MỘT Ý KIẾN NHỎ: ĐI TÌM CÁI DỞ CỦA THƠ HAY.

Xin nói ngay từ đầu để tránh mọi ngộ nhận, tôi chỉ là người chọn lọc những bài thơ hay từ các nhà thơ gởi đến trang mạng của mình. Là một người yêu thơ nên khi chạm vào câu đầu tiên tôi đã biết đó là bài thơ hay hoặc dở! Nhưng cũng có rất nhiều bài thơ tôi cầm lên đặt xuống đầy băn khoăn nghi hoặc. Đó cũng là một trăn trở của rất nhiều nhà phê bình có tâm và có tên (tuổi). May mắn thay, tôi đọc được những lời này của Nguyên Hưng Quốc- một trong hiếm hoi những nhà phê bình tôi chọn đọc- nói thật, tôi vốn không mấy yêu thích những gì khoa học quá, cao xa quá, tiểu tiết quá, hiện đại quá, bề trên quá…nên tôi thường…bỏ qua những nhà phê bình thơ và nghĩ thầm: “giỏi thì viết một bài thơ hay ho nghe thử chớ nói thì ai nói chẳng được!”
Với người làm thơ, chỉ còn trang giấy. Không có gì ngoài trang giấy. Trên trang giấy, không phải chỉ có chữ mà còn có cả những khoảng trống chung quanh các con chữ. Từ đó, thơ có thêm một yếu tố mới: yếu tố phi từ vựng. Chữ, cuối cùng, chỉ là một loại ký hiệu. Mà ký hiệu nào cũng có một mục đích giống nhau: giao tiếp. Ngay cả khi người ta loại trừ chữ, chỉ sử dụng ký hiệu, mục đích ấy vẫn có thể được duy trì. Nghĩa là vẫn có thể có thơ được. (Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói hay hơn, lập luận chặt chẽ hơn nhiều nhưng tôi chỉ nhớ đại khái vậy và lấy làm tâm đắc điều này lắm!)
Nhân đọc bài Bà Chúa Thơ Lục Bát của tác giả NGUYÊN LẠC gởi đến, viết về Phạm Hiền Mây ( cả hai đều là người cộng tác với Tương Tri). Thêm bài phê bình của Trần Trung Thuần- người mà ai cũng biết là nhà thơ Trần Vấn Lệ- cũng liên quan tới nhà thơ Nguyễn Hàn Chung với ” Lục Bát Tản Thần”. (Tóm lại cả bốn đều là những người tôi yêu mến.) nên tôi không thể không lên tiếng, dù tiếng nói của tôi chẳng có kí lô gam trọng lượng nào đối với ai và chắc chắn là …chìm vào hư không, nhưng kệ đi yêu ai cứ bảo là yêu/ ghét ai cứ bảo là ghét…. Còn nếu ghét thì im lặng chớ đừng nói yêu, như vậy là thỏa hiệp xấu xa! Tôi không bao giờ thỏa hiệp.( hết phần …để tránh ngộ nhận…)

1.Trần Trung Thuần:
ông không phải là một nhà phê bình chân chính có học vị học hàm và các loại học này kia như những nhà phê bình khác mà chỉ là một nhà thơ trữ tình, vãi chữ như vãi trấu,thơ ông hay, ngôn ngữ tự nhiên dễ dàng như kể chuyện.Ông thành công vì người đọc nào cũng tưởng ông viết cho mình. Điều này rất khó.Nếu căn cứ vào những lời ông viết để đánh giá Phạm Hiền Mây thì không đúng và thiếu công bằng với cô
2. Phạm Hiền Mây:
Phạm Hiền Mây chưa bao giờ tự xưng và tự hào cho rằng mình là Bà Chúa Thơ Lục Bát. Cô từng là một cô giáo, lỗi của cô là đẹp và làm thơ dễ thương, lỗi của cô là mỗi ngày( hoặc vài ngày) lại đưa thơ và hình của mình lên FB. Cô là một cô giáo, một người làm thơ trẻ mà tôi yêu mến, có một nhà thơ tên tuổi nói với tôi về tính cách của cô:” ở ăn thì nết cũng hay…” Vâng , cô ấy không hề làm mất lòng ai kể cả những người cô không thích!
3.Tôi:
* Không nên đánh người đẹp dù chỉ bằng một cành hoa, nhất là những …người đẹp làm thơ. Các nhà thơ rất dễ bị tổn thương. Khi tổn thương họ làm gì nhỉ? Theo tôi, họ im lặng. Và tùy theo tính cách, họ thể hiện sự im lặng với ngầm ý rằng:
-Với tính cách hiền lành cam chịu họ sẽ im lặng khuất phục và tìm chỗ nhấm nháp xoa dịu vết thương.
-Với những người bản lĩnh họ sẽ phẩy tay bỏ qua không quan tâm đến kẻ làm tổn thương họ.
* Những cách đảo chữ , trùng lặp, mượn chữ cũ chen vào câu thơ mới v.v…chỉ là cách làm mới những gì đã cũ.Thử nghĩ coi , chỉ có 24 chữ cái thôi, các nhà thơ cũ danh tiếng lẫy lừng đã xài đến cạn kiệt rồi còn đâu!
Vậy thì hãy để cho những người trẻ sáng tạo, đôi khi không hay lắm, nhưng lạ. Lạ và sáng tạo là tính cách của các nhà thơ trẻ đang đi vào trường văn trận bút. Họ không muốn và không thể dẫm lên dấu chân người đi trước.Theo thời gian, thơ họ sẽ được chấp nhận hoặc đào thải, nhưng dù sao đi nữa, họ vẫn có một chỗ đứng nhỏ bé hoặc lớn lao trong nền văn học sau 75. Chưa ‘tam bách dư niên hậu” thì chúng ta có nói gì cũng còn là quá vội!
4. Quỳnh Nga:
Cô là một người làm thơ tôi thích đọc, hồn hậu, trong trẻo, tròn vần đúng luật và bát ngát cái tâm Nam Bộ. Nếu có duyên, tôi rất hân hạnh mời cô cộng tác
5. Cuối cùng:
Tôi muốn mình thật công tâm khi nói về những cây bút tôi yêu mến nên trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ để rộng đường dư luận.
Rất biết ơn những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình không ngừng quan tâm, không ngừng phổ biến, không ngừng sáng tạo, không ngừng cùng nhau giữ gìn tiếng Việt.
Rất cảm ơn anh Nguyễn Hưng Quốc, Nguyên Lạc, Phạm Hiền Mây, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung. Thật bất ngờ, những “cái nhà” tôi nêu tên đều từng là nhà giáo dạy Văn nên dù có nói tới nói lui, họ đều cùng một mục đích cuối cùng là…tôi yêu tiếng nước tôi!
Và, tôi cũng vây. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là một trong những tôn chỉ của trang TƯƠNG TRI.

Tôn Nữ Thu Dung

Advertisements

CẢM NHẬN VÀI BÀI THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

.

BÀI “ĐỌC TẬP THƠ BẤT TƯƠNG PHÙNG, KHÔNG TIN…”

I. NHỮNG TRÍCH ĐOẠN
Tình cờ đọc được bài “Đọc Tập Thơ Bất Tương Phùng, Không Tin Của Phạm Hiền Mây” của nhà bình thơ Trần Trung Thuần thấy hay hay, xin được ghi ra đây vài trích đoạn “ấn tượng” của bài viết ĐỌC TẬP THƠ…[1]
[ … Ý tôi muốn mở bài viết hôm nay về thơ Phạm Hiền Mây, qua tập Bất Tương Phùng Không Tin do nhà Nhân Ảnh ở San Jose, Mỹ, xuất bản năm 2018, tôi vừa nhận được đầu năm mới, 2019, từ một người gửi ở Tiểu Bang Nevada, cũng Mỹ. Phạm Hiền Mây thì ở Việt Nam, ngay tại thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta! Cả tập thơ Bất Tương Phùng Không Tin toàn thơ Lục Bát dày tới 250 trang, tổng thể là 100 bài rất dài hơi.

Cuối năm ngoái và đầu năm nay, tôi có hai cái hạnh phúc: năm ngoái, 2018, nhận tập Lục Bát Tản Thần của Nguyễn Hàn Chung gửi cho từ Texas, Mỹ, năm nay, 2019, nhận tập Bất Tương Phùng Không Tin của Phạm Hiền Mây (do ai) gửi cho từ Nevada. Trước hết là tôi Biết Ơn bạn bè luôn luôn chúc tôi có hạnh phúc, sau là Biết Ơn hai tác giả đều “chuyên khoa” làm thơ Lục Bát, theo cách định nghĩa của Nguyễn Du.
Thơ Lục Bát của Nguyễn Hàn Chung là loại thơ có tư cách Nguyễn Hàn Chung: Nói thẳng, nói thật, nói tuột luốt cái tư duy có trong đầu mình, trong bụng mình, không đụng hàng ai hết…thỉnh thoảng có giống giống chút thôi bởi không dè…người ta (Nguyễn thị Hoàng Bắc, Sơn Núi, Bùi Giáng…) lại có tư duy như Nguyễn Hàn Chung, không khéo mà thành Công Duy…(như chữ Tư Sản đã thành Công Sản vậy). Thơ Nguyễn Hàn Chung: Vui và Tuyệt Cú Mèo (dùng chữ Tuyệt Tác thì lễ phép hơn nhỉ?).
Thơ Lục Bát Phạm Hiền Mây…có thể “trùng thanh” nhiều người (toàn bậc thượng thừa) như Hồ Dzếnh, Trân Huyền Trân, Nguyễn Du, Huy Cận, Cung Trầm Tưởng…, có thể “trùng ý” nhiều người (toàn thể ai…hay yêu và hay buồn). Cái tài của Phạm Hiền Mây là làm thơ Lục Bát hay quá và đều tay quá, không chỉ một tập thơ dày cộm này, Bất Tương Phùng Không Tin! Phạm Hiền Mây có một đứa con thật mà có tới ba đứa con tinh thần, và chắc không ngừng ở số ba!

Bây giờ tới chuyện Phạm Hiền Mây, không khen là tôi đắc tội (không phải Phạm Hiền Mây đẹp). Tôi tin nếu Xuân Diệu còn sống thì Xuân Diệu cũng bái phục Phạm Hiền Mây như Xuân Diệu từng làm điều đó với Hồ Xuân Hương, Bà Chúa Thơ Nôm. Dù tôi “phát biểu”: Phạm Hiền Mây Là Bà Chúa Thơ Lục Bát, hơi hướng Xuân Diệu, nghĩ có sao đâu? Có thể có người bảo tôi “ninh tinh”, thì cứ lý lụn đi nào, coi ai lụn bại, ai thành công. Nếu “kết lụn” thua nghiêng về tôi, tôi sẽ méc Má tôi: tại Má sinh con ở Nam Bộ…phận!

Tôi không có nhận xét nào thêm để dài dòng về một thi tài độc đáo là Nữ Thi Sĩ Phạm Hiền Mây. Chuyện của Phạm Hiền Mây qua thơ (Tôi chỉ biết thơ, thú thật hổng biết Thơ Ca hay Thi Ca nghĩa là làm sao?). Tôi coi Phạm Hiền Mây như một đóa hoa mai. Nhất sinh đê thủ, rồi. Tôi coi Phạm Hiền Mây là Bà Chúa, tôi nghĩ Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn không bắt lỗi tôi
Tôi không còn gì để nói thêm! ](Trần Trung Thuần)

II. VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI ĐỌC TẬP THƠ

1. Đọc lời khen của nhà bình thơ Trần Trung Thuần, tôi chợt nhớ lại bài thơ “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán:

Lời mẹ dặn
Phùng Quán

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu…

2. Đây là vài ý nghĩ của các bạn tôi khi đọc bài khen thơ trên:
– Chưa từng thấy có lời khen “tuyệt vời” như vầy
– Quảng cáo tập thơ cô thi sĩ trẻ quá siêu!

THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

Theo lời giới thiệu: “Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta!”(Trần Trung Thuần), tôi mạo muội ghé qua “vương cung” (Facebook) của “bà chúa” để thưởng thức các bài thơ tuyệt với như lời “quảng cáo”.
Thấy gì?
— Đúng là nơi “vương giả” chỉ dành riêng cho thiểu số tót vời, giới thượng lưu.
Này nhé: – Dầy đặc trong các bài thơ những cụm từ “hàn lâm”: Hư không, vô ngôn, miên khê, miên trường, miên du, uyên nguyên, phiêu bồng, địa đàng, thiên cổ, cát bụi, nguyên sơ, phù vân, cố thổ, tà huy, tà dương và nhiều nhiều nữa.
Gặp ở đây nhiều chữ của Phật giáo, của các triết gia, đặc biệt là của thi sĩ Bùi Giáng những chữ mà ông thường dùng một cách nhuần nhuyễn.

I. Phân tích một số chữ tiêu biểu được dùng trong thơ

Xin tạm phân tích một số chữ của “bà chúa” Phạm Hiền Mây dùng trong các câu thơ. Có gì không đúng xin bà giảng dạy thêm.
– Miên trường
Tiếng Hán Việt (H) giống như tiếng Anh (E) tính từ đứng trước danh từ, ngược với tiếng Việt(V).
Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (E) Ngựa trắng (V)
Do đó “miên trường” không phải là giấc ngủ dài, mà là dài rất dài: Trường = dài; miên = dài (miên viễn).
Áp dụng vào các câu thơ:
“thiên lý dặm miên trường mù không” ̣Phạm Hiền Mây (PHM)]
(thiên lý dặm = ngàn dặm đã dài rồi, thêm miên trường = rất dài vào, ôi!)
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”(PHM)
“ừ anh mật ngọt miên trường giọt môi”(PHM)]
tôi thấy chúng sao ấy, nếu không nói là vô nghĩa!
– Tà dương ̣
Tà dương ̣hay tịch dương: Mặt trời lúc sắp lặn, có nghĩa là buổi chiều gần tối.
Câu thơ: “có em chiều xuống tà dương” (PHM) dư chữ “chiều xuống”
– Vô ngôn
Vô ngôn là cụm từ của Phật giáo với nghĩa không lời. Sóng tràn thì phải động mới tràn, nghĩa là có âm thanh: Xem như có lời.
Vậy câu thơ: “sóng tràn vô ngôn” thi sĩ muốn nói về điều gì? Vô ngôn?
– Biển ngâu
Trong “mai đời dẫu khóc biển ngâu” có hai chữ “biển ngâu”
Sự tích Ngưu Lang – Chục Nữ gặp nhau ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, ngày mưa Ngâu (Ngưu) sụt sùi. Bắc cầu “ô thước” qua “sông” Ngâu chứ đâu có “biển” Ngâu: Biển làm sao bắc cầu. Lại nữa, dãi ngân hà giống như dòng sữa, nhìn như dòng sông chứ đâu phải khắp bầu trời mà gọi là biển?
– Miên khê
Miên khê là khe nước đứng yên (ngủ), giang đầu là đầu nguồn sông lớn… vậy câu sau đây có nghĩa là gì?
“giang đầu nguyệt bóng miên khê”
Và “nguyệt bóng” là gì tôi tìm từ điển không thấy, xin bà chúa giải thích cho biết?
Hai chữ “nguyệt bóng” này làm tôi nhớ đến “sự đảo chữ”

II. Bàn sơ lược về đảo chữ

Tôi thấy “bà chúa thơ” rất “sính” đảo chữ. Mời đọc những chữ này: Nắng vạt, hoặc nghi, phai phôi, nguyệt bóng, trùng muôn… nhiều nhiều nữa.
Thí dụ:
“hư không níu trùng muôn bớt dài”
Trùng muôn nghĩa là gì vậy nữ sĩ?

