tôi ở đây, một Quán Biên Thùy. Tôi là một tên tuổi trẻ lông bông. Thị tứ quá xa nên quán phải buồn. Không bàn ghế, không tách cà phê đắng. Tôi thổi khẩu cầm gọi bản gọi buôn…

Chợt một tiếng nổ lớn dội về. Tiếng nổ của trái hỏa châu. Rồi một vùng ánh sáng ngập lòa cả ngọn đồi. Tiếng nổ đã làm người con gái hoảng sợ, ôm chầm lấy người thanh niên. Người thanh niên dịu dàng nâng cằm người con gái lên. Chàng bắt gặp hai đốm sáng từ đôi mắt. Chàng nói trong hơi thở:
– Mỵ đừng sợ. Chỉ là tiếng nổ của trái hỏa châu. Họ mừng giao thừa trễ đấy!
Rồi chàng hôn lên mắt, lên trán của người con gái. Người con gái nhắm mắt lại. Nàng ngước đôi môi chờ đợi. Sau đó, họ hôn nhau cuồng bạo.

4.

Ngày hôm sau, giữa lúc Mỵ sửa soạn hành trang cho cuộc trở về thì đại đội được lệnh phải xuống đồi khẩn cấp. Địch đã chiếm một quận lỵ bên đèo vào sáng sớm mồng một và viên quận trưởng bị giết. Tiếng còi, tiếng kẻng tập họp khua liên hồi. Những người lính từ trong các dãy nhà tôn đổ ra, cùng với ba-lô, súng đạn nặng nề. Lúc này, Mỵ có thể thấy tận mắt thế nào là trận chiến, là binh lửa. Mọi người vẫn bình thản dưới ánh nắng đầu xuân. Mỵ nhìn Trọng. Người thanh niên đang đứng trước hàng quân. Người thượng sĩ già trung đội phó đang kiểm soát đạn dược súng ống. Con chó vàng vẫn tiếp tục vẫy đuôi cùng người này sang người khác. Những chiếc mũ rừng che những gương mặt rạm nắng. Những quả lựu đạn, hỏa tiễn M72 treo lủng lẳng trước ngực. Mỵ nhìn họ. Người ta đã từng kết án họ. Hãm hiếp. Mổ mật. Cắt xẻo lỗ tai. Nhưng Mỵ đã không bắt gặp một dáng dấp gì của đoàn quân đánh thuê, đánh mướn. Họ, những người rất bình thường, nông dân mộc mạc, hay những người lính già sạm đen, lưng trĩu nặng bởi cấp số đạn phụ trội, hay những người lính trẻ, đôi mắt sáng yêu đời nhưng chịu đựng và tuân phục trong hàng ngũ. Họ đang đứng nghiêm trước con mắt diều hâu của viên thượng sĩ thường vụ. Sau đó ông thượng sĩ thường vụ báo cáo với ông trung úy đại đội phó. Ông trung úy lại hô nghiêm, báo cáo với đại đội trưởng. Mỵ đã đặt thẳng câu hỏi cho Trọng, và Trọng nói:
– Trong một tập thể cả trăm người đôi khi cũng có một vài cá nhân làm xấu, dĩ nhiên. Mỵ hẳn biết, thú tính đôi khi phải cần để giải quyết chiến trường. Thú tính làm cho người lính không còn run sợ, khiến họ trở nên cọp beo sư tử. Có người nốc cả cốc rượu đế trước giờ lâm trận. Có người bị ám ảnh bởi khẩu súng phòng không của địch để được lên cấp. Có người bị ít tiền bạc trên xác chết…Có người vì hận thù địch đã tàn sát gia đình họ. Mới đây, có tên hành quân vào làng, lén dùng vũ lực hãm hiếp một cô thôn nữ. Chuyện đổ bể, cả làng biểu tình. Nó quì lạy khóc lóc. Nhưng cuối cùng, bọn anh cũng giải quyết. Anh Hải cử phái đoàn gồm có những người lính già như Trung sĩ nhất Kho, Thượng sĩ Tỏ, Trung sĩ nhất Mười và đám sĩ quan của đại đội đến làng mang cau mang trầu, trước hết là xin lỗi gia đình nạn nhân, sau xin làm đám cưới đàng hoàng. Bây giờ hai đứa đã trở thành vợ chồng.

… Bây giờ mấy chiếc xe GMC đã lên đỉnh đồi. Con chó vàng vừa cúp đuôi, vừa sủa inh ỏi. Trọng bước đến bên Mỵ: “Em trở về bình an. Cho anh gởi lời thăm Sài Gòn, thăm Văn Khoa, thăm chiều Chủ Nhật.” Mỵ nhìn đăm đăm người thanh niên, như muốn uống trọn vẹn hình ảnh của chàng trong buổi chia tay. Dáng Trọng gầy, chiếc mũ rừng chụp xuống, mái tóc dài, những ngón tay khẳng khiu. Chiếc quần trận màu xanh đã bạc, thấy có chỗ tươm rách. Mỵ thương chàng đến độ muốn ôm chầm chàng, để khóc òa như con nít. Mỵ muốn kể tất cả những gì mà con tim nàng đang trỗi dậy, đợi chờ một giây một phút cho cả cuộc đời con gái của nàng. Tuy nhiên nàng vẫn đứng chết trân, đôi mắt ướt nhòa, tóc mai phơ phất. Sau đó, không hiểu sao, nàng lại tháo chiếc trâm cài trên mái tóc của nàng rồi trao cho Trọng: “Anh Trọng, quà của em đây. Cầu xin cho anh được bình yên…” Rồi đoàn xe rồ máy xuống đồi. Bụi đã tung mù cả sân đại đội. Mỵ đứng yên nhìn theo.

Ngày mồng một đầu năm, trời thật xanh và trong. Những con chim én từ đâu bay lại, tiếp tục lượn vờn, nô giỡn trên giao thông hào. Người trung sĩ hậu cứ đã đến bên Mỵ: “Cô Mỵ, thôi mình xuống đồi thì vừa. Giờ này có chuyến xe đò chạy thẳng về tỉnh, không dừng lại dọc đường”. Nhưng Mỵ vẫn đứng yên. Nàng ao ước được làm cánh chim én trong bầu trời nắng vàng để bay theo đoàn xe, bay theo đoàn người, để mang tin lành, tin dữ về họ. Và nếu em có… Đến đây, tự nhiên nàng rùng mình. Cho nàng hay cho Trọng? Tại sao nàng lại nghĩ đến một điều ảm đạm trong buổi sáng mồng một này…”Và nếu em có mệnh hệ gì, em cũng xin được làm cánh chim…”. Nàng lắc đầu, cầm chiếc xắc tay, nhưng hai chân muốn chôn chặt. Có tiếng nói vô hình ở đâu đó như thúc hối nàng: Đừng đi. Đừng đi. Nhưng nàng vẫn bước lên xe Jeep. Ngồi trên băng mà mồ hôi thấm cả trán, cùng một con tim đang đập thình thịch. Hay nàng có một cái linh tính không may. Cho Trọng hay cho nàng? Có lẽ là cho Trọng, vì chàng là người trong cuộc. Chàng đang đối diện với tử sinh. Mỵ cứ nhắm mắt, van vái: “Anh Trọng ơi, cầu mong cho anh được bình an. Em lo sợ quá đi, anh Trọng ơi…”.

Chiếc xe đò vào ngày đầu năm như một cõi rộn ràng và thân mật. Hôm nay, mọi người dường như thân thiết gần gũi hơn mọi ngày. Những người con gái trong những chiếc áo mới, gương mặt tươi sáng, nụ cười cũng tươi. Những bà bán buôn có vẻ hiền từ, nhường nhịn, thay vì gắt gỏng do bận rộn trong những ngày thường. Và nhiều người thanh niên. Họ là lính về nhà ăn Tết muộn màng. Mỵ ngồi cùng với họ, nhưng dường như cách biệt hẳn họ, bởi vì Mỵ là một cô gái Sài Gòn xinh đẹp, áo quần thời trang: chiếc quần jean xanh và cái áo pull màu xanh đậm. Nàng lại mang chiếc kính đen che khuất cả phần trên của khuôn mặt. Nàng đã quên những gì đen tối trước đây nàng đã dự cảm. Bây giờ nàng đang chia xẻ cùng một niềm hạnh phúc chung của một ngày thiêng liêng nhất của dân tộc. Bỏ lại chiến tranh, chết chóc, thù hận đằng sau, để cùng tiếng cười tiếng nói và nỗi lòng rạo rực cho một cuộc sum họp.

Nắng vàng thắm cả đồng lúa bạt ngàn. Thỉnh thoảng, bên đường hiện lên những em nhỏ, các người đàn ông, đàn bà trong những bộ quần áo mới. Vài ông già mang áo dài khăn đóng lướt qua. Mỵ không thể tìm thấy cái không khí của chiến tranh, cái ve vuốt của bất trắc. Ngay cả những người thanh niên trong xe. Họ ngồi bên cửa, ló đầu ra ngoài, vô tư, bình thản.

Nhưng khi chiếc xe chạy đến khúc rừng thưa, nơi mà Trọng đã lên đạn, chĩa súng ra ngoài, và chiếc xe anh Hải rú ga ào phóng trên mặt lộ, thì một nhóm người trong bộ bà ba đen đã xuất hiện. Mỵ lại nhận ra họ còn mang cả súng. Bây giờ cả xe nhốn nháo. Gương mặt những người thanh niên tái mét. Nhưng họ đã bất lực. Họ đã bị sa vào cái bẫy vào ngày mà họ nghĩ là ngưng bắn, hưu chiến hay ít ra, thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam. Mỵ cũng vậy. Tim nàng như ngừng đập. Nàng nghẹt thở theo chiếc xe đò đang từ từ chậm lại, rồi ngừng hẳn.

Cuối cùng, cả một đoàn người được dẫn vào sâu trong bìa rừng, dưới hàng dừa bạt ngàn. Và người ta điều tra xem ai là lính quốc gia, bằng cách nhìn từng bàn chân một. Lính quốc gia dĩ nhiên là mang giày saut, bàn chân trắng không khô nứt. Có bốn người thanh niên được bắt trói ra một bên. Một người trong đám Việt Cộng, có lẽ là kẻ chỉ huy, đã đến trước Mỵ, nhìn chăm chăm nàng, rồi quát lên, giọng Bắc:
– Con này trước Cách Mạng mà còn mang kính đen của tư bản đế quốc đĩ điếm phản động!
Mỵ giật mình co rúm lại. Thì ra, vì sợ quá, nàng đã quên tháo chiếc kính che nắng của nàng.

Đó là dấu hiệu khởi đầu cho một điều dự cảm. Mỵ ngồi một bên, và chỉ mỗi một mình Mỵ là con gái, cùng với bốn người thanh niên đang bị trói, ngồi dưới gốc dừa. Rồi bài học tuyên truyền, rồi răn đe được tiếp tục nói lên từ một người bên kia. Rồi bốn người bị buộc tội là lính đánh thuê, đánh mướn, tàn sát nhân dân, bị bắn trực xạ bằng những phát súng lục trên đầu. Và sau đó, đến phiên Mỵ. Họ dẫn Mỵ vào khu nhà gạch đổ nát. Tay chỉ huy nói với người thuộc cấp: “Đồng chí ở ngoài canh chừng. Tôi phải làm việc với con bé này. Nó chắc là tay sai gián điệp Sài Gòn không chừng.” Người lính gật đầu: “Tuân lệnh anh Ba!” Sau đó hắn bước ra ngoài, đứng gác dưới cây bông sứ.

5.

Trong khi đó, đoàn xe 6 chiếc chở đại đội thám kích đã lên đèo An Khê. Xe trung đội Trọng chạy đầu tiên. Trọng như một người còn say men hạnh phúc. Hạnh phúc hay là định mệnh? Cánh chim từ đâu bay lại, hót bên thềm đời chàng, để lại những dấu chân hồng êm ái. Trong muôn ngàn cánh chim của mùa xuân bay lượn trên đồi, chàng đã tìm thấy một con chim yêu dấu. Đôi mắt sáng lung linh. Bờ ngực phập phồng sau làn vải lụa. Và hai bờ môi cắn bầm bằng nỗi cuồng nhiệt của tuổi trẻ.

Mùa xuân đã về đúng hẹn, và em là mùa xuân, mùa hạnh phúc, mùa ngọt lịm ân điển của địa đàng. Em đã mang tin lành, bình an, đến giữa cõi hoạn nạn. Em ở trên bầu trời xanh sẫm, đúng lúc, đúng hẹn, vô tư, đùa nghịch, vút lên cao, sà xuống thấp. Em, cánh chim mang mùa xuân về trời đất, núi rừng, dù không gian vẫn đầy những đe dọa gầm gừ. Ô kìa, một đàn chim én đang bay rợp trên đèo xám và rừng xanh. Trọng xúc động. Con họa mi của anh giờ này chắc trên chiếc xe đò xuôi về thành phố. Nhưng kia kìa, chàng muốn đứng thở khi nhận ra cả một đám chim mùa xuân, khi không sà xuống đoàn xe. Cứ hết con này, tiếp đến con khác. Chúng phóng xuống đường dễ chừng chúng đang làm một cuộc tự sát tập thể. Rồi trong một khắc giây nào đó, chàng nghe một tiếng rú như xé dội cả trùng trùng điệp điệp núi đèo, đẩy bật cả mấy tầng trời, gốc cây đại thụ, bạt cả bờ vách đá, sau đó là lời van lơn dồn dập: “Anh Trọng. Anh Trọng. Ngừng xe lại. Hãy ngừng xe lại. Anh Trọng ơi!…Nghe em đi, anh Trọng ơi!…”.

Trọng bủn rủn châu thân, nắm tay người tài xế, hối hả nói: “Anh ngừng xe nhanh lên!” Xe thắng giữa đèo. Đại bàng gọi máy hỏi sự tình. Trọng kể trong hơi thở về cái dự cảm của chàng. Đại bàng nói cũng nghe tiếng la rú. Rồi Đại bàng ra lệnh đại đội nhảy xuống xe, bố trí hai bên đường. Sau đó, một đoàn xe chở đạn pháo binh của Đồng Minh qua mặt. Chỉ trong mười phút ngắn ngủi, là sấm động ầm ầm của những quả mìn và tiếng súng lớn, sau đó là cả một khối lửa vĩ đại bừng dậy. Còn Trọng, chàng lom khom bò về hướng Đại bàng, nói không ra hơi: “Đại úy ơi, tôi có linh cảm Mỵ… Đại úy nói giùm tôi một câu. Một câu thôi để tôi yên lòng. Đại úy có nghe tiếng rú không?” Viên đại úy, dù đang bấn loạn, cũng cố an ủi Trọng: “Trọng, tin tao. Mỵ nó không hề gì đâu. Về lại trung đội mày đi. Chuẩn bị bọc hậu. Chừng năm phút nữa có trực thăng bay đến yểm trợ. “

Trần Hoài Thư
Thư Quán Bản Thảo Số 79 Tháng 4.2018
Chủ đề: Trần Hoài Thư Vẫn Còn Mãi Đam Mê

Advertisements

ĐƯỜNG SỐ MƯỜI BẢY

(Gửi hai nhà thơ Trần Vấn Lệ Đà Lạt Cali, Nguyễn Hàn Chung Đà Nẵng Houston- nhờ nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung Nha Trang Mỹ chuyển giúp)

“em mười sáu tuổi tôi mơ
em mười bảy tuổi hai bờ sông xanh”.

Thơ ai vậy? Dạ, của Trần Vấn Lệ. Những câu chữ như một bài kệ. Dạ, tình yêu vốn đong đầy hợp tan, phải câu nệ. Yêu ai như thể mình đang tụng chú, sân si hoặc sám hối đôi lúc là một cái thú. Thú thương đau, vô duyên chẳng ôm mâm trầu cau. Đời vốn lẫn lộn những vàng, thau. Người đi lối khác, nhạt phai mau?

Thử làm một phép tính trừ giản đơn, mười bảy nằm trên mười sáu, kết quả đẻ ra một. Không chắc đã tròn 365 ngày đêm dại khờ. Bị sao vậy? Dạ, tự dưng hai bờ sông xanh hiện tới, chia lìa. Chuyện chi rứa? Dạ, mười bảy tuổi người nớ lên đò, sang ngang.

Mười Bảy. Có sớm quá chăng? Dạ, hình như luật pháp quy định phải đủ tuổi 18 mới có quyền “xác pháo vướng gót chân”? Không biết được, đôi khi chúng ta phải đối mặt với hai chữ trái ngang hy hữu. Lại bày thêm một công thức toán (lớp đệ Ngũ đệ Tam trong tưởng tượng). Hy hữu @ Buồn + Thở Than = Nhà Thơ. Xin rộng lòng bỏ lỗi nếu đứa dốt toán bày ra thứ phương trình tầm bậy, ưa quậy. Tầm bạ, lang chạ.

Nhà thơ có lần giải thích: “Nếu mình lấy-nhau-đặng thì tôi đâu có làm thơ!” Rồi cũng có lần tự vấn: “Phải chi hồi đó tụi mình đừng nhỏ… như bây giờ, không biết đã ra sao?”. Và hồi đó, quá khứ cho tới hiện tại vẫn khẳng định: “Ai sinh em vậy làm con gái cho cõi đời này hết Mỹ Nhân?”

Lại của Trần Vấn Lệ? Dạ, nghe dễ thương cách gì! Tác giả của thi tập mới (một hai năm trước) mang cái tên cũng ngộ “Ở Chi Xa, Xa Mút Chỉ Chân Trời”. Ở tận bên Mỹ mà ngó về Đà Lạt biểu sao chân trời chẳng mút chỉ? Ở Canada cũng rứa, xêm xêm. Mờ mịt thức mây, ngó không êm. Nỗi nhớ hơn cả trái gió trở trời thấy mình rêm. Nghìn trùng chất thương yêu thêm.

Mình từng ở Đà Lạt, có mối tình đầu dại khờ ở tuổi 17. Thành ra thích mượn thơ Trần Vấn Lệ, thế tấm gương soi về tháng ngày cũ. Có chút trùng lẫn giữa mình và hình ảnh chất chứa trong dòng thơ mang mang tâm sự kia. Nếu hồi đó, biết làm thơ, đứng trước ngõ nhà nàng ở đường Phan Đình Phùng để ký gửi nỗi niềm thì có lẽ hai đứa đã lấy-nhau-đặng-thương-hoài-muôn-năm. Chữ “nếu” ngàn đời vẫn hăm he gây nhiễu sự. “Nếu” luôn còn đó để tạo dựng ra cớ: Một nửa tiếc uổng, một nửa hối hận. Ba phần ganh tị bảy phần phân trần. Nếu hồi đó mình cầm tay Hiệp (tên người như tên rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp nằm dưới dốc Minh Mạng đầu đường Phan Đình Phùng) nói lời thề nguyền “bao giờ thác Cam Ly cạn, nước hồ Than Thở khô hạn, anh mới thôi làm bạn cùng em”. Nếu hồi đó tình hình không lem nhem, anh bình thân như vại mong làm mộc đóng con tem. Ra cầu ông Đạo lên khu Hoà Bình chỉ em xem, thông đồi Cù cứ đứng giữa trời mà reo, nào cheo leo. Hai trái tim vàng đâu thể đói meo. Nếu này nối nếu kia theo để mười bảy tuổi sớm nhận cơn gió heo may dồn về.

Thấy tóc dài đi hớt. Thợ hỏi: hớt làm sao? Trả lời: hớt thế nào mà đầu vẫn còn tóc. Chao ơi, nếu mình là thợ ắt phải mang cảm tình với ông khách lạ đời. Hiệp nói: Chăm học đi, kẻo thi hỏng tú tài phải rời cao nguyên xuống Đồng Đế Dục Mỹ làm Trung sĩ. Mình trả lời: Học yêu chưa thành thì làm sao toại chuyện khoa bảng? Gió bên đường Hai Bà Trưng làm đồng minh thổi qua, lạnh run. Hiệp cởi chiếc áo laine màu xanh bleu ủ nhiệt cho thân người tình mãi xớn xác. Mai hẳn trả. Bài thơ chưa tượng hình thốt lời đáng yêu, nếu anh cưỡng đoạt báu vật ấy liệu em có than kêu? Áo đan bằng tay nhốt giữ tất thảy những hương hoa được trồng trên hoàng triều cương thổ. Có mùi thơm nào sánh được mùi trinh nữ chăng? Ngây ngất, biết cách gì để khiến Hiệp dậm cẳng: Vật đi thay người? Đêm về ôm ấp tấm áo ngự hàn không ngủ được, hôn hít trở trăn không cách gì tả xiết. Bao sách giáo khoa lưu trữ trong bộ nhớ đều đổ biển trôi sông. Khuy nút cài lại sao nách, cổ, ngực thảy đều vừa kích, sít sao hơn quần áo đặt may ở hiệu Văn Gừng. Vô tình Hiệp cấy vào người mình một rung động: Bưng chén cơm lên mà đũa rớt hồi mô chẳng hay. Ai nói mười bảy bẻ gãy sừng trâu? Người ấy đáng bị đánh đòn. Thật dại khờ thay!

Chưa mở mắt khôn lanh được chút nào thì vân cẩu bay nát nhừ bầu trời Đà Lạt. Có thể gia đình Hiệp trốn về Sài Gòn mong tìm được lối thoát thân. Sao mình vẫn lần khân? Răng cứ thúc thủ trói chân? Yêu người lậm khiến dạ phân vân? Đi qua đa-nhim tôi kêu hồ nước mắt. Mình cải chính: Dạ, Hồ Thuỷ Lệ chính là tui đây. Gạt lệ thua buồn mình xuống núi hàng lại hàng ngó mờ mịt cảnh bể dâu. Đi xe qua cầu Đà Rằng cúi trông xuống dưới cát bồi khe khô. Điệu hò người dân Tuy Hoà nghe nẫu ruột:

Chứ bây giờ mà em ở kìa nơi đâu?
Để cho anh, anh trông đứng nửa trông ngầu, rầu canh khuya.
Chứ bây giờ em không ngó nữa em không ngàn
Lấy chồng nghèo nó cực khổ mà gian nan nó cơ hàn.

