HÃY ĐỂ “EM SANG SÔNG”

“Ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông” là vấn đề được bàn thảo khá rộng rãi trong vài năm qua. Người viết có đọc trên Internet những tranh luận nhưng thú thiệt chưa bao giờ dám hỏi thẳng anh Nhật Ngân vì, một phần, hỏi là nghi ngờ mà nghi ngờ là xúc phạm và phần khác là vì anh đã nói rõ ra rồi. Nhạc sĩ Nhật Ngân khẳng định anh đã viết nhạc phẩm đầu tay đầy kỷ niệm vào năm 1960 khi chỉ vào 18 tuổi ở Đà Nẵng và giải thích lý do có thêm tên nhạc sĩ Y Vũ.
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Nhật Ngân
Nhạc sĩ Trường Kỳ, một cây bút chuyên viết đời sống và tác phẩm của các văn nghệ sĩ, trong một bài viết vào năm 2000, đã thuật lại nguồn gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông theo lời kể của nhạc sĩ Nhật Ngân, và dưới đây là vài đoạn chính: “Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.
Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.
Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.
Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho tác giả cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.
Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ“.
Nhạc sĩ Nhật Ngân qua đời ngày 21 tháng 1, 2012 tại California, Hoa Kỳ.
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Y Vũ:
Trong một bài viết được phổ biến rộng rãi trên Internet, nhạc sĩ Y Vũ nhắc lại chuyện tình để lại một đứa con tinh thần có tên Tôi đưa em sang sông: “Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết… đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.
Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng… chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của “thất tình”. Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.
Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày Cưới Em lại thành công vang dội: “Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen…”
Tương tự, nhạc sĩ Y Vũ cũng “ngậm ngùi tâm sự” chuyện tình của ông cho nhạc sĩ Trịnh Hưng nghe: ”Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi, chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh, do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ lớn tuổi.”
Nhạc sĩ Y Vũ trưng bằng chứng “bản thảo”
Giữa tháng 11, 2017, trong một chương trình truyền hình Hát trên chuyện tình trong nước, nhạc sĩ Y Vũ phát biểu về nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông:
Tôi xin khẳng định một điều bài này của tôi viết có một mình tôi thôi. Anh Y Vân có dạy hai người học trò là Nhật Ngân và Anh Thy. Khi tôi thất tình tôi viết bài Tôi đưa em sang sông được mấy ngày sau, trình anh Y Vân duyệt, bài này được tốt rồi. Anh đề nghị ngay, bây giờ mày có thể để thêm tên Nhật Ngân vào bài này không để cho hai đứa cùng nổi tiếng với nhau, có chút tiếng, bài này hay, sẽ nổi đó. Kính thưa quý vị, tôi rất vô tư. Tôi không nghĩ cái chuyện mấy chục năm sau lại như thế. Tôi bảo anh muốn để thì em để vào. Bài đó ký tác quyền cho nhà xuất bản Diên Hồng và có thêm tên Nhật Ngân, và tôi có hứa trên báo chí là sẽ có một ngày tôi lục được cái bài gốc, gọi là bản thảo, tôi viết tay.”
Sau đó nhạc sĩ Y Vũ đưa bản viết tay cho người dẫn chương trình và cô đọc “Bản thảo ký ngày 5 tháng 6 năm 1962.
Các báo trong nước phần lớn đồng ý với lời “khẳng định” của nhạc sĩ Y Vũ và báo Thanh Niên kết luận: “Lần đầu tiên, nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ca khúc Tôi đưa em sang sông do chính ông tay ông viết mà không có bất kì một nhạc sĩ nào tham gia vào. Hơn nữa, nhạc sĩ còn đem theo bản gốc viết tay hơn 40 năm trước để làm bằng chứng chân thật nhất cho những lời kể của ông.
Khoan, xin đừng quá vội.
Bản gốc:
“Bản thảo” chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ dùng làm bằng chứng không thể chứng minh đó bản gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông. Ngoài nhạc sĩ Y Vũ, không có người nào hay cơ quan có thẩm quyền độc lập nào xác định đó là bản thảo. Cách đây hơn nửa thế kỷ, mọi sáng tác văn nghệ đều phải chép tay, dù do chính tác giả sáng tác hay chép lại nhạc của người khác.
Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng có thể có một bản thảo chép tay như bản của nhạc sĩ Y Vũ nhưng còn đang thất lạc. Cuộc đời nhạc sĩ Nhật Ngân giống như âm nhạc của anh gắn liền với những chặng đường gian nan của đất nước. Rời Đà Nẵng, đi lính, gia nhập ban Tâm Lý Chiến của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, chịu đựng cực khổ sau 1975, vượt biên sang Thái Lan 1982. Mạng sống lo chưa xong nói gì là bản thảo.
Thời điểm nhạc phẩm ra đời:
Khi còn sống, trong các buổi trả lời phỏng vấn trên báo chí, qua truyền hình, truyền thanh, nhạc sĩ Nhật Ngân đều khẳng định một cách chính xác nhạc phẩm đó anh viết lúc 18 tuổi từ năm 1960. Khẳng định này đã được phổ biến cùng khắp.
Nhạc sĩ Y Vũ, qua các lời kể, dù thừa nhận đã có biết, có nghe những tranh luận nhưng không phản đối về thời điểm 1960 do nhạc sĩ Nhật Ngân đưa ra.
Tạm cho là lúc đó nhạc sĩ Y Vũ chưa tìm ra “bản thảo” để chứng minh nhưng ít nhất ông phải nhớ năm nhạc phẩm ra đời và phản bác thời điểm 1960 của nhạc sĩ Nhật Ngân chứ. Chẳng lẽ ông nhớ những chi tiết nhỏ như “Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học” mà lại không nhớ mình sáng tác bản nhạc năm nào?
Không phản biện về thời điểm có nghĩa ông đồng ý bản nhạc ra đời vào năm 1960 chứ không phải 1962 và như vậy bản của nhạc sĩ Nhật Ngân dù còn đang bị thất lạc mới thật sự là bản gốc.
Thời điểm tìm ra “bản thảo”
Trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 11, 2017, Nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ thời gian tìm ra “bản thảo”: “Bản gốc của ca khúc này do bà cụ cất giữ. Bà rất quý sáng tác của hai anh em tôi và giữ mỗi người một bản gốc mà bà yêu thích nhất. Bà kẹp bản gốc ca khúc Lòng mẹ của Y Vân và bản gốc Tôi đưa em sang sông trong ngăn tủ của mình cùng với giấy khai sinh của tôi và một vài giấy tờ quan trọng khác. Mãi đến khi bà mất, tôi mới kiếm được những tư liệu này.”
Người viết xin lỗi phải nhắc đến bà cụ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ nhắc trước.
Mẹ của hai nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ không phải qua đời năm ngoái, năm kia hay thậm chí không phải mười năm trước mà qua đời cách đây 24 năm. Báo chí trong nước viết về ngày cụ qua đời: “ngày 28/11/1992, nhạc sĩ Y Vân giã từ cõi người khi vừa bước vào tuổi 60 và mười tháng sau, mẹ của ông, (cũng là mẹ của nhạc sĩ Y Vũ) qua đời.”
Theo lời kể của chính nhạc sĩ Y Vũ, bà cụ cũng chẳng chôn giấu “bản thảo” ở một góc nhà nào kín đáo hay gởi cho ai mà để ngay trong phòng của cụ cùng với các giấy tờ quan trọng khác. Do đó, “bản thảo” trong xấp giấy tờ quan trọng phải được tìm ra ngay sau khi bà cụ qua đời.
Nhưng cứ tạm cho rằng ông không tìm ra “bản thảo” ngay mà 10 năm sau mới tìm ra thì tại sao 14 năm rồi ông không công bố “bản thảo” dù ông có rất nhiều cơ hội và tại sao ông không công bố khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống để hai mặt một lời cho dứt khoát? Điều gì khiến ông dè dặt?
Vai trò của nhạc sĩ Y Vân:
Người có thẩm quyền nhất và có tính xác định cao nhất ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông chính là nhạc sĩ Y Vân vì cả nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân đều đồng ý là nhạc sĩ Y Vân đã ghép chung hai nhạc sĩ vào nhạc phẩm.
Nhạc phẩm này không phải bây giờ mới nổi tiếng mà nổi tiếng ngay sau khi được Lệ Thu hát cho tới nay. Nhạc sĩ Y Vân qua đời năm 1992. Tuy lâu nhưng không phải quá lâu. Nhạc sĩ Nhật Ngân không có ở trong nước nhưng nhạc sĩ Y Vũ ở bên cạnh anh mình cho đến ngày cuối nhưng tại sao ông không yêu cầu nhạc sĩ Y Vân xác định giùm ông những bí mật, những khuất tất chung quanh nhạc phẩm này nếu ông là “tác giả duy nhất”?
Người viết không dám phê bình nhạc sĩ Y Vân nhưng khách quan mà nhận xét lý luận cho rằng nhạc sĩ Y Vân thêm tên em mình vào một nhạc phẩm mà ông biết sẽ nổi tiếng có lẽ dễ thuyết phục hơn là thêm một tên còn đang học nhạc 18 tuổi vô danh ở ngoài Đà Nẵng vào nhạc phẩm của em mình.
Lời nhạc
Nhạc sĩ Nhật Ngân có hơn 200 nhạc phẩm, không tính nhạc ngoại quốc lời Việt, và nhiều trong số đó đã gắn liền với tâm sự với những người xa quê hương như Xuân này con không về, Một mai giã từ vũ khí nhưng khi được yêu cầu anh thường hát Tôi đưa em sang sông.
Người viết nghe chính nhạc sĩ Nhật Ngân hát Tôi đưa em sang sông lần đầu 14 năm trước tại Dallas, rồi sau đó những lần khác trong các đại hội Quảng Đà, họp mặt Liên Trường ở Nam California. Anh hát với tất cả xúc động chân thành toát ra từ ánh mắt, từ lời ca, từ niềm hoài vọng về một thành phố cảng thân yêu nơi có bến đò ngang và dòng sông đẹp.
Ai đã từng sống ở Đà Nẵng hay sống cả hai thành phố Đà Nẵng và Sài Gòn, và lắng lòng ngồi nghe anh Nhật Ngân hát, chắc hẳn sẽ đồng ý chính anh là tác giả của Tôi đưa em sang sông bởi vì “sông” trong Tôi đưa em sang sông là dòng sông thật chứ không phải “đưa người ta không đưa qua sông” theo cách ví trừu tượng của Thâm Tâm.
Chuyện tình của nhạc sĩ Y Vũ không có tình tiết nào được phản ảnh trong lời nhạc Tôi đưa em sang sông. Theo lời kể của ông phần lớn chỉ diễn ra bên cây xăng ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ và thậm chí “ chưa một lần nắm tay nhau” thì làm gì có “bàn tay nâng niu ân cần” như trong Tôi đưa em sang sông.
Chuyện tình của nhạc sĩ Nhật Ngân không đánh dấu bằng những “cây dài bóng mát”, “vòm lá me xanh”, “thương xá sắp đóng cửa” hay “muôn tà áo tung bay” ở Sài Gòn mà bằng “đường vắng”, “bến đất”, “bến gió”, “lối mòn” thường gặp trong các thành phố xa thủ đô. Nói chung, không một động từ, một danh từ, một tĩnh từ nào trong Tôi đưa em sang sông làm người nghe liên tưởng đến Sài Gòn.
Tôi đưa em sang sông so sánh với Ngày cưới em
Nhạc sĩ Y Vũ, trong dịp khẳng định tác quyền Tôi đưa em sang sông có nhắc đến ca khúc Ngày cưới em.
Lẽ ra không cần phải bàn đến nhạc phẩm không liên hệ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ “tâm đắc” và nhấn mạnh nhạc phẩm này cũng đã “thành công vang dội” nên người viết mời độc giả vào Youtube nghe hai nhạc phẩm rồi đọc kỹ lời của hai nhạc phẩm để thấy sự khác nhau trong cách diễn tả và ngôn ngữ được dùng.
Những câu hát trong Tôi đưa em sang sông là những câu thơ, có trách móc, có chút đắng cay nhưng rất nhẹ nhàng và bóng gió:
Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa Chẳng lẽ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi
Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn …
Trong lúc đó, lời của Ngày cưới em:
Hôm nay ngày cưới em Nào men nồng nào hoa thơm Nào môi hồng nào giá phấn Khăn áo muôn sắc đua chen Mắt biếc ngời ánh đêm Làn tóc nụ cười ngát hương Từng bước dập dìu bước êm Chỉ mình lòng tôi hoang vắng
Hôm nay ngày cưới em Mừng vui họ hàng đôi bên Vì đâu nàng mời tôi đến Tuy có đây cũng như không Chiếc áo tình chóng phai Một sớm một chiều đã thay Thì nhớ đừng vì có tôi Mà nàng giấu vui không cười …
Lời của Ngày cưới em không bóng gió như thơ mà là những đoạn văn xuôi tả rất cụ thể, rõ ràng với “men”, “môi”, “phấn”, “mắt”, “khăn áo”, “họ hàng đôi bên”.
Ngôn ngữ bao la nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chỉ có một cuốn tự điển để sử dụng cho riêng mình và dù có viết trăm bài thì những chữ tác giả dùng cũng giới hạn trong tự điển đó thôi.
Tiền bản quyền
Nhạc sĩ Y Vũ than trên báo Thanh Niên: “Nghe nói tiền bản quyền ca khúc bên Mỹ cao lắm, mà hàng chục năm qua tôi không được một đồng.” Đây là điểm thuộc về pháp lý và sẽ do các luật sư chuyên về bản quyền giải thích nhưng trong quan điểm phổ quát, tiền bản quyền thuộc về ai tùy thuộc vào ai giữ bản quyền. Người viết cũng đã từng nộp bản quyền và biết cơ quan bản quyền không dựa vào bản chép tay dù cũ bao lâu của ai đó để xác định bản quyền.
Việt Nam và Mỹ đều là thành viên của Berne Convention cho nên nếu nhạc sĩ Nhật Ngân nộp bản quyền nhạc của ông sau khi định cư ở Mỹ năm 1982 và gia đình nhạc sĩ Nhật Ngân giữ quyền thừa kế bản quyền của Tôi đưa em sang sông thì họ có thể kiện những ai dùng nhạc phẩm vào mục đích thương mại ngay cả đã sử dụng tại Việt Nam trước đây, đang sử dụng hiện nay và cả sẽ sử dụng sau này.
Nhạc sĩ Y Vũ có nhiều điều kiện, nhiều thời gian, nhiều cơ hội và nhiều người để giúp chứng minh ông là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông nhưng đã không làm. Hôm nay, nhạc sĩ Nhật Ngân không còn sống để biện hộ cho anh nên dù nói gì nhạc sĩ Y Vũ cũng chỉ vẽ nên nhiều nhất là một nửa cái bánh mà thôi.
Trong lúc một số người dễ tin có thể cho những bằng chứng nhạc sĩ Y Vũ đưa ra là thật nhưng những người khác thận trọng, suy nghĩ chín chắn hơn sẽ nghĩ khác. Ngay cả những khán giả vỗ tay khi nhạc sĩ Y Vũ trưng ra bản chép tay mà ông viết là “bản thảo” trên đường về cũng có thể tự trách mình đã vội vàng vì không có gì chứng minh đó là bản đầu tiên của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông.
Bản chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ đưa ra không phải lấy từ hồ sơ lưu trữ của Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa, không phải do gia đình cố nhạc sĩ Y Vân công bố, không phải do một người thứ ba nào khám phá mà chỉ từ nhạc sĩ Y Vũ.
Mười hai năm trước khi qua đời, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại với nhạc sĩ Trường Kỳ: “Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời.”
Lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012, tác giả Xuân này con không về đã bước ra khỏi cuộc đời cũng bằng trái tim đầy yêu thương như thế.
Vì nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ông là tác giả duy nhất của Tôi đưa em sang sông nên người viết muốn phân tích để chứng minh những gì dễ cho là thật và tưởng là thật nhiều khi lại không hẳn là thật.
Sự kiện Tôi đưa em sang sông là một biến cố đáng tiếc trong âm nhạc Việt Nam nhưng suy cho cùng cũng chẳng làm nhạc sĩ nào thiệt hại hoàn toàn. Cả hai nhạc sĩ cùng với nhạc sĩ Y Vân qua nhân duyên văn hóa đã góp phần tạo nên nhạc phẩm tuyệt vời này.
Nhạc sĩ Nhật Ngân đã qua đời và nhạc sĩ Y Vũ sắp bước vào tuổi tám mươi, nên mỉm cười đón nhận nhân duyên. Tôi đưa em sang sông sẽ mãi mãi là một phần của văn hóa Việt Nam và các thế hệ Việt Nam mai sau cũng sẽ mỉm cười kính mến và trân trọng khi nhắc đến tên hai vị.
Hãy để “em sang sông”, thưa nhạc sĩ Y Vũ.
Trần Trung Đạo
Advertisements

BẢNG MẪU TỰ TIẾNG VIỆT VỐN ĐÃ HAY VÀ ĐỦ…

 

Bài viết ngắn này không nhằm “tranh luận” với PGS TS Bùi Hiền về đề nghị “cải tiến chữ Việt” của ông cho bằng, nhân cơ hội này, chúng ta ôn lại với nhau những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ, là thứ chữ dùng mẫu tự La-tinh để ký âm tiếng Việt.

Bài viết rất ngắn này cũng không phải là một công trình nghiên cứu để đem ra thảo luận với các nhà ngữ học và ngôn ngữ học về tiếng Việt.

Gọi là căn bản, điều này có nghĩa là đụng chạm tới những điểm này, thay đổi hay xoá bỏ những điểm này thì chữ Quốc Ngữ không còn là chữ Quốc Ngữ nữa, mà là một thứ chữ gì khác rồi, nói rõ hơn là giết chết chữ Quốc Ngữ rồi. Cũng giống như một cái cây, người ta có thể hái hoa, hái quả, thậm chí cắt bớt cành, cái cây vẫn là cái cây; nhưng khi người ta đốn gốc, đào rễ thì cái cây không còn là cái cây nữa. Nó chết. Căn bản có nghĩa là rễ (căn), gốc (bản). Bởi vậy người ta mới nói kẻ mất gốc là “vong bản.”

Đây là những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ:

1. Chữ Quốc Ngữ là một hệ thống ký âm: âm phát ra như thế nào thì dùng những chữ cái (mẫu tự, ký tự) a, b, c, d, đ v.v… để ghi lại âm đó lên trên giấy. Cũng giống như người ta dùng những nốt nhạc do, re, mi, fa, sol, la, si để ghi lại trên giấy âm thanh của một khúc nhạc, một bản nhạc. Điểm này cho thấy chữ Quốc Ngữ và chữ Hoa (chữ Tàu) đặt trên hai nền tảng hoàn toàn khác nhau: chữ Hoa đặt trên nền tảng hình vẽ, hình tượng thế nào thì vẽ ra như thế, đơn giản nét đi rồi cho vào một ô vuông tưởng tượng mà thành ra chữ.

2. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ ghi tiếng nói của cả nước chứ không phải ghi tiếng nói của một miền, một vùng, một thành phố, cho dù thành phố đó là Hà Nội. Khi các nhà truyền giáo sáng tạo chữ Quốc Ngữ, các ông này đã đi khắp tất cả mọi nơi trên đất nước ta: Đàng Trong, Đàng Ngoài, miền Bắc, miền Trung, miền Nam, thu thập các cách phát âm, tổng hợp lại mà ra các âm (thể hiện bằng những chữ cái) và các thanh độ (thể hiện bằng các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.) Khi chỉ dựa vào cách phát âm của một miền, một vùng, một thành phố để làm thành bộ chữ thì thứ chữ ấy không thể được gọi là chữ Quốc Ngữ nữa. Ấy là chưa kể người của một vùng có thể thay đổi cách phát âm, lý do là có sự thay đổi người sinh sống ở vùng ấy. Người Hà Nội trước đây và người Hà Nội bây giờ trong cách phát âm có nhiều điểm không giống nhau.

3. Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ có thể nói là duy nhất tại Á châu nằm trong khối chữ viết dùng hệ thống mẫu tự La-tinh. Những thứ chữ khác tại Á châu cũng dùng bảng mẫu tự La-tinh đều chỉ có tính cách thử nghiệm hoặc sử dụng trong phạm vi hạn hẹp, hầu như chỉ có tính cách phiên âm mà thôi. Đã gọi là nằm trong một hệ thống thì cách phát âm qua ký hiệu là các chữ cái phải giống nhau hoặc tương tự. Thí dụ: âm [thờ] được ký âm bằng hai chữ cái T và H: TH. Nhìn ký tự TH, người ta phát âm được là [thờ]. Nếu đổi đi, dùng ký tự W để ghi âm [thờ] thì tự mình tách ra khỏi hệ thống chung, gây rắc rối, khó hiểu chứ không phải là “hội nhập” thế giới. Người dạy tiếng Việt ở nước ngoài, khi dạy thường phải dùng phương pháp đối chiếu các ngôn ngữ: tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây-ban-nha. Học viên cảm thấy chữ Việt cũng có cách viết tương tự như ngôn ngữ của họ khiến họ cảm thấy dễ học, dễ viết. Đổi TH thành W để ghi âm [thờ] thì học viên chỉ có nước… chết!

4. Bảng mẫu tự tiếng Việt vốn có (từ thời Alexandre de Rhodes) (1) dựa vào nguyên tắc “đơn giản tối đa” để dễ học, dễ nhớ. Thí dụ: đã có ký tự P và ký tự H, ghép lại thành PH để ký âm [phờ] thì không cần F phải có mặt trong bảng mẫu tự nữa. Vì thế mà trong bảng mẫu tự tiếng Việt không có những chữ cái F, J, W, Z.

5. Tuy đơn giản, bảng mẫu tự này lại rất tinh tế. Cùng là âm [cờ] mà bình thường được ghi bằng ký tự C, lại được ghi bằng ký tự K khi âm [cờ] này đứng trước những âm I, E, Ê vì đây là 3 âm đầu lưỡi, và được ghi bằng ký tự Q(u) khi đứng trước một số âm/vần bắt đầu bằng U (và O.) (2) Bỏ mất điểm tinh tế này đi, chữ Quốc Ngữ mất đi phần nào nét đặc biệt của nó. Vả lại, nếu đồng hoá, chỉ dùng K cho tất cả các âm [cờ] thì sẽ ra tình trạng hai chữ CỦA và QUẢ được viết giống nhau: KỦA.

6. Chữ Quốc Ngữ có đặc điểm là âm nào phát ra được cũng ghi (viết) được và chỉ có một cách viết đúng mà thôi. Thí dụ: phát âm là [chuyện] với phụ âm [chờ] đứng đầu thì phải viết là CHUYỆN; mà phát âm là [truyện] với phụ âm [trờ] đứng đầu thì phải viết là TRUYỆN. Người Hà Nội có thể phát âm hai âm [chuyện] và [truyện] giống nhau, đều là [chuyện] mà thôi, nhưng tại rất nhiều vùng trên toàn đất nước, đồng bào mình phát âm rất rõ hai âm [chuyện] và [truyện]. Không nên làm nghèo cách phát âm phong phú của người mình.

Tóm lại,

Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng tiêu chuẩn, có 23 chữ cái:
A B C D Đ E G H I K L M N O P Q R S T U V X Y

Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng đầy đủ, có 29 chữ cái:
A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y

Chúng tôi thấy đây là hai bảng mẫu tự rất đơn giản và đầy đủ, không cần phải cải cách, thêm bớt gì cả.

Còn việc phiên âm những tiếng nước ngoài, trong đó có các ký tự F, J, W, Z lại là một vấn đề khác, chúng tôi không bàn tới ở đây.

Sự “cải tiến” như PGS TS Bùi Hiền đề nghị đã làm méo mó chữ Quốc Ngữ, nếu không muốn nói là ám sát nó, rất nguy hại. Nó khiến người ta hoang mang, tốn thì giờ, tốn công sức. Và nếu vô phúc nó được đem ra áp dụng thì tiết kiệm đâu không thấy, chỉ thấy nó tiêu phí rất nhiều năng lực, thì giờ và tiền bạc.

Để tránh sự nguy hại này, chúng tôi đề nghị chúng ta không tiếp tay phổ biến nó, cho dù chỉ là phổ biến để làm trò cười với nhau. Càng làm cho nhau cười, thứ chữ “cải tiến” này càng lan rộng. Các em trẻ tuổi vốn thích nghịch ngợm đã “chế tác” ra đủ các loại chữ viết “bí hiểm” để “chít chát” với nhau, nay gặp được thứ đồ chơi này sẽ đem ra dùng… cho biết. Dùng hoài hoá thiệt. Rốt cuộc, người ta không còn biết đâu là đúng đâu là sai nữa. Bây giờ đã thấy xuất hiện một bộ “Cuyển dổi Tiếq Việt” rồi đó. (3)

QUYÊN DI

(1) Alexandre de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc Ngữ. Khi đến đất Việt để truyền đạo, ông phải học tiếng Việt qua các sách (chép tay) của các giáo sĩ Bồ-đào-nha đã đến miền đất này trước ông. Nhưng Alexandre de Rhodes đã có công lớn nhất trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc Ngữ. Ông là tác giả hai tác phẩm chữ Quốc Ngữ đầu tiên, ấn hành tại Rome năm 1651: “Tự Điển Việt-Bồ-La” và “Phép Giảng Tám Ngày.”

