NHỮNG BẢN DẠO KHÚC CỦA NGUYỄN QUANG TẤN

 

Ngoài thơ thẩn, nhạc nhẽo, anh ta chẳng biết cái quái gì. Ngớ ngẩn như một đứa bé. Vì thế giang hồ gọi anh là Hoàng Tử Bé. Tấn ít nói, lại càng ít nói về Thơ. Nếu có ai hỏi thì câu trả lời của anh ta thường là: “ Tôi làm thơ là bởi vì tôi biết làm thơ, cũng như tôi cuốc đất là bởi vì tôi biết cuốc đất, chẳng có quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách gì.” Trí Khùng tôi nghe riết bực mình, muốn văng cái con củ cải. Nhưng đôi khi thấy anh ta buồn rầu, tôi cũng tán: “Tìm được một anh thủ tướng tài giỏi đã khó, kiếm được một tay đàn địch, thơ phú như anh lại còn khó hơn…” Nghe tôi nịnh, anh ta cười, khoái lắm.

Đọc thơ của Nguyễn Quang Tấn, cái đầu tiên ta thấy là: “ CHỮ ” biến đi đâu mất. Biến sạch, chỉ còn hình tượng. Tác giả hầu như không chú trọng nhiều đến ngôn từ, nhưng lại rất thích sử dụng hình tượng. Trong thơ anh rất khó để tìm thấy một từ có tính hàn lâm, kinh viện, sáng tạo, cách tân vv… nhưng hình tượng thì lại đầy ăm ắp, nhan nhản: “đêm mơ người gù lưng ghánh gồng ác mộng…” “ khi hoàng hôn chim tìm đường về, tôi vác tảng đá lên đường đi…” “ dù đường xa từng bước tật nguyền…” “ trong đôi mắt nàng, tròng đen đã rơi đâu mất, nhưng tròng trắng thì vẫn còn nguyên…” những hình ảnh này có khi lại chuyển động với không gian rất rộng: “bầy người đói lả, trong bóng chiều tà, mang vài hạt giống, đường về đất hứa bao xa…” Ngoài những hình ảnh bi thảm, rờn rợn, vẫn thấp thoáng những hình ảnh rất gợi cảm: “mầu hoa thanh tân, đêm xuân rơi trên đôi vú trần…” “ bàn chân trần nằm trên bờ đá trắng, bờ đá trắng nằm dưới bàn chân trần…” “thương đôi môi nhỏ, ngậm một nhánh cỏ úa mầu…” Hay là chỉ bằng ba câu là đã vẽ nên một bức tranh bốn mầu: “sương trắng chưa tan. cô gái môi đỏ đã hái những trái chín vàng. đặt nhẹ nhàng lên thảm cỏ xanh…”

Trong Dạo Khúc, ngoài tính Họa là tính Nhạc. Những câu dài, thướt tha nằm cạnh những câu chỉ có hai ba từ, đôi khi chỉ có một từ và những quãng lặng, ngắt dòng đã làm nên Tiết tấu:

tôi vẫn nhớ một đêm đôi mắt em nhìn tôi đăm đăm
mắt hươu nai…
mắt sông dài…
mắt như vì sao đẹp nhất bầu trời đêm nay xuống cõi đời và nói …
yêu tôi.

Hình như là tất cả những âm luật của thơ Đường, thơ Lục bát, thơ Mới, thơ Tự do, Sonnet, Ballade, Haiku vv… đều được tác giả một cách vô thức mang về xào nấu khá công phu để tạo ra những giai điệu, hòa âm cực kỳ phức tạp. Phức tạp nhưng không hỗn loạn. Có thể nhìn thấy rất rõ điều này qua Dạo khúc số 73: “phố đèn mầu…hai kẻ đui mù đang dìu dắt nhau…” Tôi không biết gì về thi pháp nên không dám lạm bàn, tôi chỉ thấy một điều mà ai cũng thấy: Trong Dạo khúc, ngoài tính Hội họa, còn có tất cả những yếu tố của Âm nhạc: Giai điệu, Tiết tấu, Hòa âm.

Ngoài tính Nhạc và Họa, còn thấy rất rõ tính Kiến trúc. Đừng nghĩ rằng Nguyễn Quang Tấn làm thơ hồn nhiên như hơi thở, thơ cứ thế tuôn ra… Lầm đấy. Anh ta như một con bạc gian lận, nhìn thì cứ tưởng là ăn may, nhưng thực ra là cả một sự tính toán, sắp đặt, cân nhắc đến từng chi tiết nhỏ nhất. Chẳng hạn: “ gió lung lay mái lều mục tử” và “gió hắt hiu mái lều mục tử”. Hai câu chỉ khác nhau hai từ. Những đảo ngữ và điệp ngữ được sử dụng khá nhuần nhuyễn, câu mở đầu cũng là câu kết thúc vv…Những chi tiết như thế nhiều, nhiều lắm.Trong một bài, nếu ta thêm vào, hay bớt đi một từ, hoặc thay từ này bằng một từ khác, thì ngay lập tức, bài thơ sẽ què quặt, sẽ méo mó, toàn bộ công trình xây dựng sẽ sụp đổ như nhà thơ Thận Nhiên nhận xét về những bài Dạo khúc: “Không thừa, không thiếu một chữ ”
Sau cùng, và cũng là quan trọng nhất: Tính Hiệu quả: Ta đang vui, Dạo khúc làm ta buồn, ta đang tỉnh, Dạo khúc làm ta say, ta đang ồn ào, nó làm ta trầm ngâm…

Có người cũng cho rằng Nguyễn Quang Tấn chỉ làm thơ tình, và thơ tình của anh mượt mà theo kiểu “nơi này thành sông thành biển, nơi này anh đã yêu em…” Không hẳn như thế. Rất nhiều bài, nhiều câu mang mầu sắc Tôn giáo:

ôm lấy trời xanh
buông ra là ngã xuống
buông ra là tan tành
dưới kia đá dựng chông chênh.

Trong cõi đời khô cứng, bạo tàn như đá dựng, con người vẫn mong mỏi tìm được nơi nương náu trong khoảng trời xanh bao dung như lòng mẹ. Trong thơ anh, tôn giáo và tình ái thường trộn lẫn với nhau:

khi chúa cứu thế làm rơi giọt máu nhân loại mong chờ
ướt đẫm trang thơ
tôi xé chiếc áo độc nhất
lau gương mặt em bụi mờ ...

Và:

tâm hồn tôi đêm nay sẽ mỉm cười nụ cười phật tổ
vô lượng từ tâm
khi khói hương mờ tỏa đóa sen hồng
nếu em về làm gốc bồ đề giải thoát
bóng đổ dài đổ suốt phương đông …

Cũng có người phê phán thơ anh là loại thơ tháp ngà, ốc đảo, quanh quẩn trong chuyện cá nhân … Nhưng đọc kỹ, ta gặp trong thơ anh những câu hỏi gắt gao mang tính Nhân Loại:

vinh dự của lưỡi gươm có phải chăng là thấm máu người
hoang vu dấu hỏi
đất đá trả lời
chuyến xe thổ mộ
đường về xương trắng phơi …
phơi.

Gươm phải thấm máu người mới là vinh dự? Người phải giết người mới là vinh quang? Những dấu hỏi hoang vu bắt gặp trên đường về đầy xương trắng. Tình yêu trong thơ Nguyễn quang Tấn không hạn hẹp trong phạm vi đàn ông với đàn bà. Nó lan tỏa, xót thương đến tận những loài côn trùng, những con thú trong bước đường cùng:

mắt thợ săn rực sáng cuối đường
con thú nhỏ
cúi đầu liếm vết thương…

Và:

hay là chúng ta thử dừng cuộc vui để khóc xem sao
may ra nước mắt
cứu được bao xác thân hèn mọn côn trùng
đêm hỏa thiêu lửa về ngun ngút
ngập trời tây
rồi ngập trời đông…

Có khi lại thấp thoáng mầu sắc chính trị:

hay là chúng ta hãy ngưng reo hò trên những chiến công
để cúi nhìn tan vỡ tận đáy lòng …

Nhiều văn nghệ sĩ tuyên bố: “Thơ là phải mang tâm thế thời đại.” Nhưng khi được hỏi tâm thế thời đại là cái gì thì họ trả lời lúng túng. Có người cho rằng phải nói về chuyện cá chết ở Vũng áng, Trung quốc thao túng Biển đông vv… Thật ra, những chuyện cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, nước lớn thôn tính nước nhỏ là những chuyện ngày nào cũng có. Có từ khi loài người xuất hiện cho đến ngày tận thế. Đấy không phải là tâm thế của thời đại nào cả, chỉ là những chuyện thời sự. Khi những chuyện thời sự này qua rồi mà đọc lại những tác phẩm viết về nó thì giống như đọc lại một tờ báo cũ, nói về một vụ án đã xử rồi. Có vẻ như là tác giả Dạo khúc không bận tâm gì đến chuyện mình phải viết cái này hay cái kia, tâm thế thời đại hay tâm thế thời sự, mà đơn giản là: Trong lòng của mình có cái gì thì viết ra cái ấy. Một điều không cần bàn cãi là: Chỉ có một Tình Yêu rộng lớn là có thể thay đổi được Thế giới, chấm dứt được những xung đột máu xương giữa người với người, dân tộc với dân tộc

Một điều vô cùng nguy hiểm cho các văn nghệ sĩ là chạy theo những trào lưu mang tính thời thượng, đến khi trào lưu này thoái trào, lỗi thời, thì họ cũng mất tích theo. Một sự phí phạm đáng tiếc nếu các văn nghệ sĩ này có thực tài. Trong đạo quân nhà thơ đông nghìn nghịt hiện nay: Thơ thiền, thơ tranh đấu, thơ tình dục, thơ tân hình thức, thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại, thơ lên đồng vv…không biết đặt Nguyễn quang Tấn ở trong hàng ngũ nào. Anh phải đứng một mình. Có thể là đứng hiên ngang oai hùng, nhưng cũng có thể là đứng co ro, ủ rũ, nhưng vẫn cứ là phải đứng một mình.

Như đã nói, tôi không biết gì về thi pháp, cũng không biết gì về phê bình văn học. Tôi chỉ nói theo cảm tính bình thường của một người đọc thơ bình thường, nói ra những điều bình thường ai cũng có thể nhận thấy. Sau cùng, xin trích dẫn một câu của Nguyễn Phước Nguyên:

– Đọc Dạo Khúc Đi, Bạn Sẽ Không Thất Vọng.

NGUYỄN TRÍ.

Advertisements

Khải Tri

 

Ăn quả không nhả hột sẽ mọc cây trong bụng. Đấy là răn đe tôi từng tin sái cổ. Như một đứa trẻ biết phục thiện, tôi òa khóc, thú nhận mình đã ăn vụng nuốt cả hột và mong một sự cứu chữa từ người lớn để cây không mọc trong bụng. Ngoài việc trách mắng, nhiều khi đét đít bằng roi mây, mẹ tôi đã chẳng làm gì. Nghĩa là hạt quả vẫn trong bụng tôi. Chẳng thể biết hạt có đươm mầm và phá ruột tôi để chồi ra ngoài như cây đậu của Jack không nữa. Tôi lo từng ngày dù mẹ đã nhắc rằng không sao. Đến bây giờ tôi vẫn mạnh khỏe trừ vài trận ốm vặt. Hạt quả đã đi đâu hay vẫn ẩn trong bụng tôi chờ ngày nảy thành cây. Bọn trẻ ở khu này phải ăn rất từ tốn để nhằn hạt. Hầu như đứa nào cũng từng nuốt phải hạt quả. Kể cả khi chúng có móc họng để nôn bằng sạch những gì đã đi vào bụng thì hạt vẫn kẹt trong ruột. Đến thuốc xổ cũng không đào thải được dù chỉ một hạt nhỏ như vẩy cá. Trẻ con rồi cũng lớn. Chẳng đứa nào quên rằng đã canh cánh lo âu về thứ hạt đã nuốt chửng.

Táo. Đấy là thứ quả có nhiều nhất ở thị trấn tôi. Táo ở khắp nơi, mọc khắp chốn và chúng tôi hái ăn như loại thực phẩm thiết yếu. Ăn táo từ lâu đã thành truyền thống của mọi gia đình. Để tránh lạt miệng bởi ăn mãi táo nên nhiều người đã chế biến nhiều món ăn từ táo. Táo giòn gọt vỏ chẻ miếng là món cổ điển. Cơm vị táo, bánh táo, xúp táo, sữa bột hương táo, nước ép táo, bánh bao nhân táo, cháo quẩy vị táo rồi thì hàng loạt những vật dụng cá nhân từ cái áo, cái quần, lược, bàn chải, dầu gội, sữa tắm được làm từ quả, vỏ và gỗ cây táo. Chúng tôi xây nhà bằng gỗ cây táo và đóng quan tài cũng bằng gỗ cây táo. Thị trấn được rào quanh bởi một dãy táo trồng san sát theo kiểu hàng rào vòng tròn. Cuối thị trấn có một cái nhà cổ xây từ lâu và đổ nát, hoang hóa đến mức không ai nghĩ đấy là cái nhà. Tảng đá ngoài cổng khắc chữ gì đấy. Ngoài một nét đứng còn thì chỉ thấy những đường xước sẹo chen lấn nhau, tạo thành sự loang tróc của thời gian. Hàng chữ viết trên đá được khắc quá nông, quá ẩu nên chỉ một trận bão thời gian ngắn ngủn nửa thập kỷ là rụng lả tả như cái răng sâu. Đại loại là đây là Nhà Vòng của thị trấn. Người xưa đã gọi thế nghĩa là từng tồn tại cái tên này. Trong nhà không có ai ở, cũng chẳng thờ ai, không có đồ đạc, dấu vết gì chứng tỏ từng có người ở. Bên trong chỉ có một cây táo già cỗi nhiều trăm năm vẫn sai quả. Những quả táo mọng chín với lớp vỏ dày, đỏ và giòn xốp được hái từ cây táo này. Số táo đấy được dùng để cúng gia tiên hoặc dành cho mùa lễ hội. Táo chúng tôi hái để ăn, để bán trong chợ là từ các cây táo khác mọc quanh thị trấn. Chỗ chúng tôi không hề có trang trại táo, các vườn táo tư gia thì nhỏ bé trong bán kính ba mươi mét vuông. Cây táo ở khắp nơi và mọc khắp mọi nơi. Bên trái đường, đằng sau ngõ, trước cửa nhà, trong công viên, sát ủy ban, trạm chờ xe bus, bến cuối xe bus, nhiều lúc là trước cổng trường học, trong lớp học, nhiều cây còn nảy mầm trong thư viện, trồi từ lòng đất phòng thí nghiệm. Những cây táo này phát triển rất nhanh. Hầu như không phải ai gieo hạt bừa bãi. Chỉ là một mầm cây nhú xuyên qua đất, ngấu nghiến mưa nắng và vươn cao từng đoạn như nước vòi vặn chậm. Những cây táo hoang dã, tự sinh sôi này chỉ cao đúng một mét mốt thì dừng lại. Nếu muốn cây lớn hơn thì phải vun nước. Độ cao dù chỉ như vậy nhưng vẫn có quả. Người thị trấn hái ăn, dĩ nhiên có nhè hạt. Thứ trái cây trời ban này là nguồn thực phẩm dồi dào của thị trấn nhưng cũng có nhiều phiền toái khi đi lại, hoặc do xây nhà. Từng có một cái cây mọc đâm xuyên bàn thờ khiến cả gia đình phải điêu đứng trong những giấc nơm nớp âm ỉ triền miên.

*

Nhà Vòng là một cấm địa được tự do ra vào.

Cây táo già nua đấy được người thị trấn gọi là Cây Trưởng Lão, Táo Cụ, Lão Mộc hoặc Chúa Táo, Cây Xưa…Và, Ông Cả là cái tên tôi và những đứa thuộc thế hệ tôi thường gọi.

*

Ông Cả nảy mầm từ trong nhà hay khi người ta thấy cây héo úa, khô khốc như khung xương khổng lồ đã xây nhà như cách trấn yểm để cây không thành tinh, nào ngờ cây vẫn đủ nhựa và đã tái sinh như Phượng Hoàng. Nhà Vòng quạnh quẽ không một dấu chân. Việc hiếm hoi người qua lại có lẽ do công việc quá bận rộn, hoặc người thị trấn đã quá quen thuộc với cây táo ngay từ lúc chào đời. Chỉ mùa lễ hội người thị trấn mới tụ tập quanh Nhà Vòng để tổ chức đại tiệc táo. Người ta đốt đèn, nhảy múa, mở thành nhiều vòng tròn để hát, nhảy và tỏ tình bằng cách tặng táo cho nhau. Khi đấy táo Ông Cả mới được bổ ăn. Giờ giấc đấy ai cũng xuống đường. Mọi phương tiện giao thông ngừng hoạt động, cầu dao đèn tự ngắt. Đấy là ưu tiên hàng đầu để toàn thể thị trấn nối với nhau, gần gũi, gắn bó như cây với đất. Những năm này, người ta đã quen với Nhà Vòng, không ai còn muốn vào quá sâu dù là một đứa oắt với trí tò mò bay bổng. Tôi lâu lâu lại vào, và lập tức trở ra vì vấp ngã bởi phần gạch đá lồi lõm, bởi rễ cây táo gù lên, nhấp nhô khắp nhà.

Nhà Vòng chỉ có một gian nhưng rất rộng. Diện tích nhà áng chừng bằng nửa sân bóng hoặc một hội trường trung ương. Tường bao quanh đã xuống cấp, nhìn bong lóc và rách nát như tờ giấy. Ông Cả nằm chôn gốc giữa nhà. Đã không ai còn nhắc về niên đại của cây và nguồn gốc cái nhà viết tên Vòng. Người biết chuyện thì đã quá già, không lú lẫn thì cũng gần đất xa trời. Tôi thì lại tin Nhà Vòng được xây từ lâu, có khi xa xưa đến mức cây táo còn chưa đồ sộ như ngọn tháp thế này. Những gì cổ xưa thường linh thiêng, những gì linh thiêng thì cổ xưa-Lý lẽ của người đời là thế và tất cả tin như đấy là chân lý.

Ông Cả không phát triển về thân nữa nhưng cành thì vẫn xum xuê. Mái của Nhà Vòng đã bị những cành lớn đâm vỡ toác. Các nhánh con ban đầu thọc qua kẽ hở trên ngói để trèo lên. Khi các cành đủ khỏe thì gồng mình phá tung mái ngói. Những miếng ngói vỡ, rơi vãi khắp nơi như vẩy bò sát. Lá phủ rậm rạp khắp nhà và vươn rộng khắp thị trấn tạo thế bát úp. Vỏ Ông Cả cứng, gân guốc, xù xì và nhiều lỗ thủng do sâu đục. Phần sàn của Nhà Vòng tróc lở, gạch bật toác. Bộ rễ như con chuột chũi đào hang trong lòng đất, ngày qua ngày vẫn miệt mài hút dưỡng chất. Tôi đoán rằng các nhánh rễ đã tìm thấy một mỏ khoáng chất ngủ quên sâu trong lòng đất. Suối nguồn năng lượng hoặc long mạch, một kho tàng kim cang dẫn xuống thế giới ngầm… Chính nguồn dinh dưỡng lạ thường này đã tiếp sức, giúp Ông Cả vạm vỡ nhiều thập kỷ. Thị trấn được bao bọc bởi một hàng cây táo có niên đại từ bốn mươi năm đổ xuống. Một số cây mọc chắn đường lớn, hoặc cổng ngõ dẫn ra đường cao tốc thì đã bị chặt bỏ. Nhiều năm trước thị trấn có một đường xe lửa nhưng giờ đã bỏ trống do cây táo mọc kín đường ray. Con tàu và trạm bán vé tàu đã hoang phế. Rêu, cỏ hoang và cây dại phủ gần hết con tàu. Một mầm táo không biết từ đâu đục đẽo vỏ tàu từng ngày để phá xuyên nhìn trời. Trạm bán vé thì cây mọc chổng, kết thành những hàng dài. Những cây này đã chết khô nên nhìn từ xa trạm tàu như một nghĩa địa cọc gỗ.

Nóc của thị trấn là bầu trời xanh nhưng đã mờ xanh từ hơn nửa thập kỷ trước. Lí do không từ việc tàn phá môi trường bằng cách xây nhiều nhà máy, xí nghiệp, trồng nhiều ống khói. Lí do về đường dây điện thì càng không vì thị trấn này từ lâu đã sử dụng công nghệ không dây, chỉ một số khu do quá nghèo mới phải chằng dây. Mái trời xanh được phủ không bằng màu xanh dương, vàng, đỏ tía hay trắng ngọc. Màu xanh lá cây cũng là màu của bầu trời thị trấn. Phần màu này được tạo thành bởi những cành lá xum xuê phủ tầng của Ông Cả. Lá cây rậm rạp, không ngừng phát triển, dày nhiều lớp. Số cây táo mọc quanh thị trấn nếu cành lá đủ cao thì cũng móc vào tán cành Ông Cả. Bởi lá cây trùm rậm rạp như cái áo khoác lông thú nên thị trấn thường mau tối. Ngày cũng như đêm, toàn thị trấn phải bật hết đèn đường. Chúng tôi đã chặt đi nhiều cành lớn. Việc chặt không thể bừa bãi mà phải họp hội ý và xin phép Ông Cả. Chỉ những cành cây quá già, vươn quá dài hoặc nhiều lá quá mức cần thiết mới bị chặt. Nhiều khi, chúng tôi chẳng chặt bỏ cành mà chỉ tuốt hết lá cây để thấy chút bầu trời.

Tôi từng nhìn thấy tấm ảnh chụp bầu trời thị trấn khi róc hết lá trên cành. Trong ảnh, màu xanh dương êm ả như mặt biển, các gợn mây điểm lác đác tựa những cánh buồm. Một góc ảnh khác chụp được một cánh chim vắt ngang bầu trời. Có tấm trời mây được dệt trong màu vàng hoàng gia. Tấm khác, chụp lúc gần hoàng hôn, mặt trời vàng ấm như quả trứng lòng đào đựng trong bát phalê. Một tấm ghi lại một phần trời trắng muốt vì mây phủ. Đám mây dày, xòe rộng như váy cô dâu. Màu mây không sánh đặc như nhựa cây, chẳng nhạt lợ như sương muộn, không trong trẻo như sữa mẹ và còn thiếu chút chói lòa của sương mù sơn cước. Vẫn có đường quăn, nếp nhàu, gấp trên mây, chính những đường nét tình cờ này đã khiến tôi nghĩ đến một miếng bông gòn, chiếc máy bay được gấp bằng giấy nhàu nhưng vẫn đủ cứng cáp để liệng nhiều vòng cung. Tảng mây dày như núi băng trôi trên trời, nếu vung vẩy tấm ảnh, mây sẽ bồng bềnh thành ngọn sóng. Sự thướt tha này giống với một dải lụa mềm, càng giống hơn điệu múa vỗ cánh của những chú bồ câu.

Đấy là ảnh chụp các góc nhỏ. Nếu nhìn vào tấm hình chụp trọn vẹn cả bầu trời, sẽ bắt gặp các cành táo. Những cành dài, ngắn trụi trọc lá và quả chụp lên khung trời, đan xen ngang dọc như lớp hàng rào gỗ khổng lồ. Một ai đấy đã cả gan chặt hết cành, để mở toang cánh cổng nhìn lên trời. Nóc nhà thị trấn trắng trơn nên mưa, nắng sẽ đổ ập xuống như sóng thần. Không thể chạy nắng mãi bằng cách rúc trong nhà hay đội mũ, xòe ô giữa trời khô. Như một trừng phạt, Ông Cả đã không ra quả, những cây táo khác quanh thị trấn cũng ngừng đâm trổ. Thị trấn chịu một nạn đói dai dẳng. Nguồn sống nơi đây duy trì nhờ táo, thành ra kinh tế bị ngưng trệ. Cũng vì quá quen với món táo nên hễ ăn một thực phẩm khác táo là ai nấy đều nôn thốc tháo. Đã có một nghi lễ nhận tội ở Nhà Vòng. Một tháng sau, thị trấn táo hưng thịnh trở lại. Đã không còn ai dám bẻ hết cành táo. Khung cửa sổ của thị trấn tiếp tục được phủ màu xanh thực vật. Lá cây mọc dày đặc, chen chúc chỉ để hé ra vài khe thủng. Cành cây vươn dài, nhiều khi còn xuyên vào nhà dân. Sống dưới mái cây táo, chúng tôi như được bảo vệ khỏi mưa, nắng. Nhiều khi, táo còn tự rơi trên đường và cứu đói những người vô gia cư, ăn mày hoặc khách tha hương.

*

Ăn táo nuốt cả hạt sẽ mọc cây trong bụng. Vậy nếu nhai nát hạt rồi nuốt thì hạt táo có sinh mầm? Ngày hôm qua một người trong thị trấn đột ngột mất tích. Nơi cuối cùng người đó ghé vào là ghế đá vỉa hè. Rạng hôm nay một cây táo mọc trên ghế đá vỉa hè. Cây đâm chồi, có lá non và cao bằng một người lớn. Vì cây táo mọc đằng sau ghế đá nên đã tạo thành một chỗ râm mát để ngồi nghỉ.

Thị trấn này thường xuyên có người mất tích. Mỗi một người đi mất, một cây táo lại mọc lên.

Quả Ông Cả luôn to, vỏ dày và nhiều nước. Quả táo nhỏ nhất chỉ bằng bàn tay, quả to hơn thì như cái sọ khô. Một cành táo lớn mọc xổ dài trên bậu cửa nhà tôi. Quả sai chín thơm phức cổng nhà. Có lúc tôi hái ăn khi táo vẫn xanh, khi lại chờ đợi táo chín thật sự thì mới bắc thang hái. Không thiếu dịp táo rơi lộp độp cổng nhà. Tôi từng được ăn một quả táo to như trái đào tiên trong phim Tây Du Ký. Màu táo đỏ tươi, thắm như môi nàng Bạch Tuyết. Vỏ cắn giòn như bánh xốp. Ruột táo thì khỏi chê, cắn một miếng tôi thấy vòm miệng mát lịm. Nước táo ứa tràn kẽ răng. Tôi nuốt ực nước cốt táo như uống sinh tố hoa quả. Giống táo để lâu sẽ thâm sì, mất chất nên tôi phải ăn nhanh. Mùi thơm mát của táo chín cây đã lùa tôi vào vườn Thượng Uyển. Như kẻ mộng du, tôi ngơ ngẩn trong hương táo chín. Tôi ăn, nhai rau ráu hoặc nhai nhỏ đến mức nát vụn. Ăn táo xong, sẽ thở ra mùi thơm. Ngay đến tiếng ợ hơi cũng như ăn thêm một lần táo. Những cây táo mọc ngoài thị trấn hay trồi lên bất cứ đâu cũng ra trái giòn, trái ngọt nhưng vị chẳng được đậm đà như mật ong. Sau khi ăn trái từ Ông Cả, nụ hôn của các lứa đôi cũng ngọt và thơm mát lạ kì. Nhiều cặp nam nữ đã hành lạc khi ăn xong một trái táo. Da thịt đàn bà khi ăn táo mát lịm, ngòn ngọt và mê hoặc đến mức dẫn dụ hồ điệp đuổi nhau trên da thịt. Còn đàn ông thì bớt nôn nóng hơn nhưng vẫn mạnh bạo, bền sức và thừa điên cuồng để khuấy tung cả Đông Hải. Máu xử nữ vấy màu táo chín.

Đánh chén một quả táo, sẽ đủ dinh dưỡng cho cả ngày. Nguồn sinh lực này tiêu trừ tính vô tri để biết che mình khi trần truồng. Nước cốt táo vẩy ra mực đỏ vẽ lên những mặt trời. Ăn một lát táo là tâm hồn say đắm, để thoát tục chốc lát hoặc để đợi chờ một nụ hôn đánh thức.

Cách đây rất lâu có một vụ án chấn động thị trấn. Một người mẹ đã ăn thịt đứa con bốn tháng tuổi. Lúc bị bắt, người mẹ đã hóa điên và tự cắn lưỡi trong lúc bị hỏi cung. Xác người đàn bà cùng mẩu lưỡi bị cắn đứt từ cuống vẫn được lưu trữ trong bệnh viện. Xác đứa bé nham nhở. Da nó bị lóc bằng dao gọt hoa quả, phần thịt bị ăn nhẵn, chỉ chừa lại xương. Lời đồn, mộ đứa bé sau này đã mọc lên một cây táo. Hẳn là đứa bé đã ăn táo không nhè hột, nhưng một đứa bé ba tháng tuổi thì nào đã đủ răng để nhai táo.

Cuối thị trấn có một anh chàng chết vì đói. Gia cảnh anh chàng không quá khốn khó, chỉ là anh ta đột ngột muốn bỏ món táo. Cả thị trấn này sinh nở từ táo. Việc bỏ táo chẳng khác nào kiêng đi lại bằng cách chặt chân. Không muốn ăn quả táo, thì còn có nước táo, bánh táo, cơm táo, mì táo, bún trộn táo, thịt nhồi táo, bánh mì vị táo và biết bao thứ ngon lành làm từ táo. Loài người không sinh ra từ táo và thành chúa tể các loài từ một quả táo.

*

“Thị trấn này, cái gì đang đứng? Dù đã bao nhiêu năm trôi qua, vẫn chỉ táo là táo. Nhà cửa, những công trình rồi dân số, thứ cần thiết để gầy lên một tinh hoa không đến từ táo. Đáng lẽ cây táo chỉ là món vật chất có sức sống, món quà từ mẹ thiên nhiên chứ không phải ông Hoàng. Vật chất chỉ nên phụng sự con người như nhổ rễ cây thuốc, nghiền chữa bệnh. Hãy cảm ơn bát thuốc, cảm ơn cây thuốc, không nhất thiết phải cúng bái dù là cây thuốc hay bát thuốc. Quanh thị trấn chỉ là táo và chỉ thấy táo. Cây táo bố, rồi cây táo nhỏ, cũng được coi như bố. Chúng đã giúp thị trấn no nê nhưng quá nhiều cây, quá nhiều táo thì còn gì gọi là đời sống. Chẳng có một trái quả nào khác táo. Nhà cửa cũng là gỗ táo. Nước uống cũng từ táo mà ra. Đến thứ chúng ta thải ra cũng là bã táo. Ta đã nghĩ, thị trấn này chỉ như một thứ dây leo tầm gửi lên cây táo, còn chúng ta là những con trùng cộng sinh.”

Hắn là ai mà nói với tôi như vậy. Một kẻ lạ mặt trong vô vàn những kẻ lạ mặt trên cõi đời này. Lúc tôi đi dạo, nhìn ngắm cây táo thì thấy hắn. Cũng thật lạ lùng khi hắn nói một mình nhưng nhìn về tôi. Hắn đeo dây chuyền với cái mặt giấu trong ngực áo. Tiếng hắn to tướng như muốn ai cũng nghe được. Bên cạnh hắn có một chú bồ câu trắng. Hắn có mang theo bánh và còn bẻ nhỏ để chia cho chú bồ câu. Hắn cũng bẻ cái bánh nhỏ hơn để mời tôi. Tôi nói rằng táo đã là nguồn sống của thị trấn này. Một đặc trưng hiếm có, độc nhất vô nhị của nơi đây là những cây táo.