Nghèo! Tháp Nhạn cũng vắng thưa chim bay én lượn. Gặp lại người thầy cũ thiếu đường chắp tay bẩm đạo sĩ. Dép mòn vẹt xách bị lát người gầy khô như cây xương rồng bị vặt sạch gai nhọn. Căn nguyên lưu lạc thổ lộ bên đường tựa giọng cảm hoài của Cao Bá Quát: “Mười năm xuôi ngược dọ hỏi cốt tìm thanh gươm cũ. Một đời cúi đầu chỉ vái lạy trước hoa mai”. Thầy khuyên mình nên ra Đà Nẵng ở nếu còn thân nhân ngoải. Bây chừ thì thôi còn đất lành để chim đậu, tan nát những cánh hoa thời hậu loạn, nhưng chốn ấy nghiệm ra vẫn hơn chốn đây, tin thầy đi. Để xác quyết, đạo sĩ bất đắc dĩ dặm pha thêm lời “vàng ngọc” cơ hồ sao chép từ Charles Bukowski: Này, chỉ tính riêng giấc ngủ của thầy thôi, cũng đủ dài hơn quãng đời mà mi từng trải qua.

Cũng là đà, bỏ Đà Rằng, nhưng không Đà Lạt mà Đà Nẵng. Lại đâm nhớ em má đỏ môi hồng mặc áo laine xanh, sửa đổi ca dao:

Hỡi người ôm sách khoá sinh
Vợ con chưa có nên chưa thành thất gia
Ngộ tình cờ bướm mới gặp hoa
Anh mà lại gặp Hiệp hoạ là trời xây.

Vô duyên với Hiệp thì gặp Hoa. Chợ Cồn, cầu Vồng, Hùng Vương ra tuốt Bạch Đằng thì châu về hiệp phố. Mênh mông chi xứ mà chẳng dè có sợi dây vướng cẳng khiến bổ nhào cảm ơn ông Địa. Nhủ thầm lần ni chắc hẳn hoà hợp. Chánh quán cô hàng cà phê bụi thì ở tuốt trong Điện Bàn. Em mô có tự hồ người thành thị, ở trong quê đúa cơm rách ố mới lần mò roa lồm eng chỗ ni. Reng em biết được lòng doạ anh, có nên trao lời thề thốt giữa hươi đứa mình? Thì cứ thong thoả nhìn mẹt mà bắt hình dong, mình nói, lòng anh ngay thẳng ghét dối gian, y như cái lốp xe đạp thì kêu là cái láp xe độp, không thay đổi mảy may. Hoa cười: Chửi choa không bèng phoa tiếng, đừng có ở đó mà cạnh khoé khó nghe. Mình cúi đầu: Mô có, thiệt hàm oan. Hoa không biết đó thôi, ông nội bà ngoại của anh đều được sinh ra ở Cẩm Lệ quận Hoà Vang làm ăn ở Hoà Khánh. In tuồng như mình cùng xứ, chu choa ơi mình phải tự hồ được đẻ ở đất Ngũ Phụng Tề Phi đó con bạn mình ơi!

Không dưng xúi nhớ bài “Nhìn Em” của thi nhân Bùi Giáng:

Nhìn em nhìn thấy một muôn nơi
Ngó em ngó thấy một muôn trời
Nghe em thỉnh thoảng vô ngần lúc
Ngóng đất đôi phen tuyệt đối đời
Cũng thể em là tiên rất mực
Cầm bằng anh chỉ đứa điên thôi
Trùng lai thái thậm Thiên Đường cũ
Tương kiến tung hoành lệ máu rơi.

Qua êm màn phỏng vấn với tự giới thiệu lý lịch. Bà chủ rất mực rộng lòng thâu nhận nhân viên mới. Mình phụ Hoa pha cà phê chặt nước đá rửa ly tách thu dọn bàn ghế đóng khoá cửa nẻo và kiêm luôn chức vệ sĩ bảo toàn khối tài sản biết di động. Được tin tưởng giao cho giữ chìa khoá chiếc xe gắn máy để sẵn sàng chở tiên cô đi mua nhu yếu phẩm trà đường chanh thuốc lá bột cà phê hoặc mánh mung chuyện tối mật gì đó. Đất Quảng Đà chưa mưa đã thấm, hợp phong thổ nên chỉ hơn tháng mà cây si bén rễ cành lá ra rậm rạp tựa lá bồ đề. Nắm tay xong nắm chân, mới cởi áo chưa cởi quần thì giông bão ập về, gió giật liên hồi kỳ trận để cuốn phăng bao dự tính chõng cọng dơ que. Một bộ phận không nhỏ đã xông vào quán nước làm tan đàn sẩy nghé. Họ bắt Hoa đi với tội danh: Mở hàng bán cà phê chỉ nhằm làm bình phong che đậy, thực chất đây là tụ điểm nhằm liên lạc móc nối tổ chức người vượt biển. May mà họ chẳng sờ gáy mình, sẵn có xe gắn máy của Hoa mình chơi một màn tẩu vi thượng sách. Ôi, ông Bùi Giáng ơi: “Khóc em duy nhất tình đầu, đã đầy đủ quá sức người của anh”.

Hoa có trách móc mình không? Vướng vào vòng lao lý, ở trong tù chắc Hoa sẽ đối mặt với toà án lương tâm: Có nên quy kết tội danh hắn bằng bốn chữ “quất ngựa truy phong”? Cũng oan cho hắn quá, bởi thân này còn nguyên vẹn chưa bị hoen ố xẻ ra làm đôi. Nếu hén thiệt bụng thương yêu, thế nồ hén cũng đợi chờ ngày mình thoát cũi sổ lồng, nửa in gối chiếc nửa chì chiết trong ruột gan. Cho dù không mất đi sự tỉnh táo, hắn mô có tiền của để chạy chọt tìm đường dây mà gỡ rối, bị Bùi Giáng từng cảnh báo: “Trái mít ra quả sớm chiều, Đại Ca Chủ Tịch còn nhiều bận tâm”.

Có một chuyện Hoa không lường được, chính mình cũng ngỡ nằm mơ, do số phận run rủi, một đêm tối trời bên quận 3 mình đu bám được theo nhóm người lên ghe vượt biển. Kỳ lạ thay, ngày mình làm đứa phản bội tổ quốc, tờ lịch in con số 17. Sang tới Hồng Kông mất chỉ năm ngày, lịch chỉ số 22. Từ đây tôi mất Hiệp Hoa, trước thân đơn chiếc mơ hoà hợp sau.

Đà Lạt, Đà Nẵng là hai địa danh. Riêng chữ đà còn mang nghĩa là màu nâu. Người miền Trung thường nói áo lam, áo đà nhằm chỉ tới những vị tu hành khoác áo xám, nâu sòng khổ hạnh. Hoa thấy tóc dài nên đi hớt. Hỏi: Hớt làm sao? Trả lời: Hớt thế nào mà đầu trơ trụi chẳng còn tóc. Cô này nhiều chuyện quá! Sao không bảo là cạo trọc cho dễ hiểu? Khi mình sang định cư ở tệ tam quốc gia, tình cờ có một chị trước ở đường Hoàng Diệu gần Ngã Năm cho hay: Hoa ở tù đúng một năm, sau đó xuống tóc quy y cửa Phật, trú thân trong chùa nhỏ gần bãi biển Thanh Bình, mang tên mới ni cô Lãng Nghiêm.

Ở xứ người, hàng năm mình thử len lỏi đi chung vui ở những đêm liên hoan gặp gỡ các cựu học sinh Đà Lạt. Dọ hỏi cùng khắp, chẳng một ai hay cô bạn đầu đời dấu yêu: Hiệp. Khi viết ra bài hồi ức này, mình hy vọng mong manh có ngày cả Hiệp lẫn Hoa đọc thấy, chỉ để gửi theo một lòng ăn năn và xin được thứ tha. Tuổi 17 có người sang ngang vui duyên mới, có đứa vượt qua biển rộng mà lòng mang nặng một kiếp dại khờ. Cho mình cúi đầu: A di đà Phật. Tội lỗi… Hoa ngừng gõ mõ, gióng tiếp cho một tiếng chuông từ bi.

“Bây giờ sự đã tam bành
Cũng chi một chút cho đành chút chi”.
(B.G)

Hồ Đình Nghiêm
Sau lễ Tạ Ơn

Vàng và tro than

Mặc dù đã biết trước sẽ xẩy ra – nhưng – khi sự thể xẩy ra thì toàn thể cư dân của ấp Tà Rua bàng hoàng đến độ sửng cả người. Thiên hạ xôn xao bàn về cái chết của vợ chồng Út Chuột và thằng cháu nội tên Mèo. Mèo phóng xe hết tốc độ đâm đầu vô trụ điện. Nghe tin báo Út Chuột ôm ngực lảo đảo rồi té cái oành. Chết trên đường đến bệnh viện bởi cao máu. Bà Út cũng một khuôn. Một ngày mà ba người chết thì chấn động luôn chứ bàng hoàng là chuyện nhỏ. Đúng không?
Sau bàng hoàng thiên hạ lại nói ra miệng rằng vậy là khốn đốn cho anh em nhà Minh Mây. Minh và Mây là con trai của vợ chồng Út Chuột. Dưới Minh và Mây còn có hai bà con gái. Hai bà nầy có chồng và nhà cửa ruộng nương đề huề nhưng ba cái vụ tranh dành tài sản thì tỷ phú còn ham nói chi dân lấm lem vì ruộng. Ủa… mà… đang chết chóc lại lấn vô tài sản và tranh dành là sao? Bộ Út Chuột giàu lắm hả?
Ừ… Tà Rua thì nhất hạng Út Chuột rồi – lão già có biệt danh Ba Cụt nâng chén rượu nói với ba quân – Thằng Út Chuột phải hỏi tao… rằng thì nó là việt kiều Kampuchia. Năm ’73 cha thằng Út bỏ Biển Hồ trên K về Việt Nam vì chịu không xiết sự truy sát của vô số các phe cánh trên xứ Ăng-co. Nào Lonnol nào đảng áo đen nào phe cách mạng… trên đường về cha má Út Chuột bị cướp giết sạch. Út thoát chết vì sợ quá nên bất tỉnh trước đó. Trong rủi có may. Út ta nằm đè lên cái chỗ ông cha dấu vàng. Bọn cướp lấy được cái ruột tượng của bà má nên không kiểm soát kỹ. Út một mình về lại mẫu quốc năm mười lăm tuổi. Nó tìm đến giáo xứ X là họ đạo từ K về hội tụ. Nghe ba má nó chết bà con trong họ thương lắm bèn trình bày với cha xứ và Út được cấp một lô đất cất nhà.
Út theo bà con cô bác vô rừng phá lâm làm nương rẫy. Vốn tính cần cù và sẵn có vàng nên Út Chuột thuê người khai hoang. Thuở ấy rừng sát bên lộ cái và bên trong rừng là quý vị nón cối mũ tai bèo. Út chơi với tất cả từ cảnh sát cộng hòa cho đến dép râu. Đến ngày thống nhất phe chiến thắng về chòi rẫy của Út tạm ngụ để chỉ huy. Nếu cứ thế mà tiến không chừng Út Chuột làm lớn chứ không đùa. Từ 1973 đến 1975 xe bò của Út đã đưa vào rừng cho mặt trận biết bao nhiêu là lương thực và thuốc men, thậm chí cả lựu đạn và đạn M16 mua được từ lính đào ngũ. Công quá lớn chứ chơi sao? Kẹt cái là ở cái năm mười chín tuổi Út Chuột sa vào lưới tình của một kiều nương thứ thiệt. Nàng tên Loan – Kim Loan – hai mươi tuổi và đẹp thôi thì khỏi nói. Từ Sài-gòn nàng cùng gia đình xuống xứ rừng nơi Út cư ngụ với tư cách kinh tế mới. Út Chuột lúc bấy giờ là một ông chủ với mười mẫu đất và một bầy bò cả hai chục chú trong tay. Kinh tế mới khốn khó nên nàng theo chúng bạn đi làm thuê cho chủ Út Chuột. Vừa gặp Kim Loan, Út đã bị tiếng sét ái tình đánh cho một phát vong mạng. Chao ôi gã trai mới lớn nào biết tình là gì, thậm chí mười chín mà đàn bà còn chưa biết thì chết phải quá.
Út Chuột ghé nhà nàng chơi cho biết. Gia đình tiếp Út rất chi trọng thị. Riêng Kim Loan thì ngồi chơi tiến lên với mấy đứa em. Cái thái độ phớt tình của nàng làm Út đuối. Là thằng từng hút cái chết và đã nằm trên vũng máu của cha má nên Út có một cái quyết tâm rất khác người. Để khắc phục nhược điểm khi đứng gần Loan thì cuống quýt vụng về, Út theo chúng bạn lên Sài Gòn chơi cho tỏ mặt đàn ông. Khi đã là đàn ông Út ta tậu một chiếc 67 đến nhà nàng cho tiện. Một đêm khuya khoắt kia Út ôm lấy nàng và ngỏ lời yêu. Nàng gật đầu cái rụp chả có cuống quýt vân vê tà áo chi ráo.
Kim Loan mê bài. Nàng biết chơi tứ sắc tiến lên cả xập xám. Chơi trong nhà cho vui thôi chứ chả ăn thua chi. Út Chuột ngồi bên nàng, bắt bài dùm nàng… sư cha cái cờ bạc. Không có gì nhanh biết và nhanh tinh thông bằng nó và khi biết thì ghiền chết bỏ. Út Chuột sa vô cờ bạc từ ngày quen biết em Loan và cái dòng cờ bạc khi chơi phải tiền nó mới thú. Tiền thì Út không thiếu. Nó cùng em Loan trên 67 hết sòng này qua sòng khác. Và sạch bách từ bò bê đến nương rẫy:
– Thiệt vậy ha Ba Cụt?
– Tao nói láo cho trời đánh sút huyết. Hồi mới đến xứ X tao làm thuê cho Út Chuột nên rành. Thằng Út bị con Kim Loan thuốc đến thân bại danh liệt. Con Loan là dân phố lớn từng trải đời lên hàng đại úy. Út Chuột chết vì con chồn cái quá oan uổng.
– Sao oan?
– Con hồ ly đưa thợ thầy của nó từ phố lớn xuống xứ nầy xẻ thịt con nai. Tao nói bây hiểu không?
– Nhưng bây giờ vẫn nứt đổ đổ vách thôi Ba Cụt ơi.
– À… đó là chuyện về sau… Út Chuột giàu như bây thấy là nhờ bãi vàng Tà Rua nổ lớn…
***
Sau khi tàn đàn xẻ nghé với Kim Loan. Than ôi, nàng vượt biên. Vụ nầy dân tình ở giáo xứ X bàn rằng con hồ ly vặt trụi lủi thằng si tình để có tiền qua trời âu mỹ. Thời may Út Chuột còn lại đúng một cổ xe và hai con bò kéo. Hắn tìm gặp Ba Cụt. Anh em lại tạc thù bên chén ba xi đế:
– Tao đi phát rẫy mướn trong Tà Rua.
– Tao theo với được không?
– Mày có xe bò vô cưa củi là ngon đa.
Vào Tà Rua, Ba Cụt xúi Út Chuột chui sâu vào rừng nguyên sinh ăn cắp be. Be là cổ thụ to cả hai mét bề hoành dài năm bảy mét. Muốn có cây phải mua cán bộ trông coi rừng tục gọi kiểm lâm hay bảo vệ. Thời ấy cán bộ rách lắm. Họ dẫn lâm tặc vào từng gốc gây rồi ngã giá. Cẩm Lai bao nhiêu Gõ bao nhiêu… chung chi rồi tối mang cưa vào hạ. Nhưng mấy ông bảo vệ rừng ma mảnh lắm. Ông nầy bán ông kia vào bắt. Hôm đó xe bò bị bắt đưa về trạm. Chán quá Út Chuột theo Ba Cụt ra quán cóc nhậu thiếu. Có ba giọt rượu Út buồn tình buồn đời ngổi khóc hu hu. Hận con đàn bà khốn nạn đã chơi mình trí mạng, Út thề rằng nếu gặp lại Kim Loan sẽ cho nàng biết thế nào là lễ độ. Ba Cụt tuy ba trời bảy búa mở miệng ra là văng tục, uống rượu bằng lỗ mũi nhưng cũng có chút chữ bèn mắng bằng thơ rằng:
– Có vấp ngã mắt mới nhìn sáng suốt. Có đau thương lòng mới cứng rắn hơn. Có thẳng căng như một sợi dây đờn. Mới tạo được những âm thanh huyền diệu”. Bị gái đả cho là may mắn chứ có chi mà khóc lóc. Lo kiếm tiền mà chuộc xe bò kìa ông cố nội.
Út chửi thề:
– Sư cha mày chứ thơ với thẩn…
Nói rồi Út giã từ bàn nhậu lang thang đúng tư cách kẻ không nhà. Từ quán nhậu ra suối Tà Rua đi ngang một đám rẫy trồng dưa hấu. Khát nước quá Út ghé vào ăn trộm trái dưa. Than ôi lúc túng cùng ngay trái dưa mà ăn cắp thì hết thuốc rồi. Vừa ngồi xuống Út nghe nhói ở ngón chân út. Nhìn xuống thì thấy một con rắn phóng vào bụi cây. Con rắn to bằng nửa cổ tay và dài khoảng bốn mươi phân. Hốt hoảng Út ngồi xuống và nhận ra hai dấu răng đang rỉ máu. Đúng lúc đó một thằng nhóc chừng bảy tuổi có mặt:
– Chú bị sao vậy?
– Tao bị rắn cắn mày ơi.
– Yên tâm… may mà ông gặp tui bằng không ông chết.
Nói xong nó bứt cọng dây rừng buộc bắp chân Út Chuột rồi dẫn ông trộm dưa vào chòi. Nó lấy lưỡi lam rạch một đường ngay vết cắn. Máu từ ngón chân ròng ròng chảy và Út nghe cơn nhức nhối dịu bớt đi:
– Ông biết rắn gì không?
– Không.
– Hổ Quạp đó.
Má tui nói – thằng cu tiếp tục – hồi năm nẳm mấy ông lính Thái Lan ở tiểu đoàn Mãng Xà Vương nuôi loại rắn này rồi thả vô rừng để giết mấy ông dziệt cộng. Rắn này độc lắm. Tui chỉ làm nhiêu đây giúp chú thôi. Lát nữa má tui về rồi tính tới. Chỉ có má tui mới biết cách trị tuyệt nọc loại rắn nầy.
Bà chủ tức má thằng cu về. Nghe nói bị rắn cắn bà nhai một miếng trầu, hớp một ngụm rượu rồi lẩm nhẩm như bị ma làm sau đó phun phèo phèo vào vết rắn cắn. Thật là thần diệu. Hết nhức nhối ngay tức khắc. Thiệt hú hồn hú vía. Và cái bà nầy sau đó là vợ Út Chuột. Thật là trong họa có phúc. Bà Út bỏ tiền ra chuộc xe bò còn ra tay thuê người phá cụm rừng sát bên suối Tà Rua làm rẫy. Út chuột không theo Ba Cụt ăn cắp cây nữa mà dùng bò kéo củi thuê cho chiến dịch khai thác trắng.
– Tao đi làm cho vợ chồng nó nên rành. – Ba Cụt nói –
– Sao cùng một thời mà ông Út vậy còn chú không có đất cắm dùi là sao?
– Bộ mày tưởng muốn là được sao? Phải có tiền chung chi mới tra được rựa vô phá rừng làm rẫy. Phải có cái tọng vô họng cho no bụng mới làm được hiểu chưa mấy ông con? Thằng Út tuy bị gái lừa nhưng còn hơn tao cổ xe bò. Tao thì tha phương cầu thực nên trên răng dưới củ từ.
Ngay lập tức Út Chuột có thằng con trai. Nó tên Minh. Năm sau bà Út đẻ thằng Mây rồi tiếp tục hai con Trinh và Trang. Một nhà đề huề hạnh phúc ấm no với hai héc ta mía và năm sào ruộng. Đời mà vậy cho đến chết thì cũng quá xá tốt rồi. Ngờ đâu “cái giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Năm ấy rừng Tà Rua bể lớn một bãi vàng.
Ba Cụt tiếp tục:
– Cha con thằng Út trúng một cục to bằng bàn tay của tao và dày khoảng bốn phân. Cục đó nặng ba ký lô. Tức là trên dưới bảy chục cây vàng.
– Sao biết chắc vậy chú Ba?
– Tao có mặt và cầm cục vàng đó trên tay. Tao đặt nó lên cái cân đồng hồ Nhơn hòa và nó đúng ba ký.
Lúc đó con vợ thằng Minh anh thằng Mây chuyển bụng đẻ.
***
Từ Tà Rua ra cái trạm xá là năm cây số đường bộ. Ngay lập tức con Thúy – vợ thằng Minh – được cáng đi bằng võng. Cũng cần nói thêm để biết rằng những năm tháng ấy người ta đùa với tử thần riết nên quen. Bằng chứng là Út Chuột bị rắn cắn mà chữa bằng bả trầu và rượu là một minh chứng. Mấy thằng bị sốt rét uống nước rể ớt hiểm sau khi sao khô hạ thổ là minh chứng thứ hai. Tại sao đùa ư? Trả lời luôn: Chạy ăn muốn sặc gạch hơi sức đâu mà lo ba cái vặt. Đàn bà con gái bầu bì chuyện đi khám thai định kỳ là một cái gì đó xa xôi, hàng quý tộc mới dám rớ chứ bần cố nông thì kệ bà nó đi. Gia đình Út Chuột nằm ở dạng liều số một.
Nhỏ Thúy sanh xong thì chuyển tốc hành lên phố lớn vì bị băng huyết. Trước khi bãi vàng Tà Rua nổ ra thì xứ sở nông nghiệp nầy ai có chiếc 81 kim vàng giọt lệ là người người đưa mắt ngưỡng mộ mà ngắm nhìn. Chả ai có lấy một chiếc bốn bánh. Bãi vàng nổ ra quý vị bán thuốc sơn đông lưu động đến ngày một. Đoàn này đi đoàn kia đến phục vụ cho quý khách lưng đau đầu gối mỏi vì nằm sương nếm mật. Út Chuột thuê ngay một bốn bánh chuyên trị cao đơn hoàn tán đưa con dâu tức khắc lên đường. Thời may tay chủ xe thuốc rất rành đường đi nước bước của Sài Gòn hoa lệ nên sản phụ đến Từ Dũ vẫn còn bình an vô sự.
Máu được chuyền. Thuốc được tiêm. Ba-by được nuôi đặc biệt trong lồng kính. Tất cả không nghĩa địa gì vì Út Chuột bây giờ có trong tay trên dưới tám chục cây vàng. Có còn chi nữa để âu lo? Tiền lớn. Bệnh viện lớn. Bác sĩ uy tín nhất…. Chao ôi vậy mà không cứu được mới là đáng hận. Bác sĩ báo cho người thân biết rằng sản phụ vô phương cứu chữa vì bị xuất huyết:
– Lý ra – bác sĩ nói với bà Út – con của chị phải được khám thai định kỳ. Đây là một trường hợp đặc biệt. Rất đặc biệt…
Nói rồi bác sĩ mời bà Út và Minh vào phòng sản phụ. Hai tay người mẹ tội nghiệp là máu và nước biển đang chuyền. Vị bác sĩ lấy một mũi kim và châm nhẹ vào dái tai sản phụ. Ông ta đặt vào vết châm một miếng bông gòn. Chỉ một lát miếng bông đẫm ướt máu. Bà Út và Minh ngơ ngác nhìn:
– Máu không cầm. Bà hiểu không? Chuyền bao nhiêu cũng bằng không. Chúng tôi đã làm mọi cách có thể nhưng đành chịu. Ngân hàng máu thì đã cạn loại máu dành cho con bà… tôi nói mong bà hiểu.
Đến cái nước này thì kim cương còn chết nói chi vàng. Về sau khi bình tâm lại thằng Minh kể rằng mỗi khi đến kỳ vợ nó những nửa tháng mới bình thường. Đàn ông con trai mới lớn nên Minh nào có biết chi. Vợ nó cũng mới nứt mắt đã có chồng nên mù câm. Thực vậy. Thằng Minh mười bảy đã lấy vợ và con Thúy mười sáu. Tà Rua là cái xứ rừng sát bên nhà. Thúy đi làm thuê cho vợ chồng Út Chuột nên gặp Minh. Anh trai nhà có mía có ruộng có bò yêu mình. Anh lại đẹp trai ngu sao không yêu lại. Lấy anh là hết kiếp làm thuê liền – má Thúy nói vậy.
Mười chín tuổi mất vợ Minh khóc như mưa. Ông bà Út ôm cháu nội cho bú sữa ngoại. Thuở mà dân uống cà phê chủ quán phải bỏ đường vào ly có định lượng, chả quán nào dám bỏ hủ đường ra bàn vì sợ khách uống trà đường. Vậy mà thằng Mèo được bú sữa Guigoz thì quá xá là quý tộc. Không có tám chục cây vàng thì sữa ông thọ còn không có. Ông bà Út ôm cháu nội dỗ dành. Chăm trẻ không mẹ thuở lọt lòng thì chỉ ông và bà mới được chứ cô gì chú cậu thì xin thua.
Năm Mèo lên hai cha nó có vợ khác. Rồi chú rồi cô ai có gia đình riêng nấy. Ông bà Út Chuột chia đất đai đồng đều cho tất cả phòng hiểm họa về sau. Đứa nào cũng mẫu mía dăm sào ruộng cặp bò. Thằng Mèo ở với ông bà nội và được cưng đúng cái nghĩa nâng trứng hứng hoa. Ông bà có câu con hư tại mẹ cháu hư tại bà. Là do bà và mẹ cưng quá chăng? Dám vậy lắm. Đằng này thằng Mèo được cả ông và bà nội chiều thì hư hao âu cũng phải. Năm lớp tám nó đòi bỏ học nếu ông bà nội không mua cho nó cái xe máy. Có xe rồi nó bỏ học theo chúng bạn đua thâu đêm suốt sáng. Rồi ăn nhậu rồi phá quán rồi đánh nhau… ông và bà Út lo cho cháu thiếu điều sói trán. Họ lên tăng xông là điều không thể tránh. Còn cha nó đâu? Than ôi! Đàn ông thì mười thằng hết sáu đội vợ lên đầu. Con vợ nói: “ tui mới nói một tiếng cha má anh đã nạt là mày biết cái gì mà xen vô…” Thôi thì ông bà nội lo vậy.
Dân Tà Rua nhìn cảnh hai ông bà già cầm tiền đi bồi thường cơm thuốc cho người bị cháu mình gây ra mà tội nghiệp. Họ tin rằng, chắc rằng, trăm phần trăm rằng thằng Mèo mà có mệnh hệ chi là hai ông bà này đứt bóng vì lên máu. Y như rằng. Có rượu vô thằng Mèo phóng 125 phân khôi lao vô trụ điện. Hai ông bà già ra đi cùng một ngày. Thiên hạ nói:
– Ba cái vàng đào được ở Tà Rua nầy xưa kia của người Champa… nó thiêng lắm. Mười người trúng vàng thì đúng mười thân bại danh liệt… rồi đây bầy con vợ chồng Út Chuột sẽ giết nhau vì đất đai vườn tược. Thằng Minh và ba đứa em nó cùng mẹ khác cha. Khác máu tanh lòng mấy người tin tui đi…
Ba Cụt cãi rằng:
– Vàng bị ếm cái con khẹc… bọn mày đúng là mê tín ba láp ba xàm. Vàng nào chả là vàng. Tất cả đều từ đất mẹ mà ra chứ không hề trên trời rơi xuống. Nó có bổn phận giúp con người sang cả chứ không hề gây họa. Và đời sống của bọn mình ai chả mong kiếm chút ít phòng khi hữu sự. Có điều chuyện nhà Út Chuột và chuyện nhà tao y một khuôn. Nếu con cái tao không ra ôn gì trong chuyện học hành vì nghèo quá thì thằng Mèo ngược lại. Nếu vì miếng cơm manh áo không còn thời gian để kèm cặp nên con tao được khoán trắng cho nhà trường. Trường lớp thì giáo dục con em mình một ngày được mấy tiếng bây nói tao nghe coi? Tựu trưng gia đình là cốt lõi. Đã nhiều lần tao cảnh báo thằng Út Chuột cưng thằng Mèo vừa thôi. Nhưng – Ba Cụt thở dài – cái sự yêu thương con cháu đến tối mắt. Không thương sao được khi nó không cha không mẹ? Đánh không nỡ, la không đành nên con cháu ỷ thế mà hư hao…
Cũng có cái tụi mày nói đúng – Ba Cụt tiếp tục – bầy con Út Chuột đứa nào cũng không xong tiểu học. Bọn nó lớn lên trong ruộng đồng theo bản năng nhiều hơn lý trí. Anh em nó giết nhau vì tài sản Út Chuột để lại là có…
Nhân bảo như thần bảo. Ba Cụt nói linh như miểu. Ông và bà Út chuột cùng đứa cháu chưa xanh ngọn cỏ bầy con đã lục tung tủ giường bàn ghế đào cả nền nhà truy tìm vàng cất giấu. Chúng kéo nhau ra tòa đòi phân chia tài sản. Anh em thằng Mây một phe, thằng Minh một phái.
Buồn quá Ba Cụt nâng chén rượu hát rằng : “Đời phu du có nghĩa chi… những lợi danh sẽ tan thành tro…”