(2) Sự thật QUÝ là QU + UÝ, khi viết chúng ta giản lược một chữ U, thành ra QUÝ; QUẢ là QU + OẢ, khi viết chúng ta giản lược chữ O, thành ra QUẢ. Hiện tượng này cũng tương tự như GIÊNG là GI + IÊNG, khi viết chúng ta giản lược một chữ I thành ra GIÊNG. Có thể một số vị không đồng ý với cách giải thích này.

(3) Chúng tôi không mất thì giờ ghi lại tất cả những thay đổi, thêm bớt vào bảng mẫu tự tiếng Việt của PGS TS Bùi Hiền mà ông gọi là “cải tiến”. Tiếp tay phổ biến chúng làm gì! Chúng tôi cũng không tiếp tục thảo luận về vấn đề “cải tiến chữ Việt” trên trang Facebook này. Không ích gì! Ngoại giả, không ai cấm vấn đề “cải tiến chữ Việt” được trình bày và thảo luận trong các cuộc hội thảo ngôn ngữ.

No automatic alt text available.

No automatic alt text available.

QUYÊN DI

HIỆN TƯỢNG FATIMA, CỘNG SẢN, VÀ HỒI GIÁO 3

 

 

III. FATIMA VÀ HỒI GIÁO

Chủ nghĩa cộng sản cổ võ đấu tranh để tiến tới một thế giới đại đồng không còn biên giới giữa các nước, xã hội không còn giai cấp, không cần ông bà cha mẹ, không cần tôn giáo. Đó là một thế giới không tưởng. Học thuyết Hồi giáo (Muhammadism) trộn lẫn cả Do-thái giáo và Thiên Chúa giáo và giới thiệu cho thế giới ra một tôn giáo mới. Nhìn bề ngoài, đạo Hồi trông yêu chuộng hòa bình, nhưng cốt lõi là cả một đe dọa ngấm ngầm với bổn phận “thánh chiến, jihad,” dùng vũ lực và sẵn sàng hy sinh mạng sống. Một học giả Hồi nổi tiếng Ibn Khaldun (1332-1406) khẳng định, “thánh chiến” không còn là một cuộc chiến tự vệ, nhưng phải là một bổn phận thiêng liêng của tất cả các tín đồ Hồi để đạt được mục đích là Hồi hóa toàn thể nhân loại – mọi người phải quy phục Allah – qua sự thuyết phục hoặc bằng vũ lực. Nếu chủ nghĩa cộng sản phủ nhận tôn giáo thì chủ nghĩa Hồi nhìn nhận chỉ một tôn giáo Hồi duy nhất trên toàn thế giới. Vào thế kỷ trước, chủ nghĩa Phát-xít gieo đau thương cho nhân loại vì tin rằng chỉ có dòng giống Aryan duy nhất thuần chủng là đáng sống, còn những chủng tộc khác đã nhiễm bẩn, và theo luật đào thải, cần phải loại trừ. Chủ nghĩa Hồi cũng thế, các tôn giáo khác với đạo Hồi cũng cần phải bị tiêu diệt, và đó là một trong những bổn phận của tín đồ Hồi. Một khi không còn tín hữu, thì tôn giáo đó tự nhiên sẽ biến mất. Vì thế, cần tiêu diệt càng nhiều tín hữu của các tôn giáo càng tốt. Muhammad, giáo chủ Hồi, dạy bảo tín đồ, “Ta đã được lệnh Thượng đế tạo chiến tranh chống lại toàn thể nhân loại cho đến khi họ nhìn nhận rằng không có thần nào khác ngoài Allah và Muhammad là sứ giả của Thượng đế; và họ phải học thuộc kinh nguyện, và trả thuế theo luật pháp Hồi (tức là đã trở thành tín đồ Hồi). Nếu họ làm như vậy, sinh mạng và tài sản của họ sẽ được bảo vệ.” (Sahih Muslim 1:33).

Hồi giáo giống cộng sản và phát-xít ở chỗ tận dụng vũ lực để đạt được mục đích. Ở một góc nhìn nào đó, Hồi giáo nguy hiểm hơn cộng sản, vì tiềm ẩn trong chính trị là một niềm tin cực đoan của tôn giáo, dẫn đến bạo lực và xem giết người là một cách tử đạo. Bạo lực là nhân tố đặc thù của đạo Hồi cực đoan và đến đầu thế kỷ 21, cuộc “thánh chiến” của quân khủng bố gieo chết chóc gây đau thương đến tột đỉnh, và thách thức sự chịu đựng của nhân loại.

Hilaire Belloc, nhà văn kiêm sử học nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, nêu ra 5 dị giáo có ảnh hưởng trầm trọng và gây nguy cơ hủy diệt nền văn minh Thiên Chúa giáo. Đó là Arianism, Mohammedanism (Islam), Albigensianism, The Reformation (Thệ phản), and “The Modern Phase.” Belloc chứng minh học thuyết của Hồi giáo chỉ dựa vào Thiên Chúa giáo chính thống và biến dạng đi cho có vẻ mới lạ. Ông kết luận, Hồi giáo chỉ là dị giáo từ Thiên Chúa giáo, giống như Tin lành, Thệ phản, và Luther. Đạo Hồi bành trướng nhanh bằng chiến tranh quân sự, với tham lam chính trị của một số giáo sĩ cực đoan, và khôn khéo lợi dụng những biến động xã hội để tạo mâu thuẫn. Nếu hiểu theo đúng khảo cứu này thì chủ nghĩa Hồi giáo và chủ nghĩa cộng sản rất giống nhau ở chiến thuật, sự khích động, và bạo lực.

Sau Thế chiến I, vương quốc Ottoman ở Thổ-nhĩ-kỳ sụp đổ, vương quốc cuối cùng của đế quốc Ả-rập cáo chung, đánh dấu gần 13 thế kỷ nắm quyền lực bành trướng đạo Hồi. Trong hậu bán thế kỷ 20, thế giới bận rộn đương đầu với chủ nghĩa cộng sản và người ta nghĩ một thời quyền lực vàng son của khối Ả-rập đã qua rồi, nhưng Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen (1895-1979) lại khuyến cáo rằng Hồi giáo sẽ trổi dậy và bành trướng trở lại rất mạnh. Tổng Giám mục Sheen là một nhà thông thái, chuyên nghiên cứu về Cộng sản và Hồi giáo. Ngài để lại một gia tài tinh thần đồ sộ cho Giáo hội gồm 66 cuốn sách biên khảo, và “The World’s First Love,” xuất bản năm 1952 rất được nhiều người biết đến; trong đó Ngài viết, “Các dị giáo khác có một khoảng thời gian phát triển mạnh mẽ, rồi rơi vào sự phân rã học thuyết khi vị giáo chủ chết, và cuối cùng tan biến như một phong trào xã hội mơ hồ. Hồi giáo, trái lại, chỉ mới là bước đầu tiên. Chưa hề có một giai đoạn nào đạo Hồi suy giảm số lượng tín đồ, hoặc tín đồ thiếu thốn lòng mộ đạo.” Lời tiên tri của Ngài vào giữa thế kỷ 20 nay đã trở thành sự thật. Đạo Hồi, đặc biệt nhóm khủng bố cực đoan, bùng nổ mạnh mẽ vào đầu thế kỷ 21.

Nếu nhân loại khốn khổ với chủ nghĩa cộng sản trong suốt thế kỷ 20 thì Hồi giáo là cơn ác mộng của nhân loại trong thế kỷ 21. Tại sao thế? Thưa vì sự tàn bạo, độc ác và dã man của nhóm người Hồi cực đoan này. Đôi khi sự dã man và tàn bạo còn rùng rợn hơn chủ nghĩa cộng sản. Trước hết, nên tìm hiểu gốc gác đạo Hồi để hiểu rõ bản chất của tôn giáo này.

  1. LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN ĐẠO HỒI

Hồi giáo do Muhammad khai sinh vào thế kỷ VII tại bán đảo Ả-rập. Trước khi đạo Hồi được thành lập, dân chúng thờ cúng đa thần nhưng từ lúc Muhammad nổi lên như một vị tiên tri, họ chỉ còn thờ độc thần là Allah. Hiện nay bán đảo Ả-rập gồm Ả-Rập Saudi, Yemen, Bahrain, Qatar, Oman, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait với khoảng 85% dân số của những nước này theo đạo Hồi.

Muhammad sinh ngày 26/4/570 Công nguyên. Do cha mẹ mất sớm nên Muhammad được ông bác Abu Talib đem về nuôi nấng và dạy dỗ. Thuở thiếu thời, Muhammad chịu ảnh hưởng Do-thái giáo và Kitô giáo nhờ theo ông bác giao tiếp buôn bán với các tín hữu của hai đạo này tại các vùng Ethiopia, Yemen, Syria, và Palestine. Muhammad nhận ra Do-thái giáo chỉ tôn thờ Yahweh (Giavê) và Kitô giáo chỉ mỗi Thiên Chúa. Ông cũng nhận thấy tục thờ đa thần của dân Ả-rập trông hỗn tạp, nên nảy ra ước muốn đem đến cho dân Ả-rập một Thượng đế duy nhất.

Theo lịch sử của đạo Hồi, năm 40 tuổi ông được thiên sứ Ga-bri-en dưới hình chim lửa truyền lệnh làm sứ giả cho Allah (Thượng đế) để rao truyền đạo Hồi. Cũng theo truyền thuyết, thiên sứ đọc cho Muhammad nghe đến thuộc lòng những lời kinh vì ông mù chữ. Ông đọc lại cho những người thân cận và cũng bắt họ học thuộc lòng. Sau khi ông chết (8/6/632), tín đồ nhớ lại và ghi chép thành quyển kinh Koran, giáo lý căn bản của đạo Hồi.

Đạo Hồi theo tiếng Ả-rập là Islam; và những người theo đạo Hồi gọi là Muslim. Các đạo sĩ hay giáo sĩ gọi là Imam. Nghĩa nguyên thủy của chữ “Islam” là “quy phục, thần phục,” (Koran 51:56). Islam được rút ra từ chữ gốc “salam” nên còn thêm một nghĩa nữa là “kiến tạo hòa bình.”

Hồi giáo chấp nhận Tân Ước của Kitô hữu và Cựu Ước của người Do Thái là công trình của Thiên Chúa. Những người theo Hồi giáo được biết đến như những người Moors, Turks và Mamluk và chỉ tin vào một Allah. Tuy vậy, Allah của đạo Hồi khác hẳn Thiên Chúa của Kitô giáo và Giavê của Do-thái giáo. Hồi giáo phủ nhận Chúa Ba Ngôi, thậm chí cho rằng tin vào Chúa Ba Ngôi là phạm thánh (Koran 4:171). “Những kẻ nào tuyên bố, ‘Allah chính là Messia, con trai của Maria’ là kẻ tà đạo.” (Koran 5:18). Đây là một Thượng đế riêng biệt của Hồi giáo, hoàn toàn khác hẳn với mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, và học thuyết Allah trở thành trung tâm của triết lý Hồi giáo. Có lẽ vì thế mà dân Hồi luôn xem Kitô hữu, và người Do-thái là tà đạo. Qua nhiều thế kỷ, người Hồi giáo đã tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt với Kitô giáo và Do Thái giáo. Kinh Koran gọi Kitô hữu và tín hữu Do Thái là Nhóm Dân của Kinh Thánh (People of the Book).

Biểu tượng của Hồi giáo là hình trăng lưỡi liềm và ngôi sao, và trở thành lá cờ Hồi phổ biến bắt đầu từ thời đế quốc Ottoman. Trăng khuyết (hay gọi là trăng thượng tuần) tượng trưng cho vầng trăng mới (Koran 2:189, 10:5, 17:12), bắt đầu một tháng âm lịch của đạo Hồi. Và ngôi sao là sự trang điểm cho thiên đàng, để xua đuổi ma quỷ, và để dẫn đường cho con người về chốn cùng đích (Koran 6:97, 67:5).

Hồi giáo, như Do thái giáo và Thiên Chúa giáo, nhìn nhận tổ phụ Áp-ra-ham, Gia-cóp, Isaắc. Tín đồ Hồi tin các tiên tri Isaiah, Gioan Tiền hô, và đặc biệt tin Đức Giêsu chỉ là tiên tri – khác với Thiên Chúa giáo tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa – ngang hàng với Mohammed, là sứ giả cuối cùng của nhân loại. Tập tục của Hồi giáo gần giống Do-thái giáo trong thời cựu ước (trước khi Đức Giêsu sinh ra) gồm trả thù với châm ngôn mắt đổi mắt và răng đền răng, giết bé gái sơ sinh, tục cắt da quy đầu và cắt âm vật, giết gái chửa hoang, tục ném đá tử hình công khai… các nước Hồi giáo cực đoan vẫn giữ các hủ tục này mãi đến tận bây giờ.

Năm 25 tuổi, Muhammad lấy góa phụ Khadijah đã 40 tuổi. Trong 10 năm, bà sinh cho Mohamét 6 người con, trong đó có hai người con trai: Qasim, Tayed nhưng cả hai đều chết khi còn thơ ấu, và 4 con gái: Roqayya, Um-Kulsum, Zainab, Fatima. Sau khi bà Khadija chết, Mohamét lấy thêm 11 người vợ khác, riêng Aisha chỉ mới 6 tuổi, không kể các nô tỳ chiếm được trong các cuộc giao tranh. Tuy vậy, không một ai sinh cho ông thêm một đứa con nào. Chỉ riêng bà Maryam (630-632) là tín đồ Thiên Chúa Giáo do Thống đốc Ai-cập tặng cho Mohamét làm vợ, sinh được một con trai tên là Abdullah, nhưng đứa bé chết năm 2 tuổi.

Sau khi quy tụ được một số tín đồ, Muhammad bành trướng đạo Hồi bằng cách gây chiến tranh với các bộ tộc Ả-rập chung quanh. Đây là một trong những sự kiện quan trọng nhất của lịch sử xảy ra vào đầu thế kỷ thứ bảy tại bán đảo Ả-rập. Trong vòng 200 năm, những kẻ kế vị Mohammed tiếp nối công việc bành trướng đạo Hồi, đã đánh bại và thâu tóm Iraq, Syria, Palestine, Egypt và Persia (Iran ngày nay) về một mối, tạo thành một đạo quân hùng hậu với niềm tin vào Allah mãnh liệt. Với lòng nhiệt huyết, quân Ả-rập dũng mãnh dần dần khuất phục các nước quanh vùng và bành trướng đạo Hồi đến tận Ấn độ, Mã-lai, Nam-dương, và Trung-hoa; xâm nhập Âu châu qua ngả Bắc Phi, tiến đến cửa ngõ Vienna của Áo, và cai trị bán đảo Iberia gồm Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha trong gần 800 năm (711-1492), dẫn đến việc thành lập một trong những đế chế lớn nhất trong lịch sử nhân loại: Đế quốc Ả-rập.

 

Đế quốc Ả-rập bao gồm các giống dân Hồi như Moors từ Bắc Phi, Turks từ Thổ-nhĩ-kỳ, Mamluks từ Ai-cập. Trong suốt 13 thế kỷ (632-1923), Đế quốc Ả-rập thiết lập nhiều Vương quốc Hồi (Caliphate) tại những vùng đất xâm lăng và chiếm đoạt, bắt đầu từ năm 632 (năm Muhammad chết) và kéo dài mãi đến năm 1923 với đế chế Ottoman tại Thổ-nhĩ-kỳ. Có 6 triều đại lớn: Rashidun (632–661), Umayyad (661–750); Abbasid (750–1258), Fatimid (909–1171), Almohad (1121–1269), và Ottoman (1362–1923).

Đế quốc Ả-rập san bằng và chiếm giữ Giêrusalem trong 3 thế kỷ. Mãi đến năm 1099, Thập tự quân (Crusaders) mới đoạt lại từ tay quân Hồi, và chẳng bao lâu sau lại bị mất vào tay vị tướng Hồi lừng danh Saladin. Trong suốt nhiều thế kỷ bành trướng đạo Hồi, đạo quân Hồi gần như vô địch, chỉ khựng lại một thời gian ngắn khi đụng độ với đạo quân viễn chinh Mông cổ. Vào đầu thế kỷ 13, Thành Cát Tư Hãn thống lãnh đội quân Mông cổ xâm chiếm Vương quốc Abbasid (Iraq ngày nay). Cuộc viễn chinh kéo dài mấy mươi năm, và cuối cùng người cháu của Thành Cát Tư Hãn, Hulagu Khan đánh bại đạo quân Hồi (1258), phá hủy Baghdad (Iraq), và triều đại Abbasid sụp đổ hoàn toàn. Quân Mông tiến sâu vào Syria, vây hãm và khuất phục Damascus, tiêu diệt triều đại Ayyubid rồi thọc xuống phía nam, vó ngựa ào ạt tiến về Giêrusalem, làm cỏ Trung đông như chỗ không người. Nhưng chỉ cần 2 năm sau (1260), đạo quân Hồi (Mamluk) xuất phát từ Ai-cập phản công giết sạch 20 nghìn quân Mông cổ tại Ain Jalut (thuộc Do-thái ngày nay). Vó ngựa quân Mông cổ tung hoành từ Đông sang Tây và bách chiến bách thắng trong suốt 43 năm (1217-1260). Đây là lần thứ hai trong lịch sử giao tranh, quân Mông thảm bại. Tưởng cũng nên nhắc lại là đế quốc Nguyên-Mông nếm thất bại lần đầu tiên khi xâm chiếm lãnh thổ Đại Việt vào năm 1258 dưới thời vua Trần Thái Tông; và sau đó bị đại bại thêm 2 lần nữa dưới thời vua Trần Thánh Tông (1285) và Trần Nhân Tông (1287), dưới sự chỉ huy của vị tướng Đại Việt lừng danh Trần Hưng Đạo. Riêng lần thứ 3, hơn 500 nghìn quân Nguyên bị thảm bại nặng nề với và hơn 400 chiến thuyền bị đánh chìm trên sông Bạch Đằng.

  1. PHÂN HÓA NỘI BỘ VÀ HỒI GIÁO CỰC ĐOAN

Mặc dù đế quốc Ả-rập hùng mạnh nhưng nội bộ của Hồi giáo rạn nứt vì tranh giành quyền lực và tạo ra sự phân hóa sau khi Muhammad chết. Nhiều tín đồ Hồi Giáo ở Mecca đề cử ông Abu Bakr là một trong những cha vợ của Muhammad kế vị, nhưng một số người khác lại ủng hộ Ali là anh họ cũng là con rể của Mohammed. Kết qủa sự tranh cãi đã khiến Hồi Giáo chia làm hai phe: Sunni và Shia, và hai phe này lại còn đẻ ra nhiều nhánh khác nhau nữa. Tình trạng phân hóa trầm trọng dẫn đến sự thù hận kéo dài qua nhiều thế kỷ, và gây ra cảnh tương tàn giết hại lẫn nhau giữa các giáo phái.

Giáo hội Công giáo La mã cũng rơi vào sự phân hóa vào những thế kỷ trước. Năm 1054 đánh dấu sự phân ly giữa Giáo hội Công giáo và Chính thống giáo. Vài thế kỷ sau, chỉ vì không được phép ly dị, năm 1534 vua Henry VIII tách rời khỏi Rôma và lập ra Anh giáo. Tuy vậy, từ thế kỷ 16 đến nay, Kinh thánh và tín lý Công giáo được giải thích tường tận và rành mạch qua một hệ thống vững chắc và chặt chẽ từ trung ương là Vatican do Giáo hoàng đứng đầu nên hầu như không có các dị giáo (cult) ly khai nữa. Tin lành cũng tách ra từ Công giáo từ thế kỷ 16 nhưng lại không có người lãnh đạo từ trung ương nên mỗi người giải thích Kinh thánh theo ý của mình. Kết quả là qua hơn 4 thế kỷ, Tin lành có hơn 5000 giáo phái khác nhau, (http://www.biblicalcatholic.com/DENOMS.php).

Và kinh Koran của Hồi giáo cũng rơi vào trường hợp như Tin-lành, nghĩa là không có hệ thống chặt chẽ bắt nguồn từ trung ương nên tín lý được giải thích một cách tùy tiện, nhằm phục vụ lợi ích riêng tư của các giáo sĩ bảo thủ, ngay cả lợi ích cho một thể chế chính trị cực đoan. Hai vấn đề bàn cãi nhiều nhất là “thánh chiến, jihad” và “tà đạo, bất tín, infidel”.

Chiến tranh (al-harbu,) và được lập lại 36 lần trong kinh Koran, và “jihad” được lập lại 41 lần. Jihad thật sự không hẳn là “thánh chiến, holy war,” nhưng có nghĩa là “đấu tranh, dấn thân.” Chữ “jihad” đôi khi được hiểu là một sự chiến đấu nội tâm để vượt qua một cơn cám dỗ nào đó. Nghĩa mạnh hơn, “jihad” là đấu tranh để đạt được một mục đích nào đó. Nhưng phương tiện không nhất thiết phải là gây chiến tranh nhưng dùng bất cứ phương cách nào khả dĩ để đạt được mục đích. Nhưng các đạo sĩ Hồi cực đoan lại giải thích “jihad” là phải dùng bạo lực, khích động tín đồ gây chiến tranh bằng cách dùng gươm dáo, gài bom tự sát để giết hết những kẻ tà đạo.

Kẻ tà đạo (kuffar,) chỉ những người không chấp nhận đạo Hồi. Kinh Koran nói rất nhiều về kẻ tà đạo với lời lẽ khích động, đầy bạo lực. Đó là những kẻ thù địch với Allah, và các thiên sứ Ga-bri-en, và Mi-ca-e (Koran 2:98); những kẻ từ chối sứ điệp của Muhammad và phải đối diện với Allah (Koran 6:31); những kẻ không tin vào đời sau (Koran 16:60); kể cả những kẻ đem Muhammad và đạo Hồi ra diễu cợt (Koran 5:58). Tín đồ Hồi giáo có nhiệm vụ phải chống lại những kẻ tà đạo này, đặc biệt “nhóm dân của Kinh thánh” chỉ Do thái giáo và Thiên Chúa giáo (Koran 4:89, 2:191, 9:5).

Không soi mói, cứ dễ dãi mà đếm thì có hơn 100 câu kinh Koran kêu gọi tín đồ Hồi phải lấy danh nghĩa của Allah, dùng vũ khí để chống lại những kẻ tà đạo. Xin đan cử vài câu chất chứa đầy bạo lực sau đây:

– Hãy giết chúng bất cứ nơi nào các ngươi bắt được chúng… và tiếp tục chiến đấu cho đến khi không còn một kẻ bất tin nào và chúng chỉ tôn thờ Allah mà thôi, (Koran 2:191-193)

– Nếu chúng quay lưng đi, bất cứ nơi nào tìm ra chúng, hãy bắt chúng lại và giết phứt đi, (Koran 4:89)

– Đập vào đầu và từng đầu ngón tay của chúng, (Koran 8:12)

– …hãy giết phứt các tín đồ đa thần giáo ở bất cứ nơi nào các ngươi gặp chúng, (Koran 9:5)

– Tín đồ đạo Do-thái nói Erza là Con Thiên Chúa, còn tín đồ Thiên Chúa giáo lại nói Messia là Con Thiên Chúa. Đây chỉ là lời lẽ đầu môi chót lưỡi mà bắt chước từ những lời lẽ của bọn tà đạo. Chớ gì Allah tiêu diệt chúng, (Koran 9:30)

– Allah đã chuộc lại mạng sống và tài sản của các tín đồ; bằng cách đổi lại cho họ Thiên đàng. Họ đã chiến đấu cho Allah, bởi thế họ đã giết (địch) và bị (địch) giết, (Koran 9:111)

– Allah yêu thương những kẻ chiến đấu cho chính nghĩa của Ngài… (Koran 61:4)

Các đạo sĩ Hồi cực đoan (fundamentalist, extremist, radical, bigot, fanatic) dùng những câu này để kêu gọi thánh chiến và giết chết bất cứ ai không theo đạo Hồi. Họ xâm nhập bộ máy nhà nước, nắm quyền lãnh đạo toàn dân và nhập nhằng trộn lẫn giữa thần quyền và thế quyền để phục vụ lợi ích cho chính họ, hoặc cho một nhóm thiểu số nào đó. Thần quyền đứng trên hẳn thế quyền. Nhóm đạo sĩ này dùng tôn giáo để phục vụ cho mục đích chính trị, duy trì một chế độ toàn trị, độc tài, và sắt máu. Nhìn chung, chính quyền Hồi cực đoan và nhà nước cộng sản rất giống nhau ở thể chế chính trị và cách sử dụng phương tiện để duy trì quyền lực. Những kẻ cộng sản nhân danh “một thế giới đại đồng tương lai” để giải thích cho sự tàn bạo trong công cuộc đấu tranh giai cấp (class struggle), còn những giáo sĩ Hồi lại dùng kinh Koran để biện minh cho sự cực đoan, cuồng tín, và độc ác. Cả hai cũng giống nhau ở điểm tận dụng bạo lực để giết hại dân lành. Chính vì nhà nước Hồi dùng tôn giáo để khuynh loát và lấn át chính trị nên hầu như nền kinh tế của những nước này èo uột, chậm phát triển, gây ra tình trạng nghèo đói và dốt nát. Và đây là vòng lẩn quẩn, chính mảnh đất phì nhiêu của nghèo đói và dốt nát lại giúp cho hạt giống Hồi cực đoạn và chủ nghĩa cộng sản nẩy mầm và phát triển. Kết quả là rất nhiều thanh niên thiếu nữ ít học bị tẩy não dễ dàng và sẵn sàng hy sinh cho Allah bằng cách dùng bom tự sát.