“Nguồn sống của thị trấn này là cây táo hay nguồn sống của cây táo là thị trấn này. Chàng biết không, cây táo trong Nhà Vòng từ lâu đã không ra nhựa. Một cây lâu năm nếu đã phát triển đủ sẽ không cao lớn thêm. Số lá, cành um tùm đè ngửa lên bầu trời được nuôi bởi những cây táo nhỏ hơn. Ta sẽ không nói đến số táo trồng thành vườn. Thị trấn này luôn có người mất tích. Nếu chàng chịu đếm, để tổng quát sẽ thấy mỗi một cây táo ứng với một người mất tích. Đừng nghe ta nói, nhưng hãy tin là ta đang nói thật. Cha ta cũng từng biến mất khi đang sắp nến theo vòng tròn. Cây nến màu hồng đã đốt hụt. Thế rồi, một cây táo mọc lên và phá tung vòng nến. Ta đã chặt cây, nhổ bật rễ và chàng biết ta thấy gì không. Một cái rễ ăn sâu như đã thâm nhập lòng đất hàng chục năm. Rễ cây táo nơi thắp nến nối với rễ cây táo….”

Hắn vẫn còn liến thoắng phía sau.

Nhà Vòng ở xa tít tắp. Ông Cả đồ sộ hơn tất cả. Những cành táo vạm vỡ, chia những nhánh cũng to khỏe không kém. Màu xanh của lá cây táo phủ hết trời, nhiều chiếc rụng lả tả xuống đầu, chạm vào vai và dồn tụ thành chướng ngại. Một chàng lái xe bị lá cây chọc vào mắt, đâm xe vào góc đường. Một xe máy lao quá nhanh, không kịp giảm tốc độ đã đâm sầm vào cây táo chồi mọc giữa lòng đường. Cú va chạm tạo ra lửa, bén vào bình xăng khiến một cột lửa phụt lên sau tiếng nổ. Người, xe và cây rệu rã trong đám cháy. Lúc đạp phải một quả táo, tôi suýt ngã. Góc kia, bà mẹ đang đút cháo táo cho đứa con nhỏ. Con bé vùng vằng, kêu “ứ ừ”. Bà mẹ bóp miệng con rồi nhét thìa. Tôi thấy một bà cụ hóa vàng mã trước một cây táo mọc ven hè. Cách đấy ba số nhà, có người quen của tôi. Sáu năm trước một đôi vợ chồng sống ở đấy. Sáu năm sau, cô gái chung sống với một cây táo trong nhà. Anh chồng đã đi đâu mất. Người bảo anh ấy đi công tác xa, người bảo anh chàng du học, cũng không thiếu kẻ kháo vợ giết chồng phi tang giấu xác. Mọi cuộc điều tra vô ích. Anh chồng mất tích sau khi một cây táo đột ngột mọc trong nhà. Tôi ghé nhìn ô cửa, thấy cô vợ ăn tối cùng cây táo. Giữa thân táo có khoét lỗ, để cô vợ có thể bón thức ăn dù bằng muỗng, đũa hay mớm bằng miệng. Tôi đã chào người vợ, chị ta cười với tôi và lấy tặng tôi một ít mứt táo sấy khô.

*

Ăn táo không nhè hột sẽ mọc cây. Tối hôm đấy tôi đã lỡ nuốt cả hột táo. Tôi nuốt những hai lần hột. Một hột của cây táo nhỏ, một hột của Ông Cả. Đáng lẽ tôi không bất cẩn như thế. Lúc ăn táo tôi không quá đói đến mức ngấu nghiến nuốt quên cả nhai. Sơ xuất đầu tiên của tôi là đã không bổ táo để khoét hạt. Sơ xuất tiếp theo, là từ những câu nói của kẻ lạ hôm nay. Tôi nhớ lại, rồi nhẩm từng cây táo mọc hoang, bắt đầu từ dãy nhà mình. Trí nhớ mở ra làm tôi quên đi việc gọt vỏ trái Ông Cả. Một cây, hai cây, ba, bốn cây…Nếu đếm lùi về mạn nghĩa trang thì sẽ được thêm vô số cây táo. Để khu nghĩa trang được che mát người ta đã trồng thêm cây. Ồ, vốn chẳng cần thiết vì bao năm qua bầu trời thị trấn đã rợp phủ bởi lá cây. Một, hai tia nắng xói qua kẽ lá chẳng ăn nhằm gì. Một hàng cây táo rào quanh nghĩa trang. Bên trong, lại có biết bao cây táo mọc tua tủa như bàn chông. Số cây này đã phá nát mộ phần. Nhiều ngôi mộ bị bật hết lên, xương xẩu văng tứ tung như bản giao hưởng đang cao trào chợt mỗi người chơi một kiểu. Tôi từng thấy một cái sọ người bị cành cây móc qua hai hốc mắt và đưa lên cao. Ngày ra quả, cái sọ nhìn như quả táo trắng lẫn trong nhiều quả táo đỏ, nửa đỏ hoặc xanh. Thiếu gì những cây mọc từ mả người chết sau khi đã hấp thụ mọi dinh dưỡng, từ thịt rữa, xương trắng, dịch hủy cho đến đám giun, giòi béo ngậy như loài tằm tơ nhiều màu. Người sống được quyền lựa chọn làm việc có ích, còn người chết sẽ hữu ích nếu nuôi ra một cây táo. Những trái táo dù không to, không quá mọng nước và chất chỉ bằng một phần tư so với Ông Cả, vẫn có thể cứu khát, cứu đói khẩn cấp. Dòng nghĩ miên man hết cây táo này đến cây táo kia. Số cây nhiều lên ứng với số người rời bỏ thị trấn. Cây có ở khắp nẻo thị trấn, tạo thành một mê lộ cây táo. Miệng tôi cắn ngập, nhai cả vỏ, nuốt cả nước. Thế rồi, tôi dừng ăn sau một tiếng khe khẽ.

Ay…Ay…Tôi đang cố nhại lại tiếng mình nghe được. Xung quanh chẳng có ai vì tôi đang đứng trên ban công. Cái tiếng nhỏ, đứt quãng kia vẫn vọng ngắn đoạn. Nhà hàng xóm đã tắt hết đèn, ai chưa ngủ thì cửa sổ để hé. Tôi không tìm ra một ô cửa sổ nào khả nghi. Ay…Ay…Da…Tiếng bên tai trái. Khi nhẩm đọc thì tiếng vang bên tai phải. Đèn đường vẫn sáng nên không khó để tìm ra một cái bóng quằn quại, chờ mong cái xòe tay hảo tâm. Tôi nhìn mãi, vẫn chỉ thấy những cây táo to, nhỏ, cành lá xòe to hoặc chỉ vươn dài, khô mộc như xương bốc mả. Ngước lên chỉ thấy bầu trời lá cây sẫm đen vì đêm. Ai thế! – Tôi hô to và không nghe thấy tiếng hồi đáp. Tiếng xuýt đau vẫn chập chờn mang tai như với gọi tôi. Mắt tôi đảo nhiều vòng dài và đột ngột chăm chú vào bàn tay mình. Quả táo trong tay tôi nhìn nham nhở như bị chuột gặm. Nước táo rỉ đỏ. Ruột táo cũng sục ngầu màu Nguyệt Thực. Tiếng thều thào tưởng gần nhưng lẩn khuất xa xôi. Cái âm thanh ảo não, nhưng nhức và khẩn thiết gần với tiếng sóng vỗ trong vỏ ốc nhưng có đập nát con ốc cũng chẳng tìm ra giọt sóng nào. Trong cái run rẩy choáng váng, tôi “Ợ” một tiếng. Từ sáng đến trưa tôi chỉ ăn táo, từ trưa đến chiều muộn, tôi cũng chỉ ăn táo. Tôi đã không ợ lên mùi táo. Một mùi khác, vị khác, dai nhách như món thịt lạ chưa một lần ăn nhưng cái mềm mại lại quen thuộc như cắn ngấu cơ thể người tình trong say đắm.

Tôi đánh rơi quả táo. Tôi khạc nhổ, móc mọng để khạc nhổ. Được một lúc, tôi nhìn lại quả táo cùi cụt vì những cái ngoạm quá lớn. Ruột táo trắng, vỏ táo vẫn đỏ thắm như cánh hoa hồng. Hạt táo đã vào bụng tôi rồi. Tôi không móc nhổ được hạt táo. Chẳng biết vừa rồi tôi có nhai hạt không, và nhai nát đến đâu hay khi thấy cứng quá thì nuốt luôn…Táo này chỉ là một quả ngắt từ cây được đâm chồi từ hạt giống. Vẫn có những cây mọc không từ hạt giống táo. Có bàng hoàng lắm không nếu nghĩ về một cây táo mọc trong cơ thể người. Vì ăn táo không nhè hột nên đã mọc cây. Sự đâm rễ từ từ, chậm chạp và hiệu quả như hạ độc liều nhỏ theo quy trình. Nếu sự lớn lên của cây nhanh chóng như đột biến hóa học, có lẽ người ta sẽ đỡ đau đớn hơn. Cây táo phá ruột, nảy trồi ra ngoài hệt như chú gà con mổ vỡ vỏ trứng, xông ra thế giới. Tôi chẳng nghĩ gì ngoài việc toát mồ hôi. Cây táo và những cây táo…Đâu đâu cũng chỉ là táo. Quá lâu không được ngâm mình dưới nắng mặt trời, hít hà khí sạch từ bầu khí quyển thoáng đãng, cũng như việc ăn táo quá thường xuyên khiến da dẻ tôi xanh xao. Người khác…Tôi nghĩ đến điều này…Trong lúc tôi còn tư lự mở gói suy nghĩ thì một đôi cánh vọt qua, cắt cháy khoảng không. Một con bồ câu. Lúc bay dưới ánh đèn cao áp, bồ câu mang lông vàng. Lúc ánh đèn nằm khuất vào màu khuya, bồ câu phủ lông đen.

Như biết rằng tôi đang ở sau, con bồ câu bay thấp và chậm lại. Những cái liệng bay sắc, gọn như nhát chém bổ đôi trái táo. Số cây táo mọc lắt léo khắp nơi khiến tầm nhìn tôi hẹp lại. Một chốc, tôi mất dấu. Trong lúc ngó nghiêng, tôi thấy con bồ câu đứng trên một mái nhà. Con thú bay nhìn tôi, cái mỏ nghếch lên rồi vỗ cánh. Một sợi lông cánh rớt lại sau mỗi lần tung cánh. Tôi chạy, còn con bồ câu bay. Không có tiếng gù gù, chỉ có tiếng vỗ cánh phần phật như chim ưng đi biển. Vẫn có người còn lang thang ngoài đường nhưng không ai chú ý tôi. Đường bay của con chim vòng vèo, quẹo vào xó này, quẹo ra xó nọ, luồn qua nhiều cây táo, đâm xuyên vào một vườn táo với biết bao nhiêu lá, quả ngổn ngang lối đi. Lá cây rơi sột soạt, táo rơi từng quả. Người ta nhặt táo ăn, rồi khi no nê thì nằm ngửa dưới đất như con hải cẩu tắm nắng. Tiếng ngáy pho pho thỏa mãn. Mùi táo và lá cây dày thành sương mù. Phần đường này không có đèn cao áp. Tôi đã cố để không mất dấu con bồ câu bằng cách tập trung vào cả mắt lẫn tai. Chạy một hồi, chân tôi vấp vào một rễ cây và ngã lộn nhào. Đầu tôi vô sự nhưng đôi bàn tay đã xước máu vì mài xuống đường. Tôi cố tìm kiếm một mảnh trăng dẫn đường nhưng chỉ thấy lá cây. Trời không om om màu mực nhưng mọi vật mù mờ như thị lực của người cận thâm niên mất kính. Trong lúc dọ dẫm chẳng biết lạc vào đâu, tôi nghe thấy tiếng đập cánh. Chỉ một tiếng nhỏ, ngắn cũng đủ để tôi lần ra dấu con bồ câu. Cánh vỗ mạnh hơn nhưng con chim chỉ bay lưng chừng vì cổng trời bị rào lại. Đoạn đường giữa người và chim kéo dài, ngừng lại rồi nối dài.

Mắt tôi sáng rõ hơn nhờ mẩu sáng của các hộ dân ngủ quên tắt đèn. Tôi nhìn thấy nhiều người ngủ lăn lóc dưới đất sau khi đã xơi no táo. Mấy cái bụng tròn căng phập phồng, phô ra cái rốn lồi. Chưa một lần tôi đến gần chỗ con bồ câu. Tôi mãi ở sau. Hễ tôi chạy vượt lên con chim liền bay vụt như một đầu đạn. Tôi chạy mãi. Đâu phải tôi muốn bắt con bồ câu. Còn bồ câu, cớ gì lại vờn trước mặt tôi như mặt trăng? Nếu đây là cuộc săn đuổi, thì tôi như thợ săn bị con mồi dẫn dụ thành mồi. Rõ ràng chẳng ai bắt ai, cũng chẳng ai đuổi ai. Đấy là sự thắp sáng. Nhưng? Bộ hành tìm sáng từ đôi cánh hay đôi cánh tìm sáng bằng cách dẫn theo bộ hành…

Những thân táo rẽ ra như được vén màn. Trong lúc đói bụng, tôi định cúi nhặt một quả táo để lót dạ nhưng lại thôi. Chạy quá một con đường, tôi đi chậm lại vì một cây táo già mọc đồ sộ giữa lối đi. Một cơn gió xoáy qua làm rung rinh cành táo, lá rơi xuống như trận mưa. Một quả táo rơi trúng đầu tôi đau điếng. Chẳng có sáng kiến nào lóe ra trong đầu tôi. Chỉ cơn đau như búa giáng nài tôi dừng lại. Và rồi, tôi đã bội bạc lại suy nghĩ của mình bởi con bồ câu đã bay vọt khỏi tầm mắt. Lông vũ rơi, chập chờn trước mắt như một mách bảo rằng con vật đã rẽ vào đường lớn. Đèn sáng giúp tôi thấy rõ mặt những người đang ngủ dựa vệ đường. Một cô gái đứng tỳ tay trên lan can ban công. Màu da xanh xao không đồng nghĩa tất cả cùng mắc bệnh hiểm nghèo. Thị trấn táo này, da dẻ ai cũng xanh và càng lớn màu da càng sậm, đỏ thắm như vỏ táo. Lòng đường đã không còn bóng xe. Mọi thứ quạnh quẽ trong tiếng lá rơi, cùng tiếng chân tôi quét trên lá. Tại con hè, một chàng đang huơ hoắng tay. Cặp chân chàng ta dính vào mặt đất, và lún xuống. Trong lúc tôi chạy đến để kéo chàng trai khỏi lòng đất thì táo lại rụng. Những quả to bằng cái đấu gạo nện xuống lòng đường, lăn lóc khắp nơi. Thoắt cái, đôi chân chàng trai đã ăn liền mặt đất, đôi bàn tay cứng đơ và vươn dài, trổ cành. Từ các cành khúc khuỷu như xương đơm ra các nhánh nhỏ hơn. Lá cây mọc ồ ạt như lúa trổ đòng đòng. Chàng trai biến mất ngay trước mắt tôi. Một cây táo mọc ngay trước mắt tôi. Cây chưa ra quả nhưng đấy rõ ràng là một cái cây nảy lớn từ cơ thể người.

Con bồ câu lại vỗ cánh sau một chặng dừng. Lông vũ rơi một lần nữa nhắc nhỏ tôi rằng con bồ câu đã bay nhanh hơn và sắp băng hết đường lớn. Trên con đường mới, tôi thấy một ông già đang gặm táo rồi ngã chúi xuống. Tứ chi ông ta cắm ngập xuống đường, miệng ông ta ngoác lớn, hét không thành tiếng. Ánh sáng đổ dọc hai bên đường rồi ngắn đi, lọt thỏm như cái bóng đổ trườn mặt đất. Trời đất âm u một lúc rồi sáng trở lại vì sáu ánh đèn cùng chiếu vào một chỗ. Tôi dừng chạy vì đã để mất dấu con bồ câu. Không còn nghe thấy tiếng vỗ cánh. Tôi chỉ nghe thấy tiếng lá cây xào xạc dữ dội. Bầu trời thị trấn rung chuyển vì những cành lớn đang lay như cái cựa mình của người khổng lồ. Giờ đây, tôi cố định ở một vị trí đầy đủ ánh sáng.

Trước mặt tôi, Nhà Vòng. Trước mắt tôi, một cây táo.

Sau một hồi ngó nghiêng, tôi tìm thấy những sợi lông vũ. Số lông vung vãi quanh con đường dẫn vào nhà. Con bồ câu đã bay đến đây. Mỗi một sợi lông rớt lại, tạo thành một dấu chân, một đường kẻ nối các dấu chấm thành một bản đồ hoàn chỉnh. Tôi đi theo dấu lông vũ rơi, và nhặt từng sợi một sau khi ướm dấu chân mình lên vị trí nằm chờ của các sợi lông cánh. Thêm sáu ngọn sáng từ sáu cây nến không rõ ai cắm ngoài cổng nhà. Bên trong kể ra cũng sáng sủa. Nguồn sáng cũng từ những cây nến được thắp trong nhà. Sợi lông vũ cuối cùng nằm dưới một rễ cây gồ khỏi mặt đất. Ông Cả lại sai quả. Những trái chín mọng hoặc rơi quanh gốc, hoặc vẫn cao vút trên các cành lớn.

“Chàng tìm gì ở đây. Nếu muốn ăn táo thì hãy ăn. Uống nước từ nguồn bao giờ cũng ngọt. Ta thấy chàng đang mệt, có phải chàng đã lả sức sau một chuyến đi dài. Đến đây, và bồi bổ.”

Hắn là ai mà nói với tôi như vậy. Một kẻ lạ mặt trong vô vàn những kẻ lạ mặt trên cõi đời này. Dưới những ngọn sáng, tôi xác thực được hắn không phải người tôi gặp ban chiều. Hắn có đeo dây chuyền với cái mặt giấu trong ngực áo. Chỗ đứng của hắn không gần tôi, cũng chẳng quá xa tôi. Khoảng cách này gần kề nhưng cũng xa xăm. Tôi đứng dưới gốc cây táo, còn hắn đứng dựa lưng trên thân táo. Thế rồi, hắn trèo sang trái, sang phải, đu lên cái cành gần đấy lanh lẹ như con sóc.

“Tôi tìm con bồ câu.”

“Không có bồ câu ở đây, chỉ có một cây táo. Chàng ăn một trái đi. Rất nhiều quả dưới chân chàng nhưng tuyệt đối chẳng phải trái ngon. Nếu chàng muốn, ta sẽ hái giúp chàng. Táo ngon giòn khi ăn cả vỏ, nhớ đừng nhè hạt vì chàng sẽ để lỡ mất những viên trân châu.”

“Ăn táo không nhè hạt sẽ mọc cây trong bụng.”

“Chàng đúng một nửa.”

“Thế nửa còn lại?”

“Chỉ những người đã chết, cây mới mọc trong bụng. Gượm đã, chàng đừng sợ hãi, đấy là một quy luật thôi. Nói đúng hơn, chỉ là một sự vãn sinh sau khi hết tuổi trời. Một thân xác dù mỹ miều, thánh thiện đến đâu rồi cũng thối rữa và bị lãng quên dưới lòng đất. Đấy là khi không còn linh hồn. Nhưng nếu xác họ nảy thành cây, thì đấy là tái sinh. Chàng nghĩ xem, còn gì vĩ đại hơn được sống vĩnh hằng.”

Tôi không thể thấy mặt hắn. Việc hắn leo trèo lên tục trên cây táo chỉ là một lí do. Nơi đây được thắp sáng bởi ánh nến, tôi có thể biện hộ rằng ánh sáng không đủ, còn thị lực tôi vốn đã chẳng tinh tường. Cái mặt lạ lùng với những đường gân gấp lên gấp xuống như di chuyển liên tục. Hắn không ăn táo nhưng hễ với tay là nắm được táo. Táo rơi bồm bộp như mưa rào. Phần gốc cây nổi gờ lên như muốn trồi khỏi mặt đất. Tôi ngửi thấy mùi táo chín mọng của lễ hội hàng năm. Không hề có mùi gỗ, hương lá cây khuấy trong gió, thoang thoảng thấy mùi mốc meo của đất lở. Hắn cười vang, tiếng cười cuốn thành tiếng xào xạc của những cành táo. Số táo treo trên cành cũng lắc lư như túm chuông lúc động gió. Ngoài kia, người ta xuống hết đường. Tất cả nhặt táo ăn, ai mang theo ghế cao thì leo lên hái táo. Số người cắm rễ chuyển sinh thành cây đơm quả, người ta hái quả, nhai rốp roắc trong tiếng vỡ xương. Không một ai nhổ hạt. Một vố lừa quá đau khi tất cả đều nuốt hạt. Hương táo đổ trào khắp nơi. Tôi thấy mê man.

“Ăn, là thống trị.” hắn nói trong lúc mắt tôi mê mẩn trong giấc. Giọng hắn du dương hơn tiếng em bé gọi cuộc đời và êm, lịm chất nghiện hơn sữa mẹ.

Người thị trấn nhảy nhót, mừng vui. Nam thanh lột bỏ áo, lột bỏ quần, mặc nhiên thả con giống ngóc thẳng. Nữ tú thả tóc, vén váy, rồi tháo lần lượt từ đôi tất cho đến mảnh đồ lót cuối cùng. Các cặp đôi cùng hái táo và cùng ăn. Họ ăn táo trong khoái trá, thụ hưởng vật chất trong thế chúa muôn loài. Ông Cả trổ quả. Quả tự bứng rơi xuống để rồi đám hai chân bò lồm cồm thành loài bốn cẳng. Bàn tay tôi xiết lại, nắm thấy táo. Một quả táo đỏ tươi như máu xử nữ mất cuộc đời. Trái to bằng bàn tay tôi, nắn thấy cứng, dày, chắc mẻm là táo chín cây. Quả Ông Cả, quà Ông Cả. Mùi táo ngậy thơm làm tôi say mèm. Trong cái choáng mình ê ẩm, nhũn nhão như được chắp cánh, tôi thấy nhiều quang cảnh chập chờn hiện ra, khép lại mở, mở lại khép. Tôi chẳng vén được gì nhưng cái úp mở đã thôi thúc lòng tham phải rút kiếm cướp ngai. Miệng tôi khan, thấy khát, thấy đói, thấy thèm thuồng và thấy được kích dục. Một cái cắn ngập răng vào táo, có khi ngốn hết sạch như hố đen húp sống cả thiên thạch lẫn hành tinh. Cái giòn ngọt của táo Ông Cả tôi đã thử nhưng táo ngày hôm nay sẽ là thượng phẩm. Táo nảy chín kể từ lúc tôi tìm vào Nhà Vòng. Ăn, cái bụng luôn đói ngấu sẽ được thỏa. Một sự no căng phát phì? Hay tôi sẽ chạm đến thứ khoái lạc tối cao và nguyên thủy nhất của thế giới.

Tôi ăn táo.

“Khoan!” – Tiếng ngăn tôi ăn táo.

Vẫn là hắn, kẻ lạ mặt trong vô vàn những kẻ lạ mặt trên cõi đời này. Hắn vẫn cheo leo trên thân cây táo, bám vững chắc như dính vào cây.

“Này chàng, Thiên Đường trong tay chàng, hãy…” – Hắn nói.

“Khoan…” – Hắn lại nói.

“Đồ Lưỡi Chẻ, Kẻ Xấu Xa, Thứ Quỷ Quyệt Trên Cánh Đồng…” – Hắn vẫn nói.

Hắn dựa vào Ông Cả. Hắn ôm mặt, vằn vò mặt. Tiếng hắn cứa làm hai, kháng nhau chan chát. Giọng hắn lúc ngọt ngào như nước hoa, lúc lại dữ dằn như sấm. Sau cái chỉ tay về phía tôi, hắn ngã lộn khỏi cây và đột ngột biến mất sau như trò ảo thuật. Thế rơi của hắn, hai cánh tay duỗi hai bên với đôi chân chập lại theo khuôn thánh giá đổ nhào. Tôi không lần được dấu hắn. Lý do ánh sáng là thừa, tôi cũng chẳng bao biện rằng cỏ mọc dày và rậm đến mức có thể chơi trốn tìm. Hắn đâu rồi. Sau cú rơi, hắn có phải đã tan thành vũng nước và ngấm hoặc bị cây hút làm dinh dưỡng.

Ông Cả trước mặt tôi. Phần vỏ nhăn nheo như bộ mặt tối cổ rỉ nhựa xanh, biểu hiện cho sự tái sinh. Táo trong tay tôi. Chỉ một cái ngoạm, nhai, nuốt ngấu và tôi….

Tôi do dự chưa ăn. Đầu óc tôi choáng lộn bởi tiếng hò hét phía ngoài. Đèn đóm của thị trấn tắt phụt. Người ta xuống đường đốt nến. Những cây nến cong queo, ánh lửa vẹo vọ như lưỡi rắn tìm mồi trong đêm.

Những cơ thể tìm nhau, cùng hái táo và cùng nhai, mớm nhau bằng cái hôn. Táo ăn không nhè hạt. Mọi người ca hát bằng cách vỗ miệng hú. Những thân mình uốn éo, cuốn vào nhau, cuốn vào thân táo.

Tay trái tôi nắm số lông con bồ câu đánh rơi. Chặng đường giữa tôi với bồ cầu, giữa người và chim, giữa cặp chân và đôi cánh. Bảy, đấy là số lông cánh tôi có. Đếm đi đếm lại, vẫn chỉ con số này. Vốn tôi nghĩ mình nhặt được nhiều hơn bảy sợi lông. Nắm chặt bàn tay, tôi đâm bảy đầu ngọn lông vũ vào ngực. Đâm từng nhát một, liên tục cho đến khi cơn đau làm tôi choàng tỉnh. Bảy sợi lông ngấm ngút vào ngực tôi. Chúng biến mất sau khi để lại một bên ngực bầm dập, trầy trụa vết đâm. Máu rỉ và chảy nối nhau từng giọt từng giọt như nước sáp nến. Cơn đau làm tôi tỉnh táo.

Tôi lõa thể từ bao giờ.

Nhà Vòng loang lổ, mục rỗng, tỏa mùi mốc meo của nấm siêu vi trùng. Cây táo Ông Cả kềnh càng như con bạch tuộc già đang hấp hối. Táo rơi bồm bộp từng đợt như lũ kéo.

Những cây táo khác đang quẫy đạp đòi ngoi khỏi đất nhưng rễ đã bắt vào Ông Cả. Mùa lễ hội…Người trong thị trấn ăn táo cả vỏ, cả hột. Tiếng cắn to tướng, nhai cũng to tướng. Một người ngã lăn lộn, hóa cây.

Đôi bàn tay tôi xòe hướng trời. Quả táo đứng trên một bàn tay. Tay còn lại trống trơn, bàn tay từng nắm bảy lông vũ. Trái quả tươi đỏ như mảnh đất màu mỡ, chờ khai phá. Mùi táo chín ngọt ươm trí tuệ nhân loại. Lát táo dày, tinh túy của trời và biển. Uống hết sao rơi, liếm khắp dãy ngân hà…Chúa Tể…

Tôi nghĩ ngợi về tương lai. Tôi đắn đo, nhắm nghiền mắt để đắn đo. Tôi trầm tư thật lâu, tựa như đang chết trong một giấc im lặng kéo dài, đốt cháy tuổi trời. Vết đâm nơi lồng ngực đã khép miệng nhưng máu vẫn nhức nhối và sôi sục, thúc giục tôi mở Thiên Đường…

Không phải trò tưởng tượng! – Tiếng đánh trong đầu trong ngân vang.-Tương lai nào phải trò tưởng tượng. Chọn tương lai, không giống như chọn vật để đấu giá, tìm nơi để náu thân trong khi đấy chỉ là sự ăn bám liều lĩnh. Một Thiên Đường, hay nhiều Thiên Đường…Tôi điên mất. Một con thuyền có đến được đất hứa không khi chúng ta đã dùng hết gỗ thuyền cốt để đóng cho mình một áo quan bền, đẹp nhằm kiêu hãnh với giun dế giòi bọ, sẽ gặm thân ta thành xương trắng. Táo, không phải táo, là tôi. Lông vũ, không phải lông vũ, vẫn là tôi. Cân lượng này, tôi chọn…

TRU SA

 

BỮA ĐIỂM TÂM CỦA TRÂN SA

 