NGUYỄN TRÍ

Vài Trang Biên Sử Về Cà Phê Sài Gòn

Năm tháng trôi qua, cứ ăn-chắc-mặc-bền, cà phê bình dân thầm lặng phục vụ cho giới người nghèo, dân lao động nơi nơi, tại những quán cóc trong hóc hẽm hay các sạp, tủ bán cà phê /nước giải khát trên vỉa hè, trong bến xe, trước cửa các trường học, nhà thương, rạp hát, chỗ làm giấy tờ… Có điều là cách pha cà phê đã dần hồi đổi khác…

1. Cà Phê “Vợt” Hạng Bình Dân
Trong cõi nhân sinh đầy triền phược, bất công này lại có một điều bình đẳng thật hay ho là mọi người chúng ta, bất kể giàu hay nghèo, đều có thể uống cà phê. Từ những người nghèo, thật nghèo hèn như anh xe ôm, cậu sinh viên, dân lượm ve chai cho đến những người giàu, thật giàu có như ngài tổng giám đốc ngân hàng, ông chủ hãng xe hơi, vị trưởng phòng kinh doanh công ty nước ngoài…, đến cơn ghiền hay khi chợt nghĩ mình nên đi uống cà phê, hoặc vào bất cứ lúc nào đó rảnh rang, đều có thể đi một mình hay cùng bạn bè, đồng nghiệp ghé một quán cóc thật xập xệ bên đường hay một quán cà phê giá vửa phải hoặc một quán máy lạnh thật sang trọng, để mỗi người có thể nhâm nhi, thưởng thức món cà phê theo ý mình.
Ngày xưa, cà phê giao diện bình dân, nhà nghèo – theo nghĩa giá rẻ, giá hạ, hợp với túi tiền của người nghèo, giới bình dân – từ gần 100 năm về trước ở Sài Gòn đã gắn liền với cà phê vợt, tức cách pha cà phê theo truyền thống Nam bộ. Pha vợt là dùng chiếc vợt có túm vải lược (giống chiếc vớ nên có tên gọi nữa là cà phê vớ hay cà phê bít-tất) đựng cà phê bột rồi bỏ vào cái siêu đất sét – Vâng, đúng là cái siêu xắc thuốc Bắc còn có công dụng nữa là pha cà phê.
Cũng từ xa xưa, cà phê vợt đi liền với những nơi chốn bình dân, tập trung là các quán cóc trong ngỏ hẽm. Ở Sài Gòn, hơn 80 về trước quán Cheo Leo tại vùng Bàn Cờ đã nổi tiếng tiêu biểu cho cà phê vợt và ngày nay vẫn tồn tại đến đời chủ thứ 3. Cũng truyền đến 3 đời là một quán café vợt khác trong một con hẽm đường Phan Đình Phùng của ông Đặng Ngọc Côn (nay đã gần 90 tuổi).
Bên cạnh đó, cà phê pha phin (từ tiếng Pháp “filtre”, có nghĩa là vật dụng dùng để lọc) cũng đã lai rai xuất hiện ở Sài Gòn khoảng đầu thập niên 60 thế kỷ trước, như có ngay ở quán Năm Dưỡng, gần quán Cheo Leo, cùng ở vùng Bàn Cờ.
Hình thức pha chế cà phê kiểu Tây, với cái phin nhôm – hay đẹp hơn là cái phin inox sáng loáng – tất nhiên mang vẻ tân thời hơn cái siêu đất thô kệch vốn tiêu biểu cho cà phê bình dân, giá rẻ. Nhưng có một điều đáng chú ý là ngay từ hơn 80 năm trước, ông Vĩnh Ngô, người mở quán Cheo Leo, đã chủ trương chọn cà phê ngon, hiệu Meilleur Gout, Jean Martin danh giá chứ không phải thứ cà phê dở, giá rẻ mạt nào khác đem pha vợt, có nghĩa là giá thành ly cà phê vợt ở Cheo Leo khá cao chứ không thấp. Nhưng do từ một mẻ cà phê bột đã chín bởi nước sôi là được chắt từ cái siêu pha qua cái siêu trữ để từ từ mà cho ra nhiều ly, giá cà phê vợt đã có thể hạ, tức thấp hơn giá cà phê phin là thứ phải pha riêng từng ly. Vậy, ngay buổi ban đầu, cà phê vợt của quán Cheo Leo – điển hình của cà phê vợt Việt Nam – dù chủ nhân chơi sang, chọn nguồn cà phê mắc mỏ để pha bán cho khách nhưng vẫn thuộc về giao diện cà phê bình dân.
Trên Facebook, nhà thơ Linh Phương cho biết, theo ông nhớ thì ở Sài Gòn thời 1960-1970, cà phê vợt giá 1 đồng VNCH một ly. Còn ông Đặng Sơn, nhà sưu tầm tranh, chủ studio Tự Do (ở quận 1, đã ngưng hoạt động) cho hay vào năm 1955, một ly xây chừng (cà phê đen ly nhỏ) chỉ 5 hào và thời này thì cứ xé tờ 1 đồng ra làm hai thành 2 miếng “5 hào” mà trả thoải mái.
Rồi chiến cuộc ngày càng khốc liệt đã khiến đồng tiền VNCH bị phá giá liên tục và nặng nề. “Điểm tâm một buổi sáng nào đó trong khoảng các năm 1974 – 1975, một tô mì nước $120, một dĩa cơm $80, ly càfe sữa $50, không tính 2 điếu Capstan kèm theo…”, một nhà giáo lớn tuổi đang sống ở Mỹ, đã nhớ lại.
Năm tháng trôi qua, cứ ăn chắc mặc bền, cà phê bình dân tiếp tục phục vụ cho giới người nghèo, dân lao động nơi nơi, tại những quán cóc trong hóc hẽm hay các sạp, tủ bán cà phê /nước giải khát trên vỉa hè, trong bến xe, trước cửa trường học, nhà thương, rạp hát, chỗ làm giấy tờ…, có điều là cách pha cà phê đã dần hồi đổi khác.
Ngay từ cuối thập niên 60 thế kỷ trước, nhiều quán, sạp cà phê ở Sài Gòn đã bỏ kiểu pha vợt để chỉ bán cà phê phin, hay vẫn giữ cách pha cà phê vợt nhưng thay cái siêu đất sét bằng cái bình bằng nhôm, hay bỏ vợt, dùng cái phin nhôm loại lớn, có thể một lượt ra cà phê cho nhiều khách. Tuy nhiên, nhiều người sành uống cà phê cho rằng cà phê vợt cứ nên pha bằng siêu đất và càng hay khi đun nước sôi bằng cũi (kiểu quán Cheo Leo một thời), mùi vị cà phê mới ngon, theo nghĩa người uống sẽ cảm thấy có hương vị gì đó thô mộc, dân dã – quả là thật hợp với giao diện cà phê nhà nghèo.
Có một điều không hay ho lắm là do cà phê bình dân thì giá rẻ, khách uống khó đòi hỏi chất lượng phải thật ngon; đã vậy, ở một số quán quá nghèo hay chủ quán “trùm xò”, phần xác cà phê đã pha có thể bị chế nước sôi 1 – 2 lần nữa để chủ quán bán được thêm vài ly. Tất nhiên, đây là nước dảo cà phê chứ không phải cà phê nên rất kém hương vị. Hơn thế, vào cái thời đầy khó khăn sau biến cố 30 tháng 4 và cả ngày nay cũng còn, cà phê ngoài đường phố hễ giá rẻ thỉ nhất định bị pha bắp, cau… Thôi thì, dân ghiền cà phê mà nghèo, ít tiền thì nhiều lúc phải chịu thiệt thòi, chỉ được tiêu thụ hàng kém chất lượng, hàng dỏm…
Xưa nay, có lẽ không có thành phố nào ở Việt Nam có nhiều quán cà phê đủ loại, đủ hạng, đủ phong cách bằng Sài Gòn, trong đó nhiều nhất vẫn là cà phê bình dân. Tiêu biểu cho dạng cà phê nhà nghèo này (gồm cả pha vợt lẫn pha phin) được đánh giá là “uống được” hay “uống được lắm” vào ngày xưa là các quán Cheo Leo, Năm Dưỡng, Phong, quán ông Đặng Ngọc Côn cùng ở khu Bàn Cờ/ Phan Đình Phùng, quán “lá me” ở đường Nguyễn Du và quán anh Năm trong một ngỏ hẽm đường Gia Long cùng thuộc quận 1, một quán (quên tên) nằm trên đường Nguyễn Văn Thành cũ, gần chợ Bà Chiểu…
Và ngày nay, với giá trị của đồng bạc hiện hành, giao diện cà phê bình dân được hình dung ở mức giá 10,000 – 15,000 đồng /ly, gồm cả khi bạn uống trong quán cóc hay khi mua về từ những điểm bán coffee take away ngoài đường phố. Riêng về cà phê vợt, những người Sài Gòn lớn tuổi, nặng lòng hoài cổ với cà phê vợt chỉ còn có thể nhắc đến quán Cheo Leo cố cựu (ở quận 3), quán ông Thanh ở phía sau khu chợ Thiếc (quận 11) và một quán nào đó nghe nói ở trước chợ Phú Nhuận, nay đã đóng cửa.
Cũng từ xa xưa, đặc biệt gây ấn tượng cho dân nghèo-ghiền-cà-phê là những tiệm nước, tiệm hủ tíu bình dân của người Tàu. Ở những “cơ sở kinh doanh ăn uống” (từ thường dùng của ngành thuế, quản lý thị trường sau 30-4) ấy, nhiều khi trên bàn, dưới sàn nhà nhớp nháp, dơ bẩn đến phát khiếp, ngày xưa khi khách vừa cho biết uống gì thì lập tức các chú Ba thường lớn tiếng hô cho chỗ pha chế phía sau nghe những tiếng Quảng Đông nghe rất vui, như: xây chừng dách cô (nghĩa: đen nhỏ một ly), tài chừng (ly lớn), dịt phé (cà phê đen), nại phé (cà phê sữa), sủi phé (cà phê đá). Ngày nay thì rất hiếm khi được nghe những người phục vụ trong các tiệm, quán trong Chợ Lớn hò, hét tên món uống như thế mà họ chỉ hỏi khách rồi lặng lẽ ghi nhớ trong đầu hay biên vào giấy… Cách uống ly cà phê đen hay sữa nóng bốc khói cũng rất ngộ: để làm nguội ly cà phê cho dễ uống, từng lần một người ta rót cà phê ra cái đĩa lót tách cà phê, rồi thổi, rồi húp!
Đúng ra, bao đời nay đối với giới bình dân, lao động chân tay, công/tư chức lương thấp và cả đám sinh viên – học sinh, ở đâu cũng vậy, luôn luôn có những cái quán cà phê ngoài đường, trong hẽm hay mang những tên gọi giản dị, gọn lõn, dễ nhớ, chẳng hạn như: quán Chị Ba, quán Anh Sáu, quán Bà Tám, quán Chú Cón…, thậm chí tên nghe còn bâng quơ, sơ sài hơn nữa, như quán Cây Khế, quán Cây Ổi, quán Cột Đèn, quán Đường Rầy…
Từ xưa, người lao động có thói quen thức dậy rất sớm để ra đầu ngõ uống cà phê, gồm cả người già lẫn trung niên và thanh niên. Cả ngày đến đêm, họ sẵn sàng ra những địa điểm quen thuộc ấy– và thân thương nữa khi chủ quán cho… ghi sổ – khi cần uống cà phê hay khi rủ rê, hú nhau đi uống nước, xả hơi, bởi cà phê các loại ở những quán xập xệ này như hiện nay chỉ quanh quẩn 10,000 – 15,000 đồng/ly.
Một điều nữa, được mọi người uống nhiều nhất phải nói là cà phê đá. Trong giới ghiền cà phê nói chung, không phân biệt giàu nghèo, thường xuyên uống cà phê bất kể ban ngày hay ban đêm, có thể có đến 80 – 85% thích uống cà phê đá, tức cà phê lạnh, cũng bất chấp trời nắng trời mưa, thời tiết nóng hay lạnh.
Theo nhiều người, căn nguyên làm nên xu hướng “uống đồ lạnh” quá phổ biến này cũng khá đơn giản, dễ hiểu. Một là, ở xứ nóng như Việt Nam, người dân uống cái chi lạnh, có nước đá thì cũng đã hơn uống nóng. Hai là, ngoài số nam giới khoái cà phê đá, ngày càng có thêm nhiều phụ nữ thích uống cà phê mà hầu hết quý bà, quý cô ấy đều chọn cà phê đá, nhất là từ khi dạng fast food tiện lợi, cà phê pha máy xuất hiện tại VN. Ba là, trên thị trường – nhất là ở các điểm bán cà phê – giải khát vỉa hè, dã chiến ngoài đường phố, hỏi cà phê đá là có ngay, còn hỏi cà phê nóng thì hay bị lắc đầu, bởi người bán thường chỉ chuẩn bị, trữ hàng cho món cà phê đá, vừa gọn, nhẹ vừa dễ bán bởi luôn có đông khách uống.
Cũng nên xếp vào giao diện cà phê bình dân dạng cà phê đang rất phổ biến ở Việt Nam: cà phê đem về (take away). Các quán, quầy, xe đẩy, tủ gỗ, thậm chí yên sau xe Honda nhan nhản ngoài đường phố, đều chỉ bán từ 10,000 đến 15,000 đồng một ly cà phê đen hay sữa tùy khách gọi.
Cùng thuộc giao diện cà phê bình dân là một loại cà phê không cần mặt bằng mở quán, cũng chẳng cần bàn ghế nhưng giới trẻ Sài Gòn rất ưa chuộng, đó là cà phê bệt. Đầu tiên là khoảng năm 2000, đám sinh viên trường ĐH Kiến Trúc và ĐH Kinh Tế TP thường lủ khủ ngồi bệt trên vỉa hè các con đường Nguyễn Đình Chiểu, Võ Văn Tần (quận 3) với những ly cà phê nhựa để luôn trên nền xi măng, giá chỉ 8000 – 10,000 đồng. Sau đó, lai rai ẩn hiện cho đến ngày nay, dân cà phê bệt – hầu hết là giới trẻ – chiếm cứ Công viên Thống Nhất và khu vực xung quanh Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sát bên, đông nhất là vào các ngày chủ nhật, ngày lễ…

Tình yêu tinh khôi, hồn hậu đã khiến cái ly nhựa đựng cà phê bình dân, giá bèo kia bỗng ngon lên gấp bội, bỗng ngào ngạt hương vị không kém gì cái tách sứ kiêu kỳ chứa loại cà phê thượng hảo hạng…

2. Cà Phê Hạng Trung Trung Và Hạng Sang Trọng
Về cà phê hạng trung trung, có thể hình dung đó là những quán giá cả trung bình, vừa phải, phần trang trí cũng giản dị. Trong quán có thể có mở nhạc hay… im lìm, bởi tâm lý thành phần khách đến các quán này là để uống cà phê, còn ngồi máy lạnh cho mát, nghe nhạc, ngắm tranh, ngắm cô ngồi caisse… đều không thành vấn đề hay chỉ là chuyện phụ. Như ở Saigon trước năm Mậu Thân, 1968 thế kỷ trước, quán café chưa nhiều, đã có các quán: Thu Hương ở đường Hai Bà Trưng và Chi ở đường Nguyễn Phi Khanh cùng vùng Đa Kao – Tân Định, Hồng ở đường Pasteur (quận 1), Thăng Long ở đường Nghĩa Phát (quận Tân Bình)… Đặc biệt có vài quán khá nổi tiếng do có tổ chức những sinh hoạt văn hóa – văn nghệ thường là có theo chủ đề, như ca nhạc, đọc thơ, giới thiệu sách…, nên thành phần trí thức, nhà văn, nhà báo hay tụ tập, đó là Gió Nam ở khu Bắc Hải (gần Ngã 3 Ông Tạ), Thằng Bờm ở đường Đề Thám (quận 1); Tre của nhóm Vũ Thành An/Hoàng Ngọc Tuấn ở đường Lê Thánh Tôn – nơi Khánh Ly từ Đà Lạt xuống, cùng Trịnh Công Sơn hát lần đầu tiên ở Sài Gòn (khoảng năm 1965-66 thế kỷ trước) và (hội quán) Cây Tre của Khánh Ly mở ở đường Đinh Tiên Hoàng, cùng thuộc quận 1 Sài Gòn cũ (*).
Đến sau năm Mậu Thân 1968, các quán chuyên kinh doanh cà phê mới bắt đầu rầm rộ, nối tiếp nhau ra đời ở Sài Gòn. Đáng chú ý là phần nhạc mở trong quán, có quán chuyên chơi nhạc Mỹ – Pháp, như cà phê Văn Hoa ở Đakao, quán của Jo Marcel ở đường Nguyễn Huệ cùng ở quận 1; có quán chỉ độc nhất nhạc Trịnh Công Sơn – Khánh Ly rỉ rả cả ngày như quán Bình Minh trên đường Bàn Cờ; hay ở các quán Hân, Duyên Anh ở Đakao, quán Bố Già ở đường Nguyễn Thiện Thuật (quận 3) thì nhạc mở đa dạng, từ hòa tấu, giao hưởng, pop rock Mỹ cho đến nhạc tiền chiến, Ca khúc Da Vàng TCS (*).