Tôi thấy đa số những cụm từ đảo trên gợi ra nhiều vấn đề. Bà chúa thích “đố chữ”?
Xin có vài ý kiến qua trích đoạn dưới đây:

[…Phép đảo chữ (đảo từ):
Đảo: Ngược, đảo ngược.
— Trong nói đảo người ta thường dùng lối chuyển đổi trật tự, vị trí các chữ trong một nhóm chữ (nhóm từ)
— Ta phận biết được ba trường hợp trong phép đảo chữ:
1. Chữ mới khi được đảo có thể xem như cùng nghĩa với chữ trước khi đảo:
Ngồi ngủ/ ngủ ngồi.
Đứng ăn/ ăn đứng
Khổ đau / đau khổ…
2. Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Độc đáo / đáo độc: Đáo độc vô nghĩa
Độc lập/ Lập độc: Lập độc vô nghĩa
Tà huy / huy tà: Huy tà vô nghĩa
– Khờ khạo / khạo khờ: Khạo khờ vô nghĩa.
– Vừa vặn / vặn vừa: Vặn vừa vô nghĩa.
Muôn trùng / trùng muôn: Trùng muôn vô nghĩa
câu thơ:
Hư không níu trùng muôn bớt dài (PHM): vô nghĩa.
Các thi sĩ nên xét lại! Nếu có nghĩa xin các thi sĩ cho biết tên từ điển Việt nào?
3. Chữ mới khi được đảo khác nghĩa với chữ trước khi đảo, nghĩa có khi trái nghịch…]
(Đảo Chữ – Nguyên Lạc)

Sẵn dây xin được ghi ra trích đoạn về ngôn ngữ thơ mà tôi tâm đắc của Lê Hữu
[… Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn]

III. Cảm nhận hai bài thơ tiêu biểu của “bà chúa thơ lục bát”

1. Hai bài thơ tiêu biểu
Các bài này đã được phổ nhạc và được rất nhiều thi sĩ “lão thành” có tiếng khen (like), tức nhiên nó phải hay và chắc tôi không cố ý chọn lầm.

VẼ EM…

vẽ em
bằng hết đời
sầu
anh tô lại đẹp từ đầu giấc mơ
từ đầu buổi mắt xanh thơ
còn trong veo nắng màu tơ sợi trời

**
còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương

**
mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy

**
trăng treo cao bóng lên đầy
tiếng khuya lả tả trắng bầy rong rêu
trắng dòng lá mục lêu bêu
vẽ em
anh vẽ vạc kêu sương
tàn

**
vẽ em
bằng nỗi vui
tràn
anh hoàng hoa xuống cội vàng cánh xương
cội hoàng hoa đóa uyên ương
mây hoàng hoa bến mộng thường vân lâu

**
yêu cho bằng hết bể dâu
sông
anh ru cọ ơ ầu
vẽ em… .

VÔ CÙNG TRĂM NĂM… .

yêu anh
cuộc
mộng nghìn trùng
dấu cô lý bến mịt mùng xa xăm
gót chân viễn xứ mù tăm
bâng khuâng bờ vắng em nằm chờ mai

**
bâng khuâng cõi vốn phôi phai
yêu anh
từ độ chia hai mây
trời
đất mơ gặp gỡ nhau đời
tạc câu huyền sử bời bời uyên ương

**
ghi rằng trời đất vấn vương
mới cơn bụi cát miên trường đêm say
yêu anh
yêu
cả gầy tay
hương thơm ngón thắp em ngày ái ân

**
hương xanh đôi thắp phù vân
thắp men tình muộn màng trần gian không
còn gì ngoài gió mùa đông
yêu anh
em
trái tim hồng cánh môi

**
yêu anh
yêu
vĩnh hằng ngôi
chỉ duy nhất một bồi hồi xưa sau
hàng mi khép lúc giọt mau
rót riêng em giấc ngủ màu bao dung

**
như nhiên đã lối về chung
em yêu anh
rất vô cùng
trăm năm…
(Phạm Hiền Mây)

2. Vài nhận xét

a. Vài ý đóng góp:
Đây là vài ý của bạn tôi đóng góp khi chúng tôi trao đổi về 2 bài thơ tiêu biểu trên:
— Người được gọi là ” Bà chúa lục bát” có giọng thơ hơi sáo rỗng:
“mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy” (sic)

Các câu khác cũng vướng lỗi gần giống vậy. Ví dụ:
“còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương” (sic)

— Khổ 2:
“Còn chân gót hát ca lời” là ý gì?
“Mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương”: Câu này có ăn nhập gì với câu đầu (còn chân gót hát ca lời) của đoạn thơ không? Đã vậy lại vừa thừa vừa thiếu, Thừa cái kể lể, thở than; thiếu mất hình ảnh thương sầu, ly biệt.
— Khổ 3:
Câu đầu rất ổn, nhưng câu kế vừa thừa lại vừa lang bang.
“Thiên lý” là ngàn dặm rồi, vậy “Thiên lý dặm” nghĩa là gì đây?
Lại nữa, “Thiên lý” đã diễn tả được cái cách biệt, cái xa xăm nghìn trùng rồi, lại nối theo hai chữ “miên trường” (thôi thì cứ hiểu theo ý tác giả “miên trường” là đằng đẵng, là vô cùng) vậy thì cái ” thiên lý dặm miên trường” nên hiểu sao đây? (Chữ “hoài” đầu câu là phó từ, 2 chữ “mù không” phía sau là ngữ động từ mình tách ra)
— Hai bài thơ khác nhau, mỗi bài đều có 2 chữ “miên trường”
“hoài thiên lý dặm miên trường mù không”
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”
đúng là đặt ở hai ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên xét kỹ thì hai cụm chữ:
“Miên trường mù không”
“Miên trường đêm say”
Giai địêu lập lại, cách dùng lập lại, ý tưởng không khác. Nghĩa là tác giả tự bị TRÙNG TÁC với chính thi phẩm của mình.
[Đỗ Phú]

b. Ý nghĩ riêng tôi:
— Trước hết xin có ý kiến: Rong rêu và lá mục thường xanh đậm (xanh rêu) hoặc xanh đen chứ không thể nào màu trắng. Làm gì mà “trắng bầy rong rêu”?
— Theo chủ quan của tôi, trong con người cái tôi chia ra hai phía, hay nói một cách đơn giản là có hai cái tôi nhỏ: Cái tôi lý trí và cái tôi cảm xúc:
. Cái tôi lý trí do lý trí chi phối, mang tính hơn thiệt, đúng sai, được thua.v.v.. Trong cái tôi này có chứa cái tôi sợ hãi. Biết rằng mình không thích, biết rằng dối gian… nhưng vẫn phải làm. Cái tôi sợ hãi này thì có nhiều thi sĩ, văn sĩ XHCN đã kinh qua và lên tiếng rồi. (Nếu tôi nhớ không lầm là Tô Hoài)
. Cái tôi cảm xúc: Đây là cái tôi đích thực, cái tôi nhân bản, cái tôi của thương yêu, cái tôi cảm nhận sự thua thiệt, không cần tiền tài,danh tiếng, vân vân và vân vân. Nhà thơ rất cần cái tôi này.
Một bài thơ hay khi nào “cái tôi cảm xúc” lên làm chủ, đè “cái tôi lý trí” xuống. Do đó, người ta thường nói: Tình yêu thường “mù quáng” là vậy. Nghĩa là lý trí “đi chổ khác chơi”: Thơ mà chỉ có lý trí, chỉ sắp xếp chữ, không có cảm xúc thì thơ chắc không gây một hiệu ứng nào đối với người đọc, và chắc sẽ bị quên mau .
Hình như tác giả Phạm Hiền Mây đưa cái tôi lý trí lên “đỉnh”, đè bẹp “cái tôi thực sự, cái tôi cảm xúc”.
Nói như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đại khái: – Thơ loại này (lý trí làm chủ) “Ào ào lá đổ nhưng chẳng thấy mùa thu đâu!: Thơ thiếu vắng” hồn thơ”
Hai chữ “cảm xúc” cũng xuất hiện trong định nghĩa về thơ của William Wordsworth:
“Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”.[3]
“Thơ là sự tuôn trào tự phát của cảm xúc mạnh mẽ, bắt nguồn từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng”
— Xin được ghi ra đây vài ý về “thơ mở ngõ”
[… Về thơ mở:
Thơ muốn “hay” phải là thơ mở, nghĩa là bài thơ tác giả mở ngõ, mời độc giả dự phần, đưa tâm tư của riêng mình vào. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
– Xin giới thiệu bài thơ mở của thi sĩ Trần Phù Thế, thi sĩ mời các bạn gởi tâm sự riêng mình vào:
khóc
tuổi thơ
khóc
kiếp người
từ đâu tiếng khóc gọi mời nỗi đau?
khóc là cười chẳng được sao?
(khóc cười – Trần Phù Thế)…]
[Vài Khái Niệm Về Việc Dùng Chữ Trong Thơ – Nguyên Lạc]

Một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho ta, thấy có cuộc đời riêng của ta trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và từ đó nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình; do đó thơ sẽ bớt hay.
Trong các bài thơ của Phạm Hiền Mây, hình như thi sĩ đã nói lên “hết tất cả”rồi, không còn gì để độc giả đóng góp thêm được nữa. Không còn “ngõ” nào để vào “lâu đài” thơ “Bà Chúa”, chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào. Hay nói chính xác hơn, thi sĩ Phạm Hiền Mây là ông thầy đang “giảng đạo”, độc giả chỉ biết lắng nghe và tuân theo. Hoặc như Trần Trung Thuần đã nói: Phạm Hiền Mây là “Bà Chúa thơ lục bát VN”, nên “Bà Chúa” đang ban “huấn từ” cho người dân, đã đầy đủ rồi phải tuân theo, không được ý kiến. Chữ nghĩa ơi là chữ nghĩa!
Qua trên là những cảm nhận của tôi và bạn tôi về các bài thơ tiêu biểu của “Bà Chúa thơ lục bát VN”, giờ xin thử đọc thơ của “người dân dã”.

THỬ ĐỌC VÀI BÀI LỤC BÁT CỦA “NGƯỜI DÂN DÔ

Xin thử đọc vài bài thơ mà theo tôi “cái tôi đầy cảm xúc” làm chủ: Thơ của “người dân dã”, thi sĩ Quỳnh Nga, người tôi chỉ tình cờ biết qua Facebook.
Đây là vài bài thơ với lời lẽ giản dị, đọc hiểu ngay, không “hàn lâm”, không “đố chữ”, khỏi cần chạy tìm từ điển:

CÁI ĐÊM TRĂNG MỎNG EM TỪ TÔI NGHIÊNG

Cái đêm mưa gió ướt đầm
Cái đêm tôi nhớ điếng bầm ruột đau
Cái đêm ta nợ nần nhau
Cái đêm ân ái mùa sau để dành

Cái đêm phiến nhớ long lanh
Cái đêm tơ lụa mong manh khôn cùng
Cái đêm em chạm ngại ngùng
Cái đêm tôi đợi cháy bừng đêm tôi

Cái đêm hôm ấy phải rồi
Cái đêm cánh gió gọi trời sang thu
Cái đêm em tóc hương nhu
Cái đêm trăng mỏng em từ tôi nghiêng…

GÕ CỬA THÁNG GIÊNG

Tôi về gõ cửa tháng giêng
Hỏi ai giấu tuổi hồn nhiên đâu rồi?
Tháng giêng tôi mở cửa tôi
Tìm mong gặp lại một thời chân quê

Tháng giêng tôi đón tôi về
Áo vàng hoa với đường đê hoa vàng
Nghe hồn quê rộng thênh thang
Nghe tôi về giữa nồng nàn yêu thương!
(Quỳnh Nga)

***
Đó là thơ lục bát của hai người, “bà chúa” và “người dân dã”, tự các bạn cảm nhận và phán đoán.

Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
[1]. Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
“từ và chữ” – Trần C. Trí
https://damau.org/archives/51321
[2] (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)
(https://www.brainyquote.com/quotes/william_wordsworth_390135)

NGOẢNH ĐẦU

Hắn gọi điện thoại hỏi:
“Qua chở tao ra sân bay được hông, tối 7 giờ?”
Tui trả lời được, nhưng ngờ ngợ, thằng này có bao giờ lết tấm thân “lầm lì củ mì” ra đây đâu, và gặp chuyện lạ theo quán tính nên hỏi lại, chứ bình thường hắn nhờ điều gì, một là theo vậy, hai là không, không hỏi không han bởi hắn sẽ nói là chuyện của tao, không hé môi chi cả:
“Mày làm gì ở sân bay?”
Lần này hắn đáp không hằn học, thêm một chuyện rất lạ lùng:
“Qua đi rồi biết.”
Đúng giờ, tui tới. Hắn đã ngồi chờ sẵn. Thấy tui, hắn đứng dậy ôm từng người trong gia đình, “tam đại đồng đường” không đủ mặt hết cũng cỡ chừng mười lăm người đứng ngồi chậc cứng trong căn nhà bé tí tẹo. Song, hắn quẩy cái ba lô lên vai bước ra, leo lên xe nói gọn lỏn:
“Đi mậy.”

***

Chạy gần cuối đường Hồng Hà hay Bạch Đằng gì đó, tui chẳng nhớ nổi những con đường lằng ngoằng khu này, có nghĩa là sắp vô đường Trường Sơn, cũng có nghĩa còn chút xíu thôi là vô sân bay Tân Sơn Nhứt. Hắn dòm đồng hồ, rồi nói:
“Còn bốn chục phút. Tấp vô uống ly cà phê.”
Hắn vẫn “lầm lì củ mì” như bình thường, không tỏ một chút thái độ gì là khác thường. Tui định hỏi mày đi đâu hả? Rồi nghĩ… thèm hỏi hả mậy, nên thôi, chuyện của mày, nói hay… để tao sốt ruột kệ… tao đi hen.
Nhấm ngụm cà phê thì hắn mở miệng, rất may tui cũng vừa hết sức chịu đựng “thèm hỏi hả?”:
“Tao đi nước ngoài.”
Tui giựt mình cái tưng, trợn mắt ngó hắn cả chập, hồi sao mới trấn tỉnh, buộc phải hỏi lại:
“Mày đi nước ngoài?”
“Ừ.”
Tui lắc đầu:
“Cái thằng, hết biết. Đi nước ngoài mà làm như đi… chợ, tới giờ xách giỏ ra kêu đi là đi. Dẫu biết mày thuộc hàng nói cởi áo là cởi cái rột, chẳng lèm bèm lôi thôi, nhưng đi nước ngoài là đi biền biệt, có phải ngày một ngày hai chi đâu, sao hông báo trước vài ngày, dù gì cũng có vài anh em bạn bè góp mặt, làm bữa liên hoan nho nhỏ đưa tiễn.
“Vui vẻ gì mà liên hoan hở mậy?”
Tui… mủi lòng quá, nhứt là nghe lại được từ mà thuở nhỏ tụi tui hay xài. Có bịch sinh tố đá, cây cà rem mát lạnh chia nhau mút thì khen, và hỏi cũng là trả lời – Ngon hở mậy? Bực bội nhau cũng nói như vậy – Ngon hở mậy, muốn bặc co tay đôi hông mậy? Coi chung được bộ phim hay, bộ phim hài cũng thế – Hay hở mậy? Vui quá chừng hở mậy?… Cả đám lớn lên đi kèm với hở mậy? Từ xóm Chùa qua xóm Đình, từ xóm Đình lên xóm Miễu, từ xóm Miễu tới xóm Đạo, xa xa hơn là xóm Gà, xóm Cây Quéo, Cây Thị, Cầu Bông, Cầu Kiệu… từ con hẻm băng ra con đường, từ con đường chui vô hóc bà tó khác…
Tui nói tiếp:
“Thôi thì bạn bè có thể bỏ qua, cũng chẳng cần phải “thanh minh Thanh Nga” làm chi. Nhưng từ lúc qua chở mày, thấy mày bước ra là một mạch đi tới giờ, hông thèm ngoảnh đầu lại. Tao thấy quá bất nhẫn với mảnh đất, với ngôi nhà, chẳng một chút lưu luyến gì sao hở mậy?”
Hắn uống một ngụm lớn, tuy vẫn không tỏ thái độ nhưng tui nhận ra có chút nghèn nghẹn trong hắn, hắn nói nhỏ hơn:
“Có gì mà lưu luyến? Có khỉ mốc gì đâu?”
“Chí ít cũng vì nơi chôn nhau cắt rún chớ?”
Hắn quay qua dòm thẳng vào mặt tui với vẻ ngạc nhiên. Vốn dĩ bản tánh phớt tỉnh Ăng Lê như cố hữu trong máu, cùng với ngay từ đầu cho tới lúc này hắn vẫn lơ đễnh với tất cả, nên cái nhìn chăm chú và ngạc nhiên làm tui quá đỗi… ngạc nhiên. Hắn nhún thêm vai một cái:
“Chôn nhau cắt rún? Nó ở nơi đâu? Chắc mày nghĩ là ở ngôi nhà chút é đó chứ gì? – Rồi hắn chầm chậm lắc lắc đầu, trầm giọng xuống: Hông, hông ở đó, mà ở đâu tới bây giờ tao cũng chịu thua, chẳng biết ở chỗ nào. Địa danh ghi trên giấy khai sanh tao còn chẳng biết nó có tồn tại hay không. Ngôi nhà chỉ là địa chỉ trú ngụ mà thôi.
Rồi hắn kể rõ hơn về chuyện này. Cũng ngắn gọn, nhát gừng, đủ để hiểu.