Từ đó nhân loại hứng chịu cảnh đau thương chết chóc do nạn khủng bố lan tràn khắp nơi.

Bắt đầu từ năm 1980, các vụ khủng bố leo thang dưới hình thức tự sát. Các cuộc khủng bố tự sát được khởi đầu từ năm 1982 với nhóm khủng bố Hamas và Herbollah ở Palestine và Lebanon nhằm chống lại Do-thái. Các phần tử tự sát thường được tuyển mộ trong số các thanh niên trẻ tuổi và nghèo khổ sống vất vưởng trong các trại tỵ nạn. Các thiếu nữ khủng bố tự sát đầu tiên, được tuyển mộ trong số các người Kurk ở Thổ nhĩ kỳ, trong những năm từ 1996-1999 và tại Palestine vào năm 2002. Theo thống kê mới nhất, tính từ ngày bọn khủng bố phóng máy bay làm sập Tháp Đôi 9/11, các tổ chức Hồi giáo cực đoan đã gây ra hơn 32 nghìn vụ khủng bố trên toàn thế giới.

Có nhiều tổ chức khủng bố, Hamas tại Palestine, Taliban tại Afghan, Al Shabaab tại Somali, Boko Haram tại Nigeria, Jabhat al-Nusra tại Syria… nhưng nổi bật nhất là Al-Qaeda của Osama bin Laden từ Trung đông, và nguy hiểm nhất hiện nay là ISIS (Islamic State of Iraq and Syria) tại Syria và Iraq do Abu al-Baghdadi cầm đầu. Baghdadi từng tốt nghiệp đại học Baghdad, từng là một giáo sĩ hô hào thánh chiến từ thời Saddam Hussein. Nhóm khủng bố ISIS chủ trương lấy sự tàn bạo làm gốc, và mức độ phải khốc liệt, rùng rợn, kinh hoàng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Sau khi bin Laden bị giết, ISIS nổi bật do sự tàn bạo và phương cách khủng bố tinh vi gây chết chóc thảm khốc nên dễ dàng thu hút giới trẻ Hồi vốn bị tẩy não và chuộng bạo lực đầu quân ngày càng đông. ISIS rất nguy hiểm vì ngoài việc gieo rắc chết chóc rùng rợn khắp thế giới như Al Qaeda, các lãnh tụ ISIS thiết lập nhà nước Hồi giáo sau khi đánh chiếm được đất đai. Họ muốn khôi phục lại đế quốc Ả-rập, gồm đất đai rộng lớn và đông đảo tín đồ Hồi, một thời bá chủ miền Trung đông, khiến các sắc dân quanh vùng phải khiếp sợ. Hiện nay, ISIS giành quyền kiểm soát tại Iraq và Syria trên một diện tích rộng bằng nước Anh với dân số trên 10 triệu người.

Tính đến năm 2015, với con số 1,7 tỷ tín đồ Hồi giáo, chỉ đứng sau Thiên Chúa giáo với 2,3 tỷ, số dân Hồi nhiễm tư tưởng cực đoan ngày càng nhiều, gây không biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho nhân loại. Bà Brigette Gabriel – nhà báo bảo thủ gốc Lebanon, nhà hoạt động chống Hồi – đưa ra một hình ảnh khủng khiếp thật xác đáng như sau.

Năm 2014, trong một cuộc họp báo, bà Gabriel trả lời câu hỏi của Saba Ahmed, một nữ sinh viên luật thuộc American University, cho rằng “đại đa số người Hồi giáo yêu chuộng hòa bình, nhưng thế giới ngày nay lại xem đạo Hồi là biểu tượng của xấu xa, của khủng bố…” Bà Gabriel nhận định, “hiện nay có 1,2 tỷ (con số này không đúng, ít nhất là 1,7 tỷ, chú thích của người viết) người Hồi giáo trên thế giới. Tất nhiên không phải tất cả 1,2 tỷ người đều là cực đoan mà ngược lại, đa số họ là những người yêu chuộng hòa bình, giống như nhận xét của cô. Theo tin tình báo của các nước lớn thì những người Hồi giáo cực đoan chỉ chiếm khoảng 15-25%. Điều đó có nghĩa khoảng 75% là những người ôn hòa. Nhưng nếu lấy tỷ lệ 15-25% của dân số Hồi giáo thì chúng ta thấy ngay có khoảng 180 đến 300 triệu kẻ cực đoan đang muốn hủy diệt nền văn minh phương Tây. Tại sao chúng ta phải lo lắng về sự cực đoan của 15-25%này? Thưa, tại vì họ giết người rất dã man. Họ chặt đầu và thảm sát thường dân vô tội hàng loạt. Bà nói thêm, “Lịch sử cho ta thấy những kẻ cực đoan nguy hiểm đến thế nào. Và chỉ cần một tỷ lệ nhỏ thôi, đủ để gây thảm họa. Hầu hết dân Đức đều chuộng hòa bình. Nhưng chỉ cần một nhóm Đức quốc xã nắm quyền là đủ đưa nước Đức và thế giới trở nên hoang tàn. Kết quả là 60 triệu người chết, gần 14 triệu người trong các trại tập trung, gồm 6 triệu người Do Thái. Như thế, hầu hết dân Đức yêu chuộng hòa bình chẳng là gì cả. Nhìn vào nước Nga, đa số dân Nga cũng chất phác, hiền hòa. Tuy nhiên, một nhóm cộng sản Nga lại giết chết 20 triệu người. Riêng Trung hoa thì thương tâm hơn. Hầu hết dân Trung hoa chỉ muốn sống hòa bình. Tuy vậy, cộng sản Trung hoa đã giết 70 triệu người. Hầu hết người Nhật trước Thế chiến II cũng hiếu hòa. Thế mà đám quân phiệt Nhật hoành hành khắp Đông Nam Á, giết chết 12 triệu người, chỉ bằng lưỡi lê và xẻng. Trên đất Hoa kỳ, vào thời điểm ngày 11 tháng 9, có 2,3 triệu người Hồi giáo Ả-rập yêu chuộng hòa bình. Nhưng chỉ cần 19 tên không tặc đủ gây thảm họa – phá hủy Tháp Đôi, tấn công Ngũ Giác Đài và giết chết gần 3.000 người Mỹ ngày hôm đó. Trong 2,3 triệu người yêu chuộng hòa bình, chỉ cần 19 người cực đoan đủ gây kinh hoàng cho cả nước Hoa kỳ. Tỷ lệ là bao nhiêu? Thưa chưa đến 2 phần trăm nghìn, chứ đừng nói 15 đến 25 phần trăm.”

Không ai quên được cảnh nhà báo James Foley bị xử trảm dã man được thâu hình trọn vẹn và đưa lên Youtube. Một cảnh kinh hoàng khác, bọn ISIS dẫn 30 người Iraq gồm đàn ông, phụ nữ, và trẻ con ra một cánh đồng gần ngôi làng bỏ hoang. Họ là những tín hữu không chịu bỏ Kitô giáo theo đạo Hồi. Một phụ nữ, không quá 40 tuổi, bị kéo đến trước ống kính. Gương mặt thất thần và đôi mắt tuyệt vọng nhìn bọn ISIS đang hò hét, “Allahu Akhbar! Allah vĩ đại!” như một bản đồng ca. Và chúng cắt đứt đầu phụ nữ này. Chúng không dùng gươm sắc, hoặc mã tấu, nhưng lại dùng một lưỡi dao ngắn cầm tay. Dĩ nhiên chúng phải cứa đi cứa lại nhiều lần đầu mới lìa khỏi cổ. Máu phun ra xối xả vì cắt phải động mạch. Một cái chết tệ hơn cái chết của con vật. Người phụ nữ chết trong đau đớn cùng cực vì không chịu cải đạo. Bọn ISIS giết “kẻ tà đạo” theo đúng lời kinh Koran, và sự khích động của đám đạo sĩ Hồi cực đoan. Nhưng dã man nhất vẫn là cảnh thiêu sống viên phi công người Jordan, Muath al-Kasasbeh. Trong một phi vụ bỏ bom tiêu diệt quân ISIS trên không phận Syria vào cuối năm 2014, al-Kasasbeh phải nhảy dù khỏi máy bay vì động cơ bị trục trặc. Muath bị bắt. Hơn tháng sau, bọn ISIS nhốt al-Kasasbeh trong cũi, tẩm xăng và thiêu sống. Dĩ nhiên, luôn luôn có tiếng hét, “Allah vĩ đại!” mỗi khi kết thúc cảnh giết người rùng rợn.

Bọn khủng bố ISIS tìm đủ mọi cách để giết hại dân lành, những kẻ chúng xem là “tà đạo.” Cách mới nhất là thuê xe tải rồi đâm vào đám đông.

– Tháng 7/2016, tại thành phố Nice, nước Pháp, Mohamed Bouhlel đâm chiếc xe vận tải nặng 19 tấn vào đám đông, giết chết 86 người,

– Tháng 12/2016, tại trung tâm thành phố Bá-linh, Anis Amri cũng đâm xe tải giết chết 12 người,

– Tháng 3/2017, tại Luân-đôn, trên cầu Westminster, Khalid Masood ủi xe vận tải hiệu Hyundai i40 giết 5 người,

– Tháng 4/2017, một tên Hồi giáo vô danh đâm xe vận tải vào tiệm Ahlens tại trung tâm thành phố Stockholm, giết ít nhất 3 người,

– Tháng 6/2017, trên cầu Luân-đôn, 3 tên khủng bố Hồi đâm xe tải vào đám đông, và dùng dao đâm khách bộ hành quanh khu chợ Borough, giết chết 8 người,

– Tháng 8/2017, tại Barcelona, Tây-ban-nha, bọn khủng bố Hồi đâm xe van vào khu chợ đêm, giết chết ít nhất 15 người,

– Và mới nhất, ngày 31/10/2017, tại khu vực Manhattan, Hoa kỳ, Sayfullo Saipov, thanh niên Uzbekistan 29 tuổi, thuê xe tải đâm vào làn xe dành cho người chạy xe đạp, giết chết 8 người.

Tại sao quân khủng bố Hồi lại xem thường cái chết, liều mình tử đạo dễ dàng đến thế? Câu trả lời đích xác là nhờ đức tin. Niềm tin luôn tăng thêm sức mạnh cho tín đồ, vượt qua những đau đớn về thân xác hoặc đau khổ về tinh thần. Khi hun đúc được một niềm tin mãnh liệt, họ sẵn sàng chết vì đạo. Nhưng không có một tôn giáo nào dạy tín đồ khi tử đạo phải giết theo thật nhiều người khác như Hồi giáo. Đã có hàng triệu tín đồ Thiên Chúa giáo đã chết vì đạo vì họ chỉ muốn giữ đức tin, chứ chưa hề mang gậy gộc hoặc gươm giáo giết người chỉ vì đức tin của người ta khác của họ. Họ đồng ý nhận cái chết để giữ trọn niềm tin, nhưng không hề giết người và xem đó là tử đạo. Nhưng niềm tin cũng chỉ là lý do phụ. Lý do chính đáng khiến quân khủng bố giết người không gớm tay chính là phần thưởng thiên đàng. Theo lời xúi dục của đám đạo sĩ cực đoan về một thiên đàng đầy vật chất hưởng thụ, quân khủng bố sẵn sàng chết và giết thật nhiều bọn “tà đạo” để về với Allah. Và đây là thiên đàng của Hồi giáo.

Hầu hết chương 55 của kinh Koran – từ câu 47 đến 79 – dùng để mô tả một thiên đàng của Hồi giáo cực kỳ nóng bỏng và quyến rũ, nơi có những vườn cây trái xum xuê ngon ngọt, tàn cây tỏa rộng, hai dòng sông nước trong vắt, đầy sữa và rượu nho. Đặc biệt thiên đàng của Hồi Giáo “…có những tiên nữ trinh trắng với đôi mắt thẹn thùng, chưa ai chạm đến thân thể, đẹp tựa hồng ngọc hay ngọc trai, nằm cấm cung trong các căn lều…” (Koran 55:47-59). Một khu vườn khác cũng đầy lạc thú: “…vườn rợp bóng cây xanh, và con suối chảy róc rách, cây kè và cây lựu nặng trĩu trái, nơi đó sẽ có những trinh nữ xinh đẹp và hiền hậu, những mỹ nhân với đôi mắt to lóng lánh, ẩn hiện bên trong lâu đài mà trước nay nhân gian chưa hề ai đụng đến, ngồi dựa lưng vào những chiếc gối mầu xanh trên những tấm thảm mỹ lệ.” (Koran 55:63-77). Không có một tôn giáo nào mô tả thiên đàng trần tục và hấp dẫn như Hồi Giáo. Thiên đàng là khu vườn đầy lạc thú vật chất, và những khoái lạc nhục dục tuyệt đỉnh với những cô gái đẹp tuyệt trần trẻ mãi không già. Người ta gọi thiên đàng của Hồi Giáo là phần thưởng của hoan lạc. Hầu hết các thanh niên Hồi Giáo bị tẩy não và trở nên cuồng tín, đều háo hức lên thiên đàng để được gần gũi với các trinh nữ. Riêng những đạo sĩ Hồi cực đoan, họ nhân con số lên gấp bội để dụ dỗ đám thanh niên Hồi: 72 trinh nữ. Những thanh niên nghèo đói và thất học dễ dàng bị tẩy não qua viễn ảnh hưởng thụ ái ân với 72 trinh nữ nên họ sẵn sàng chết, sẵn sàng tử đạo, sẵn sàng “làm việc phải” là phải giết thật nhiều những kẻ “tà đạo.” Con đường ngắn nhất để lên Thiên đàng hưởng lạc thú là sẵn sàng tử đạo qua các cuộc thánh chiến như kinh Koran đã hứa: “…họ được ân thưởng và đang sống bên cạnh Allah.” (Koran, 3:169)

Với phần thưởng thiên đàng hấp dẫn vượt quá sức tưởng tượng của con người, số thanh niên cực đoan sẵn sàng tử đạo ngày càng đông và nhân loại hầu như ngã quỵ trước mức độ sát nhân khủng khiếp của đám quân Hồi khủng bố.

Và hiện tượng Fatima như một phương cách thần thánh được Thiên Chúa xếp đặt từ thế kỷ 12 để cứu nhân loại khỏi ách khủng bố Hồi giáo ở thế kỷ 21. Đúng ra câu chuyện xảy ra vào ngày 24/6/1158, ngày mừng sinh nhật của Thánh Gioan Tiền hô. Và câu chuyện bắt đầu bằng một âm mưu bắt cóc và kết thúc bằng một cuộc tình khá lãng mạn.

  1. LÒNG SÙNG KÍNH MẸ MARIA TRONG HỒI GIÁO

Nhưng trước hết, hãy tìm hiểu vai trò và địa vị của Mẹ Maria đối với Hồi giáo. Theo kinh Koran, tên của Đức Trinh Nữ Maria (Maryam) được nhắc đến 38 lần. Không có tên của người phụ nữ nào khác được đề cập đến, ngay cả tên con gái út được yêu thương nhất của Mohammed là Fatimah. Trong số những người đàn ông, chỉ có Áp-bra-ham, Môi-sen và No-e mới được nhắc tới nhiều lần hơn Đức Mẹ. Kinh Koran miêu tả Đức Mẹ Maria là “Đồng Trinh, trọn đời Đồng Trinh.” Koran còn nhắc đến sự kiện Truyền Tin, lần Đức Mẹ đi thăm bà thánh I-sa-ve, và cảnh Đức Mẹ sinh Chúa Hài đồng trong máng cỏ. Hỡi Maria, Thiên Chúa đã chọn ngươi và rửa tội cho ngươi trở nên tinh tuyền, Ngài đã chọn và đặt ngươi lên trên tất cả các phụ nữ ở thế gian này (Koran 3:43). Niềm tin Hồi giáo về sự trinh khiết của Đức Maria ngược hẳn với tín lý Tin lành, khi họ phủ nhận sự trinh khiết trọn vẹn của Đức Maria. Đây là mối liên hệ rất đặc biệt giữa Đức Trinh Nữ Maria và người Hồi giáo. Và câu chuyện người con gái của Imran là Maria, nàng đã giữ lòng trinh bạch; Ta đã thổi hơi Thánh Linh vào đó, và nàng đã đem thân mình làm trọn lời Chúa phán trong Kinh thánh, nàng là người biết phục tùng, (Koran 66:12). Người Hồi biết cha của Đức Giêsu là Giuse, nhưng không bao giờ gọi ‘Giêsu, con của Giuse,’ mà là ‘Giêsu, con của Maria.’ Điều này trái với truyền thống Hồi, phải gọi là con của người cha, vì phụ nữ chỉ đóng vai trò thứ yếu trong xã hội. Ta đã ban cho Giêsu, con trai của Maria, những bằng chứng rõ rệt và luyện Người thêm cứng cỏi bằng Thánh linh.” (Koran 2:87). Điều này chứng tỏ Hồi giáo tin Đức Giêsu đầu thai trong cung lòng Mẹ Maria bởi phép Chúa Thánh thần, chứ không phải bởi thánh Giuse theo lối thường tình.

Linh mục dòng Tên Samir Khalil Samir, một học giả uyên bác về Hồi giáo, nhận xét: “tại Ai-cập, dọc theo lộ trình thánh Giuse dẫn Mẹ Maria và Hài đồng Giêsu trốn sang Ai-cập hơn 2000 năm trước người ta lập rất nhiều địa điểm hành hương. Hằng năm cứ đến lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ít nhất khoảng 1 triệu người Hồi hành hương khắp các đền kính Đức Mẹ.” Không những tại Ai-cập, mà còn tại Fatima, Harissa, Damascus, Samalut, Assiut, Zeitun và nhiều địa danh khác, hễ có bóng dáng Đức Trinh Nữ Maria xuất hiện là lập tức trở thành địa điểm hành hương liên tục của phụ nữ Hồi xuất phát từ Lebanon, Syria, Ai-cập, và Iran. Khách hành hương mong mỏi Mẹ Maria chữa lành về vật chất cũng như tinh thần. Họ cầu nguyện bột phát theo ý riêng mỗi người chứ không ê a đọc thuộc lòng các câu kinh như trong các buổi cầu nguyện theo truyền thống Hồi. Quân khủng bố Salafist luôn tìm cách tàn phá các địa điểm hành hương nhưng lòng sùng kính Đức Mẹ của dân Hồi vẫn trọn vẹn và ngày càng phát triển.

 

Không những thế, những gì liên quan đến Trinh nữ Maria đều được người Hồi giáo rất mực tôn kính, theo khảo cứu của linh mục Ladis J. Cizik, Giám đốc Đạo Binh Xanh. Ngài đan cử một vài trường hợp sau.

Đất Thánh Giêrusalem là bãi chiến trường giao tranh giữa Hồi giáo và Kitô giáo qua nhiều thế kỷ. Bằng chứng về điều này là rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được Giáo hội xây dựng, bị người Hồi giáo phá hủy, được Thập tự quân (Crusaders) xây dựng lại, rồi cũng bị tín đồ Hồi giáo san bằng, cứ liên tiếp như thế trong suốt lịch sử giao tranh giữa 2 tôn giáo. Tuy nhiên, có một ngoại lệ đáng chú ý: Nhà thờ Thánh Anna nằm ngay cổng Sư tử của đền thánh Giêrusalem.

Thập tự quân xây dựng nhà thờ này để tôn vinh người mẹ của Đức Trinh Nữ Maria là bà thánh Anna. Trong căn hầm của nhà thờ Thánh Anna, một bức tượng bé gái Maria được trang trọng đặt trên một khoảnh đất mà tín hữu cho là đúng căn nhà nơi Đức Mẹ sinh ra. Năm 1187, Saladin – vị tướng Hồi lừng danh từng đánh bại Thập tự quân, chiếm giữ Giêrusalem và ra lệnh san bằng tất cả các ngôi thánh đường, nhà thờ và nhà nguyện Công giáo nhưng ông chỉ giữ lại ngôi thánh đường này vì nó mang tên Anna, mẹ của Đức Trinh nữ Maria. Ông biến thành Học viện Thần học Hồi (1192) mà ngày nay vẫn còn thấy hàng chữ Ả-rập khắc trên vòm cửa thánh đường.

Ngay cái tên Guadalupe là tước hiệu Đức Mẹ dùng khi hiện ra với Juan Diego, thổ dân Aztec, tại Mễ-tây-cơ năm 1531 có một liên quan kỳ thú giữa đế quốc Tây-ban-nha và Hồi giáo. Theo truyền thuyết, thánh sử Luca có tài điêu khắc và hội họa. Ngài đẽo khắc một bức tượng Đức Mẹ bằng gỗ, một tay bồng Chúa Hài đồng, tay kia cầm vương trượng tượng trưng uy quyền của Mẹ Thiên Chúa. Cũng theo truyền thuyết, Đức Giáo hoàng Gregory Cả (590-604) làm phép và tặng cho Đức Giám mục Leander địa phận Seville. Năm 711, quân Hồi Moors từ Bắc Phi băng qua eo biển Gibraltar xâm lăng Tây-ban-nha và các giáo hữu gom góp những vật thánh đem chôn dấu ở dãy núi Estremadura, kể cả bức tượng gỗ Đức Mẹ, luôn cả chứng từ kể rõ gốc gác. Quân Moors chiếm đóng, lập vương quốc Umayyad và trị vì bán đảo Iberia (Tây-ban-nha & Bồ-đào-nha) suốt 8 thế kỷ. Thật sự, quân Hồi suy yếu dần bắt đầu từ năm 1130, và kéo dài mãi đến năm 1492 mới hoàn toàn bị đánh bật ra khỏi Tây-ban-nha. Suốt hơn 7 thế kỷ, chẳng ai biết bức tượng gỗ lưu lạc ở đâu và hầu như rơi vào quên lãng. Theo truyền thuyết, năm 1326, Gil Cordero – một kẻ chăn chiên – sục sọi vùng núi Estremadura để tìm con bò đi lạc và thị kiến Đức Mẹ hiện ra chỉ địa điểm chôn dấu. Cordero thuyết phục các chức sắc giáo hội địa phương đào xới và tìm thấy một cửa hang. Sâu trong hang động người ta tìm thấy một hòm sắt và bức tượng gỗ trong tình trạng còn nguyên vẹn, kể cả giấy tờ nói rõ lai lịch. Vua Alphonso XI xây một nhà nguyện gần hang và đặt bức tượng làm đền thờ tôn kính Mẹ Maria. Ngôi nhà nguyện và bức tượng gỗ được gọi là Guadalupe, đặt theo tên một con sông gần đó. Nghĩa nguyên thủy của Guadalupe bắt nguồn từ nhiều thế kỷ trước, khi quân Moors còn chiếm đóng Tây-ban-nha. Vua Hồi gọi con sông là Guadalupe kết hợp giữa “guada” biến thể từ chữ Ả-rập “wadi” nghĩa là con sông hoặc thung lũng; và “lupe” biến thể từ gốc La-tinh “lupus” nghĩa là chó sói. Gộp hai chữ lại, Guadalupe nghĩa là “Con Sông của Chó Sói,” mà các nhà nghiên cứu tin rằng thời đó chó sói thường xuất hiện dọc con sông nên vua Hồi mới đặt tên con sông như thế.

Cái tên Guadalupe theo các nhà truyền giáo Tây-ban-nha đến Mễ-tây-cơ, thời thổ dân Aztec. Đức Mẹ hiện ra với thổ dân Juan Diego năm 1531. Khi được hỏi tên, Mẹ thổ lộ theo thổ ngữ Nahuatl của Aztec, “te coatlaxopeuh” (phát âm: “te quatlasupe”) nghĩa là “người đạp lên đầu con rắn.” Thời đó, thổ dân Aztec thờ thần rắn nằm uốn mình trên hình trăng lưỡi liềm, với tập tục giết người bằng cách moi tim để hiến tế thần rắn trong các dịp hội hè, cầu được mùa màng, cầu thoát thiên tai (nên xem 2 cuốn phim nói về thời truyền giáo và tục giết người tế thần, The Mission và Apocalypto.) Khi Diego nói tên “te quatlasupe” cho Giám mục Zumarraga, nghe hao hao như Guadalupe ở quê nhà và ngài đặt làm tước hiệu cho sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại Mễ-tây-cơ: Đức Mẹ Guadalupe. Thật kỳ diệu, “te quatlasupe” như một lầm lẫn được xếp đặt theo thiên ý, vì qua cái tên, Mẹ muốn thổ dân Aztec bỏ thần rắn để thờ phượng Thiên Chúa. Đồng thời hình trăng lưỡi liềm cũng là biểu tượng của Hồi giáo, nên khi đạp lên đầu con rắn và trăng lưỡi liềm, Mẹ cũng muốn dân Hồi bỏ biểu tượng của dị giáo và nhận biết Thiên Chúa như thổ dân Aztec cách đây gần 5 thế kỷ. Và cái tên tiền định Guadalupe mang gốc gác Hồi Ả-rập cũng là một điều kỳ diệu nữa qua sự xếp đặt tài tình của Thiên Chúa.