Còn nói về nhóm cà phê sang trọng thì cũng dễ hình dung. Thời trước năm 75 thế kỷ XX, ai dù không khá giả, tiền bạc ít ỏi cũng đều có thể vài dịp bước vào các quán cà phê sang trọng hay vào uống cà phê trong các nhà hàng, đại sảnh khách sạn, phòng trà tập trung ở khu vực quận 1 Sài Gòn, như: Continental, Caravelle, Brodard, La Pagode, Queenbee, Maxim’s, Cafetaria Disco …
Sau biến cố 30- 4, khoảng từ thập niên 90 thế kỷ trước cho đến ngày nay, ở Sài Gòn lần hồi đã xuất hiện nhiều quán cà phê nhà giàu đúng nghĩa. Những quán cà phê loại này luôn luôn được đầu tư nặng vốn, như mặt bằng phải là các biệt thự có khuôn viên đẹp, nội thất đẹp, gắn máy lạnh, phần trang trí kỳ mỹ – trong đó có dạng cà phê sân vườn, cà phê sinh thái, thiết kế không gian xanh mát, như kiểu hoa viên hay cảnh đồng nội thu nhỏ, hồ nước có cầu bắt qua, hòn giả sơn, suối Thiên Thai, vườn Địa Đàng.v.v… Ở Tp. HCM, những quán cà phê sang trọng kiểu trên xuất hiện khá sớm, có thể kể là: Café Runam D’or, Terrace Café, Miyama, Đen Đá, 81 Café (Quận 1), Suối Đá, Siena (quận 3), Du Miên, NetViet (Phú Nhuận), Oasis, Country House (Gò Vấp)… với giá cà phê phin chung chung 45,000 – 50,000đồng/ly, cà phê đen đá/sữa đá uống liền 35,000 – 40,000 đồng/ly.
Chừng trên dưới 10 năm gần đây, ở những “khu đất vàng” tức địa điểm rất đắt giá bởi sang trọng, sầm uất nhất thành phố này, đến lượt các chuỗi cà phê nước ngoài (các thương hiệu quốc tế nổi danh) và trong nước lần lượt xuất hiện, như: HighLand, Starbucks, Urban Station, Coffe Bean&Tea Leaf, Gloria Jean, Mop, MCCafé, Trung Nguyên, Phúc Long Coffee&Tea House, Holy, Lux Đại Phát,v.v…
Tất nhiên, từ những ngày đầu cho đến ngày nay, nhiều dân ghiền cà phê mà tiền bạc có hạn vẫn cảm thấy không an tâm cho lắm khi có dịp bước vào những cửa hàng thuộc các chuỗi thương hiệu cà phê cao cấp nói trên. Nào ghế êm, trang trí đẹp, nào không gian thoáng mát, thành phần khách hàng xung quanh thanh lịch đấy nhưng giá cả các loại cà phê pha máy, từ expresso, cappuchino cho đến late, blach double…, thì khó chấp nhận bởi cao đến gấp 4 – 5 lần so với cà phê cũng “uống được”, có khi còn ngon hơn ở quán chú Năm hay quán chị Ba thân quen trong xóm!

Sâu xa hơn, giữa các giao diện cà phê bình dân, trung trung hay sang trọng lại không có ranh giới cứng nhắc để phân biệt thật rạch ròi vì ai cũng biết chân giá trị của giàu nghèo nằm cả bên phía tinh thẩn, tâm hồn chứ không riêng phía vật chất, kinh tế.
Như một đôi tình nhân học trò, gặp một cơn mưa lớn giữa buổi hẹn hò, chỉ đủ tiền mời nhau cốc cà phê bình dân ở một quán vỉa hè là nơi hai đứa trú mưa… Nghèo quá rồi còn gì, nhưng thật ra đôi lứa này đang rất giàu có về mặt tâm hồn, bởi tình yêu tinh khôi, hồn hậu đã khiến cái ly nhựa đựng cà phê bình dân, giá bèo kia bỗng ngon lên gấp bội, bỗng ngào ngạt hương vị không kém gì cái tách sứ kiêu kỳ chứa loại cà phê thượng hảo hạng giành riêng cho giới doanh nhân, đại phú gia chiêu đãi nhau.
Còn ai kia, một cô tiểu thư hay cậu thiếu gia con nhà đại phú nào đó, lâu nay vẫn quen lui tới toàn những nhà hàng sang trọng, cỡ Continental, Brodard… nằm giữa trung tâm Sài Gòn hoa lệ, giờ thì cũng ở cái góc bàn có view nhìn ra phố ngoạn mục nhất ấy, phải ngồi một mình với tách cà phê đã nguội lạnh để gậm nhấm nỗi đau của cuộc tình vừa đổ vỡ, thì quả là cô tiểu thư, cậu thiếu gia con nhà đại phú này đang quá nghèo hạnh phúc, quá nghèo niềm vui…
(*) Có một số data từ 2 nguồn: Kênh 14 và Coffeetree.vn.

PHAM NGA
(Cuối mùa mưa 2018)

những chiếc bóng

Có đôi lần tôi thử cố nhớ lại mình đã thật sự lớn khi nào. Tôi muốn biết liệu có một thời điểm mong manh mà ở đó, phía bên này là sự ngây thơ, còn bên kia là tâm trí của một kẻ vừa mới nhận chân được gương mặt cuộc sống. Khi ấy, giống như anh chàng đứng ngắm bóng mình trong hồ nuôi cá cảnh và tưởng tượng những con cá đang bơi sau lớp kính là tuổi thơ của mình, còn đám rong rêu cùng hòn non bộ kia là khung trời mộng mơ mà anh ta đã đắm chìm vào và lầm tưởng đó là thế giới đích thực.

Nhưng có vẻ gì đó như một sự đốn ngộ, một ánh chớp loé lên và chẳng để lại gì. Một ánh chớp loé lên và cái thế giới cũ vụt tan biến. Không biết có bao người may mắn nhớ rõ được thời điểm toả sáng ấy trong cuộc đời. Phải chăng, trong phần lớn những cuộc đời khác, nó thường trôi qua lặng lẽ và không để lại một dấu ấn nào – đó là một cuộc chuyển hoá chậm, dày và chẳng thể nhớ gì về nó. Nhưng tôi lại mơ hồ cảm nhận rằng nếu có đủ thời gian và sự tĩnh tâm để rà xét, có khi ta sẽ lần ra khoảnh khắc ý nghĩa ấy. Nó giống như chuyện thuở nhỏ khi tôi lần mò trong đêm tối để tìm viên bi bị rơi, tôi biết chắc nó đang nằm ở một xó xỉnh nào đó, chỉ cần tay tôi vươn tới tôi sẽ bắt được…

Đó là một thời đói triền miên, đói từ làng trên đến xóm dưới. Mọi thứ đều trông tiêu điều, người sống lặng lẽ như những chiếc bóng lẩn khuất sau luỹ tre hay lang thang trên cánh đồng. Những năm ấy, tôi đâu khoảng hơn mười tuổi, cao lêu nghêu, da đen nhẻm và tóc xơ xác như rễ tre. Tôi hay lang thang một mình, lúc trên rừng, khi ngoài đống nhưng thường nhất là lặn dưới sông. Tôi không biết người lớn họ chịu đựng cái đói ra sao còn đối với tôi lúc ấy chẳng khi nào tôi để cho cái dạ dày của mình phải khốn khổ vì trống rỗng. Khi đói bụng tôi ăn đủ thứ, từ bắt ốc bươu luộc ăn, đến hái trộm dưa hay đào trộm khoai lang, rồi đi bắn chim trên rừng đem nướng lá chanh…A, mà bạn biết chim nướng lá chanh không, món thượng hạng, tôi sẽ kể rõ ngay sau đây: vặt sạch lông, mổ bỏ hết bộ lòng, rửa sạch, nhét lá chanh vào, quấn mười lớp lá chuối tươi rồi nướng cho đến khi cháy đến lớp lá cuối cùng là được. Sau đó chấm muối tiêu và nhai ngấu nghiến từ đầu đến thân, rồi 2 cẳng và sau cùng là linh hồn của nó…

Tôi khởi sự nhớ lại từ mùa đông năm ấy. Đó là một mùa đông khắc nghiệt, cái đói cùng với cái lạnh đã vùi dập hầu hết những ước mơ và dự định tốt đẹp tôi đang có trong đầu. Bởi mùa đông là khi tôi chẳng thể lang thang trên rừng hay xuống sông để tự kiếm miếng ăn. Tôi mặc bộ đồ may bằng bao cát ấp chiến lược và nằm co ro trong một góc nào đó để nghe tiếng mưa rả rích trên mái tôn. Mưa dầm dề từ ngày này qua ngày khác, có khi cả tuần chưa thấy mặt trời. Tôi nằm im lặng chịu đựng và lắng nghe cái đói cồn cào trong dạ dày. Tôi nhận thức rõ thời gian đang trôi đi từ buổi sáng qua buổi trưa rồi bò chậm chạp đến buổi tối, nhưng tôi biết chắng có gì đang được nấu dưới bếp. Cũng có khi tôi rời chỗ nằm và mò xuống bếp để nhìn. Tôi nghĩ trên đời sẽ chẳng có gì thê thảm hơn một cái bếp nguội lạnh trong mùa đông mưa dầm.

Sau này tôi mới hiểu tại sao thường mùa đông lại là mùa đói quay quắt như thế. Bởi đó là khoảng trống mùa vụ, chẳng có cây gì đang được trồng vào mùa đó ngoài ruộng. Cánh đồng lúc ấy chỉ trơ gốc rạ nằm thối rục trong mưa, một vài con chất thọc cắm mỏ vào những ổ trùn vừa mới đùn lên trên những mô đất cao.

Mùa đông còn là mùa tôi nhớ nhiều chuyện nhất. Có lẽ là do tâm trí được yên tịnh, chỉ có nằm, lắng nghe và chịu đựng. Hằng đêm tôi khó ngủ nằm trằn trọc và lắng nghe mọi thứ âm thanh. Ngoài tiếng mưa, tôi còn hay để ý đến tiếng chuột. Bọn chúng chạy và kêu rất náo nhiệt trên xà nhà làm như có điều gì vui lắm. Nhưng mẹ tôi lại nói khác, bà nói bọn chuột cũng đói và đang chạy đi tìm thức ăn, “càng đói chạy càng gấp”. Thỉnh thoảng mẹ tôi cũng đùa nói bọn chúng đang hát tập thể:

“Chút cha chút chít,
Ỉa không chùi đít,
Không sợ dính quần…”

Tôi được một trận cười no nê và ngủ lúc nào không hay…

Rồi mùa đông nào cũng kết thúc khi tết đến. Tết là những ngày được tôi chờ đợi nhất dù thường tôi chẳng có gì, từ quần áo mới hay tiền lì xì. Tết như một chút dấu ấn nhắc nhở những con người cùng quẫn rằng thời gian vẫn đang trôi và họ vẫn đang sống. Hồi ấy tôi tưởng tượng nếu không có tết chắc tôi chẳng biết chờ đợi gì trên đời này nữa.

Nhưng tết không chỉ là dấu ấn của thời gian, nó còn được mong đợi hơn vì đó là những ngày sẽ được ăn no và ăn ngon. Chuỗi ngày ăn giỗ no nê được bắt đầu từ rằm tháng chạp, kế đến là đưa ông Táo về trời, rôi cứ tiếp diễn đến đầu xuân với rất nhiều lễ cúng. Nhưng khi lễ đưa ông bà được cúng vào ngày mùng ba, đó là lúc lòng tôi chớm buồn, nỗi buồn cố hữu quay lại, u ám và dai dẳng.

Rồi thời gian trôi thật nhanh khi ký ức vụt kéo tôi đến những ngày cuối xuân năm ấy khi mùa lúa đông xuân vừa gặt xong. Đó là những hình ảnh câm lặng đau buồn chẳng khi nào phai trong tâm trí tôi nhưng phải rât lâu sau này, khi đã thật sự trưởng thành, tôi mới hiểu rõ ngọn nghành. Và khi đó, bóng dáng của những ngày cùng khốn ấy lại hiện ra, tròn vành vạnh không sót một chi tiết nào…

Mọi thứ đều dồn vào buổi sáng hôm ấy, trong một khoảnh khắc thật ngắn ngủi, khi nắng vàng chiếu rạng rỡ trên những ngọn tre.

Trước khi có khoảnh khắc chấn động ấy tôi không nghĩ mình đã biết rõ về ông – ông xã Chiên, một ông già lụ khụ. Tôi không nhớ năm đó ông bao nhiêu tuổi, nhưng tôi nhớ rõ ông đã rất già, theo cái nghĩa phải đếm từng mùa đông đến.

Mùa đông, với những cơn gió bấc lạnh buốt là nỗi ám ảnh của người già. Thường là họ sẽ chết vào một mùa đông nào đó. Cái đói và lạnh sẽ lần lượt kéo những người già cả ốm yếu về âm ty. Khi chim cú báo hiệu, sẽ có người già nào đó phải chết. Vào những đêm đông, khi tiếng chim cú mổ từng âm buồn thảm, ba tôi thường lắng nghe rất chăm chú. Sáng hôm sau ông lọc ra một danh sách những người khả dĩ nhất trong xóm có tiếng chim cú đêm qua rồi ngẫm nghĩ. Tôi thấy lần nào ba tôi cũng đoán trúng và đó là điều kỳ lạ mà cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào hiểu được.

Ông xã Chiên chỉ sống một mình trong căn nhà tranh nhỏ, nằm ở góc một khu vườn có tre phủ kín mít tứ phía. Vườn nhà ông nằm kế những khu vườn hoang nối liền nhau. Đó là vương quốc của chim chóc và rắn rít. Những buổi chiều, khi mặt trời ngã bóng, những khu vườn hoang chợt trở nên u tối đến rợn người. Rồi chim vịt, bìm bịp,…thi nhau rền vang những âm điệu buồn đến nao lòng. Tôi cũng thường lai vãng vào đó để bắn chim. Khu vườn râm mát suốt ngày vì rất hiếm khi nắng chiếu lọt được vào trong, trừ những buổi trưa đứng bóng. Trong cái không gian tĩnh mịch ấy, tôi hay đi thơ thẩn từ đầu này tới đầu kia khu vườn, và cuối cùng dừng bước trước ngôi nhà tranh cũ nát. Trong nhà chỉ có cái chõng tre, một cái ảng nước, 3 cục gạch kê làm bếp và mấy cái nồi móp méo đen sì…

Căn nhà của ông lúc nào cũng đong đưa như răng người già nhưng không hiểu sao nó vẫn chưa sập dù năm nào cũng có bão thổi qua vài bận. Cái bí quyết đứng vững của căn nhà ấy phải sau này tôi mới biết rõ…

Hồi ấy tôi đã từng thắc mắc không biết ông ấy ăn gì để sống vì suốt căn nhà không thấy có một thứ gì có thể cho vào miệng được. Tôi có đem điều thắc mắc ấy hỏi vài người lớn nhưng chẳng ai giải thích họ chỉ cười ruồi. Chắc họ nghĩ tôi chỉ là một đứa con nít, mà con nít thì không cần phải biết những chuyện đại loại như vậy. Nhưng người lớn họ hay nhầm lẫn giữa sự hiểu biết và lòng trắc ẩn. Họ không nghĩ rằng có chút lòng xót thương đang nảy nở trong tầm hồn tôi khi nhìn cảnh cô đơn bần cùng của một ông già ốm yếu. Có lẽ, hồi ấy, cái đói, cái cùng quẫn của nợ nần đã cầm tù tâm trí họ. Còn lòng tốt ư, nó phải vượt qua được cái dạ dày sôi réo, phải thắng được cái tâm trí bấn loạn, trước khi lọt ra ngoài qua vài câu xuýt xoa tội nghiệp.

Trở lại buổi sáng cuối xuân năm ấy. Đó là một buổi sáng hứa hẹn một ngày nắng nóng gay gắt. Bởi từ sáng, mặt trời đã lên chói chang. Nhưng đó không phải là thời điểm tâm trí của những người lớn còn có thể nghĩ về thời tiết, họ đang lo lắng tụ tập về sân đội với nỗi ám ảnh hằn lên trên từng gương mặt khốn quẫn.

Sáng hôm ấy đội truy thu nợ của công an huyện về làm việc với những hộ còn nợ lúa hợp tác xã.

Ba tôi từ sáng sớm đã lên sân đội. Khoảng 3 hay 4 người mặc đồng phục màu vàng đang ngồi ở dãy bàn phía trên. Tôi chẳng biết họ nói gì, nhưng bên dưới tất cả đều im thin thít.

Phải sau này tôi mới biết câu chuyện sáng hôm ấy. Đó là họ bắt những người thiếu nợ phải bằng mọi cách trả thuế cho hợp tác xã. Họ hăm doạ rât nhiều khiến ai cũng lo sợ thất thần. Sau này ba tôi kể họ đập bàn, quát vào mặt ông, họ đe sẽ bắt nhốt nếu không trả nợ.

Hồi đó hình như nhà ai cũng nợ lúa nhà nước. Ba tôi giải thích, một mảnh ruộng được nhà nước quy định năng suất và người dân khi sử dụng phải đóng thuế 70% trên cái năng suất lý thuyết ấy. Vì năng suất được quy định quá cao, gần như chẳng khi nào đạt đến trong thực tế nên mùa nào cũng chẳng đủ lúa để đóng thuế. Đâm ra ai cũng nợ nhà nước đầm đìa.

Chuyện nợ nần ấy luôn làm tôi liên tưởng đến những chuyện khác, khủng khiếp hơn, xảy ra thường xuyên nhưng chẳng ai đặt câu hỏi vì sao. Có lẽ do nó xảy ra thường quá nên nhàm chăng, còn bọn con nít coi chúng chỉ như những trò hấp dẫn. Đó là các vụ tự tử bằng thuốc rầy. Tôi còn nhớ, cứ dăm bữa nữa tháng lại nghe một vụ uống thuốc rầy tự tử. Thường những chuyện như vậy tôi sẽ chẳng khi nào bỏ qua. Khi nghe tiếng la khóc từ phía trạm xá vọng lại, tôi sẽ ba chân bốn cẳng phóng đi. Khi ra tới nơi tôi cố chen lấn để luồn vào trong. Trên nền xi măng, kẻ tự tử nằm quặt quẹo ở đó, từ người họ mùi thuốc trừ sâu bay ra nồng nặc làm ngộp thở cả căn phòng. Một người dùng ống đút vào miệng rồi đổ nước vào, còn một người khác sẽ leo lên bụng đạp. Họ đạp cho đến khi nước trào ra lại đằng miệng. Họ làm như vậy nhiều lần cho đến khi nước súc không còn mùi thuốc nữa mới thôi…

Có điều, tất cả những thứ kinh khiếp ấy chưa bao giờ khiến tôi sợ hãi. Hồi ấy tôi chỉ coi nó như những chuyện bình thường khác vẫn xảy ra hằng ngày xung quanh, đơn giản như cãi lộn hay chửi bới của mấy bà bán cá. Có lẽ đó là lý do tại sao người ta gọi là trẻ thơ. Cũng như thời gian, nhận thức là quá trình một chiều và không thể đảo ngược, một khi bạn đã “biết” rồi thì chẳng có cách nào để bạn trở lại “không biết”. Nghĩa là, khi bạn nhận ra sự khổ đau thì đó cũng là lúc bạn đã bước vào một thế giới khác – thế giới người lớn. Và nó cũng khởi đầu cho sự trượt dài không lối thoát trong cõi nhân sinh, cho đến khi bạn hoàn toàn biến mất.

Và đã có một sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn tôi kể từ buổi sáng hôm ấy…

Đó là khi không khí của buổi họp được dồn đến căng thẳng tột độ, bất thình lình ông xã Chiên xuất hiện. Tôi nhớ mới hôm qua ông còn bịnh nằm liệt giường, sao hôm nay ông lại đến đây. Ông đi lừ đừ từ ngoài cổng vào. Lúc ấy nắng đã lên cao, chiếu bóng ông in hình đậm nét trên nền gạch. Chiếc bóng đen thẫm, nhấp nhô như trong phim hoạt hình, hết nghiêng bên này lại ngã bên kia và tiến về phía dãy bàn phía trên, nơi những vị mặc sắc phục màu vàng đang ngồi.