***

Ba má hắn cưới nhau đã bốn năm, nhưng chuyện con cái, bầu bì thì cứ… bí rị. Lâu lâu ông bà nội, anh chị em phải nhắc khéo. Thiệt tình, không hẳn bị bí mà bởi họ muốn bí. Điều ba má hắn sợ nhứt là sanh đứa con ra chẳng giống ai, sợ bị què quặc, bị bịnh tật… thì rất tội nghiệp cho con trẻ. Ba má hắn rất bình thường, chẳng bị làm sao hết, nói trắng ra là chẳng phải yếu sinh lý gì cả nếu không muốn nói ngược lại là rất mạnh mẽ chuyện đó. Chuyện nghe có vẻ kỳ cục nhưng thiệt tình là vậy, trên đời có rất nhiều chuyện tréo ngoe.
Mấu chốt ở lúc… “làm chuyện đó”, những ngày mới cưới về họ còn chẳng dám nữa là, dần dà ráng đánh bạo nhưng cũng chẳng dám để xảy ra độnh tác mạnh chứ đừng nói là rên rỉ. Họ sợ lắm, họ ngại lắm, ai lại không sợ, không ngại khi dòm xung quanh đâu đâu cũng thấy người là người, người nằm sắp lớp như cá mòi, đến nỗi những chiếc xe đạp cũng không thể đem vào trong mà chằng chịt dây xích khóa ở bên ngoài. và nghe hơi thở trong đêm vắng phì phò phì phò như tiếng ong tiếng ve khá khó chịu. Thế hệ hắn chưa ra đời, có “nhị đồng đường” thôi cũng hai ông bà nội, bảy người con cùng bốn dâu rễ, tổng cộng đã mười ba con người. Đó là còn ba người chưa nên bề gia thất chứ không thì đã mười sáu. Mười ba người trong căn nhà hai chục mét vuông không cơi nổi cái gác, vị chi mỗi người chưa được hai mét. Mấy cái bếp lò lo cơm nước hay thau chậu giặt giũ đã để phía trước hiên để không chiếm diện tích, đúng hơn là lấn chiếm con hẻm bé tí của người ta qua lại. Chỗ nằm dành cho người “đi về nơi thiên cổ” cũng còn lớn hơn chỗ dành cho người “còn cựa quậy” này.
‘Chật chội nó… dội ra cái khôn’. Ba hắn có sáng kiến chờ có… xe lửa đêm khuya. Xe lửa rung chuyển và tiếng của nó át mạnh mẽ ai cũng biết rõ rồi. Ấy vậy mà, một ngày kia, ba hắn đang “ngon trớn theo nhịp – cạch cạch cạch, cạch cạch” của bánh xe lửa chạy qua khớp nối của đường rày, má hắn cũng “xả những uất ức” thì chú Út, người mới mười mấy tuổi đã chán học hành, theo bạn bè nhảy tàu đó đây, bị tiếng hú còi đập vào óc hay sao đó mà chú ta mơ màng hiệp sĩ, khi xe lửa vừa rầm rập chạy ngang, ba má hắn đang ráng “rầm rập” thì chú “tung một cước” hết sức để phóng lên nóc toa, xe lửa đi qua, người vẫn ở lại nhưng tấm ri đô xỉn màu cũ mèm thì không còn nguyên vẹn, đã bị xé toạt tanh bành. Ba má hắn một phen hoảng loạn, bà thu lu người về sát trong góc, ông xé tờ lịch bước ra ngoài để vấn điếu thuốc trấn tỉnh. Tờ lịch in ngày thứ sáu, ông lẩm bẩm phải chăng cưới vợ nhằm hợp thành con số mười ba xui xẻo? ‘Cái khó ló cái khôn’, cái khó còn ló cái nghi ngờ, nghi ngờ đủ thứ.
Ba má hắn ám ảm sự hoảng loạn, họ liên tưởng đến “anh chàng nòng nọc hoảng loạn bơi trong mê cung thì bị nàng trứng bắt”, anh chàng không thể đủ khỏe, anh chàng lưng tưng thì lớn lên dễ bị quặc quẹo tinh thần mà thôi. Như người ta cũng cảnh báo những kẻ nhậu say xà càng, “chàng nòng nọc say mèm” cũng chẳng thể làm nên “cơm cháo” chi. Vậy là bí lại hoàn bí rị.
Thế rồi để bí hoài cũng đâu có được, hơn nữa họ cũng muốn xóa con số mười ba gây nổi ám. Chỉ còn một cách, họ ráng dành dụm tiền để mỗi tuần kéo nhau ra… nhà trọ. Hình hài của hắn được kết tinh từ đó, nhưng biết ở nhà trọ nào? Và cũng biết để làm gì? Để tới vinh danh căn nhà trọ đó hay sao? Hay lại sỉ nhục căn nhà tồi tàn? Cho nên, với hắn nơi tạo ra hình hài chẳng còn mấy ý nghĩa.
Còn hai tháng ngày má hắn “khai hoa nở nhụy”, không chịu nổi sự ngột ngạt, bà phải về quê. Hắn lọt lòng trong căn nhà của bà ngoại giữa chốn đồng không mông quạnh, có bà mụ già túc trực đỡ đẻ chứ cũng chẳng tới được trạm xá.
Khoảng bốn tuổi, hắn một lần được trở lại thăm bà ngoại, thăm căn nhà giữa đồng. Trong mớ trí nhớ nhỏ nhoi lúc đó còn giữ được về sau thì đi được đến nơi là một kỳ công, đi xa lắm lắm, xa mút chỉ cà tha. Đi xe ôm bằng Honda từ chợ, tức từ trung tâm của của thị trấn băng băng qua cả chục cây cầu bắt qua những con kinh, rồi xuống chiếc ghe nổ lạch tạch chạy miết nữa, chạy trên sông lớn có, qua sông nhỏ có, song rồi còn lên bờ cuốc bộ thêm vài cây số. Đó cũng là lần duy nhứt hắn được trở lại, có lẽ sẽ được nhiều hơn nếu ngoại hắn không mất sớm.
Kể từ đó, cứ cuốn theo cơm gạo, theo áo quần, học phí cho con cái, theo xe cộ, theo nhà cửa cho đỡ hơn, mà ba má hắn chẳng bao giờ nhắc tới quê ngoại nữa. Hắn hoàn toàn mù tịt về nơi chôn nhau cắt rún của mình.
Chơi với hắn từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng tới bây giờ tui mới vỡ lẽ được phần nào. “Lầm lì củ mì, phớt tỉnh Ăng Lê” của hắn tui không còn thấy bực bội mấy nữa.

***

Tui hỏi:
“Chừng nào mày về lại?”
Hắn lắc đầu:
“Chưa biết. Có lẽ rất lâu mà cũng có thể là hông bao giờ.”
Hắn nói càng lúc càng nhỏ. Tui hiểu cảm giác của người ra đi và chờ hắn giải thích thêm. Hắn ậm ừ:
“Đi làm… cu li thì biết có kiếm đủ tiền để trở về? Trở về chí ít phải thay đổi được điều gì đó chứ hông lẽ lại co người trong cái xó chưa đủ hai mét vuông? Để rồi nằm mơ mộng hảo huyền? Chẳng thay đổi được điều gì thì tốt nhứt là biền biệt.”
Hắn nói nghe có lý. Đó cũng là số phận của hàng triệu người nhập cư khắp chốn ở các thành phố lớn. Hắn thực tế hơn, không hứa hẹn trở về như bao nhiêu người ra đi để trở về. Cũng có trở về đó chứ, nhưng trở về lại để ra đi.
Bốn chục phút qua lẹ làng, tui đưa hắn vô tới cổng. Vẫn là một câu nhát gừng “Tao đi” vậy thôi, hắn xuống xe bước nhanh ào ào. Cái dáng thấy giống lơ lửng, bay bay, có lẽ hắn muốn vút đi thiệt nhanh, chốn chạy thiệt nhanh với mặc cảm một con người mang tội lỗi. Khi gần khuất dạng bỗng thấy hắn đứng lại, rồi… ngoảnh đầu…
Ừ, tui còn nhìn thấy đôi mắt hắn dòm xa xa tới căn nhà “tam đại đồng đường”. Và lúc kể tới đoạn cuối, “sợi dây rún” của hắn ngọ ngậy, đào xới trái tim tưởng chừng đã biến thành sắt đá!

LÊ ĐẮC HOÀNG HỰU

VĨNH BIỆT “PHÂY-BÚC”

Thằng con trai 28 tuổi ế chỏng ế chơ của tôi một hôm bỗng tuyên bố giữa bữa cơm:
– Chủ nhật này con đưa bạn gái con về giới thiệu với ba mẹ được không?
Vợ tôi tròn mắt:
– Con? Có bạn gái?
Thằng khỉ làm bộ mặt nghiêm nghị:
– Mẹ làm gì vậy? Tại con chưa muốn thôi, chứ muốn là… 30 giây! Xếp hàng cả đống!
– Thì con cứ đưa về đi – tôi có ý kiến – Nhà mình thoải mái!
Vợ tôi lườm tôi:
– Thoải mái gì? Không phải ai muốn vô nhà này cũng được đâu! Bạn trước đã! Thấy được rồi mới muốn gì muốn nha!

Thằng con tôi cười hehe:
– Không phải được mà là quá được! Mẹ thấy là chịu liền cho coi! Công dung ngôn hạnh đầy!
– Nó tên gì? Mấy tuổi? Làm gì? – vợ tôi thăm dò.
– Dạ tên Trang, 24 tuổi, làm phòng kế toán cùng công ty với con.
– Vậy là tuổi con ngựa?
– Dạ.
Vợ tôi tính trong 10 giây:
– Dần với Ngọ… Nằm trong “tam hợp”. Cũng hợp với mẹ luôn. Được!
– Em thiệt tình! – tôi nhăn nhó – Giờ này mà cứ mê tín! Thử nó mê đứa nào “tứ hành xung” coi em có cản được không?
– Sao không? – vợ tôi trừng mắt – Không phải vụ tuổi nhưng phải có chuẩn đàng hoàng chứ! Nhà này không có chuyện con đặt đâu cha mẹ ngồi đó đâu!
Con tôi tỉnh bơ:
– Con bảo đảm mẹ thấy là chịu liền mà!
Đến lượt tôi sực nhớ:
– Con nói nó tên Trang?
– Dạ. Sao ba?
– Trời! Ba lo nhứt chuyện này, sao lại dính đúng luôn vậy?
– Gì vậy anh? – vợ tôi hỏi.
Tôi thở dài:
– Thì thằng con mình tên Nghĩa! Tên hai đứa gộp lại…
Con tôi ngoác miệng cười:
– Nghĩa Trang! Hehe! Tụi bạn con chọc rồi! Càng vui! Đích đến cuối cùng của mọi người mà!
Rồi nó nghiêm lại, chốt hạ:
– Vậy trưa chủ nhật nha ba mẹ! Trang sẽ đi chợ rồi tới đây sớm để phụ làm cơm với mẹ…

——–

Mới chín giờ sáng chủ nhật, Trang chạy xe máy tới, phía trước vừa treo vừa chất mấy bịch hàng mới mua ở siêu thị. Tiêu chuẩn “công” và “dung” có vẻ đúng. Con nhỏ mặt mày dễ coi, sáng sủa, tướng tá gọn gàng, ăn mặc lịch sự. Đi chợ nhanh nhẹn thế kia, chắc là chuyện thường làm. Nó vui vẻ chào tôi và vợ tôi rồi ào ào xách đồ vào nhà và bất chợt… rú lên:
– Trời! Đẹp quá!
Thì ra đó là cái bình hoa vợ tôi lo đi mua cắm từ sáng sớm để trên bàn ăn để chuẩn bị tiếp khách đặc biệt. Trang móc ngay điện thoại, chụp hình lia lịa, rồi nhí nhoáy bấm tới bấm lui một lúc mới cười khì:
– Xong!
Nó bắt đầu bày biện các thứ vừa mua đầy mặt bàn trong bếp. Vợ tôi mon men tới gần, bị nó mời:
– Bác để con làm đi! Có gì thì anh Nghĩa phụ. Con làm hai món thôi, nhanh lắm! Bún chả giò, xúp mì ngôi sao nấu thịt bằm. Bảo đảm ngon, no!
– Để bác rửa rau cho? – vợ tôi rụt rè.
– Dạ không!
Sau lời tuyên bố chắc nịch, Trang nhào qua rửa rau. Nó vặn một chậu nước đầy, thảy rau vô và cứ vừa xả nước ào ào vừa kỳ cọ từng cọng rau. Tôi biết chắc bà vợ mình đang xót cho cái đồng hồ nước đang quay kim vèo vèo nhưng rất lạ là bà lại im ru, làm như đang bị khớp trước nàng dâu tương lai hậu hiện đại.
– Rửa rau dưới vòi nước đang chảy mới tốt nha bác! – Trang quay qua nói với vợ tôi, rồi mặc cho vòi nước chảy xối xả, nó lại móc điện thoại ra bấm bấm, vừa coi vừa chỉ đạo thằng con tôi làm này làm nọ, điều mà chưa bao giờ thằng khỉ làm cho mẹ.
Vợ tôi len lén đi tới nhìn vô cái điện thoại coi có gì trong đó. Trang cười:
– Con coi lại Gu-gồ chỉ làm chả giò cho chắc bác ơi!
Bữa ăn rồi cũng được dọn ra, bày biện đẹp mắt. Thằng Nghĩa mặt tươi rói xoa tay mời ba mẹ vào bàn. Vợ chồng tôi vừa cầm đũa thì Trang đưa tay cản lại:
– Hai bác chờ con xíu!
Nó lại cầm điện thoại chụp xạch xạch xạch, lại nhoay nhoáy bấm bấm một lúc. Vợ tôi không thể không thắc mắc:
– Con làm gì vậy?
– Dạ con pốt Phây-búc (*).
– Là cái gì?
– Dạ là mạng xã hội đó bác! Vui lắm! Con pốt cho các bạn biết con đang èn-choi trưa nay cho tụi nó thèm chơi. Đó, đó, tụi nó còm lia lịa rồi nè! – Trang đưa điện thoại qua cho Nghĩa coi. Thằng nhỏ vừa đọc vừa cười tủm tỉm.
– Hai bác lớn tuổi nên chơi Phây-búc cho đỡ buồn. Ngồi một chỗ trò chuyện, trao đổi thông tin, hình ảnh khắp thế giới với cùng lúc cả ngàn người bạn. Lại được thoải mái nói tâm trạng của mình, bình luận chuyện người khác, chém gió, chơi games, nghe nhạc, xem phim thoải mái… Cả gia đình, dòng họ ngồi một chỗ vẫn biết hết nhứt cử nhứt động của nhau. Anh Nghĩa! Sao anh không chỉ hai bác chơi Phây-búc vậy? – Trang cự Nghĩa.
– Sợ ba mẹ nói mất thời giờ! Ba mẹ hay la anh mỗi lần anh thức khuya để chat – Nghĩa nói.
– Trời, vậy mà còn không biết chỉ hai bác chơi! Ba má em cũng cự em, em chỉ xong là mỗi người ôm một cái điện thoại, hết la hehehe! Vui lắm hai bác ơi!