Nhưng cái tên Fatima mới là điều lạ lùng nhất.

Muhammad có 4 người con gái với bà Khadijah. Cô gái út, Fatimah (609-632) xinh đẹp nhất và được cha yêu thương nhất. Sau khi chết, Fatimah trở thành biểu tượng của phụ nữ Hồi với những đức tính như vị tha, rộng lượng, kiên nhẫn, yêu thương chồng con. Muhammad có lần nói, “Fatimah là người được chúc phúc nhất trong tất cả phụ nữ ở thiên đàng, chỉ sau Maria.” Mộ của Fatimah nay thuộc thành phố Qum, Iran là thánh địa quan trọng của hệ phái Shia. Và Fatimah là tên được ưa chuộng nhất đặt cho các bé gái trong thế giới Hồi giáo.

Và cái tên Fatimah lưu lạc đến Bồ-đào-nha. Đó là tên của một ngôi làng nhỏ nằm trên thảo nguyên Cova de Iria, nơi Đức Mẹ hiện ra năm 1917 với tước hiệu Đức Mẹ Mân Côi, hay còn gọi là Đức Mẹ Fatima.

Giấc mơ của José Saramago – nhà văn Bồ, đoạt giải Nobel Văn chương 1998 – là ngao du khắp đất Bồ để viết lại lịch sử của quê hương dưới một góc cạnh mới lạ như kể chuyện hơn là những bài học từ chương. Saramago vượt núi, băng rừng, sải bước qua những đồng bằng và góp nhặt những chuyện kể trong dân gian từ lúc đế quốc La mã tiến quân vào vùng bán đảo Iberia cho đến thời cận đại. Ông bắt đầu khăn gói lên đường năm 1979, rồi bỏ ròng rã hơn 6 tháng viết và xuất bản cuốn, “In Pursuit of Portugal’s History and Culture” năm 1981. Trong đó, ông kể lại một câu chuyện tình rất thú vị.

Tariq ibn Ziyad thống lãnh quân Hồi Moors từ Bắc Phi tràn sang bán đảo Iberia và đặt nền móng cai trị vùng đất này suốt 8 thế kỷ (711-1492). Tuy vậy, người Hồi ở Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha chung sống hòa bình với Kitô hữu, và người Do-thái tạo thành một nền văn minh khá đặc sắc, kết hợp hài hòa giữa 3 tôn giáo. Vương quốc Umayyad cho phép mọi người tự do giữ đạo theo niềm tin miễn đóng thuế đầy đủ cho vua Hồi. Tuy vậy, sau vài thế kỷ giáo dân Kitô tổ chức thành từng nhóm nhỏ để đánh đuổi quân Moors, bắt đầu thời kỳ Reconquista; nghĩa là “tái chiếm,” chiếm lại đất đai đã mất vào tay quân Hồi từ thế kỷ 8. Kể từ thế kỷ 12, vương quốc Hồi bắt đầu suy yếu và dân Bồ dần dần đẩy lui quân Moors ra khỏi đất nước.

Ngày 24/6/1158, đúng vào ngày sinh nhật của thánh Gioan Tiền hô, một nhóm hiệp sĩ Kitô dẫn đầu bởi Don Gonçalo Hermigues – một chàng trai khôi ngô và khỏe mạnh –  thình lình tập kích đám quân Hồi tại Alcácer do Sal, một thành phố miền nam, và bắt cóc cô con gái của một hoàng thân Hồi có thế lực. Trên đường rút lui, nét duyên dáng và sắc đẹp của cô công chúa Hồi khiến chàng hiệp sĩ ngây ngất. Trong nhiều ngày chèo thuyền rong ruổi trên sông Sado về Santarem diện kiến vua Bồ, cô gái bị tiếng sét ái tình và cũng đem lòng yêu Gonçalo Hermigues. Trước bệ rồng vua Alphonso Henriques, chàng xin cưới cô công chúa Hồi. Nhà vua đồng ý với 2 điều kiện, (1) cô gái phải đồng ý lấy Gonçalo, và (2) cô gái chịu rửa tội trở thành Kitô hữu. Vì yêu, cô gái chấp nhận cả 2 điều kiện.

Cô công chúa Hồi tên là Fátima. Trùng với tên cô gái út xinh đẹp của giáo chủ Muhammad.

Quà cưới của nhà vua ban cho đôi trẻ là ngôi làng Abdegas. Tên rửa tội của nàng là Oureana. Người ta quên tên nàng là Fatima nhưng gọi là Oureana, vì theo truyền thống tên rửa tội cũng là tên gọi. Lâu dần ngôi làng Abdegas biến đổi thành Ourém, biến dạng từ Oureana, lấy theo tên rửa tội của cô gái Hồi, và tồn tại mãi đến ngày nay. Nhưng duyên phận chẳng bền, vì chẳng bao lâu sau Oureana chết yểu. Chẳng ai nói nàng chết vì bệnh hay bị tai nạn. Người ta chỉ biết nàng chết rất trẻ, khi tình yêu vợ chồng còn nồng cháy. Quá đau khổ, Gonçalo xin vào dòng khổ tu Xitô, và dời mộ của nàng đem về chôn ở ngọn đồi gần tu viện, cách Oureana khoảng 11km. Gonçalo cho xây một nhà nguyện nhỏ để tưởng niệm và đặt tên là Fatima, tên cúng cơm gốc Hồi của nàng. Lâu dần, dân chúng tụ tập thành làng xóm quanh ngọn đồi sinh sống. Lịch sử ghi lại, người ta gọi ngôi làng này là Fatima từ năm 1188 và cái tên tồn tại mãi đến bây giờ. Ourém bắt đầu bằng một chuyện tình diễm lệ, và Fatima kết thúc cuộc tình qua cái chết của cô công chúa Hồi.

Nhưng Fatima lại hồi sinh vì Đức Mẹ đã chọn vùng đất Fatima để hiện ra và rao truyền sứ điệp vào năm 1917, sau hơn 7 thế kỷ cái tên nằm yên trong lịch sử.

Câu chuyện tình nồng nàn của chàng hiệp sĩ Gonçalo Hermigues và nàng công chúa Fátima được ghi lại qua nhiều khảo cứu văn hóa Bồ. Một chuyện tình đẹp như cổ tích, nhuốm ngang trái vì sự thù nghịch giữa hai sắc tộc, vì sự khác biệt tôn giáo. Tình yêu, một lần nữa, thật kỳ diệu. Nó vượt qua mọi chướng ngại thường tình để Fatima được rửa tội làm con Chúa, để chuyện tình lãng mạn lưu truyền mãi ngàn sau. Câu chuyện tình được viết thành văn xuôi, được soạn thành vở kịch và lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Chính tình yêu trái ngang làm câu chuyện trở nên sống động, và bất tử. Thân xác của Gonçalo và Fatima đã tan thành cát bụi từ lâu, nhưng hình như tuổi đời của họ dừng lại ở thời điểm năm 1158, vì người ta chỉ nhớ đến cặp vợ chồng trẻ đang ngụp lặn trong hạnh phúc bỗng chia lìa vì Fatima chết sớm. Tình yêu của Mẹ Maria đối với nhân loại còn mãnh liệt hơn tình yêu của chàng hiệp sĩ và cô công chúa, nên Mẹ đã chọn Fatima, vùng đất mang tên Hồi. Sự chọn lựa vùng đất Fatima không phải ngẫu nhiên, nhưng là thiên ý đã được xếp đặt từ nhiều thế kỷ trước, mở cho nhân loại một lối thoát thần thánh. Khi chọn Fatima để hiện ra, Mẹ muốn nhắn gửi với nhân loại về 2 hiểm họa: Cộng sản và Hồi giáo. Lời hứa của Mẹ, “cuối cùng Trái Tim Mẹ sẽ thắng,” giúp chúng ta tin tưởng một ngày nào đó, qua Mẹ, dân Hồi sẽ cải đạo để trở thành Kitô hữu.

Thoạt nhìn, tín đồ Hồi cải đạo gần như là một điều không tưởng vì tín đồ Hồi đặt niềm tin mãnh liệt vào Allah, hầu như không hề suy suyển theo thời gian. Dưới nhãn quan của một tín đồ Hồi, chối bỏ Allah để cải đạo cũng giống như một giáo dân Công giáo bỏ đạo theo Do-thái giáo. Nhiều thế kỷ trước, nỗ lực truyền giáo của hai thánh Phanxicô Assisi và Y-nhã Loyola nhằm cảm hóa dân Hồi xem như thất bại. Riêng Đức Tổng Giám mục Sheen lại có một cái nhìn khác. Ngài tiên đoán vai trò quan trọng của Mẹ Maria trong việc cảm hóa tín đồ Hồi giáo. Qua sự tôn kính Mẹ Maria, tín dồ Hồi sẽ nhận biết Thiên Chúa. Ngài tin chắc rằng một ngày nào đó, Hồi giáo sẽ cải đạo, không phải do lối truyền giáo cố hữu là trực tiếp giới thiệu giáo lý Công giáo nhưng bằng cách mời gọi tín đồ Hồi đến với Mẹ Maria. Đặc biệt đối với hiện tượng Mẹ Fatima, ngài nói, “…điều này dẫn đến điểm thứ hai, đó là lý do tại sao Mẹ Maria, trong thế kỷ hai mươi này, đã tự mạc khải mình trong một ngôi làng nhỏ bé tại Fatima, để cho tất cả các thế hệ tương lai gọi là “Đức Mẹ Fatima”. Đây phải là một sự sắp xếp khéo léo của thiên ý, vì tôi tin rằng Đức Trinh Nữ chọn tên gọi “Đức Mẹ Fatima” như một lời cam kết và là dấu hiệu hy vọng cho người Hồi giáo, và như một sự bảo đảm rằng họ, những người rất tôn sùng Mẹ, một ngày nào đó sẽ chấp nhận Đức Giêsu, Con của Mẹ Maria.”

Cần nói thêm là Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen được Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI phong lên Bậc Đáng kính vào ngày 28/6/2012, và một tiến trình phong thánh đang được tiến hành. Một cáo thỉnh viên (postulator) của ủy ban phong thánh, linh mục Andrew Apostoli nhận xét, “Đức Tổng Giám mục Sheen …nhìn thấy ý nghĩa đặc biệt về sự chọn lựa của Đức Mẹ khi hiện ra tại Fatima. Mẹ từ trời xuống đến với nhân loại tại một vùng quê mang tên Hồi không chỉ giúp nước Nga trở lại mà thôi nhưng sẽ giúp tín đồ đạo Hồi biết đến Đức Giêsu, Con Thiên Chúa và là Con Mẹ… trừ phi hàng trăm triệu tín đồ Hồi trở lại, thế giới sẽ chẳng bao giờ có hòa bình.”

Với quân khủng bố cực đoan ngày càng đông, sẵn sàng tử đạo để nhận phần thưởng thiên đàng, thế giới sẽ còn khốn đốn và con người sẽ phải chịu nhiều đau khổ như đã từng chịu trong thế kỷ 20 dưới ách cộng sản. Một lần nữa, lời nhắn nhủ của Đức Trinh Nữ Maria tại Fatima với các Kitô hữu phải luôn cầu nguyện cho hòa bình thế giới càng mang một ý nghĩa bức thiết hơn bao giờ. Trong thời đại khi bạo lực thường xuyên xảy ra dưới danh nghĩa Allah, chúng ta nên chạy đến với Mẹ Fátima. Vẫn tiếp tục tìm kiếm và xây dựng hòa bình nhưng nhờ Mẹ làm cây cầu thân thiện nối liền người Hồi giáo và Kitô hữu, và cũng cầu xin Mẹ chấm dứt hận thù – mối hận thù tưởng tượng do bọn Hồi cực đoan tạo ra –  đã gây quá nhiều đau thương cho nhân loại.

Viễn ảnh tươi sáng của một cuộc đối thoại thiêng liêng – qua Mẹ Maria – giữa Kitô hữu và người Hồi giáo mang lại nhiều hy vọng hơn là một cuộc đối thoại về văn hoá, thần học hoặc chính trị. Nhờ Mẹ Fatima, và qua Mẹ Fatima chúng ta có quyền hy vọng ngày đó sẽ đến, mang lại một nền hòa bình đích thực cho thế giới, một thế giới hết hận thù, mọi người sống bình đẳng, và được hưởng tự do trong tình yêu thương của Thiên Chúa.

  1. NIỀM HY VỌNG QUA HIỆN TƯỢNG FATIMA

Chủ nghĩa vô thần làm mưa gió suốt thế kỷ 20. Marx cổ võ một xã hội không cần tôn giáo, một cuộc sống không cần Thiên Chúa. Chủ nghĩa cộng sản lấy vô thần làm chính sách và áp đặt lên người dân buộc phải chối đạo. Với chính sách vô thần, cộng sản chủ trương tiêu diệt tất cả mọi tôn giáo, nhưng cộng sản ghét nhất Thiên Chúa giáo, và luôn đặt Thiên Chúa giáo là mục tiêu hủy diệt lên hàng đầu. Họ bắt bớ, trù dập giáo dân tàn nhẫn. Hồi giáo cũng thế, tín đồ Hồi ghét nhất Thiên Chúa giáo, với tên gọi “Nhóm Dân của Thánh Kinh.” Suốt thế kỷ 20 và kéo dài mãi đến bây giờ, trong chế độ cộng sản và chế độ cộng sản biến thái, giáo dân Thiên Chúa giáo, đặc biệt Công giáo, bị bách hại nặng nề. Giáo hội Công giáo đã trở thành giáo hội thầm lặng để sinh tồn, và giữ vững niềm tin qua suốt bao nhiêu năm. Tại các nước Hồi giáo, giáo dân Công giáo cũng bị hành hạ dã man. Từ đầu thế kỷ 21, tín đồ Hồi cực đoan giết hại “Nhóm Dân của Thánh Kinh” công khai, bằng mọi cách ghê tởm nhất, rùng rợn nhất, gây nỗi khiếp sợ lan rộng khắp nơi. Cả hai chủ nghĩa – cộng sản và Hồi giáo – đều xem Thiên Chúa giáo là kẻ thù nguy hiểm nhất và cần phải bị khống chế và tiêu diệt bằng bất cứ giá nào.

Open Doors là một hiệp hội vô vụ lợi được thành lập năm 1955 nhằm lên tiếng bênh vực và bảo vệ giáo dân Thiên Chúa giáo bị bách hại khắp nơi trên thế giới. Hằng năm, sau khi theo dõi và điều tra, hội đưa ra một danh sách – gọi là World Watch List – gồm các nước đàn áp tôn giáo và bách hại giáo dân. Năm 2017, 20 nước đứng đầu danh sách đen gồm có: Bắc Hàn, Somalia, Afghan, Pakistan, Sudan, Syria, Iraq, Iran, Yemen, Eritrea, Libya, Nigeria, Maldives, Saudi Arabia, Ấn-độ, Uzbekistan, Vietnam, Kenya, Turkmenistan, Qatar. ( https://www.opendoorsusa.org/christian-persecution/world-watch-list/ ). Trừ Bắc Hàn là một nước cộng sản chính thống, Việtnam là một nước cộng sản biến dạng, và Ấn-độ là một nước dân chủ, còn lại 17 nước kia là Hồi giáo.

Việc thánh hiến dâng nước Nga lên cho Mẹ Maria được hoàn tất năm 1984 và chủ nghĩa cộng sản chính thức cáo chung năm 1991 nhưng trên thực tế chủ thuyết vô thần vẫn còn hoành hành dưới những hình thức tinh tế hơn, khôn khéo hơn. Những quốc gia còn duy trì chủ nghĩa cộng sản như Bắc Hàn và Cuba với chính sách tiêu diệt tôn giáo cố hữu là điều dễ hiểu nhưng các nước áp dụng một loại chủ nghĩa cộng sản biến dạng để duy trì chế độ độc tài đảng trị như Trung hoa, Việt Nam, Lào thì sự bách hại các giáo dân vẫn còn, và thường ở mức độ tàn bạo hơn trước đây. Nhưng điều đáng sợ nhất là giáo dân Thiên Chúa giáo bị bách hại dã man hầu hết tại các nước Hồi giáo.

Với con số 2.2 triệu giáo dân Thiên Chúa giáo trên toàn thế giới, trung bình khoảng 200 triệu người bị đàn áp và bách hại, xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Từ mạ lỵ đến thái độ thù địch, dẫn đến hành động bạo lực. Những giáo dân tại các vùng bị cấm ngặt tự do tôn giáo trong những nước nêu trên phải trả một giá rất đắt cho niềm tin của họ. Ngoài việc tổn thương tâm lý vì bị sỉ nhục và nguyền rủa, họ bị đánh đập, hành hạ, bắt cóc, bỏ tù, cô lập, hãm hiếp, trừng phạt thể lý nặng nề, nô lệ, kỳ thị giáo dục và viêc làm, ngay cả bị nguy hiểm đến tính mạng, và thậm chí bị giết âm thầm hay công khai. Đó là những đau khổ họ phải chịu đựng mỗi ngày. Vì niềm tin.

Giáo dân Công giáo bị đối xử ngược đãi nhất, và bị bách hại nặng nề nhất. Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em (Gn 15:18-20). Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét (Mt 10:22). Họ là nạn nhân của cả hai chủ nghĩa vô thần cộng sản và Hồi giáo cực đoan. Theo National Catholic Reporter, con số giáo dân Công giáo tử đạo chỉ trong hai thế kỷ 20 và 21 tính ra cao hơn số giáo dân tử đạo của 19 thế kỷ trước gộp lại. Chúng ta đang sống trong thời đại tử đạo.

Rất nhiều người tin rằng mặc dù chủ nghĩa cộng sản đã chết nhưng chủ thuyết vô thần đã lan rộng khắp thế giới chỉ vì việc dâng hiến nước Nga cho Đức Mẹ xảy ra quá chậm. Mãi đến năm 1984 mới hoàn tất thì đã quá muộn. Nước Nga đã gieo rắc chủ thuyết vô thần lầm lạc trong hơn 70 năm, và nó len lỏi vào các nước tiên tiến, kể cả các quốc gia lấy tôn giáo làm nền tảng. Chủ thuyết vô thần đã ghim vào đầu óc của các nhà trí thức, những học giả, kể cả những Kitô hữu cấp tiến (liberal Christian). Những Kitô hữu cấp tiến lược bỏ những tín lý, và lề luật mà họ cho là bất tiện trong đời sống, chỉ giữ lại những gì hợp với “lương tâm” của họ. Những kẻ này không những phủ nhận hầu hết những điểm cốt lõi trong kinh Tin Kính mà còn hết lòng nhìn nhận sự gian dâm, phá thai, và hôn nhân đồng tính. Họ là Kitô hữu nhưng suy nghĩ và hành động như một kẻ phi Kitô. Với lối sống theo “lương tâm” cấp tiến, họ sẽ dần dần chối bỏ Thiên Chúa và cổ võ chủ nghĩa vô thần. Từ “cấp tiến” đến “vô thần” chỉ là một bước ngắn, theo Giáo sư Xã hội & Triết học David Carlin. Satan sau bao nhiêu năm đánh phá Giáo hội từ ngoài vào trong không mấy thành công, và nó đã đổi chiến lược đánh từ trong ra ngoài nhờ sự trợ lực của những Kitô hữu cấp tiến này. Giữa “thù trong” và “giặc ngoài”, giữa nội thù và ngoại xâm, lịch sử đã chứng minh nội thù nguy hiểm hơn nhiều. Satan – chủ nghĩa vô thần – hiện là một hấp lực khó cưỡng đối với những kẻ hữu thần cấp tiến.

Một số nhân vật quan trọng khác lại cho rằng việc dâng hiến nước Nga chưa thật sự hoàn tất, vì “chính sách Đông phương” của Tòa thánh, không dám gọi đích danh nước Nga. Ngay cả lần dâng hiến với sự hiệp thông của các Giám mục trên toàn thế giới, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng chỉ nói chung chung, “đặc biệt những kẻ đang ở trong tình trạng khiến Mẹ động lòng thương xót.” Chị Lucia, năm 2001, nói riêng với Đức Tổng giám mục Tarcisio Bertone, bộ trưởng Tín lý và Đức tin, rằng lần Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II dâng hiến năm 1984 “đã được Thiên Chúa chấp nhận.” Tuy được “chấp nhận,” rất nhiều người tin rằng chưa thật sự “hoàn tất” theo đúng ý muốn của Mẹ Fatima. Một trong những người cho rằng việc thánh hiến chưa hoàn tất là linh mục Gabriele Amorth, người được Tòa thánh ban cho quyền trừ quỷ tại Rôma. Ngài có mặt tại Quảng trường Thánh Phêrô vào ngày thánh hiến 25/3/1984, và nhận xét: “Đức Thánh cha rất muốn thánh hiến nước Nga cho Mẹ nhưng các Giám mục lại không muốn, sợ làm phật lòng giáo hội Chính thống.” Tiến sĩ Roberto de Mattei, giáo sư chuyên về lịch sử Công giáo, đi xa hơn khi nhận định, “sự lầm lạc của chủ nghĩa cộng sản không những đã lan rộng khắp thế giới, mà còn xâm nhập vào đền thờ của Thiên Chúa, như luồng hơi độc của Satan đang muốn bóp nghẽn hơi thở Nhiệm thể của Đức Kitô.” Theo ông, chỉ vì việc thánh hiến của Đức Gioan Phaolô II vào tháng 3/1984, và của Đức Bênêdictô XVI vào tháng 5/2010 chưa được thực hiện hoàn hảo. Mới đây, ngày 13/5/2017, Hồng y Paul Josef Cordes, nguyên Chủ Tịch Hội Đồng ‘Cor Unum’ của Tòa Thánh, xác nhận việc thánh hiến của Đức Gioan Phaolô II chịu áp lực của Bộ Ngoại giao Vatican không nên kêu đích danh nước Nga, e rằng có thể sẽ dẫn đến một xung đột chính trị.

Ngoài ra, nếu hiểu lời hứa của Mẹ, “nước Nga sẽ trở lại và thế giới sẽ có hòa bình,” theo đúng nghĩa của nó thì nước Nga chưa thật sự trở lại cho dù chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ. Sự trở lại phải là một sự thay đổi tâm linh nghiêm trọng và phù hợp với đức tin Công giáo. Thật ra, từ ngày chế độ cộng sản sụp đổ, một nếp sống phi Kitô đang hoành hành tại nước Nga. Tính đến năm 2000, mười bốn năm sau khi được thánh hiến, tỷ lệ ly dị không kém gì Hoa kỳ, và khoảng 3.5 triệu vụ phá thai được ghi nhận (qua số liệu của chính phủ Nga) mỗi năm. Số liệu năm 2013 thì càng tệ hại hơn, cứ 10 lần sinh (live births) thì có đến 13 vụ phá thai. Một tỷ lệ rợn người, cao nhất thế giới. Riêng tỷ lệ ly dị khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Chỉ riêng trong 5 tháng đầu năm 2017, cứ 1000 cặp ghi danh kết hôn thì có đến 829 vụ ly dị. Năm 2016 tệ hơn, 895 vụ ly dị.

Và thế giới thật sự chưa hề có hòa bình như lời Mẹ hứa. Cuộc tàn sát chủng tộc tại Kosovo, Somalia khiến nhân loại rùng mình. Bọn khủng bố tấn công Tháp Đôi vào tháng 9/2001, dẫn đến cuộc chiến Afghan và Iraq. Rồi cuộc chiến giữa Nga và Georgia, đến nỗi Tiến sĩ Ivan Eland thuộc Học viện Độc lập (Independent Institution) phải kết luận, “Chiến tranh Lạnh chưa hề chấm dứt.” Sự sáp nhập Crimea vào Nga mới đây (2014) dẫn đến ra sự trừng phạt kinh tế, gây xao động trong vùng. Bắc Hàn có anh tổng thống trẻ măng, đang hăm dọa thế giới về chiến tranh hạt nhân. Tổng thống Putin muốn nắm quyền lãnh đạo thêm mấy nhiệm kỳ nữa, lăm le tái lập hệ thống độc tài toàn trị như thời cộng sản. Bọn cực đoan ISIS điên cuồng hơn bao giờ, giết kẻ “tà đạo” không gớm tay. Các giáo dân Thiên Chúa giáo vẫn chịu đau khổ mỗi ngày chỉ vì niềm tin.

Cả một thế giới biến động, không yên.