Tôi nhớ là cả sân người ngồi dưới và mấy vị quan chức đều im lặng dõi theo từng bước ông đi. Ông ngật ngưỡng đến đứng trước mặt họ. Hình như ông nói gì đó, và có vị đã cười. Tôi nghĩ họ đã nói chuyện không đến nỗi căng thẳng cho lắm. Nhưng bất ngờ, ông xã Chiên mở nắp cái chai mang theo và đưa lên miệng. Rồi tôi thấy ông ngã lăn ra sân. Chiếc bóng mất hút. Những tiếng la hét, gào thét bắt đầu vang lên cuồng loạn. Những người đang ngồi dưới bật đứng dậy và lao lên trước. Cho đến khi mùi thuốc rầy nồng nặc bắt đầu lan đến chỗ tôi đứng, tôi mới bừng tỉnh và hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Sau đó hình như người ta có đưa ông đi cấp cứu, nhưng chỉ được một quãng thì ông đã chết. Họ nói ông đã uống hết cả nửa chai thuốc rầy nên chẳng Trời Phật nào cứu nỗi…

Sau này ba tôi kể, trước hôm ấy vài ngày, ông xã Chiên được tuyên dương trước đội như một mẫu mực vì đã bán cây cột sơn để trả nợ. Đó là cây cột gỗ sơn lớn và đen bóng, nó là chỗ dựa duy nhất cho căn nhà tranh của ông.

Sau đó vài tháng, một cơn bão nhẹ thổi qua làm căn nhà đổ tan nát và vườn nhà ông trở thành vườn hoang. Chiều chiều, tiếng bìm bịp vọng ra từ đó nghe như tiếng gọi hồn buồn thảm. Thỉnh thoảng tôi có đi ngang qua, nhưng chẳng khi nào còn dám bước chân vào nơi ấy nữa.

TRÀ ĐÓA

CHẤU CẮN

Hình như Rilke, một nhà thơ người Tiệp, từng nói lời cực đoan: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”. Cũng chính ông người “lạc hậu” kia viết ra câu: “Ở đâu có nguy hiểm, ở đó có cứu rỗi”.

Trước, tôi có làm dăm ba bài thơ. Nay, tôi bị đẩy lên sống ở vùng kinh tế mới. Tôi van bạn đừng dại lên đây, ngoại trừ ở thành phố người ta sắp giết bạn. Kinh tế mới là gì? Đó là cụm chữ tôi không tài nào hiểu được! Một sườn đồi tiếp giáp với Trường Sơn, bên dưới là bình nguyên lắm cây cỏ hoang dại mọc dài theo con suối thỉnh thoảng có bóng người Thượng chẳng biết từ đâu tới gánh nước, gùi con sau lưng xuống tắm hoặc giặt giũ chăn màn. Với phương tiện thô sơ, hơn hai trăm mạng người sẽ “cải tạo” cái gai góc kia, biến nó thành bình địa để bắt đầu xây nhà dựng cửa khai hoang lập ấp. Tôi là một trong sĩ số hai trăm đứa cần cù lao động, đặt dấu chân người đầu tiên ở chốn đèo heo hút gió, cách thành phố cũ 40 cây số đường chim bay. Mệt chết bỏ, thở không ra hơi. Thơ thẩn cũng bỏ tôi, đi mất biệt. Thật là chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!

Một người có kinh nghiệm đi rừng truyền đạt “lời hay lẽ phải”: Bạn bị rắn cắn nơi nào, gần nơi đó luôn có thứ lá cây để sơ cứu chận độc. Ông ta kết luận: Trời hay ở chỗ ấy! Sinh cái này phải đẻ thêm thứ kia. Tôi nhìn ông ta, lời ông nào khác gì lời “ấm ớ” của Rilke. Và một ngày, ông trời đã không có mắt, tôi sơ ý bị rắn cắn ở dưới bắp chân, cây cỏ um tùm biết tìm đâu ra thảo dược. Buộc chặt một sợi dây vào đùi, ngăn máu chảy về tim, mặt xanh lè được hai người tốt bụng khiêng ra khỏi hiện trường, báo cáo mấy vị có thẩm quyền xin được chở xuống trạm xá nằm ngoài quốc lộ. Ở đó có hai người y tá, một bác sĩ chuyên chữa những bệnh kiết lỵ sốt rét hoặc gãy tay cụt giò. Tôi được một cô gái đích thân nặn máu độc ra, bôi thuốc khử trùng và cho uống hai viên thuốc, hy vọng không phải là Xuyên Tâm Liên. Cô dìu tôi nằm xuống cái giường tre ọp ẹp: Chừng nào thấy chóng mặt, hoa mắt hoặc nghe tim đau thì nhớ gọi tôi. Cô đắp cho trán tôi một vuông vải ướt, mát; rồi quay lưng đi mài một con dao nhỏ, xoèn xoẹt chẳng biết để làm gì. Tôi van cô chớ giải phẫu chân tôi, ngoại trừ thiếu vết dao cắt, tôi sẽ chết vì rắn.

Tôi không đau tim, may phước chẳng ấm đầu chóng mặt nhưng “bồi dưỡng” thức gì vào cũng nhợn nôn. Nhác ăn nhác chơi. Chỗ rắn cắn tím bầm, sưng tấy. Cô y tá nhìn, xem chừng muốn buồn tay động dao động kéo. Ngày mai mới có bác sĩ chuyên khoa từ bệnh viện đến thăm, không ấy tôi cho anh thử dùng phương thuốc Nam. Lần này thay vì mài dao cô ra sau nhà chổng mông ngồi thổi lửa. Một cái nồi đất bắt lên, lởm chởm những cọng lá sắc đâm tua tủa ngâm thân chờ héo úa. Hẳn là nó rất đắng, tôi đồ vậy. Thuốc đắng đả tật. Tôi thử nhẫm tính xem đã mấy hôm rồi tôi thiếu vắng cà phê. Lòng tương tư vô hạn hình ảnh cái nồi ngồi trên cái cốc. Lý lịch tôi mang thân phận tiểu tư sản, một đứa như thế vẫn thèm khát vu vơ những thứ xa rời hiện thực. Những bài thơ viết chùng vụng cũng chở đầy thứ tâm cảm được voi đòi tiên, đứng núi nầy trông núi nọ để chung cuộc là tiếng thở dài đánh sượt, dài miên man. Nếu vắng nỗi buồn, tôi van bạn chớ làm thơ!

Dẫu sao tôi nên cảm ơn con rắn vằn vện đã cho tôi “biết thế nào là lễ độ” khi vô cớ tới làm động hang ổ nó. Từ nơi hoang vu giờ đây được dưỡng thương bên quốc lộ nghe tiếng xe đò quen thuộc gầm rú lừ đừ đi ngang qua cùng khói xanh vương vấn nơi khung cửa. Nói dị đoan rằng vì tôi tuổi Tỵ nên đồng loại không nở ra tay ác độc. Tao cắn mày để cho mày có cơ hội được chây lười lao động, và nghĩ mà xem cô y tá ấy chẳng phải thuộc loại mát tay. Tha hồ cho mày câu giờ kiếm cớ gạ chuyện với cô. Bệnh nhân đa phần đều ông già bà lão, đa số đều không ngớt rên la. Tiếp xúc với họ thêm oải, đời mất vui. Mấy khi bệnh xá mới có con bệnh lạ kỳ như mày “nhập viện”. Thanh niên trai tráng đã đành, hắn còn biết pha trò nữa cơ. Có duyên tệ! Hay han hỏi, hay động viên tinh thần và thi thoảng hắn biết giả bộ nắm tay, xem chừng tình trong như đã mặt ngoài còn e. Mong bác sĩ chưa vội tới, ngày mai trời vẫn tối, chiếc giường vừa buông mùng ngăn muỗi rừng và không biết ca trực của mình có nên kéo dài vượt khỏi mức quy định. Tờ giấy hồ sơ bệnh lý của hắn ghi tên Tâm, mình cũng đã hé lộ tôi tên Đoan. Trao đổi thêm mới hay hắn từng làm thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm và một thứ nghề không chính đáng: Biết làm thơ. Eo ôi, giời ạ! Chảnh đến thế thì thôi! Tâm bảo: Thế nào cũng có lúc mang tặng Đoan một bài thơ, người đã ra tay tế độ vực tôi kinh qua cánh cổng của thần chết. Háo hức lắm cơ, nghe thế bảo sao không làm ngày chẳng đủ tranh thủ làm đêm. Ngẫm kỹ đi mà xem, tất cả những vần thơ đăng báo đều xưng tụng anh hùng, ca ngợi thủ trưởng, đề cao những bà mẹ liệt sĩ chớ nào có ai để tâm “phải lòng” tới hạng người y tá đâu nhỉ? Mà y tá vô danh ở chốn sơn cùng thuỷ tận!

Hạnh phúc thường mong manh. Không ai bị rắn độc cắn mà phải nằm viện ba ngày cả, ngoại trừ bị chằn ăn trăn quấn. Bác sĩ vừa lộ hình vừa tuyên bố. Ông rảy một ít bột trắng lên vết thương mưng mủ, viết một tờ giấy trao tay tôi, ký nhận rằng nạn nhân được phép nghỉ lao động nặng ít hôm, gói hai viên thuốc vào ô giấy báo vừa xé nhỏ: Chừng nào sốt hẳn uống. Ông xua tay như đuổi ruồi, yên tâm đi nhé, hồi nào có xe vào lấy củi thì quá giang họ cho đỡ nhọc thân. Đoan kiếm đâu ra một thân cây tre gầy guộc: Này, nắm lấy nó mà vượt suối băng ngàn. Tôi cầm tay Đoan: Để tôi vào lại chỗ cũ chọc cho rắn cắn và như thế đôi ta lại gặp nhau. Sưng tấy cả hai chân cũng cố lết ra đường lộ. Đoan la: Đồ quỉ nà, bộ hết cách chơi rồi sao? Giả bộ ngộ độc thực phẩm để ra xin thuốc không được sao?

Hút vừa xong điếu thuốc thì xe củi trờ tới. Đoan không mặn mà săn chắc như kiểu sơn nữ, hơi thô thiển hơi quê mùa nhưng trong tôi thấp thoáng ló ra một đôi câu thơ. Kinh tế mới và lung lay thứ tình cảm đầy gió chướng giữa đồng không mông quạnh. Đời này vốn thiếu hụt lắm thứ, hãy thử kiếm ra một chút vui vầy đặng kinh qua. Tôi được gã tài xế ra dấu cho lên ngồi ghế cạnh ông ta. Người ông có dáng vẻ một cây xương rồng không bao giờ được tưới nước. Gai góc, đen đúa, khô đét, nhiều góc cạnh. Trời sinh ông ra để bầu bạn với đường trường, với nắng nôi, với gió bụi, với chiếc xe mãi gầm rú ho hen. Chú em đã từng thấy qua cây quế chưa? Đi quàng xiên trong ấy thế nào cũng có khi bắt gặp trầm. Hai thứ đó chú em nhớ để dành, thu ém riêng một chỗ khuất, có bao nhiêu tôi thầu bấy nhiêu và rồi đời chú em sẽ đổi khác. Một đứa vô sản không có quyền ăn nói, nhưng khi chú em chất đầy túi…hề hề rời khỏi núi để đi mua tiên mấy hồi! Tôi thưa thật là vừa bị rắn cắn, không biết mặt ngang mặt dọc hình thù chiếc lá trị nọc rắn để đắp vào dấu răng. Một tay ngang dưới phố lên, lạc vào rừng bạt ngàn cổ thụ làm sao biết ngậm ngãi tìm trầm! Bác tài nhấn chân ga vượt qua con dốc đầy sỏi đá: Khỏi lo, tôi có sẵn cuốn bí kíp võ công đây. Ông moi túi áo ra tờ giấy gấp làm bốn có vẽ hình thù và những đặc điểm để nhận diện. Thứ bí kíp ấy như được xé rời từ một cuốn sách dạy cách tồn vong khi bạn lạc vào rừng sâu, thứ này ngon chứa nhiều chất kháng sinh, thứ kia độc ăn vào sẽ mắt trợn môi trề. Tôi đón nhận, cất trong ví đựng giấy tờ tuỳ thân và gửi tới ông nụ cười thật tươi để thế một thoả thuận ngầm. Tôi van bạn nên mạo hiểm, ngoại trừ trường hợp bạn muốn chết không chiếu bó thây.

Cạp nong hay hổ mang gì đó quả có vị tình, vết cắn thôi sưng kiểu dị hình dị tướng, da thịt chỉ còn lưu lại một khoanh màu vàng bọc lấy hai vết đỏ cầu chứng. Điều này có nghĩa là tôi chuẩn bị đeo đồ nghề đi phạt cỏ đốn cây. Chưa gì đã có bọn người lập ra đội xây dựng kiến trúc đòi vẽ hoạ đồ. Họ đào móng đóng cọc khu A khu B khu C các thứ. Khu D nằm sát bờ suối tạm thời dùng làm nhà bếp tập thể. Vì ham nghe lời xúi giục của bác tài nên tôi chăm lao động giấn liều đi xa mà quên bài giả bộ ngộ độc để chính đáng ra bệnh xá mân mê tay Đoan nói trăng nói cuội. Trăng bên bờ suối đẹp kiểu hư ảo, giá mà có Đoan đứng tắm thì tôi sẽ làm được bài thơ vẽ cảnh đào nguyên. Thiên thai có hai ông cọp ngồi nhai thịt người lai rai. Chừa lỗ tai để ngày mai khoan thai nhử con nai. Này gái chiếc này trai đơn hãy mau khai. Chớ lạc sai. Nhớ dòm chừng ông cai.

Sau hơn tháng vật lộn bắt sỏi đá phải thành cơm, khu kinh tế mới bắt đầu khởi sắc. Mái tranh vách đất, nhà gỗ nhà sàn tuỳ tiện chen vai, đồi sắn nương khoai cứ thế mà đào bới tự túc tự cường. Chỉ thị ở trên ban xuống: Bắt trời làm mưa, biểu đất làm lúa. Xin bà con hãy vô tư. Tôi van bạn đừng hiểu, ngoại trừ bạn muốn tắt thở vì sự nhạy cảm. Cứ trơ như đá và hồn nhiên như hòn cuội nằm dưới suối mặc cho nước chảy đá mòn. Những từ ngữ mà lãnh đạo thốt ra đều chung một bài bản sáo mòn, thấp kém hơn chữ dùng của thường dân và trong cuốn từ điển dồi dào mang đầy tính sáng tạo ấy tôi yêu hai chữ: Trúng mánh. Cuộc hành quân đầu tiên đã mang tới thắng lợi vẻ vang thần thánh. Tôi “giao lưu” với bác tài xế xe củi, môi hở răng lạnh và bác ấy thanh thoả hợp đồng theo phong cách đậm đà của tình đồng chí. Ở đâu có đói khát, ở đó có lòng tham. Ở đâu có rừng vàng ở đó có lâm tặc.

Không thể kiếm cớ chạy về thành phố mua tiên, tôi tìm cơ hội để đổ thân ra quốc lộ tìm gặp Đoan. Tôi trao tay món quà thủ công “tự biên tự diễn”, chiếc kẹp tóc làm bằng loại gỗ thơm, và cũng chính tay tôi đính nó vào đầu tóc chẳng mượt mà của người y tá chây lười việc điểm trang. Đoan cảm động khi nghe tôi bảo, thay vì ngồi nhớ Đoan để dệt vần điệu thơ ca tôi ra công trong tuần lễ để hoàn tất tác phẩm này. Hèn gì lâu nay ra tựa cửa chẳng trông thấy một người bị ngộ độc thực phẩm quờ quạng bước vào. Người Đoan run lên khi tôi ôm cô vào lòng, mắt Đoan nhắm lại để hé môi chờ đợi một nụ hôn. Ngộ độc thực phẩm là chuyện nhỏ, sao sánh được ngộ độc vì nhớ thương. Phía sau bệnh xá, chỗ khuất lấp có trồng hai bụi môn. Trong bệnh xá có người nằm rên vì chứng đau bao tử vì vậy y tá bỏ mặc mọi thứ, nắm tay tôi dại khờ tìm nơi vắng vẻ. Nếu Đoan là Nguyệt Nga thì tôi hơn Vân Tiên vạn lần. Cỏ ngứa, muỗi cắn hoặc ruồi bu kiến đậu, hoặc những âm mưu thâm độc khác đều không gây trở ngại cho hai kẻ đang thích chơi trò lấn đất dành dân, ưa mở rộng địa đạo hối chú du kích vào phục sẵn chờ phút khai hoả. Những nước theo xã hội chủ nghĩa thường có đông dân số, giản dị vì họ không có thứ gì để giải trí cả. Niềm vui duy nhất là nam nữ cứ bu như sam, nhưng nói cho ngay vì Đoan là y tá nên cô có sẵn cả tủ thuốc ngừa thai. Đoan không dại nằm thắp sáng cái sướng trong phút giây để rồi ngồi nguyền rủa nỗi đau theo tháng ngày. Em nói thật đấy, cơ quan mà biết được thì họ khai trừ em, họ bêu rếu em, họ bắt em làm bản kiểm điểm, đày đoạ em, mắng nhiếc em nào là có chuyên mà không có hồng, nhân thân xấu, chẳng xứng đáng làm con người mới để thích nghi với chế độ ưu việt. Tôi nhìn giọt nước mắt ứa ra trên khuôn mặt mờ tối của Đoan. Sao Đoan khóc? Vì em đang hạnh phúc, chưa bao giờ em hưởng được thứ bồi dưỡng lạ lùng như phút giây qua. Em ghi cho anh một cái lịch nhé, những giờ giấc thuận tiện để chúng ta cùng ăn nằm bên nhau. Tâm có thương em không? Còn phải hỏi, Đoan là con rắn đáng yêu nhất mà anh gặp phải, anh tự nguyện giao mạng cho Đoan cắn, như vừa cắn vết dịu dàng. Thôi đi ông tướng, vừa làm rắn bò đi lung tung còn đổ thừa cho người ta.

Trước khi chia tay, tôi vụng trộm ngó Đoan ngồi bên lu nước múc từng gáo tự sơ cứu làm hạ nhiệt. Tôi trao cho Đoan một xấp tiền. Cái gì đây? Bồi thường thiệt hại, hồi nãy lỡ làm hỏng cái quần lót của Đoan. Có thích em làm vệ sinh cho anh không? Không, anh vào tắm suối. Đoan hôn tôi đắm đuối, hụt hơi. Và tôi chẳng ngờ được, đó là trang cuối cùng của chuyện tình vắn số của chúng tôi. Vĩnh viễn tôi không còn nhìn thấy Đoan. Cũng như chiếc xe chở củi chở gỗ về thành phố người ta đã thay ông tài xế khác.

Tôi bị bắt vì tội phá hại tài sản của nhà nước. Cán bộ đã vào lán tôi ở, moi được bọc tiền làm tang chứng vật chứng chuyện móc ngoặc với thành phần bất hảo, bán và tiêu thụ trầm, quế. Họ cũng tìm đọc những bài thơ tôi giấu dưới chiếu, quy chụp rằng lời lẽ quá sức phản động, dựng chuyện lầm than đói khổ để nói xấu chế độ. “Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho”. Đấy, mày nàm thơ kiểu đấy thì phải chóng nhập kho thôi con ạ! Thưa các cán bộ, tài sức tôi đâu đủ để viết được lời bi thảm đó. Thơ ấy là của Hồ chủ tịch đấy ạ! Một đứa hùng hổ đến sát bên tôi. Láo lếu! Tay hắn nắm dùi cui, nháng một cái tôi chẳng còn trông thấy gì cả. Đất trời đều sập tối. Tôi van bạn đừng làm thơ vẽ cảnh hiện thực, và tránh xa việc trích dẫn những “lời hay ý đẹp” của lãnh tụ. Bạn sẽ chết chắc ngoại trừ bạn là đàn em của Phù Đổng Thiên Vương thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên.

Hồ Đình Nghiêm

Truyền thống và ý nghĩa Lễ Tạ Ơn Thanksgiving

Thanksgiving được coi là dịp để bày tỏ lòng biết ơn nhau và nhất là Tạ Ơn Chúa đã ban cho vụ mùa màng đưọc sinh hoa kết trái, lương thực đồi dào và tất cả các ơn lành khác ta nhận được trong cuộc sống. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức với gia đình và bạn bè gặp gỡ, cùng chia sẻ niềm vui, và nhất là một bữa tiệc buổi tối, gia đình sum họp ăn uống vui vẻ. Đây là một ngày quan trọng cho đời sống gia đình, nên dù ở xa, con cháu thường về với gia đình.

Tại Mỹ, ngày lễ này được tổ chức vào thứ 5, tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 hằng năm. Người ta thường được nghỉ 4 ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần Lễ Tạ ơn. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng (như đốt pháo hoa hay đi hát dạo).

Nguồn gốc Lễ Thanksgiving đầu tiên:

Chuyện kể rằng những người di dân hầu hết là thuộc Thanh giáo, họ rời Anh quốc vào tháng 9 năm 1620 trên chuyến tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn. Đầu tiên, họ đến Leyde thuộc Hòa Lan, nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng. Do đó nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân thế giới, họ muốn tạo dựng một “một thành Jérusalem mới” ở Hoa Kỳ.

Trên chuyến đi sang Tân thế giới, họ đã trải qua bao gian lao, thử thách, lo sợ và nguy khốn… Nước đá lạnh tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, Sàn tầu bằng gỗ, có lần đốt lửa xẩy ra tai nạn, nên sau đó họ phải ăn thức ăn lạnh. Nhiều người ngã bệnh. Cuộc hành trình này có 1 thủy thủ và 1 hành khách chết. Trong khi còn trên biển, bà Elizabeth Hopkins sinh một con trai mà bà đặt tên là Oceanus (có nghĩa là “Đại Dương”).

Sau 65 ngày trên biển lạnh, vào ngày 21 tháng 11 năm 1620, tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 mile = 1,852 km). Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts). Và sau khi tàu cập bến tại hải cảng Provincetown, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Pelégrine (nghĩa là “người hành hương”). Tuy biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước sống hòa hợp với dân bản xứ (Narranganset và Wampanoag). Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư.