——–

Bạn bè tôi cũng chơi Phây-búc lâu nay, có rủ tôi nhưng tôi giấu dốt, làm bộ chê là trò vớ vẩn, mất thì giờ. Sau buổi gặp Trang, thằng Nghĩa bắt đầu hướng dẫn tôi vào cuộc. Từng bước một, tôi dần dần bị cuốn hút vào trò chơi mới. Cũng động chút là chụp hình, pốt, ghi sì-ta-tớt, like, còm… cả ngày.
Bạn bè đông dần, trong đó bạn ngoài đời càng ngày càng ít hơn bạn ảo. Các bạn ảo này mới là vui, vì chả quen biết gì, thậm chí cái tên cũng ảo, thí dụ Loài hoa bé dại, Ai thèm nhớ anh, Thiên thần mắc đọa, Cá mập chết đuối… Hầu hết không biết mặt mũi thế nào. Có người đưa con chim, bông hoa, cờ nước… làm ảnh đại diện. Kể cả họ có đưa ảnh chân dung thì cũng không có gì bảo đảm là thật. Bạn ảo thì khỏi úy kỵ, bình luận ào ào, khen chê chửi rủa vung vít. Nói chung dù là một thế giới ảo, Phây-búc đúng là vui ra phết, y lời con dâu tương lai đã nói, tha hồ tán dóc. Tôi còn thấy sở dĩ nó được thiên hạ khoái như điên vì còn là một phương tiện tự sướng vô địch về mặt tinh thần. Từ đó lúc nào tôi cũng kè kè cái điện thoại bên cạnh, đến mức đi ngủ cũng để một bên, thấy rung báo có tin là lại mở ra bấm bấm nhấn nhấn.
Vợ tôi nổi điên:
– Anh cười thằng Nghĩa con Trang rồi bây giờ còn lậm hơn tụi nó! Anh vừa phải thôi nha! Toàn trò chuyện với mấy đứa con gái thôi phải không?
– Con gái đâu mà con gái! – tôi chống chế.
– Hôm nọ anh nằm bấm, tôi nhìn thấy rồi! Toàn hình con gái! Mê quá há! Anh coi chừng tôi, lộn xộn tôi cho anh lên đường ngay tức khắc!
Khi vợ xưng “tôi” là biết có chuyện rồi! Tôi kêu trời:
– Không có đâu em ơi. Bạn ảo thôi, có gặp đâu! Chơi cho vui thôi mà! Em cũng chơi đi cho vui? Bạn của anh cũng là bạn của em – tôi đề nghị.
– Không! Tôi không có rảnh! Mà tưởng tôi ngu hả, mấy người tạo group riêng, có trời mới biết đang nói gì với nhau!
Tôi sửng sốt nhìn vợ. Sao nàng lại biết cả vụ này nữa trời? Vợ tôi như hiểu cái nhìn ấy, cười:
– Vợ anh không ngu đâu nha! Coi chừng đó! Bạn gái ảo thôi phải không? Nhất định không gặp phải không?
– Đúng rồi! Em tin anh đi! – Tôi nói chắc như bắp.
———

Bất ngờ có một cô gái với gương mặt đẹp như mơ và cái tên cũng quá thơ mộng – Giọt nắng bên thềm – xuất hiện xin làm bạn với tôi, cùng dòng nhắn tin: “Qua bạn bè, em rất thích những lời bình của anh. Xin anh cho em được làm bạn. Có thêm một người bạn tốt, cảm thông, chia sẻ, cuộc sống của mình sẽ nhẹ nhàng hơn”. Trời, hay như vậy làm sao tôi từ chối?

Giọt nắng bên thềm tỏ ra là một cô gái rất thông minh, tinh tế, đặc biệt qua những câu chat riêng tỏ ra rất hiểu tôi. Em nói mới 30 nhưng đã một lần dang dở. Em nói mới chơi Phây nên rất ngại việc phơi bày rộng rãi cảm xúc riêng tư. Không hiểu sao em lại tin tôi và rất thích trò chuyện với tôi, nên xin được tạo group riêng hai người. Thấy không hại gì, tôi… nhận lời. Từ đó thỉnh thoảng tôi lại được xem những tâm trạng buồn vui của Giọt nắng , những tấm hình Giọt nắng thật đẹp trong những bộ quần áo thời trang, kể cả bikini gợi cảm trên bãi biển… Tôi bắt đầu chat thường xuyên với Giọt nắng , điều lạ là em chỉ chat vào ban ngày, lúc tôi đi làm. Em xin lỗi tôi, nói là ban đêm không tiện, sẽ giải thích với tôi sau. Càng ngày em càng tỏ ra có tình cảm với tôi, hôm nào em không lên Phây, tôi cũng thấy thiêu thiếu, nhơ nhớ.

Một hôm bất ngờ em nhắn: “Chắc em không chơi Phây nữa, hoặc sẽ bỏ group của mình và lock anh luôn. Em nghĩ đến anh nhiều quá! Mà anh thì đã có gia đình… Em rất ngại… ”. Tôi hốt hoảng: “Đừng em! Không sao đâu, không có chuyện gì đâu. Mình chỉ là bạn trên Phây thôi mà…”. “Nhưng em cứ nghĩ đến anh và muốn gặp anh. Em không thích chỉ làm bạn ảo của anh. Anh có cho em gặp không? Em muốn mời anh ăn sáng uống cà phê, từ nay mình sẽ trò chuyện ngoài đời thỏa thích với nhau…”.
Bạn nghĩ tôi có thể từ chối lời mời ấy được không?

Và tại quán cà phê Chiều tà thơ mộng, tôi đã gặp Giọt nắng bên thềm. Đó chính là… vợ tôi!

Hix! Với sự hướng dẫn tích cực của cô dâu tương lai tuổi Ngọ, nàng đã sử dụng Phây-búc thành thạo và cho tôi một vố nhớ đời…
Vĩnh biệt Phây-búc!

NGUYỄN ĐÔNG THỨC

Một người Nha Trang


(Ảnh sưu tầm trên mạng)

Một cách gần gũi, người ta gọi đó là Lầu Ông Tư, để chỉ ngôi nhà ba tầng lầu kiến trúc hình hộp giản dị nằm cuối con đường biển, gần giáp với cửa sông, bốn mặt thông thoáng lộng gió. Nhà ông ở đầu Xóm Cồn, bên kia sông là Xóm Bóng, nơi những ngư dân đầu tiên của vùng đất này ngụ cư bám biển sinh nhai. Ngôi nhà đã sừng sững nơi đây từ đầu thế kỷ 20, khi mà suốt dọc con đường biển còn hoang sơ này chưa hề có bóng lưu dân mà chỉ có rải rác những dinh thự, tu viện, tòa hành chính…
Khi tôi lớn lên thì Lầu Ông Tư vẫn còn nguyên hiện trạng, mỗi lần đi ngang tôi đều được nghe cha nhắc, ngày xưa đó là nơi ở của ông Tư Yersin, nhà bác học người Pháp gốc Thụy Sĩ. Rồi biết thêm, chính là cái ông pho tượng màu đen trong khuôn viên viện Pasteur cách đó không xa. Theo thuyền viễn xứ vị bác sĩ quân y trẻ đặt chân đến vùng biển hiền hòa này từ năm 1891 khi nó còn chưa có tên trên bản đồ, ông đã một mình sống ở đây như dân bản xứ gần hai phần ba đời người hiến thân cho khoa học, đi đâu cũng quay về lại. Sáng sớm tắm biển rồi đi làm, chiều đạp xe vô trong xóm chơi, ăn con cá sinh ra từ đại dương trước mặt, uống nước giếng từ mạch ngầm, hít thở khí trời hào sảng chung quanh. Một người khi lìa đời để lại di nguyện gởi thân xác nơi nào ắt nơi đó cũng sâu đậm không kém quê hương của mình, thậm chí còn xin được đặt úp sấp vào lòng đất, tay dang rộng. Cha kể, đám tang của ông năm 1943 dân Nha Trang đổ ra bái biệt chật đường, nhiều vành khăn tang tự nguyện, cùng nhau đưa ông về an nghỉ vĩnh viễn trên một ngọn đồi nhỏ ở Suối Dầu. Suối Dầu cách Nha Trang 20km, là nơi ông lập trang trại, phòng thí nghiệm, vừa chăn nuôi lấy huyết thanh, trồng cây thuốc.
Lầu Ông Tư trong ký ức của một đứa trẻ ngày ấy chính là huyền thoại. Đi đâu làm gì hay chỉ đơn giản là cần một cái mốc để xác định phương hướng thì người ta hay nói, chỗ Lầu Ông Tư, phía Lầu Ông Tư, sau Lầu Ông Tư … Các cặp tình nhân của thập niên 50 còn lấy Lầu Ông Tư làm nơi hò hẹn, bởi nơi đó ban đêm trống trải không người ở, lại cao ráo thoáng mát nhìn ra biển rất hữu tình. Sau năm 75 thì Lầu Ông Tư đã bị đập bỏ, thay vào đó là một kiến trúc mới tương đối bề thế hơn làm nhà nghỉ cho Bộ Nội vụ. Vừa thay vỏ vừa thay ruột, nhưng hỏi dân địa phương thì mười người hết chín chẳng biết cái nhà nghỉ nào cả, chỉ biết chỗ đó là Lầu Ông Tư mà thôi. Một trong những con đường đẹp nhất ở Nha Trang được mang tên ông từ thập niên 50 như một sự tri ân, may mắn số phận đã giữ lại được tên bậc vĩ nhân cho nó chớ không âm thầm biến mất như các tên đường Gia Long, Duy Tân, Hàm Nghi…
Một ngày của hơn mười năm trước, tôi và bạn lần đầu tìm đường về thăm mộ người. Từ quốc lộ 1 đi theo con đường đất hẹp rợp bóng cây vài trăm mét rồi ôm theo vòng đồi thấp là tới khu vực ông an nghỉ. Sau cánh cổng sắt khép kín và dãy hàng rào kẽm gai giăng ngang lổn ngổn là một lối đi lát đá phủ đầy lá khô với những bậc cấp thấp dẫn lên phần mộ. Không có ai nơi này, bất đắc dĩ phải trèo rào đạp gai góc chui vô. Ai cũng cảm thấy sửng sốt trước mộ của một vĩ nhân tầm cỡ thế giới, người được nhân loại mang ơn bởi những phát minh làm thay đổi lịch sử y học vì nó quá sức giản dị và khiêm nhường. Khá thấp, vuông vức, trên mặt là phiến đá ghi đúng dòng chữ ALEXANDRE YERSIN 1863-1943, chỉ có vậy, không danh hiệu huy chương học hàm. Một cái thủ kỳ có di ảnh và bát nhang ở cạnh đó mang đậm phong tục thờ cúng của dân địa phương. Hoa sứ trắng thơm ngát và rụng đầy chung quanh. Khung cảnh thanh bình và tịch mịch, cô liêu quạnh quẽ.
Đứng ở nơi này có thể nhìn thấy Hòn Bà mây phủ phía xa xa, có độ cao hơn 1.300m, cách hơn 30 km đường mòn khúc khuỷu và hiểm trở. Ngày xưa khi đặt đại bản doanh ở vùng đất Suối Dầu này chắc không ít lần nhà bác học có máu thám hiểm Yersin nhíu mày nhìn về phương ấy. Có lẽ ông đã nghĩ đến một Đà Lạt thứ hai sau khi đã phát hiện ra viên ngọc tuyệt đẹp này trên cao nguyên Lang biang cho Việt Nam. Và dòng máu phiêu lưu trong ông lại tiếp tục lan chảy, thôi thúc người đi về phương ấy. Chắc chắn khi đó đường chưa mở, không phương tiện xe cơ giới, có lẽ người đã rong ruổi một mình một ngựa trèo đèo vượt suối …
Có bao nhiêu chuyến độc hành gian truân như vậy để đỉnh Hòn Bà ngày nay còn lưu lại bóng dáng của Người?
Tôi đã hình dung ra điều này khi cùng bạn đi lên đỉnh Hòn Bà sau khi vào mộ viếng ông. Cái con đường mòn ấy đi qua sông suối thác ghềnh, đèo dốc thung lũng, rừng rậm nguyên sinh, và cả sự đe dọa của thú dữ, tính từ Suối Dầu lên là dài hơn 30 cây số nay đã được san ủi mở rộng thành đường tráng nhựa trơn tru, sáng sủa. Nhưng có lẽ không khác ngày xưa, khi suốt chặng đường núi hiểm trở vắng vẻ vẫn bàng bạc cái không gian thanh tịnh, lắng đọng, càng lên cao càng mở toang ra phía trước ta một chân trời mới thật sự tinh khiết trong lành.
Trên đỉnh Hòn Bà, tôi đã lặng người khi ngắm nhìn và chạm tay vào những dấu vết mà người xưa đã để lại nơi đây. Biết rằng gần trăm năm trước, nhà bác học lãng mạn Yersin đã chọn nơi này để xây dựng cơ sở làm trạm quan sát nghiên cứu thiên văn khí tượng, và làm vườn sinh học. Nghe nói ông thường xuyên dong ngựa đi về Hòn Bà – Suối Dầu một mình, có khi ở lại trên núi hàng tuần, hàng tháng. Sự hiện diện đâu đây của con người vĩ đại này có thể dễ dàng hình dung ra qua những dấu xưa còn lại, một cái nền nhà bằng đá hoa cương và những bậc tam cấp dày rêu, bể chứa nước, tầng hầm… chớ không phải chỉ ở ngôi nhà gỗ phục chế theo tư liệu. Và có rất nhiều gió ngang qua đây, u u lồng lộng, buôn buốt lạnh, mang theo hương rừng, tiếng rừng, và cả hồn rừng mênh mông huyền bí. Đến tiếng ve, tiếng mang tác, tiếng vượn hú, tiếng chim ríu rít…nghe cũng lạ, cũng gieo vào ta lắm nỗi niềm như chạm người muôn năm cũ.
Giữa trưa đứng bóng vẫn có thể nhìn thấy những sợi mây đang sà xuống, là là bay ngang rất gần. Và sơn lam trắng mờ đang tỏa ra ôm ấp theo triền núi trước mặt, thực mà như mộng ảo. Không gian của núi rừng đã thâm u lại càng thêm kỳ bí, không một bóng người ngoài tôi và người bạn đi cùng, tiếng nói của mình cứ lan ra, lườn lượn là lạ rờn rợn.
Sao nhà bác học có thể sống ở đây một mình, qua từng đêm, từng đêm như vậy?
Nhà văn Patrick Deville viết, “Yersin là một con người đơn độc. Ông biết rằng không sự kỳ vĩ nào được thực hiện ở số nhiều. Ông căm ghét bè nhóm, ở đó hàm lượng trí tuệ tỉ lệ nghịch với số lượng thành viên tạo nên đám đông ấy. Thiên tài luôn đơn độc.”
Cảm ơn nhà bác học thiên tài đã chọn Nha Trang.
Tôi và bạn cũng chẳng ở lại trên đỉnh Hòn Bà quá nửa buổi, phải cùng nhau xuống núi. Người bạn của tôi không phải dân Nha Trang, nhưng trót yêu thương một phụ nữ Nha Trang mà suốt đời cảm tạ miền đất trời quê hương đã sinh dưỡng nàng. Tôi nghĩ, chỉ cần vậy thôi bạn ấy đã là một người rất Nha Trang hơn khá nhiều người nơi này như tôi đã biết.