Và hiện tượng Fatima sau 100 năm vẫn còn là tiếng chuông vang khẩn cấp gửi đến nhân loại. Sứ điệp của Mẹ xem ra vẫn bức thiết hơn bao giờ. Sự lầm lạc mà nước Nga gieo rắc trong suốt ¾ thế kỷ đã len lỏi và thấm sâu vào nếp suy nghĩ của rất nhiều người. Việc đền tạ và tôn kính Mẹ nên chuyên cần mỗi ngày, mỗi tuần.

Giám mục Athanasius Schneider, nước Kazakhstan, trong một cuộc phỏng vấn với trang nhà Rorate Caeli, xin mọi giáo dân “cầu nguyện để Đức Giáo hoàng thánh hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria một lần nữa, để Mẹ sẽ thắng, như Giáo hội hằng cầu nguyện từ xưa, ‘Hỡi Trinh Nữ Maria, hãy vui mừng lên, vì chỉ một mình Mẹ đã hủy diệt tất cả các dị giáo trên toàn thế giới.’ “ Tháng 5/2017 vừa qua, Hồng y Raymond Burke khẩn thiết kêu gọi nên thực hiện việc thánh hiến nước Nga cho Mẹ Maria, như lời Mẹ yêu cầu 100 năm trước. Ngài lập lại những phương cách cố hữu như Mẹ Fatima vẫn hằng kêu gọi: (1) lần hạt Mân Côi mỗi ngày, (2) treo áo Đức Bà, (3) hy sinh, hãm mình đền cho mình và cho các tội nhân, (4) giữ ngày thứ Bảy đầu tháng, (5) tận hiến đời sống nhiều hơn cho Đức Kitô, và (6) yêu cầu Đức Thánh cha, với sự hiệp thông với toàn thể Giám mục, thực hiện việc thánh hiến nước Nga cho Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria. Việc yêu cầu của Hồng y Burke lập lại lời yêu cầu của Mẹ Maria khi Mẹ hiện ra tại Fatima đúng 100 năm trước. Nếu mỗi giáo dân ý thức được sứ điệp của Mẹ Fatima và thực hiện theo như Mẹ yêu cầu thì chắc chắn thế giới sẽ hưởng một nền hòa bình đích thực. Nhất là lời kết của Mẹ khi hiện ra với ba trẻ tại Fatima vào ngày 13/7/1917. Đó là:

“Nhưng cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ thắng.” Chúng ta vững tin như thế.

 

Tài liệu tham khảo:

  1. David McLellan, Maxism and Religion: A Description and Assessment of the Marxist Critique of Christianity (London, The MacMillan Press LTD, 1987)
  2. John de Marchi, I.M.C., The True Story of Fatima (Imprimatur 1947 and 2009)
  3. William Thomas Walsh, Our Lady of Fatima (Doubleday Dell Publishing Group, Inc. New York, 1946)
  4. Matthew J. Ouimet, The Rise and Fall of the Brezhnev Doctrine in Soviet Foreign Policy (Chaped Hill and London, The University of North Carolina Press, 2003)
  5. George Weigel, Witness To Hope (New York, PerfectBound of HarperCollins Publishers, Inc., 2005)
  6. Archie Brown, The Gorbachev Factor (New York, Oxford University Press Inc., 1996)
  7. Arcbishop Fulton Sheen, The World’s First Love (New York, McGraw-Hill Book Company Inc., 1952)
  8. Paul Kengor, The Crusader: Ronal Reagan and the Fall of Communism (New York, HarperCollins Publishers Inc., 2006)
  9. Hilaire Belloc, The Great Herresies (Charlotte, North Carolina, TAN Books, 1938)
  10. Loretta Napoleoni, The Islamic Phoenix (New York, Seven Stories Press, 2014)

Time Subscription, http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,974548,00.html

Time Subscription, http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,159069,00.html

 

 

CHỜ Ở THIÊN HÀ

 

 

Bắt đầu khi nhìn thấy những gì thời gian để lại trên hình hài. Tỵ đã có thấy những ngày của mình còn lại quá ít. Rằng thời khắc ấy sẽ đến, nay mai. Tỵ chưa hề tưởng ra mình sẽ trải qua những buổi chiều của tuổi xế chiều như thế nào. Babe thường cười những ý nghĩ điên rồ đó của Tỵ. Nhiều khi Tỵ nói điên quá, Babe nạt ngang. Con người ta, cố hết sức để tồn tại, mà sao Tỵ lại không chịu quý trọng. Tỵ không cãi, bởi Babe nói đúng. Babe bảo : Tỵ cứ vô mấy bệnh viện mà coi đi, để thấy người ta phải giành giật từng ngày sống như thế nào. Nhưng Babe còn trẻ, Babe chưa cảm nhận được những ánh thê lương của buổi chiều ra sao. Babe không biết được, có những ngày Tỵ lén quan sát Măng trong viện dưỡng lão, bắt gặp đôi mắt hoang vu những ánh nhìn của Măng, bắt gặp đôi mắt không còn chút ánh lửa nào. Tỵ vô thức thấy lạnh. Lạnh buốt từ trong xương sống lạnh ra. Mà Tỵ cũng đâu còn nhiều. Những ngày ấy cũng sắp đến, bên bờ bấp bênh của Tỵ. Có nhiều đêm, Tỵ ngồi sững sờ nhìn bức tượng pha lê trên bàn. Sững sờ nhìn vẻ mặt đẹp vĩnh viễn không hề nhạt nhòa trên đó. Những nét gân guốc sắc cạnh. Đôi mắt lạnh lùng không bao giờ nhắm. Làn da mượt mà mát lạnh không hề có nếp nhăn. Đôi mắt ấy luôn nhìn Tỵ mỗi đêm, nhìn Tỵ khi Tỵ ngồi viết bài, nhìn Tỵ lúc Tỵ tập đàn, nhìn Tỵ khi Tỵ uống rượu vào buổi khuya khoắt. Lúc Xích mang nó về cho Tỵ, Xích cười, khi nghe Tỵ bảo sẽ gọi nó là Azoth. Xích nói, gì cũng được, miễn Tỵ thích. Đương nhiên Tỵ thích, Tỵ hay nhìn ngắm mấy nam thần đẹp trai trên mạng. Nét mạnh mẽ không phai tàn ấy luôn thu hút sự chú ý của Tỵ. Làm thế nào để bảo lưu nó lại vĩnh viễn? Tỵ thường hay tự chất vấn như thế, mà thường là không tìm ra lời đáp. Babe cười, Xích cũng cười. Babe bảo Tỵ hoang đường, Xích nói, không có gì vĩnh viễn cả. Bảo Tỵ cứ tận hưởng hết sự vĩnh viễn được giới hạn trong mỗi ngày đi. Bởi thế, Tỵ ghét phải coi những trang báo nói về hiện tại của các diễn viên mà Tỵ hâm mộ lúc xưa. Tỵ sợ sự đau lòng khi nhìn những gì mình trân quý ấy phai tàn. Cũng như ngày Tỵ nổi điên vác dao chặt nát bụi phù dung của Măng trồng.

Ngày Xích đưa Măng vô viện, Tỵ đi vắng, mấy năm sau Tỵ về, Măng không còn là Măng phong diễm của Tỵ ngày xưa. Người Măng không còn thơm phức mùi hoa mỗi khi Tỵ úp mặt vào ngực Măng. Tỵ đứng từ xa nhìn Măng ngồi lặng lẽ trên xe lăn. Ánh mắt nguội ngắt, đục lờ, những ngón tay buông thõng, xám ngắt. Tỵ nhìn Măng thật lâu, Măng ngồi bất động thật lâu. Rồi Tỵ về. Tỵ còn chưa tới gần để gọi Măng. Tỵ sợ, Tỵ không tưởng được, vóc dáng mảnh mai ngày xưa, thướt tha với những mảnh lụa mềm mại thơm phức, con người thường chơi đùa với từng nốt hương hoa, bàn tay từng ngón dài nuột nà khi khêu chén trầm, nay lại giống như môt đống thạch cao xám xịt, cũ kỹ đấy.

Tỵ về lại trong phòng Măng, nhưng cũng không còn dấu tích của một Măng ngày xưa, những chai nước hoa không còn, lò trầm cũng không còn, cả tấm gương cổ viền nhủ vàng từng in soi bóng vóc dung nhan của Măng cũng không còn. Xích cho mang đi hết cả. Lần đó, Tỵ vác dao chặt trụi luôn bụi phù dung của Măng.

Ngày Xích đem Azoth về, Xích nói, giữ lấy nó, pha lê thì mãi sẽ không tàn, không xuống màu. Chỉ cần, cẩn thận đừng để rơi. Rơi rồi, thì không còn gì nữa cả. Tỵ đeo lên tay của Azoth chuỗi hạt tím Xích mua cho Tỵ dạo trước. Chuỗi hạt hợp một cách lạ lùng với màu mắt của Azoth, nó làm sự lạnh lẽo trong Azoth càng lạnh hơn. Nhiều lúc, Tỵ cũng muốn mình đông cứng mãi mãi, như Azoth.

Mấy hôm nay lạnh , những ngày không có nắng làm tinh thần Tỵ xuống thấp. Tỵ không muốn ra khỏi phòng. Ngồi ù lì miết trên giường và lơ đãng nhìn Azoth. Rượu mạnh cũng không làm người Tỵ ấm hơn. Tỵ thèm được ôm. Thèm được ủ ấm bởi một thân thể khác, chứ không phải bởi bàn tay lạnh ngắt của khối pha lê màu kia. Rồi Tỵ nhớ em. Tỵ nhớ những tưởng tượng ngày xưa của em và Tỵ, Tỵ thèm sự ấm áp ấy, dù thật ra, Tỵ chưa chạm đến em cả một lần. Nhưng những lúc ấy, Tỵ vẫn thấy ấm, thậm chí nóng rực. Tỵ ngồi lặng thinh nhớ khuôn mặt em và tiếng nói em. Nhiều lúc lòng cóng lạnh, Tỵ muốn nói với em, Tỵ cần em. Tỵ cần một người, kéo Tỵ về lại với cuộc sống ấm áp. Tỵ đã trôi quá lâu trong Thiên Hà. Qua ống nhòm của kính viễn vọng mỗi đêm em vẫn quan sát bầu trời, em có nhìn thấy Tỵ không? Tiếng thở dài mỗi đêm của Tỵ, em có nghe được không? Từ khoảng cách hơn năm ngàn ngày mặt trời, có vọng được tới tai em lời thì thầm của Tỵ? Mỗi ngày, mỗi đêm Tỵ lòng vòng ở F, co quắp ở tọa độ 858 của F. Giữa đám tinh vân buốt cóng và lấp lánh ấy. Tỵ nằm nhớ em. Tỵ nằm im lắng nghe những tin tức từ em, ngôn ngữ không thể diễn đạt được hết những tưởng tượng từ Tỵ, nhưng ngôn ngữ giúp Tỵ hình dung những tín hiệu từ em thành những hình ảnh. Những chấm nhị phân tuần hoàn vẽ lên nụ cười rạng rỡ của em bên người con gái khác, những kí tự lạnh trơ vẽ nên một ao ước của em về một tương lai khác, một nơi chốn khác, mà nơi đó, không có Tỵ. Từ F, Tỵ thấy em đính hôn với thanh xuân lộng lẫy, từ F, Tỵ đọc thấy khao khát của em về một phối ngẫu với những xanh non.

Mỗi ngày, giữa những cóng buốt, Tỵ nhìn những trận mưa sao băng tràn qua người mình, Tỵ nằm im quên trong những rác bụi của Thiên hà 858, để mặc những đám mây bụi sao chổi phủ dày trên lưng. Nhiều khi thấy lòng trống trải quá, Tỵ co cuộn người lại, đám tinh vân quánh đặc bám sát và bó gọn Tỵ vào một khối, chỉ để lại một đôi mắt, một ánh nhìn hướng về. Mà ở một nơi nào đó, em đã dùng những trần thế để ngăn chặn ánh mắt của Tỵ. Mấy hôm nay, Tỵ thấy mình muốn về lại cung điện ngày xưa, nơi những đền đài mà em đã cùng Tỵ dựng nên dạo trước. S mưa tầm tã, Tỵ tưởng tượng ra em trong cơn mưa, trong dòng nước lũ ngập đường.

Mấy hôm nay, nắng vàng mà lạnh. Tỵ ngồi nói nhiều quá, những thanh âm lộn xộn lạo xạo trong cuống họng Tỵ, em có nghe những lời Tỵ nói không? Nghe rồi em có hiểu không? Tỵ nói đến lúc mệt nhoài, gục xuống. F vẫn yên lặng không một tiếng then cửa mở. ” Em nói gì đi” Sự im lặng quá lâu làm Tỵ giật mình mở mắt, đền đài không còn, cung điện không còn. Chỉ còn những trang sách trống trơn trước mắt. Hoàng Tử Trở Lại và Hồi Phục. Tỵ phải hồi phục thì hoàng tử mới trở lại hay khi hoàng tử trở lại thì Tỵ mới phục hồi?

Nắng chiếu xiên qua khe cửa, lấp lánh tạo ra hào quang trên vầng trán của Azoth, vầng trán trắng sáng của em. Nắng lấp lánh trên những ngón tay của Azoth, những ngón tay dài thanh lạnh lướt trên dây đàn, là tiếng lục huyền cầm của bá tước hay tiếng đàn Thạch Sanh? Nhưng công chúa dưới hang vĩnh viễn không bao giờ là Tỵ. Những ngón tay mướt lạnh của Azoth lướt trên trán Tỵ.

” Tỵ có lạnh không? ”

” Sao tới giờ Tỵ vẫn chưa hết sốt? ”

” Tỵ muốn nghe em hát không? ”

-” Đêm nay, em là của Tỵ nhé? ”

-” Ừ, nhưng Tỵ coi em là gì? Em là gì của Tỵ? ”

-” Em không là gì của Tỵ cả, bởi vì, không ai gọi tên cho TẤT CẢ”

Đôi mắt pha lê lấp lánh ánh trăng trong suốt. Tỵ rùng mình, nụ hôn pha lê buốt lạnh trên da, nụ hôn của Azoth. Có những lời nguyền, ám lên đá như một lời thề, lại có những lời hẹn thề, mỏng đến nỗi một cơn gió nhẹ là thổi bay đi hết, như lớp bụi phủ lên mặt kính mờ.

Nhiều lúc, như lúc này, Tỵ để mình lang thang, không phải trên hoang mạc như những người Do Thái. Không phải lang thang trên tuyết trắng như người Eskimo , Tỵ lang thang giữa ngàn trùng, nơi những đường sóng đan xen nhau qua lại, những mối liên kết chằng chéo . Tỵ mong được gặp em trong những sóng âm chằng chịt kia. Nhiều lúc, ngỡ như Tỵ đã thấy được em, nhưng rồi, Tỵ thấy mình tưởng tượng. Azoth lấp lánh trong sợi nắng xiên, Azoth nhìn Tỵ cười, nụ cười nửa cảm thông, nửa chua xót. Nụ cười của em. Tỵ đứng lặng thinh nhìn ngó mọi người quanh Tỵ. Nhìn ngó những biểu tượng hạnh phúc của những người quanh Ty. Tỵ thấy nụ cười dịu dàng của Xích dành cho vợ mình khi đứa con thứ hai của họ chào đời, đứa bé như thiên thần nhỏ. Còn nàng thì rạng rỡ một vẻ mỏi mệt nũng nịu, ở nàng toát lên vẻ viên mãn như Gaia sau khi hạ sinh các titan. Tỵ thấy ánh yêu thương thấp thoáng trong trong mắt Babe khi Babe kể về H, về những đứa con nhanh nhẹn và tinh nghịch của hai người, sự đủ đầy dù được kín đáo dấu đi vẫn không che được nét ngời ngợi tự thân trong nó. Tỵ không ghen tị, nhưng vẫn có một chua xót ngấm ngầm len lỏi bên trong, tựa như sợi dây đen đủi trên cái lưng còng của con tôm. Vẫn có những ươc muốn mơ hồ về một nơi chốn mà Tỵ nghĩ, có lẽ suốt cả chiều dài cuộc đời, Tỵ không hề đến được.

Tỵ cúi người, muốn vực dậy cái bóng của mình, cái bóng co cuộn lại rồi chuồi khỏi tay Tỵ, trơn tuột đi . Tựa như những ấm áp vẫn vụt xa mất vào phút cuối trong những giấc mơ hằng đêm.

Azoth dạo này thi hoặc mới về thăm Tỵ, có khi bằng chiếc bóng bán thân màu xám trên vách tường. Azoth chỉ nhìn Tỵ trầm mặc , không nói gì, có khi nói vài câu ngăn ngắn. Con mèo vẫn grù grù trên chân Tỵ. Azoth nghe Tỵ khóc bằng giọt nước mắt nghèn nghẹn. Nghe Tỵ loay hoay với mớ miên man trong đầu. Tỵ nhớ tới nụ hôn lạnh buốt của Azoth , lần Azoth hôn Tỵ lần đầu, ngực buốt đau. Như còn nguyên sự run rẩy trên tay Tỵ. Có bữa Azoth về trong góc vườn hoang trưa năm xưa , nơi đó ngọc lan vẫn còn ngan ngát, Azoth cầm những ngón tay Tỵ lẫm nhẫm tập đếm, đếm những ngày qua mòn mỏi của Tỵ. Những đêm mất ngủ là một sợi tóc trắng. Nơi góc vườn ấy, Tỵ nằm dài trên ghế băng, thả tóc rớt rơi theo gió. Mà gió mùa sắp tết thì hun hút thổi. Thổi rát qua mấy mươi mùa bấc, qua mấy ngàn đêm mất ngủ.

Có khi Azoth đến theo giọt trăng rơi qua kẻ lá trên tàng cây sứ sau chùa. Trên những chiếc ghế đá nối dài dọc con đường thâm u những đêm không ánh sao. Gió vẫn thổi ngút ngàn trên con dốc dài ngập ngụa. Azoth không còn hỏi Tỵ có buồn không? Buồn chuyện gì? Chỉ nhìn Tỵ bằng ánh nhìn ảm đạm đẫm trong tiếng tí tách của khúc While your lips are still red .

Chỉ còn tiếng nhạc âm ỉ chảy, lẫn trong tiếng hát gấp gáp hổn hển và ray rứt của em năm xưa . Bao giờ Tỵ còn được nghe em hát?

Buổi tối, Tỵ leo lên nằm trên mái nhà ngó trăng, ngó sao băng vẫn thường vụt qua bầu trời. Những ngôi sao đời đời mang kiếp cô độc, như Tỵ? Lầm lủi băng qua bầu trời, chợt lóe sáng rồi vĩnh viễn tắt đi. Tỵ rồi có tắt không? Sẽ tắt chứ? Như tình yêu của em với Tỵ? như những cơn gió thổi qua tàng cây khô lá? Như mùa đông rồi cũng sẽ qua đời? Không ai nói Tỵ nghe, không ai trả lời Tỵ.

Tỵ nhớ những chiều mưa năm xưa, nơi căn nhà tồi tàn, một mình Tỵ hóng về hướng núi, Tỵ ngồi hóng Măng về. Tỵ ngồi hóng Xích trở lại.Tỵ hóng Babe sẽ đến bên Tỵ mà cười với Tỵ. nhưng rồi tất cả cũng mất hút như khói xe. Tất cả đều cũng bận bịu với những tư riêng của mình.mỗi người đều có những tụ hội của riêng mình. Chỉ mỗi Tỵ chọn độc đạo một mình mình mà bước mà đi.

Buổi tối, Tỵ mang theo Azoth lên mái nhà ngóng gió. Sự im lặng của Azoth, sự im lặng của em làm Tỵ ngột ngạt. Đã từ lâu, em không còn chia sẻ bất cứ điều gì với Tỵ nữa. Như Vạn lý trường thành đóng cửa, chắn lại là hết giao thông. Tỵ mơ hồ thấy em sau đôi mắt lấp lánh của Azoth. Mắt em màu gì? Sao Tỵ biết được. Tỵ nhớ bàn tay em qua bàn tay đẹp đẽ của Azoth.Tay em có ấm không? Sao Tỵ biết được. Những cơn mê cứ lần lượt rũ mình rồi qua đời,rơi xuống trong tim Tỵ lạnh băng, nhức nhói, đắm trong quên lãng đã quá mệt mỏi một kiếp người.

Lâu rồi, Tỵ cũng không còn nghe em hát nữa, tiếng hát vọng qua loa điện thoại cũng hóa hoang vu. Nhưng Tỵ biết, Tỵ thèm nghe tiếng em cười với Tỵ, như một lần vào nửa đêm ở một buổi tối nào đó đã xa rất xa.

Măng ra đi vào một ngày bão tố, tin báo bão lẫn lộn trong những tin nhắn Xích báo về mỗi giờ. Lúc Măng đi, chưa một lời từ giã, không một lời từ giã, Tỵ còn chưa kịp đến viện gặp Măng. Xích kể: Măng đi nhẹ nhàng, không đau đớn gì. Lúc đi, Măng đẹp lắm, chỉ có đôi mắt không khép được , đôi mắt luôn nhìn về phía cửa phòng.

Ngày Măng đi, Tỵ còn lang thang chưa về. Tỵ đi tìm điều gì đó Tỵ chưa biết tới. Tỵ đi tìm điều gì đó Tỵ chưa nghĩ ra. Hay Tỵ đi tìm những điều xưa cũ mà Tỵ đã lãng quên. Tỵ một mình lóc cóc bước đi, không mang theo Azoth, bởi, suy cho cùng, chẳng có ai có thể sống dùm ai. Azoth hay em thì cũng đều có cuộc sống và kí ức của riêng mình. Em với Tỵ, đã may mắn có chung một đoạn kí ức ngắn ngủi. Tỵ biết mình sẽ tham lam nếu đòi hỏi thêm. Lúc nhận được cuộc gọi báo tin của Xích, Tỵ không nhớ gì đến Măng, trong đầu Tỵ chỉ nghĩ: nếu em nhận được tin Tỵ ra đi, em có về nhìn mặt Tỵ một lần không?

Rồi Tỵ cũng phải quay trở lại nơi Tỵ đã ra đi. Rời bỏ Thiên hà 858 đầy những tinh vân cóng lạnh. Tỵ về lại chỗ cũ vào một ngày mưa, nhìn di ảnh của Măng đang cười và nhìn xuống Tỵ.

– “ Nhẹ nhàng mà sống đi Tỵ, không ai sống được hai lần cả đâu. Nên không ai đạp chân lên được miền quá khứ. Tỵ đừng tìm kiếm nữa. một ngày, rồi Tỵ sẽ như Măng.”

Tỵ thắp nhang cho Măng rồi về phòng. Azoth đón Tỵ bằng khuôn miệng cười bị vỡ làm đôi. Xích bảo con mèo vẫn thường ngủ chung đã nhảy lên bàn và đẩy Azoth xuống đất. Tỵ buồn, nhưng Tỵ đâu thể trách mắng một con mèo?

Măng không còn, Azoth không còn, em cũng không còn. Những hoài ảnh đẹp đẽ của một thời chỉ còn lại một khoảng trống lạnh băng bên cạnh Tỵ, một lỗ hổng ngút sâu trong tâm tư Tỵ, mãi mãi rách rời.

Buổi tối, Tỵ ngồi trên mái nhà một mình, không còn Azoth ngồi bên. Mùa đông đã sang trên những cơn gió khô buốt, mùa đông sang trên tay Tỵ chơ vơ, mùa đông sang trên môi Tỵ lạnh căm. Tỵ lẫm nhẩm hát một mình theo bài hát ngày xưa Tỵ hay nghe em hát.

Ừ, rồi một ngày , mùa đông cũng sẽ qua đời.

5.11.17

Phương Uy

( …for T)

 

 

Câu Chuyện Buồn Ngày Tạ Ơn – ThanksGiving Day…

Năm rồi, tôi mất hai người bạn. Không phải họ chết thành ma chôn trong nghĩa địa hay thiêu ra tro gửi cho gió ngàn bay. Những người này còn sống, nhưng đối với tôi cũng như gia đình họ, xem như họ đã đi qua một thế giới khác! Năm nay, trong bữa ăn sum họp cuối tháng 11 tại Hoa Kỳ, những người chồng, người cha này không có mặt, vì vậy tôi muốn dành câu chuyện này cho những ngày cận kề của lễ Tạ Ơn.

Phải nói đây là hai người bạn khá thân của tôi, đều sang Mỹ khoảng năm 1990 hay trễ hơn, qua một thời gian tù đày dưới chế độ Cộng Sản khá lâu, thời gian đủ để bù đắp cho họ một cái visa để họ và cả gia đình vào định cư tại Mỹ. Đến Mỹ, một người định cư ở miền cực Đông, chiều chiều có thể hóng gió từ Đại Tây Dương, người kia ở miền cực Tây, buổi sáng cuối tuần, thường rửa chân trên biển Thái Bình, nên chúng ta tạm gọi họ, người này là người bạn miền Đông và người kia là người bạn miền Tây.