Hồ Đình Nghiêm
Thi phẩm của Trân Sa
đời ta đâu phải là cây mục
trôi với rong và rã với rêu
đời ta đâu phải là ga xép
đứng chờ đỗ lại một tàu xiêu.
Bài trên có tựa là “Tĩnh”. Còn dưới đây, thơ mang tên “Động”. Sắp chung một trang, được viết vào năm 1983.
đôi khi gió bão qua ngang núi
chim bay cuồng nơi ẩn trú đâu
đôi khi cỏ dại gai đầy lối
ngựa ngửng đầu ngơ ngác ngó quanh.
Biên giới giữa Tĩnh và Động, cái sự lọt vào, thứ trạng thái nhập nhằng ấy dường như không hiện diện trong thơ Trân Sa. Cô mềm lòng khi đứng bên này đường và cô cứng rắn khi đặt chân sang tới lề bên kia. Con người Trân Sa chẳng chấp nhận cái nửa vời. Nắng chan hoà trên từng câu thơ, đôi khi chữ chết chìm dưới một bầu trời sũng nước. Tôi đọc, không nhìn ra cái ui ui của thứ thời tiết tức giông nắng trốn. Ra ngô ra khoai, chẳng ỡm ờ!
Từ chỗ tôi ở đến thành phố Trân Sa trú ngụ cách nhau 6 giờ lái xe. Mưa ở Montréal mà nắng vàng ngập phố Toronto. Cách trở bao nhiêu cây số mà trái khoáy vậy? Tôi mua vé xe lửa (không tàu xiêu) và lần khác thì leo lên xe đò băng đồng vượt suối. Chúng tôi gặp nhau đúng ba lần (sự bất quá tam). Vậy thì cuộc hội ngộ còn lại là do “người về từ Toronto” tạo nên. Ba lần, trải dài qua tháng năm của thời điểm 1989 và 1990. Ôi, mới đó mà đã sang một thế kỷ rồi ư?
Trân Sa hơi gầy, hình như ngày cũ ở Nha Trang. Trân Sa nói giọng Huế chưa phai nhạt nước sông Hương, trầm, hơi khản tiếng; thứ chất giọng mà tôi nghĩ những người hát nhạc Jazz đều sở hữu. Tóc cắt ngắn, thật ngắn. Mang gương cận thị. Thích uống cà phê đen đậm đặc và ngồi bên nhau chừng hơn nửa giờ, hai đứa đã đốt khói bay 20 điếu thuốc trong chiều tà. Nhìn Trân Sa, tôi dấu ý nghĩ là cô đã vô tình chở trí nhớ tôi về lại Huế năm xưa, hồi tôi gặp nhà văn Trùng Dương theo nhật báo Sóng Thần đi viết bài tận vùng địa đầu giới tuyến. Ngồi với anh Đinh Cường trong Đại Nội có thể đón nhận cơn địa chấn lan về do hoả tiễn lẫn đại pháo chăm trút xuống cổ thành Quảng Trị. Có chút gì đọng trên gương mặt Trân Sa làm gợi tới Trùng Dương? Cái kính to trên gương mặt gầy tóc ngắn? Những cọng khói ẻo lả từ tay bay lên? Và văn chương. Và lên đường. Và nhập cuộc. (Có thời Trân Sa làm chủ biên tờ Trăm Con, đăng tải thơ văn nhiều bài đặc sắc nhưng chẳng thọ lâu do bởi những ngộ nhận, ngay tại Toronto).
Chúng tôi ngó phố phường, miệng mồm thì bận cà phê thuốc lá, nói chung là vụng về không biết tìm cách trao đổi lời qua tiếng lại. Mà nghĩ cũng chẳng cần thiết bởi vì cả Trân Sa và tôi dạo đó đều viết rất hăng. Mê muội gửi bài tới các tạp chí văn học. Đã đọc của nhau và vai đâu vai như giờ này cũng do chữ nghĩa tác thành để làm nên cuộc xúi dại, hơi ngây ngô, hơi khờ khạo. Ngoài thơ, những truyện ngắn của Trân Sa tựu trung đều là những hạt cát quý, lấp lánh (chẳng rành Hán Nôm nhưng tôi vẫn diễn dịch tên Trân Sa ra thế). Ý tưởng lạ, cách dựng truyện và không khí trong đó luôn để lại một thứ gì gần với xót xa. Một dụng công cố sắp xếp lại những đổ vỡ. Hạnh phúc vốn từ đau đớn mà phát sinh. Truyện ngắn “Giữa Những Hàng Ghế Trống” là một ví dụ. “Về Già Tôi Sẽ Đi Tu” là một chứng minh khác.
Tôi nghĩ, ngồi bên nhau mà người ta ít nói, gần như câm lặng, cũng nên được xem là họ đã hiểu lòng nhau. Nếu cho đó là nguỵ biện, thì có thể thưa rằng, e chúng đang bận suy tưởng, mỗi người tự truy đuổi riêng một nỗi niềm để về nhà dựng được một áng văn ghi dấu, đãi đằng nhau.
Chỉ ba lần, nhìn sâu vào mắt nói trong vô ngôn, rồi Trân Sa thầm lặng bỏ đi, biền biệt, mất dấu. Hỏi thăm bạn bè ở dưới đó, không một ai hay. Chưa già, chắc chắn là Trân Sa chẳng “Tôi sẽ đi tu”. Chợt nhớ lại bài thơ “Bơ Vơ” của người đang lẩn trốn vào bóng tối:
Phật ở bên tay trái
Chúa ở bên tay phải
Đối diện: một rừng người
Phía sau lưng: vực thẳm
Ngó xuống: toàn hư vô
Bàn chân tôi đứng lại
Giữa vô cùng bơ vơ
Xác thân chỉ tồn tại
Những nhịp sầu rất thơ.
Nhớ luôn cả bài “Bạn Xưa”:
trong giấc mơ người ám ảnh tôi
sáng hôm nay trời đất buồn rầu
tôi thay áo bước vào đời sống
quá khứ nặng bàn chân thế sao
tôi ở đây hồn ở đâu đâu
một cánh hoa lạc loài trong đầu
đem gửi tặng người qua trí tưởng
thấy môi ai cười khô héo thôi.
Tới ngang đây, tôi đành “nhớ” thêm các bài thơ khác của Trân Sa. Tôi mượn Trân Sa để gửi theo chút tâm tình mà mình chẳng đủ lời để thổ lộ. Tôi vẫn tự nhận tôi mãi kém thua bạn tôi. Và về già có thể tôi sẽ đi tu, tại gia. Ngồi diện bích, hồi tưởng: Chúng tôi đã có một thời như thế. Hồn nhiên trong sự già cỗi. Dấn thân trong hoạn nạn. Mê muội trong phụ rẫy. Tàn hơi trong lãng công. Chỉ còn nỗi nhớ trong thất lạc. Và chỉ còn thơ văn làm bồi đắp thứ tình bạn không tuổi tác. Một buổi điểm tâm Xanh.
Tuy chênh lệch đôi ba tuổi, nhưng Trân Sa tìm đến thơ văn trước tôi một chặng đường dài. Có bài làm năm 1973, 1975, lai rai về sau… Nhưng tôi yêu thơ Trân Sa ở thời điểm mà tôi vừa đến góp chung một tiếng nói. Chẳng hạn như bài “Đối Thoại Trong Một Cuốn Tiểu Thuyết” được viết vào tháng 11, năm 1988:
Họ nói về những bầy chim gẫy cánh giữa trời
về những con người chôn mặt mình trong đất
về cuộc đời giữa những còn và mất
về tương lai trống không và hiện tại chôn vùi
Họ nói về một vầng trăng chết đuối ngoài khơi
về một tình yêu không còn trong trí nhớ
về cái chết và về niềm hãi sợ
về hoang đảo cô liêu chỉ có một người
Họ quên nói với nhau về những tiếng cười
về những ban đêm không thể còn bóng tối
về không-một-trái-tim-nào-có-tội
về không-ai-là-dã-nhân khi còn biết thương đời
Họ bận rộn nhỏ lên nhau giọt lệ ngậm ngùi
nên quên nói với nhau những lời hy vọng
Họ mải miết với quá nhiều phủ nhận
nên không còn gì ở giữa những đôi môi.
MỘT
tâm hoa nở rộ khắp mùa
thương em búp nhỏ bao giờ ra bông
tay ai khuấy nước trên sông
thương em gợn sóng tan vào hư vô
a ha địa ngục tang bồng
ta quăng cực lạc nhập vòng tử sinh
bước chân lạc lõng u minh
môi cười bình lặng tỉnh điên cũng là
bao giờ em hiểu ra ta
ý thân nhất thể ta là chính em.
(4/88)
LẠNH
tôi đã đi rồi tôi đến đâu
không về. nhất định chẳng về đâu
trời ơi. sao đất vô cùng lạnh
dưới một dòng sông gãy nhịp cầu.
(1987)
NHỚ
đã ra đi
đã qua đường
tình xưa
còn động
vết thương ngọt ngào
đã quay lưng
đã tay chào
hôm nay
còn nhớ
hôm nào,
rưng rưng.
(6/86)
NGƯỜI
đêm
nâng ly café
thấy Nét Đẹp Em Người Da Đen
buổi sáng
châm điếu thuốc
hồng Lửa Ấm Anh Người Da Đỏ
trưa
một ly sữa nhỏ
mát rượi Diễm Phúc Người Da Trắng
chiều
tĩnh lặng
Tôi Người Da Vàng trực nhận mối tương quan
đầy thân ái
nhân loại bao la
dưỡng sinh và huỷ phá
Tôi xin yêu Người
   Da Đen Da Đỏ Da Trắng Da Vàng
Tôi xin vô cùng yêu Anh yêu Em yêu Tôi
Dù sao.
(1984)
NỖI NHỚ
yêu từ cái thuở
trăng còn Rằm
thuở Hoa
đơm nụ mới
đầu năm
bao nhiêu
Thu rụng
Đông tàn úa
Xuân Hạ
còn nguyên
nỗi nhớ
Xanh.
TÂM TRẠNG
có khi rớt xuống huyệt
có khi bay lên trời
có khi đùa mải miết
có khi sầu không nguôi
có khi tôi yêu người
có khi lòng lạnh nhạt
có khi hát yêu đời
có khi gần tự sát
có khi ngồi nghĩ mãi
điều vô lý đời mình
có khi chợt kinh hãi
lặng lẽ kiếp nhân sinh.
BAO DUNG
lặng im mà ngó
mưa về
ngó trời đất
sụp
gần kề hai chân
lặng im
rơi lệ xuống
thầm
trái tim nhẫn nhục
ôm chầm bão giông
từ đêm
địa chấn tới gần
lặng im nghe
tiếng chim gầm mái hiên
lặng im nghe
tiếng khóc phiền
lặng im nhìn
những sắc hình
rụng phơi
lặng im
môi hé
nửa vời
tiếng bao dung
thoảng
giữa trời bụi che.
MEN MÙA HẠ
chiều mang tiếng nói đi theo gió
mang theo ngọn nắng khuất về tây
có chi trong nắng mà tôi nhớ?
một giọng cười hay sợi tóc bay?
có chi trong tiếng mà tôi nhớ?
một chút ân cần một chút vui?
có chi như mật trên môi đó
ngọt với muôn người hay chỉ tôi?
có chi như thể trong vườn lạ
nở một nhành ôi đẹp bất thường
có chi xanh mượt như cây lá
vẽ lại trần gian vốn thật buồn
có chi như thể hương mùa hạ
tiễn một mùa đông đã quá dài
ô hay cứ tưởng tim thành đá
lại đập hồn nhiên mấy nhịp sai
cứ đến rồi đi rồi trở lại
cứ cho tôi nhớ hết đêm này
ngày mai cứ nắng đừng mưa nhé
cứ vẫn ngọt ngào như bữa nay
chiều mang tiếng nói đi theo gió
mang theo ngọn nắng khuất về tây
có chi trong nhớ mà tôi ngỡ
men nồng chưa chuốc vội vàng say…
Những bài thơ hiển thị ở trên, tôi nhặt ra từ hai thi tập “nàng thơ” ký tặng năm xưa (đã qua thế kỷ rồi sao?): “Thơ Trân Sa” (Tập Họp xuất bản năm 1989) và “Điểm Tâm Cho Người Tình” (Tân Thư xuất bản năm 1990). Cả hai thi tập đều không ghi đôi dòng tiểu sử tác giả và những trang thơ giờ này thảy đều úa màu. Thứ sắc màu vàng vọt có trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Nắng bờ sông như màu trang vở cũ
Thuở học trò em làm khổ ai chưa?”
Tôi từng khổ và tôi đang hối hận. Giá mà ngày ấy thực hiện được một buổi chuyện trò cùng bạn, để tìm hiểu do đâu, ngọn nắng nào đã soi rọi vào, tác thành nên những hạt cát lấp lánh có tên gọi Trân Sa. Bởi chăng chúng ta đều bị cuốn vào thứ đời sống hối hả chuyện mưu sinh. Không thể cưỡng chống, chẳng thể nghe theo lời Bùi Giáng:
“Áo cơm bỏ lại bên đời
Bỏ tan lìa mộng bên lời tử sinh”.
Bạn còn đâu đó ở Toronto? Hay “khi về già tôi sẽ trở lại chốn xưa”? Sài Gòn, Phan Thiết, Đà Lạt hay Nha Trang? Thành phố mà nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từng gọi: “Hang động của tuổi thơ”. Có lẽ bạn chẳng hay biết “chuyện nhỏ” về tai ương mà tôi từng hứng trong mùa Đông khắc nghiệt chốn này. Khi ấy, tôi gượng cơn đau, nhớ thơ bạn vụt hiện:
“đi ngang bãi tuyết
thấy đời dễ thương
ngã trong đám tuyết
ôi lạnh khôn cùng”.
Mùa đông lại sắp về, tôi chống gậy đi tới quán cà phê cũ kỹ mà chúng ta từng ngồi hun khói. Tôi nhớ lại nhân dáng bạn, khuôn mặt bạn, đang ngồi ghế đối diện. Ừ, nỗi nhớ hiện ra “giữa những hàng ghế trống”. Tôi chép lại thơ bạn, một cách thiếu sót, cũng là một cách làm ấm lại. Chúng ta, chẳng ai có cảm tình về một khoảng trống cả. Phương ấy, bạn còn khổ tâm chêm đầy vơi những câu thơ? Và quan trọng hơn, bây chừ lòng bạn đang Tĩnh hay đang Động?
Chỉ một chút
thoáng động
trên
ngọn cỏ ướt mưa
ngoài ngắt xanh biển rộng
con cá nằm
ngủ trưa.
HỒ ĐÌNH NGHIÊM 
song thập, 2017

Những hồi ức từ buổi họp mặt của một khóa Võ Bị lừng danh

 

Tối Chủ Nhật 24/11, trước Thanksgiving, tôi được ông anh bà chị cho tháp tùng tham dự buổi họp mặt Cựu SVSQ Khóa 16 VBQGVN của anh, kỷ niệm 54 năm ngày khai giảng Khóa Võ Bị đặc biệt vang danh này.

Có lẽ hầu hết những ai đã trưởng thành tại miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống Cộng đều biết hay nghe nói về Khóa 16 VB(Đà Lạt). Khóa đầu tiên cũng là khóa điển hình của quân trường mang danh “Võ Bị Quốc Gia Việt Nam”, hậu thân của trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (École Militaire InterArmes de Dalat (EMIAD).  Một quân trường danh tiếng nhất Vùng Đông Nam Á, đào tạo những sĩ quan hiện dịch mẫu mực nhất. Với Đại tá Trần Ngọc Huyến, vị chỉ huy trưởng nhiều tài năng và huyền thoại,  một chương trình huấn luyện bốn năm mới mẽ, đặc biệt chú trọng đến kiến thức văn hóa, với châm ngôn được dùng như kim chỉ nam: “Tự Thắng Để Chỉ Huy”, những bài giảng về nghệ thuật lãnh đạo có sức lôi cuốn, cùng với bài truy điệu và những hình thức tưởng niệm đầy tính bi hùng của chính vị chỉ huy trưởng đặt ra, đã thổi vào tim óc học trò của ông, những SVSQ Khóa 16 VB, lòng say mê binh nghiệp, niềm kiêu hãnh của một người lính sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc, để sau này trở thành những vị chỉ huy tài ba, thao lược, văn võ song toàn, làm rạng danh cho Quân Lực VNCH.

Hôm nay, những cánh “đại bàng” còn sống sót từ một thời lẫy lừng trên khắp chiến trường ngày ấy, dù trên thân xác và trong tâm hồn còn mang nhiều thương tích, và tuổi đời đã đến lúc không còn nhiều cơ hội để hẹn một lần sau, nhưng đã cố qui tụ về đây để cùng gặp gỡ những đồng môn năm xưa, khi tất cả còn là những SVSQ trai trẻ, đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời, cùng một lời nguyền :” Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”. Nhìn những mái đầu bạc, những bước chân khập khiểng, những đôi mắt mơ hồ như đang hồi tưởng về quá khứ lẫm liệt một thời, có ai không khỏi chạnh lòng?

Nếu không có ông anh “chỉ điểm” hai vị đồng môn ngồi ngay phía sau lưng, tóc vẫn còn đen, trông hiền lành như hai vị giáo sư, chắc chắn tôi không thể ngờ được, một người từng là Đại tá BĐQ (Nguyễn Văn Huy) nổi tiếng, một người là Trung Tá Nhảy Dù (Bùi Quyền), vị thủ khoa của Khóa Võ Bị vang danh này. Khi nhìn được “dung nhan mùa thu” của vị thủ khoa Khóa 16, tôi bỗng nhớ lại chuyện bốn mũi tên do vị thủ khoa Khóa 17, Vĩnh Nhi, giương cung bắn đi trong ngày lễ ra trường mà tôi được nghe một ông anh Khóa 17 kể lại vài năm trước.

Mặc dù đã được thực tập nhiều lần trước ngày hành lễ về động tác dùng cung bắn 4 mũi tên đi 4 phương trời tượng trưng cho chí tang bồng hồ thỉ của các tân sĩ quan, nhưng trong giây phút trang nghiêm nhất của buổi lễ hôm ấy, trước sự chứng kiến của vị nguyên thủ quốc gia, tân thiếu úy Vĩnh Nhi, thủ khoa Khóa 17, đã chỉ bắn bay xa được có một mũi tên duy nhất. Sau này nhiều người nghĩ mũi tên ấy chính là biểu tượng cho vị thủ khoa Khóa 16, Bùi Quyền, người hùng còn sống sót đến hôm nay. Ba mũi tên còn lại bị rơi ngay trước mặt là điềm báo trước sự hy sinh của ba thủ khoa kế tiếp:  Nguyễn Anh Vũ thủ khoa khóa 18, sĩ quan binh chủng Nhảy dù hy sinh trong trận đánh tại mật khu Bời Lời năm 1964. Thủ khoa Võ Thành Kháng khóa 19, TQLC, tử trận ngay trong trận đánh đầu đời, Bình Giả năm 1965. Và cuối cùng chính là người bắn cung hôm ấy, thủ khoa Vĩnh Nhi, SĐ7BB,  hy sinh  bên bờ sông Bảo Định, Mỹ Tho trong trận Mậu Thân 1968.

Đã có rất nhiều bài viết ca ngợi vinh danh những sĩ quan, những cấp chỉ huy tốt nghiệp Khóa 16 VB, như là những người lính kiệt liệt, những cấp chỉ huy mẫu mực ở những binh chủng lừng danh, không những đã tạo nên những chiến tích lẫy lừng mà còn mang nhiều huyền thoại. Từ vị Thủ khoa, Mũ Đỏ Bùi Quyền, đến vị Á khoa Mũ Xanh Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc, Á khoa Mũ Đỏ Trần Đăng Khôi, vị Lữ Đoàn trưởng Nhảy Dù ” bô trai” Lê Minh Ngọc, vị Lữ đoàn phó TQLC “hào hoa” Đỗ Hữu Tùng từng làm say đắm một nàng ca sĩ nổi danh thời ấy. Đại tá BĐQ Nguyễn Văn Huy, mang lon đại tá khi chỉ mới 34 tuổi và có lẽ là một trong số rất hiếm sĩ quan cấp đại tá có Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Đại tá Đặng Phương Thành, người anh cả của Trung Đoàn 12/SĐ7BB đã tạo nên chiến thắng cuối cùng lẫy lừng nhất khi đánh tan hai trung đoàn thiện chiến của Công trường 7 CSBV tại Long An, trong mưu đồ vây hãm và tiến chiếm Sàigon tháng 4/75. Ông đã nhận tấm Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tứ Đẳng cuối cùng của VNCH do Tổng thống Trần Văn Hương đến tận nơi trao tặng. Năm 1976 Ông đã bị bon CS trả thù giết chết man rợ tại một trại tù miền Bắc. Đại tá Nguyễn Hữu Thông, vị trung đoàn trưởng can trường của SĐ22BB, luôn hết lòng yêu thương, sống chết với anh em đồng đội. Cuối tháng 3/75 theo lệnh, đã cùng đơn vị lên tàu Hải quân chờ di chuyển, nhưng thấy còn thiếu một “đứa con” đang vẫn còn chiến đấu , đã nhảy xuống tàu bơi vào bờ, để rồi không bao giờ trở lại.

Trong số những tên tuổi tiêu biểu này, có người đang còn sống đời lưu lạc tha phương, có vị đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường xưa, ở một nơi vô danh nào đó. Dù xương cốt đã tan vào cát bụi, nhưng hình ảnh kiêu hùng và tên tuổi sẽ còn linh hiển và vang vọng mãi trong lòng mọi người, đặc biệt những ai đã từng là lính.

Được vinh hạnh tham dự buổi họp mặt của những vị đàn anh ” quá khổ”, những ông thầy một thời hằng ngưỡng mộ, tôi bỗng nhớ đến những vị Khóa 16 mà tôi đã từng phục vụ dưới quyền hoặc có cơ duyên được làm việc chung trong các cuộc hành quân hổn hợp hay đã được quen, được gặp. Đa số những vị này có thể ít người biết đến, hoặc đang còn ở cái thời chưa vang tiếng, nhưng tất cả đã để lại trong lòng tôi một niềm kính phục.

Rời trường Thủ Đức, tôi được bổ nhậm về một Sư Đoàn Bộ Binh ở Vùng 2. Sau khi trình diện đại tá Lữ Lan, Tư Lệnh Sư Đoàn, trong số 12 người cùng khóa, tôi và hai thằng bạn  được về Tiểu Đoàn 3/44, bổ sung cán bộ trung đội trưởng vừa bị tử thương trong các trận Đỗ Xá, Vũng Rô.

Hậu cứ tiểu đoàn đóng tại Ban Mê Thuột, nhưng vì được chọn làm đơn vị lưu động, trừ bị cho quân đoàn, nên đơn vị đi hành quân liên miên từ các tỉnh đồng bằng vùng duyên hải đến các tỉnh cao nguyên xa tít: Quảng Đức, Lâm Đồng, Pleiku, Ông thiếu úy già chỉ huy hậu cứ cho biết, đã hơn bốn năm, tiểu đoàn chưa có lần trở về hậu cứ.

Lãnh quân trang súng ống xong, hai ngày sau chúng tôi được lệnh tháp tùng chuyến bay C47 của đại táTư Lệnh SĐ đi họp ở Nha Trang, để trình diện đơn vị. Tiều đoàn đang hành quân tảo thanh địch tại vùng Diên Khánh, nơi một mật khu của địch vừa bị khám phá sau khi khai thác những tù binh bị bắt trong trận tấn công của chúng vào khu vực Đại Điền và Thanh Minh bị thảm bại.

Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng mang xe đến phi trường đón về đơn vị. May mắn, đúng vào lúc đơn vị vừa chấm dứt cuộc hành quân dài hạn, đang nằm dưỡng quân tại một vườn dương trên bờ biển, bên ngoài hàng rào của TTHL Hải Quân Nha Trang. Lần đầu tiên chúng tôi thấy tận mắt hình ảnh cực khổ của một đơn vị tác chiến thực thụ. So với hình ảnh sinh hoạt của TTHL/ HQ nằm ngay bên cạnh, thì đó là một thiên đường, một hình ảnh lính hoàn toàn khác.

Thời ấy, được một đơn vị chủ lực hùng mạnh tăng phái hành quân truy tìm và tiêu diệt địch trong lãnh thổ của mình là một điều rất vui mừng, nên ông tỉnh trưởng Khánh Hòa đã dành riêng 4 phòng tại khách sạn Phụng Hoàng, nằm trước ga xe lửa, cho tất cả sĩ quan nghỉ ngơi sinh hoạt. Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng đưa về đây trình diện các ông đại đội trưởng và giới thiệu với các sĩ quan khác trong đơn vị.

Trong bốn ông đại đội trưởng có một vị oai phong cao lớn, mang hai hoa mai trước ngực. Sau khi được giới thiệu, chúng tôi biết đó là Trung úy Thái Hữu Dư, tốt nghiệp Khóa 16 VB Đà Lạt. Đại Đội trưởng Đại Đội 1.

Tôi về Đại Đội 3, không thuộc quyền của anh, nhưng hầu hết sĩ quan trong đơn vị đều gần gũi thân tình. Anh xem bọn tôi như em út, chỉ dạy, hướng dẫn đủ điều. Không những về kinh nghiệm chiến trường, mà còn nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy. Anh bảo, là sĩ quan ở một đơn vị tác chiến phải làm sao cho quân sĩ vừa yêu thương mà vừa kính nể. Hơn một năm, đơn vị tham dự khá nhiều trận chiến, anh luôn là một vị đại đội trưởng xuất sắc, gan dạ mưu lược, đã tạo nhiều chiến thắng vẻ vang cho đơn vị.

Một năm sau, anh được thuyên chuyển bổ sung đại đội trưởng nòng cốt cho một tiểu đoàn bạn. Trong một cuộc hành quân tại Lâm Đồng, đại đội anh bị địch quân phục kích khi đang di chuyển bằng xe trên quốc lộ. Anh bị thương nhưng vẫn điều động đại đội phản phục kích, chuyển bại thành thắng. Tuy nhiên chiến thắng ấy chính anh phải trả giá, vết thương ở chân bị trở nên trầm trọng. Anh được tản thương về TYV Cộng Hòa để giải phẫu. Xuất viện, anh được thuyên chuyển về một đơn vị thuộc Vùng 4.

Sau đó, sư đoàn bổ sung cho đơn vị một vị đại đội trường khác, cũng xuất thân Khóa 16VB mà chúng tôi đã từng nghe danh và gặp gỡ trong các cuộc phối họp hành quân trước đó: Trung úy Huỳnh Bá Vạn. Anh về nắm đại đội của tôi.

Anh Vạn là người đã tạo nên nhiều huyền thoại (và giai thoại) trong đơn vị, mà tất cả anh em từ quan tới lính đều hết lòng thương yêu và kính nể. Anh là một trong những SVSQ Khóa 16 VB được chọn sang ngành Hải Quân. Nhưng sau một thời gian ngắn ở TTHL/HQ Nha Trang, anh đã xin ra Bộ binh để được đi chiến đấu. Anh đúng là một “chiến binh” thực thụ, luôn một lòng sống chết với anh em, dù ở chiến trường hay khi về thành phố. Anh chiến đấu thật hào hùng và sống hào sảng như một Lương Sơn Bạc. Thương yêu sĩ quan dưới quyền như các em út trong nhà. Đàn bà và rượu dường như không đủ làm anh say và luôn xem nhẹ hơn tình đồng đội. Khi uống rượu anh cũng bình tĩnh như lúc đánh giặc, chỉ cười, không nói, vậy mà chưa có tay nào trong đơn vị uống hơn anh và đánh đấm hơn anh.

Sau khi rời tiểu đoàn, anh về làm đại đội trưởng Trinh sát Sư Đoàn rồi ra nắm tiểu đoàn ở một trung đoàn khác của sư đoàn. Vài tháng sau lên làm trung đoàn phó, thăng cấp trung tá. Bị thương, anh được thuyên chuyển về TTHL Lam Sơn (Dục Mỹ).

 

Tháng 5 năm 1966, đang hành quân trong rừng núi Phú Yên, đơn vị tôi có lệnh kéo ra Quốc lộ, lên xe di chuyển đến phi trường Tuy Hòa để không vận lên Ban Mê Thuột, tăng phái cho Trung Đoàn 45 BB, tham dự cuộc hành quân Quảng Nhiêu, tiếp viện một tiểu đoàn BĐQ và một chi đoàn TQV bị VC phục kích.

Trước giờ xuất quân, đám sĩ quan chúng tôi ngồi uống rượu đế. Ông đại đội trưởng Huỳnh Bá Vạn của chúng tôi đi tìm và kéo về một người bạn đồng môn Khóa 16: Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ. Trông anh thật đẹp trai và hào hiệp. Được biết anh là vị đại đội trưởng nổi tiếng nhất của Trung Đoàn 45 này. Cuộc rượu chưa tàn thì có lệnh xuất quân. Một giờ sau, cánh quân bạn đụng địch. Lực lượng đich khá hùng hậu, có nhiều ổ súng cộng đồng, bố trí trong các vườn cà phê với hầm hố kiên cố. Cánh quân đi đầu của ta phản công mãnh liệt, dưới sự điều động gan dạ liều lĩnh của người đại đội trưởng, đã nhanh chóng đè bẹp đối phương. Nghe trong hệ thống vô tuyến, nhiều địch quân bị giết và bắt sống, bỏ lại một số vũ khí có cả đại liên và súng cối 60 ly. Chiến thắng hào hùng ấy đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của vị đại đội trưởng. Chúng tôi giật mình thảng thốt, khi biết vị sĩ quan ấy chính là Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ, vừa mới gặp để chỉ kịp cạn nửa bi-đông rượu mà đã đem lòng kính mến, chúng tôi đã vĩnh viễn mất anh.  Đó là vị sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB đầu tiên mà tôi được quen biết, đã hy sinh. Nghe nói anh ra đi, cũng đã để lại rất nhiều nước mắt cho các mỹ nhân, nữ sinh Ban Mê Thuột.

Trận chiến Quảng Nhiêu kết thúc, đơn vị tôi di chuyển đến Lâm Đồng. Trong một cuộc hành quân phối hợp với một tiểu đoàn bạn, tôi lại được gặp Trung úy Điều Ngọc Chuy, cầm trên tay khẩu Carbine M.2 bá xếp, đang chỉ huy đơn vị lục soát, vội vàng chạy đến hướng dẫn đại đội tôi đi theo lộ trình tránh mìn bẫy của địch. Thấy anh bắt tay ông đại đội trưởng của tôi, thân mật mày tao, chúng tôi biết anh cùng Khóa 16. Anh Chuy rất vui vẻ hiền lành. Sau này anh lên trung tá, làm Trưởng Phòng Nhì Sư Đoàn. Trong vài lần ghé thăm trung đoàn tôi, khi bào huynh của anh đang làm trung đoàn trưởng (Đại Tá Điều Ngọc Chánh, Khóa 8 VB). Gặp chúng tôi, lúc nào anh cũng bình dị, hòa đồng, luôn nở nụ cười và xưng hô anh em thân thiện. Từ các vị Tư Lệnh đến tất cả sĩ quan các đơn vị, ai cũng mến mộ và kính nể anh.

Trong thời gian hành quân ở Ninh Hòa (Khánh Hòa), nhờ có ông đại đội trưởng Khóa 16VB, bọn sĩ quan chúng tôi được quen biết và “ăn có” uy danh và lòng hào hiệp của một ông quận trưởng tốt nghiệp Khóa 16VB: Trung úy Nguyễn Đằng Tống.  Lúc ấy, anh Tống có lẽ là một ông quan quận trẻ nhất nước, lại làm quận trưởng của một cái quận lớn nhất tỉnh Khánh Hòa:  quận Ninh Hòa.

Bọn tôi đi theo ông quận trưởng đến thăm các trường tiểu học, và trung học. Chẳng báo trước và cũng chẳng có tiền hô hậu ủng. Ông quận thì “thăm dân cho biết sự tình”, còn bọn tôi dựa hơi để tán mấy cô giáo trẻ. Ở vài trường, các cô thầy giáo không biết anh là quận trưởng, vì thấy anh còn quá trẻ, đặc biệt mặc quân phục TQLC, nên chẳng có ai biết cấp bậc của anh. Có người còn hỏi anh có phải là cảnh sát.  Anh cũng chỉ cười, không giới thiệu mình là ai.

Anh là cựu học sinh, huynh trưởng của tôi, ở trường Võ Tánh Nha Trang. Về sau chúng tôi rất hãnh diện biết anh là một tiểu đoàn trưởng, rồi lữ đoàn trưởng vang danh của TQLC. Rất đau đớn khi biết anh đã chết trong những ngày sa cơ khốn khó tại một trại tù ở Nghĩa Lộ. Khi ấy tôi cũng đang ở một trại tù khác trong vùng, nhưng không được biết tin và chào anh lấn cuối.

Trong một cuộc hành quân tại khu vực Bình Lâm (Phan Thiết), đơn vị tôi được đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn đến thị sát và ở lại với chúng tôi một đêm. Vị tư lệnh rất đặc biệt và nổi danh này là Đại tá Nhảy dù Trương Quang Ân (từng thủ khoa Khóa 7 VBĐL và nhiều khóa tham mưu khác trong và ngoài nước. Sau lên chuẩn tướng và  đã hy sinh cùng phu nhân khi chiếc trực thăng của ông bà bị bắn rơi ngay sau khi rời khỏi tiền đồn Đức Lập mà ông bà vừa ghé thăm, ủy lạo anh em binh sĩ và gia đình, vào tháng 8/68).

Ông là một vị tư lệnh rất mẫu mực, nghiêm khắc.  Khi nghe tôi trình bày về tình trạng quân số của đại đội, do tôi vừa mới tạm thời thay anh đại đội trưởng bị thương nằm bệnh viện, nên không nắm vững, Ông đã lớn tiếng khiển trách tôi về số binh sĩ bất khiển dụng và phục vụ ở hậu cứ. May mắn có một vị trung úy trẻ tháp tùng vị Tư Lệnh đã xin phép Ông, giúp tôi kiểm soát và cùng trình bày lại với vị Tư Lệnh sau khi Ông duyệt qua hệ thống phòng thủ. Vị trung úy luôn vui vẻ, tươi cười và khuyên tôi bình tĩnh, giúp tôi tính lại chính xác và giải thích các lý do bất khiển dụng của binh sĩ trong đại đội. Lần này được vị Tư Lệnh chấp nhận, hài lòng. Sau đó tôi được biết đó là Trung úy Nguyễn Xuân Thắng, tốt nghiệp Khóa 16 VB.  Sau này trở thành trưởng Phòng TQT của Sư Đoàn với cấp bậc Trung tá.

Cuối năm 1966, sau cuộc hành quân tại Di Linh, Lâm Đồng, tiểu đoàn tôi được di chuyển về giữ an ninh cho công trường Đập Đa Nhim. Riêng đại đội tôi được biệt phái cho Tiểu Khu Ninh Thuận. Đúng lúc ông trung úy đại đội trưởng đi phép đặc biệt, không có đại đội phó, tôi là sĩ quan trung đội trưởng thâm niên được chỉ định xử lý thường vụ.