ÁI DUY

Một lần với anh Hoài Khanh

Tưởng niệm thi sĩ Hoài Khanh, mất ngày 23/3/2016


thi sĩ Hoài Khanh

Tôi nhớ đó là vào những ngày hè cùa 10 năm trước. Bạn tôi, nhà thơ Tâm Nhiên từ Biên Hòa Đồng Nai mời anh Hoài Khanh về Rạch Giá chơi và thế là vài anh em văn nghệ có dịp hội ngộ tại nhà tôi. Rượu bày ra và say túy lúy. Nhà thơ Linh Phương (tác giả Kỷ vật cho em), nhà thơ Tâm Nhiên (du sỹ), nhà thơ Đỗ Ký (Đồng Tháp)… cùng đến chúc mừng chuyến hành phương tây của anh Hoài Khanh.
Lần đầu được diện kiến với bậc đàn anh văn nghệ nầy (Hoài Khanh là bạn thân của thi sĩ Bùi Giáng và nhà thơ Phạm Công Thiện… lúc anh còn phụ trách nhà xuất bản Lá Bối – Sài Gòn) và cũng là bạn thân của nhà thơ Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát… Chuyến về Rạch Giá, anh dự tính ra đảo Lại Sơn, nơi Tâm Nhiên đang dạy học, rong chơi vài ngày. Sức khỏe anh lúc nầy vẫn còn tốt, đôi mắt tinh anh, gương mặt tràn đầy niềm vui chứ không như thi sĩ Phạm Công Thiện diễn tả nét mặt của Thi sĩ Hoài Khanh đầy u ám và gần như là tuyệt vọng mà tôi đọc trong tập hồi ký PCT khi hai chàng gặp nhau ở Đà Lạt vào mùa xuân 1966.

Tính uống vài chai rồi sau đò về nhà Linh Phương chơi tiếp nhưng rồi hứng quá, mấy anh em ngồi xuống đất, cởi trần a lô zô suốt cả buổi chiều. Tôi nhớ những câu thơ thần sầu của anh Hoài Khanh đọc : tôi lẩn trốn vì biết mình không thể… mây của trời rồi gió sẽ mang đi… hay một mai con nước xa nguồn… thì con sông ấy sẽ buồn với tôi… hay tôi đứng lại bên cầu thương dĩ vãng… nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu. Anh cứ ngâm nga suốt chiều hôm ấy.
Anh Hoài Khanh tính điềm đạm, ít nói nhưng hay cười. Anh cảm động vì có nhiều anh em còn nhớ thơ anh. Nhà thơ Linh Phương ít uống rượu nhưng không hiểu sao hôm ấy cũng túy lúy với anh. Vui quá, anh Đỗ Ký lại mang đàn ra chơi. Xóm tôi dân lao động, thấy mấy ông nhà thơ say quắc cần câu, í a í ới vui quá nên tụ lại thành đám đông, vỗ tay rần rần. Và có dịp cho thi sĩ Tâm Nhiên đứng lên múa may quay cuồng du sĩ ca… giống hệt Bùi Giáng.
Sáng hôm sau, anh rủ tôi, Linh Phương và Đỗ Ký xuống tàu ra đảo Lại Sơn (cách Rạch Giá khoảng 50 hải lý) cùng với Tâm Nhiên. Lúc bây giờ là mùa hè, ngoài đảo khan hiếm nước ngọt. Mỗi người phải mang theo một can nước ngọt 20 lít xuống tàu để uống và rửa mặt, rất khó khăn. Con gái tôi sáng hôm ấy lại trở bệnh nên tôi không đi được cùng anh. Thật tiếc. Đưa anh xuống tàu, trên đường vào bệnh viện thăm con, tôi cứ tự trách mình… Nhưng biết làm sao được.
Từ hải đảo, Tâm Nhiên điện về cho tôi, báo tin anh Hoài Khanh ra chơi vui lắm. Du sĩ đưa anh rong chơi khắp đảo, non xanh nước biếc, sơn thủy hữu tình nên anh Hoài Khanh cứ tấm tắc và ước gì được nhiều lần đến đây. Nhưng cái khoảng nước ngọt thì gay… Mấy ngày không có nước ngọt tắm gội, khó chịu quá nên chỉ 2 hôm ra đảo là Hoài Khanh không chịu nổi, phải đành khăn gói về đất liền.
Tôi đón anh ở bến tàu Phú Quốc rồi sau đó cùng rủ vài anh em văn nghệ địa phương ngồi nhậu trước nhà Linh Phương. Anh im lặng, chỉ cười nên anh em hứng lên đòi anh đọc thơ cho nghe. Anh ngồi suy tư, đôi mắt đầy tâm trạng. Cuộc chơi đến khoảng 8 giờ tối. Anh rủ tôi cùng xuống khu lấn biển gần đó, hai anh em ngồi tâm sự.
Không bao giờ tôi quên được đêm ấy. Cũng nhắc là bấy giờ, tôi đang bị Hội văn nghệ địa phương đánh tơi tả về một sự cố văn nghệ, quy chụp về chính trị mà tôi và nhà thơ Linh Phương là nạn nhân (tôi sẽ không kể ra đây nhưng chỉ biết sau đó tôi và Linh Phương bị khai trừ ra khỏi Hội văn nghệ cho đến giờ).
Anh ít nói là thế, mà khi ngồi cùng tôi, anh bỗng nói nhiều, tôi không kịp ngắt lời. Như nắm được toàn bộ câu chuyện từ khi nào, anh tâm sự với tôi về anh, về những ngày gian khổ sau cải tạo ở Biên Hòa, nơi anh tự đặt tên mình là Hành Khoai (tức Hoài Khanh) – có nghĩa giờ chỉ còn biết cuốc đất, làm vườn, xa lánh thị phi, từ bỏ các hội đoàn, nếu còn viết thì chỉ cho mình đọc, không gửi bài cho bất cứ ai mà cũng không trông chờ vào lòng thương của người khác. Không hiểu anh muốn an ủi tôi không về sự cố không may trong đời nhưng tôi biết, anh muốn chia sẻ với tôi về sự việc đáng buồn của cuộc đời tôi.
Anh kể tôi nghe nhiều về đời anh, về thơ anh. Tôi hiểu và điều nầy không biết đúng không. Anh cô đơn quá, cô đơn hơn bất cứ nhà thơ nào (giờ tôi đọc lại Phạm Công Thiện viết về anh, mới hiểu điều ấy). Cô đơn đến tận những giấc mơ, như lời anh kể cho tôi và rồi anh kết luận: làm nhà thơ là phải đối diện với cô đơn… sáng tạo của người nghệ sĩ chỉ đến từ cô đơn thôi, Phúc ạ…
Hai anh em ngồi nói chuyện cho đến 1 giờ khuya. Qua chuyện đời anh, tôi biết nỗi buồn mình chỉ như hạt cát và nguôi ngoai dần.
Biết tôi nghiện thuốc, hôm về Biên Hòa, anh mua tặng tôi cây thuốc hút. Tôi đưa anh vào nhà sách Đông Hồ gần đấy mua cuốn tuyển tập Những truyện ngắn hay của báo Tuổi trẻ có bài của tôi tặng anh. Mấy ngày sau, từ Biên Hòa, anh gửi tặng tôi cùng nhà thơ Linh Phương vài tập thơ của anh. Và từ đó, tôi không được gặp anh nữa. Tôi nhớ hoài gương mặt khắc khổ và mái tóc dài của anh lấp lánh đôi mắt thông minh từ chiếc mắt kiếng hầu như che trùm khuôn mặt.


Nhà văn Trần Yên Hòa bên giường bệnh thi sĩ Hoài Khanh

Những ngày anh sắp mất, đọc trên các số báo, biết tin nhà văn Trần Yên Hòa ở hải ngoại có về thăm anh. Nhìn hình chụp anh bệnh nằm trên giường mà tôi không cầm được nước mắt và càng trân quý tình cảm, tấm lòng của anh em bạn bè văn nghệ khắp nơi vẫn còn nghĩ về anh.
Giờ thì anh đã đi xa. Viết cho anh những dòng nầy như một tưởng niệm đẹp về người nghệ sĩ tài hoa nhưng đầy lận đận. Như một nén nhang thắp trên bàn thờ anh nhân 3 năm anh rời cõi tạm.
Thương anh, nhớ anh, anh Hoài Khanh ơi…

Nguyễn Minh Phúc

VÀI KỶ NIỆM VỀ NHẠC VŨ THÀNH AN.

1. Tôi biết đến nhạc Vũ Thành An từ năm 1969 khi đang học dự bị MPC Đại học Khoa học Đà Lạt. Hè năm ấy, SV Đại học Đà Lạt được gửi xuống Quân trường Lam Sơn gần Dục Mỹ, cách Nha Trang 45km để học quân sự trong chương trình Quân sự Học đường, chuẩn bị kiến thức cho SV khi phải cầm súng.

Từ Đà Lạt, vào phi trường Cam Ly đi máy bay C123 xuống phi trường Nha Trang rồi xe quân sự chở ngay ra Lam Sơn. Chương trình kéo dài 5 tuần lễ, học các kiến thức quân sự căn bản để trở thành một người lính như sử dụng vũ khí, bắn súng, chiến thuật, cách đọc và dùng bản đồ địa hình . . . Nam SV các khoa sắp xếp thành một tiểu đoàn, mỗi khoa là một đại đội, học hành, ăn ở như một tân binh quân trường.

Hôm ấy chúng tôi học chiến thuật vào ban đêm. Sau bữa cơm chiều, trước giờ học, tiểu đoàn đốt lửa trại sinh hoạt, anh tiểu đoàn trưởng là SV năm tư Chính trị Kinh doanh lên hát góp vui bài “Tình khúc thứ nhất” của Vũ Thành An. Giữa núi rừng đêm, bên ánh lửa bập bùng, tiếng đàn guitare thùng và giọng hát trầm ấm của anh lôi cuốn tôi – một người yêu âm nhạc, biết và thuộc khá nhiều nhạc tiền chiến, dân ca và cả giòng nhạc Bolero 1960-65 – một cách khá đặc biệt, nhất là khi luôn trong tâm trạng nhớ nhà, nhớ thành phố, không người tâm sự ngoài bạn học cùng lớp nay trở thành đồng đội. “Tình vui, theo gió mây trôi, ý sầu rơi xuống đời. Lệ rơi, lấp mấy tuổi tôi mấy tuổi xa người. .”, “Tình vui, trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời, “Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai. . .” những câu hát cứ làm tôi bâng khuâng, xao xuyến mà không hiểu vì sao?.

Năm sau về Huế học, tôi có nhiều dịp nghe nhạc của người nhạc sĩ tài hoa này và thuộc được khá nhiều “bài không tên” bên cạnh bài “Tình khúc thứ nhất”. Khi biết rằng có hai bản nhạc Vũ Thành An phổ thơ Nguyễn Đình Toàn (“Tình khúc thứ nhất” và “Anh đến thăm em đêm ba mươi”sáng tác khi đang ở Dưỡng Trí Viện Biên Hòa) tôi càng thích thú hơn vì tinh thần triết Đông với tư tưởng “Âm trung hữu dương căn/ Dương trung hữu âm căn” thấm đẫm trong từng ý nhạc.

2. Năm 1973, tại đêm sinh hoạt Đại Hội Liên Đoàn SV Công Giáo Huế, tôi mới được gặp Vũ Thành An. Anh cao lớn, đẹp trai, râu quai nón, với giọng Bắc trầm ấm, anh hát hai bài tặng những người có mặt “và riêng tặng các chị cư xá Mai Khôi”(Cư xá Jeane D’Arc ngày ấy). Đó là “Anh đến thăm em đêm ba mươi” và một sáng tác mới “Một lần nào cho tôi gặp lại em”. Được gặp một nhạc sĩ mình mến mộ, được nghe anh hát, với tôi là một hân hạnh. Có lẽ đây cũng là tâm trạng chung của những người sinh viên yêu âm nhạc ngày ấy. Hãy tưởng tượng, bạn đến thăm nàng “đêm ba mươi”, tận cùng năm, tận cùng tháng, tận cùng ngày, không gặp nàng nên phải “nói với người phu quét đường, xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”. Lãng mạn và đa tình quá phải không?

3. Từ một “Phó tế” ở Mỹ, Vũ Thành An về Việt Nam theo đuổi một số công việc từ thiện. Dịp này, Vũ Mạnh Hà phỏng vấn ông và gửi cho BBC Vietnamese (*) mà tôi có duyên được đọc. Từ đây, điều ngày xưa nhóm bạn chúng tôi thường nhận định về ông được xác nhận: ông là người “khổ vì tình”. Điều này thể hiện qua nhiều tình khúc của ông, nhất là qua chuỗi những “Bài không tên”. Những trích dẫn dưới đây trong ca từ của một số bài nói lên điều này: (số đứng đầu mỗi đoạn trích là số của các “bài không tên”).

3. Đêm sâu mái tóc em dài
Buông xuôi, xuôi theo dòng đời
Mà đời dài như tiếng kinh cầu
Còn sầu mang đến cho nhau

4. Triệu người quen có mấy người thân
Khi lìa trần có mấy người đưa?

5, Hãy cố yêu người mà sống
Lâu rồi đời mình cũng qua

6. Chờ nhau, xót xa chờ nhau, hắt hiu chờ nhau,
Năm vàng ngày héọ

7. Bao nhiêu mộng mơ đó
đã tan theo một cơn gió
bơ vơ dòng tóc vỡ
trôi dạt về bến nghìn đời.

Khi được hỏi có phải ông khổ vì tình, Vũ Thành An nói: “Cuộc đời của tôi khổ vì tình chứ. Mình thất tình. Tất cả là tôi thất tình không à. Là khi yêu mình không lượng sức. Mình đặt niềm tin vô quá cái sức của mình, nên là mình thất bại thôi”

Bốn câu trích trong 4&5 là những câu bây giờ người ta hay dùng để nói với nhau khi trong câu chuyện có nội dung phù hợp cho thấy sức cuốn hút trong âm nhạc của ông cũng như việc nó đi vào lòng người yêu nhạc là điều không thể chối cải, chỉ là tính quảng đại của nó hẹp hơn nhạc Trịnh Công Sơn.