Sang đến đây, anh bạn miền Đông tâm sự: “Không có nước Mỹ, thì giờ này con trai tôi đang ôm bình cà-rem ở chợ Cồn, làm sao mà trở thành kỹ sư như hôm nay!” Người bạn miền Tây thường nói nghĩ đến những ngày đạp xe đi giao mối cà phê giữa Sài Gòn nắng gắt, bữa đói bữa no, giờ hạnh phúc được nước Mỹ giang vòng tay đưa cả gia đình anh đến Mỹ. Sang Mỹ trong vòng hơn mười năm, anh nào cũng khá giả, có một ngôi nhà tươm tất, và mới chục năm trở lại đây, về hưu, ai cũng có đồng lương cao. Tôi không nghĩ là vì hưu cao, người ta có thể sống ung dung, dư dả ở ngoài nước Mỹ, nhưng đó có thể là một lý do tài chánh đã ảnh hưởng đến quyết định trở về Việt Nam của họ. Nếu họ còn độc thân, trơ trọi, mà còn cha mẹ già nơi đất quê hương, sự trở về của họ chắc cũng có lý do thông cảm.

Người bạn miền Đông của tôi, sau khi đi tù về, người vợ đã ra đi, bỏ lại bầy con dại, mà đứa nhỏ nhất mới lên ba tuổi. Trong những ngày ấy, một người đàn bà khác đã nhận kê vai gánh vác cuộc đời vô vọng rách nát của anh. Sang đến Mỹ, anh thành công trong thương mãi, về chiều, có một số lương hưu lớn, có thể sống dư dả đến cuối cuộc đời.

Anh bạn miền Tây của tôi, chân ướt chân ráo đến Mỹ, bắt đầu với một cuộc đời khá vất vả, nhưng may mắn sau đó, làm công nhân trong một hãng lớn, tiếng tăm của nước Mỹ. Các con của anh, ngày nay đều là những người thành đạt.
Đến tuổi về hưu, gia đình họ đều đổ vỡ sau những chuyến đi Việt Nam.

Nơi quê hương ngày trước, người bạn miền Đông gặp một người đàn bà tuy không phải thuộc loại nhan sắc, hay còn tuổi xuân sắc, nhưng chắc chắn là đẹp hơn, trẻ hơn vợ nhà, và lời lẽ hẳn là ngọt bùi, khêu gợi lại những thứ tình yêu thời trẻ dại. Sau một thời gian đắn đo, suy nghĩ, anh xẻ đôi căn nhà hạnh phúc ngày trước, quyết định làm lại cuộc đời bằng cách trở lại quê hương, sống với người đàn bà kia.

Bây giờ bạn bè cũ ở Việt Nam, sáng sáng gặp anh nhúm lửa, pha vợt cà phê đầu ngày, dọn bàn ghế cho khách ngồi theo nghề của nàng, và mỗi ngày, như lời tỏ bày chân thật, cần đến một viên viagra.

Người bạn miền Tây, đến tuổi “tri thiên mệnh” mới gặp người tri kỷ, mới ngộ ra được, thế nào là tình yêu. Để bù vào số tuổi, anh có số tiền. Họ là những người trong giới yêu thích văn nghệ, và người anh gặp hẳn là một nàng Thơ ngày xửa ngày xưa, thế là anh ra đi không trở lại. Tình yêu đâu phải dễ kiếm, thì ra lâu nay, cái thứ anh tưởng là tình yêu, chỉ là một thứ tình nào đó, mãi cuối cuộc đời anh mới được gặp mặt cái gọi là Tình Yêu (viết hoa) đích thực!

Thì ra lâu nay những người bạn của tôi không tìm thấy hạnh phúc. Người ta định nghĩa “hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí!” Những người bạn tôi đang sống ở một đất nước mà loài người cơ cực, ai cũng mong tìm đến. Những người bạn tôi đang có một mái ấm gia đình, đời sống cao hơn no đủ là dư dả, vợ không ngoại tình, con không hư hỏng& nhưng như vậy, chưa đủ cho tiêu chuẩn của một thứ gọi là hạnh phúc.

Trong một chừng mực nào đó, có lẽ hai người bạn của tôi tâm đắc với câu nói của George Sand: “Chỉ có một thứ hạnh phúc trên đời, là yêu và được yêu!” Và như vậy, lâu nay họ chẳng hề yêu ai và chưa bao giờ được yêu! Phải chăng thực sự, bạn tôi yêu sắc dục, và được yêu lại vì có tiền. Tôi cũng không ngờ rằng, đến lúc xế chiều, mà ngọn lửa tình yêu của hai người bạn tôi, bùng phát mạnh mẽ đến như vậy!

Lý Ngư trong Nhục Bồ Đoàn, một tác phẩm cổ bên Tàu về sắc dục, đã viết: “Theo lời các nhà nho xưa, thì cái vật dưới eo phụ nữ chính là cánh cửa sinh ra ta, mà cũng là cánh cửa chôn ta!”.

Hai người bạn tôi không thể đem một người đàn bà khác không là vợ mình từ Việt Nam sang định cư tại Mỹ, trước sự chê trách của dư luận và sự quay mặt của gia đình, vậy tốt hơn là trở lại Việt Nam.

Tôi hy vọng rằng, một ngày kia, dù thế nào, hai người bạn tôi cũng không trở lại Mỹ, với một tấm thân tàn tạ để kiếm một chỗ trong bệnh viện hay đủ thuốc men dùng cho một giai đoạn hấp hối.

Đã hai năm, rồi tôi nghĩ đến ngày Lễ Tạ Ơn hôm nay trên đất Mỹ, có hai gia đình quạnh quẽ, buồn phiền và chắc bạn bè, thân thuộc cũng không ai nỡ nhắc lại tên của người bạn tôi đang ở xa. Tôi biết họ cũng như tôi, đã có những ngày tù đày nơi rừng thiêng nước độc, đã có một người vợ khốn khổ, tảo tần xuôi ngược, đã có những đứa con bất hạnh bơ vơ. Chúng ta tin tưởng gì ở một người lính thất trận, một người đã ngồi trong nhà tù tập trung, đã được thoát ra, còn bất cố liêm sỉ trở lại chốn xưa, vì một thứ gì đó dưới cái eo của đàn bà. Hai người bạn tôi đã quên rất nhiều thứ, trong đó có giá trị của gia đình, đạo lý và những điều ân nghĩa.

Tôi còn nhớ câu nói của MC Nguyễn Ngọc Ngạn: “…Một phần nữa vì người MC lâu đời của Thúy Nga là một cựu tù nhân chính trị, đã viết nhiều sách phê phán chế độ trong nước.” Tôi không đánh giá cao phẩm chất tất cả những người gọi là “cựu tù nhân chính trị!” Hai người bạn tôi, một người ở miền Tây, một người ở miền Đông, sau thời gian đến Mỹ, ai cũng có viết báo, in sách và đã không tiếc lời lên án chế độ Cộng Sản Việt Nam!

 Huy Phương.

 

LỊCH SỬ NGÀY LỄ TẠ ƠN

 

Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi và khí trời càng trở lạnh cũng là lúc cả đất nước Hoa Kỳ đang chuẩn bị bước vào những ngày lễ trọng đại và thiêng liêng. Một trong những ngày lễ quan trọng đó là Lễ Tạ Ơn .Lễ Tạ Ơn như đem những người sống trên đất nước Hoa Kỳ trở về với những ngày đầu của tổ tiên họ… Vào ngày 6 tháng 9, 1620, có 102 người, vừa đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng một số vật dụng bước lên con tàu Mayflower rời Anh Quốc, vượt đại dương để tiến về Tân-thế-giới. Họ ra đi và mang trong lòng một nỗi khao khát: tìm tự do tôn giáo (seeking religious freedom). Họ được gọi bằng tên mới “Những người hành hương” (Pilgrims). Một vài nhà sử học coi đây là Lễ Tạ Ơn đầu tiên mặc dầu không có tiệc tùng, ăn uống, vui chơi…

Mùa đông đầu tiên quá lạnh, thật vô cùng khắc nghiệt, đến với họ.
Thực phẩm lại thiếu thốn trầm trọng. Tháng 12 năm ấy có sáu người qua đời, qua tháng Giêng có tám người, tháng Hai tăng lên 17 người, và 13 người qua đời trong tháng Ba. Những người này đã âm thầm chôn cất những thi hài trong đêm tối vì sợ Thổ Dân (Native Indians) biết được có thể tấn công họ chăng! May mắn thay, không có một xung đột nào đáng kể giữa Người Da Đỏ và Người Hành Hương như họ dự đoán. Trái lại Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ những Người Hành Hương trong cuộc sống mới về việc dạy cách trồng tỉa, săn bắn, nấu nướng các thứ hoa quả lạ…

Tháng Tư họ cùng nhau trồng bắp dưới sự chỉ dẫn của một Người Da Đỏ tên là Squanto. Những luống bắp nầy quyết định sự sống còn của họ trong mùa Đông sắp tới. Họ vui mừng vì mùa Xuân và mùa Hè năm 1621 thật quá tuyệt đẹp! Bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê như lòng họ mơ ước. Mùa Đông lại về, nhưng bây giờ không còn là một đe dọa nữa. Mùa màng đã gặt hái xong, họ có dư thực phẩm để sống qua những ngày đông giá rét. Cũng không còn sợ lạnh vì đã làm được 11 cái nhà vững chắc đủ chỗ để quây quần sum họp. Họ quyết định tổ chức một Hội Ngày Mùa (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Đó là lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Mỹ. Ngày tháng chính thức của “First Thanksgiving” nầy không được chép lại, chỉ biết đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong Lễ Tạ Ơn nầy gồm: Bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây. Họ cũng mời khách là các Thổ Dân. Tù trưởng Massasoit dẫn 90 dũng sĩ đến dự “party” và cũng đem biếu Thống Đốc của nhóm Người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai nhân ngày Lễ Tạ Ơn đó. Họ ăn uống vui chơi suốt một tuần lễ.

Lịch sử ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng thăng trầm, trôi nổi theo vận  nước của họ. Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về một ngày Lễ Tạ Ơn. Họ giữ ngày lễ tùy ý mà họ cho là thích hợp. Khi cuộc cách mạng giành độc lập từ tay Người Anh thành công họ mới nghĩ đến một Lễ Tạ Ơn chung cho 13 tiểu bang. Tổng Thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington, kêu gọi dân chúng giữ ngày thứ năm 26 tháng 11 năm 1789 làm ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên cho toàn quốc (First National Thanksgiving). Nhưng sau đó lễ tạ ơn cũng không được mọi người công nhận theo một ngày tháng nhất định. Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người đưa ra ý kiến nên có một ngày nhất định, đưa lễ Tạ Ơn thành quốc lễ (National Holiday) và đưa quyền quyết định cho chính phủ Liên-Bang.

Một trong những người có công trong việc thúc đẩy việc thành hình ngày Lễ Tạ Ơn là bà Sarah Josepha Hale. Vào năm 1837 bà Sarah trở thành chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng có tên “Godey’s Lady’s Book”. Bà đã viết hàng trăm lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc Hội và những người có thế lực lúc bấy giờ hầu vận động đưa ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Trong thời kỳ nội chiến (Civil War) năm 1861, bà viết một tâm thư kêu gọi hai phe buông súng một ngày để giữ Lễ Tạ Ơn, nhưng không phe nào chịu nghe cả. Bà thất vọng!

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc nên chỉ định ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc. Chẳng may ông bị ám sát, Andrew Johnson lên làm Tổng Thống, tiếp tục truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm Lễ Tạ Ơn. Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt chỉ định ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba trong tháng 11 làm lễ Tạ Ơn thay vì thứ năm trong của tuần lễ thứ 4. Nhưng lần nầy Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên Đảng Cộng Hòa chống đối dữ dội, cho rằng Tổng Thống đã đi ngược lại truyền thống cũ. Hai năm sau Tổng Thống Roosevelt rút lại quyết định và đặt ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn là dịp để chúng ta đếm các ơn lành Trời ban. Nhìn lại những ngày tháng tại quê nhà, cuộc hành trình tị nạn đầy gian nan vừa qua và những thành quả mà Người Mỹ Gốc Việt đạt được ngày hôm nay để chúng ta dâng lên Thượng Đế lời Tạ Ơn sâu xa nhất. Tạ ơn Trời vì Ngài đã ban cho ta sự sống, hơi thở, sức khoẻ và bao nhiêu là ân huệ. Chúng ta cũng nên cảm ơn nhau. Cảm ơn thân quyến, bạn bè, những người thân quen và ngay cả những người chưa từng biết về sự chan hòa của họ trong cuộc sống của mỗi chúng ta trong cộng đồng nhân loại.

Kính chúc mọi người, mọi nhà một kỳ Lễ Tạ Ơn tràn đầy ý nghĩa!

(Nguồn NHU LIỆU THÁNH KINH)

Trái đắng

 

 

Lộc Khiêm, mê đắm đuối con gái rượu của Nguyễn Đình. Đình trước 75 là nhà văn, thơ cũng chơi luôn. Có hai tập truyện, một tập thơ đã xuất bản. Ngoài ra Đình còn viết báo, dăm ba chục bài đã in trên các báo. Đình không lính tráng chi nhưng là cán bộ giảng huấn chính trị có cỡ. Sau 75 Đình đi học tập ba năm. Về, bán nhà ở thị xã  lên đèo ông Phật tậu mẫu đất. Lộc Khiêm là một trong nhưng gã trai thất nghiệp đến làm thuê cho Đình.

Con gái Đình là Dung. Cô sâu đậm cảm tình với Khiêm lắm. Nhưng vợ chồng Đình cực lực phản đối. Chắc chắn là do Khiêm quá nghèo lại thất học. Từng là nhà văn, con gái chữ cũng tốt ai lại chấp nhận một gã bá vơ. May thay Dung có nét và rất duyên, trai theo cả đoàn. Đình chọn lấy một anh con nhà, áp đặt Dung vào chuyện đã rồi. Thuở ấy câu áo mặc sao qua khỏi đầu vẫn còn linh lắm, vậy là Khiêm ôm mối hận tình nhìn người yêu sang thuyền khác, cũng có uống đôi ba xị rượu giải buồn. Bạn bè khuyên:
-Thôi. Bỏ đi bạn hiền, gái khối mẹ gì mà buồn với bực?

Buồn được thời gian Khiêm về Sóc Trăng thăm bà con cô bác. Cha mẹ Khiêm là người Việt gốc Khmer. Xưa ông cha bị ông Cộng hòa bắt đi lính, tống ra miền Trung xa xôi, mẹ đi theo, vậy là chị em Khiêm ra đời. Chị em Khiêm tuy ngâm ngâm đen nhưng đẹp thì khỏi chê, trai ra trai, gái ra gái đâu ra đó tuyệt lắm. Đẹp thì thời nào chả có anh xin theo xách dép. Lộc Kim Quang chị kề Khiêm được một anh tên Bình đeo đuổi. Quang cũng thích anh. Hiềm nỗi Bình là con trai ông Đình.

Nếu ông Đình e con gái vớ trúng thằng trên răng dưới củ từ, vậy ông có chê Kim Quang không? Thiên hạ tò mò lắm nên sáng nào cũng ghé quán cà phê cóc  nghe ngóng thử xem sao. Đình vốn kín và im như thóc, bà vợ cũng rứa luôn. Vậy là có màn rấp ranh, rập rình, hóng hớt xem sao. Vậy rồi chả biết  có hay không mà thiên hạ kháo rằng cha nội Đình cũng không chịu Quang là dâu:

–  Cha Đình chửi thằng Bình thiếu điều tắt bếp, văng tục không khác chi tao với mày. Chả cũng chê con Quang đen.

–   Bà mẹ … dza dzàng mũi tẹt bày đặt chê đen. Thằng Bình ra để tao nhảy vô con Quang. Nó đen tao cũng đen hề hề hề hợp gu.

Đùng một cái như bom rơi, như đất bằng dậy sóng. Cả xứ đồn rằng Kim Quang lớn bụng. Bằng chứng là đi đâu cô cũng úp cái nón lá trước bụng. Mấy bà già trầu – đàn bà lúc đó mười cũng còn có ba bà ăn trầu  nói rằng:

–  Con Quang không chửa đem đầu tao chặt đi.

Gia đình Quang tuy một thời lính tráng, bạt mạng không kém cạnh ai. Nhưng cho đến tận thời điểm nầy chả bậc làm cha mẹ nào không cúi mặt khi con gái không chồng mà chửa. Bụng Quang lum lên mà phía đối tác chả ai bắn tiếng, thậm chí cả người tình của Quang cũng thả cục lơ. Anh bị áp lực từ cha chăng? Cũng có thể lắm, vì Bình là con một, là đích tôn của cả một hệ thống đạo đức cổ truyền cực đoan pha lạc hậu. Bình cũng lơ. Mỏi mòn quá, thêm cái thiên hạ dè bỉu ông Lộc Sanh – cha của Khiêm và Quang – đành bán nhà đưa gia đình về cố quận. Quang cũng biệt luôn từ đó.

Chuyện đến đó là tạm dừng. Vợ chồng Đình dựng vợ gã chồng cho con. Trai gái đình huỳnh tưởng không còn chi đẹp hơn. Số một là Dung, chồng cô con nhà giàu đẹp trai và học giỏi, cô cũng biết đẻ lắm. Trai gái, trai gái bốn đứa đẹp như mơ. Bình thì hơn cô những hai đứa, nhưng thua cô khoản con trai. Sáu cô cháu gái nói lên sự khát thèm vô vọng của ông nội Đình. Bình cũng vậy. Chao ôi câu nhất nam viết hữu luôn làm khổ người đàn bà, họ mang nặng vì khao khát của kẻ khác.

Cũng nên thông cảm cho Đình. Xưa nay thằng người nào trên thế giới nầy chả muốn có thằng cu. Một thực tế không thể chối là con gái lấy chồng theo chồng thì trong nhà ta còn chi? Đình buồn hơn cha chết. Những mong một cu con nối dõi tông đường và hy vọng đà tiêu tan khi lần thứ sáu vượt cạn cô con dâu hết khả năng sinh. Anh  chồng tên Bình còn khát hơn ông cha, anh bay nhảy ngoài đường và yêu đương với một góa phụ. Người đàn bà nầy đẻ cho Bình một đứa, khốn thay vẫn là gái. Vậy là Bình phải dang tay ôm hai bà. Bà sau có hai con riêng. Bình khổ như một con… Con gì nhỉ? Chả biết, nhưng chó còn sướng hơn.

Bầy con bà lớn dứt khoát không thừa nhận con em lạc ngõ. Chúng không trọng cha như xưa và cả sáu đứng hẳn về phía mẹ. Ông Đình héo queo như tàu lá chuối khô mùa gió Nam lào. Làm sao mà tươi tỉnh khi yên lặng khác thường phủ vào nhà từ khi Bình bị lộ chuyện phòng hai. Một yên lặng có phối mầu lạnh của hoàng hôn miền Trung mùa tháng mười giá rét. Để xua băng giá ông Đình ôm bầu rượu ngồi ngâm thơ. Tiếng ngâm của một ông già có rượu nghe như tiếng tụng kinh siêu độ cô hồn ngày rằm tháng bảy. Thiên hạ bình rằng:
-Cha Đình đang cầu siêu cho gia đình ổng kìa.

Họ nói vậy mà không chừng trúng à. Không phải sao? Nhà thơ, nhà văn, ông cán bộ giảng huấn chính trị bó tay với thằng con hai vợ. Bà mẹ nó, trong nhà sáu đứa, ngoài ngõ một đứa. Không nhận cháu, Đình có đáng là người không? Mà nhận thì ăn làm sao, nói làm sao cho thông với đứa con dâu mà ông đích thân cưới? Thiệt là rối như canh hẹ. May quá, rượu gạo dầm thuốc bắc đã giúp ông Đình liều mạng kiểu kệ. Đến đâu thì đến. Ừ vậy cho khỏe. Rượu ngâm thuốc độ cồn cao lắm, chỉ hai cốc là phê, là có quyền yêu đời và ngâm thơ.

Đùng một cái. Sau gần ba chục năm Lộc Khiêm xuất hiện.

Đi với Khiêm là một cậu trai. Khiêm giới thiệu:
– Thằng An con bà Quang, cháu kêu tao bằng cậu.

–  Lâu quá hả bạn hiền. Kim Quang dạo nầy sao? Mấy con rồi, làm ăn đỡ không?
– Chị Quang chỉ duy nhất thằng nầy. Bây nhận ra nó không?

Thiên hạ ngắm nghía trung niên tên An
– Bà nội tui ơi… giống cha Đình y tạc luôn.

Ông Đình nghe kể, giật mình. Ly rượu trên tay rơi xuống nền gạch vỡ tan tành.

***

Đình lập cập chống cây ba toong đi lên đi xuống, hoang mang chả biết cái tin kia là thực hay hư. Muốn hỏi thằng trưởng nam thì – trời ạ – chả biết nó đi đâu, mấy đứa cháu gái đừng nhờ chi mất công, chúng dạ nhưng chả có làm đâu mà hòng. Chao ôi một thời nhà văn nhà báo, lấy nhân lễ nghĩa trí tín làm đầu mà nay con cháu ra như ri thì đúng là hết thuốc. Việc nầy từ đâu mà ra nhỉ? Lỗi tại ông nhận đứa cháu ngoài luồng hay do thằng con trai có phòng hai? Hay là sau chiến cuộc kinh tế khó khăn học hành dang dỡ nên lòng người sinh bẩn chật? Dám lắm à. Chắc luôn chứ dám gì nữa. Dân dĩ thực vi tiên. Đừng nói dân, vua chúa còn lấy ăn làm trọng. Chả phải trong tứ khoái cái ăn đứng đầu đó sao? Càng thiếu thốn cái ăn càng bự. Nhà được vài sào đất rẫy. Lúa thượng một năm một vụ ông Đình đem gạo cho con nhỏ ngoài luồng hỏi ai không tức? Mà nếu cái tin kia là thực thì sao bây giờ? – Đình tự hỏi.

Chưa kịp tự trả lời thì Cửa đến. Nguyễn Cửa là bạn thân của Đình. Cả hai cùng học chung một trường. Mười lăm tuổi, đang trong lớp Cửa phì phèo thuốc lá. Giáo sư đến tận nơi xách lổ tai Cửa để thị uy. Cửa văng tục chửi thề inh ỏi rồi đe:

-Tao đi lính về là chết mẹ mày với tao.

Thuở ấy chuyện lính tráng cũng không chi khó. Cửa về nhà lấy khai sanh sửa năm sanh rồi đăng vào Thuỷ quân lục chiến cho nó kiêu hùng. Nhờ to con cao ráo nên qua mặt ban tuyển mộ cái rẹt. Sau ba tháng lăn lê bò toài ngoài thao trường Cửa được bốc ra Quảng Trị để tái chiếm cổ thành. Chưa được một tuần đã có mặt ở bệnh viện vì bị phía bên kia cho một viên Ak lủng bụng. Vậy là chưa đến bốn tháng làm lính đã hoá phế binh. Phế thì phế nhưng vẫn ngon vì ba tháng lĩnh lương một lần. Phế binh đồ hoa mũ nồi xanh uy lắm, đi đâu Cửa cũng móc bên hông trái lựu đạn phòng thân. Vào quán nhậu Cửa vỗ ngực rằng ta đây đã ôm cổ thành cho đến cuối mùa sương gió.  Lớn lối được ba năm thì kiêu hùng ôm gói đi cải tạo với Đình. Binh nhì mà đến ba năm cải tạo là vì khổ quá chịu không xiết nên Cửa trốn. May mà bị bắt lại bằng không chết mất xác trong rừng. Vậy nên cả hai tình như ruột thịt.

Cửa nói:

–  Xưa kia tui đã nói mà ông không chịu nghe. Ông chê con Quang đen, chê nó là dân Khmer. Đen thì sao?  Ông là dân có học mà quên mất chuyện cô đào điện ảnh hô-ly-gut giếc chi đó lấy cha thượng nghị sĩ da đen làm chồng. Giờ đây ông hối cũng không còn kịp nữa rồi ông  Đình ơi. Thằng An con con Quang với thằng Bình giống ông như hai giọt nước. Tui nói láo cho bà bắn.

Đình chống ba toong lại bên bình rượu múc một ly làm một hơi rồi múc một ly khác cho bạn hiền:
-Tao biết làm sao bây giờ hả Cửa?

Của nốc một hơi cạn ly rượu khà một phát. Cai dòng rượu gạo dầm thuốc bắc đã gì đâu. Nó làm cho ta minh mẫn mà ra kế sách:
-Tui gặp thằng Khiêm rồi… tui có ý như vầy…
-Nói đi.

–  Ông nên gặp nó nói chyện xem sao. Ông không thể để thằng cháu của ông không biết chi nguồn cội. Tui nói đúng không?

–  Tao còn mặt mủi nào Cửa ơi.

–  Nữa… ông lại sĩ diện. Xưa kia chê chị em nó lạc hậu kém văn minh. Thực ra ông mới là thằng lạc hậu bậc nhất. Khi là cán bộ giảng huấn chính trị ông lô loa rằng Chúa đã tạo ra con người và da trắng da đen da vàng hay da đỏ là như nhau. Ông nói vậy nhưng không nghĩ vậy. Nếu nghĩ vậy thì con Quang là vợ thằng Bình và ông đã không đổ thừa mọi bi đát ngày nay là do số phận. Đúng không? Bây giờ ông lại không dám đối diện với thực tế. Nếu là tôi, tôi sẽ gặp Lộc Khiêm. Chú cháu lâu ngày gặp lại nói dăm câu ba chuyện thì có sao?
– Rồi sau đó thì sao?