Họ tới Plymouth Rock, Massachusetts, ngày 11 tháng 12 năm 1620. Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ, nhưng không quan trọng lắm. Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông đầu tiên vô cùng khác nghiệt và quá lạnh lẽo.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower, Trong số người chết có 14 người vợ (trong số 18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người). Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp.

Nhưng mùa gặt của năm 1621 lại là một mùa tốt đẹp. Những người còn sống sót quyết định làm tiệc ăn mừng có sự tham gia của 91 thổ dân da đỏ – những người đã giúp họ sống sót trong năm đầu vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng.. Đoàn di dân tin rằng họ không thể tồn tại được nếu không có người da đỏ giúp đỡ. Buổi tiệc được tiến hành theo phong tục cổ truyền mừng mùa màng của Anh chứ không đơn thuần chỉ là “tạ ơn” và kéo dài suốt 3 ngày.

Lúc đó, người đứng đầu cai quản vùng đất này – Thống đốc William Bradford đã cử 4 người vào rừng để săn chim, gà và ngỗng cho buổi tiệc. Không biết rõ gà rừng có phải là một phần chính cho bữa tiệc hay không nhưng chắc chắn là họ dùng thịt của một loài lông vũ. Danh từ “turkey” từ đó được những người di dân dùng cho những giống chim rừng.

Sang năm tiếp theo, 1662, Lễ Tạ ơn không được tổ chức. Nhưng vào năm 1623 sau nhiều lần hạn hán những người di dân của các thuộc địa cùng nhau tụ tập lại cầu nguyện cho mưa xuống. Sau khi mưa liên tiếp trút xuống mấy ngày, Thống Đốc Bradford tuyên bố một ngày Tạ ơn nữa, và họ lại mời những người bạn da đỏ.

Những Lễ Thanksgiving tiếp theo sau…

Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ, Hội đồng các thuộc địa đã định ra thêm một vài ngày Tạ ơn trong năm (trừ năm 1777).

George Washington với tư cách là chỉ huy lực lượng giải phóng đã tuyên bố ngày Tạ ơn trong tháng 12/1777 là ngày lễ mừng chiến thắng lính Anh tại Saratoga. Hội đồng thuộc địa công bố ngày lễ Tạ ơn vào tháng 12 từ năm 1777 đến 1783 (trừ năm 1782).

Sau khi trở thành Tổng thống, George Washington đã tuyên bố ngày lễ Tạ ơn quốc gia năm 1789 và 1795 dù gặp phải vài sự phản đối. Tổng thống John Adams tuyên bố ngày Tạ ơn vào năm 1798 và 1799. Tổng thống Madison cũng dành ra một ngày gọi là để Tạ ơn vào cuối cuộc chiến năm 1812.

Sau đó, nhờ Sarah Josepha Hale, chủ bút của một tờ báo cố gắng thuyết phục mọi người công nhận lễ Tạ ơn bằng những bài viết của bà trên tờ Boston Ladies’ Magazine và Godey’s Lady’s Book kèm theo thư từ cho các thống đốc và các tổng thống, cuối cùng vào năm 1863, Tổng thống Lincoln tuyên bố ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng 11 là ngày lễ Tạ ơn và là ngày nghỉ hàng năm. Các đời Tổng thống kế tiếp cũng làm theo tiền lệ này.

Năm 1939, Tổng thống Franklin Delano Roosevelt tuyên bố lễ Tạ ơn sẽ diễn ra vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 3 trong tháng 11, tạo điều kiện giúp giới kinh doanh thuận lợi trong việc bán hàng trước lễ Giáng sinh. Song tuyên bố của ông Roosevelt không có hiệu lực vì bị nhiều bang phản đối.

Đến năm 1941, Quốc hội Mỹ đã đạt được sự đồng thuận và định ra ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 4 trong tháng 11 sẽ là ngày Tạ ơn trên toàn quốc. Ngày 26/11/1941, Tổng thống Roosevelt chính thức ký thông qua đạo luật này.

Bữa tối mừng lễ Tạ ơn

Món chủ đạo trong bữa Tạ ơn tại Mỹ và Canada là thịt gà tây nướng. Vì gà tây là món ăn phổ biến nhất trong bữa tối mừng Lễ Tạ ơn, nên đôi khi ngày Tạ ơn còn được gọi là Ngày Gà Tây. Tổ chức USDA từng thống kê năm 2006 có trên 300 triệu con gà tây được nuôi và khoảng 1/6 trong số này dành phục vụ lễ Tạ ơn.

Thời kỳ đầu, lễ Tạ ơn kéo dài ba ngày. Tuy nhiên họ không thực sự chỉ ăn gà tây (turkey, dindon) bởi vì chữ “turkey” lúc bấy giờ dùng để chỉ gà tây, gà, chim cút, chim trĩ… Cho dù những người di dân đầu tiên có ăn gà tây hay không vào dịp lễ Thanksgiving đầu tiên, thịt gà tây luôn luôn được gắn liền với lễ này.

Cùng với gà tây là món Bí đỏ(pumpkin) truyền thống, đây là loại thức ăn đã cứu sống những người hành hương trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên ấy, đã trở thành món ăn quan trọng gần như thịt gà tây. Món ăn bí đỏ luộc, và làm bánh chiên bằng bột ngô. Một số thực phẩm khác cũng xuất hiện trên bàn tiệc như: nước sốt chanh, nước sốt thịt, khoai tây nghiền, khoai lang ướp đường, đậu xanh. Lúc đó trên bàn cũng không có sữa, nước táo, khoai tây hay bơ như sau này, vì họ chưa nuôi được bò để có sữa. Nhưng bữa tiệc cũng thêm phần thịnh soạn vì có thêm cá, trái dâu, rau cải soong, tôm hùm, thịt chim rừng, trái cây khô và trái mận tươi.

Các món tráng miệng cũng được bổ sung trên bàn ăn, bao gồm một số loại bánh nướng nhất là bánh bí ngô, bánh nướng nhân dâu tây, bánh nhân hồ đào.

Ngày nay, trong dịp lễ này gia đình đoàn tụ, khách có thể mang theo món ăn, nhưng không mang theo quà cáp.

Những hoạt động trong ngày Tạ ơn tại Hoa Kỳ:

Một hoạt động không thể thiếu vào dịp Tạ ơn là mua sắm. Ngày thứ Sáu sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ. Bắt đầu từ những năm 1930, mùa mua sắm nhân dịp Giáng sinh bắt đầu khi lễ Tạ ơn kết thúc.

Tại thành phố New York, cuộc diễn hành nhân ngày Tạ ơn của Tập đoàn Macy’s được tổ chức hàng năm tại khu trung tâm Manhattan. Cuộc tuần hành được tổ chức theo các chủ đề đặc biệt nào đó, hoặc mô phỏng các cảnh trong những vở kịch trên sân khấu Broadway kèm theo những chùm bóng lớn vẽ nhiều nhân vật hoạt hình hoặc diễn viên truyền hình nổi tiếng. Diễu hành nhân dịp Tạ ơn cũng diễn ra ở một số thành phố khác như Plymouth, Los Angeles, Houston, Philadelphia và Detroit…

Một hoạt động chính khác trong dịp lễ Tạ ơn tại Mỹ là đá bóng (American football). Nó được coi là một phần quan trọng trong ngày Lễ Tạ ơn. Theo truyền thống, hai đội chuyên nghiệp sẽ giao đấu vào ngày Tạ ơn, song đến gần đây, các trận bóng được tổ chức vào ngày trong tuần, không phải vào Chúa Nhật. Các đội chuyên nghiệp thường đấu nhau trong ngày này để khán giả có thể xem trên truyền hình. Thêm vào đó, nhiều đội banh trung học hay đại học cũng đấu nhau vào cuối tuần đó, thường với các đối thủ lâu năm.

Riêng tại Canada, lễ Tạ ơn diễn ra trong 3 ngày cuối tuần và không được coi trọng như ở Mỹ. Vào dịp này, các gia đình Canada khó có thể tụ họp với nhau, thay vì thế họ coi ngày Noel là dịp để thành viên trong gia đình đoàn tụ. Thêm vào đó, lễ Tạ ơn tại Canada lại rơi vào ngày thứ 2, tuần lễ thứ 2 trong tháng 10, nên người Canada có thể ăn bữa tối Tạ ơn vào bất kỳ ngày nào trong số 3 ngày cuối tuần trước đó. Điều này có nghĩa, họ sẽ ăn tối cùng một nhóm họ hàng trong 1 ngày và một bữa khác với nhóm khác vào ngày hôm sau.

VietCatholic

Người Nữ Tu Trong Cô Nhi Viện Pleiku

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu. Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng. anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hải hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghi anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ QuanThủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận, Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm. Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thầy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

-Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặt.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng”nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.

Phạm Tín An Ninh

TRẦN DOÃN NHO NGƯỜI DẪN NẮNG ĐI CHƠI



(TRẦN DOÃN NHO)
Photo: Nguyễn Huệ Chi

“Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới.
Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu.”
(Trần Doãn Nho)
Trần Doãn Nho, tôi không biết gì nhiều về anh, ngoại trừ những truyện ngắn trên Văn đọc được trước năm 75. Và chỉ biết mang máng anh đã từng là nhà giáo như chúng tôi.
Nhưng có lẽ, ấn tượng nhất phải kể đến bài viết của anh, có tựa Khuôn mặt chiến tranh trong tác phẩm Y Uyên ký tên Trần Hữu Thục (Văn số đặc biệt Thương nhớ Y Uyên, số 129 ra ngày 1.5.1969). Nói ấn tượng, bởi trước cái chết của một nhà văn trẻ đã để lại niềm thương tiếc cho nhiều người nhất là những người cầm súng viết văn.
Cùng với những “tên tuổi lớn” như Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Châu Hải Kỳ, Trùng Dương…trong số báo này; khi phân tích các tác phẩm của Y Uyên, anh có cách nhìn khác hơn, gần và thật hơn khi phơi bóc bối cảnh và các nhân vật trong truyện (YU) theo độ sáng tối rõ ràng và chân thật như người trong cuộc, so với cách nhìn “phán xét” của các cây bút đàn anh; bởi anh cũng đang nhìn thấy rõ ràng khuôn mặt ấy, tay chân cũng sắp rờ chạm vào cây súng và đôi giày bot.
Chính vì anh đã sống với nên có phần hiểu rất rõ những nhân vật trong các tác phẩm của người vừa ngã xuống khi đặt bút lên trang giấy, như anh đã thú nhận: “…Trước mặt Y Uyên có lửa, sau lưng anh cũng có lửa, chung quanh đầy máu, chúng ta ở giữa ngây ngất, tê dại. Tôi viết để tưởng niệm Y Uyên trong khung cảnh hừng hực đó. Tôi không viết những lời phê bình anh. Tôi chỉ viết lên những xúc động về chính tôi, một người như bao người khác, đang chấp chới giữa thực trạng chiến tranh” (Văn số 129, trg 39).
Trần Doãn Nho cuốn hút tôi từ đó, chỉ vì anh viết phê bình văn học mà như đang làm thơ, mỗi câu chữ đều xoáy động tâm can người đọc (là tôi): một chút thê thiết, một chút hờn tủi về thân phận con người trong cõi nhân gian khi anh khẳng định “Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn” ở đoạn mở đầu bài viết về tác phẩm của một nhà văn cùng thế hệ! Anh không đẩy niềm uất hận đau thương lên cao như Lê Văn Chính, sướt mướt như Mang Viên Long, Trần Huiền Ân hay Cao Thoại Châu… (Văn cùng số); anh cũng không đổ lỗi cho ai và đặt những câu hỏi tại sao; chỉ vừa đủ, chừng mực. Thoạt đọc tưởng anh đứng ngoài những rung cảm đau thương, nhưng kỳ thực len xoáy đến cả những vật vô tri là ngọn cỏ dòng suối. Thời đó, còn là sinh viên bậc cao học, tôi nghĩ anh có cách phê bình lạ, mới mẻ, có vẻ dửng dưng lạnh lùng khi chỉ mới lướt qua, nhưng kỳ thực mang tính “ẩn dụ” rất cao trong cách diễn đạt. Xin dẫn lại phần mở đầu bài viết của anh: “Lúc bây giờ, cái chết nào cũng đột ngột như đốm lửa tàn thuốc chợt tắt ngúm khi vứt vào vũng nước trong bóng đêm. Vừa sáng lóe lên đó và hết. Bốn viên đạn, và Y Uyên đã chết như thế. Chết bên một dòng suối. Y Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn. Những người quen anh buồn. Những người không quen anh cũng buồn…” (Văn, 129, trg 30).
Chỉ chừng đó thôi về một Trần Doãn Nho trong tôi, không có gì để nhớ đến sau những biến cố đau thương, dồn dập đổ ập xuống xứ sở này.
Mãi cho đến khi tạp chí Thư Quán Bản Thảo thực hiện số chủ đề 20 năm Văn Học Miền Nam (số 63), ông chủ bút Trần Hoài Thư giao cho tôi điều hợp Những Ý Kiến Chung Quanh 20 Năm VHMN với sự tham dự của Luân Hoán, Trần Văn Nam (đã bước qua Bờ Bên Kia), Trần Doãn Nho, Trần Hoài Thư, Nguyễn Vy Khanh, Lữ Quỳnh, Phạm Văn Nhàn, Trần Thị Nguyệt Mai… tôi mới có dịp liên lạc với anh và trò chuyện qua email.
Đến lúc này tôi mới “tá hỏa” khi anh tiết lộ rằng “tôi bị động viên khóa 6/70 Thủ Đức”! Đó là khóa dài nhất (hơn 10 tháng) tại quân trường Thủ Đức. Trong khóa có rất nhiều các “cây bút trẻ” thụ huấn: Tôi cùng Cao Huy Khanh, Viêm Tịnh, Nguyễn Chí Kham, Nguyễn Thanh Trịnh (tức Đoàn Thạch Biền), Vũ Đức Sao Biển và nhiều anh em khác… Chúng tôi hay gặp nhau ở bãi tập, khu Dân sinh… Nhưng tuyệt nhiên chẳng ai biết có một Trần Hữu Thục cùng khóa?
Trong thư mới nhất, Trần Doãn Nho cho tôi biết thêm vài chi tiết: “ Tôi vào Sài Gòn ghi danh Cao Học đầu niên học 1968-1969. Viết lăng nhăng ở vài báo hàng ngày (Chính Luận, Điện Tín, Công Luận) kiếm tiền ăn. Đầu năm 1969, được tuyển vào VOF(Voice of Freedom) qua một kỳ thi do Dương Nghiễm Mậu giới thiệu; trong ban biên tập, có Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, chị Tâm (vợ VĐSB)…Cuối năm 1969, được Đại Học Văn Khoa Huế gọi về làm Phụ Khảo Triết một thời gian. Khi hết hạn hoãn dịch, thay vì chọn gia hạn, tôi chọn nhập ngũ để rồi biệt phái. Vì thế mà đi khóa 6/70. Ra trường, vì trục trặc giấy tờ, họ chuyển về Hành Chánh Quân Y một thời gian (3 tháng), sau đó biệt phái về Đại Học Văn Khoa Huế dạy học cho đến tháng 4/75. Tóm lại, đời quân ngũ ngắn.
Tuy nhiên, nhờ qua trường Bộ Binh và trở thành sĩ quan, mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi tự nguyện ở lại Huế, đóng góp một phần với chính quyền Huế trong công tác dân vận và sinh viên trong khi cả thành phố di tản vào Đà Nẵng.(thư ngày 22/9/2018).
Cuộc đời lắm “gian truân” của Trần Doãn Nho lôi kéo theo một Trần Hữu Thục xơ xác sau ngày 30/4 bi thảm, như bao triệu con người khác ở miền Nam. Không còn hơi sức với chữ nghĩa. Cho đến khi anh an cư trên đất khách (năm 1993), không còn bị theo dõi, dòm ngó canh chừng của đám công an mật; có công ăn việc làm, Trần Doãn Nho mới kéo Trần Hữu Thục ra trên các trang mạng, trên báo giấy…
Anh cầm bút trở lại. Viết đều và khỏe. Đủ các thể loại, từ tản văn, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút chí đến biên khảo, phê bình văn học. Và thể loại nào cũng đậm vẻ tài hoa; đặc biệt là phê bình, sắc nét và bén như thanh quất trong tay Bát Lê ở truyện Chém Treo Ngành của Nguyễn Tuân.
Sau khi Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng Giúi rong chơi ở xứ sở Đười Ươi (Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn), ông Đoàn Tử Huyến mới gom nhặt tất cả các bài viết của các ông nhà văn nhà báo phe ta lẫn phe địch, nhét vào tập Bùi Giáng Trong Cõi Người Ta (1) dày gần 700 trang giấy, phần đầu trích thơ Bùi Giáng , phần sau là nhận định, phê bình của 44 vị cầm bút có tên tuổi hẳn hoi; và thảy đều vận dụng tất cả các mỹ từ có và không có trong tiếng Việt, hết lời ca ngợi cõi thơ của riêng Bùi Giáng “làm thơ chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác” thì duy chỉ có Thụy Khuê và Trần Hữu Thục là có đủ tỉnh táo để đánh giá cõi thơ Bùi Giáng một cách đúng đắn của một nhà phê bình văn học.
Trần Hữu Thục vẽ chân dung Bùi Giáng qua các nhân vật Kim Dung: “Bùi Giáng thân xác đã tiêu tán, nhưng Bùi-Giáng-như-một-hiện-sinh vẫn còn đâu đó, nghêu ngao ca hát, làm thơ và sống hồn nhiên trên các đường phố Sài Gòn. Một Sài Gòn có Bùi Giáng và một Bùi Giáng có Sài Gòn… Ngẫm mà xem, ta có thể tìm thấy ở Bùi Giáng khi thì một chút cuồng ngạo nghịch thường hoàngdượcsư, khi thì lém lỉnh hoàngdung, khi thì ngờ nghệch quáchtỉnh, khi thì đầy cả trào lộng lãongoanđồng, khi thì chân chính, hào sảng, trượng phu hồngthấtcông, khi thì quái đản kiểu mấy quái nhân luyện võ trong hang động, khi thì điên tàn, thống hận tạtốn…Ngẫm mà xem, ông sống đó cũng như ông mất đi. Ông như có đó mà như không hề có đó. Kẻ sĩ hay người điên. Nhà thơ hay triết nhân. Ông sống giữa thế kỷ này hay một ngàn, hai ngàn năm trước….” (Bùi Giáng giữa chúng ta – http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=344&rb=0103).
Anh cũng không ngần ngại chỉ ra: “Nói cho rõ ràng ra, thơ của Bùi Giáng dở. Trừ một số câu thơ hay – chưa hẳn là rất hay -, còn lại hầu hết thơ ông đều dở. Tôi có cảm tưởng rất nhiều câu thơ ông làm chẳng khác gì những câu thơ ngây ngô của mình khi mới bắt đầu tập tễnh làm thơ hồi còn học trò. Thậm chí có nhiều câu hệt như các em “ma-ri-sến” làm thơ tặng tình nhân. Vần điệu ráp nối tùy tiện, ý tứ lại tầm thường. Chúng ta thử đọc lại một vài câu:
ngô nghê:
Giật mình lúc chợt nghĩ ra
Rằng toàn thân thuộc đã qua đời rồi.
gượng ép chữ cho có vần:
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên
lập lại (vần):
Non nửa thế kỷ xa quê
Mà chưa có dịp về quê một lần
nói nhăng nói cuội:
Một hôm gầu guốc gầm ghì
hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Nhưng Bùi Giáng có cái dở riêng, phải nói là rất riêng, của Bùi Giáng. Và ông không che dấu cái dở của mình. Không bao giờ. Chẳng những thế, ông lại còn cố ý phô bày nó ra, phô bày một cách chân tình, hồn nhiên, toàn diện” (đường dẫn trên). Điều này Trần Doãn Nho có lý, nếu như chúng ta thử đưa ra so sánh giữa 2 câu thơ của Bùi Giáng và Thu Bồn đều viết về Huế; nhưng rung cảm với Huế, mỗi người mỗi vẻ khác nhau:
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
(Bùi Giáng)
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
(Thu Bồn – Tạm Biệt)

Trên trang Diễn Đàn Thế Kỷ, số 29/9/2018 kỷ niệm 3 năm ngày mất của Võ Phiến, anh có những nhận xét khá chính xác về văn phong của “nhà văn lớn” này, mà trước đây nhiều người đều nói Võ Phiến ngồi “chẻ văn thành sợi tóc làm tư”. Dĩ nhiên, có người không đồng ý về lối nhìn nhận như trên, nhưng đa phần, từ truyện, đến viết ngắn, dài của Võ Phiến cứ nha nhẩn không đầu đuôi, như cuộn rơm ngồi tháo ra từng sợi, thấy đầu này còn hột lúa, chỗ kia cái gié bị dập, chỗ nọ dính chút bùn… Ông dắt người đọc lơn tơn đi trong sáng sớm dày sương, qua giữa trưa bốc khói đến tận chiều tối… có khi chưa thấy đường ngõ!
Và Trần Hữu Thục đã chỉ ra: “Thế giới trong tác phẩm của Võ Phiến là thế giới bề bộn chi tiết: việc có, sự việc có, vật có, sự vật có, rồi những ý nghĩ thoáng qua, những nhớ, những tiếc, những trạng thái tâm lý tủn mủn tỉ mỉ, chợt buồn chợt vui, chợt băn khoăn, chợt xao xuyến. Đọc văn ông, chúng ta sốt ruột đợi một chuyện gì đó đáng đồng tiền bát gạo xảy ra: một cuộc tình, một tấn thảm kịch hay ít nhất cũng là một biến cố có ý nghĩa nào đó. Nhưng không. Ông nhẩn nha, nhẩn nha kể chuyện “trong nhà ngoài phố” y như thế giới này cứ thế, chẳng có gì quan trọng lắm, ghê gớm lắm. Võ Phiến bắt ta nhìn vào vật này, rồi nghe thứ âm thanh gì ở một xó xỉnh nọ. Ông bắt ta rờ cái này, thoắt cái, nhớ đến chuyện khác. Chuyện con kiến, tiếng thở, cái hắt hơi, tờ báo nằm trên đỉnh mùng, bàn tay đè trên sống mũi, mấy cái hủ mắm, vân vân…” (https://www.diendantheky.net/2018/09/tran-huu-thuc-vo-phien-tam-va-canh.html).
Rồi thì, để chứng minh có cái gọi là “bề bộn, nhẩn nha”, chuyện nọ xọ chuyện kia là có thật, anh bắt đầu dẫn một số đoạn trong các văn bản của Võ Phiến để chứng minh. Đó là cách làm việc cẩn thận của anh, chứ thật ra, những ai đã từng đọc Võ Phiến đều dễ dàng nhận ra sự “con cà, con kê” của ông, vì ông cũng tự nhận “tiếc là không chẻ được làm tám”. Mới chỉ làm tư thôi mà đã làm mệt nhoài ngòi bút phê bình của Trần Hữu Thục rồi, huống chi là tám hay mười?
Đọc những bài phê bình của anh, tôi mường tượng anh cần mẫn, làm việc rất khoa học: đọc, ghi chép, đánh số vào thẻ, xếp loại… cẩn trọng, để khi cần, chỉ thò tay vào ngăn là có ngay.