4. Qua bài phỏng vấn tôi được biết thêm là trong bài không tên cuối cùng ông viết năm 1965 và đến 1991 viết lời 2 “Bài không tên cuối cùng tiếp nối” có sửa chữa nội dung vì sợ hại cho người ngày xưa ông yêu. Mời các bạn đọc đoạn trả lời dưới đây thay cho lời kết của bài viết này:

“Cái ý chính là thế này, Bài không tên cuối cùng tôi viết: “Con đường em đi đó đúng hay sao em/ Mưa bên chồng có làm em khóc/ Có làm em nhớ những khi mình mặn nồng…” Thì cũng hay nhưng nó lại hại cho người đó. Tự nhiên người ta cứ đi chỗ này chỗ kia hát như vậy thì đương nhiên sẽ ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình của cô đó. Ông chồng đó cứ nghe cái đó là nổi nóng lên.

Cho nên tôi hối hận là đã viết câu đó. Nhất là trong thời gian tôi cải tạo từ 1975 cho đến 1985. Nhưng đến khi tôi được ra, được tự do nói lại, thì tôi nói thêm một cái lời như lời xin lỗi cùng người bạn đó: “Này em hỡi con đường em đi đó/ Con đường em theo đó đúng đấy em ơi/ Nếu chúng mình có thành đôi lứa/ Chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau…”.

PS: Khi tôi tìm thêm một số thông tin cho bài viết này thì được biết thêm rằng, ca sĩ Lệ Quyên mà tôi từng ca ngợi trong vài bài viết về cô và giòng nhạc Bolero cũng là người “mê” và thành công với các nhạc phẩm của Vũ Thành An. Tôi thật sự vui vì điều này.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

Sài Gòn tháng 3/2019

(*)https://www.bbc.com/vietnamese/world-47550216

SÁCH DỌC ĐƯỜNG ĐỜI (trích)

Những năm 1990, ở các bến xe đò thường thấy có những người bán sách dạo. Họ ôm bằng hai tay một chồng sách cao gần tới cổ, rảo quanh bến xe mời khách mua sách. Sách gồm những tựa dễ đọc, tác giả dễ đọc. Nếu không là truyện của Hồ Biểu Chánh, thì là những cuốn sách giật gân ăn khách hay ly kỳ hấp dẫn kiểu như “Vụ án đêm giao thừa”, “Lửa hận rừng xanh”, “Một thời ngang dọc”. Ai cần mua cứ gọi họ đến ngay, đặt chồng sách xuống, tay rút vài cuốn đang ăn khách để mời. Khách sẽ chọn một cuốn ưng ý để giết thời giờ trên chiếc xe đò liên tỉnh chạy chậm rì. Lâu lâu có người mua vài cuốn làm quà cho người ở quê. Kiểu bán sách dạo này không phổ biến so với bán báo dạo, nhưng không phải mới mẻ mà đã có từ lâu

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong bài viết “Kỷ nguyên tiêu thụ và nghề viết văn” (giai phẩm Bách Khoa số kỷ niệm 16 năm và Xuân Quí Sửu 1973) kể là quê ông ngoài miền Bắc ngày xưa còn có những người bán sách dạo mà ông thấy chỉ được một hai lần. “Họ gánh một đôi bồ chứa đầy sách ghé vào nhà bác tôi ở quê. Có lẽ mỗi năm họ mới ghé một lần, bán sách thì ít mà đổi sách thì nhiều: đổi sách lấy giấy đã viết rồi để ra tỉnh bán ra cho những nhà làm lọng làm quạt. họ cũng như hạng người di mua giấy báo cũ bây giờ. Về sau số người cần sách mỗi ngày một hiếm, họ không đổi sách mà đổi kẹo mạch nha lấy giấy: rồi sau nữa người học chữ Nho mỗi ngày một hiếm, giấy cũ cũng không có, nghề đó dẹp luôn”.

Trong báo Sài Gòn, Số 14344, ra ngày 8 Tháng Tư 1940, bài viết “Nghề xuất bản sách” (không ghi tên tác giả) cho biết tình hình bán sách báo lúc đó đang ế ẩm, chán ngán nhưng thực tế có hai người biết cách bán sách rất chạy dù không làm xuất bản. Đó là hai ông Phạm Đình Khương và Phạm Văn Thình. Hai ông chỉ phát hành thơ, truyện, tuồng, bài ca thôi mà làm ăn khấm khá. Khắp các chợ nhỏ từ thành thị ở thôn quê đều có tiệm bán sách của hai ông. Các loại sách này thường để chung các đồ vật vụn vặt của người bán dạo bày trên chiếc chiếu trải dướt đất: dao, kéo, gương soi, thuốc phong tình, thơ Chàng Nhái, vọng cổ ân tình v.v… Tác giả đi xuống Cà Mau thấy có năm người bán sách của hai ông này. Còn ở chợ các tỉnh khác ở miền Nam có khá đông người hai bên dãy phố quanh chợ. Ông tả: “nhiều nơi, họ choán một góc trong nhà chợ, dăng dây bốn phía và treo loại sách này lên như thầy pháp lập đàn trận. Những tranh bìa các sách này sặc sỡ, màu in phủ tràn, nét vẽ ngoằn ngoèo, người không ra người, nhà không ra nhà, cây không ra cây, như bùa chú của pháp sư phá đàn, trông rất buồn cười. Anh chèo ghe, người phát cỏ, người bán hàng gánh đều có thể mua được, đọc được, ngâm nga được”.

Tác giả cho biết thêm là cả hai “nhà xuất bản” này tái bản mỗi cuốn hơn năm lần, mỗi lần 2 ngàn cuốn, tức một cuốn thơ bán ra mười ngàn cuốn, bán gái 5 xu, một cắc hay lên tới hai cắc tùy cuốn. Người mua về bán lại, theo giá trăm, tức giá sỉ. Họ mua mỗi lần cả trăm cuốn, “lạm xạm đủ thứ”, nhất là bài ca bán rất được.

Về cách trữ sách trong nhà, nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong bài viết dẫn ở trên kể ngày xưa, hầu như là sách chữ Hán, ở miền Bắc khoảng thập niên 1920: “Hồi tôi còn để chỏm, nhà tôi không có tủ sách mà chỉ có hai cặp sách. Cặp sách của chúng tôi cao độ tám tấc gồm bốn cái cọc một tấm ván gọi là đế, bề mặt bằng khổ tờ giấy bản gấp đôi, nghĩa là chiều dài độ ba tấc, chiều ngang hơn hai tấc (tôi nhớ phỏng chừng như vậy), đóng hai quai để treo lên, hoặc xách hoặc khiêng, thêm một tấm ván nữa ở phía trên để dằn sách xuống. Khi đổi chỗ ở thì có người gánh, y như trong truyện Kiều: “Túi dàn cặp sách đề huề dọn sang”. Một cái cặp như vậy chứa Tứ thư ngũ kinh, ít bộ Bắc sử và bộ Khang Hi tự điển thì vừa đủ. Còn cái nữa chứa một ít sách thuộc, địa lý (tức sách phong thủy), tử vi, bói, vài bộ ngoại thư: Tình sử, Liêu trai, Đường thi, Tống thi, Văn tâm Điêu long và ít cuốn sách Nôm: Kiều, Hoa Tiên”.

Ông kể có một ông bác chỉ có hai cặp sách gồm sáu bảy chục bộ mà đã nhiều sách nhất Tổng. Khi ấy muốn mua sách thì xuống Hà Nội đến một tiệm ở phố Hàng Gai. Khoảng năm 1925 ở đó còn có dăm bảy tiệm bầy những sách in mộc bản ở trên một tấm phản kê hơi cao. Có chừng trăm thứ sách rẻ tiền, còn sách quí cất riêng ở trong. Ít năm sau các tiệm đó cũng dẹp luôn, thay vào là những tiệm bazar.

Trên đất nước có khi hậu nóng ẩm, sách trong tủ thường phải đem ra phơi. Báo Phụ Nữ Tân Văn, Số 198, 4 Tháng Năm 1933 có bài Tản văn “Phơi sách” của Phanh-Ni khá điệu đàng, có đoạn: “Lại ngồi trên chiếu, chung quang ngỗn ngang những sách chinh chòng, tôi ngó qua một vòng, hay trong lòng hơi cảm động như đi tình cờ gặp lại bạn cũ, mắt nhìn nhau chan chứa cảm tình. Bao nhiêu sách gợi bao nhiêu ngày xưa, bao nhiêu tình cũ. Có đủ cả sách đấy: sách bằng thưởng cuối năm ở trường học, từ lớp nhỏ đến lớp lớn, sách in đẹp thay, sơn son thếp vàng, trên bìa đầy những bông hoa chạy lẫn chỉ vàng, cầm lên lại bâng khuâng nhớ những ngày… những ngày xưa, buổi mình đưa tay lãnh sách, trái tim đập mạnh như vỡ ra nhồi máu trong đấy như xung hết lên mặt, nóng đến hai tay…”. Bà Tùng Long, nhà văn nữ viết truyện xã hội nổi tiếng trước 1975 kể trong Hồi ký về thú đọc sách của mình hồi còn nhỏ trong gia đình. Có cha là công chức Sở Thương chánh thích đọc sách báo và có viết bài gửi cho báo Nam Phong, Hữu Thanh, mua rất nhiều sách báo nên bà may mắn từ nhỏ đã sống với sách báo thơ văn. Sách của người cha để đầy các tủ, mẹ của bà lãnh phần chăm sóc đống sách báo không để mối mọt gặm nhấm. Mỗi tháng một lần, người mẹ chọn ngày nắng ráo đem sách ra phơi, bà Tùng Long còn làm một bé gái lãnh phần trông sách. Vừa trông vừa đọc báo, đọc sách có khi say mê đến nỗi ngồi ngoài nắng mà không biết.

Đối với những người có điều kiện kinh tế, sách báo được mua về vẫn được xem là thứ vật chất quý giá để giữ gìn. Tôi có đọc câu chuyện trong một cuốn bút ký sau 1975, về một anh trí thức Sài Gòn nhà giàu Tây học bỏ nhà theo kháng chiến. Nói về sự kiên quyết dứt bỏ giàu sang của anh ta, tác giả kể anh không hề tiếc ba thứ là ngôi biệt thự, cái tủ rượu và một tủ sách đồ sộ. Bộ ba này được coi là những thứ phong lưu bậc nhất mà người thời ấy có được.

***

Trong gia đình tôi, hầu như ai cũng thích đọc sách từ ba mẹ đến các con, dù đã đi làm hay còn đi học. Tuy vậy, cách nay năm mươi năm, số sách trong nhà chỉ độ vài chục cuốn đọc đi đọc lại. Quý nhất chỉ là vài bộ truyện Tàu, bộ Việt Nam Thi nhân tiền chiến, vài tập thơ và vài sách bình luận văn chương của ông anh học Văn khoa. Góp chung chỉ đủ một kệ sách dài khoảng hai mét. Chỉ nhờ các tiệm cho mướn sách, từ giữa thập niên1960 anh em chúng tôi mới có thể đọc được nhiều sách.

Sinh thời, ba tôi còn giữ ký ức về chợ sách trên lề đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần khu chợ Đũi) khoảng 1954. Đọc cuốn Một mảnh tình riêng của nhà văn Sơn Nam, thấy ông cũng nhắc tới chợ sách lề đường này và cho đó là “nét đẹp nhất vào màn chót của việc chấm dứt một thế kỷ đô hộ của người Pháp”. Ở đó bán nhiều cuốn sách quý một thời của những người sưu tập cất trong thư viện gia đình, mạ chữ vàng. Ông kể : “Nhiều quyển nhất là sách khảo cứu bán rẻ, thí dụ như sách cơ bản để tham khảo về văn minh Chăm, điện Ăng-ko, đạo thiền, toàn tập văn chương của những bậc lừng danh Pháp, hoặc Đức, Anh dịch sang chữ Pháp. Sách của những luật sư kỹ nghệ gia Pháp từng lưu trú lâu đời ở Sài Gòn, già rồi họ về xứ để nhắm mắt. Lại còn sách lấy ra từ các thư viện các câu lạc bộ sĩ quan Pháp, câu lạc bộ thể thao, đồn điền cao su”. Đây là cơ hội hiếm hoi để sở đắc những cuốn sách đẹp và quý với kỹ thuật đóng sách cao cấp hơn hẳn thời sau này. Tuy vậy, dù là sách vỉa hè, dù giá bán rẻ hơn trước nhưng theo ba tôi, giới bình dân không mua nổi vì giá vẫn còn khá cao so với thu nhập của họ.

Đầu thập niên 1960, đại lộ Lê Lợi trở thành thiên đường của giới ham đọc và ham học. Ở đó, ngoài khu bán sách vỉa hè phía bên vỉa hè gần nhà thương Sài Gòn và các quán bán sách báo và bưu ảnh, còn có khoảng chục nhà sách, lớn nhất là Khai Trí, và các nhà sách Tự Lực, Việt Bằng, Vĩnh Bảo, Dân Trí, Khai Trí, Phúc Thành, Lê Thành Tuân, Việt Hương, Nguyễn Văn Trung, Văn Hữu, Lê Phan, Hoa San, Thu Tâm… Người đọc lúc ấy ra đến đó là mê mẩn, nhưng mua phải dè sẻn. Nhà sách Khai Trí có cho đọc tại chỗ nên có rất nhiều người tranh thủ coi cọp, tranh thủ nạp cho nhanh cho nhiều chữ nghĩa vào đầu không mất tiền.

Trong hành lang Eden khoảng thời gian này có ba nhà sách bán sách báo ngoại quốc, nổi bật là một tiệm sách tiếng Anh tuy nhỏ nhưng khá nổi tiếng lấy tên là Book Shop. Lúc đó, phong trào học Anh ngữ đang lên, người Sài Gòn đến học các trường tư dạy tiếng Anh để mong tìm được việc làm thư ký hay phiên dịch ở các hãng buôn ngoại quốc, các sở thông tin hay các tòa Đại sứ Anh Mỹ. Lúc đó chỉ có sách dạy tiếng Anh cho người Pháp, người Mã Lai, người Thổ Nhĩ Kỳ .v.v… Hiệu sách này ra đời đáp ứng như cầu đa dạng hơn về sách tiếng Anh. Được nơi thành lập là Hội Ái hữu Phụ nữ Hoa Kỳ đứng ra nhập sách báo xuất bản tại Mỹ về Việt Nam, hiệu sách có đủ các loại: Tiểu thuyết best-seller trong năm, sách khảo cứu đủ loại từ làm vườn, trang hoàng nhà cửa, nuôi con… cho đến sách hội họa, văn chương, chính trị. Ngoài ra, có cả các tuần san, nguyệt san như Life, Saturday’s Evening Post, Esquire, Photography v.v… Riêng sách học tiếng Anh có đủ sách dành cho các cấp độ, từ Tự điển bỏ túi cho đến Bách khoa từ điển. Tuy nhiên mỗi tựa sách ngoại ngữ nhập về đây không nhiều lắm nên chỉ một thời gian ngắn là hết veo.

Các cuốn sách quý thật sự trở thành của cải, có giá trị mua bán trao đổi trong giới đọc và chơi sách. Trong thư viện gia đình của dân chơi sách tầm cỡ, thường là khá giả trở lên, sở hữu nhiều sách giá trị mà nhà sách hay có khi thư viện không có, hoặc không phong phú bằng.