–  Nước chảy đến đâu vuốt mặt đến đó. Tôi sẽ bố trí cho ông gặp thằng Khiêm và thằng An…
– Mày giúp tao nhé.
– Ô kê… mà ông biết tại sao tôi nhúng tay vô vụ này không?
– Sao vậy?

–  Vụ này cực hấp dẫn. Hoàn cảnh của ông bây giờ rất chi bi đát. Thiên hạ xứ nầy đang ngóng diễn tiến tiếp theo của sự kiện. Họ biết ông cho đứa cháu gái con bà hai của thằng Bình lương ăn. Bây giờ đất đang đang có giá, năm sào rẫy của ông trên đèo ông Phật sẽ ra sao nếu thằng An nhận ông và thằng Bình là ông nội và cha? Ái chà chà… hậu quả của ông thật khó lường ông bạn già ạ…

Ông Đình toát mồ trán khi nghe Cửa nói. May quá, dù sao cũng có bình  rượu gạo dầm thuốc bắc. Rượu muôn đời là cứu cánh khi bế tắc. Ông một ly và bạn Cửa  một ly. Kẻ thống khoái còn người bi khoái qua một tiếng khà.

Một tuần sau Cửa đưa bạn Đình đến cà phê Suối Mơ.

***

Thị trấn nầy chả có con suối nào để mà mơ với mộng, nhưng cà phê của anh chồng tên Suối và chị vợ tên Mơ thì tuyệt vời. Thuở Cộng Hoà tại vị thì Suối Mơ lẫy lừng tăm tiếng. Chủ quán có biệt tài rang và pha chế cà phê kiểu đến một lần phải đến lần hai. Thiên hạ đồn cà phê quán này có tẩm thuốc phiện nên say lòng khách. Sau ’75 cà phê nằm trong dạng xa xí phẩm. Những địa danh như Buôn mê thuộc và Đà lạt cà đã ít thì chớ còn bị hoang hoá bởi loạn lạc, vậy nên đắt kinh hoàng. Một tạ cà phê nhân cả cây vàng. Dân chạy ăn bạt mặt, cà pháo đầy chứ phê thì có mà mơ. Nói vậy chứ cũng có những tay lên ông thành cha nhờ hôi của trong biến động và cũng còn những anh chị tuy lý lịch bần nông nhưng vàng cả thùng đại liên dấu dưới giếng. Họ vẫn đến Suối Mơ kiếm ly đen nóng nói chuyện thời cuộc. Thuở ấy tụ năm tụ ba là cải tạo chứ không đùa. Vậy nên  chủ quán bèn chia quán ra hai phần. Bên trong chứa bọn tiểu tư sản thích cà kê, bên ngoài bán nước é cho dân lao động. Nhiều năm về sau khi cán bộ cũng có quyền làm giàu và cà phê phải có thêm ôm iếc, ma tuý dân chơi chích thẳng vô tĩnh mạch thì Suối Mơ ế òm. Chỉ những tay biết cái sự ngon của cà phê mới đến. Họ yêu cái phòng kín đáo và đầy ắp kỷ niệm của một thời uống ly cà phê phải thụt thò.

Lộc Khiêm từng là khách của Suối Mơ, nhất là những tháng ngày yêu đương với em Dung con gái Nguyễn Đình. Sau khi em Dung theo chồng, Khiêm ôm quán hận tình thêm thời gian nữa rồi bán xới ra đi. Nên chi, khi quay lại đường xưa lối cũ Khiêm đến Suối Mơ để tưởng niệm một mối tình. Than ôi yêu nhau mà không lấy được nhau thì  người ta cứ nhớ hoài.

Và Nguyễn Cửa đưa Nguyễn Đình đến để gặp Khiêm và An. Về sau Cửa nói với ba quân rằng hắn đã quá sai lầm khi nhúng tay vô vụ này. Cửa không ngờ sự  kiện diễn tiến theo một chiều hướng không lường được. Thánh cũng bó tay:

–  Bây biết không? – Cửa nói với chúng sanh – ông Erich Maria Remaque nói rằng con chó no bụng rồi mà thẩy cho miếng thịt nó vẫn đớp. Vì sao? Vì ăn thịt là bản năng của loài chó. Con người ta giàu nứt đố đổ vách mà thấy cục vàng vẫn tối mắt và xúm nhau dành nói chi nghèo. Con người xét về bản chất trước tiên là một loài thú. Tao nhớ đại khái vậy và không ngờ bầy cháu cả nội cả ngoại của ông Đình lại tệ đến hết thuốc chữa.

Khi Cửa và Đình vào phòng thì mục kích cả tốp, hai thứ cháu nội và ngoại và Lộc Khiêm đang điểm mặt thằng Châu – Châu là cháu ngoại của Đình –:

–  Câm họng mày lại. Bọn mày được giáo dục từ đâu mà xem của cải nặng hơn tình vậy. Nè… chưa chi mà bây đã sợ bị mất phần rồi là sao? Tao tội nghiệp cho ông Đình quá. Thằng An không hề là cháu nội và là anh ruột của bây đâu mà lo. Về quê là bà chị tao phá cái thai hoang liền. Thằng  An giống ông Đình là ngẫu nhiên thôi…

Khiêm quay ra cửa:

–  Ô kìa… chú Đình… bầy cháu của chú hiểu lầm rồi, chúng nó nghĩ tôi đưa thằng An về đây để nhận cha và ông nội để chia mấy sào đất rẫy đang có giá của chú… ha ha ha…

Trước khi đến Suối Mơ Đình và Cửa và làm vài ly rượu gạo dầm thuốc bắc. Uống cho có khí thế mà đối diện với sai lầm vậy mà. Và tuổi già và huyết áp cao cùng cái hiện thực phủ phàng đánh Đình một cú. Ông già sáu mươi mấy tuổi ngã huỵch xuống sàn phòng:

–  Bà mẹ nó – Cửa văng tục – phải chi tao đỡ kịp thì chắc không đến nỗi bất toại như hôm nay…

Nguyễn Trí 

Người con gái Duy Xuyên

 

Tôi sinh ra và lớn lên trên dãi đất nghèo miền Trung. Thành ngữ dân gian gọi là nơi “chó ăn đá, gà ăn sỏi ”, hiện thực hơn người ta thường nói đây là miền“ nắng cháy da, mưa thúi đất”, báo chí thì dùng biệt danh “Vùng hỏa tuyến”. Trong nhạc của ca sỹ Duy Khánh- người đồng hương- có câu than thở “Quê hương em nghèo lắm ai ơi! Mùa Đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn…”.Đó chính là Quảng Trị.

Ấy thế mà nào tôi có được coi là dân thị xã. Làng của tôi thuộc một vùng quê nằm ngoài rìa, dọc theo Quốc lộ I. Làng có cái tên rất hay: Long Hưng nhưng dân chúng quanh năm chúi đầu trên những thửa ruộng cằn khô, không biết lúc nào mới được là “Rồng vươn lên” như tên gọi? Làng nghèo đến mức tên người cũng ít khi thêm được cái chữ lót như một nhà văn từng nhận xét. Làng nổi tiếng vì thổ ngữ  đặc biệt. Hễ chúng tôi thốt ra câu nào là đã nghe nhận xét: “ A, dân Long Hưng.”

Dân Long Hưng chỉ có một niềm tự hào là giỏi Toán. Dù nghèo nhưng hầu hết nam sinh của làng đều thi đậu vào ngôi trường trung học công lập danh giá của thị xã: Trường Nguyễn Hoàng. Các giáo sư phần đông là người Huế, hàng tuần đi xe taxi ra dạy. Họ thường khen chúng tôi về sự thông minh. Đặc biệt là  trong mục “Toán chạy”; đây là loại toán hầu như chỉ dành cho học sinh giỏi. Mạ tôi thường lấy gương của một người làng là Bác sỹ Văn Tần để răn dạy  hai anh em  chúng tôi cố gắng học hành.

Mặc cảm con nhà nghèo khiến tôi ít khi trò chuyện với ai, đặc biệt với các bạn nữ trong lớp. Mỗi lần tôi nói câu gì, tụi bạn hay trêu“Cóc mở miệng”. Điều đó càng làm tôi câm lặng hơn. Con trai mười bảy, mười tám thường đỏm dáng. Đi học đã biết vuốt tóc láng mượt bằng nước lạnh, miệng ngậm điếu thuốc Ruby Queen, viết thư tỏ tình với bạn gái. Riêng tôi “nhà quê” trong chiếc áo ngã màu cháo lòng, quần xanh bạc phếch…

Lên đệ nhị cấp, chúng tôi bắt đầu lo lắng với lệnh tổng động viên vừa ban bố. Phải cố mà thi đậu. “Rớt Tú tài anh đi trung sĩ ”. Chiến tranh đã bao phủ cả quê hương. Đêm đêm nghe tiếng đại bác rền vang, máy bay quân sự  bay về phía Gio Linh, Cam Lộ rợp trời, nhà nhà chuẩn bị những cái hầm trú ẩn bằng bao cát quân đội. Thỉnh thoảng đã có nhà trúng đạn pháo kích của Việt Cộng, tiếng khóc than vang trời dậy đất.

Tôi may mắn đậu Tú tài hai không phải vào Thủ Đức “thức đủ năm canh”  như các bạn nam cùng lớp. Nhưng tôi “out” khi cố chen chân vào Đại học sư phạm Huế. Đành phải ghi danh học MPC ở Đại Học Khoa học. Đi dạy kèm gặp bà chủ ác nghiệt, tôi lên giảng đường bữa đói bữa no. Ngày về làng xin tiền mua sách, tôi ứa nước mắt nhìn mạ lần mò chiếc kim băng mở túi áo lôi ra những đồng bạc lẻ. Sau bao đêm trằn trọc, tôi dặn dò thằng em lớp 11 cố học cho mạ yên tâm rồi quyết định thi vào khóa 28 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam vào năm 1971 theo lời khuyên của anh Hoàng Tấn, K25, người Quảng Trị. Nguyên văn lời anh: “ Tất cả có chính phủ lo. Ra trường, ngoài bằng tốt nghiệp (Võ) còn có thêm bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng (Văn) . Học 4 năm  với chương trình đại học lại được xem như văn võ song toàn. Đó cũng là một lựa chọn tốt  cho người trai thời loạn muốn thỏa chí tang bồng…”

Cuối tháng 12 năm 1971 tôi nhập trường. Người Pháp tôn vinh Đà Lạt là Deuxieme Paris; có bản nhạc ca  ngợi “Ai lên xứ hoa đào”; văn chương hết lời tán dương những cô gái má đỏ môi hồng. Nhưng qua mùa Tân Khóa Sinh, khi đã khoác lên mình bộ quân phục kaki vàng với cầu vai alfa đỏ, được ra phố cuối tuần tôi cũng chẳng biết đi đâu ngoài mấy vòng loanh quanh ở khu Hòa Bình, hay chui vào cine’ Ngọc Lan hoặc Ngọc Hiệp rồi xuống mấy chục bậc cầu thang leo xe Dodge về lại trường. Thôi, những lần sau đành ở lại  phòng, làm bạn với mấy thằng cù lần, lôi Anh văn ra học vì thuộc loại “dốt” ngoại ngữ và nhận biệt danh là nhóm “ Lờ quờ ”. Thằng Thế Hân có biệt danh “Hân gà” vì thấy gái là mặt đỏ au và lúng túng như gà mắc tóc. Thằng Kim Long, lai Miên, gốc Trà Vinh, luôn được đại đội phó “ưu ái ”  cho đi gác Đài Tử Sĩ nhưng cứ cười tươi… Cả bọn không bao giờ có vinh dự được gọi tên ra hội quán  Huỳnh Kim Quang gặp người thân chứ đừng nói chi đến chuyện gặp Đào!

Trời không thương nhà nghèo, Quảng Trị trở thành chiến địa ác liệt vào “mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Mạ tôi và đứa em may mắn vượt qua Đại Lộ Kinh Hoàng vào ở trại tạm cư Hòa Khánh- Đà Nẵng, hằng tháng ăn gạo trợ cấp.Thôi thế là tôi không bao giờ còn được trở về căn nhà tranh với bao nhiêu kỷ niệm buồn vui thời thơ ấu. Làng tôi, Ngã Ba Long Hưng –được nhắc nhiều lần trong cuốn Mùa Hè đỏ lửa của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam- đã tan nát, điêu tàn! Mặc cảm chồng chất mặc cảm, tôi co mình trong vỏ ốc, tháng tháng dành dụm chút tiền lương cấp trung sĩ ít ỏi, gởi về phụ mạ nuôi em.

Tháng 11 năm 72, khóa 27 và 28 trường Võ Bị nhận lệnh đi công tác Chiến tranh chính trị miền Trung. Tôi được phân công về Huế. Thành phố thơ mộng hiền hòa bên dòng sông Hương như sôi động hẳn lên bởi hình ảnh hào hùng của các chàng trai cằm gập vuông góc, đi đứng oai phong. Anh chàng Ngọc cùng đại đội vỗ vai tôi “Gái Huế dễ thương thật! Mày có bạn nhiều giới thiệu cho tao một em”. Tôi cười méo xệch “Kiếm đâu ra!”. Ấy thế mà tuần sau đã thấy Ngọc ngồi với một nàng trong quán chè Sầu, miệng mồm như tép nhảy. Thằng Thanh, tóc hớt  ba phân lộ ra mấy cái sẹo to tổ bố cũng quen một em Đồng Khánh hẳn hoi. Chỉ có tôi lủi thủi ngồi cắt dán mấy cái khẩu hiệu với thằng Tập. Thằng này đã có người yêu ở Củ Chi và tự hứa tuyệt đối chung tình.

Thật sự tuổi thanh niên ai chẳng rung động trước những bóng hồng. Thời học lớp 12, tim tôi đã từng hồi hộp với một cô bạn cùng lớp. Em có mái tóc xõa ngang vai, hiền hòa và học giỏi. Nhưng nhà em kín cổng thâm nghiêm và tôi chưa một lần hé môi. Tôi biết em đang học ĐHSP Huế khoa Vạn Vật nhưng cũng không dám tìm gặp. Liệu em còn nhớ tôi, thằng cù lần hôm nay đã mang quân phục nhưng vẫn mãi cù lần. Vậy là trong khi các bạn vi vu cuối tuần với các nàng ở chè Cồn Hến, bánh bèo Tây Thượng, cà phê Góp Gió… tôi ôm cây đàn guitar bị đứt dây ngồi nghêu ngao “Sao em không đến chiều nay Thứ Bảy?”. Niên trưởng Hưng, K 27 tò mò nhìn tôi “ Hiệp có bình thường không? ”. Dù sao tôi cũng không phải rơi vào tình trạng gởi thư xin tiền nhà như mấy thằng bạn. Mạ tôi nghèo kiếm đâu ra tiền!!!

Về Trường ba tuần, chúng tôi lại được lệnh đi tiếp đợt 2. Hiệp định Paris vừa ký kết, phải tăng cường công tác CTCT. Lần này đại đội tôi được phân công về Quảng Nam –Đà Nẵng. Mấy thằng bạn có Đào ở Huế méo mặt tưởng đâu phen này được “tái nạm” em yêu. Máy bay C 130 hạ cánh xuống phi trường Hòa Khánh, tôi có cơ hội vào Trại tạm cư thăm mạ, nhét cho thằng em ít tiền và mấy lời khuyên, rồi lên xe GMC vào Quảng Nam.

Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Nam là Đại tá Lê Trí Tín. Ông xuất thân từ quân trường Đà Lạt, và trước đây, ông cũng  từng ở trong khối Quân sự vụ của Trường Võ Bị nên quan tâm rất chu đáo đến các khóa đàn em. Chúng tôi được cung cấp ưu tiên lương thực, thực phẩm rồi chia ra từng toán nhỏ về các Chi khu. Có toán lên tuốt luốt vùng đồi núi Thường Đức, Quế Sơn; gần gần thì Đức Dục, Điện Bàn, Đại Lộc; đẻ bọc điều thì ở ngay thị xã Hội An…Riêng nhóm tôi về Duy Xuyên.

Duy Xuyên là một vùng đất cách Đà Nẵng khoảng 45 km phía Tây Nam, nằm dọc theo bờ Nam con sông Thu Bồn thơ mộng, con sông đi vào thơ ca của người xứ Quảng. Tôi chưa một lần đến đây nhưng đã thuộc mấy câu thơ của Tường Linh thời trung học:

                        Tôi nghĩ về một dòng sông

                        Dòng sông quê hương có đôi bờ  đất mật

                        Có những tên làng tôi yêu mến nhất

                        Có triền xanh, gành xám , bãi vàng

                        Những hàng cừ xe gió nước reo vang

                        Những thác xiết, nhọc nhằn thuyền lên ngược

                        Nguồn hai ngã, lòng sông chung nguồn nước

                        Khúc cạn khúc sâu, phía lở phía bồi

                        Sông Thu Bồn thương nhớ của ta ơi!

                                                            ( Dòng nhớ thương chảy mãi qua hồn)

Một quận nghèo nhưng hiền lành với những căn nhà nhỏ nép mình sau vườn khoai sắn xanh ngắt, những ruộng dâu bạt ngàn. Chúng tôi ở trong chi khu, hằng ngày phân tán thành những nhóm nhỏ làm công tác dân vận ở các xã như Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hòa, Xuyên Phú… Thằng Sanh, nổi tiếng hào hoa, đi một vòng phố chợ rồi về nói với cả nhóm: “Mấy cô nhan sắc trung bình trở lên đều là “hoa có chủ” của các anh công tác đợt 1 hết rồi, tao quay về mái nhà xưa thôi”. Nói xong hắn lúi húi viết thư hẹn hò với em Thành Nội!

Nhớ lần ở Huế, nhóm tôi được thằng Tiến mời tới nhà ăn giỗ. Cả một bàn dài có đến mấy chục món nhưng món nào cũng bày chút chút trong những chiếc dĩa nhỏ xíu. Báo hại cả bọn lúc về phải ghé chợ Đông Ba mua thêm chục mì gói. Thằng Quảng dân Bến Tre cằn nhằn:

– “Chịu không nổi kiểu cách của ‘Dân các Mệ’. Cả bàn, tao quơ đũa một phát là sạch bách. Ăn vậy hèn chi gái Huế cái eo nhỏ chút xíu trông thấy mà thương!”

Còn  đây, người xứ Quảng mộc mạc chơn chất như những món ăn của họ. Khoai lang Trà Đỏa củ to bằng cái đầu con nít, vỏ trắng ruột vàng phải cắt năm xẻ bảy đem nấu, bột khoai thơm phức nghẹn tới cổ họng. Ăn món gì cũng có cái bánh tráng kèm theo, không nướng thì nhúng nước cuốn. Lần đầu tiên tôi biết món Mì Quảng, niềm tự hào của dân Quảng Nam. Cách nấu không cầu kỳ như bún bò Huế nhưng cách ăn trông thật ngon với những cây cải non, sợi mì trắng, miếng  sườn heo, con tôm chiên vàng óng, mẩu bánh tráng dòn tan trong miệng, tay cầm trái ớt xanh cắn cái bụp… Có lần lãnh lương, cả bọn kéo nhau đi ăn đặc sản Bê Cầu Mống ở đầu cầu Câu Lâu thuộc quận Điện Bàn, tôi ngớ người ra khi nghe chị chủ quán nói “Chừng nuớ bua rùa. Đừng bỏa nữa mòa mẹn!”( Chừng đó vừa rồi. Đừng bỏ nữa mà mặn!). Dường như tôi đang nghe lại cái giọng Long Hưng quê kiểng xứ mình!

Tuổi thanh niên thấy gái như nam châm hút sắt. Qua hai tuần lại thấy các chàng SVSQ bắt đầu có cặp khi có màn trình diễn văn nghệ với các cô giáo trường Phan Bội Châu. Anh chàng Sanh phát hiện ra “Vẫn còn nhiều em coi ngộ lắm, mà là hoa chưa có chủ mới tuyệt! ”.

Thật sự, con gái vùng Điện Bàn, Duy Xuyên khá dễ thương. Họ không tiểu thư như gái Huế. Đa số có một vẻ đẹp khỏe mạnh, làn da trắng mát do vùng đất này xưa kia chuyên dệt lụa nuôi tằm. Họ ăn nói mạnh bạo và khá tự nhiên trong giao tiếp nhưng với bản chất rụt rè của mình, tôi chẳng kiếm được một em để dung dăng thị xã Hội An như các bạn.

Vào một ngày Thứ Bảy, nhóm tôi đi đắp đất làm đường ở xã Xuyên Châu. Cuối tuần nên anh nào trông cũng vội vàng để về văn nghệ văn gừng với các cô giáo. Gần 3 giờ, nhóm “Lờ quờ ” gồm tôi, Thế Hân và Kim Long nhận bao giàn cho các bạn làm nốt đoạn cuối cùng. Ba thằng con nhà ruộng đồng, lại không có em nên chúng tôi nhẩn nha cho đến xế chiều. Thấy một căn nhà có cái cổng vào bị lún, ba thằng thấm nhuần công tác dân vận làm luôn. Mọi việc hoàn tất, chúng tôi vào nhà xin rửa chân tay. Người thiếu phụ, chủ nhà, khoảng trên năm mươi, nét mặt còn vương nét một thời xuân sắc, không có vẻ mặn mà khi giao tiếp, chỉ chúng tôi ra giếng sau vườn.

Cái giếng được bao bọc bằng những viên đá ong mang dấu ấn thời gian. Nước giếng trong vắt và mát lạnh. Một cây ngọc lan tỏa bóng mát với những búp hoa còn xanh nhỏ nhắn như ngón tay út của người thiếu nữ đẹp. Tôi đưa tay vít một nhánh thì bỗng có…trái khế cắn dỡ bay vèo vào cánh tay. Ngước nhìn lên, cách đó khoảng năm mét, một cô gái đang vắt vẻo trên cành khế cổ thụ. Tôi nghĩ thầm  “Cô này mà bắn tỉa thì hết sẩy!”. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà hôm nay Cóc tôi mở miệng:

– Xin cái hoa, làm gì dữ vậy cô em?

– Nhưng nó đang xanh, hái thấy thương!

–  Vậy cô em “trả công” chúng tôi cái gì đây?

Tưởng nói đùa cho vui, nhưng ai ngờ cô ta nhảy xuống và đi tới chúng tôi với một túi khế trên tay. Cô khoảng 18, 19 tuổi, mái tóc dài, làn da trắng hồng. Kim Long buột miệng “ Ui! Chu cha…”

Chưa nói được câu nào thì từ trong nhà có tiếng gọi:

-Hạnh, vào nhà ngay!

-Dạ…Cô gái lè lưỡi, nhét vào tay tôi túi khế nặng rồi chạy biến.

Ba thằng ra về với “thành quả lao động”.

Tối hôm ấy, cả nhóm được tráng miệng với những trái khế vàng ươm, ngọt thanh.Thế Hân thắc mắc: “Sao bà mẹ coi bộ hổng có cảm tình với bọn mình?”. Anh chàng Thu đào hoa góp chuyện: “Chắc bả sợ con gái rơi vào tay tụi bây, lũ gian ác!”

Dù sao tôi cũng đã biết cô gái tên Hạnh và…một cái nốt ruồi lớn ngay dưới chân mày bên trái. Có lẽ, biết cũng để cho vui thế thôi. Cù lần như tôi nước gì!

* * *

Chiều Chủ Nhật, tôi từ Chi khu ra cái quán nhỏ ở góc chợ thuê mấy cuốn truyện chưởng của Kim Dung về đọc cho qua ngày đoạn tháng. Cô chủ tên Dung, nghe đâu cũng là “hoa có chủ” của một anh K27. Đang lúi húi tìm thứ tự mấy cuốn Thiên Long Bát Bộ,  bỗng nghe một giọng nữ phát ra từ cửa quán:

  • – Chị Dung, tìm cho em cuốn “Áo tiểu thư” của Duyên Anh. Răng chị…

Câu nói ngắt ngang nửa chừng khi cô gái nhận ra có  bóng người trai lạ đứng trong góc. Tôi nhìn ra. Đó chính là cô gái có cái nốt ruồi trên chân mày ngày qua…

Sau này, khi quen nhau, Hạnh vẫn hay nói đó là duyên kỳ ngộ. Em bảo nhà em không ai thích lính. Cũng đúng thôi, nhà thơ Hữu Loan đã  viết “Lấy chồng chiến binh, mấy người đi trở lại” cơ mà. Tôi trêu “Ghét của nào trời trao của ấy!”. Em cúi mặt buồn buồn.

Hạnh là con gái duy nhất của gia đình.Tên em đơn giản là Trần thị Hạnh. Em kể Ba chết từ lúc mới sinh, mẹ ở vậy nuôi em khôn lớn. Em vừa tốt nghiệp lớp cán sự y tế ngoài Đà Nẵng, về quê thăm mẹ trong lúc chờ bổ nhiệm. Tôi thở phào. Em ra trường sớm mấy tháng, có khi  lũ bạn công tác đợt 1 đã dzớt mất rồi.