Đại đội tôi có nhiệm vụ tùng thiết một chi đoàn TQV, phối hợp với Hải Quân, đổ bộ đột kích bất ngờ vào Sơn Hải,  ngôi làng hẻo lánh nằm ven biển, bị địch chiếm đóng từ ba tháng trước và đang tổ chức thành một sào huyệt kiên cố.

Đại đôi di chuyển đến Ninh Chữ, quê hương của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi bố trí quân xong, cho anh em binh sĩ luân phiên ra biển tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi vào Duyên Đoàn 27 họp hành quân. Điều bất ngờ lý thú là anh Duyên đoàn trưởng, HQ Trung úy Hoàng Đình Thanh, lại là bạn cùng Khóa 16 VB với ông đại đội trưởng của tôi, cùng được chọn về Hải Quân khi còn ở trường Mẹ, nhưng anh đại đội trưởng của tôi đã xin ra Bộ Binh đánh giặc. Tôi bèn khoe danh tánh và thành tích ông đại đội trưởng của mình, nên “Commandant” Thanh xem bọn tôi như em út của chính anh. Lệnh cho duyên đoàn thết đãi và chăm sóc bọn tôi chu đáo. Sau khi họp hành, nhận bản đồ và đặc lệnh truyền tin xong, anh xách xe jeep chở bọn tôi lên thành phố Phan Rang chơi xả láng một đêm và cả một buổi sáng hôm sau. Ông duyên đoàn trưởng gốc Võ Bị Đà Lạt này chịu chơi còn hơn cả đám bộ binh đánh đấm nhà nghề bọn tôi. Tửu lượng của anh cũng thuộc hàng “sư phụ”. Và đây là lần đầu tiên tôi tham dự một cuộc hành quân do Hải quân chỉ huy.

Chúng tôi đã đánh một trận rất đẹp và chiến thắng vẻ vang. Từ ấy, anh Thanh xem tôi như là em và chúng tôi thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau trước ngày mất nước. Năm 1974, trong thơi gian theo học một khóa tham mưu tại Long Bình, tôi gặp lại anh. Lúc ấy anh là trung tá đang làm việc tại BTL/HQ. Anh em cũng đã say một buổi. Sau này biết tin anh mất ở Hoa Kỳ.

Một vài lần, dẫn đơn vị về thụ huấn bổ túc tại TTHL/ QG Lam Sơn (tại Huấn Khu Dục Mỹ), chúng tôi được gặp một vị thiếu tá trẻ, Trưởng Khối Huấn Luyện, đẹp trai, tướng tá oai phong nhưng rất vui vẻ hiền lành, đã tận tình hướng dẫn và giúp đơn vị chúng tôi trong suốt thời gian huấn luyện. Vị sĩ quan này đã để lại trong lòng tất cả sĩ quan và binh sĩ đơn vị tôi sự kính trọng và quí mến. Đó là Thiếu tá Trần Khắc Thuyên, tốt nghiệp Khóa 16 VB. Sau này anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 21 BB, và sau cùng về một TTHL/ QG khác để giữ chức vụ quan trọng hơn. Khi ra hải ngoại tôi được biết anh luôn gắn bó với Trường Mẹ, với đồng môn, hết lòng gầy dựng Tổng Hội Cựu SVSQ /VB.

Năm 1970, (lúc này tôi đã được điều về BCH Trung Đoàn), một sĩ quan từ Sư Đoàn 22BB  chuyển về giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4/44: Đại úy Võ Anh Tài. Có lẽ anh là một trong số rất ít sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB có quá nhiều lận đận, trong tình trường cũng như trên chiến trường. Anh là người cùng quê Ninh Hòa với bà xã tôi, và khi ở trong cư xá sĩ quan. chúng tôi ở sát vách nhau.  Dường như chính những nỗi niểm đặc biệt trong tình yêu, hôn nhân, và chứng tâm bệnh kỳ lạ của một đứa con, đã làm cho anh trở nên khắc khổ, trầm lặng, nghiêm nghị, ít nói. Rất khó để tìm được ở anh một nụ cười, hay một lời đùa giỡn. Khá thân nên anh thường rủ tôi sang uống bia, sau các cuộc hành quân trở về. Anh uống khá nhiều, đôi mắt đỏ hoe, nhưng chỉ trầm ngâm, họa hoằn lắm anh mới thốt ra vài tiếng, rất nhỏ nhẹ thân tình. Hiểu và thương quí anh, nhưng thực tình, tôi rất ngại và không mấy hứng thú khi được anh gọi sang uống rượu. Vì tửu nhập mà ngôn không thể xuất.

Nhưng dường như ở bất cứ một vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16 VB nào cũng có nhiều điều làm tôi nể phục. Anh làm tiểu đoàn trưởng cùng với ba anh tiểu đoàn trưởng khác đều là đàn em của anh: Đặng Trung Đức, Nguyễn Xuân Phán (khóa 19) và Hồ Đắc Tùng (khóa 20).  Đặc biệt hơn, vị trung đoàn phó (và sau này là trung đoàn trưởng) cũng là một đàn em Võ Bị của anh: Trung tá Ngô Văn Xuân (Khóa 17).

Vậy mà trong các sinh hoạt, qua các buổi hội họp, hành quân, tôi thấy anh luôn nhường nhịn, “tương kính” đàn em. Các vị đàn em, dù có người là cấp chỉ huy của anh, ai cũng kính trọng anh trong tình thần đệ huynh Võ Bị. Tôi rất khâm phục.

Mùa hè 1972, Trung Đoàn 44 BB chúng tôi tạo một chiến thắng lẫy lừng và giữ vững được Kontum trước sự tấn công của Sư Đoàn Điện Biên 320 CS. Anh Tài được thắng cấp thiếu tá tại mặt trận cùng 3 vị tiểu đoàn trưởng đàn em. Và cấp chỉ huy của anh, một đàn em khóa 17 được thăng cấp trung tá.  Tôi được uống rượu “rửa lon” cùng bốn anh tiểu đoàn trưởng trong một buổi trưa tạm im tiếng súng. Sau khi cụng ly vui vẻ với đàn em, anh tỏ ra bực dọc về việc Mỹ bỏ rơi đồng minh Việt Nam, chúng tôi phải chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn đủ mọi phương tiện. Bỗng anh nở một nụ cười (hiếm hoi) rồi thốt lên: “Mai mốt tao bị thương hay chết chẳng biết có trực thăng đưa tao ra khỏi Kontum này hay không nữa?”

Không ngờ câu nói ấy lại trở thành điềm gỡ. Chỉ hai hôm sau, khi CSBV đưa chiến xa T54 tấn công chiếm Bệnh viện 2 Dã chiến, nằm sát hàng rào phòng thủ của thành Dak Pha, đang được xử dụng làm BCH Trung Đoàn. Tiểu Đoàn 4/44 được lệnh mở đường sang tái chiếm. Hỏa lực địch quá mạnh, anh Tài phải cho cắt hàng rào kẻm gai phòng thủ, rồi đích thân dẫn đầu toán thám báo chui qua vùng địch chiếm. Một quả mìn phòng thủ của ta phát nổ làm bay mất cả hai chân của anh. Được binh sĩ khiêng ra phía sau. Trong khi chờ phi cơ tản thương, anh rất tỉnh táo, hé mở mắt nhìn anh em, từng người, với thói quen im lặng không nói một lời gì. Nhưng tôi nhìn thấy dòng nước mắt vừa ứa ra trên mí mắt anh. Một trung úy đại đội trưởng là em ruột của anh, được phép tháp tùng đưa anh về QYV Pleiku. Nhưng khi trực thăng cất cánh được khoảng 15 phút, qua hệ thống vô tuyến, người em báo cho chúng tôi biết là anh Võ Anh Tài đã trút hơi thở cuối cùng.

 

Đầu tháng 3 năm 1972, Trung Đoàn 44BB có lệnh di chuyển từ bản doanh Lý Thường Kiệt Sông Mao ( Bình Thuận) lên  An Khê để thay thế vị trí của một Lữ Đoàn thuộc SĐ 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước.  Trong các cuôc hành quân trực thăng vận vào các khu vực Đèo Mang Yang và các mật khu nằm phía bắc An Túc, tôi có vài dịp cùng bay trên C&C đổ quân với trung tá Vĩnh Quốc, Phi Đoàn trưởng Phi Đoàn Sơn Dương 235 (Pleiku). Ông xuất thân Khóa 16 VB.  Trung tá Vĩnh Quốc là vị phi đoàn trưởng rất cẩn trọng, bình tĩnh, trong tình huống nào cũng quan tâm đến sinh mạng , không những của phi hành đoàn , mà cả các binh sĩ bộ binh. Ông điều động các gunship dọn bãi đáp và cover thật kỹ, trước khi cho các trực thăng (slick) đáp xuống đổ quân. Vài trường hợp bộ binh vừa xuống đất thì chạm địch, ông luôn túc trực trên trời để hổ trợ. Sau này tôi gặp lại ông vài lần tại Kontum. Phi Đoàn Sơn Dương 235 của ông đã ròng rã sống chết với những người lính bộ binh chúng tôi trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa.

 

Sau ngày mất nước, trong lúc sa cơ tù tội, tôi được “biên chế” về một đội tù mà anh đội trưởng là một “ông thầy Khóa 16” nổi danh trên chiến trường Vùng I: Trung tá Nguyễn Phú Thọ. Anh cũng là bào đệ của Á khoa khóa 16, sau này là vị lữ đoàn trưởng lừng danh của TQLC: Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc.

Trong đội tù, anh là người có cập bậc cao nhất. Dường như đó là thủ đoạn của đám VC, nhằm tạo sự ngờ vực lẫn nhau. Dù bắt buộc phải làm, nhưng anh là người đội trưởng rất tư cách, khí khái, luôn tìm cách bảo vệ, giúp đỡ em út tận tình, chấp nhận mọi hình phạt của bọn cai tù. Ở trong tù, nhưng anh đã xem “đội tù” như là đơn vị cũ của mình, hết lòng thương mến đùm bọc, chở che em út. Ngày tôi được chuyển trại vào Nam, trong lúc chia tay, anh đưa cho tôi lá thư nhờ chuyển về một địa chỉ ở Sài gòn. Anh kể cho tôi nghe giai thoại giữa anh và người nhận thư. Sau khi ra tù, tôi có ghé lại thăm người bạn quí ấy của anh và nghe những lời ca tụng về anh với sụt sùi hai dòng nước mắt. Sau này biết anh trốn trại và vượt biên sang Canada. Tôi mừng lắm, liên lạc hỏi thăm anh. Rồi một hôm khi vừa đến Cali thăm mấy đứa con, tôi được tin anh Nguyễn Phú Thọ đã ra đi một cách chẳng ai ngờ, cũng trong một buổi họp bạn Khóa 16 ở Nam Cali. Tôi ân hận là đã đến trễ hơn hai tuần để không được gặp lại anh, tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng.

***

Những khuôn mặt Khóa 16 VB mà tôi đã được vinh dự làm việc dưới quyền hay quen biết ấy đã cho tôi một cái nhìn thật chính xác và toàn diện về các vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16VB. Bất cứ ở cương vị nào, quân binh chủng nào, từ tác chiến đến tham mưu, từ những vị thành công hay thất bại trong thăng tiến, và ngay cả trong hoàn cảnh tù đày nghiệt ngã nhất, cũng đều tỏ ra rất xứng đáng để được ngợi ca, nể trọng.

Trong buổi họp mặt, một vị đàn em Khóa 18 rất nổi danh: Trung Tá Trần Ngọc Huế, người từng được báo chí Mỹ ca tụng là một anh hùng, được mời lên nói vài lời tâm tình. Với một giọng rất xúc động, ông nói:

“Tôi đã được người Mỹ gọi là một anh hùng, một “real hero”, nhưng điều đó không làm tôi hãnh diện hơn là đã được làm đàn em, được trực tiếp dạy dỗ bởi các niên trưởng Khóa 16VB. Một khóa đã đào tạo rất nhiều anh hùng cho QLVNCH. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi luôn ngưỡng mộ và hãnh diện về các Niên Trưởng của tôi”.

Điều đau lòng là miền Nam Việt Nam vô cùng bất hạnh và chúng ta đã tham dự một cuộc chiến quá bất công, để chính nghĩa không thắng được bạo tàn, chí nhân đã phải thua cường bạo. Bao đấng anh hùng Khóa 16 đã phải đành vất cung bẻ kiếm trong đớn đau uất hận. “Ôi! sự nghiệp đang công đeo đuổi thôi đành gián đoạn nửa đường. Chí tang bồng hằng mong thực hiện thôi cũng đành ôm hận ngàn thu”, nhưng tất cả thực sự đã không phụ lòng kỳ vọng của vị chỉ huy trưởng và vị nguyên thủ quốc gia, đã làm rạng danh cho ngôi trường Mẹ, Trường VBQGVN, cùng QLVNCH.

Dân tộc ngày một tan tác điêu linh, đất nước ngày một lâm nguy trong tay của bọn người chiến thắng man rợ, sẵn sàng bán nước cầu vinh. Nhất định có lúc, dân tộc Việt nam sẽ viết lại bản anh hùng ca dành cho những người chiến binh can trường bị bại trận oan khiên tức tưởi năm xưa.

Phạm Tín An Ninh

NỢ NGƯỜI….. NAM PHƯƠNG!

           “ Hòa bình ơi! Hòa bình ơi! Bao giờ mi mới trở lại cho thôn quê miền Nam lấy lại vẻ mặt vui tươi, niềm nở của một dân tộc hiền hòa, hiếu khách; coi tiền tài như phấn thổ, nhơn nghĩa tự thiên kim! Miền thôn quê yêu dấu, trãi qua bao cơn biến đổi tang thương vẫn gìn giữ nguyên vẹn kho tàng đạo nghĩa của một dân tộc hết sức hiền lành; nhưng có một tinh thần thượng võ, ý chí  bất khuất , bền gan chiến đấu làm kinh tâm cả Thế giới”

  Gò Công_ Xưa và nay  ( Huỳnh  Minh)/1968                                                                                           

 

Tôi về Gò Công vào những ngày đầu mùa mưa. Tháng năm mang đến những cơn mưa chiều nặng hạt và cả Sài Gòn như thể được gột rửa_ sáng láng và tươi tỉnh hơn trong việc sửa soạn cho một ngày lao lực thường nhật. Tầm khoảng 7h 30 sáng, Quốc lộ 50 cắt ngang đại lộ Nguyễn văn Linh đông nghẹt những người. Con đường hẹp, không tốt cho lắm. Sự chen chúc làm bắn lên những mảng nước bẩn đọng lại từ các ổ gà. Những biển quảng cáo, quán hàng hai bên đường náo động.  Những màu sắc hỗn mang. Tiếng càu nhàu , chửi đổng xen lẫn tiếng động cơ xe máy, xe hơi.. …Dù  đã suy hao một phần áp lực từ trận mưa đêm hôm trước, Sài Gòn vẫn với những đặc trưng của nó tham lam lấn mãi ra tận vùng ngoại vi trong một sự cưỡng chế ưu thắng . Trong tầm mắt  tôi, không gian bên thất thủ cứ lùi dần, lùi dần…. xa ngút phía sau dòng xe cộ nườm nượp chuyển động. Tự dưng con người cảm thấy ngợp và mong mỏi một khoảng khí trời. …

Theo quốc lộ 50, qua cầu Ông Thìn bắc ngang sông Cần Giuộc đi thêm một đoạn nữa bước qua địa giới  tỉnh Long An.  Nằm nép bên trái dãy nhà quản lý khu công nghiệp Tân Kim,  là di tích lịch sử Đình Chánh , Tân Kim. Nơi đây có mộ và điền thờ Tiền hiền Mai Văn Giã, thủy tổ mai tộc xã Tân kim. Ông nguyên quán ở thôn An Quới, huyện Phù Ly, Phủ Quy Nhơn ( nay là xã An Quới, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) . Cuối thế kỷ  XVII, ông theo dòng người Nam tiến từ miền Trung vào khai khẩn đất hoang tại khu vực ngã ba Rạch Cát Hạ ( nay là ấp Tân Phước, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc). Từ đó, lưu dân quy tụ ngày một đông, ra công khai khẩn biến rừng hoang thành ruộng đồng trù phú như ngày  nay. Đình được thành lập vào năm 1860 để thờ ông  và được phục dựng vào năm 2002.

Từ Bình Định vào đây khai phá

Bao gian lao vất vả chi sờn

Tân Kim là đất dừng chơn

Đời đời con cháu ghi ơn kính thờ

 

Tôi có hỏi ông Từ giữ đền về tính nguyên trạng của di tích, thì ông bảo vẫn còn y như cũ, chỉ mới xây thêm phần phía sau điện thờ. Nhưng thoáng nhìn quanh , tôi có cảm nhận có cái gì đó không được ổn . Có thể là do sự áy náy  về một định dạng quá tân thời đang tạo áp lực cho  một khối thời gian đang cần bảo tồn một cách nguyên bản, tối thiểu hóa sự xáo trộn ….và ở đây, sự phục dựng không chuyên nghiệp đã lấy đi phần hồn của một nguyên tác  đã thách thức thời gian đến gần hai thế kỷ, sau bao biến cố.

 

 

Di tích đình chánh Tân Kim _ Tân Kim/Long an ( Ảnh tác giá)

      Huyện Cần Giuộc còn hai di tích đáng lưu ý  nữa là công viên Nguyễn Thái Bình và tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc. Công viên tượng đài liệt sĩ Nguyễn Thái Bình tọa lạc tại ngã ba giữa quốc lộ 50 và đường tránh trị trấn Trí Yên. Công viên có quy mô không lớn nhưng kiến trúc khá đẹp. Nền được lát đá hoa sạch sẽ, phía trên có tượng đài người sinh viên trẻ tay cầm sách, đứng vươn trên đám lá dừa nước, mặt hướng về phía Bắc, phía thành phố. Nguyễn Thái Bình sinh ngày 14-01-1948,  tại xã Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long an. Ông là sinh viên du học tại trường cao đẳng Fresno ( California), tham gia phong trào sinh viên phản đối cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông bị bắn ngày 02/07/1972,  trên chiếc  Boeing 747 của hãng Pan America, tại phi trường  Tân Sơn Nhất, với  việc khống chế tổ lái_  đòi đáp máy bay xuống sân bay Hà Nội.

Nằm ngay giữa trung tâm hành chánh của thị trấn, Tượng đài nghĩa sĩ Cần Giuộc bằng đá hoa cương mô tả một nhóm người nông dân tay nắm những thứ vũ khí thô sơ như liềm, phảng….trong tư thế xốc tới mạnh mẽ. Hình ảnh gợi lại cuộc tập kích ngày 16/02/1861 của nông dân Cần Giuộc  dưới sự chỉ huy của Thống binh Bùi Quang Là và Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định vào một đồn lính Pháp. Cuộc tập kích bất thành, do quân Pháp được viên trợ kịp thời. Nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng và bị thiệt hại khoảng vài trăm người  . Sự hy sinh kể trên tạo cảm hứng cho nhà nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) viết nên bài văn Tế bi hùng, được xem như một trong những áng văn chương tiêu biểu cho phong trào chống Pháp nhân dân Nam bộ vào những ngày đầu tiên nước Việt ghánh chịu thảm họa xâm lăng. Trong góc nhìn hiện đại hơn , bài văn Văn Tế Nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861) đã nêu lên nguyên nhân sâu xa của một cuộc chiến được nhen nhúm, âm ỉ lắm lúc tưởng chừng đã tắt và rồi bùng lên, kéo dài trong suốt 117 năm ( 1858-1975) ở miệt Nam bộ.

Cũng là dân chú trọng lịch sử, một lần trong buổi tham quan khu bảo tàng chứng tích chiến tranh ( War Remnants Museum), tôi có làm quen với một du khách Úc ( Australia) đứng tuổi. Tôi có hỏi ông ta về nghĩ sao về nguồn gốc của cuộc chiến mà đất nước ông ta đã từng gửi quân tham gia, với tư cách là một đồng minh. Sau bốn mươi năm ngày im tiếng súng, ông ta trả lời rất ngắn gọn “_ Mọi thứ bắt đầu từ người Pháp”. Tôi nói “ Ông đúng!”…..

Trở lại với bài văn Tế của Nguyễn đình Chiểu

“   … Nhớ linh xưa

Côi cút làm ăn

Riêng lo nghèo khổ

Chưa quen cung ngựa, đưa tới trường nhung

Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;

……

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, ở dòng lính diễn binh;

Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

……..

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân

Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ….”

….

Tôi mất một thời gian khá lâu, đứng trước ngân hàng Vietcombank, ngóng qua tượng đài  nhưng người nông dân chân đất với lòng ngùi ngùi.

***

Quốc lộ 50 được biết như ngày xưa, chỉ là tỉnh lộ lót đá dăm và khá hẹp, nhưng là con đường huyết mạch từ Gia Định đi về Gò Công, Chợ Gạo, Mỹ Tho, Bến Tre … Thời thực dân và trước nữa, nó đã hiện diện nhưng với quy mô nhỏ và sơ sài hơn. Cái tên phổ thông là đường ngựa trạm bắt nguồn từ việc chuyển công văn, thư từ …từ những nơi trú đóng xa xôi của những đồn binh địa phương tới các thành lũy trung ương thời Chúa Nguyễn . Những trạm dừng chân, thay ngựa cho những người phu trạm  được rãi dọc theo con đường  và  địa danh Chợ Trạm còn được gọi ở hiện tại , cũng nhắc cho ta về một thời xưa cũ vang bóng.  Từ Ngã tư đến cầu chợ Trạm, Cần Đước ,Long An là quãng đường khoảng  nửa cây số nhà cửa san sát, chợ búa tấp nập. Đủ loại hải sản vùng sông nước như cá lóc, cá tra, cá rô. Trái cây cũng góp phần tô thêm sắc màu cho khu chợ quê sặc sỡ hẳn lên. Màu vàng của đu đủ, chuối, khóm. Mùi thơm của mít, sầu riêng đa dạng hóa khứu giác. Những tủ kính trưng bày những chiếc điện thoại bằng bàn tay đủ màu sắc, sáng ánh kền đủ các hãng Sam sung, Oppo, Apple, Philips…như sự mỉa mai của thời đại, quấy rối suy nghĩ của tôi về hình ảnh của những người lính trạm trú đóng nơi này cách đây đã vài thế kỷ. Với một khí cụ thông tin be bé như vậy, ngày nay người ta có thể bắt liên lạc được với cả Hà Nội, Sài gòn hoặc một thành phố nào đó trên thế giới Paris, New York, Moscow….Không gian dường như không là vấn đề. Nhưng bất khả thi là vấn đề thời gian. Khoa học bị chặn lại….. Óc tưởng tượng, kiến thức, những chùm rễ liên kết manh động được phát huy. Thực ra trong khung ảnh hiện tại, cũng khó mà hình dung khuôn hình nhòa nhạt của những người lính thú ngày xưa và cuộc sống sinh hoạt chắc cũng khá hẩm hiu của họ , dù trong một khoảng khắc ngắn ngủi.  Những câu thơ tôi thuộc nằm lòng, lúc đi học, còn văng vẳng bên tai

Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu , vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Và…..Thời gian qua lâu lắm rồi, người lính thú ơi!

Qua cầu, tôi có gặp một ông lão tóc bạc, đang gò lưng trên chiếc xe đạp: _ Đường này về Gò Công hả Bác?

_ Ừ thẳng đường, tới một ngã Ba rẽ trái. Hỏi người ta là biết!. Ông trả lời. Không hiểu ở lứa tuổi đó, sao giọng người còn trong và êm như ca một câu vọng cổ.

***

Gò Công theo tiếng Khmer Aih Amrak ( Con công), nơi này nguyên sơ là vùng đồi núi có nhiều chim công ( Wikipedia). Phía đông giáp huyện Gò công Đông. Phía Tây giáp huyện Gò công Tây. Phía Nam giáp hai huyện này. Bắc giáp Long An.  Thị xã có diện tích vào khoảng 102.358 km2. Dân số: 107.600 người. Một thị xã nhỏ , dân số khá khiêm tốn, nhưng lại có một bề dày lịch sử đáng nể và những danh nhân Việt đứng song hành tiêu biểu cho từng thời kỳ, làm mảnh đất này chừng như không phai mờ được trong dòng lịch sử cận đại đến tận gần đây. Khởi nguồn từ những lưu dân từ vùng Thuận Hóa, Quãng Ngãi theo cuộc nam tiến của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ( 1650-1700) vào khai khẩn đất đai, cộng với một số người Hoa tị nạn trong phong trào “Bài Thanh, Phục Minh” ( thế kỷ 17) sống một cách rãi rác. Đến năm 1862, Gò Công đã có những công trình xây cất vững chắc và sự quy hoạch đô thị sơ khởi. Là một trong những vùng đất bị người Pháp xâm chiếm đầu tiên và áp đặt quyền cai trị. Hiện tại thị xã còn lưu giữ rất nhiều công trình kiến trúc thời phong kiến và Thuộc Pháp rất độc đáo.  Bên cạnh đó Gò Công còn là tâm điểm cho những tấm gương quật khởi Võ Tánh, Trương  Định….., những văn thi nhân, nghệ sĩ tài hoa của đất nước : Hồ Biểu Chánh, , Hoàng Phương…., những người phụ nữ tài sắc, thuần hậu với một tâm hồn Việt như Thái hậu Từ Dũ, Nam Phương ….

 

Tôi đứng trước cửa ngõ vào Gò Công_ Sông Vàm Cỏ.  Sông Vàm cỏ_ tài liệu của Pháp gọi là Vaico. Vaico bắt nguồn từ tiếng Khmer ”Piăm Vaico” nghĩa là Vàm (Pi ăm) ,đánh/lùa ( Vai); bò (co). Điều này cho thấy sông Vàm cỏ Đông và Vàm cỏ Tây chính là con đường lùa bò ngày xưa của người Khmer. Sông Vàm Cỏ là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Tiền Giang và Long An. Sông chảy theo hình W, dài khoảng 35,5 cây số có đến ba tên gọi. Đoạn Vàm cỏ Đông hợp nhất với Vàm cỏ Tây cho đến khúc sông Tra, được gọi là sông Hương Xá. Đoạn chảy qua khúc phà Mỹ Lợi hay cầu Mỹ Lợi ngày nay, gọi sông Vàm Cỏ. Phía hạ lưu đổ ra sông Soài Rạp chảy ra biển, ngược lên , còn được gọi là Vàm Bao Ngược. Dân sông nước Nam Bộ thường nói _ Thứ nhất Vàm Nao , thứ nhì Bao Ngược , để nói lên tính thất thường và  nguy hiểm của đoạn sông này. Do Vàm là danh  từ dùng để chỉ nơi những nhánh sông hợp nhất lại thành một nên dòng chảy  thường xiết, nước xoáy và sâu. Ngày thường đã thế, khi thời tiết trở trời sóng to, gió cả trở thành mối đe dọa tiềm tàng cho những phương tiện đường thủy, nhất là những phương tiện thô sơ ngày trước nhe ghe bầu, xuồng , xáng….

      Cầu Mỹ Lợi Km 33+650, vừa mới hoàn thành  và đưa vào sử dụng vào năm 2015.  Cầu  có chiều dài toàn tuyến khoảng 2.691 met, phần cầu chính 1.422 met ( nguồn Wiki), nối liền Gò Công với  Cần Đước trên quốc lộ 50. Chiếc cầu rút ngắn khoảng cách từ Sài Gòn đi Gò Công ( trước kia phải đi phà), là cái gạch nối quan trọng cho thị xã không chỉ trên lĩnh vực giao thông, mà còn ở nhiều mặt khác như kinh tế, văn hóa, du lịch …với Sài Gòn và các tỉnh thành phía Bắc. Trong nhận định khách quan , có thể nói tương lai của vùng đất trước mặt phụ thuộc rất nhiều ở chiếc cầu này.

Tôi đứng trên cầu Mỹ Lợi ngó xuống Bến phà cũ ngày xưa. Con sông Vàm Cỏ mênh mang với mặt nước đùng đục màu phù sa. Những con tàu kéo và xà lan như những chấm nhỏ  ì ạch rẽ nước, để lại phía sau những hai làn sóng dài, thật lâu mới tan. Những đám lục bình gấp gáp trong con nước với sự vô định.  Hướng lên thượng lưu, ngút tầm mắt một viền xanh lờ mờ của cây cối chạy dài như sự chuyển động tiệm tiến của bầu trời trời xuống mặt đất.  Trước mặt, chếch phía Gò Công một bình nguyên  với thảm thực vật xanh ngắt mở ra, tít tắp phía xa có thể nhìn thấy dăm ngọn núi ẩn hiện  bên Vũng Tàu.. Nghe bảo ngày trước, tất cả các phương tiện giao thông đều phải phụ thuộc vào Bắc Mỹ Lợi, gây khá nhiều trở ngại , tốn thời gian và  nhiều nguy hiểm…..

Qua dốc cầu, tôi vẫn còn loang quanh với suy nghĩ . Rồi đây những thế hệ sau chắc sẽ không còn nghe câu hò thảm của những  góa phụ ven sông, trong ánh chiều nhập nhoạng.

Anh đi ghe gạo Gò Công
Về qua Bao Ngược bị dông rách buồm
Thuyền anh cao nhưng sóng cả nhận chìm
Em trông sông bao nhiêu khúc, nỗi niềm ruột đau…

`Vàm bao ngược_ Mỹ lợi/ Gò Công ( Ảnh tác giả)

 

***

Trên con đường đến cầu Sơn Quy để vào Gò Công, tôi có đi qua làng làm tủ thờ Gò Công. Hai bên đường là những gian trưng bày những chiếc tủ thờ được chạm trổ rất công phu và tinh tế.

Tủ thờ Gò Công, xa lông Sông Bé

Chắc ai ai miệt Nam bộ này cũng đều biết tiếng……Bụng định ghé vào tham quan, nhưng thấy đường còn dài, lại thôi. Hẹn một cơ hội khác.

Chợ  Tân Trung là ngôi chợ nhỏ nép bên quốc lộ 50.  Cô gái khoảng hai mấy, đon đả chào: “_ Bánh Tét chuối Gò Công đi anh. Bánh mới nấu hồi sáng ngon lắm!” . Bụng đã đói, nhưng tôi giả tảng _” Có bánh giá thì mua, không ăn bánh tét đâu!” . Một chị sồn sồn  bán trái cây bên cạnh , vọng qua “_  Bánh giá tuốt trên Hòa Đồng chớ dưới này đâu có. Mà bánh tét cũng ngon lắm!” Tôi thêm _” Bánh giá có ca dao, bánh tét đâu có ca dao”  Người đàn bà ngẩn ra, rồi như chợt nhớ  “ _ Có…có chớ….tối nay nó về  nó làm….Mua cho nó mấy đòn đi anh”.  Hai người đàn bà quay người lại, cười ngất. Tôi cũng không nhịn được cười. Phải công nhận dân xứ Gò cũng khá hài hước và có duyên. Tôi mua hai đòn, treo lung lẳng ở đầu xe.

Bánh tét khá ngon, đáng đồng tiền. Nếp déo, mềm không pha gạo lợn cợn, cũng không dính nháp vào chân răng. Nhân quả chuối đỏ thẩm, tạo nên một sắc tương phản trên nền xanh lá  khá đẹp. Nhân ngọt đậm, lớp thịt bánh láng lẫy, chút vị mằn mặn thoang thoáng. Chỉ như hơi gió biển….trên đầu lưỡi….