Tôi cũng có dịp đọc loạt bài phỏng vấn Phạm Phú Minh và Trần Hoài Thư về văn học miền Nam và hải ngoại. Các câu hỏi anh đặt ra cho hai nhà văn trên, tôi cứ tưởng tượng như tôi đang được cùng ông nội dẫn đi gát cu hồi nhỏ. Con cu mồi là anh, đứng trên cầu nó cứ túc, gáy lúc khoan lúc nhặt; khi thách đố khi như khuất phục, làm như vấn đề đó anh hoàn toàn mù tịt, hỏi lại cho rõ nhưng kỳ thực anh muốn biết rõ hơn về thái độ của hai ông nhà văn kia trước những vấn đề có liên quan, buộc họ phải nói ra trên giấy trắng mực đen. Tôi gọi cách phỏng vấn của anh thuộc loại “tra khảo văn học”, hỏi cho đến nơi đến chốn, cho ra chuyện mới thôi!

Rồi, trong những thư từ qua lại, Trần Doãn Nho cho hay, trong những năm ngăn sông cấm chợ bo bo sắn mì… anh buộc phải đi buôn chuyến từ Huế vào Sài Gòn để nuôi vợ con (Nói tới buôn chuyến trên tàu hỏa thời bao cấp khiến tôi rùng mình: mua được tấm vé, mồ hôi như tắm, áo quần tả tơi, và thê thảm hơn là cảnh chen chúc trên tàu, chỉ có chỗ để đứng một chân, chân kia co lại như con cò già giữa muôn vàn mùi xú uế; lúc xuống được ga mình biến thành kẻ khác, như tên tù biệt giam, rách bơm, hôi hám). Anh nói, lượt ra, tàu ngừng rất lâu ở ga Tuy Hòa, anh thường xuống tàu giãn chân tay, ăn cơm dĩa ở ga này, cơm trắng thơm ngon, thịt gà vàng ruộm và nói “đâu có biết anh cũng ở Tuy Hòa!”.
Điều anh nói khiến tôi nhớ, lại có một sự trùng hợp: Một người có thật là anh, nhà văn Trần Hữu Thục nhiều lần ăn cơm ở ga xép Tuy Hòa trong thời kỳ gạo châu củi quế, và nhân vật nữ xưng tôi trong truyện ngắn Thư Từ Tuy Hòa của Cảnh Cửu giữa thời chiến tranh (1964), cũng có đoạn: “Anh có nói hồi đi ngang đó (ga Tuy Hòa – ghi chú của người viết) thấy người ta bán cục cơm vắt và cái đùi gà to tướng mười đồng. Sự thật cũng có như vậy anh à. Nếu anh muốn tôi ra ga mua gửi cho anh. Cục cơm đó không biết có ích dụng chi cho anh không, chứ ít ra nó cũng tố giác với anh vài điều về quê hương tôi… Sự nghèo khó đến gõ cửa thường xuyên, cơm thì gạo ít mà ngô khoai nhiều. Đậu mè, đậu phụng trộn với muối ran là món ăn đắt giá… Chắc khi đọc thư này anh có ăn cục cơm và miếng thịt gà tôi gửi theo thì dù cho cơm đã thiu thiu, thịt gà đã dai nhách cắn không bể nhưng chắc cũng đỡ hơn cái sống ở đây nhiều. Nó là cái tinh hoa của xứ sở tôi đãi du khách đấy” (Văn số 45).
Có lẽ, chính những năm tháng khốn khó, phải bấm bụng nhét bút giấy vào một xó để “chạy chợ” nuôi vợ con nên anh có thừa chất liệu để viết Dặm Trường (2). Chỉ mới chương đầu, đọc cảnh nhân vật Hạnh phải chịu để cho thằng tài xế đè ngửa trên cabin cũng đủ nhìn thấy cảnh đời ngang trái và tàn nhẫn, về thái độ của nhà văn trước thực tế xã hội đương thời mà nước mắt đắng cay nhiều như sông suối: “Trong bóng tối nhờ nhờ của buồng lái, nàng thấy bàn tay anh tài xế đặt lên bụng nàng. Bàn tay kia luồn vào ngực. Nàng lấy tay đè lên tay anh ta, giữ lại. Nhưng anh ta dùng một tay giữ chặt tay nàng, còn tay kia tiếp tục sờ soạn. Tay chân anh tài xế bây giờ như những gọng kềm siết lấy nàng. Hàng nút áo bung ra. Sức nàng yếu dần, ý chí chống cự tan biến. Nàng lơi tay, người mềm đi, phó mặc… Nàng đột ngột cắn vào vai anh tài xế. Nụ cắn sâu, sâu thẳm… Trong ái ân, Lục điệu nghệ, nhẹ nhàng, tỉ mỉ. Như một bài học thuộc lòng, bao giờ anh cũng đi từng bước một, cẩn thận, cố gắng không bỏ sót một chi tiết nào. Dù có nhậu nhẹt, quá chén hoặc có xa vắng nhau lâu ngày, anh vẫn thế, từ đầu chí cuối. Người đàn ông này khác hẳn. Hắn hấp tấp, cuồng bạo. Nàng khẽ thở dài, than thầm, mình hư quá, hư thật rồi. Trong thoáng chốc, mọi chuyện lật qua một trang khác…”. (Dặm Trường, trg 22).
Đọc lướt Dặm Trường của Trần Doãn Nho, tôi mãi ám ảnh về đoạn này. Anh không nói về sex, về dục tính như Nguyễn Mạnh Côn đã viết trong Tình Cao Thượng: “Vì, như em đã nói với anh, Tư Giỏn làm cho em hoàn toàn thỏa mãn. Cũng in hệt như đối với anh, lúc rung động của y lên đến tột độ thì rung động của em cũng lên đến tột độ… trong mọi cuộc giao hoan, chính người đàn ông mới là phương tiện!” (Tình Cao Thượng, trg 88 và 104) mà mặt nào đó, anh muốn dựng lại thực trạng xã hội thời đốn mạt và bi thương nhất của con người (VN). Những người dân vốn lương thiện đã bị “lịch sử” biến thành những tên lưu manh về phẩm giá, đạo đức, cách sống…mọi mặt. Không viết trực tiếp, nhưng qua các nhân vật, những cảnh đời một thời đã bị phủ bóng đen u ám, anh đã vẽ nên một phần “đổ vỡ” dưới chế độ hoang dã và hoang tưởng. Và, chữ nghĩa buộc phải “mửa” lên mặt chúng, là theo cách tôi nghĩ, cảm!

Sau khi phát hành Thư Quán Bản Thảo số 63, Trần Doãn Nho có thư hỏi tôi có còn Văn số 129, nếu còn giữ được sao cho anh 1 tập. Tôi hứa sẽ cố gắng, vì trong tủ sách không còn số này. Tôi chạy xuống thị xã, hỏi vài người bạn, ai cũng lắc đầu. Nhưng rồi cuối cùng cũng tìm ra được nơi người bạn vong niên. Tôi vội vã mang đi photo rồi tìm cách gửi qua cho anh. Khi nhận được anh viết thư cảm ơn rối rít, vì theo anh, bài viết về Y Uyên là bài đầu tiên anh viết về phê bình văn học, nó là kỷ niệm khó quên, bởi sau khi đăng bài viết này, ông Thư ký tòa soạn Văn Trần Phong Giao có nhã ý mời anh cộng tác thường xuyên về phê bình, biên khảo… cho Văn và Tân Văn. Cách đây mấy tháng, tình cờ tôi đọc ở đâu đó trên một trang mạng, có đoạn anh viết về tờ Văn photo này, đại ý nhờ NgLu photo gửi qua, nó còn đẹp hơn bản gốc.
Nửa năm 2015, Trần Doãn Nho về thăm quê nhà, từ Huế, anh gửi nhờ Viêm Tịnh tặng tôi quyển biên khảo Ẩn Dụ, Cuộc Phiêu Lưu Của Chữ do Người Việt ấn hành. Thú thật, tôi phải mất đến 5 ngày vừa căng mắt vừa căng đầu mà đọc nhưng không “thấm” nổi. Sau Văn Việt post lại từng kỳ, tôi nhẩn nha đọc mới rõ được đôi phần, mở ra lắm điều thú vị mà bấy lâu cứ ù lì trong đống sách giáo khoa của các thầy bên Văn Khoa thời xa xưa.
Tôi và Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục chỉ chừng ấy, không hơn.

Những năm gần đây, sức khỏe giảm. Hai ông bạn đốc tờ khuyên phải thuốc thang đều đặn, nghỉ ngơi, chớ suy nghĩ, chớ viết, đọc vừa vừa… tóm lại là phải tĩnh dưỡng, phải an nhiên, tự tại, tốt nữa là thiền định, quán niệm hơi thở… phải và phải… đủ thứ. Nghe thì nghe vậy, nhưng không bỏ được, vẫn cứ dòm ngó với chữ nghĩa, vẫn cứ mở máy và đọc. Và, tôi đọc văn chương của bạn quen, bạn dưng theo cách đó.
Với Trần Doãn Nho, Trần Hữu Thục cũng “nhẹ” như vậy. Mà kiểu đọc này, lại có nhiều cái hay khi ta từ từ không vội, để có thể nhận ra lắm điều bất ngờ. Ví như trong tùy bút Nắng trên trang mạng Da Màu. Chỉ có nắng thôi, một hiện tượng tự nhiên của thời tiết; vậy mà anh khéo léo và duyên dáng dẫn cái nắng ấy rong chơi khắp chốn: từ chỗ nhà quê qua thị thành phồn hoa, ngoài ngõ nhà anh phú nông đến sân nương nương quý tộc, từ âm nhạc qua thơ, qua cầu, qua sông suối, ruộng đồng, sa mạc… dẫn từ các ông nhà thơ, nhạc sĩ tên tuổi để tổng kết lại thành một thứ Nắng đa màu sắc, hương vị, biết đi đứng, biết hỉ nộ ái ố, có hình dạng mập ốm nghiêng thẳng điệu đà, là người yêu, kẻ thù, biết đi biết nằm, biết hờn dỗi …nghĩa là trên cõi đời này có bao nhiêu nguồn cơn cớ sự thì Nắng của anh đều có mặt, khi dịu dàng lúc hung tợn. Thích chí và đồng cảm, tôi gọi bà vợ nằm toòng teeng trên chiếc võng gai đang đọc Già Sao Cho Sướng của ông đốc tờ Đỗ Hồng Ngọc. Dừng lại, nghe cái này. Tôi đọc hết tùy bút Nắng, cả hai vợ chồng già đều bật cười như được gãi ngứa: “Vẫn còn đủ thời gian để nhà văn nhà thơ sáng tạo ra thêm hàng triệu thứ nắng khác nhau nữa để làm vui cuộc đời. Này nhé: nắng trào, nắng tưới, nắng xanh, bẻ nắng, chôm nắng, bửa nắng, bắt nắng, trồng nắng, gặt nắng, hái nắng, gọt nắng và thậm chí…liếm nắng. Đã có sân nắng, vườn nắng, rừng nắng thì chắc cũng phải có: ao nắng, hồ nắng, phố nắng và vũng nắng, hố nắng. Đã có “nắng xiên vào nỗi nhớ” thì cũng sẽ có: nắng đâm, nắng chọc, nắng cắt hay nắng cứa….vào nỗi buồn. Đã có hạt nắng, vệt nắng sao lại không: viên nắng, hòn nắng, miếng nắng và …cục nắng” (https://damau.org/archives/44610).
Với truyện ngắn, tính ẩn dụ cao hơn; thường gây cho người đọc những ảo giác trên bề mặt văn bản, nghĩa là điều anh muốn nói đến không phải là những hàng chữ sắp hàng ngay ngắn trên trang giấy như hàng quân mà, phải tự lật ra phía sau, nó ẩn sâu bên dưới mới tìm ra “nhân dạng”.
Hầu hết những truyện tôi đọc được của anh luôn là những bất toàn, xung đột, mâu thuẫn, mất mát… xoáy sâu vào những “niềm đau nhức” về thân phận, quê hương phải đành đoạn bỏ lại phía sau cùng những giọt nước mắt chảy thầm (truyện nào cũng thấp thoáng, dẫu không có hình hài rõ ràng).
Một Chút Việt Nam như một điển hình cho cách phơi bày tâm trạng u uẩn của những con người “bị biệt xứ”. Từ đầu tới gần cuối truyện là cuộc gặp gỡ, trò chuyện qua lại giữa chàng thanh niên tên Hưng và cô gái tên Miên Tâm trên đất khách. Cô vượt biên theo dạng gửi kèm khi mới lên tám. Sống trên đất Mỹ cho tới lúc có chồng, cô không có một khái niệm nào rõ rệt về quê nhà. Cô bị những người thân, những bạn học đối xử khá tệ. Miên Tâm cô đơn và lạc lõng giữa những người không cùng màu da, ngôn ngữ, văn hóa…để cuối cùng anh chàng người Honduras trở thành bạn rồi thành chồng cô. Cuộc hôn nhân với Garcia chỉ là cách trả ơn, cô giải thích: “Em biết anh giận. Nhưng em nói thật, anh có quyền tin hay không tin. Em muốn yêu một người Việt Nam, nhưng em lại chẳng quen một người Việt Nam nào cả… Em đã trải qua tuổi thơ, mà người ta cho là đẹp nhất đời, không cha, không mẹ, không bà con, không bạn trai, không bạn gái. Em không biết yêu. Có ai đâu để em yêu!”.
Gặp Hưng, cô như người chấp chới dưới làn nước lạnh ngắt, với được khúc gỗ mục. Cô thoát hiện thoắt biến trước Hưng như một cái cớ để có thể ngửi được chút mùi, mùi Việt Nam!
Đỉnh điểm của “chút mùi” ấy là cái đêm trước khi vợ chồng cô chuyển đi nơi khác. Cô đến phòng Hưng với những tâm trạng rối bời, những khao khát cháy bỏng “muốn yêu một người Việt Nam nhưng không quen ai là người Việt Nam cả”. Đích thị là cô chơi vơi với tuổi thơ đã mất như cô đã mất quê hương, gia đình, người thân yêu từ tuổi ấu thơ. Và Hưng là hiện thân của sự mất mát-đang-được-nhìn-thấy. Hành động của cô là muốn kiếm tìm cái đã mất, một chút, một chút thôi : “Anh chưa kịp phản ứng gì thì nàng đã vật anh xuống giường, hôn tới tấp. Nàng cắn. Nàng liếm. Nàng rờ rẫm. Hơi thở nàng nóng hổi. Anh nghe mùi tóc, mùi nước hoa, mùi da thịt nàng tràn trề trên người. Những nụ hôn và những ngón tay. Nàng thành thạo. Dữ dội. Cuồng nhiệt. Đắm đuối. Anh đờ đẫn, run rẩy, bàng hoàng, không biết phải làm gì. Tóc nàng rối tung. Cái áo ngủ gần như tuột hẳn xuống…Hưng, em muốn một kỷ niệm Việt Nam. Đừng trách em, tội nghiệp. Em muốn … em muốn … một chút mùi … mùi Việt Nam. Em muốn … enjoy a little taste of Vietnamese … Một chút hương … Việt Nam, một chút … một chút …Anh chồm lên người nàng. Như một con thú hoang. Không còn là một Hưng e dè, thận trọng nữa. Không còn Miên Tâm. Không còn Garcia. Không còn trời. Không còn đất. Hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng. Một lần. Chỉ một lần thôi. Căn phòng rung rinh. Chao đảo. Từng hồi.
Và rồi tất cả lắng xuống. Hai người nằm lặng lẽ nghe hơi thở của nhau”. (http://www.hocxa.com/Truyen/MotChutVietNam_TranDoanNho.html).
Truyện khép lại ở đây. Có thể người đọc sẽ lầm tưởng dục tính là có thật ở truyện này, vì trước đó ít phút, Miên Tâm đã tâm sự với Hưng: “cái kiểu make love của Garcia … ghê quá!… Ghê quá là dữ dội … là … Garcia đêm nào, ngày nào cũng bắt em xem phim sex, rồi thì là … dày vò em, bắt em chiều … đủ kiểu. Em sợ …”. Nhưng tôi nghĩ rằng, Trần Doãn Nho không hề viết về dục tính. Giây phút “hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng” chỉ là cái cớ. Bởi truyện này anh viết năm 1995, chỉ hơn hai năm, sau khi anh phải rời bỏ Việt Nam, mang theo quê nhà trong nỗi nhớ ngắt ngoải. Vậy thì anh nhắm tới điều gì? Phải chăng những hoan lạc và rung động mà họ tìm thấy của nhau, chính xác là với Miên Tâm nhiều hơn, là những cảm xúc thông qua thân xác để chụp nắm về một quê hương đã mất? Cô đã nắm giữ được hình ảnh quê hương trong thoáng chốc với người bạn trai trên giường…Quanh không gian hẹp đó là cánh cửa mở rộng để có thể nhìn thấy những gốc rạ vừa gặt, là mùi khói đốt đồng, mùi cá lóc nướng trui, là hương vị ngọt chát của trái bần quẹt mắm tép rong, cá tràu kho nằm cong trong om đất…? “Nghe hơi thở của nhau” có lẽ là nghe lại hương vị quê hương đã mất sau cuộc “bỏ phiếu bằng chân” của hơn 2 triệu dân miền Nam!
Trong Vết Xước Đầu Đời trên Da Màu và Diễn Đàn Thế Kỷ số tháng 7/2017 được Văn Việt đăng lại trong chuyên mục Văn Hải Ngoại sau 1975 (kỳ 68), với nội dung khá đơn giản: Tâm bị tù cải tạo được thả về, đến ở nhà mẹ con Ánh trên dưới 1 tháng, bởi trước khi là “lính ngụy” hai người đã yêu nhau, nhưng không lấy được nhau. Ánh lấy chồng để trả thù Tâm, chồng chết do tai nạn máy bay. Bữa nọ hai chú cháu đi chơi, về trễ (tối), Ánh “tra hỏi” với con gái và với Tâm, người yêu cũ. Cú “tra gạn” kia hình như làm tổn thương khá nhiều đến người gạn hỏi là Ánh.
Motif truyện không mới, chủ đề không lạ. Trước năm 1975, chuyện chú cháu, rung động đầu đời yêu thương, nhớ nhung sương khói… đã được các nhà văn khai thác đến tối đa, nơi đón nhận và tập trung là tuần báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh. Và tiêu biểu cho loại truyện này là Hoàng Ngọc Tuấn với Ở Một Nơi Ai Cũng Quen Nhau, Cô Bé Treo Mùng, Buổi Chiều Hạ Lan, Hình Như Là Tình Yêu… trở thành loại sách luôn nằm trong cặp sách vở của các cô cậu lứa tuổi “Ô Mai”.
Nếu như Vết Xước Đầu Đời bị “rơi” vào tay các nhà văn theo trường phái lãng mạn hay feuilleton trước 75, chắc chắn sẽ mùi mẫn như Bên Dòng Sông Trẹm của Dương Hà, Chú Tư Cầu của Lê Xuyên hay hàng loạt tiểu thuyết của bà Tùng Long…Nhưng với Trần Doãn Nho thì khác hẳn, bởi tầm vóc của truyện “to lớn” hơn theo cấu trúc ngôn ngữ bình dị với những ẩn dụ vừa đủ để người đọc không dụng công suy nghĩ, mò đoán nhiều; cũng không đưa đẩy đến sướt mướt, éo le… nhưng có cái gì đó nhột nhạt, ngưa ngứa tận chân tóc như khi ta nhai phải trái ớt hiểm cay xè; không chảy nước mắt, nhưng mọi chân tóc đều tưng tưng dựng lên!
Ngay ở đoạn hai chú cháu quay về, nhà văn đã khéo léo phối một gam màu hoàn hảo lúc hoàng hôn, tạo thành vẻ hư hư thực thực trong thứ ánh sáng nhập nhoạng, để độc giả có thể hiểu được cái “nhập nhoạng” ấy ở cô bé và mẹ cô. Trước hết là vật thể có thật: bóng tối vừa đủ, ánh sáng vừa đủ để có thể nhìn ra “dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước” của chú Tâm và cảm giác “cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú” của Lan. Bức tranh này là của cô bé vẽ nên bằng những cảm nhận từ đáy lòng qua bàn tay nhào nặn của nhà văn. Toàn cảnh trong bức tranh là sự so sánh có cảm giác của Lan tưởng có thể cầm nắm được trong tay: “Nắng tắt. Cả vùng ngoại ô lặng xuống. Cây cối như kết vào nhau thành từng chòm, rải rác. Hai người im lặng bước đi. Lan cố đi chậm lại đàng sau. Tự nhiên, cô cảm thấy bối rối. Chú Tâm bước, dáng cao lớn, chênh vênh như muốn ngã về phía trước. Lan có cảm giác như cả một khoảng trời chao đảo theo bước chân chú. Chú, đàn ông trông vững, lớn và đáng tin cậy. Khác với mẹ. Mẹ bao dung, chu đáo, nhưng có cái gì không ổn. Bao giờ mẹ cũng thu vén, tém tủm, tránh trút. Mẹ ngăn, mẹ chặn. Trước và sau. Mẹ sợ mọi thứ. Mẹ đúng, dĩ nhiên. Nhưng Lan buồn”.
http://vanviet.info/van/van-hai-ngoai-sau-1975-ky-65-tran-don-nho-vet-xuoc-dau-doi/
Sự “giam cầm” tình cảm của mẹ lúc dạy dỗ con gái về người đàn ông, tất cả những người đàn ông khiến cô cảm thấy chơi vơi lúc bên chú Tâm: “Lan cắn môi. Cô muốn khóc. Trời sẫm. Đường vắng. Cô bỗng muốn ngã vào lòng chú Tâm. Nhưng cô giật mình, nhẹ gỡ bàn tay thô nhám của chú Tâm vừa đặt lên bàn tay nhỏ nhắn của cô. Mùi áo quần từ nơi chú Tâm tỏa ra khiến cô ngây ngấy. Cái mùi lạ hoắc! Thơm không thơm, hôi không hôi, lại nồng nồng. Cô bồn chồn, lạc dạ, quay mặt đi chỗ khác”.
Suốt dọc câu chuyện, cứ nghĩ nhà văn tạo ra cô bé và Tâm là hai nhân vật chính. Nhưng thật ra, nhân vật dẫn đến mọi cớ sự lại là Ánh, mẹ cô bé. Đó mới là nhân vật trung tâm, xuất hiện gần cuối để đưa câu chuyện thành cao trào, có kịch tính: “Đời mẹ đã khổ vì đàn ông, con biết không. Đàn ông không có gì đáng tin hết. Họ luôn luôn phỉnh phờ, luờng gạt. Họ không hề biết yêu như đàn bà. Có họ mình cũng khổ, mất họ mình cũng khổ. Mẹ không muốn con gần đàn ông vì không muốn con khổ, con hiểu chưa?”
Tất nhiên cô bé đã hiểu qua lời mẹ: “Một chút gì tái tê, một chút gì đăng đắng, nghèn nghẹn của mùi vị cuộc đời lan vào trong cô. Chỉ là một vết xước. Vết xước đầu đời, nhẹ nhưng buốt. Cô chợt nhận ra một mẹ khác, một mẹ lạ hẳn, một mẹ cô chưa hề biết, chưa hề thấy. Và cô, cô cũng khác. Cô trở thành một người khác”.
Thành một người khác bổng trở nên đậm hơn lúc nhìn thấy cái áo của chú Tâm bỏ quên, “Lan chợt nhớ đến mùi đàn ông phảng phất đâu đây”.
Tâm chỉ là cái cớ cho Ánh nhớ lại 20 năm về trước và cũng là cái cớ cho cô bé Lan ngập ngừng với cái mùi đàn ông phảng phất đâu đây. Người đàn ông xuất hiện đúng lúc và ra đi đúng lúc để lại cho hai mẹ con, mỗi người một tâm trạng khác nhau.
Gấp lại truyện, tôi có thêm cảm giác nhồn nhột, cồn cào gai gai trong đầu giống như cảm giác cánh tay vung ra, đụng phải dề gai bàn chải non!
Nhưng đến Bữa Ăn (http://vanviet.info/van/bua-an/) thì không còn cảm giác bàn tay chạm phải “dề gai bàn chải non” như các truyện khác mà, tựa như có hàng trăm ngàn mũi kim nhọn xoáy vào tận tim gan. Hơn 10 trang viết hiển hiện tràn đầy nỗi thống khổ, đau đớn, quặn thắt… đến tận cùng của một kiếp người trong một xã hội đốn mạt nhất. Sự đốn mạt ở Làm Đĩ, Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng thời Pháp thuộc, không thấm vào đâu so với thời mạt pháp trong xã hội cùn mạt ở truyện này. Cảnh người cha (từng là ông giáo làng, dẫu là ông giáo Ấp Tân Sinh thời Việt Nam Cộng Hòa) phải ngồi nhìn những đứa con bán trôn nuôi sống cả gia đình với nỗi-hân-hoan-đau xé, với những tê-điếng-cam-chịu diễn ra hàng ngày trước mắt ông và vợ như những ngọn roi vô hình đập nát những ai còn lại chút lương tri: “Ông nhắp một hơi rượu, rùng mình. Ông nhìn quanh. Ôi, những rượu, những trà, những đồ ăn, thức uống, những cột kèo, cửa sổ, cửa lớn, bàn ghế, áo quần, và chính cả thân xác ông, tâm hồn ông bây giờ đều xuất phát từ thân xác mấy đứa con gái. Ông cảm thấy lợm giọng, buồn mửa. Hai mắt mờ đi. Trong thoáng chốc, ông bỗng nhìn thấy đồ đạc trong nhà, hết thảy đều uốn éo, quằn quại, lăn lộn. Bộ xa lông biến thành con Loan, cái tủ lạnh biến thành con Dục, tủ áo quần biến thành con Lài. Chúng trần truồng, hoang hóa, chịu đựng và thảm thương vô cùng tận. Chúng giương mắt nhìn ông ngơ ngác, bất lực”.
Cả truyện, từ đầu đến cuối, Trần Doãn Nho không hề có một từ nào đổ lỗi, anh chỉ dựng lên một sân khấu nhỏ (nhưng lại là biểu tượng vô cùng to lớn cho xã hội hiện tại) là vợ chồng cha con ông Tám. Cả 6 người đều nhập vai và vai nào cũng tròn trịa làm “rúng liệt” mọi chân tơ kẽ tóc người đọc! Truyện không kể lể, chỉ thủng thẳng mô tả những sự việc và sự vật từ từ diễn ra trước mắt có lớp lang, thỉnh thoảng chen ngang những suy nghĩ, dằn vặt nội tâm nhân vật. Chừng đó thôi, nhưng từng con chữ làm nhói đau tận xương tủy người đọc. Gia đình gồm 6 con người khốn khổ và khốn nạn đó là bộ mặt xã hội hiện tại được Trần Doãn Nho thu nhỏ lại. Tất cả họ đều phải chịu đựng và chấp nhận, xem như là chuyện bình thường hàng ngày, không có gì ghê gớm khiến phải “nôn mửa”.
Anh phác họa các nhân vật của mình qua vài nét ký họa nghuệch ngoạc và những nhân vật đó y như mẫu đất sét bọn trẻ con nặn con trâu, con vịt, chiếc xe… là những chiếc mặt nạ biết đi đứng, nói năng:
Thằng Vụ: “… tảng sáng là thức dậy đi. Với đôi dép nhựa cáu bẩn, đứt quai, bộ đồ lính bạc màu, chiếc mũ lưỡi trai, hắn lang thang đâu đó suốt ngày trong mấy cái chợ, khu bến xe, trên đường phố, khi thì giả què, khi thì giả bệnh để xin xỏ, và tìm mọi sơ hở của người ta để chụp giựt, chôm chỉa”.
Còn ba cô con gái: “suốt ngày chỉ lo chuyện phấn son, lụa là. Các cô tỉa lông mày, nhổ lông nách, hoặc chăm chút hết bộ áo quần này này sang bộ khác. Khi áo dài, khi áo đầm, khi đồ bộ. Ðủ dạng, đủ loại. Khách vào, khách ra. Những õng ẹo, gạ gẫm, trả giá, vỗ mông, sờ ngực, cười cợt”.
Ông Tám, người chủ gia đình như một khán giả (bà vợ chỉ là cái bóng, thui thủi, cam phận “ẩn nhẫn, nhịn nhục”), hàng ngày phải nhìn các hoạt cảnh trên bằng những tâm trạng khác nhau: “Người cựu giáo viên ấp tân sinh cứ thế, nhìn mọi sự diễn ra trong nhà mình hàng ngày như xem những màn biểu diễn trên sân khấu”. Đôi lúc ông lại cay đắng, chua chát: “Biết thế này, đẻ thêm chục đứa nữa để đáp ứng nhu cầu… Những cắng đắng, đau khổ lúc đầu, chịu riết rồi cũng nguôi ngoai. Dẫu vậy, không có khách thì thôi, hễ có khách mang đi một cô, lòng ông lại nhói lên một chút. Ông cảm thấy đau tê tê ở một nơi nào đó trong người, khi ở bụng, khi ở ngực, khi ở trong đầu”.
Để cho màn kịch có thêm mùi vị đắng cay, Trần Doãn Nho thêm vào hai vai phụ, không lờ mờ mà sáng lóa thời đại ma quỷ, ngay ở tầng-sâu-địa-ngục-dương-gian: Một anh công an khu vực đến “thu hụi chết” và một ông cán bộ tập kết đương chức trưởng phòng thương nghiệp huyện tuổi bằng cha ba cô gái. Một người thì hàng tháng thu giá bán thân của ba cô, người kia thì gạ tình.
Bữa Ăn chính là những tan nát của bộ mặt xã hội hôm nay. Bộ mặt ấy không như chapeau của Văn Việt: “ Khi người chủ gia đình/người cha, đã không thể bảo vệ và che chở con cái, phải để chúng lao ra đường kiếm tiền theo cách đó mà không còn thấy đau khổ, nó bộc lộ một sự thật: khi gia đình rã tan, xã hội cũng sẽ rã tan…”, bởi gia đình rã tan chỉ là hiện tượng phơi trần bản chất xã hội đã mục ruỗng, rã tan!