Hồi mới lớn, sau 1975, tôi có dịp vào hai ngôi nhà mà cả nhà đã bỏ ra nước ngoài. Một ngôi nhà trong cư xá Nha Trước bạ ở Phú Nhuận của một bác sĩ, có phòng tập thiền bằng gỗ và một tủ sách nhỏ ở phòng khách. Tủ sách toàn những cuốn dày như “Papillion, người tù khổ sai”, “Tội ác và hình phạt”, “Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống”, bộ “Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển”, cuốn “Tình em vỗ cánh” cùng nhiều cuốn tạp chí Thời Nay. Lần đầu tiên tôi được cầm những cuốn sách đó trên tay, mới toanh và cứng cáp, không bị đóng kẽm cứng ngắt đến mức đọc mất chữ gần phía gáy sách như các tiệm cho mướn sách hay làm. Tuy mê mẩn nhưng tôi chỉ dám mượn một cuốn để đọc. Sau đó, nó nhanh chóng vơi bởi những người giữ nhà không thích đọc sách mà dùng vào việc khác, chỉ một tháng sau đó. Tủ sách thứ hai ở một ngôi nhà phố trong hẻm của người Hoa trong Chợ Lớn. Buổi tối đứa bạn trong xóm có người chị làm ở cơ quan tiếp nhận nhà người bỏ ra nước ngoài rủ tôi đến đó tìm chị nó. Chị biết tôi thích sách nên bảo là sách chủ nhà để lại nhiều lắm, thích thì cầm về. Tôi háo hức vào xem, hoa mắt nhìn các dãy kệ có rất nhiều sách art books, các tập tranh Hoa điểu, đồ sứ cổ, đồ gốm và đồ gỗ kiểu xưa bên Tàu. Tôi chọn một cuốn vẽ các loại khủng long in màu rất đẹp, sách tiếng Hoa in ở Hồng Kông. Về nhà, giở cuốn sách dưới ánh đèn, tôi thấy rớt ra một tấm ảnh chụp năm người, hẳn là một gia đình có hai vợ chồng, cô con gái lớn và hai cậu con trai nhỏ hơn. Trong hình, cả nhà ăn mặc đẹp, dáng vẻ phong lưu và nền nếp. Tôi vẩn vơ nghĩ về gia đình đã ra đi ấy. Hẳn là ngày xưa họ đã có những ngày sống hạnh phúc bên nhau, đã có những buổi tối trong căn nhà đó, có hai cậu con trai được người cha chỉ xem và giải thích từng bức tranh các loài bò sát cổ đại trong sách. Tủ sách này hẳn đã được chắt chiu góp nhặt trong nhiều năm và là trung tâm của đời sống tinh thần của gia đình này, để rồi cuối cùng phải bỏ lại.

Tôi biết trên thế giới này, có rất nhiều người không cần đọc sách vẫn có cuộc sống hạnh phúc hay yên ổn cả đời. Nên viết về chuyện đọc sách, mua sách, khen chê cái hay cái dở trong một cuốn sách hóa ra chỉ trong thế giới những người đọc sách. Tản mạn về thú đọc sách là muốn chia sẻ điều mình nghĩ trong thế giới chỉ dành riêng cho ai tìm đến niềm vui, sự thức tỉnh và thổn thức trước những trang sách.

Phạm Công Luận

VÀI KHÁI NIỆM VỀ VIỆC DÙNG CHỮ TRONG THƠ

CÁC KHÁI NIỆM
Vài khái niệm cần thiết cho việc dùng “chữ” trong thơ: [1]
1. Theo Nguyễn Anh Khiêm (Ký Ức Sơ Sài) thì tiến trình ngôn ngữ như sau: Đủ chữ/ đủ ý: Thoại –> đủ chữ/ nhiều ý: Văn –> ít chữ/ nhiều ý: Thơ.
Do vậy trong thơ càng ít chữ mà càng nhiều nghĩa thì thơ càng hay; không cần phải ầu ơ ví dầu ,”hoa lá cành” cho dài ra, làm bài thơ loãng, dễ chán.

2. Theo tôi: Trong văn chương, dùng chữ bình thường, bình dị mà đủ nghĩa tốt hơn dùng chữ hoa mỹ mà vô nghĩa, sáo rỗng. Tuyệt nhất là dùng chữ bình thường mà tạo được nghĩa bất thường.
Đây là ý kiến của Nguyễn Thị Thảo An
[…Dùng những chữ đời thường đôi khi nghe ngô nghê, tưởng chừng như không thể là ngôn ngữ thơ, nó là ngôn ngữ trẻ con, của vỉa hè,… nhưng nếu biết đặt đúng vị trí nó sẽ trở thành những “viên ngọc” sáng lóng lánh, làm nổi bật ý nghĩa của câu thơ.
Ví dụ: “Đem thân làm gã tù lưu xứ/ Xí xóa đời ta với đất trời”. Chữ “xí xóa” là chữ của trẻ con, thế mà đặt ở câu thơ này thật tuyệt]

3. Trong văn, văn phạm phải rõ ràng và chữ thường có một nghĩa chính xác. Ngược lại trong thơ, sự chính xác văn pham đôi khi không cần thiết lắm; chữ càng nhiều nghĩa càng tốt, để người đọc suy đoán theo trãi nghiệm riêng mình. Thơ phải mở ra để độc giả dự phần vào – thơ mở – thì mới hay.
4. “Thơ khác hơn văn xuôi ở chỗ đặt cơ sở trên cảm giác về âm vận, tiết điệu. Cũng thời bao nhiêu chữ, bao nhiêu câu đó, phải lựa chỗ, lựa nơi, thêm chữ nầy, bớt chữ kia, cố sắp xếp làm sao tạo được cái cảm giác bồi hồi cho người đọc. Mỗi chữ, mỗi lời phải xôn xao, nhảy múa, linh động… Từ cái tính chất xao xuyến, chơi vơi đó, nhà thơ dẫn dắt độc giả vào cõi mông lung của cảm giác, chuyện khó như nhảy xuống nước mò trăng” (Võ Kỳ Điền – Vài nét lạ trong thơ Lưu Nguyễn)
5.Một bài thơ hay phải hội đủ ba yêu tố: Vần, nhạc và họa . Thơ hay là phải có vần điệu, nhạc diệu và hình ảnh (họa). Nhờ những điều này, thơ mới dễ đi vào hồn người; thiếu một trong ba thì không thể là thơ hay được.
6. Theo tôi, một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho mình, thấy có cuộc đời riêng của mình trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nó bây giờ không phải của riêng tác giả nữa, mà là của chung, hoặc nói theo cách khác, của riêng người đọc, người đồng cảm. Cùng cái HỒN THƠ đồng cảm này, người đọc có quyền nghĩ theo, dịch theo – nếu thơ tiền nhân – kinh nghiệm đặc thù riêng mình, có quyền diễn đạt theo ngôn ngữ, chữ nghĩa hiện đại riêng mình. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình, do đó sẽ giảm bớt cái hay.
Xin ghi ra những điều tôi tâm đắc về thơ từ Nguyễn Hưng Quốc:
“Thơ mở ra, gợi ra man mác những nỗi niềm tâm sự chung. Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm. Thơ là tiếng nói một người nhân danh tất cả mọi người trong hoàn cảnh ấy, số phận ấy. Nhà thơ chỉ độc quyền được cho mình một cánh cửa. Sau cánh cửa kia là của mọi người.
Trên núi Kính Đình ngày xưa chỉ một mình Lý Bạch ngồi buồn hiu hắt ngắm mây bay chim bay nhưng còn nỗi cô đơn của ông, nỗi cô đơn ấy là của chung của nhân loại. Cả ngàn năm nay, mỗi khi con người lẻ loi trước thiên nhiên thì chợt nhớ lại, đọc lại “Chúng điểu cao phi tận / Cô vân độc khứ nhàn / Tương khan lưỡng bất yếm / Duy hữu Kính Đình san”. Ngỡ như nỗi cô đơn và niềm bâng khuâng ấy là của riêng mình. [Nguyễn Hưng Quốc]
7. Là thơ Việt, người thơ phải thủ đắc một số thơ của tiền nhân, căn bản triết lý Đông Phuơng để dùng nó khám phá những hàm ẩn, “ý tại ngôn ngoại” của bài thơ. Người thơ cũng nên học hỏi thêm để biết vài thủ pháp về thơ, biết sơ lược về cách phân tách ngôn ngữ cần thiết cho thơ.
8. Xin lại được ghi ra đây những câu bàn về thơ hay mà tôi tâm đắc của ông Lê Hữu:
[… Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
— Ý tưởng
Câu thơ đẹp thường có mang theo ý thơ đẹp. Ý tưởng mờ nhạt, có mới mà không hay, hoặc có hay mà không mới, thường kém sức hấp dẫn. Ý tưởng cần sáng tạo hơn là vay mượn.
Biệt ly dù ở ga nào,
cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên (Hôm nay, Nguyễn Tất Nhiên)
— Hình ảnh
Hình ảnh tô đậm thêm những tình ý trong thơ. Ý tưởng đẹp, minh họa bằng hình ảnh đẹp, thường đọng lại về lâu về dài trong tâm tưởng người yêu thơ.
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san (Truyện Kiều, Nguyễn Du)
— Âm điệu: Thơ, nhạc và tranh
-Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là âm điệu – vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh…]
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn] [2]
9. Theo tôi: “Cảm nhận đưa tới cảm xúc -tức cảnh sinh tình- rồi cuối cùng đưa tới thơ”, do đó điều quan trọng nhất ở thơ là cảm xúc – “cảm xúc thật” của lòng. Những bài thơ sắp xếp chữ do lý trí do kinh nghiệm có thể hay, nhưng chắc chắn sẽ không có HỒN, nghĩa là sẽ không tồn tại lâu trong tâm tưởng con người.

VỀ VIỆC PHÂN TÍCH VÀ DÙNG CHỮ
Để minh họa những điều nói trên, chúng ta hãy xét sự dùng vài chữ trong các câu thơ sau đây:
Cố hương mất dấu, đoài phương ấy
Vẫn mãi trong tôi bóng nguyệt đầy!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Tôi ở nơi này thương nhớ lắm
Xứ đoài bóng nguyệt vẫn rạng, hay?
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)
Trong các câu thơ này, tôi sẽ lần lượt phân tích 5 chữ: đoài, nguyệt , bóng, đầy và chữ “hay”mà tác giả dùng với chủ ý.
— Nhận xét đầu tiên: Trong các câu thơ trên, có “đoài” mà có cả vầng trăng (nguyệt) chứng nhân. Đoài là hướng tây (giải thích sau).Tây là chữ địa dư giữa bai bờ Đai Dương. Tây còn là phương thương nhớ, vùng ký ức… và còn là cõi về của Nguòi – “về cõi Tây phương” khi chết.
Giờ tôi giải thích trọn nghĩa cách xử dụng các chữ trên:
— Chữ “đoài ” : Trong “Hậu thiên bát quái” của Kinh Dịch, quẻ Đoài nằm vị trí hướng tây (Chấn hướng đông), các nhà Nho – trí thức xưa ai cũng phải nằm lòng để đi thi, nên trong văn chương, nhắc tới đoài là người ta muốn nói tới hướng tây. Hướng tây là hương mặt trời lặn, tượng trưng cho buồn bã, thương nhớ, nhớ về…cũng là hướng của nước Việt Nam nếu nhìn từ Mỹ. Do đó trong câu thơ nó cũng có thể được nghĩ là phương thương nhớ, vùng ký ức, là cõi về đối với người sống ở Mỹ như đã nhận xét trên
Đoài cũng có nghĩa đoài đoạn – “thương nhớ đoài đoạn”.
Đoài ở đây có nhiều nghĩa như vậy với điều kiện: Viết thường – danh từ chung, chứ không viết hoa – danh từ riêng như trong bài “Đôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng.
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
(Đôi mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)
(Chữ Đoài, viết hoa danh từ riêng- ở đây chỉ nhớ người (tên Đoài) hay nhớ quê (tên Đoài) thôi)
Tôi sẽ giải thích rõ điều này sau, ở phần “Viết Hoa Hay Viết Thường”
— Chữ “nguyệt”: Chữ nguyệt – viết thường, danh từ chung – tượng trưng cho trăng, chứng nhân hoặc khuông mặt, người con gái, và xa hơn nữa là khoảng trời xưa cũ, niềm nhưng nhớ.v.v…và xứ sở, quê hương. Chữ Nguyệt – viết hoa, danh từ riêng – it nghĩa hơn, chỉ là tên người con gái (Nguyệt), hoặc tượng trưng cho bóng dáng thân yêu.Có một số người ngộ nhận viết hoa thì Nguyệt mạnh nghĩa hơn, “ấn tượng” hơn; cái gì cũng muốn viết hoa vô tình làm giảm nghĩa. Như đã nói, sẽ giải thích rõ ở phần dưới
— Chữ “bóng”: Ở vị trí này trong câu thơ trên, đồng nghĩa với nó là chữ “ánh” hoặc chữ “dáng”. Tại sao tác giả chỉ chọn chữ “bóng”?
Lý do:
. Chữ “ánh” có thể là rực rỡ, vui tươi… Các câu thơ này là câu “thơ buồn”, nên chọn nó thì không hợp
. Chữ “dáng”: Nếu dùng chữ này – dáng nguyệt – thường được hiểu chỉ là người con gái, ít nghĩa không đúng với điều tác giả muốn nói. Lại nữa dáng là “trung tính”buồn vui không rõ, cảm xúc không hàm ẩn.
. Chữ “bóng”: Đây là chữ mà tác giả nhắm vào, lựa chọn để gởi gắm tâm sự, vì nó chứa nhiều nghĩa và đầy cảm xúc. Bóng nguyệt – nguyệt viết thường – là bóng dáng người con gái, bóng dáng kỷ niệm, bóng dáng quê hương như đã giải thích trên về chữ nguyệt. Bóng thường mờ ảo, buồn. Lại nữa nó liên hệ đến “bong bóng nước”, dễ vỡ nếu không cẩn trong, nâng niu. Chữ đầy cảm xúc đúng theo tác giả mong muốn
— Chữ “đầy”: Ở vị trí này của câu thơ cũng có một chữ tương nghĩa là “gầy” – nguyệt gầy – tại sao tác giả không chọn?
Giải thích:
. chữ “gầy”: “Nguyệt gầy” chỉ tượng trưng cho người con gái. Chữ “gầy” làm ít nghĩa câu thơ
. chữ “đầy”: Hợp với chữ nguyệt và tạo nhiều nghĩa hơn: “Nguyệt đầy”nghĩa người con gái, niềm thương nhớ, chứng nhân, xứ sở, quê hương…vẫn tròn đầy, rực sáng trong tâm
Đó là lí do tác giả chọn chữ “đầy”.

LIÊN HỆ THÊM VỀ NHẠC ĐIỆU, THƠ MỞ…
Sẵn đây tôi liên hệ thêm về nhạc điệu, thơ mở.
— Về nhạc điệu
thử xét các câu:
Ai rồi. như áng mây trôi
Trong tôi vẫn mãi. một thời đã xa!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)
Chú ý chữ “mây trôi”. Gần giống với nó là chủ “mây trời”
– “mây trôi” tượng trưng cho người con gái, cuộc đời … bị đưa đẩy trôi đi, nhưng nó vẫn còn tồn tại.
– “mây trời” nhiều nghĩa hơn: – Nó bao gồm cả mây trôi đi, nhưng cũng có thể mây tan, không còn hiện hữu nữa… Lại nữa, “mây trời” lại có nhiều màu, tùy theo tâm trạng người đọc, do đó ẩn tàng nhiều nghĩa hơn.
– Giữa hai cụm từ nầy còn có nhạc điệu: Ta chú ý thấy “mây trời”2 chữ khác thanh nên nhạc trầm bổng hơn “mây trôi” cùng thanh. Phải liên hệ đến những chữ đứng trước và sau nó , để chọn chọn chữ nào cho nhạc điệu trầm bổng.
Và cũng nên nhớ cái nghĩa của chữ so với ý, tứ bài thơ.
Ở bài này tôi chọn “mây trôi”, ít nghĩa hơn, nhưng vì bóng hình người con gái chỉ xa khuất, vẫn tồn tại; trong khi “mây trời” nhiều nghĩa hơn nhưng không hợp, kể cả nhạc điệu khi liên hệ với những chữ trước sau nó
— Về thơ mở:
Chữ “hay?” trong câu thơ trên tác giả để mở, mời độc giả dự phần đoán: Vẫn rạng hay hết rạng.