Lăng Hoàng Gia nằm trong một con đường nhỏ cùng tên, nếu không để ý, dễ chạy luộc qua. Tôi cũng vậy. Phải lộn trở lại sau khi hỏi thăm đường. Lăng nằm sâu trong con hẻm, cách lộ khoảng 50m. Từ bên ngoài nhìn vào, cũng khó đoán được quy mô của nó nhưng bước vào trong mới nhận thấy khá rộng. Lăng được xây trên một địa thế cao ráo, được gọi là Giồng Sơn qui ( có nghĩa gò đất hình mai rùa). Một hồ cá bên trái , có lầu bát giác thưởng ngoạn. Mặt nước trơ lạnh, không thấy bông sen, bông súng gì. Cây cối không mang vẻ nguyên sơ, cổ thụ ,có lẽ tuổi đời trẻ hơn nhiều so với  cái di tích mà quần thể thực vật ở đây được tạo ra để tôn vinh.  Nhưng để bù vào những khiếm thuyết , màu xanh của đám cỏ mọc tràn lan, ướt sương sau cơn mưa và vòm tối do những tán cây tạo thành  cũng tạo được một cảm nhận nể nang cho những kẻ hậu sinh trước cái mình sắp phải đối diện.. Lần cổng thứ hai kiến trúc giống kiểu thành quách phong kiến nhưng kích thước khá khiêm tốn. Hai cánh cổng gỗ màu đen được chạm trổ khá công phu đầy họa tiết sinh động. Một con đường lát gạch dẫn vào nơi điện thờ. Bên trong điện thờ chia làm năm gian rõ rệt.

Bên trái có dòng chữ quốc ngữ_ Thành Thái quơn ( ngươn) niên / Kỷ sửu kiến tạo 1888

Chính giữa_  Đức quốc công từ.

Bên phải là dòng chữ: _ Khải Định lục niên/ Tân dậu trùng tu 1921.

Hai hàng câu đối bằng chữ Hán nơi gian chính  nơi có lối đi vào. Không gian thấp, tối, chật hẹp  với  những bài vị bằng tiếng Hán_ Nôm được đặt trên năm hương án ( Ngũ Đại) chia đều hai bên. Trên tường treo đầy những bài biểu bằng chữ quốc ngữ, nói về thanh thế và công lao của người được thờ tự. Khói nhang nghi ngút và hàng cột gỗ lim màu đen , thâm trầm làm lắng tụ những xáo động đời thường, khiến lòng người trong phút chốc bị lôi cuốn vào tâm niệm hoài cổ, nguồn cội…..

Lăng thờ Đức Quốc Công- Lễ Bộ thượng Thư_ Phạm Đăng Hưng. Ông sinh năm 1764 tại Giồng Sơn Quy , thôn Tân Niên Đông, xã Định tường, huyện Kiến Hòa. Ông là cha ruột của Thái Hậu Từ Dũ ( vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức , nổi tiếng về lòng nhân hậu và dưỡng nhục, nhà hộ sinh tại Sài Gòn mang tên bà vẫn còn hoạt động đến ngày nay). Năm 1796 ông thi đỗ Tam Trường, được Chúa Nguyễn Phúc Ánh bổ dụng làm Lễ sinh ở phủ, sung Cống sĩ viện, rồi thăng Tham luận. Năm 1813, ông giữ chức Thượng Thư bộ lễ. Năm 1821, được sung làm phó tổng tài của Quốc Sử quán. Ông nổi tiếng là một hiền nhân và là một trung thần nhà Nguyễn.

Khu lăng mộ Hoàng gia _ Gò Công ( Ảnh tác giá)

Khuôn viên khu mộ khá rộng và bề thế. Dù đã đọc nhiều bài viết về những sai sót của việc trùng tu nhưng nó cũng tạo được một phần hồn cho cái nhìn của khách thập phương về một thời đại vàng son đã khuất bóng. Hai tấm bia đá được dựng hai bên, náu dưới mái hai kim tĩnh và những dòng chữ đã nhòa nhạt vì thời gian. Tấm bia bên trái ( hướng người viếng) có khắc hình cây thập giá  và một vài dòng chữ Pháp loáng thoáng. Nghe đồn đây là tấm bia của triều đình Huế ban tặng cho ngài, nhưng đã bị Pháp lấy, làm tấm bia cho đại úy Barbé  (Viên sĩ quan Pháp tử trận trong một cuộc phục kích của nghĩa quân Trương Định). Một sự lưu lạc kéo dài gần cả hai thế kỷ,  sau đó mới tìm lại được chủ nhân dích thực của mình. Mộ xây theo hình cánh dơi. Ba cung tròn ngoại tiếp trong một tam giác cân. Nền móng phía ngoài lát gạch tàu, phía trong không biết vật liệu gì nhưng cảm thấy khá chắc chắn. Họa tiết trang trí quá tỉ mỉ nhưng cũng quá rườm rà , nên khó lòng tìm được điểm nhấn. Giữa nấm mộ chính được xây một hình bát giác , có đỉnh là một núm tròn, trông như một cái ấn ( triện) của vua chúa ngày xưa. Tương truyền ông được chôn ngồi…. Phía trên  cây phượng cổ thụ vẻ cung khiêm như một người hầu, thả những cánh hoa màu đỏ thẩm xuống nền gạch rêu phong từng cánh…từng cánh một….làm thời gian theo suy tưởng của vãng khách dường như cũng chậm đi.

Cũng trên con đường Lăng Hoàng gia, phía sau Lăng tẩm Cụ Phạm Đăng Hưng, tôi tình cờ bắt gặp một quần thể những ngôi mộ xưa( sau này mới rõ đây là những họ hàng , thân thích họ Đặng). Một ngôi mộ được chôn phía bên tay trái con đường. Khuôn viên khá rộng rãi, chữ nhật, có tường bao bọc, nhưng lâu ngày không có bàn tay chăm sóc , nên phủ đầy xác lá. Mộ chính vun cao , hình lưng một con thú, có khắc hoa văn , đang phủ phục. Mộ còn khá nguyên vẹn. Bia đá phía trước khá to và dày . Dòng chữ Hán khắc trên bia theo thời gian đã phai lạt. Tường được xây bằng những viên gạch vồ, to hơn viên gạch bình thường, bề ngang khá lớn đến 15cm, bề dài khoảng 30cm. Trên mỗi viên gạch có một kí hiệu giống như một chữ Hán hay nôm gì đó, có thể thương hiệu của nơi sản xuất.  Những viên gạch long ra_ ẩm, đầy rêu, nhưng không thấy dấu hiệu mục nát. Thời gian đã hơn hai thế kỷ ẩn chứa trong những thứ vật liệu xây dựng thô sơ của tiền nhân, giờ lộ thiên, trơ gan dưới ánh mặt trời làm kẻ hậu sinh như tôi phải cúi đầu khâm phục….Phía bên phải con đường, chếch qua tí, cũng có một ngôi mộ lớn, nhưng đã bị hủy hoại khá nhiều. Chỉ còn lại bức tường viền hình vòng cung sụt lở. Dây leo và cây bụi phủ đầy.

Những viên gạch xưa_ Cụm khu lăng mộ Hoàng gia ( Ảnh tác giả)

Đền thờ của người anh hùng dân tộc Trương Định nằm chếch bên trái của chợ Gò Công. Quần thể này có thể mới được duy tu nên nhìn rất nổi bật và tinh khôi, thiên về suy tưởng lịch sử hơn về cơ cấu kiến trúc. Quần thể cũng được chia làm hai phần riêng biệt khu mộ phần và điện thờ. Khu mộ phần quay về hướng Bắc ( hướng thành phố) gồm một cụm những chi tiết mang tính Lễ, có trang trí hoa văn, được xây cất sắc sảo, sơn màu tiệp với với màu đá xanh . Tất cả trông sạch sẽ và rất mới. Có hai tấm bia , một trước, một sau mộ đều khắc bằng chữ hán. Một tấm có thể ghi thân thế của ông, còn tấm kia chữ khắc hai chữ, bằng màu sơn đỏ. Tôi nghĩ có thể đó là họ tên. Do sự quy tụ khá nhiều những chi tiết trên một chu vi hẹp nên thật khó nắm bắt cho trọn vẹn. Mộ ông hình mai rùa, tròn vạnh, trên có khắc hoa văn. Trước mộ có trồng hai cây sứ trắng . Một chậu sen có bông hoa trắng độc nhất, khoe mình dưới cái nắng. Bên hai cánh cổng của cửa vào có ghi hai câu đối bằng chữ quốc ngữ:

Hận nước cất cao đầu sóng bạc, chuyển rung Vàm Bao Ngược
Thương dân đành mất mạng, máu hồng tô thắm đất Gò Công.

Trước khi vào đây, tôi có gặp một chị bán vé số. Chị nói thời ông cố kể lại, sau khi ông tự sát, người Pháp  bêu xác ông giữa chợ Gò Công để thị uy. Thây  ông phơi ba ngày ba đêm , giữa trời nắng gắt mà không sình thúi cũng như không có con ruồi nào dám bâu đậu….Câu chuyện không mang tính thuyết phục điều tin hay không tin, nhưng nó nói lên, hình ảnh của con người này nằm trong sự kính trọng của những người dân địa phương bình thường ở đây, sâu sắc đến độ nào!

Đền thờ anh hùng dân tộc Trương Định _ Gò Công ( Ánh tác giả)

Ông sinh năm 1820 tại Bình Sơn, Quãng Ngãi, theo cha vào Nam, lấy vợ ở Tân An ( thời vua Tự Đức), chiêu mộ dân chúng khai hoang, khẩn hóa lập ấp trại tại Tân Hòa ( thuộc Gò Công). Ông thông binh thư, võ nghệ, thi đậu cử nhân võ, nên được phong làm quản cơ. Khi người Pháp hạ thành Gia Định (2-1859), ông đưa quân tham gia nhiều trận đánh, được phong làm Chánh quản cơ, phòng thủ đại đồn Chí Hòa ( Chợ Lớn). Sau khi đại đồn thất thủ, ông cùng số binh sĩ còn lại rút về Tân Hòa cố thủ. Trong thời gian đó, ông chỉ huy nhiều trận phục kích, làm thực dân Pháp với thiệt hại đáng kể, phải nể mặt. Với hòa ước mà triều đình Huế kí kết vào tháng 6 năm 1882, cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, ông không chấp nhận. Cho rằng  triều đình phản bội nhân dân, ông tự xưng là Bình Tây Đại Nguyên soái, tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân kháng chiến. Ông nói “_ Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc của chúng ta…” Với chiến thuật du kích chiến và phòng ngự tốt, ông đã gây không ít khó khăn cho người Pháp trong cuộc bình định vùng đất mới chiếm đóng….Mãi đến tháng 8 năm 1864, người Pháp dùng Đội Tấn ( một tướng lãnh của ông phản bội) lập mưu, vây hãm tại xã Phước Lộc. Ông bị trọng thương và rút gươm tự sát ngày 20 tháng 8 năm 1864, hưởng thọ 44 tuổi. Người Pháp bêu xác ông tại chợ để răn đe trong ba ngày đêm. Sau đó người vợ bé của ông , một đại điền chủ giàu có đất Gò Công, đã xin xác ông và an táng tại đây.

Đền thờ được xây dựng tân kỳ, không gian cao, khá thoáng đãng. Hương án và dung ảnh ông đặt giữa. Hai bên có hai  hàng giá đặt những thứ binh khí cổ. Hai bàn thờ tả, hữu  với những dòng chữ Hán Một tượng đồng bán thân được thờ phía sau, cao cỡ tầm người. Và phía sau cùng, sát vách  là chân dung của một vị võ tướng đang cưỡi con ngựa trắng. Nét vẽ lại hao hao giống chân dung của vua Quang Trung tôi đã từng thấy , hơn là ông. ( Thực ra đây là chân dung của Đại đô đốc Phạm Công Trị, người giả vua Quang Trung, đi chầu nhà Thanh_ Bức ảnh nguyên thủy do họa sĩ nhà Thanh vẽ, sau đó được phổ biến lại tại Việt Nam, gây nhiều ngộ nhận). Trong trường hợp này, nếu đó là chân dung Nguyễn Huệ, tôi cũng không hiểu tại sao  người ta lại thờ cả hai con người ở hai thời đại khác nhau, ở hai đẳng cấp khác nhau, mang những tư tưởng khác nhau để quy vào một nơi. Phải chăng có một sự nhầm lẫn nào đó?….Trên cao nơi có dung ảnh vị võ tướng có treo một biển sơn đỏ và hàng chữ  bằng chữ quốc ngữ “ Anh hùng dân tộc Trương Định”…Hai bên tường có treo những bảng  nói về cuộc đời và những câu nói nổi tiếng của ông. Đặc biệt có một bảng in bằng ronéo, bản lớn, bọc kính , trên đó có ghi “ Di tượng 30 anh hùng liệt sĩ Việt Nam thời cận đại” như Phan Thanh Giản, Tống Duy Tân, Kỳ ngoại Hầu Cường Để, …. và bên dưới là đôi  dòng giới thiệu thân thế và sự nghiệp. Những dòng chữ tuy ngắn ngủi nhưng thật đầy đủ và ấn tượng. Tôi lướt mắt qua những con chữ, nét phác họa của những bức chân dung được thu nhỏ , không dấu được lòng cảm thán. Lịch sử tranh đấu của dân tộc gan góc này trong suốt một thế kỷ  như được trãi ra trong khung hình . Bi tráng và mãnh liệt. Gương những anh hùng , chí sĩ bị bức hại như những vì sao anh khôi lóe sáng trên bầu trời đen tối kéo dài một trăm năm trong ách nô dịch thực dân.

****

Chợ Gò Công được xây dựng vào năm 1916, theo như cái năm được lưu trên mặt tiền của khu chợ chính. Vào thời điểm tôi đang đứng là năm 2017, tức là tôi đang đối diện với một công trình có tuổi đời đã lên đến một thế kỷ. Ngoài ra còn có một khu chợ mới được xây dựng, cũng trên một trục đường, nằm cách khu chợ cũ khoảng vài trăm met. Thực tế, theo một tư liệu hình ảnh của Báo Ấp Bắc điện tử, có đăng hình khu chợ Gò công cổ và chú thích, ngôi chợ này được xây dựng vào năm 1898. Lấy 1916 trừ cho 1898, tức ngôi chợ tiền thân chỉ tồn tại trong 16 năm. Điều này có vẻ hơi phi lí. Với những công trình xây dựng thời Pháp thuộc, nếu không bị những biến cố bất khả kháng như chiến tranh, hỏa hoạn, thiên tai….nó có thể tồn tại đến cả thế kỷ.  Vả lại , công trình  của chợ Gò công ( cũ) hiện tại đã có khá nhiều sự thay đổi,  nhiều hình thái kiến trúc khá hiện đại như hạ thấp chiều cao. Những đường lam trang trí. Mặt tiền từ kiến trúc gothic chuyển sang block hiện đại….Theo suy nghĩ của tôi, vậy trên trục thời gian, có đến 3 ngôi chợ trên một địa điểm. 1898 một cái. 1916 một cái. Hiện tại (2017) một cái….Thật là rối rắm!

Chợ Gò Công ngày nay ( Ảnh tác giả)

Chợ chia làm ba gian. Một gian chính và hai phụ. Có thể mới được trùng tu nước nước sơn còn khá mới. Tôi không vào chợ, chỉ chạy xe vòng quanh. Dọc bên hông chợ , người ta bày bán trái cây, tôm cá, rau củ ….nhưng thứ theo mùa vụ, không mang tính nhu yếu phẩm. Tôi tấp vào một gánh chè, do hai vợ chồng vừa bày ra. Chè được đựng trong một xoong to, còn bốc khói. Những lát mít vàng ruộm thật bắt mắt, chen với những quả táo tầu đỏ thẩm . Một điều phải công nhận ẩm thực Nam Bộ có thể không quá cầu kỳ khi nấu nướng nhưng về phần trang trí và sắc màu, nó vượt trội trên cả ba miền. Từ cái bánh bò, ly chè….cho đến những thứ đồ ăn, thức uống khác. Tôi lại gần ,hỏi người đàn bà “_ Chè này gọi chè gì vậy chị?”

“_ Chè Tàu Thưng !” Người đàn bà lúi cúi xoắn cọng dây thun cho một bịch chè, ngẩng lên trả lời.

Cái tên lạ hoắc, làm tôi phải hỏi lại lần nữa cho chắc ăn.

“_ Chè Tàu Thưng, anh à!” Lần này thì anh chồng, mặc chiếc quần cộc, đang phụ vợ ,ngồi bên trả lời.

Tôi đón lấy hai bịch chè nóng hổi, không  hỏi vặn thêm về nguồn gốc , vì thấy hai vợ chồng đang bận tay, đưa mắt tìm kiếm một chỗ khuất nằm bên kia đường. Chè Tàu Thưng, hay được gọi là chè Thưng, chè Bà Ba Nam Bộ( theo tra cứu sau này). Chè nấu bằng nếp, khoai lang, đậu phụng, đậu đỏ, có bỏ thêm trái cây là mít và táo tầu. Nước cốt dừa béo, mằn mặn như trung hòa  cái vị bùi bùi khá chìm của ngũ cốc trước khi chuyển sang vị ngọt tự nhiên, giòn giòn nổi trội của cây trái…Tôi ngạc nghiên, tự hỏi sao trong cái món ẩm thực quê mùa ( gần như vô danh) lại gợi lên những suy nghĩ mang tính học thuật khá độc đáo về bản ngã của vùng đất ruộng nước, về những sản vật mà thiên nhiên ban tặng, Chỉ đơn giản trong bịch chè, cảm tính thưởng thức của con người đã nâng đến tầm triết lý…và đặc biệt, một dư vị đậm chất quê hương. Không quên được!

Người Gò Công I Mộc mạc và chân chất. Rất gần gũi và dễ bắt chuyện. Điều này khỏi nói rồi. Ở chợ , tôi có đến trước một khay bánh bò của một chị khá đứng tuổi. Trên khay chỉ còn lại hai cái bánh cuối cùng. Thấy tôi hỏi mua bánh, chị hơi ngần ngừ , nói “ _  Bánh này từ hồi sáng rồi. Anh có lấy tôi qua bên kia lấy bánh mới cho!” .Trước chút tình người chỗ chợ búa , tôi phẩy tay: “ _ Thôi chị ơi! Phiền phức. Em lấy bánh này cũng được”. Khi trao cho tôi, chị dặn thêm “ _ Ăn đi chớ để trong bịch nilon hầm hơi. Nó thiu!”….Tại nhà Đốc Phủ hải, một căn nhà cổ của một Bá hộ giàu có, tương truyền là cháu ngoại của bà Trần Thị Sanh ( Người vợ bé nặng tình của vị thủ lĩnh nghĩa quân Trương Định). Vào tầm trưa, người bảo vệ đã  khóa cổng đi ăn cơm, nên tôi đi quanh quẩn trong khuôn viên phía trước. Ngôi nhà được xây vào cuối thế kỷ 19, trệt, lợp ngói. Mặt tiền gồm những cụm cửa hình vòm của lối kiến trúc Roman kết hợp với hai bên cánh là hai kiến trúc phụ mang hình thức Tân cổ điển_ những khối chữ nhật có tác dụng nâng chiều cao của tổng thể cấu trúc, đến một tầm mà  định nghĩa về nó hoàn toàn nằm trong phạm vi một kiến trúc sinh hoạt, vượt qua sự hà khắc tôn giáo và bên dưới tầm với một công sở. Hơn nữa, có thể chủ nhân rất tinh ý khi mang điểm nhấn là những cung tròn Á đông đặt vào trọng tâm, trong khi sự cách tân vuông vức Tây phương , dù quan trọng nhưng chỉ là tính phụ trợ. Vấn đề này giải quyết cho việc mang toàn bộ khối kiến trúc thoát khỏi sự lạc lõng với cảnh quan xung quanh, nhất là ở khung cảnh tiền đô thị An Nam vào thời kỳ đó. (Cây cau, giàn trầu, những dãy phố lụp xụp….). Những họa tiết trang trí bên ngoài hoàn toàn Âu Tây mềm mại, uyển chuyển…cầu kỳ nhưng không bị phô ( chõi). Tôi đi vòng quanh quan sát khu nhà, thì có gặp một nhóm thợ hồ đang nghỉ tay uống nước. Họ đang xây dựng căn nhà bên cạnh. Thấy tôi có vẻ là người ở xa tới, nên nhóm người cũng vui vẻ hỏi han, bắt chuyện. Câu chuyện lan man về những địa danh ở miền Trung và Nam bộ, nơi những người thợ hồ đã từng đến làm việc, chuyển sang cái nhìn về thị xã Gò Công cảnh quan, con người…. trước, sau giải phóng và tương lai…. Ngồi nghe chuyện , tôi mới nhận ra một đặc điểm khá lí thú ở những hậu duệ của văn hào họ Hồ ( Hồ Biểu Chánh) này, là khả năng nói chuyện khá lưu loát và những lời nhận xét tinh tế, đáng ghi nhận. Tỉ dụ khi nói đến ngày ba mươi tháng tư, một anh thợ hồ lớn tuổi có nói :”_ Cũng mừng là nó kết thúc để dân chúng làm ăn. Dây dưa hoài ….Sức người, sức của ….quốc gia nào chịu nổi!”. Nói thật, cũng hiếm mà tìm được một cái nhìn như anh, trong những thế hệ đi trước. Người Gò Công cũng rất có khiếu về thi ca. Với tôi đó là một khám phá thật mới mẻ và cũng thật ấn tượng ở giữa thời đại này, tại một thị xã chỉ cách Thành phố trong bán kính năm mươi cây số. Khi cơn bão của lối sống hiện đại đã tàn phá không thương tiếc đời sống tinh thần con người Việt, từ Nam chí Bắc, đến một câu nói tử tế cũng không ra hồn, thì ở đây , người ta sẵn sàng chia sẻ những bài thơ mộc mạc nói về quê hương của họ với những người lần đầu quen biết…. Trưa nắng, tôi ngồi nhấp nháp ly cà phê đắng, lắng nghe những câu lục bát từ những người phu hồ.…Thật cảm động!

Ù ơ….Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Thương anh….cũng muốn theo anh
Ngặt cha với mẹ , không đành….thời sao?

Dinh tỉnh trưởng Gò Công_ Một phế tích đáng tham quan ( Ảnh tác giả)

Về nhân chủng học hình thể ( Physical anthropology) qua tiếp xúc, người Gò Công đều có một cái gì na ná giống nhau. Vóc người cao lớn hơn dân Việt bình thường ở những vùng miền khác. Khuôn mặt dài, sống mũi cao và thẳng. Cánh mũi nhỏ. Mắt không to, môi không quá dày. Vành tai dài, chảy. Khuôn mặt đầy, đẹp ….và không thực linh hoạt. Dù rất hiếu khách nhưng nụ cười cũng khá hạn chế. Lúc bình thường, nhìn kỹ, lại có nét hướng nội.

Gò Công có  những con đường nhỏ, hàng cây sò đo với những bông hoa đỏ thẫm, chạy dài, trông khá lạ mắt. Mật độ xe cộ thưa thớt. Đường phố sạch. Không khí trong lành. Dân không mấy ai ra đường mang khẩu trang kín mít như ở Sài Gòn. Một vài cảnh quan trong thị xã thấy khá vắng, thậm chí mơ màng như  Nhà thờ Chánh Tòa, Dinh tỉnh trưởng ….Những công trình kiến trúc kể trên đã có tuổi đời hơn cả thế kỷ. Một số còn trưng dụng. Số xuống cấp, đóng cửa. Thật không dễ kìm nén dòng cảm xúc khi phải đối diện với cấu trúc khổng lồ, suy kiệt sau bao năm tận tụy, phục vụ giờ nằm phủ phục, im lìm với những mảng tường nứt vỡ hoen màu gạch đỏ, những ban công bám đầy rêu và dây leo….

Điều đáng nói là các di tích ở Gò Công đều chưa có quy mô , trên thực tế chỉ để tưởng niệm, cúng bái, tham quan trên cơ sở vùng miền lân cận…chứ chưa mở rộng sang ranh giới của những địa điểm du lịch thật sự, với những vệ tinh và cơ sở hậu cần hưởng lợi đi kèm. Sự khai thác có lẽ trông chờ vào tương lai gần, vì tiềm năng sẵn có là điều không thể bàn cãi.

****

Vào khoảng thập niên 90 , trên sân khấu âm nhạc Việt, bỗng xuất hiện một vài sáng tác lạ được trình bày bởi nữ ca sĩ nổi danh hồi ấy, Bảo Yến, làm xôn xao dư luận, nhất là đối với giới trẻ. Những ca khúc như “ Chuyện tình hoa muống biển”, “ Ánh mắt quê hương”, “ Thương một người ở xa”…. cùng với  dòng nhạc Gò Công, đã làm nên tên tuổi một người nhạc sĩ xứ Gò ,có tên Hoàng Phương. Nhưng thật ra, ông là một nhạc sĩ đã thành danh với nhạc phẩm “ Hoa sứ nhà nàng” từ trước năm 1975. Nhạc sĩ Hoàng Phương tên thật là Nguyễn Kim Hoàng, sinh năm 1943, tại  xã Tân Thành huyện Gò Công. Năm 1968, khi 25 tuổi, ông lên Sài Gòn tham gia ban nhạc cùng Vinh Sử, Quốc Dũng , Lê Hựu Hà…Trong năm này, ông viết bản nhạc đầu tay “ Hoa sứ nhà nàng” . Nhạc phẩm này ngay lập tức đã khẳng định tên tuổi của ông. Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông quay về Gò công mở tiệm sửa đồng hồ, sau đó  hành nghề thợ bạc. Năm 1986, trong chính sách đổi mới, ông cho ra đời dòng nhạc Gò Công, với các bài hát trữ tình ca ngợi tình yêu , ca ngợi quê hương, danh thắng Gò Công. Album  “ Băng nhạc Gò Công”  vừa ra đời đã được sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng yêu âm nhạc khắp cả nước và được xem như một hiện tượng. Ông được vinh danh như “ Ông hoàng nhạc Gò Công”. Năm 1989, ông cưới người vợ hai tên Mộng Vân. Hai người xây dựng một căn nhà nhỏ trên bãi biển Tân Thành. Vào những năm cuối đời, ông trở nên suy sụp. Ông mất vào năm 2002, vì bị bệnh ung thư gan. Ông để lại cho đời  khoảng 20 tác phẩm hoàn chỉnh và một số khác còn đang viết dở dang…..

Cũng không hiểu biển Tân Thành trong suy tưởng của người nhạc sĩ ngày đó như thế nào, hoặc khoảng thời gian hai mươi năm,  con người đã làm thay đổi hoàn toàn những cảnh quan mà trước đây nó từng có. Được quảng bá khá nhiều trên các phương tiện truyền thông về một bãi biển cát đen đặc biệt, một khu du lịch khá lý tưởng….nhưng trước mắt tôi, bãi biển Tân thành ngày nay, như một minh chứng cho sự độc ác của con người ,trong hành động triệt phá đến tận cùng các nguồn lực còn sót lại của tự nhiên, mà không có sự bù đắp và sự  vô cảm tính đến lạnh lùng trong liên kết sinh hoạt đời thường giữa con người với môi trường  xung quanh. Bãi biển rách rưới , nằm rũ chết. Những công trình ngắn hạn, gãy đổ, dập vùi trong sóng biển mà thời gian và sự thô thiển của cấu trúc không đọng nổi chút giá trị của chữ phế tích. Bãi biển tràn ngập rác. Những cây phi lao mới trồi lên từ cát nay phải khó nhọc oằn mình dưới một lớp bao ni lon xanh đỏ dày cộm, quấn riết. Những vuông đất mới bị đào xới làm những vuông tôm, đất sình như vết loét nằm cận kề  bên bãi tắm… cho một khái niệm dễ lẫn lộn giữa một nông trường nuôi tôm và một khu du lịch. Những nhà hàng được cất như những cái chòi vươn ra biển, nơi khi hưởng thụ người ta thật vô tâm với những thứ mình xả ra .Phía dưới, những bè rác thải, trôi nổi, dập dềnh trong con sóng….Thực ra bãi biển , còn là nơi thu hoạch nghêu khá lớn của người dân địa phương, nhưng vào thời điểm tôi đứng, thủy triều đang lên và những con sóng mấp mé ven đường.

Bãi biển Tân Thành, Gò Công Đông_  Cảnh  tiều tụy của tự nhiên trước việc vắt kiệt của con người ( Ảnh tác giả)

 

Thất vọng  trong cố gắng tìm đến một nơi đã  trở thành nguồn cảm tác, của một nhạc sĩ nổi tiếng ,nhưng trên đường quay ra, tôi lại tìm được nguồn vui nho nhỏ ở khu chợ Gò Công Đông. Trong một quán giải khát,  tôi tình cờ ghé vào….Cô gái Gò Công Đông xinh xắn mang ra ly nước mía xanh ngắt. Những ngón tay  tay nhỏ nhắn của cô gái  xoay xoay chiếc volume của cái amply trong góc nhà và giọng ca quen thuộc  của cô  ca sĩ ngày nào, vang lên

“ …Có phải chăng cát giận, cát hờn. Chẳng muốn nhận dấu chân em làm kỉ niệm. Để cát bay , cát tạo thành hình của sóng. Để ven bờ cát mãi đùa vui…”

Tôi bị đẩy vào trong một tâm trạng thật ngổn ngang.

Chợ Gò công Đông   ( Ảnh tác giả)

****

Khác với Gò Công Đông, Gò Công Tây là một khu vực thuần túy nông nghiệp. Quốc lộ 50 chạy về thị trấn Chợ Gạo, có lẽ là xương sống của huyện lị. Trên thực tế, khi di chuyển trên quốc lộ, ta cũng khó tìm được màu xanh của ruộng lúa hay những mảnh vườn đặc trưng trồng cây ăn trái. Những dãy nhà mọc dọc theo con đường đã che chắn một phần nào tầm mắt. Chỉ để những lối rẽ, những con hẻm nhỏ, đang mong đợi một sự tìm tòi phía sau….

Anh ơi về tới Hòa Đồng
Nhớ mua bánh giá chợ Giồng tặng em.

Ngã ba Hòa Đồng có một lối rẽ như vậy. “ _ Chợ Vĩnh Bình chớ! Bây giờ đâu ai kêu chợ Giồng nữa đâu. Đi thẳng là tới!” . Theo tay anh xe ôm chỉ, tôi phóng xe trên con đường rãi nhựa nhưng khá ọp ẹp để vào trung tâm thị trấn. Xét trên các khía cạnh , vùng này có vẻ không trù mật bằng dưới Gò Công Đông. Những ngôi nhà cũ kỹ với diện tích khá hẹp, nằm chen lẫn với những ngôi nhà cao tầng, các cơ quan công sở. Một lớp bụi đỏ mờ phủ trên các cấu trúc sinh hoạt và việc nhận diện con người cũng không mấy sáng sủa. Nhưng càng vào sâu, đường xá càng dễ đi , cảnh quan có vẻ sáng láng, nhiều kiến trúc tôn giáo hơn. Qua cầu Vĩnh Binh bắc qua một con kinh nhỏ, ngôi chợ hiện ra trong tầm mắt. Chợ Vĩnh Bình , tức chợ Vĩnh Lợi hay còn gọi là chợ Giồng Ông Huê. Chợ được xây dựng vào năm 1895, do ông Trần văn Huê, một đại điền chủ , bỏ tiền xây cất. Tương truyền, ông Huê ngày trước quê tận Quãng Ngãi, theo Chúa Nguyễn di dân vào Nam , nhờ khai phá đất đai mà trở nên giàu có. Nhưng tôi không ghé vào chợ. Tôi theo đường Nguyễn văn Côn xuôi một đoạn khá xa đến một địa danh gọi là Phước Hựu. Có thể trong mắt, tôi chưa chạm đến cái mà tôi muốn tìm…

“ _ Bánh giá bây giờ hết ngon rồi. “ Má chậm rãi nói    “_ Mấy người hồi xưa làm ngon hơn! Nhưng muốn mua cũng phải đi buổi sáng , chứ giờ này đâu còn chỗ nào bán.”