*
Trong bài Tạp Ghi Tháng Tư: Vết Thương, Trần Doãn Nho viết: “Trong đời tôi, tính ra, tôi trải qua …bốn lần chạy. Mỗi lần chạy là một kinh nghiệm rất riêng”. Rồi anh kể lại kinh nghiệm bốn lần chạy đó, lần lượt từ thời bé con khi Việt Minh nổi lên tổng khởi nghĩa năm 45-46, chạy Mậu Thân, chạy Mùa Hè Đỏ Lửa và chạy dài… theo chiều dài trên phần đất bên này vĩ tuyến 17, lần cuối cùng, 30/4. Bốn lần chạy là chạy trốn cộng sản, những con quái vật hình người!
Cảnh chạy lần đầu khi còn là bé con: “Thay vì chạy và đi, thì tôi được gánh. Tôi một đầu, ngồi trong thúng. Đầu kia là một ít gạo và đồ đạc. Cứ thế, mẹ, chị và anh tôi thay nhau gánh, theo đoàn người, tản cư về một nơi vô định”.
Cảnh chạy tết Mậu Thân: “Cả gia đình tôi dắt díu nhau, không chỉ chạy, mà là chui, rúc, lăn, trốn từ vùng bộ đội Cộng Sản chiếm đóng về vùng quốc gia. Đoạn đường không dài, chỉ 5,7 cây số nhưng là một biên giới sinh tử”.
Rồi đến Mùa hè đỏ lửa: “Kinh nghiệm Mậu Thân đã mang cả Huế ra đi. Ngay lập tức. Không chần chừ. Không đắn đo. Không tiếc nuối. Khi nghe tin bộ đội Cộng Sản vượt sông Bến Hải, là Huế đã bắt đầu chạy. Hối hả chạy, bằng mọi cách, mọi giá. Mang được gì thì mang, không mang được thì bỏ lại”.
Và 3 năm sau, khi miền Nam bị xoá sổ: “Chạy. Hễ còn chạy được là chạy. Đi bộ, đi xe, đi thuyền, đi tàu, đi máy bay, đi, đi, đi, đi đâu, miễn là thoát khỏi Cộng Sản. Chạy: biết bao thảm cảnh, nhất là thảm cảnh thuyền nhân rúng động thế giới. Chạy: một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu”.
Lần chạy nào cũng có nước mắt thậm chí cả máu… của những người dân vô tội. Anh lơn tơn kể, độc giả vừa đọc vừa ngẫm lại bản thân và cả thế hệ của mình phải gánh chịu quá nhiều đau thương tang tóc qua những biến cố trên. Ở lần chạy “bỏ phiếu bằng chân” cuối cùng: “Lần này, ra đi, trong thâm tâm, ai cũng đau đớn nghĩ rằng: Huế sẽ mất vào tay Cộng Sản. Thành thử, chạy là chạy…luôn, không bao giờ trở lại. Là bỏ Huế. Bỏ Huế! Chao ôi, hai chữ “bỏ Huế” nghe như nhát dao đâm ngay giữa trái tim. Nhưng làm sao được. Đành thôi, Huế ơi”. (https://damau.org/archives/49337)
Anh ghi lại từng chi tiết nhỏ của những lần “chạy” nó trung thực đến độ tàn khốc, đến nỗi người đọc cảm thấy tim như bị bóp nghẹt, băm nát: “Chao ôi, những người lính! Trong lúc cả nước miền Nam chạy thục mạng, chạy hớt hãi, chạy trối chết…thì nơi đây, vào những giây phút cuối cùng của cuộc chiến, những người lính nhảy dù này vẫn cứ làm nhiệm vụ, sẵn sàng chiến đấu, như …bình thường. Cũng như tôi, nhất định họ biết rằng Sài Gòn sắp mất. Nhưng họ vẫn ở đó, cầm súng canh gác. Tôi bước tới, muốn làm một cử chỉ biết ơn, nhưng anh bạn tôi cản lại. Tôi vẫy tay. Một người lính vẫy tay lại. Trong nhá nhem tối, nhìn nhau ngậm ngùi. Đọc lịch sử, những tưởng chuyện phế hưng chỉ là của ai đó, thế mà bây giờ, mình ở trong cuộc!”.
Những ngày cuối cùng này, anh đang ở trong cuộc… Tất cả mọi người dân miền Nam đều ở trong cuộc. Và thảy đều đều nát tan sau cái ngày khốn nạn nhất của lịch sử! Dân tộc Việt Nam tiếp tục chạy kể từ buổi bình minh lịch sử; chạy từ bờ nam sông Dương Tử dạt mãi xuống phương Nam… mà chưa hết! Sẽ còn những “Thủy Mộ Quan” cho dân tộc này sao? Đọc đoạn cuối anh viết về cái vẫy tay của mình với người lính nhảy dù đang trong tư thế chiến đấu ở giờ phút cuối cùng trên đường phố Sài Gòn, tôi bật khóc thầm, bởi những ngày cuối cùng đó tôi cũng dáo dát trên các ngả đường Sài Gòn hy vọng tìm thấy cha mẹ và hai đứa em bắt đầu lưu tán từ Tuy Hòa trước đó! Còn gì bi thảm hơn không? Và có lúc nào đó, những người dân chạy giặc kia tự hỏi: Tại sao khi chỉ mới nhắc đến hai chữ cộng sản thôi là mọi người đều phải bỏ chạy, chạy bán sống bán chết; biết chạy là chết mà vẫn cứ chạy. Ôi, họ mỉn cười chọn cái chết thay vì chọn cộng sản! Anh gọi cuộc chạy cuối cùng của dân miền Nam là cuộc “bỏ phiếu bằng chân”, một cụm từ đã lột tả đầy đủ và chính xác mà từ trước tới giờ tôi mới thấy, tuy có nhiều nhà văn nhà báo cũng viết về cuộc tháo chạy này, nhưng chưa có từ nào nói lên tính chất bi thảm của dân tộc Việt Nam như một cuộc bỏ phiếu bằng chân của anh!
Từ những gì đọc được, tôi trở thành “bạn” trên từng trang viết của anh lúc nào không hay, chẳng qua vì cách viết của anh rất đời thường, gần gũi mùi khoai sắn trên từng góc phố, ngọn gió, giữa đẹp và xấu, giữa những giằng xé nội tâm, giữa những xô đẩy té nhào và đứng lên. Cách viết ấy, với nhiều thể loại khác nhau, tôi ví anh như người dẫn nắng đi chơi khiến ai cũng ngắm nhìn cái sự lạ lùng này: hân hoan và đắng cay, hạnh phúc và đau khổ, thiên đường và địa ngục, lấp ló những thống hận. Vậy đó, như Nguyễn Mộng Giác từng viết về anh: “anh thích đặt nhân vật vào những cảnh ngộ thử thách, và cách nhân vật ứng xử với những thử thách ấy rất “người”, nghĩa là chênh vênh giữa tốt và xấu, yếu đuối mâu thuẫn nhưng vẫn có đủ nghị lực để chấp nhận bất hạnh và thích nghi với đời sống”. (https://nguyenmonggiac.com/phe-binh/508-vet-xuoc-dau-doi-cua-tran-doan-nho.html)

Nguyễn Lệ Uyên
(Quê nhà tháng 9/2018)
*Ghi chú: bài viết theo yêu cầu của tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 82 chủ đề nhà văn Trần Doãn Nho, đã được nhuận sắc tháng 10/2018.
__________________
(1) NXB Lao Động & TT VH Ngôn Ngữ Đông Tây, HN, 2012)
(2) Dặm trường, TÂQ, HK, 2018

ĐÔI KHI NẮNG LÊN

Đôi khi nắng lên làm tôi nhớ
Trịnh Công Sơn

Mưa!

Không chỉ một cơn mà nhiều cơn. Không chỉ một ngày mà nhiều ngày. Mưa gần như suốt mùa đông. Có một nhà thơ đã phải kêu lên:

Mưa chi mưa mãi
Mưa mãi mưa hoài
Lòng biết thương ai
Trăng lạnh về non không trở lại.

Đó là những cơn mưa xứ Huế, mưa dầm dề, mưa lê thê. Mưa như một người đàn bà ghen ngồi tỉ tê kể tội chồng mình suốt đêm dài không cho anh ta ngủ.Đất trời chìm trong màn mưa trắng đục, lạnh cả chiếu chăn, lạnh cả hồn.

Thế rồi bỗng dưng mây tan, và nắng lên. Ôi nắng mới ngọt và ấm làm sao. Nắng xối xả, nắng vàng tươi, nắng trên mái nhà, trên đường phố, trên bãi cỏ ven sông… nắng cũng có âm thanh trong veo như tiếng cười. Mọi người đều đổ ra đường kể cả những cụ già suốt ngày ngồi ôm lồng ấp trước ngực. Tiếng người nói, tiếng guốc khua, tiếng còi xe sau bao nhiêu ngày như mất tăm trong mưa bỗng dưng xuất hiện đông vui, rộn rã.

Nhưng cũng chỉ một ngày, có khi chỉ một vài giờ, rồi lại mưa, mưa dầm dề mưa lê thê, mưa như để bù lại cái bất chợt nắng lên.

Lại lạnh cả chiếu chăn. Và, lại lạnh cả hồn.

Nhưng, đôi khi, hay chỉ là một vài khi, như thế cũng đủ ấm lòng người. Trịnh Công Sơn hát:

Đôi khi nắng lên làm tôi nhớ

Nhớ gì nào?

Nhớ những buổi sáng đầy sương mù trên sông Hương, những con thuyền hư ảo như trôi trong mơ, những tà áo trắng của nữ sinh Đồng Khánh biến thành mây trên bến Thừa Phủ.

Và những chiều tím với bao tà áo màu tím than rất riêng của Huế, nhớ tiếng rao hàng ngọt ngào nũng nịu, đã nghe là y như rằng không thể không muốn ăn.

Nhớ sen nở trắng như tuyết quanh hồ thành nội, những mảng tường rêu xanh ở cữa Thượng Tứ, nhớ những quan văn quan võ bằng đá cung kính đứng chầu trước sân đại nội cho dù các ông vua triều Nguyễn đã đi vào thiên cổ, nhớ chợ Đông Ba trên bến dưới thuyền và cầu Trường Tiền như một nét mày cong duyên dáng của giai nhân.

Có lẽ, người ta chỉ thật sự yêu Huế khi đã đi xa. Và cũng chỉ một đôi lần nhớ Huế khi mùa mưa tới. Nhất là một đôi khi nắng lên.

Tôi chỉ ở Huế một mùa thu và nửa mùa đông. Tôi không có một chút ấn tượng nào của núi Ngự, dù rằng Bùi Giáng đã rất thực và cũng rất dí dỏm khi viết:

Thưa rằng: xứ Huế bây giờ
Hãy còn núi Ngự bên bờ sông Hương

Ngọn núi trở thành bình phong của kinh thành nhà Nguyễn ngày nào đã không còn thông reo vi vu xanh ngắt, giờ trơ trụi với mồ mả chênh vênh trồi sụt. Tôi cũng không ưa những lăng tẩm tàn phai buồn hiu hắt. Lăng Gia Long khiến tôi nhớ đến cuộc hành hình tàn bạo đối với mẹ con nữ tướng Bùi Thị Xuân, lăng Minh Mạng nhớ tới cái chết của lão thần Nguyễn văn Thành, lăng Tự Đức nhớ tới giặc Chày Vôi, còn lăng Đồng Khánh thì nửa Tây nửa Tàu rất dị hợm.

Cái còn đọng lại trong tôi ấy là, gần như các gốc cây cổ thụ trong thành nội đều có những ngôi miếu nhỏ lúc nào cũng khói hương ấm áp. Người Huế đã không quên cái đêm kinh thành thất thủ khiến mấy ngàn người chết. Và lại càng khó quên những người chết trên bãi Dâu trong trận Mậu Thân.

Tôi cũng không quên được cái rạp hát bội cũ nghèo nàn trên đường Phan Bội Châu, chỉ lèo tèo một vài chục khách mà đêm nào cũng sáng đèn hự hự ứ ư, quán thịt dê bên cạnh với những con dê chờ chết suốt đêm kêu be be như oán như than.

Và lại càng không quên những chiếc bánh nậm mỏng như chiếc lá, bánh bột lọc trong vắt như kiếng trông thấy cả con tôm nằm im bên trong, chén nước mấm ngon dầm ớt xanh vừa cay vừa thơm ngát.

Hỏi rằng có nhớ riêng cô gái Huế nào không, thì thưa rằng không dám. Nhưng bảo rằng quên thì thực khó mà quên được những chiếc nón bài thơ e ấp, nép bên trong là những mái tóc thề. Gần như các cô gái Huế chưa chồng không cô nào chịu phi dê. Các cô chỉ ra khỏi nhà khi đi học và chỉ đi bộ hay đi xe đạp tới trường rồi lặng lẽ ra về, không tụm năm tụm ba ăn quà vặt hay dung dăng dung dẻ lang thang trên đường. Cho nên cô nào cũng có vẻ tiểu thư con nhà khuê các.

Những cô gái ấy, sau này trở thành bà quận trưởng, bà đại úy lại nói rất nhiều và ghen đáo để.

Tôi có anh bạn, bảo rằng anh đã lầm cái vẻ khuê các đó trong nhiều năm và ngao ngán chịu đựng suốt cả một đời.

Mà thôi, hãy yêu Huế một đôi khi và nhớ Huế một đôi lần, để thấy mình giàu có thêm đôi chút, vậy là vui rồi.

Khuất Đẩu