Để minh họa rõ thêm về “thơ mở”, mời các bạn xét trường hợp sau:
Đây là 4 câu thơ:
Bất chợt nhớ một câu thơ cũ
Người ngày xưa giờ ở phương nào?
Thương đến thế đôi mình cách mặt
Lòng vẫn đầy mãi chẳng bên nhau!
(Nguyên Lạc tự chế để minh họa)

Ở câu cuối, ngay vị trí chữ “mãi”, ta cũng có thể dùng chữ “sao”. Thử xét cách dùng 2 chữ này:
— Chữ “mãi”: Tác giả muốn diễn tả nỗi đau, nỗi xót xa kéo dài không ngừng, khắc khoải không nguôi. Câu thơ xác định, xem như sự đã rồi, độc giả chỉ bàng quan: Đâu có viết cho tôi!
Có chắc là mãi không trong cuộc đời này? Biết đâu, trong khoảng thời gian tương lai nào đó, một “hạnh ngộ” nào đó thì chữ “mãi” nầy mất bóng. Lại nữa chữ “mãi” nầy trung tính hay nói đúng ra chỉ có chút cảm xúc, vì nó là câu khẳng định.
— Chữ “sao”: Khi thay thế chữ “sao” vào vị trí chữ “mãi”, câu thơ bây giờ là một câu hỏi (?). Câu hỏi này, nỗi đau này, sự xót xa này sẽ kéo dài mãi cho cuối đời người. Nghĩa là chữ “mãi” không dài và nhói đau bằng chữ “sao” .
Câu thơ gợi ra câu hỏi, mời độc giả dự phần vào, đưa tâm trạng của chính mình vào, tự trả lời theo tâm tư riêng mình. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
Lại nữa , câu thơ là câu hỏi, là niềm bâng khuâng, day dứt nên chữ “sao” đầy cảm xúc.
Do những điều này, tác giả chọn chữ “sao”, câu thơ bây giờ như sau:
Lòng vẫn đầy sao chẳng bên nhau?
“Thơ mở” ý là vậy!

VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG?
1.
Để minh họa về phần này, tôi xin được ghi ra đây trích đoạn từ bài viết “VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG” đã đăng trên Web

[…Hãy xét bài ca dao
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Công Cha Nghĩa Mẹ)
Theo tôi, hai chữ “thái sơn” phải viết thường. Thái Sơn (viết hoa) là sai.
Các bạn chắc sẽ hỏi tại sao?
Giải thích:
Vì nếu hai chữ thái sơn viết hoa, chúng ta sẽ đem hữu hạn thế cho vô hạn! Này nhé:
– “thái sơn” (viết thường, danh từ chung) là núi rất lớn, vô hạn (thái= rất bự, rất lớn; sơn = núi). Còn “THÁI SƠN” (viết hoa, danh từ riêng) là một ngọn núi bên Tàu, chỉ cao khoảng 1450 m (đo được, hữu hạn). Vậy nếu viết hoa: THÁI SƠN thì không phải là hữu hạn thay cho vô hạn sao?
– Nghĩa mẹ = “nguồn nước chảy ra vô tận, không dứt”, đối với “THÁI SƠN” (viết hoa: danh từ riêng ) đo được chỉ vài trăm hoặc ngàn mét. So sánh ra thì công cha như số không ! Sao BỘI BẠC VỚI CHA quá thế!
– Còn nếu viết “thái sơn (viết thường: danh từ chung) = lớn, bự vô hạn”, công cha sẽ gần như bằng công mẹ.
Do điều này, ta phải dùng thái sơn danh từ chung (viết thường) . Hai câu đó tôi nghĩ như vầy
Công cha như núi, …… thái sơn (to vô cùng)
Nghĩa mẹ như nước,…. trong nguồn chảy ra (luôn không dừng).
– Xin nói thêm: thái sơn, sơn hà (viết thường, danh từ chung) tượng trưng đất nước, tổ quốc; nếu chúng viết hoa (trở thành danh từ riêng) thì sẽ không còn nghĩa này nữa, mà thành tên ngọn núi Tàu, tên riêng vùng nào đó …] (VIẾT HOA HAY VIẾT THƯỜNG – Nguyen Lac)

2.
Thử áp dụng những điều bàn trên vào các câu thơ sau đây của nhà thơ Nguyễn X. xem sao?
Câu thơ Nguyễn X (tên hư cấu) viết như vầy:
Trưa chín HÈ, PHƯỢNG đỏ thật thương
Tiếng ve nấc nỗi niềm vương rất lạ
(Ví dụ minh họa)
Nhà thơ Nguyễn X cố tình viết chữ HÈ và PHƯỢNG hoa, chắc anh cho là nó “ấn tượng” hơn!
Theo tôi, chữ “phượng” viết thường hay hơn và nhiều nghĩa hơn. Lý do?
Giải thích:
– PHƯỢNG viết hoa là danh từ riêng chỉ chính xác một nghĩa: người con gái – tên người con gái. Viết hoa chữ PHƯỢNG, sẽ làm nó trở thành “nội gián” phá hỏng ý bài thơ. Rõ ràng là bài thơ nói về mùa hè buồn hoa phượng nở đỏ. Nếu viết hoa chữ PHƯỢNG, thành ra cô gái PHƯỢNG “đỏ mặt” – hoa phượng mất dấu ở đây – thì cón thể thống gì nữa mà liên hệ đến ve sầu câu dưới? Chữ phượng viết thường, danh từ chung bao gồm cả hoa phượng, mùa phượng, mùa bãi trường và người con gái…
Tuong tợ như vậy về chữ HÈ – viết hoa – cũng khiến người ta nghĩ đến một anh chàng tên HÈ nào đó
Rất mong nhà thơ Nguyễn X, nói rộng ra các nhà thơ trẻ chú ý đến điều này. Hãy mở lòng lắng nghe tha nhân góp ý, ai tự thỏa mãn sẽ bị dừng lại, hay đúng ra sẽ lùi so với sự tiến bộ của người khác

LỜI KẾT
Chữ Việt chúng ta tuyệt vời lắm, đừng “ngộ nhận” nó kém so với chữ nước ngoài
Nên nhớ rằng: Trong các “nghề chơi”, chơi văn chương chữ nghĩa là cao sang nhất, nhờ nó ta mới phân biệt được người thấp người cao, ai sang ai hèn, chứ không phải ở giàu nghèo.
Chơi cho lịch mới là chơi,
Chơi cho đài các, cho người biết tay.
(Cầm Kỳ Thi Tửu – Nguyễn Công Trứ)
Đọc một bài văn, bài thơ mà giống như ăn “mì ăn liền”, chỉ ăn cho no; không cần biết hương vị thơm tho của bát mì, công phu nghệ thuật của người nấu ra nó thì chỉ là “phàm phu tục tử”.

Nguyên Lạc
—————
Ghi chú:
[1] Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
“từ và chữ” – Trần C. Trí
https://damau.org/archives/51321
[2] “Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn” – Lê Hữu
http://t-van.net/?p=35489

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN so với CHỦ NGHĨA XàHỘI

Andy Puzder, nguyên Tổng Giám đốc (CEO) công ty mẹ của chuỗi nhà hàng Hardee’s and Carl’s Jr.
https://www.prageru.com/video/capitalism-vs-socialism/

Chủ nghĩa tư bản so với chủ nghĩa xã hội. Chúng ta có thể cô đọng mỗi hệ thống kinh tế chỉ trong một câu: Chủ nghĩa tư bản dựa trên lòng tham của con người. Chủ nghĩa xã hội dựa trên nhu cầu của con người.
Đúng? Thưa không. Mà là sai.
Sai hoàn toàn. Đúng ra chúng ta phải nói ngược lại, Chủ nghĩa tư bản dựa trên nhu cầu của con người. Chủ nghĩa xã hội dựa trên lòng tham của con người. Để tôi chứng minh cho quý độc giả hiểu rõ thêm.
Quý vị biết Amazon chứ gì? Mỗi một mặt hàng trong số hàng ngàn sản phẩm mà Amazon cung cấp là kết quả công lao của những người mà họ tin tưởng rằng đó là những mặt hàng mà khách hàng muốn hoặc cần. Nếu đúng thì họ giàu. Nếu sai thì họ vỡ nợ.
Đó là cách thị trường tự do hoạt động. Nó khuyến khích mọi người cải thiện cuộc sống của họ bằng cách đáp ứng nhu cầu của người khác. Không ai khởi sự một doanh nghiệp tạo ra thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho chính họ cả. Họ kinh doanh để làm ra những sản phẩm mà khách hàng cần hoặc cung cấp dịch vụ mà nhiều người muốn.
Và đây là kinh nghiệm cá nhân của tôi.
Khi tôi là giám đốc điều hành của công ty mẹ của chuỗi nhà hàng của Carl’s Jr. và Hardee, chúng tôi đã chi hàng triệu đô la mỗi năm để cố gắng xác định khách hàng muốn gì. Nếu khách hàng không thích một thứ gì đó, chúng tôi đổi món hàng đó lập tức – phải nhanh chóng, bởi vì nếu chậm, các công ty cạnh tranh sẽ nuốt chửng chúng tôi ngay.
Người tiêu thụ – chính là quý vị – có một quyền lực tối thượng. Trên thực tế, quý vị bỏ phiếu với mỗi đồng quý vị chi tiêu.
Trong một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, trái lại, nhà nước có quyền lực tối thượng. Chính nó quyết định những gì cần thiết cho người tiêu thụ, và từ một nguồn cung cấp hạn chế cũng do chính nó quyết định có nên tồn tại hay không.
Thay vì hàng triệu người đưa ra hàng triệu quyết định về những gì họ muốn, một vài người trong cơ quan quyền lực của nhà nước quyết định những gì người dân được cung cấp, kể cả giá thành món hàng phải trả. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi họ luôn có quyết định sai. Bạn có bao giờ nhận thấy rằng những thất bại xã hội chủ nghĩa luôn thiếu thốn những vật dụng thiết yếu như giấy vệ sinh?
Dĩ nhiên, một vài người có sự quen biết với nguồn cung cấp thì họ chẳng thiếu thốn gì. Hoặc giả những kẻ giảm sự tiêu dùng xuống mức tối thiểu thì vẫn có thể sống còn. Còn lại, đa số người dân không được may mắn như thế.
Venezuela, từng là quốc gia giàu nhất ở Nam Mỹ, là ví dụ điển hình về chủ nghĩa xã hội đã đạp nền kinh tế của một quốc gia thịnh vượng xuống vực sâu. Có thể quý vị nghĩ đó là một ví dụ không công bằng. Tôi lại không hiểu nổi quý vị, nhưng không sao. Cứ chấp nhận như vậy đi. Chúng ta sẽ bỏ qua thực tế là các nhà hoạt động cánh tả đã xem Venezuela như một thành công vượt bực của chủ nghĩa xã hội – cho đến khi nền kinh tế của nó kiệt quệ.
Nhưng còn các nước Tây Âu thì thế nào? Không phải họ đang duy trì nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đấy sao? Người dân Tây Âu có vẻ khá hạnh phúc. Tại sao chúng ta lại không có những gì họ đang thụ hưởng như chăm sóc sức khỏe miễn phí, hệ thống đại học miễn phí, các công đoàn lớn mạnh?
Câu hỏi hay. Và câu trả lời sau đây có thể làm quý vị ngạc nhiên.
Không hề có nước xã hội chủ nghĩa ở Tây Âu. Tôi lập lại, các nước Tây Âu chưa hề theo chủ nghĩa xã hội. Hầu hết các nước là tư bản như Hoa Kỳ. Sự khác biệt duy nhất – và đây là một điểm lớn – là họ cung cấp nhiều phúc lợi cho người dân hơn so với Hoa Kỳ.
Chúng ta bàn luận về giá phải trả cho những phúc lợi này và tại một mốc điểm mà sáng kiến cá nhân bị thui chột, và chính tại mốc điểm này, hại nhiều hơn lợi. Người dân Tây Âu đã bàn cãi về những câu hỏi đó từ nhiều năm qua. Nhưng chỉ có một nền kinh tế tư bản thị trường tự do mới tạo ra sự giàu có cần thiết để duy trì tất cả những thứ “miễn phí” mà người dân Tây Âu đang thụ hưởng. Để nhận được “miễn phí”, xã hội phải tạo ra đủ của cải vật chất để thu về một doanh thuế đủ cao dùng để trả tất cả mọi thứ miễn phí cho người dân.
Nếu không có chủ nghĩa tư bản tạo ra sự giàu có, thì quốc gia của quý vị sẽ như Venezuela.
Trong một bài phát biểu năm 2015 tại Harvard, thủ tướng Đan Mạch, Lars Lokke Rasmussen, rất đau khổ khi đưa ra quan điểm này: “Tôi biết một số người ở Mỹ đồng hóa mô hình Bắc Âu với… chủ nghĩa xã hội, vì vậy tôi muốn nói rõ một lần. Nước Đan Mạch chúng tôi chẳng hề dính dáng gì đến nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cả. Đan Mạch là nền kinh tế thị trường.”
Vì vậy, nếu ai khen Đan Mạch như một mẫu mực của chủ nghĩa xã hội, thì kẻ đó thật sự đang ca tụng chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa tư bản càng nhiều, người dân càng cần ít “chủ nghĩa xã hội”. Nhìn vào nước Mỹ từ năm 2017. Chính sách thuế khóa thấp hơn và quy chế của chính phủ ít hơn (chủ nghĩa tư bản nhiều hơn) đã dẫn đến sự mở rộng kinh tế mạnh mẽ, một điều mà không một ai tưởng tượng được chỉ vài năm trước đó. Thất nghiệp, đáng chú ý là các nhóm thiểu số thường có nguy cơ nghèo đói cao nhất, lại ở mức thấp nhất trong hai thập niên qua. Mở rộng kinh tế giúp người dân thoát khỏi hệ thống phúc lợi và có việc làm (“chủ nghĩa xã hội” ít hơn).
Để hiểu những điều trên, quý vị chẳng cần bằng cấp về kinh tế. Chỉ cần một hiểu biết thông thường quý vị cũng đủ hiểu. Cho nên thật đáng thất vọng khi thấy lớp trẻ ca ngợi chủ nghĩa xã hội và chỉ trích chủ nghĩa tư bản. Thật tệ khi thấy họ đang làm ngược lại lợi ích của chính họ – triển vọng công việc tốt hơn, tiền lương cao hơn, tự do cá nhân – nhưng tệ nhất là việc họ làm cũng đang chống lại lợi ích của cả những người kém may mắn hơn.
Chủ nghĩa tư bản dẫn đến dân chủ kinh tế. Chủ nghĩa xã hội dẫn đến chế độ độc tài kinh tế của một nhóm người. Luôn luôn. Và bất cứ nơi đâu.
Vì vậy, hãy cẩn thận những gì quý vị đòi hỏi. Quý vị có thể nhận lấy hậu quả mai sau

SƠN NGHỊ dịch