Người đàn bà lại cúi xuống làm công việc của mình, sắp xếp những tệp giấy vàng bạc, rồi bó nó lại bằng những sợi dây thun.  Chiếc khăn rằn Nam Bộ  trên đầu, đôi lúc lại buông thõng một tua xuống vai gây vướng víu, nên thỉnh thoảng, bà lại ngưng việc, lấy tay nhét nó lại vào những nếp gấp. Khuôn mặt dài, sống mũi hơi khoằm, dái tai chảy dài có đeo đôi mặt cẩm thạch nhạt màu….Cái hình ảnh gợi cho tôi vài kỷ niệm về bà ngoại tôi, ngày trước…..Những nếp nhăn đánh dày trên khuôn diện như gân một chiếc lá rụng.

_ Ruộng nhà mình đây hả Má?

_Ừa …cũng được hai sào. Mỗi năm hai vụ. Nhưng bây giờ đâu có người mần. Tụi nhỏ nó đi mần xí nghiệp hết rồi!

_ Sao ít vậy Má. Mấy chỗ khác  thấy họ làm được đến ba bốn vụ ? Thắc mắc tôi hỏi.

_  Ở đây đất phèn, chỉ mần được vậy. Nhà nước cũng khuyến khích trồng xen canh như dưa , khoai, khổ qua…Nhà không có người mần, nên cho người ta mướn.

Loáng thoáng một người đàn ông lớn tuổi, đang vun đống rơm ở sau nhà, nên tôi hỏi:

_  Ba hồi trước làm gì Má?

_  Ổng đi lính….nghĩa quân, đóng loang quanh đây.

_ Đất này ông bà để lại hả Má?

_  Đâu có…ông bà hồi trước cũng chỉ tá điền thôi. Lúc tụi tui ra riêng …cũng đi mần ruộng mướn. Sau này có chính sách gì đó….Chính sách gì đó thời ông Thiệu….

Thấy bà cứ ngắc ngứ mãi, nên tôi thêm vào:

_ Người cày có ruộng….

_ Ờ…. “ Người cày có ruộng”  nên mới được mấy sào. Sau này giải phóng vô, ruộng đất sung vô Hợp tác xã hết,  nhái cũng hoàn nhái, về lại kiếp làm mướn…

_ Ủa , hợp tác xã mà làm mướn gì má?

_ Thì mầm mướn cho nhà nước, lấy công điểm. Đói sặc gạch. ..Mần ra hột lúa mà chỉ nhai khoai mì, khoai lang trừ cơm.

Bà bật cười. Tuổi tác và cái miệng móm xọm, đầy trầu  đã xua đi cái vị chua chát của câu nói,  đồng hóa nó trong cái cười của nhân tâm.

_  Sau này thấy dân đói quá…kéo nhau đi hết, nên mấy ổng mới chia lại ruộng. Giờ được hai sào non đó!

Tôi ngồi bên Má, nhìn ra vuông ruộng tít tắp, xanh ngắt của lúa đang thời con gái. Những ngọn  gió thỉnh thoảng tràn qua cánh đồng  làm gợn lên những con sóng, nổi cồn, lan mãi… chạy ruổi về phía những rặng cây ăn trái nổi lờ mờ phía chân trời. Mùi hăng hăng quen thuộc của bùn đất , mùi của hoai hóa từ con  rạch nhỏ trước nhà làm không khí đang thở đậm lại. Bên trái , mấy cái mộ cổ của mấy ông Bá hộ ngày trước, kiến trúc cầu kỳ nằm khuất trong đám lau lách, cho cái nhìn ám lại về một thời đại tối tăm địa chủ, tá điền và những thời kỳ khác đã đi qua.

Trong thoáng trầm tư, ký ức hằn những nếp nhăn trên trán người Mẹ Việt!

 Chợ Vĩnh Binh ( Tên ngày xưa chợ Giồng)_ Gò Công Tây ( Ảnh tác giả)

…..

Nằm tựa lưng vào bờ kinh Vĩnh Bình, chợ Vĩnh Bình có cấu trúc của một khối chữ nhật, chạy dài. Chợ đã được xây dựng mới, cao ráo, sạch sẽ. Chênh chếch phía mặt tiền, còn giữ lại vài ngôi nhà cổ lợp ngói, với kiến trúc thấp, những cổng vòm được trang trí bằng phù điêu và hoa văn. Rêu mốc và sự cũ kỹ chừng như cô lập hẳn quần thể này trước những ngôi nhà cao tầng hiện đại mọc đầy xung quanh. Trong bối cảnh chung, chúng hiện diện như những chiếc bóng ma mị, đầy tự kỷ , tồn tại bằng những ký ức, biến cố vốn chất chứa quá nhiều trong chúng. Điều này lý giải, không phải tự dưng, ánh mắt tôi khi quét qua đó, đột nhiên chùng xuống.

Trời đã xế chiều, ngôi chợ không còn sự tấp nập, ồn ào. Lác đác, vài gian hàng đang dọn…

_ “ Bánh giá hả em? Giờ này đâu ai còn bán nữa….Chạy xuống cuối chợ coi sao?” Một chị phụ nữ mau mắn nói.

Buổi chợ đông , con cá đồng cũng chê lạt
Lúc chợ  chiều, con tép bạc cũng khen ngon

Có lẽ đây là hàng bánh cuối cùng và chủ sạp, một phụ nữ trẻ khuôn mặt ủ ê, đang gói mấy chiếc bánh bằng miếng lá chuối cho một người khách. Cạnh đó, một cái chảo đầy dầu chiên đang sôi sùng sục bắc trên một cái lò đun bằng củi. Một thau bột vẫn còn lưng lửng, bên kia là một cái thúng to đựng  lủng củng đủ thứ: giá sống, gan heo, tôm sống.….Cái quạt trên tay cô nàng làm việc liên tục, nhưng vẫn không xua nổi đám ruồi nhặng lì lợm, cứ chờ chực lao vào. Giả tảng như không biết gì, tôi hỏi: _ Đây chợ Giồng phải không em?

_ Chợ Vĩnh biệt anh à!…Câu trả lời làm tôi suýt phì cười _  Buôn bán ế quá, mai mốt không còn ai bán nữa, chắc phải kêu chợ Vĩnh biệt. Cô nói như trãi lòng mình…._Mua  giùm em vài cái bánh đi anh!

Thực ra thứ bánh giá nổi tiếng này, cũng gần giống món bánh xèo ở miền Trung. Bột gạo xay pha loãng với đậu nành, đổ lên một dụng cụ khá đặc biệt, giống cái khuôn đúc bánh xèo nhưng nhỏ hơn, trong này gọi bằng cái vá. Tiếp theo người ta cho giá sống, gan heo lên trên, rồi đổ một lớp bột mỏng phủ đều. Trên cùng cho hai con tôm và ít hạt đậu phụng cho bắt mắt. Hoàn tất , tất cả cho qua chảo dầu, chiên vàng. Sau đó vớt lên, để ráo dầu là có thể ăn được…. Bánh giá ăn không với nước mắm, nước tương kèm rau sống. Một số người lại thích ăn với bún.

Tôi định lấy hai cái ăn lấy thảo, nhưng khi nhìn khuôn mặt chân phác của cô bán hàng chẳng thấy vui lên tí nào, đành lấy thêm hai cái nữa.

Nhận mấy cái bánh, tôi có gửi lời chào và câu chúc buôn may, bán đắt….chỉ thấy nàng cười thẹn và câu trả lời, nho nhỏ…._ Cám ơn!

Rồi mai em gái theo chồng/ Ai đem bánh giá chợ Giồng mời anh ( Ảnh tác giả)

 

****

Tháng năm mùa của những cơn giông chiều ở mảnh đất miền Tây . Vừa thoáng thấy những đụn mây đen ùn lên ở chân trời, thoắt cái , nó đã bắt kịp tôi, khi bánh xe vừa chạm ngưỡng Gò Công. Mưa mù mịt. Hạt mưa to, nặng như những mảnh kính vỡ vung vãi , đâm nhói vào da thịt. Ướt như chuột lột, tôi đâm xe vào mái hiên của một nhà ven đường để tránh mưa. Mưa đổ  từng đợt ào ạt, xói cả mặt đường nhựa. Con phố trước mặt như ai đổ lên một lớp sơn bạc, nhòa nhạt, vắng ngắt…..

Trong lúc đợi mưa tạnh, tôi chợt nhớ cuốn sổ ghi chép để trong túi áo sơmi lúc sáng. Cái túi ướt nhẹp, nhưng cũng may, bên trong cuốn sổ vẫn khô ráo. Dưới ánh sáng lờ mờ còn sót lại của ban ngày, tôi đọc lại dòng chữ do chính tôi ghi lại, theo nguồn khảo cứu.

“ Tuy vậy, Nam Phương hoàng hậu được nhiều người đánh giá là người thiết tha với đất nước. Theo tài liệu của sử gia Pháp Jean Renaud do nhà xuất bản Guy Boussac ấn hành năm 1949:

Sau khi quân Pháp dựa vào thế lực của quân Anh quốc để gây hấn ở miền Nam với ý đồ tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Lúc đó vua Bảo Đại đã thoái vị, bà Nam Phương đang ở tại An Định cung bên bờ sông An Cựu. Đau lòng trước thảm cảnh mà đồng bào miền Nam, quê hương của bà đang trực tiếp gánh chịu, cựu Hoàng hậu Nam Phương đã gửi một thông điệp cho bạn bè ở Á châu yêu cầu họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lăng của thực dân Pháp với lời lẽ như sau:

“Kể từ tháng 3 năm 1945, nước Việt Nam đã thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp nhưng vì lòng tham của một thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục chảy trên mảnh đất vốn đã có quá nhiều đau khổ. Hành động này của thực dân Pháp là trái với chủ trương của Đồng Minh mà nước Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha thiết yêu cầu những ai đã từng đau khổ vì chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành động để giúp chúng tôi chấm dứt chiến tranh đang ngày đêm tàn phá đất nước tôi.

Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi và bạn bè của nước Việt Nam hãy bênh vực cho tự do. Xin các chính phủ của khối tự do sớm can thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng bào của chúng tôi”…”

……..

Biết rằng sau cơn mưa trời lại sáng, nhưng sao trên con đường về, hòa mình vào dòng người xứ Gò đang vội vã,  tôi  lại cảm thấy nặng lòng. Thời gian và bao sự thay đổi dâu bể, tất cả đâu cưỡng lại được vận trời. Cũng  xin đành nợ Người…. Nam Phương!

Sài Gòn, ngày 7 tháng 7 năm 2017

Vũ Khuê

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

_ Nguồn Wilkipedia.
_  Gò công_ Xưa và nay ( Tác giả Hoàng Minh)
Và một số tư liệu khác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông ( chương 2)

FILE PHOTO: Author Kazuo Ishiguro photographed during an interview with Reuters in New York, U.S. April 20, 2005. REUTERS/Mike Segar/File Photo

 

Khi tôi tới gặp ông Gardner thì đường phố đã khá tối và vắng vẻ. Hồi ấy tôi vẫn còn lạc đường mỗi lần đi xa quảng trường San Marco, thế nên dù đã khởi hành sớm, dù đã biết vị trí cây cầu nơi ông Gardner hẹn, tôi vẫn đến muộn vài phút.

Ông đứng ngay dưới ngọn đèn đường, mặc bộ com lê nhăm nhúm, áo sơ mi mở ba hay bốn nút, có thể nhìn thấy cả lông trên ngực. Khi tôi tạ lỗi đến muộn, ông bảo:

“Vài phút thì có hề gì? Lindy và tôi lấy nhau đã hai mươi bảy năm. Vài phút thì có hề gì?”

Ông không bực tức, nhưng có vẻ nghiêm trọng và âu sầu – không có gì là lãng mạn. Đằng sau ông là chiếc gondola dập dềnh nhẹ nhàng trên sóng, và tôi thấy người đứng thuyền là Vittorio, một người tôi không mấy ưa. Trước mặt tôi, Vittorio lúc nào cũng xởi lởi, nhưng tôi biết – ngay từ hồi ấy – anh ta đi khắp nơi nói đủ thứ chuyện tồi tệ, toàn chuyện đặt điều, về những kẻ như tôi, những kẻ anh ta gọi là “bọn ngoại quốc từ các nước mới nứt mắt”. Thế nên hôm ấy khi anh ta chào tôi hồ hởi như anh em ruột, tôi chỉ đáp lại bằng cái gật đầu, và im lặng đợi anh ta đỡ ông Gardner vào thuyền. Rồi tôi đưa anh ta cầm cây đàn – tôi mang theo cây Tây Ban Cầm, để cây có lỗ ô van ở nhà – và cũng trèo vào theo.

Ông Gardner liên tục xoay trở ở đằng mũi, có một lần còn ngồi phịch xuống đến nỗi suýt làm lật thuyền. Nhưng có vẻ ông không để ý thấy, và khi thuyền rời bờ, ông cứ nhìn đăm đăm xuống nước.

Mất vài phút chúng tôi lướt đi lặng lẽ giữa hai dãy nhà tối đen, chốc chốc lọt qua bên dưới những cây cầu thấp. Rồi ông bứt khỏi những ý nghĩ đăm chiêu mà nói:

“Nghe này, anh bạn. Tôi biết là chúng ta đã thỏa thuận xong các tiết mục tối nay. Nhưng tôi vừa nghĩ nãy giờ. Lindy rất thích bài ‘By the time I get to Phoenix’. Tôi có ghi âm bài đó một lần lâu lắm rồi.”

“Vâng, thưa ông Gardner. Mẹ tôi lúc nào cũng nói bài đó ông hát hay hơn cả Sinatra. Hơn cả cái bản nổi tiếng do Glenn Campbell hát nữa.”

Ông Gardner gật đầu, rồi một lúc lâu tôi không nhìn rõ mặt ông. Vittorio cất tiếng hô báo hiệu vang dội các bức tường trước khi cho thuyền ngoặt qua chỗ rẽ.

“Tôi đã hát cho bà ấy nghe bài này rất nhiều lần,” ông Gardner nói. “Anh hiểu không, tôi nghĩ bà ấy sẽ thích được nghe bài ấy tối nay. Anh có thuộc nhạc chứ?”

Lúc này cây đàn đã ra khỏi bao, nên tôi chơi vài khúc.

“Lên chút nữa,” ông nói. “Lên đến mi giáng. Hồi thu đĩa tôi hát thế mà.”

Thế nên tôi chơi lại đoạn nhạc theo tông mới, và khi đã hết có lẽ cả một đời, ông Gardner cất tiếng hát, rất khẽ khàng, ghìm nhịp thở, như là không nhớ rõ lời. Nhưng giọng ông vọng lại rất rõ trong lòng kênh yên tĩnh. Quả thật là nghe rất tuyệt. Và trong một lúc hình như tôi trở lại làm đứa bé con, ở trong căn hộ, nằm ườn trên thảm trong lúc mẹ ngồi trên xô pha, mệt lử, hoặc có khi sầu não, còn đĩa Tony Gardner thì quay trong góc phòng.

Ông Gardner đột ngột ngưng hát và nói: “Được rồi. Chúng ta sẽ chơi ‘Phoenix’ cung mi giáng. Rồi có thể là ‘I fall in love too easily’, như chúng ta đã bàn. Và kết thúc bằng ‘One for my baby’. Thế là đủ. Bà ấy sẽ không nghe nhiều hơn đâu.”

Sau đó ông lại chìm vào suy tưởng, và chúng tôi cứ thế trôi qua bóng tối trong tiếng khỏa nước nhè nhẹ của Vittorio.

“Ông Gardner ạ”, rốt cuộc tôi nói, “mong ông thứ lỗi câu hỏi của tôi. Nhưng bà Gardner có biết trước cuộc trình diễn này không? Hay đây là một bất ngờ thú vị?”

Ông thở dài nặng nhọc, rồi nói: “Tôi nghĩ chắc là phải xếp vào mục bất ngờ thú vị.” Rồi nói thêm: “Có Chúa biết bà ấy sẽ phản ứng thế nào. Có thể chúng ta sẽ không tới được tận ‘One for my baby’.”

Vittorio cho thuyền ngoặt qua một khúc kênh nữa, và đột ngột nghe vang lên tiếng cười và tiếng nhạc, chúng tôi trôi qua một nhà hàng lớn, đèn đuốc sang trưng. Bàn nào hình như cũng kín khách, các anh bồi lăng xăng hối hả, thực khách đều có vẻ sung sướng, dù ở bên kênh đào vào mùa này trong năm chắc cũng không ấm mấy. Sau cảnh tĩnh mịch và bóng tối chúng tôi vừa đi qua, nhà hàng này gây cho tôi cảm giác bất an. Có vẻ như chúng tôi mới là người đứng yên, đứng trên bến tàu mà ngắm, trong lúc con tàu dạ tiệc lấp lánh ấy trôi qua. Tôi nhìn thấy vài khuôn mặt ngoảnh ra phía mình, nhưng không ai để ý nhiều đến chúng tôi. Rồi nhà hàng đã nằm lại đằng sau, và tôi nói:

“Kể cũng buồn cười. Ông có tưởng tượng được đám khách du lịch ấy sẽ làm gì nếu họ vỡ lẽ là có chiếc thuyền chở Tony Gardner huyền thoại vừa đi qua không?”

Vittorio, dù không khá tiếng Anh lắm, cũng hiểu được đại ý và cười một tiếng nho nhỏ. Nhưng một hồi lâu ông Gardner không đáp lại. Chúng tôi vừa trở lại trong bóng tối, trên một khúc kênh hẹp giữa những cửa ra vào sáng nhờ nhờ, thì ông bảo:

“Anh bạn, anh đã sống tại một nước cộng sản. Chính vì thế anh không nhận ra ở đây thế giới vận hành thế nào.”

“Ông Gardner,” tôi nói, “giờ nước tôi không còn là cộng sản nữa. Giờ chúng tôi là một dân tộc tự do.”

“Tôi xin lỗi. Tôi không có ý khinh thường tổ quốc anh. Các anh là một dân tộc anh dũng. Tôi mong cho các anh chóng được hòa bình và thịnh vượng. Nhưng tôi định nói với anh là, anh bạn, tôi có ý là vì anh sinh trưởng ở quê hương anh cho nên điều tự nhiên là có nhiều chuyện anh chưa hiểu hết. Cũng như sẽ có nhiều điều tôi không hiểu về đất nước anh.”

“Tôi nghĩ là ông nói đúng, thưa ông Gardner.”

“Những người chúng ta vừa đi qua. Nếu anh đến chỗ họ mà bảo, ‘Này, các anh có ai còn nhớ Tony Gardner không?’ thì có thể một vài người trong đó, phần lớn cũng nên, sẽ bảo có. Ai biết được? Nhưng đi thuyền qua như chúng ta vừa rồi, ngay cả nếu họ có nhận ra tôi, liệu họ có phấn khích không? Tôi nghĩ là không. Họ sẽ không buông nĩa, sẽ không ngắt quãng câu chuyện tâm tình bên ánh nến đâu. Việc gì phải thế? Chẳng qua là một gã hát tình ca của một thời xưa cũ mà thôi.”

“Cái này thì tôi không tin được, thưa ông Gardner. Ông là một giọng hát kinh điển. Ông cũng ngang với Sinatra hay Dean Martin. Những nhân vật kinh điển, họ không bao giờ lỗi mốt. Không phải như đám nhạc pop bây giờ.”

“Anh nói thế là tử tế lắm, anh bạn. Tôi biết anh có thiện ý. Nhưng một đêm như đêm nay, đây không phải là lúc để phỉnh nịnh tôi.”

Tôi đã muốn phản đối, nhưng có gì đó trong dáng vẻ ông khiến tôi không muốn tiếp tục đề tàu này. Thế nên chúng tôi đi tiếp, không nói câu nào. Thành thực mà nói, lúc này tôi bắt đầu nghĩ xem mình đã rơi vào chuyện gì, cái trò hát bên cửa sổ này là sao. Và những người này là người Mỹ nữa chứ. Làm sao tôi dám chắc rằng khi ông Gardner bắt đầu hát bà Gardner sẽ không đến bên cửa chĩa súng nã đạn vào chúng tôi.

Có lẽ Vittorio cũng đang nghĩ tương tự trong đầu, bởi khi chúng tôi lướt qua gần một cây đèn gắn trên tường, anh ta ném cho tôi một cái nhìn như muốn nói: “Chúng ta vớ được một gã gàn dở, phải không, amico?” Nhưng tôi không đáp lại. Tôi không định về phe với loại người như anh ta chống lại ông Gardner. Theo lời Vittorio, những kẻ nhập cư như tôi chỉ có đi lột tiền của khách du lịch, xả rác xuống kênh, và nói chung là hủy hoại cả thành phố. Có những ngày, nếu đang gặp cơn khó chịu, anh ta sẵn sàng kết tội chúng tôi là bọn xin đểu – dâm tặc nữa không chừng. Tôi đã có lần hỏi thẳng mặt có đúng là anh ta nói vậy về chúng tôi không, và anh ta thề thốt đấy chỉ toàn là bịa đặt. Làm sao anh ta mà lại hận thù chủng tộc được, trong khi có một bà dì người Do Thái mà anh ta tôn thờ như mẹ? Nhưng một buổi chiều nọ tôi đang tiêu khiển giữa hai suất diễn, tựa mình trên cây cầu ở Dorsoduro thì thấy một chiếc gondola trôi quabên dưới. Trên đó có ba du khách đang ngồi, và Vittorio đứng dựa cây chèo, làm một bài diễn văn cho cả thế giới cùng nghe, miệng tuôn ra đúng những lời lẽ ấy. Cho nên anh ta cứ việc tìm mắt tôi tùy thích, nhưng đừng có hòng tranh thủ tình đồng đội của tôi.

“Tôi sẽ cho anh biết một bí mật nhỏ,” ông Gardner thình lình nói. “Một bí mật nhỏ về nghề diễn. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề. Cũng đơn giản thôi. Anh phải biết một điều gì đó, điều gì cũng được, anh phải biết một điều gì đó về khán giả của anh. Một điều gì đó đủ cho anh có thể ngầm phân biệt được khán giả này với những người anh vừa hát cho nghe đêm hôm trước. Ta lấy ví dụ anh đang ở Milwaukee. Anh phải tự hỏi mình, có gì khác, có gì đặc biệt ở khán giả Milwaukee? Có gì khiến họ khác với khán giả Madison? Nếu không nghĩ ra được gì, anh cứ phải nghĩ tiếp đến lúc tìm được. Milwaukee, Milwaukee. Ở Milwaukee có món sườn lợn rất ngon. Chỉ thế là đủ, đấy là cái sẽ giúp anh khi bước ra sân khấu. Anh không cần phải nói ra với họ, chỉ cần giữ trong đầu khi anh hát cho họ nghe. Những người ở trước mặt anh đây, họ là những người vẫn hay ăn sườn hảo hạng. Họ có đòi hỏi rất cao đối với món sườn. Anh hiểu tôi nói gì không? Như thế khán giả trở thành một người mà anh hiểu, một người anh có thể biểu diễn cho nghe. Đấy, bí mật của tôi là thế. Trao đổi kinh nghiệm nhà nghề.”

“Vâng, cám ơn, thưa ông Gardner. Tôi chưa bao giờ nghĩ theo cách đó. Chỉ bảo của một người như ông, tôi sẽ không bao giờ quên.”

“Thế nên,” ông nói tiếp, “tối nay chúng ta đang biểu diễn cho Lindy. Lindy là khán giả. Thế nên tôi sẽ nói với anh gì đó về Lindy. Anh có muốn nghe về Lindy không?”

“Có chứ, thưa ông Gardner,” tôi nói. “Tôi hết sức muốn nghe về bà ấy.”

NGÀY THÁNG ẤY HỒN NHIÊN

 

1.

Đầu những năm 60, không rõ được cất từ thời nào mà một dãy phố trệt ở gần cuối đường Trần Quang Khải, khu Tân Định, trông rất cũ kỹ. Chiều chiều, quanh quẩn bên những gốc cây dầu, cây sao trên vỉa hè, bọn trẻ khu phố kéo nhau ra chơi đủ thứ trò. Có nhiều trò con gái con trai chơi chung như: trốn tìm, nhảy dây, lò cò, đánh đáo…, vài trò khác thì tụi con gái thường chỉ đứng xem mà rất hiếm khi tham gia, như: đá banh, bắn bi, bắn ná, u bắt mọi…

Cứ thế, hai đứa bạn hàng xóm lâu năm, chơi với nhau rất thân là hai tên nhóc ngang tuổi nhau, Hòa và Quan. Cũng hay đi chung, chơi chung với cặp bài trùng này còn có Kim, chị kề của Quan và chỉ lớn hơn 1 tuổi. Hòa cũng xem chị Kim như bạn học, do cả ba đứa đều học chung trường, chỉ khác lớp.

Hết lớp 5, cả ba đứa cùng đậu tiểu học, chị Kim đậu luôn vô lớp đệ thất trường công là trường nữ trung học Lê Văn Duyệt, gần lăng Ông Bà Chiểu. Còn bọn con trai, do đậu tiểu học xong là ham chơi suốt mấy tháng, không chịu ôn bài đàng hoàng nên đều rớt khi thi vào lớp đệ thất trường công Trần Lục, gần chợ Tân Định. Bố mẹ Hòa dễ dãi, cho con học trường tư, là trường Les Lauriers cũng gần nhà. Chỉ còn Quan, do bố mẹ cương quyết, bắt học lớp tiếp liên, dùi mài ôn tập để thi vào trường công lần nữa. Kết quả là, đành chịu chậm mất một năm, cậu mình lọt vào vào trường Trần Lục.

Thế là khi lên trung học, ba đứa bạn thân học ở ba trường khác nhau nhưng Hòa vẫn tiếp tục chơi thân với Quan và chị Kim. Sắp dậy thì, con gái trổ mã, cô chị của Quan cao hơn hai thằng con trai gần cả tấc. Lúc này ba đứa bắt đầu “ngao du” những chỗ mới, xa nhà hơn, như piscine Chi Lăng, piscine Đại Đồng, lăng Ông Bà Chiểu… Thú vị nhất là những địa điểm bên Dakao, tức vẫn gần nhà, lội bộ một lát cũng tới, như: tiệm thạch chè Hiển Khánh cạnh rạp ciné Casino Dakao, mấy chỗ bên đường Hiền Vương là đền thờ Hưng Đạo vương, đất thánh Tây cùng đất thánh Chà, rồi chùa Ngọc Hoàng… Vui nhất là vô chùa Ngọc Hoàng, bứt lá cây thả xuống cái hồ nước xanh lè cho mấy chú rùa ăn. Gần cổng chùa lại có một lớp dạy Anh ngữ buổi tối, ban ngày thường ơ thờ quên khóa cửa phòng học, cả bọn lẻn vào, ban đầu chỉ ngồi chơi, sau lén lấy về cả hộp phấn viết bảng. Cái trò “trộm vặt” chẳng đáng gì nhưng lại vui vui, dù cái giá phải trả là trên đường về Quan cứ hồi họp úm, che cái hộp dấu trong áo. Cả bọn đều lo lắng, ngó dáo dác, sợ người của lớp học biết đâu lại đột nhiên xuất hiện và bắt tại trận…

Lúc này, tính khí của mỗi đứa đã định hình khá rõ rệt. Quan lúc nào cũng suy nghĩ thực tế, nhanh nhẹn, tháo vát, nhiều sáng kiến. Chị Kim thì thông minh, tế nhị, cứng cỏi, hướng ngoại, nhiều lúc không hề ngại tỏ vẻ “đàn chị” đối với hai cậu em. Hòa thì ôn hòa nhất trong bọn, hay hướng nội, mơ mộng và hiếu cảm. Được nhất là cả ba đều học giỏi đều các môn nên thường xuyên đứng hạng thứ cao trong lớp. Đáng khen hơn nữa, cả ba đứa học giỏi đều do trí thông minh hay năng khiếu riêng – Quan giỏi trội nhất là môn toán, Hòa, chị Kim trội nhất môn Anh ngữ và Hòa trội nhất về môn văn –  cộng thêm trí nhớ tốt chứ chẳng đứa nào chịu cần cù, học gạo. Sở trường của mỗi đứa là như thế nhưng trong bụng lúc nào Hòa cũng thầm nể cái tánh cứ-như-con-trai của chị Kim. Cậu mình phục lăn chị bạn, đã lúc nào cũng nói nhanh và bước đi nhanh, mà nắm bắt, phán đoán chuyện gì cũng vừa nhanh nhạy vừa xác đáng.

 

2.

Năm Hòa và chị Kim thi tú tải hai, Quan thi tú tài nhất thì ba mẹ Hòa dọn nhà qua Bà Chiểu. Từ đó, cứ cách hai, ba ngày là Hòa lại qua Tân Định ghé chơi cả buổi, có khi ở lại ăn cơm với gia đình Quan, chị Kim. Lúc này, về ngoại hình, con gái con trai gì cũng thay đổi, nở nang hơn, đường nét mạnh mẽ hơn hoặc thướt tha hơn. Con trai nhổ giò nên đã lấy lại danh dự nam nhi, không chịu thấp hơn con gái nữa, ngược lại còn cao hơn vài phân. Còn về nội tâm, cô thiếu nữ 18 tuổi, thon thả, duyên dáng, đã có cả một vũ trụ tâm tưởng riêng tư của con gái nên đã ít đi chơi, ít sinh hoạt chung với hai cậu em.

Vẫn tánh quyết đoán và sớm chín chắn so với lứa tuổi, trong trường chị Kim đã được bầu làm trưởng lớp liên tục hai niên khóa. Cũng từ cái tính hướng ngoại, thích tham gia hoạt động xã hội, chị Kim đã dẫn dắt hai cậu em cùng vào sinh hoạt trong một nhóm tín đồ đạo Mormon, cùng có thêm vài người bạn mới, đó là những người Mỹ làm việc cả bên dân sự lẫn bên quân đội. Hầu hết trong nhóm này thuộc giới trẻ, hiếu động và rất ham vui, ngày nghỉ cuối tuần thường tổ chức party. Hòa, Quan, chị Kim theo ngay một lớp học khiêu vũ do họ tổ chức, tất nhiên miễn phí và không buộc phải về xin phép phụ huynh. Tại lớp, rất dễ nhận ra năng khiếu đối với môn khiêu vũ cứ như sẵn có ngay từ lúc mới chào đời của chị Kim và Hòa. Học đến điệu nhảy cổ điền hay tân thời nào cả hai cũng thành thạo rất nhanh, bước đi uyển chuyển, quay người gọn, đẹp… Còn Quan – “nhà” toán học, giỏi luôn về khoa cơ khí, máy móc – lại có phần vụng về, tập bước căn bản tương đối chậm, cũng nắm bắt khá chậm các kiểu fantasy.

Trong đêm party đầu Kim, dù nhảy khá thạo, đủ tự tin nhưng ban đầu Hòa vẫn hơi bị trục trặc bởi tính nhút nhát và nhạy cảm không đúng lúc, đúng chỗ. Khi sắp ôm eo những cô gái cùng nhảy, cậu mình rất hồi hộp, tim đập dồn dập, thậm chí lòng bàn tay xuất mổ hôi ướt rượt. Kỳ cục là những xáo trộn tâm lý lẫn sinh lý ấy xảy ra luôn cả khi Hòa tiếp cận với “phe ta”, “đào nhà” là chị Kim.

Suốt cuộc đời, Hòa không bao giờ quên người con gái đầu tiên cùng khiêu vũ với mình chính là chị Kim. Còn hơn thế, cô gái này và Hòa còn là một cặp bài trùng cho những bước tập đầu tiên rồi suốt cả lớp khiêu vũ. Tuy nhiên, ở giai đoạn còn học nhảy với nhau, có vũ sư theo dõi sát bên, Hòa chỉ chú ý, tập trung cả đầu óc lẫn thân thể để bước sao cho đúng cách và đúng nhịp hoặc quay sao cho khéo, không còn tâm trí đâu mà cảm nhận xem đang ôm ai trong tay… Đến đêm party  đầu tiên, để mở hàng cho “sự nghiệp” khiêu vũ của mình, Hòa mời ngay chị Kim. Cậu mình tính toán rằng nhảy với “đào nhà” thì lỡ có va vấp cũng đỡ sượng. Hơn nữa, chị Kim cho thấy nhảy đã khá vững, nếu “kép” có trật bước, trật nhịp thì chị cũng có thể nương theo, cùng chỉnh đốn lại được.

Đầu Kim, đôi bạn ra piste thì đúng lúc bản Perfedia trổi lên cho khách nhảy tua Chachacha. Điệu nhảy khỏi-ôm-đào này dễ ăn và bình an vô sự, miễn đừng bước nhầm phương hướng, “nhập vô, dạt ra” như kéo đàn accordéon hay dẫm chân người ta. Kế đó, Hòa và chị Kim đứng yên ở piste nhảy và ôm nhau khi ca khúc The First of May trổi lên với điệu Ballade.

Mọi sự có vẻ vẫn ổn. Vòng tay Hòa ôm chị Kim đang vừa phải, không lỏng cũng không xiết, đúng phép xã giao theo bài bản.

Nhưng kìa, cậu con trai chợt cảm nhận một điều gì đó là lạ, hay hay. Không còn là chuyện hai đứa bạn – một là con trai, một là con gái – hồn nhiên ôm nhau như vật lộn trong trò chơi u bắt mọi của tụi con nít ngày nào nữa. Cái trò chơi mạnh bạo thời niên thiếu ấy đã buộc Hòa, đã chọn một phe thì ở phe phải tuôn dầm mồ hôi, vất vả ôm ghịt lấy mình mẫy đối thủ bên phe kia – bất kỳ thằng nào, con nào – cho nó bất động tại chỗ thì mình cùng phe mình mới thắng…

Giờ đây, cuộc đời như đã bí ẩn thay đổi trong vòng tay Hòa. Cũng là thân hình con gái, đứa bạn gái gầy nhom mà Hòa đã kết thân qua không biết bao nhiêu trò chơi ngây thơ hồi nhỏ – nhưng giờ đây, thân chị Kim thật mềm mại, thon thả, cứ như được ai đó tính toán thật khéo cho đúng mực mảnh mai, đang không quá béo cũng không quá gầy mà chỉ thật vừa vặn với vòng tay ôm của cậu con trai, dịu dàng cận kề một cách thật êm ái, ngọt ngào.

“Don’t ask me why, but time has passed us by/ Some one else moved in from far
away”
, lời ca khúc cũng đang rất hợp với tâm trạng ngỡ ngàng của Hòa lúc này.

Trong ánh sáng mờ ảo, huyền hoặc của phòng nhảy, nhiều lúc hai bạn nhảy lặng thinh nhìn vào mắt nhau. Chị Kim mỉm cười nhè nhẹ. Hòa xao xuyến đến lặng người, bởi chưa bao giờ thấy cô bạn cười đẹp và dễ thương đến vậy. Và xao xuyến đến đâm ra sợ hãi sức quyến rũ của nụ cười con gái, cứ chốc lát Hòa lại nhìn tránh sang chỗ khác, không dám nhìn quá lâu khuôn mặt con gái quen-mà-lạ cận kề, lại còn thoảng thoảng mùi nước hoa ma mị gì đó…

Bản nhạc dứt đã lâu, cậu con trai mới lớn cứ như vẫn còn đắm hồn trong một cơn mê kỳ lạ. Hòa mơ hồ cảm thấy, sau đêm khiêu vũ nầy, tuồng như những cảm xúc tinh khôi, mượt mà với con gái trên đời này, cụ thể là với chị Kim, bởi mới mẻ, sâu lắng quá nên chắc sẽ còn vang vọng, ray rức thật lâu nữa trong cuộc sống của mình những ngày tới…

 

3.

Năm đầu đại học, Hòa vào trường Văn Khoa và chọn ban triết, chị Kim vào trường Vạn Hạnh, học ban khoa học xã hội. Qua những lần đến nhà chơi với hai chị em Quan, tình cờ Hòa thấy hai anh chàng trắng trẻo, cùng đeo kính cận gọng vàng, một anh đi xe Vespa Italy, anh kia đi chiếc Honda 90 phân khối, hết anh này đến anh kia cứ đến tìm chị Kim hoài. Tình cờ gặp lúc chị Kim tiếp bạn, Hòa ngồi trên gác với Quan, nghe loáng thoáng cô gái Bắc đáo để trong nhà chuyện trò một mực ngọt ngào, rôm rã, với bất cứ anh chàng cây si nào khi đến lượt tiếp chuyện đối tượng. Hai cậu em, dù thuộc loại vừa hiền vừa khờ về chuyện con trai con gái yêu đương, bồ bịch nhưng nào chịu im, cứ om xòm bình luận với nhau về tình hình ở phòng khách. Đoán mò, đoán suông mãi cũng chán, bèn bắt cá, Quan cho rằng chị mình sẽ chọn tên Honda 90, Hòa ngược lại, cho là chi Kim thích tên Vespa hơn.

Rốt cuộc, trong một bữa đi ăn chè Hiển Khánh, bị “thắc mắc đời tư” mãi nên chị Kim hơi bực, tiết lộ luôn một hơi nhưng thật ngắn gọn vừa đủ nghe, rằng đó là hai tên bạn sinh viên lớp trên trong trường. Theo nhận xét đã đủ chín chắn của cô gái, cả hai bạn trai này đều thuộc loại thiếu gia con nhà giàu, đều lịch sự và cư xử đàng hoàng, chỉ tiếc rằng một anh thì có tính “thùng rỗng kêu to”, hoang tưởng về chính mình, còn anh kia chưa chi đã lộ ra tính độc tài, gia trưởng. Do đó,“Là bạn, bạn tốt thôi, không bồ bịch, iu iếc gì cả!”, chị Kim bình thản kết luận.

Một ngày nọ, Hòa ngỡ ngàng nhận được tin vui. Quan báo cho biết chị Kim vừa đột ngột nhận lời cầu hôn của một người Mỹ. Hòa cũng biết sơ về anh chàng này. Đó là một thanh niên có vẻ cũng bình thường thôi trong nhóm đạo Mormon, giờ Hòa mới được biết rõ hơn: anh là đại úy hải quân, họ hàng gần với một vị đô đốc hải quân Hoa Kỳ.

Ngày đám cưới, buổi sáng Hòa bận đi học nên không dự các nghi thức hôn lễ, chỉ dự tiệc cưới ở khách sạn/nhà hàng Majestic buổi tối. Đường Trần Quang Khải náo động như muốn kẹt xe khi cả một đoàn xe Ford quân đội, sơn màu xanh đen của quân cảnh Mỹ rộn rịp tới lui, đậu la liệt trước căn nhà trệt xoàng xỉnh của đàn gái. Chợt mưa thật lớn, mấy anh MP Mỹ cao lớn phải bung dù, che đưa từng vị khách  ra xe… Xe chạy, Hòa cảm thấy êm như ngồi trên máy bay. Nhìn qua lớp kính xe màu thật tối, cảnh tượng đường phố trong mưa cứ loang loáng lướt qua như ảo ảnh…

Đại sảnh của khách sạn choáng ngợp ánh sáng. Cô dâu, chú rể mặc áo dài cổ truyền VN thật rực rỡ, tươi cười đứng chào khách. Trang điểm tuyệt mỹ nhưng chị Kim vẫn không dấu được vẻ mệt mỏi trên gương mặt. Hòa tréo hai cánh tay mình để bắt tay một lượt cả chú rể lẫn cô dâu. Nằm gọn trong bàn tay Hòa, bàn tay đã tháo găng của chị Kim nhỏ nhắn, lạnh lẽo đến tội nghiệp. Hòa hướng về chú rể, nói chưa hết câu chúc tân hôn tiếng Anh thì chợt cảm thấy chị Kim khẽ xiết mạnh bàn tay mình, Hòa xoay qua nhìn thì nghe giọng thầm thì “Hòa mi Kim cái đi! Hòa nhé…”. Cô dâu vừa nói vừa dùng ngón tay gõ nhẹ vào gò má mình, ánh mắt long lanh…

Hòa sửng sốt, buông bàn tay chú rể, chỉ giữ bàn tay cô dâu nhưng vẫn đứng im như một chàng ngố, chỉ biết nhìn chăm chăm vào mắt anh chồng người Mỹ, như thể xem anh phản ứng ra sao trước đề nghị của vợ mình. Kìa, anh ta cười vô tư, thoải mái, nói “OK! OK!”, còn gật gật đầu.

Tim đập thình thịch, Hòa vụng về hôn thật nhẹ lên má chị Kim. Cô dâu còn bắt cậu bạn hôn cả bên má còn lại của mình xong mới chịu buông tay, thả tự do cho chàng ngố.

Hòa đã từng biết, từng thấy người phương Tây, chỉ là bạn bè nhưng nam nữ vẫn thường ôm nhau, hôn nhau trên má khi gặp gỡ, tạm biệt, chúc mừng, chia sẻ nỗi niềm… Nhưng vừa rồi, Hòa vẫn hồi hộp, lúng túng khi hôn chị Kim – coi như công dân Hoa Kỳ đến nơi, do đây là lần đầu tiên của đời trai trẻ, Hòa được một cô gái cho phép ôm hôn. Còn chàng rể, đã sinh ra và lớn lên trong xã hội Âu Mỹ, tất nhiên chẳng có vấn đề gì khi chứng kiến một người đàn ông – cũng là bạn thân của vợ mình – vừa ôm hôn nàng. Anh chàng còn vỗ tay cười như thích chí tán thưởng nữa kìa.

Tiệc cưới linh đình của chị Kim diễn ra trong cảnh trí hoành tráng, sang trọng ngoài sức tưởng tượng của Hòa, bởi do là con cái một gia đình chỉ thuộc hàng trung lưu bậc dưới, từ nhỏ đến giờ cậu mình rất hiếm khi được lui tới nơi cao sang của giới thượng lưu như khách sạn cỡ này. Bên cạnh đó, đại tiệc kiểu Âu Mỹ hết sức sang trọng, bàn ăn kiểu dài thườn thượt, thực khách của một bàn đến mấy chục người cứ ngồi đối diện nhau, tức không phải kiểu ngồi thành vòng tròn với kiểu bàn chỉ 12 ghế ở nhà hàng Tàu. Được bố tập cho từ ở nhà, Hòa sử dụng dao, nĩa cũng coi như thành thạo, nhưng cậu mình không thể hiểu hết những cái tên tiếng Anh xa lạ trên menu vì tiệc đãi rất nhiều món Tây và có vài món rất cầu kỳ.

Rốt cuộc, cậu con trai rời khỏi buổi tiệc cưới chị bạn với ngổn ngang nhiều nỗi ngỡ ngàng, bâng khuâng. Cùng một lượt, nhiều thứ hoàn toàn mới mẻ rủ nhau đâm sầm vào tâm tưởng của Hòa.

Cậu con trai mơ hồ nhận ra rằng, thật hạnh phúc, sung sướng khi lần đầu tiên trong đời được có mặt trong một khung cảnh thượng lưu, quyền quý tột cùng và được thưởng thức món ngon vật lạ thừa mứa, nhưng vượt lên trên mọi thứ vật chất cao sang ấy, cái quý giá, sâu lắng hơn hết trong đêm nay không gì khác hơn niềm cảm xúc ngọt lịm, lâng lâng đến muốn bay bổng khi lần đầu tiên trong đời mình được hôn con gái.

 

4.

Đám cưới đã xong xuôi, chiều hôm sau Hòa rảnh rỗi bèn lấy xe qua Tân Định tìm Quân chơi thì Quân vắng nhà và tình cờ có chị Kim về nhà ăn cơm tối với gia đình. Hòa chào bác trai để ra về thì chợt bác gái ở nhà dưới bước lên, bảo nhỏ:

“Cái Kim đang ốm, nằm trên gác nghe tiếng con, nó bảo con lên gác, nó nói gì đấy”.

Trong ánh sáng nhợt nhạt buổi chiều, căn gác – nơi chốn rất quen thuộc với Hòa vì từ lâu cậu đã có mặt tại đây trong rất nhiều sinh hoạt, từ học nhóm, chơi đùa, nghịch ngợm cho đến ăn vặt, uống cà phê với chủ nhà – bỗng dưng im ắng lạ thường. Hơn thế, Hòa như khựng lại khi thấy chị Kim nằm sóng soãi trên chiếc giường nhỏ, quần sọt, áo thun mong manh, trễ tràng. Khi Hòa lấy chiếc ghế nhỏ, ý tứ ngồi tuốt ở phía chân giường như thủ thế thì cô gái lại vất luôn sang bên cái gối nhỏ đang phủ trên ngực. Như bị điện giật, Hòa vội vàng nhìn tránh vào vách.

Cậu trai hiền, chưa hề biết mùi tình dục, vô cùng xốn xang khi thoáng thấy mờ mờ ảo ảo khuôn ngực lồ lộ không áo lót và cặp giò thuôn dài của cô gái – đúng hơn là của một người đàn bà trẻ, mới động phòng hôm qua.

Lúng túng quá nhưng Hòa cũng ráng lên tiếng:

“Chị ốm hả? Có uống thuốc gì chưa?”

Cô gái vẫn nằm nghiêng, chỉ chống tay đỡ một bên má và đáp khẽ:

“Kim chỉ hơi nặng đầu, dã dượi thôi”, rồi bảo Hòa ngồi sát lại hơn. “Mà… Hòa đừng gọi Kim là chị nữa, gọi Kim thôi là được rồi”

Hóa ngơ ngác:

“Là sao chị Kim? Chị là chị Quan mà. Lại lớn hơn Hòa…”

Chị Kim phật ý, ngắt lời:

“Đã bảo đừng gọi Kim là chị cơ mà! Tụi mình chơi thân với nhau bao năm rồi, nay Kim lấy chồng, sắp đi thật xa nữa, nên Kim muốn mang theo một tình cảm thật dễ thương duy nhất của thời con gái, là Hòa đấy!”

Từ lúc này, xen giữa những quãng lặng kéo dài khá lâu, chốc lát cô gái lại phải gợi chuyện, lên tiếng nói, hỏi gì đó vì cậu trai chỉ biết im lặng và thỉnh thoảng còn phải lo tránh ánh mắt rất lạ của cô gái cứ đăm đăm nhìn mình.

Chị Kim giải thích bâng quơ gì đó, bảo rằng ai mà muốn lấy chồng, chỉ là bố mẹ ở nhà – nhất làm mẹ – đã theo dài hơi thuyết phục con gái mình không cần phải suy nghĩ, đắn đo gì cả, bởi không thể dại dột bỏ qua một đám có tương lai huy hoàng đến như thế…

Trời tối nhờ nhợ, Hòa đứng dậy định mở đèn nhưng chị Kim không cho. Cô gái lại nói tiếp… Có lúc Hòa đành chịu, không hiểu ý của Kim muốn nói gì nhưng Hòa vẫn bàng hoàng lắng nghe. Cậu con trai càng bàng hoàng, rối tung trong lòng khi cảm thấy bàn tay ẩm lạnh của cô gái xiết nhè nhẹ bàn tay mình rồi nắm mãi không buông…

Sau buổi chiều ngồi với chị Kim trên căn gác, cứ mỗi lúc Hòa chợt nghĩ về cô gái là một nỗi xao xuyến lạ thường lại choáng ngợp tâm tưởng, khiến cậu con trai mới lớn cảm thấy vừa phiền muộn không đâu vừa mệt mỏi mơ hồ, đến nỗi gần như rũ liệt. Hòa nằm lì trong phòng, không thể nào ra phi trường tiễn chị Kim theo chồng về nước Mỹ xa vời vợi kia…

 

PHẠM NGA

Tháng 10/2017

KHẮC KHOẢI ÂU THỊ PHỤC AN

 

 

 

“Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị  nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

(Phục An)

Truyện ngắn đầu tay của Âu Thị Phục An có tựa “Những Ngày Không Định Trước”, do Mai Thảo chọn đăng trên giai phẩm Văn số ra ngày 19.10.1974. (Sau truyện ngắn này, tạp chí Văn liên tục đăng 3 truyện khác của chị: “Thăm Viếng”, “Màu Áo Hẹn” và “Bên Kia Mùa Hè”).

Trước đó, chị có thơ, văn đăng rải rác trên Tuổi Ngọc, nhật báo Dân Chủ và các báo văn nghệ ở Sài Gòn, nhưng phải đợi đến lần xuất hiện này, độc giả mới biết thêm một cây bút nữ còn trẻ là Âu Thị Phục An. Nói biết thêm, bởi cách viết của cô sinh viên ban Triết, Đại học Văn khoa Sài Gòn không có kiểu cách làm dáng, khô cứng thường thấy ở các cây bút mang khuynh hướng dùng ngôn ngữ “triết học tra tấn văn chương”. Văn chị cứ “tỉnh queo” đến lạnh lùng trong những tình huống mà lẽ ra là đón đợi những vồn vập, rực cháy, những háo hức nồng nàn… Đọc những truyện ngắn của chị, nhiều khi tôi nghĩ, chị như một kẻ lữ hành trên con đường vắng, không có người đồng hành để trò chuyện, đành phải dồn nén lại. Sự dồn nén đó cứ lướt thướt trôi theo dòng suy nghĩ chảy xọc vào ngòi bút, giống như một thỏi băng tan chảy.

Truyện ngắn đầu tay “Những Ngày Không Định Trước” có cấu trúc dạng nhật ký nhằm giãi bày tâm trạng của một cô gái trẻ, chính xác là một nữ sinh bậc cuối trung học đang bước vào những ngày cuối cùng của kỳ thi Tú Tài và đang đón đợi người sẽ là chồng tương lai. Lẫn lộn giữa chuyện thi cử, đậu rớt “chẳng mừng lắm” và “chẳng hề buồn hoặc toan tính…” là tâm trạng chờ đợi và chẳng chờ đợi gì về chuyến gặp mặt người yêu, ở một nơi đóng quân nào đó, sẽ đến nhà thăm gia đình nàng. Tình yêu của cô nữ sinh trung học với anh chàng quân nhân tên Thăng lơ lửng một cách lạnh lẽo. Họ gần bên nhau mà như xa cách nhau, không hề biểu lộ một tình cảm đặc biệt của những kẻ khao khát yêu, khắc khoải đợi chờ những nụ hôn cháy bỏng. Cứ giả định rằng, nếu Thăng không đến, hẳn cô gái kia cũng chẳng băn khoăn đặt những câu hỏi tại sao. Bởi có gặp hay không thì cũng như chuyện đậu và rớt Tú Tài vậy thôi trong suy nghĩ của cô trước đó.

Trong khoảng thời gian chờ đợi, quanh quẩn trong đầu óc nàng là những hoài nghi. Nàng cố gắng lý giải về mối tình đầu. Mối tình này có “tồn tại” hay không “tồn tại” trong cô. Thăng có thật là chồng tương lai? Và cô, cuối cùng chỉ còn lại mối hoài nghi cứ ngày càng trương phình lên: “Tôi chịu không biết ra sao cả cũng như nhiều lần tự hỏi tôi yêu Thăng, chúng tôi có thật yêu nhau hay mỗi đứa chỉ yêu những điều lý thú do cuộc tình này mang lại”.

Cách lý luận, suy nghĩ của cô gái hơi lạ và ngược đời khi tách tình yêu thành hai mảnh thật và không thật. Hai mảnh đó nảy sinh ra “những điều lý thú do cuộc tình này mang lại” như là mệnh đề tiên quyết để biết “có thật yêu nhau”. Như vậy, cô gái trẻ đã phân thân với những thắc mắc, những cật vấn về mối tình, mà ngay cả chính bản thân cô ta cũng không chắc chắn lắm!

Trong truyện không hề thấy có một dòng chữ nào, theo dạng “lỡ mai anh chết em có buồn không”, hay: “Mai anh về trên đôi nạng gỗ / Bại tướng về làm gã cụt chân – Linh Phương”. Các chi tiết trong truyện không đẩy lên theo kết cấu kịch. Nó cứ lặng lẽ chảy như một dòng nước nhỏ, vừa vặn cho kích thước tra hỏi. Bóng dáng vật vờ giữa yêu hay chưa yêu luôn xuất hiện trong đầu cô gái trẻ, đôi lúc như một trò chơi, có cũng được, nếu không cũng chẳng mất gì. Mà cũng đúng thôi, bởi truyện được viết xong vào tháng 7 năm 1974 tại Bạc Liêu, khi mà bối cảnh cuộc chiến miền Nam đang lúc cao trào cho những đợt tấn công, phản kích sau khi hiệp định Paris bị vất sang bên để cả hai phía bắt tay nói với nhau bằng súng đạn. Tâm trạng hoài nghi, nỗi thất vọng, mệt mỏi có dịp bùng lên ở cách sống, cách ăn nói, suy nghĩ của thanh niên thời bấy giờ. Ngay chính những tình cảm liên quan đến cuộc sống và bản thân, họ cũng không hề tin là có thật: “Thăng vẫn không thay đổi thế ngồi, thế ngồi làm chúng tôi gần như đưa lưng về nhau”.

Thế hệ trẻ thời đó đã đánh mất niềm tin chăng? Họ mệt mỏi chán ngán chăng? Họ lúng túng một cách khá vất vả khi tìm kiếm và đối mặt với những sự thật chăng? Có thể là vậy, bởi đời sống bên ngoài đã lấy đi của họ tất cả, chỉ chừa lại nỗi hoài nghi sưng tấy lên, ngày mỗi đầy trong đầu óc: “Có phải yêu nhau là tổ chức những đuổi bắt miệt mài là tìm kiếm một điều đã gặp nhưng không cho là điều tìm kiếm. Tôi chợt rùng mình sợ hãi khi chợt nhận thấy mình như một con kiến bò quanh quẩn mãi trong một vòng tròn rất rộng”.

Truyện không có gì mới, vẫn theo motif chàng là quân nhân, nàng là nữ sinh, yêu nhau. Nhưng có cái lạ là sự lạnh lùng ở cả hai nhân vật cân bằng nhau, đến độ gần như dửng dưng, tàn nhẫn. Họ có vẻ như già trước tuổi. Già ở tính cách và già cả tâm hồn! Đọc lại lần nữa, mới hay chị luôn đặt bên cạnh ngòi bút của mình những dấu hỏi to tướng, chẳng có câu trả lời: “Đậu, rớt, những tên gọi, những dấu hỏi vẽ lên không hề đem theo được một hình ảnh vui buồn nào. Lạ không?

 

Nhưng phải đợi đến 4 tháng sau, khi truyện ngắn “Thăm Viếng” đăng trên giai phẩm Văn, số đặc biệt Văn Chương Nữ Giới ra ngày 1.2.1975, cùng với các đàn chị Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị Tuệ Mai, Hoàng Hương Trang, Trùng Dương, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Trần Thị NgH. thì độc giả mới thực sự chú ý đến cái tên Âu Thị Phục An. Nói chú ý bởi cấu trúc và nội dung câu truyện càng lạnh hơn; lạnh như một thỏi thép bỏ vãi đâu đó sau chái nhà.

“Thăm Viếng” thuộc thể văn kể chuyện. Nhân vật chính xưng tôi (cùng em gái người yêu) đi thăm vị hôn phu đang thụ huấn tại quân trường Thủ Đức. Ngay những dòng đầu tiên của truyện, dường như chị đã báo trước cho người đọc sẽ có điều gì đó khác hẳn những cuộc thăm viếng thông thường của những cặp tình nhân với bao nỗi chờ mong, khao khát, nhớ nhung… bằng những dòng chữ tỉnh táo đến sắc lạnh: “Lần đầu tiên, cùng với Viên lên thăm Vị ở quân trường ngày chủ nhật, lúc ấy tôi đã là vợ chưa cưới của chàng rồi”. Tính cách của “tôi”, hoặc vì quá thông minh, hoặc được thụ hưởng tính cách giáo dục của một gia đình nền nếp, nên “tôi” chỉ quan sát, đứng ngoài mà quan sát, rồi để cho cảm xúc trườn qua sự quan sát ấy với một ý thức xẻ ngang giữa tỉnh táo và đông cứng, đôi khi như tách biệt, đứng hẳn ra ngoài rìa sự thăng hoa của loại tình cảm bị dồn ứ của các nhân vật phụ “tôi chỉ thấy tội nghiệp cho mọi người”, khi tận mắt nhìn thấy: “…những bóng mát tạm bợ và một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che giấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy”. Ngoại cảnh đã tạt gáo nước lạnh buốt vào tâm giới “tôi”, để nảy bật ra thứ tình cảm không mấy thân thiện. “Tôi” bị nhìn thấy về mọi sự diễn ra bên ngoài cho đến lúc “tôi” tự nhìn lại “tôi” trong một khung cảnh đầy bất ngờ không kém. Đó là lúc Vị tách “tôi” ra khỏi em gái anh ta, đưa vào một gian buồng và “tôi” đã dùng sức mạnh lý trí đến mức tối đa để làm co quắp tình cảm đang cháy bùng trong người. Bởi “tôi đủ thông minh hiểu để không hỏi han gì”. Có thể và không hẳn là mặc cảm phạm tội, nhưng trước đó “tôi” đã nhìn thấy cảnh phô diễn thứ tình cảm “nhếch nhác” rất tự nhiên ngoài khu tiếp tân khóa sinh, khiến sự liên tưởng càng trở nên mạnh mẽ hơn với chỗ hai người đang đứng: “Một căn phòng tắm lộ thiên, có thùng đựng nước, có quần áo lót của đàn bà vắt bừa bãi trên dây”. Cú chạm mặt hơi bất ngờ vào vị trí hai người sắp yêu nhau khiến “tôi” càng lúc càng rơi vào trạng thái căng cứng đến khó chịu. Ngay cả khi hai người đang hôn nhau nơi không mấy sạch sẽ và thơ mộng kia, thì sự tỉnh táo trong con người “tôi” vẫn luôn chiếm ưu thế. Những rung động thân xác khi trao đổi nhau những nụ hôn khắc khoải đợi chờ của Vị đã bị “tôi” đẩy xuống, nằm bẹp dí ở chỗ cái khóa soutien. Cảm giác đau nổi lên thật mạnh mẽ, thế chỗ cho những ngọt ngào, nồng cháy… Nó lấn át cả sự háo hức, đón đợi nơi người bạn trai để cuối cùng tạo thành mối tương quan cộng hưởng giả tạo ở động tác “dướn người”: “Vị quay lại. Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách”.

Viết một cách trần trụi như thế này, nhất là một nhà văn nữ, hẳn nhiên sẽ gợi sự tò mò đối với người đọc. Nhưng để cho sự trần trụi không làm “tổn thương” đến các nhân vật trong truyện, chị đã khéo léo che giấu đi những nhục cảm khi “tôi dướn người về phía trước”. Động tác ấy không phải là sự cộng hưởng, đáp trả mà tác động bởi khóa móc soutien. Vị thì không nhận biết ở chỗ một đằng cái khoái cảm bị đè xuống, đằng kia thì cứ bốc cao lên. Một sự lừa dối ngọt ngào!

Trong quyển Văn học miền Nam, tập Tổng quan, Võ Phiến có nhắc nhiều lần cái cynique trong văn học và ông cho trâng tráo là cách viết, cách nói cực đoan của tinh thần hoài nghi, thể hiện rất rõ thông qua các nhân vật của Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH., Lệ Hằng… Và, đấy là hậu quả của “chiến tranh và hỗn loạn, hoàn cảnh xã hội của giai đoạn 64-75 tạo cho người ta một lối sống khác hẳn trước” (sđd, trg 292). Nhận xét này cũng có phần có cái lý của nó, khi mà tầng lớp thanh niên có học luôn tự dằn vặt về những tha nhân, thượng đế, tồn tại hay không tồn tại, những khách thể và chủ thể, sống và chết… trong bối cảnh đất nước loạn lạc, đều ít nhiều ảnh hưởng bởi trào lưu triết học hiện sinh của Pháp từ giữa thế kỷ XX.

Hiện tượng này cũng dần lấp ló nơi một Âu Thị Phục An bắt đầu bước chân vào làng văn với cái cynique đầu tiên trong truyện ngắn đầu tiên của chị, tuy có nhẹ nhàng hơn, kín đáo hơn các nhà văn nữ đi trước. Mà cũng có thể là chị biết điểm dừng, biết kềm chế, không để cho sự “nổi loạn”, cái trâng tráo của bản thân đi quá xa, khiến người đọc (thuở đó) bỗng có chút giật mình như cái kết ở truyện thứ hai này? “Thăm viếng lần nữa? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quẫn trong đầu… Không bao giờ. Tôi im lặng nghe Viên an ủi. Im lặng vì không biết phải phân bày như thế nào. Mà dù có phân bày chắc Viên cũng không thể nào tin được việc ấy đã xảy ra”.

Cả giới văn nghệ lẫn độc giả chờ đợi ở sự bứt phá của Phục An, như họ đã từng trông đợi sự thành công của những Túy Hồng, Trùng Dương, Nhã Ca… và gần hơn là Trần Thị NgH., Lệ Hằng. Nhưng tất cả đều đặt dấu chấm hết, kể cả người viết mới lẫn những nhà văn đã thành danh, sau ngày 30.4. Một quãng lặng khá dài, không ai cầm nổi bút, ngoại trừ một số rất ít…

Phục An cũng nằm trong số đó và chị chỉ viết trở lại chừng 5, 3 năm nay với hơn 10 truyện ngắn, nhưng phong cách thì không còn giữ được như trước 75! Tất cả các truyện ở giai đoạn này, hầu như nói về bạn bè một thời. Vị trí của họ bị thay đổi. Họ lao vào các công việc chân tay để mưu sinh; họ thất chí, rượu chè bệnh tật và cái chết (“Dù Chỉ Một Lần Cũng Không Thể”, “Trạm Cuối”), hoặc về mối tình lỡ kể chuyện người thì chồng chết vì tai nạn, kẻ thì tự ái về cách đối xử của vợ, bỏ nhà ra đi. Họ tình cờ gặp nhau, tìm đến với nhau, chia sẻ nỗi bất hạnh, cô đơn và rồi hạnh phúc bên nhau (“Mùa Thu Ẩm Ướt”)…

 

Nhưng thay vào chỗ khuyết trên, Phục An chuyển sang làm thơ, với một bút lực khá mạnh mẽ. Thơ chị xuất hiện khá đều đặn trên các trang mạng văn học. Yếu tính trong thơ chị vẫn là phận người, nỗi cô đơn chồng chất, những bất hạnh, sự bất lực và chút hạnh phúc mong manh. Đọc những dòng thơ của Âu Thị Phục An, tôi có cảm giác như đang ngồi thiu thiu nghe những khúc nhạc đồng quê theo dòng Bluegrass, bởi chị luôn lồng vào đó là những câu chuyện, đôi khi như một truyện ngắn rút gọn:

Nàng đang tắm.

Nàng đang khỏa thân trong phòng tắm.

Nàng đang ngồn ngộn sức sống trong kia.

Chàng đẩy cửa bước vô.

Nàng đang kỳ cọ liền khựng lại. Anh muốn tắm? Không, anh muốn nhìn em thôi, em cứ tắm đi. Nàng nói. Coi chừng ướt anh. Không sao mà. Nàng cười rồi vô tư tắm táp.

Bỗng dưng nàng quay lại nhìn chàng. Anh muốn… không? Chàng ngập ngừng. Nếu có thể.

Nàng chống hai tay vào tường, đưa lưng về phía chàng. Nếu anh muốn, thì có thể mà.

Chàng lả đi trên giường. Cơn mệt lại đến.

Bất lực trước cái chết, hai dòng nước mắt trào ra, ngoằn ngoèo chảy loang trên khuôn mặt hốc hác của chàng.

Nàng đã cố gắng giúp đỡ chàng thật nhiều. (Lần Cuối Cùng Trong Phòng Tắm).

Có dịp ngồi bàn về thơ Âu Thị Phục An, nhiều bạn trẻ và nhiều trung niên cho rằng chị khai thác sex đến mức tối đa. Sex như là hơi thở trong thơ chị. Tôi không nghĩ vậy. Bởi sau khi đọc những bài thơ chị đăng trên các trang mạng, sex chỉ là cái cớ để chị bày tỏ thái độ, cảm xúc của cá nhân trước những vòng xoáy thời cuộc. Vì ngay chính chị cũng phải hứng chịu cảnh ngộ cay đắng đó. Chị không sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh sex như một thứ tình dục luôn đắt hàng (chữ dùng của Nguyễn Thị Hải Hà trên văn chương việt, rằng: “Sex Sells. Người Mỹ thường hay nói thế. Cái gì có dính líu đến chuyện chăn gối thường dễ hấp dẫn người nghe người xem người mua bán, như tôm tươi thường đắt hàng. Các nhà văn Hoa Kỳ khá dạn tay khi viết về tình dục. John Updike, Philip Roth, Paul Auster, Joyce Carol Oates đều mang tình dục vào tác phẩm”

Thơ Phục An cũng không dung tục như Vệ Tuệ trong tác phẩm “Điên Cuồng Như Vệ Tuệ” (Trung Quốc), hay sàm sỡ thô bỉ như “Sợi Xích” của Lê Kiều Như. Đó là những thứ cặn bã, rác rưởi của loại văn chương hạ cấp!

Tính dục trong thơ Phục An trong veo như giọt sương mai, chỉ để diễn đạt nội tâm, giãi bày những ẩn ức về mặt tâm lý, không hề có sự ức chế sinh lý.  Những hình ảnh chúng ta bắt gặp trong thơ, thông qua từ ngữ mang tính ẩn dụ nhiều hơn. Chị không dùng ngôn ngữ nhằm phô diễn sức nặng vốn có của hình ảnh thông thường, mà hơn hết là để chuyển tải tứ thơ. Vì, theo ông Đặng Tiến: “Nói đến lời trong thơ là nói đến từ ngữ, hình ảnh và nhịp điệu, nói đến cả khoảng im lặng bên trong câu thơ, hoặc chung quanh bài thơ…” (Đặng Tiến, Thơ, thi pháp và chân dung, trg 58, nxb Phụ Nữ, HN, 2009). Và: “Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn, không có kích thước. Tạm nói là nó mông lung, bất định” (sách đd, trg 60).

Đọc nhiều lần, cảm quan của tôi về thơ Phục An vẫn là: sex phi sex. Xin dẫn một bài thơ của chị:

bám vào lềnh bềnh vỉa hè

những bộ xương người cúi xuống nâng ly

bám vào phù hoa

những bộ xương người cúi xuống nâng bi

da thịt em trắng ngần

ướp nhầy nhụa máu trinh

dâng anh một lần

toang hoác bình minh

con gái

run rẩy lột xác trên những mép giường

em trượt trên chất nhờn

cay đắng

của em

nụ cười em hóa đá

cứng đờ lút vào dung nham

cơn hứng lậm vào khuya

chờ giờ hóa thạch

em muốn bám vào cội nguồn

lần nữa tái sinh

vỉa hè ủ em

hằng đêm

và anh đẩy em

tuột trôi vào lỗ cống muộn phiền

em muốn ngậm vào em

con vật nào

có thật.

(Thả Trôi)

Cách dùng từ ngữ (langue) như lời nói (parole) để diễn đạt ý như kiểu bài thơ “Thả Trôi” trên đây rất dễ gây ngộ nhận, hiểu lầm, chỉ vì chị mượn những thực thể, những hình tượng ngoại giới tạo chất liệu cho cái tứ sâu xa bên trong, là những phiền muộn, đau đớn không cùng của một kiếp người là thân phận bị xô dạt một góc “lỗ cống” nào đó chỉ có mình chị mới bị trói chặt chân tay?

Rồi đến cái nhếch nhác ở một góc phố nhỏ trong thành phố chị đang sống có những cái “phình phịch, hổn hển, leng keng” giữa một bên là thánh thiện và bên kia là sự trần trụi đến nao lòng. Nỗi buồn cuộn lên từ ngoại cảnh “bị nhìn thấy” là con đường nhỏ Huyền Trân “tai tiếng”, dội ngược vào trí não tạo thành những sắc màu, những âm thanh:

cái đầu chó gặm mất rồi

não văng tứ phía

mạch đập ở cổ còn phình phịch

cái lưỡi tuột lại le ra

trái tim tím tái còn thở hổn hển

hai cái chuông đồng treo hai đầu vú nhỏ

đung đưa bài thánh ca trên những sợi lông tơ

núp sau gốc cây đường huyền trân công chúa

áo xống tuồng tích hoa lá cành

nghiễm nhiên kiếm sống

phố chảy cuồn cuộn ánh đèn đêm

những con rắn lửa nhảy múa dưới háng

nàng và trong miệng nàng

cỏ ướt đẫm tinh trùng

người ta vẫn thấy khoái

khi ngồi tuốt trên gác chuông

nhà thờ đức bà

làm dáng

với những hình nhân cục cựa dưới chân đèn

luôn nẩy ngược và rên

thành phố không buồn ngủ

thành phố nằm ngửa nàng lại lắc leng keng

hai cái chuông treo trên hai đầu vú

nhỏ

muộn phiền

(Lắc Chuông).

Đọc những câu thơ này, nghe ra thơ không phải là thơ, càng không phải văn xuôi. Nó là sự sắp đặt cố ý của người viết, như trong các thập niên 50, 70 của thế kỷ trước, Thanh Tâm Tuyền đã cách tân thơ bằng cách “phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ… tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới” (Đặng Tiến, http://www.diendantheky.net/2012/03/ang-tien-thanh-tam-tuyen.html).

Không thể nói Phục An chịu hay không chịu ảnh hưởng của Thanh Tâm Tuyền, nhưng chắc chắn một điều là chị đã chọn lựa thơ tự do như là môi trường tốt nhất cho sự sáng tạo của mình, để hoàn thành chức năng “tra vấn và trả lời” như nhà văn Alain Robbe-Grillet đã từng khẳng định, rằng đó chính là thiên chức của nhà văn.

Không ai có thể ngăn cấm nhà văn: thôi đừng phẫn nộ, đừng chua chát, rời xa bi kịch đã rồi của dân tộc. Cái ngóc ngách đau đớn cùng tận kia, trước nhãn quan của nhà văn là thượng đế trên chính mảnh đất mình, được Phục An giải mã bởi những hình ảnh chồng chất nhau, níu kéo nhau, tạo thành những chuỗi âm thanh bi phẫn:

nàng xõa tóc
chạy dưới nắng tháng tư
hai cái mông tròn huyền hoặc
đung đưa
bình minh rọi những tia nắng đen
điên cuồng qua nách
cát nhảy dưới gót chân bất hạnh
máu ứa từ môi thâm
tháng tư đuổi từ sau lưng
xương rồng đâm lên vú
biển ôm nàng ngất ngư
nắng của tháng tư rơi từ một bình minh đen tối
nắng cũng rơi từ âm cung mê lối
chạy đi tìm bóng của ảo tưởng xưa xa
ngày về rất vội
về dù dòng sông quê hương chật chội…
chỉ muốn trần truồng gào khóc những điêu linh.

(Bình Minh Đen)

Và, dẫn thêm bài thơ khác để nhấn mạnh thiên chức nhà văn trong ngòi bút chị:

tôi rất buồn
khi đi trên những con đường không còn vỉa hè
khi
(…) ngồi rung đùi trong nhiều biệt thự
spa, resort, hotel năm sao, du lịch Thái Lan, Sing, Trung Quốc
những cái chợ tự phát bên lề đường không cần đóng thuế
những “gái chợ đông” ôm thúng co giò chạy khi thấy công an
những “trai giữa chốn ba quân” trơ mặt chạy xe ôm nám đen khuôn mặt

tôi rất buồn
khi đất nước tôi
chạy theo (…)
20 năm máu lửa chết chóc xảy ra.

(Năm Mới Vẫn Không Có Gì Mới)

Thế giới thơ của Phục An đa chiều, rộng nghĩa. Chị đã phá bỏ những luật lệ trong thơ cổ điển (như nhiều nhà thơ đi trước đã từng làm) để tìm kiếm cái đẹp, dẫu cho cái đẹp ấy hàm chứa bao nỗi nhục nhằn của một kiếp người. Tuy nhiên, khi đến với thế giới thơ Phục An, nếu chỉ lướt qua, một lần thì dễ bị những ẩn ngữ kia đánh lừa, bởi bề ngoài ngôn ngữ mang đầy chất phồn thực, lớp lớp những khoái cảm của tính dục là “những khắc khoải, thao thức về thân phận, khát vọng làm người của một con người” như chị đã từng tâm sự.

Đa chiều và rộng nghĩa chỉ khi nào người đọc chịu khó đào xới ở dưới tầng sâu để thấy được cái ý ẩn nấp trong lời, như một vì sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú giữa tầng không mênh mông.

Chị là người đã miệt mài mang thơ đi tìm sự tự do tuyệt đối trong khoái cảm tính dục, vất vả lăn tới chân trời xa lạ, mà ở đó cái đẹp là những câu trả lời từ những tra vấn liên tục về phận người?

 

Nguyễn Lệ Uyên

 

 

ĐƯA EM ĐI HẾT MIỀN TEXAS

 

Sáng chủ nhật trong góc bàn nhỏ của qúan Starbucks, người đàn ông ngồi che mặt sau tờ báo nhằng nhịt hình quảng cáo, trên bàn ly café đen nằm bất động vì chưa bao giờ thấy ông ta nhất ly lên uống. Có một cái gì hơi quen thuộc từ người đàn ông làm tôi thắc mắc, chỉ nghĩ vậy thôi rồi tôi lại tự cho mình là lẩm cẩm vì rằng chưa thấy mặt người đàn ông đó thì làm sao quen được. Khi đi ngang qua bàn của ông ta ngồi, cái xách tay đi tập gym của tôi vướng vào góc bàn làm ly café lung lay đổ. Tôi vội vàng đưa tay chụp lại, người đàn ông bỏ tờ báo xuống, tôi hoảng hốt nhìn ông ta rồi buột miệng:

– Hello “anh” Joe!

Người đàn ông cũng bỡ ngỡ chào:

– Hello “cưng.”

Câu chào hỏi thân mật của người đàn ông người ngoại quốc làm tôi bật cười. Ông kéo ghế mời tôi ngồi và tôi hỏi ông:

– Cô Mailan lúc này ra sao hả anh Joe”

Joe nhìn tôi buồn bã:

– Mailan không được khoẻ cưng à. Có lẽ Mailan cần thật nhiều “A Di Đà” may ra mới thoát nạn.

Câu trả lời bằng Anh ngữ chen lẫn tiếng Việt Nam làm tôi quan tâm đến Mailan, người vợ của ông Joe. Tôi tình cờ gặp vợ chồng ông Joe cách đây hơn sáu tháng khi cô Mailan nằm trong bệnh viện nơi tôi làm việc. Tôi nhớ ngày đầu tịên khi gặp cô Mailan, nhìn người đàn bà có nước da màu nâu mượt mà và mái tóc nhuộm hung vàng, tôi cứ nghĩ cô ta người Hawaii. Sau khi chào hỏi qua loa, cô Mailan nhận ra bảng tên của tôi và la lên:

– Trời ơi cưng người Việt Nam hả” Cô ghiền nói tiếng Việt qúa xá, mà cưng có nói tiếng Việt được nhiều không, có ăn được nứơc mắm không”

Sự vồn vả của cô Mailan làm cho tôi thấy cảm mến cô ngay từ giây phút đầu,và lúc đó mới biết cô tên là Mai Lan nhưng cô ghép tên lại để tiện phát âm. Khi nghe tôi nói chuyện lưu loát, cô bắt tôi hứa là sẽ trở lại thăm cô khi rảnh. Cô Mailan giới thiệu với tôi ông Joe, người đàn ông có khuôn mặt và đôi mắt xanh của tài tử Paul Newman. Thật sự tôi chỉ nhìn thấy chỉ một con mắt xanh buồn của ông Joe thôi còn con mắt bên trái thì ông ta đeo một miếng vải tròn che lại. Ông Joe bắt chước vợ hồn nhiên gọi tôi là “cưng’và tôi vì phép lịch sự với cô Mailan cho nên cũng gọi ông Joe bằng “anh” tuy rằng chúng tôi đối thoại với nhau bằng Anh ngữ nhưng lại chêm vào những từ ngữ xưng hô cung cách của người Việt Nam.

Vài hôm sau khi tôi trở lại thì cô Mailan dường như hôn mê vì uống thuốc chống lại cơn đau từ xương tủy, ông Joe thì đang loay hoay mở băng nhạc CD, điệu nhạc Waltz rộn ràng trong lúc cô Mailan còn hôn mê khiến tôi nhìn ông thắc mắc.

When we dance together my world’s in disguise

It’s a fairyland tale that’s come true

When you look at me girl with those stars in your eyes

I could waltz across Texas with you

Ông Joe giải thích là cô Mailan rất thích loại nhạc cao bồi và điệu nhảy miền quê của vùng Texas. Trong lúc cô hôn mê ông nghĩ là âm thanh quen thuộc của điệu nhạc sẽ làm cho cô Mailan mau tỉnh lại không chừng. Ông Joe nói xong rồi rươm rướm nước mắt và câu chuyện ông kể lại cho tôi nghe làm tôi xúc động.

Sự gắn bó của hai vợ chồng ông Joe bắt đầu bằng một chuyện tình tay ba. Ngày xưa ông Joe đi lính ở Việt Nam, khi đóng quân ở miền tây ông và một người bạn quân ngũ tên Jeremy cùng thương một cô gái ở quán cafe trong tỉnh đó là cô Mailan. Ông Joe và Jeremy là hai người bạn rất thân từ khi còn học trung học, cả hai cùng đi lính và hy hữu là được ở cùng một đơn vị khi đổi qua Việt Nam. Mặc dù thương cô Mailan nhưng cả ông Joe và Jeremy không hề nói cho nhau biết tình cảm của mình. Ngày quân lực mỹ vội vàng rút quân ra khỏi Việt Nam, Joe và Jeremy đều trở về Texas và sau đó được giải ngũ. Tình cảm dành cho cô Mailan tưởng như đã để lại sau lưng với sự điêu tàn của cuộc chiến, không ngờ chỉ vài tháng sau thì Jeremy ngã bệnh, một loại ung thư liên quan tới những hạch máu (lymphoma). Chính lúc này Jeremy thú nhận với ông Joe là cô Mailan đang mang thai và ông ta đang làm giấy tờ để đưa cô Mailan qua Mỹ. Ngày Jeremy hấp hối, ông ta yêu cầu ông Joe nhận trách nhiệm là sẽ lo cho cô Mailan vẹn toàn. Bênh cạnh giường bệnh của người bạn đồng hành,đồng chí hướng ông Joe bùi ngùi nhận lời hứa.

Sự thay đổi sau cuộc chiến tạo nên nhiều trắc trở trong việc liên lạc với cô Mailan, khó khăn hơn nửa là cô ta ở tận miền tây. Sau nhiều năm tìm kiếm và miệt mài lo giấy tờ với ý định đem cả cô Mailan và đứa con ra khỏi nước, cuối cùng côMailan ra đi một mình, đứa con nhỏ lúc đó saú tuổi không đi cùng vì lý do rất giản dị, khi sanh xong bà mẹ của Mailan vì sợ hàng xóm dị nghị nên nhận đứa cháu ngoại là con. Theo pháp lý cô Mailan và đứa bé không có gì ràng buộc ngoài trừ tình “chị em”. Tôi còn nhớ ông Joe kể tới đây thì dường như có một cái gì khúc mắc nên ông lắc đầu nói như thầm thì với chính ông:

– Phải chi đứa be… suông sẻ thì hai mẹ con hủ hỉ với nhau. Có lẽ trời phật chưa phù trợ nên Mailan mới khổ sở như thế này.

Tôi bất chợt nghĩ là đứa bé đã mất nhưng ông Joe dường như đoán được ý nghĩ của tôi, ông nói tiếp:

– Chiến tranh tàn bạo lắm cưng à. Jeremy chết vì bệnh ung thư hạch máu, đứa con của Jeremy rất khôi ngô, thằng bé giống hệt như ba nó nhưng khi nó mười tuổi thì mới biết là thằng bé không có trí khôn của những đứa bé cùng lứa tuổi. Năm nay thì nó đã hơn ba mươi tuổi rồi và vẫn ngu ngơ sống với bà ngoại của nó ở Việt Nam.

Tôi thắc mắc:

– Nhưng sao lại dính líu tới chiến tranh”

Ông Joe từ tốn giải thích:

– Cưng phải biết, ngày trước tôi và Jeremy ở trong lực lượng hải quân Sông Ngòi, khi chiến dịch rải thuốc khai hoang dọc theo dòng sông miệt đó có lẽ chúng tôi đã hửi mùi thuốc qúa nhiều, đã ăn những sản phẩm nhiễm chất độc đó nên chi Jeremy mới bị ung thư hạch máu và bị ảnh hưởng đến thằng bé con mới bị chậm trí. Chắc lúc đó cưng còn nhỏ nên không để ý tới thời cuộc,nhưng gần đây tin tức tài liệu vể dữ kiện này được đăng khắp nơi.

Sau khi nghe ông Joe giải thích tôi nhớ ngay tới một cuộc phỏng vấn trên chương trình 20/20 với bà Barbara Walter cách đây khá lâu. Cuộc phỏng vấn về gia đình tướng Zumwalt, người đồ đốc hải quân đã ra lệnh rải thuốc khai hoang dọc theo những nhánh sông Cửu Long ,và dọc theo biên giới Cao Miên năm 1968 để phá đi những khu rừng rậm nơi cộng sản núp trốn và rình rập bắn tấn công những con thuyền đi tuần trên sông ngòi. Người con trai cả của đồ đốc Zumwalt, Elmo Zumwalt 3rd lúc đó cũng ở vào lực lượng hải quân ở Việt Nam, anh có nhiệm vụ đi tuần dọc theo những con sông nơi bị rải thuốc khai hoang. Sau khi trở về nước, một năm sau anh ta khám phá ra là bị ung thư của những hạch máu (lymphoma) và chứng bệnh rất độc của bạch huyết cầu (Hodgkin’s disease). Đau đớn hơn nữa là đứa con của anh, Elmo Zumwalt 4th thì mắc phải chứng bệnh chậm trể thần kinh (Mental Retardation). Cũng trong thời gian này, báo chí đã nêu lên những dự kiện cấu kết từ thuốc khai hoang (Agent Orange) và những đứa con của những người cựu chiến binh từ Việt Nam, con của họ đã sinh ra với hình hài không được bình thường (birth defects).

– Khi nghe tôi đề cập tới câu chuyện của gia đình đồ đốc Zumwalt, ông Joe cay đắng:

– Tôi cảm thấy thương xót cho người con của ông ta, nhưng dù sao họ có thế lực, oai quyền nên họ có đủ điều kiện chửa trị trong khi những người như chúng tôi thì đành chịu chết hoặc đui mù thôi.

Tôi giật mình, nhìn lên khuôn mặt khả ái, đẹp trai của ông Joe với một con mắt với miếng vải che lại một bên. Tôi không dám hỏi nhưng ông Joe đã trả lời:

– Tôi nói với cưng rồi, chiến tranh dã man ghê lắm, chiến tranh và sự chết chóc qúa gần trong đời sống làm con người đâm ra ngông cuồng. Một thằng bạn đồng đội sau khi chứng kiến nhiều cái chết trước mắt trong một ngày nổi cơn điên hốt thuốc khai hoang và liệng tung khắp bầu trời, tôi đứng gần lảnh đủ, may là chỉ đui có một bên. Không biết những gì đã xảy ra trong cuộc đời của nó vì khi nổi cơn điên lên nó còn hăm dọa là sẽ uống luôn thuốc khai hoang để ..thử thách với đời.

Câu chuyện của ông Joe là trong những mẫu chuyện đớn đau cay đắng mà tôi đã từng nghe, từng chứng kiến khi có dịp tiếp xúc với những cựu chiến binh Hoa Kỳ. Sau cuộc chiến đời sống của họ bổng dưng bị đảo lộn, họ tiếp tục bị ám ảnh bởi những bom đạn, những cơn ác mộng dai dẳng và sự căm hận về cuộc chiến không lối thóat. Phần nhiều đời sống của họ không còn bình thường như trước. Họ trở về nước sống nhờ thuốc an thần mà những loại thuốc này không thể mang lại sự bình an cho họ,trái lại họ còn bị hổn loạn tinh thần hơn. Tôi đã từng thấy những cựu chiến binh sống bên lề đường xin ăn, đời sống càng ngày càng đi vào ngõ tối vì khi lảnh tiền trợ cấp hàng tháng ra họ chỉ biết dùng tiền mua rượu ,uống cho say sưa quên đời rồi sau đó quên đi sự nhục nhã ngửa tay xin từng đồng.

Ông Joe kể cho tôi nghe về những tối nằm trên bong tàu nhìn những đóm hoả châu sáng ngập bầu trời, đợi chờ những biến cố bất thường xảy đến như sự pháo kích bất ngờ của cộng qụân, nếu bị bắn thì tất cả sẽ nhảy xuồng nước tránh nạn. Ông còn nói thêm tầng phía dưới của chiếc tàu là nơi dễ bị nhắm nhất vì đó rất vừa tầm tay súng của kẻ thù. Nghe ông kể tôi ngậm ngùi nhớ đến những người cựu chiến binh đã tình cờ đến trong cuộc đời tôi như ông Rọm, người cựu biệt kích dù, như một Kevin Ngô người thuơng phế binh ngoại quốc khi lập gia đình đổi theo họ của vợ. Tình cảm tôi dành cho những cựu chiến binh chất chứa trong lòng vì ba tôi cũng là từng là một chiến sĩ hiên ngang xông pha ngoài trận tuyến, khi đến nước Mỹ không lâu thì ông chết vì bệnh tim, tôi luôn luôn nghĩ ba tôi mất vì bệnh đau tim theo lẫn nghĩa đen và nghĩa bóng.

Ông Joe luôn túc trực bên cô Mailan, tiếng nhạc miền quê Texas tiếp tục điệu Waltz vui tươi. Mỗi ngày tôi đi ngang phòng cô Mailan thì tôi nhớ thêm được một khúc hát:

Waltz across Texas with you in my arms

Waltz across Texas with you

Like a storybook ending I’m lost in your charms

And I could waltz across Texas with you

Khi nghe tôi thầm thì hát theo điệu nhạc, ông Joe nói với tôi rằng rất tiếc tôi không gặp được cô Mailan khi cô khoẻ mạnh vì cô lúc nào cũng lạc quan, yêu đời. Ông cho biết tình ông đối với cô Mailan nặng lắm, khi cô Mailan đến đất Mỹ, hai vợ chồng ông rất nghèo. Ngày giã từ quân ngũ trở về ông không có bằng cấp địa vị, ông ăn tiền trợ cấp của cựu quân nhân và tài trợ cho người tàn tật vì ông bị mù một bên mắt. Cuộc đời của ông gắn bó với những bất hạnh, chỉ vài tháng sau khi cô Mailan đến thì ông bị đứt mạch máu não, và bị liệt một bên người. Cô Mailan mặc dù ngôn ngữ còn bất đồng nhưng một mình tháo vát lo cho ông rất chu đáo. Ông nhớ hoài sự tận tụy lo lắng của cô Mailan vào lúc ban ngàylo thuốc men và phụ ông tập thể dục (rehabilitation), rồi tối đến hình dáng nhẫn nhục của cô Mailan ngồi bên chiếc máy may may từng mảnh áo, thưở đó cô Mailan lảnh đồ về nhà may, mỗi cái áo có 25 xu thôi. Cô miệt mài may vá cho đến khuya và không bao giờ nghe cô than vản. Chính những đêm khuya đó cô Mailan buồn nên vặn radio nghe nhạc, những bài hát theo điệu quê (country music) rồi cô đâm ra thích loại nhạc này. Cô thích nhất là những bài hát của Willie Nelson và của Johnny Cash.

Nhờ sự kiên nhẫn của cô Mailan, một năm sau ông Joe đi đứng lại được mặc dù bên phía tay trái vẫn còn hơi yếu. Khi mạnh lại ông Joe đưa cô Mailan đi xem cao bồi cưỡi ngựa đấu bò (rodeo), cô Mailan tính tình mộc mạc hiền lành, đi xem vài lần xong đâm ra thích thú. Từ đó niềm giải trí của hai vợ chồng ông là đi xem rodeo mỗi tháng. Nguyện vọng của cô Mailan là một ngày nào đó cô sẽ được đi khắp vùng Texas, được xem tất cả những trận rodeo ngoạn mục.

Ông Joe trở lại trường đi học về nghành kỹ sư, bốn năm sau đời sống của hai vợ chồng ông khá giả hơn, ông và cô Mailan về lại Việt Nam thăm gia đình. Ông kể lại sự bồn chồn bất an của chính tinh thần ông trong chuyến trở về đó, ông nói với tôi chuyến đi buồn nhiều hơn vui vì đây là cơ hội cho ông chứng kiến thảm cảnh sau chiến cuộc.

– Người tàn tật khắp nơi cưng ơi! đời sống của dân chúng còn tệ hơn lúc còn chiến tranh. Xã hội đầy rẫy tham nhũng hối lộ. Cộng sản bóc lột dân chúng nên chi người nào theo chúng nó nịnh bợ thì giàu nứt đất nẻ đai, kè nghèo thì chết không có chiếu chôn. Chúng tôi trở về niềm an ủi duy nhất cho Mailan là gặp lại đứa con trai và bà mẹ. Khi trở lại Mỹ, Mailan như người không hồn và tôi cảm thấy bó tay, bất lực không giúp gì Mailan được.

Ông Joe nói thêm là có lần ông ngõ ý nhận thằng bé con của Jeremy làm con nuôi để đưa nó qua bên đây sống, nhưng sau khi suy đi nghĩ lại cả ông và cô Mailan quyết định không nên, vì theo cô Mailan, đứa con khờ khạo chậm trí của cô có qua đến bên Mỹ mặc dầu đời sống vật chất đầy đủ hơn nhưng mỗi ngày cô và ông Joe càng già sẽ lo không nổi cho nó, rồi nó cũng sẽ vào trong những viện đặc biệt dành cho những đứa bé cùng cảnh ngộ như nó. Cô Mailan nghĩ là để con ở lại Việt Nam dù sao bà ngoại và gia đình cô còn có tình thương lo cho nó và nó sẽ được sống trong sự hạnh phúc ngây ngô đó. Ông Joe cảm phục sự hy sinh của cô Mailan, từ đó mỗi tháng ông đều đặn gửi tiền về để gia đình cô Mailan lo cho con. Lần cuối ông và cô Mailan về xây một căn nhà khá khang trang ở Rạch Gía cho cả đại gia đình cô Mailan ở. Mỗi năm hai vợ chồng ông về thăm nhà một lần và mỗi lần ở tới ba tháng. Từ ngày cô Mailan bệnh vợ chồng ông không về được, ông không biết phải giải thích như thế nào với gia đình vì cô Mailan căn dặn là đừng cho gia đình hay sợ mọi người lo lắng.

Cô Mailan dần dần tỉnh lại và qủa thật như ông Joe đã nói, mặc dù còn yếu cô Mailan lúc nào cũng điềm tinh, vui vẻ. Khi tôi mang vào tặng cô chậu hoa tulips trắng thì cô bật khóc, trong khi tôi còn bỡ ngỡ thì ông Joe cho biết đây là loại hoa mà mỗi năm vào ngày ba mươi tháng tư, ngày giổ của Jeremy cô và ông đem ra ngôi mộ của Jeremy thăm viếng. Ông còn cho hay là mỗi năm vào ngày quốc hận cô Mailan và ông đều vào trường UT (University of Texas) để tham dự đêm không ngủ. Khi biết được tôi là cựu học sinh của trường UT, cô Mailan hỏi:

– Cưng có tham dự vào đêm không ngủ lần nào chưa” Cảm động lắm cưng ơi, sự mất mát đã đem tình người ngồi lại với nhau, đốt những ngọn nến để thấy còn nồng hơi thở của quê hương và biết thương yêu còn trong trái tim mọi người.

Tôi không ngờ cô Mailan mộc mạc mà có thể diễn tả tâm trạng một cách văn hoa mật ngọt như thế. Ngày cô Mailan xuất viện tôi đến từ giã, cô Mailan nhắn với tôi:

– Cưng hay đi chùa nhớ cầu xin Phật độ cho cô một cái chết được an lành. Cô chỉ tội cho anh Joe thôi, suốt cuộc đời anh ấy qúa tốt với cô, cưng nhớ cầu Phật mang đến cho anh ấy chút thanh thản trong đời.

Trong khối óc tưởng rằng giản dị của cô Mailan lại chất chứa một sự thông minh lạ thường.vì sau khi nói chuyện với ông bác sĩ về tình trạng của cô, tôi biết đời sống còn lại của cô rất mong manh. Cô bị ung thư máu đã mấy năm qua và sự đau đớn của thể xác khiến cô sẵn sàng buông xuôi.

Sáng hôm nay gặp lại anh Joe trong qúan café, tôi bùi ngùi nhắc lại những lời nói của cô Mailan. Ông Joe nhìn tôi dọ hỏi:

– Cưng có biết gì về kinh Dược Sư không” Nghe nói loại kinh này nghe xong tâm trí rất an hòa, có người nghe xong hết bệnh ngay.

Tôi biết ông Joe đang có một hy vọng rất mơ hồ về tình trạng của cô Mailan. Niềm tin đến vội vã trong khi tâm thần ông qúa bất an. Tôi nhìn kỹ khuôn mặt và con mắt của Paul Newman, trong con mắt xanh đượm buồn đó có một thiết tha cầu khẩn từ đấng linh thiêng ban phép nhiệm màu. Tôi nhìn ông và bắt đầu hát nho nhỏ:

My heartaches and troubles just are up and gones

The moment you come into view

With your hand in mine dear I cound dance and dance

And Waltz across Texas with you

Tôi sẽ về đi ngay đến chùa xin chư phật phù hộ cho ông Joe được tâm an lạc và cho cô Mailan có thêm một chút sinh lực cuối cùng để cùng ông Joe đi dự xem những trận rodeo qua khắp miền Texas.

I could Waltz across Texas with you

It’s a fairyland tale that’s come true

Nguyễn Thị Huế Xưa

HIỆN TƯỢNG FATIMA, CỘNG SẢN, VÀ HỒI GIÁO

This gallery contains 2 photos.

      Số báo Time, phát hành ngày 30/12/1991, Richard N. Ostling – một ký giả kỳ cựu chuyên về mục tôn giáo – đăng tải một bài viết nhan đề, “Hand-maid or Feminist?”. Trong bài viết này, ông nhận định: “Trong số những phụ nữ đã từng sống ở trần gian, Mẹ của […]