Tôi trở lại thăm má Hạnh mấy lần theo lời anh chàng Sanh cố vấn “attack at home” nhưng lần nào cũng gặp một nét mặt  lạnh lùng. Má Hạnh tránh tiếp xúc hoặc chỉ trả lời nhát gừng những câu hỏi chân tình của tôi. Nhìn bà, tôi liên tưởng đến nhân vật nữ Anh Cô căm thù đàn ông vì bị Đoàn Nam Đế phụ tình trong cuốn Anh hùng xạ điêu của Kim Dung. Có lần tôi còn thấy mắt Hạnh hoe hoe đỏ như vừa mới khóc xong.

Chúng tôi đành biến quán cho thuê truyện của cô Dung thành nơi hò hẹn. Giai đoạn đầu chẳng biết nói chuyện chi, cứ đem mấy cuốn truyện ra mà tán về các nhân vật hoặc chuyện nắng mưa…Ấy thế mà vắng nhau một ngày đã thấy nhơ nhớ…

Nhưng có lẽ tình yêu làm cho người ta thông minh ra. Nghe bạn bè, một chiều Thứ Bảy tôi bạo gan rủ nàng đi chơi nhà thờ Trà Kiệu. Mượn chiếc  Honda Dame của cô Dung, tôi chở Hạnh lên đường.

Nhà thờ núi Trà Kiệu nằm trên ngọn đồi Bửu Châu cao khoảng 60 mét thuộc xã Xuyên Kiệu. Đó là một ngôi nhà thờ cổ được trùng tu từ thế kỷ XIX. Đứng ở tháp chuông, chúng tôi nhìn xuống và ngợp trong màu xanh biêng biếc của cây lá dọc theo hai bờ của dòng sông Thu Bồn thơ mộng. Hàng me tây cổ thụ che rợp mát khu vực nhà thờ và gần đó là một ngôi trường tiểu học do các nữ tu đảm trách. Những chiếc áo choàng đen  trong bóng chiều tạo nên một vẻ đẹp nao lòng. Hạnh cúi đầu kính cẩn khi đi qua những bức tượng tái hiện mười hai  chặng đường  Thánh giá của Chúa Giê Su. Nàng chỉ cái giếng nước mà người xứ đạo phong là giếng nước Thánh. Ai chân tình cầu nguyện khi uống sẽ toại nguyện với ước vọng của mình. Hai đứa cùng ngậm ngụm nước mát. Hạnh nhắm hai mắt lại giây lâu. Tôi hỏi em cầu nguyện điều chi? Em thầm thì “Bí mật!”.

Chúng tôi ngồi nghỉ mệt bên một triền bắp ven sông. Hạnh nói với tôi cách đây khoảng 25 km là Thánh địa Mỹ Sơn, Vương quốc của triều đại Champa cũ. Tiếc rằng chúng tôi không đến được vì lý do mất an ninh. Ánh nắng chiều trải trên dòng sông Thu, gió mơn man như quạt hầu. Dòm kỹ cái nốt ruồi của em coi thật ngộ. Nó hồng hồng và nổi như một hạt đậu cuối chân mày. Em đỏ mặt xấu hổ khi thấy tôi cứ dòm chằm chằm vô mặt. Tôi kể cho em nghe về làng quê của mình, về tuổi nhỏ chăn trâu cắt cỏ, về góc vườn mỗi khi giận mạ thường ra ngồi gục mặt rồi ngủ thiếp lúc nào không hay…Hạnh chủ động cầm tay tôi bóp chặt.Tôi nghe rõ hơi thở dồn dập của em. Và thằng con trai 22 tuổi lần đầu tiên biết thế nào là câu hát của Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên “Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt…”

Chúng tôi đã…thật sự yêu nhau từ giây phút đó. Có Hạnh tôi bớt cù lần hơn. Nhóm “Lờ quờ” mất cái đầu tàu. Hai  thằng bạn bắt tôi bao một chầu Mì Quảng ở Ngã ba Nam Phước trước khi từ giã nhóm. Chuyện nhỏ đối với một gã trẻ tuổi đang say hương vị tình yêu!

Chúng tôi đã có những ngày thật thú vị. Hạnh đưa tôi đi Hội An thăm lại ngôi trường Trần Quý Cáp thời nàng học trung học. Hai đứa lên Chùa Cầu nhìn tượng con chó và con khỉ, lang thang trên con đường nhỏ dọc sông Hoài ngắm những ngôi nhà lợp ngói âm dương. Tôi biết thêm món ăn độc đáo xứ Hội như cao lầu, bánh tráng đập Cẩm Nam, chén chè “ chí mà phù” của ông Tàu già trên phố Nguyễn Thái Học. Có một điều làm tôi cảm động, dù hơi ngượng, là thỉnh thoảng khi trả tiền, cô chủ quán bảo “cô bạn anh trả trước rồi”.

Mỗi lần như thế, Hạnh bảo – Để mặc em, cho nó vui.

Nhưng có lẽ Hạnh thích nhất là khi tôi tặng nàng tập thơ “Thuở làm thơ yêu em” của Trần Dạ Từ . Đến bây giờ tôi  vẫn còn nhớ rõ cái màu cà phê sữa của cuốn sách. Những câu thơ tài hoa như dành riêng cho chúng tôi trong bài thơ Nụ hôn đầu :

Lần đầu ta ghé môi hôn

Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang

Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng

Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông…”

Tôi ghi dòng chữ trên đầu trang : “Để em đọc khi nhớ anh”. Hạnh bảo:

– Đây sẽ là cuốn sách gối đầu giường của em. Mãi mãi.

Khi yêu Hạnh, thật sự tôi đã nghĩ đến một mái ấm gia đình. Lăng nhăng không phải là bản chất của thằng tôi cù lần. Chúng tôi còn hơn hai năm để nuôi dưỡng tình yêu. Nhưng thật khó khăn khi tiếp cận với má nàng để bà hiểu tôi là người tử tế.

Suy nghĩ  lâu lắm, Hạnh cắn môi bảo tôi:

-Thứ Bảy này mình lên nhờ bà Ngoại. Ngoại thương em lắm. Mà anh mặc đồ civil nhen.

Bà ngoại Hạnh ở Gò Nổi thuộc quận Điện Bàn. Bà trên 70 nhưng còn khỏe mạnh, giọng nói sang sảng. Trên bàn thờ có hình một ông mặc phẩm phục triều đình trông rất quắc thước. Hạnh bảo tôi đó là ông Cố, một trong Ngũ phụng tề phi của xứ Quảng Nam, niềm hãnh diện của dòng họ ngoại.

Bà đón tiếp cô cháu gái thật vồ vập: – Cha mày. Mấy lâu đi mô mất mặt không thấy thăm bà?

Niềm vui của bà lan qua cả bạn của cháu. Bà sai đứa cháu nhỏ múc nước lấy khăn cho  tôi rửa mặt, leo dừa hái trái “hai đứa”uống, ra vườn thử xem có trái mít nào trở tiếng thì chặt xuống cho “tụi nó” ăn…Đúng là một bà ngoại xứ Quảng nồng hậu mà chơn chất.

Bửa cơm trưa thật ngon miệng với thịt luộc chấm mắm cái, rau cải nấu canh cá rô thêm chút gừng.Tôi nằm trên bộ ngựa bằng gõ thiu thiu ngủ, hai bà cháu rì rầm to nhỏ ở phòng trong.

Chúng tôi ra về khi chiều đà nhạt nắng. Cái nhìn của bà cụ đối với tôi chăm chú hơn nhưng không còn vẻ ồn ào như ban sáng. Hạnh phụng phịu hờn dỗi và không chịu mang trái mít về làm quà như dự định.Trên đường  nàng im lặng nép sát người vào lưng tôi. Một linh cảm bất an trong lòng. Gia đình nàng chê tôi điểm nào???

*          *          *

Mười ngày liền tôi không gặp được Hạnh. Nhờ vã cô Dung hai lần nhưng không ăn thua, má nàng giữ rịt trong nhà. Lại nghe  bạn bè xôn xao đợt công tác có thể sắp kết thúc nhường cho K 29, lòng tôi như lửa đốt. Có đêm tôi liều mạng mượn chiếc Honda phóng về Xuyên Châu. Ngang nhà nàng cửa đóng kín mít, ánh đèn nhỏ hắt ra leo lét. Kim Long ngăn tôi : “Coi chừng có bữa anh Hai ăn súng của bọn du kích. Xứ này coi thế nhưng không hiền đâu!”

Chiều thứ ba, đang ngồi đánh domino với đồng đội thì anh chàng Thu đi về bảo tôi:

-Tao thấy má vợ của mày ngồi xe ôm đi đâu về hướng  Điện Bàn.

Cơ hội trời cho, tôi vất mấy con bài cho Kim Long rồi vẫy xe đi Xuyên Châu…

Nhà vắng ngắt nhưng cửa vẫn mở.Tiếng nước xối trong phòng tắm dưới nhà ngang. Để cho Hạnh khỏi ngượng ngùng, tôi không lên tiếng.Tôi nhìn kỹ mấy bức hình trên vách . Hình bà má hồi còn trẻ bế Hạnh trong lòng; hình Hạnh ôm con búp bê thời nhỏ; hình nàng trong chiếc áo blue trắng đang thực tập ở bệnh viện, cái nốt ruồi có món tóc mai che ngang… Phía bên kia là chiếc giường nhỏ có cái áo gối màu hồng thêu những bông hoa li ti, trên gối còn vương vài sợi tóc dài. Chắc Hạnh vừa nằm ngủ trưa xong.Tôi ngồi xuống cạnh giường, tự dưng có cái ý nghĩ thật lãng mạn là nhặt một vài sợi tóc của nàng làm của riêng. Dưới gối cồm cộm một cuốn sách.Tôi lật lên. Đúng là tập thơ của Trần Dạ Từ. Tôi nhớ câu nói của Hạnh hôm nào “Đây sẽ là cuốn sách gối đầu giường của em”, lòng xao xuyến một thứ tình cảm ngọt dịu.

Tôi lật vài trang sách, một tờ giấy nhỏ gấp tư  kẹp ngay bài thơ “Mối tình đầu”. Quả thực là tôi không nghi ngờ gì về tình cảm của Hạnh nhưng tôi vẫn tò mò giở ra. Nét chữ cứng cáp, chân phương có mấy dòng : “Hạnh, Ba đã nghe bà ngoại nói chuyện. Con hãy chấm dứt ngay mối quan hệ  không lành mạnh đó. Có cơ hội chúng ta sẽ trao đổi thêm.Trước mắt, chuẩn bị cho Ba ít thuốc kháng sinh.Sẽ có giao liên về lấy trong tuần tới.”

Tôi choáng người. Ba Hạnh chưa chết như nàng đã nói với tôi? Thứ ngôn ngữ này rõ ràng là loại ngôn ngữ của phía “bên kia”. Có lẽ nào ba nàng là  cán bộ Cộng Sản hoạt động nằm vùng? Có tiếng động dưới nhà ngang.Tôi đặt cuốn sách dưới gối trở lại ngồi ở bàn giữa, cố gắng giữ nét mặt thật bình tĩnh.

Hạnh xuất hiện trong bộ đồ hoa màu tím nhạt. Em mừng rỡ “a” lên một tiếng rồi sà xuống bên cạnh tôi, thì thào “Em nhớ anh quá!”.Mùi hương chanh và mùi tươi mát của da thịt con gái nồng nàn bốc lên nhưng quả thật tôi không còn lòng dạ nào để rung động. Tôi đẩy nhẹ người Hạnh ra. Nàng hơi khựng lại rồi hỏi tôi: “Anh đến lâu chưa? Sao anh biết má vắng nhà?” .Tôi trả lời “Do tình cờ vậy thôi”.

Những cảm xúc trong tôi đã bị dội một thùng nước lạnh. Đầu tôi rộn lên nhiều câu hỏi khó trả lời. Hạnh không giấu sự vồ vập và hé môi chờ đợi một nụ hôn say đắm nhưng tôi chỉ chạm phớt vào môi. Nụ hôn lần này sao nghe vị đắng chát. Tôi có cảm tưởng bị lừa dối, thậm chí hơi sợ hãi. Có lý nào cô ấy đang giăng bẫy tôi, một chàng Sinh viên Võ Bị, một Sĩ Quan quân lực VNCH tương lai ?

Người hàng xóm qua chơi kéo tôi thoát khỏi sự khó xử. Lấy cớ phải về họp gấp, tôi từ giã Hạnh trong nét mặt phụng phịu của nàng.Tôi đang cần thời gian để suy nghĩ.

Đêm hôm ấy tôi trằn trọc mãi. Gói Capstan gần hết dù tôi không phải là thằng nghiện thuốc lá.Tôi đã hiểu ra thái độ lạnh nhạt của má và bà ngoại nàng. Tôi tự vấn xem có khi nào Hạnh hỏi mình về lĩnh vực quân sự chưa? Có khi nào mình sơ suất tiết lộ điều gì chăng. Rõ ràng tôi yêu Hạnh nhưng phương châm của trường Mẹ đã khắc sâu “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm”. Tôi thiếp đi với  điều  tâm niệm thứ tám trong Mười Điều Tâm Niệm của SVSQ/TVBQGVN : “Không có gì là không thể làm được đối với SVSQ”.

Tuần sau đó tôi nằm mẹp trong Chi khu. Hai lần có lời nhắn của cô Dung ra quán sách nhưng một lần tôi cáo ốm và một lần kêu bận công tác. Tôi không đủ can đảm để gặp Hạnh. Tôi sợ mình sẽ bị lung lay bởi đôi mắt ướt và cái nốt ruồi như hạt đậu đỏ cuối chân mày.

Rồi cũng đến ngày từ giã Duy Xuyên. Hạnh gởi qua Kim Long cho tôi một túi nhỏ gồm những mứt bánh thổ sản, sáu chiếc mouchoir có hai chữ H lồng nhau và lá thư chỉ có một dòng “Em yêu anh mãi mãi”.Tôi nhếch môi cười cay đắng, đem mớ quà cho bạn bè liên hoan, sáu cái khăn tay tôi để lại trên cái ghế bố ngủ đêm ở Chi khu và xé bức thư thành những mảnh nhỏ.

Ngày leo lên chiếc GMC ra phi trường quân sự Đà Nẵng, đưa mắt nhìn quanh, tôi nhận ra Hạnh đứng nép sau một cây phượng lớn. Em nhìn tôi, môi mấp máy điều gì không rõ. Thôi đành. Vĩnh biệt mối tình đầu oái oăm!

 

*          *   *

Về lại trường, chúng tôi chúi mũi vào học Văn hóa bù lại cho chuỗi ngày công tác. Sự bân rộn làm tôi không nghĩ ngợi nhưng khi đêm về tôi luôn nhớ đến Hạnh và những cái hôn mềm môi ướt rượt.Tôi nhận gác thay cho đồng đội ở Tiền đồn hoặc Đài tử sĩ mà không chút phân vân. Quên, quên và phải quên.

Nhưng bất ngờ thay, tôi trở thành người nổi tiếng của Đại đội vì những lá thư dồn dập bay về. Nét chữ màu tím mảnh mai của Hạnh! Một tuần tôi nhận đúng bảy lá! Một tháng đủ ba mươi chiếc phong bì! Tay đàn em K30 mỗi lần nhét thư vào phòng dù cố gắng nghiêm trang nhưng không giấu nổi nụ cười tủm tỉm.

Tôi không mở bất kỳ lá thư nào. Tôi kiếm một cái túi nilon và gom nó lại. Rồi cô ấy cũng sẽ hết kiên nhẫn.

Tháng sau, tôi có một lá thư với nét chữ lạ. Tôi mở phong bì. Dòng chữ ngắn của cô Dung: “Sao anh Hiệp không viết thư cho Hạnh?”. Tôi bỏ chung vào gói thư, không trả lời. Thời gian qua…

Đã gần cuối năm thứ ba.Tôi vẫn là một anh trai tân. Thật đáng thương hại khi trong đêm trao nhẫn truyền thống, tôi cầm lấy chiếc nhẫn tự lồng vào ngón tay mình. Tôi tiếp tục làm nhóm trưởng nhóm “Lờ quờ”, không quan tâm đến sự mối mai của bạn bè với các em gái Bùi Thị Xuân hoặc với những cô sinh viên Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt danh giá.

Một chiều thứ Bảy, có tiếng của Sinh viên trực nhật trên loa phóng thanh gọi tôi ra hội quán Huỳnh Kim Quang gặp người thân. Không thể là mẹ tôi, người suốt đời chưa bao giờ nghĩ mình được ngồi máy bay, dù chỉ một lần. Không thể là em tôi đang  chúi đầu trên giảng đường Đại học ở xứ Huế xa xôi. Chỉ có thể là Hạnh? Lúc này tôi đã chuyển đại đội.Tôi chạy tìm Kim Long hiền lành cộng thêm anh chàng Thu hào hoa nhiều chiêu trốn gái ra hội quán tìm hiểu và cứu giúp. Lòng tôi như đánh lô tô. Ba mươi phút sau, Thu trở lại cười  rộng miệng “Xong rồi.Tao bảo mày đã hỏi vợ ở quê!”. Kim Long đi sau mặt buồn xo bảo tôi : “Anh Hai ác quá. Em khóc nhiều lắm. Tội quá trời luôn!”.

Đêm hôm ấy, tôi đốt hết tập thư của Hạnh.Trong mắt bạn bè cùng đi công tác Duy Xuyên, nhất là Thành Sang, Sinh viên Sĩ Quan  phụ trách câu lạc bộ Huỳnh Kim Quang, tôi là thằng Don Juan. Sang bảo “Thấy con nhỏ thất thểu ra về, tao muốn đấm vào mặt mày một cái ”. Cũng đành!

 

*     *   *

Tôi sẽ không nói nhiều về thời gian hơn hai năm đi tù, thân phận không bằng một con vật. Mạ tôi đã hồi cư cất túp lều trên nền đất cũ Long Hưng, em trai tôi bỏ học cầm cái bay đi làm thợ hồ. Tôi thành “con bà Phước” sống nhờ vào các niên trưởng và các chiến hữu có thân nhân thăm nuôi. Ngày cầm giấy ra trại, niên trưởng Huỳnh công Kỉnh, K25 còn phải cho tôi  tiền mua vé  tàu. Về làng xưa  vào ngày cuối năm lúc trời đã chạng vạng, mạ ôm chầm lấy tôi rồi nghẹn ngào bảo “Vào Nam đi con. Không sống nổi ở đất ni mô. Thay đổi hết rồi. Sâu bọ lên làm người rồi!”.Tôi ở được với mạ một đêm, cầm trong tay cái địa chỉ của người làng tận Sài Gòn, ăn hai bữa cơm trộn bắp rồi lại ra đi…

Trên chuyến xe Bắc Nam ọp ẹp, tôi đi qua vùng đất Quảng Nam đầy ắp kỷ niệm xưa…Hòa Khánh, Hòa Cầm, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Duy Xuyên…Chắc bây giờ Hạnh đang ở trên  đà danh vọng, có khi  làm bà Cán Bộ cũng nên. Tôi cũng chẳng ân hận gì. Tôi với nàng rõ ràng là hai đường thẳng song song.

Tôi cũng chẳng muốn nhắc lại tháng ngày ngược xuôi kiếm sống trên đất Sài Gòn. Người làng cũ đã bán nhà đi kinh tế mới. Tôi nằm vơ vất ở bến xe Miền Đông ba đêm rồi may mắn gặp lại Ngọc, thằng bạn cùng đại đội. Hắn giúp tôi gặp nhóm bạn cũ đang thay nhau đạp xích lô từng ngày; có khi lại mang vác hàng cho mấy bà bán phụ tùng xe đạp ở chợ Trời; có khi lang thang không biết đêm nay mình sẽ ăn đâu, ngủ đâu. Đúng  như câu thơ của Lý Bạch “Xử thế nhược đại mộng!”. Cuộc đời  quả là một giấc mộng lớn. Mới ngày nào chúng tôi còn là những chàng trai hào hoa ấp ủ nhiều hoài bão.Tôi nghe tin anh Hoàng Tấn đã bị bắn chết vì phản kháng ở Đơn Dương- Đà Lạt. Bạn  bè cũ có thằng vượt biên thoát, thằng mất tích, thằng còn ở trong các trại giam, thằng vào rừng tìm lực lượng kháng chiến…

Rồi cuộc đời đưa đẩy tôi lưu lạc qua đất Campuchia bằng xe đò ở Tân Châu-Hồng Ngự. Tôi làm nghề cắt tóc dạo ở Phnompenh, bỏ mối thuốc cho một ông Trùm buôn lậu thuốc Tây của Xí nghiệp Quốc doanh Việt Nam kiếm cơm hàng ngày, thậm chí có khi còn làm y tá chích thuốc dạo cho bệnh nhân. Ơn trời, chưa nghe ai chết! Tôi giao tiếp với  người Cam ở các chợ Schabarbauu, chợ Chắc Nghệ… Đôi khi thất chí, muốn lấy đại một cô Miên quấn xà rông, có mấy cái răng vàng 24 karat  sáng chóe chuyên ăn mắm bò hóc cho xong đời!

Tình cờ tôi quen anh Tài, một Việt Kiều Miên về nước năm 1972 lúc người Việt bị cáp duồn. Anh lên lại Nam Vang  làm ăn và có ý định  vượt biên qua Thái Lan. Anh cần một tay sử dụng súng sẵn sàng bắn vào Công an hoặc hải tặc. “Một liều ba bảy cũng liều”, tôi nhận công việc này.

Chúng tôi lên Kompongsom mua một chiếc ghe cũ bề ngang 2m dài 7m được tân trang, sửa lại lốc máy và khởi hành vào một đêm tháng Tám từ Vịnh Tân Hao. Trên ghe có sáu người lớn và hai con nít. Ghe không dám đi gần bờ vì sợ lính biên phòng của Miên. May mắn thay, gần tới KoKong thì trời đổ mưa lớn che khuất tầm nhìn của các trạm gác. Lênh đênh trên biển 4 ngày chúng tôi gặp những chiếc tàu treo cờ Thái và ghe đi đúng hướng cập vào tận một hải cảng. Tôi chưa phải sử dụng cây M16!

Lúc quyết định theo anh Tài tôi có ý nghĩ nếu chuyến đi không thành công thì biển sẽ là mồ chôn cuộc đời đã tận đáy xã hội của mình.Tôi chẳng còn sợ gì cái chết. Tôi cũng  dự định nếu đến được Thái Lan thì sẽ ngữa mặt lên trời cười ba tiếng bù lại hơn 10 năm tủi nhục sau ngày Miền Nam sụp đổ. Nhưng tôi không làm được điều này vì chỉ kịp xách cái bao đi theo người lính Thái về trại tạm trú Leam Ngộp.

Sau ba tuần ăn, ngủ, nghỉ, chúng tôi chuyển lên trại chính là Panat Nikhom. Nghe nói chỉ hai tháng sau, trại tạm cư đóng cửa không còn chấp nhận người tị nạn Việt Nam.Và ở đây, tôi đã quen Minh Hạnh, vợ của tôi bây giờ.
Qua bao nhiêu gian khổ, tôi không còn giữ được bất cứ một thứ giấy tờ nào.Tôi chỉ còn nhớ số quân của mình. Nhưng may mắn thay, khi được  Cao ủy Liên Hiệp Quốc phỏng vấn, tôi gặp Thiếu tá niên trưởng Tôn Thất Diên K10, Trưởng khoa Anh Văn của Trường Võ Bị, đang làm phiên dịch cho phái đoàn.Thầy đã tận tình giúp đỡ tôi. Chao ôi là ân tình của trường Mẹ! Tôi được nhập cư vào đất Mỹ. Trong tháng ngày chờ đợi và học nghề ở Phi Luật Tân, bạn bè K28 cũng đã yểm trợ cho  tôi một ít tài chánh trong tình nghĩa đồng môn, bạn bè cùng khóa…

Như bao người đến Mỹ muộn màng, nên vợ chồng phải hùng hục kiếm sống. Một người ôm 2,3 jobs và thay đổi công việc liên tục từ hầu bàn, rửa bát, làm vườn, dọn tuyết, sơn nhà, giữ trẻ…đêm về còn phải đi học ESL . Bên nhà báo tin mạ mất , tôi cũng chẳng thể trở về. Thôi thì buổi chiều ly biệt cuối năm  đó, tôi cũng đã nhủ thầm “Lạy mẹ, con đi”…

Tôi cũng không hiểu sao vợ tôi lại có cái tên trùng với Hạnh Duy Xuyên? Lại sinh cùng năm ký hiệp định Geneve 1954. Minh Hạnh người Vĩnh Long và hiền lành như cây trái miệt vườn sông Hậu. Cô ấy chưa bao giờ hỏi tôi về quá khứ và cũng không biết gì về Trường VBQGVN với những chàng trai quân phục dạo phố worsted, Jaspe, cầu vai alfa đỏ… Chúng tôi từng bước ổn định cuộc sống với hai con gái chăm ngoan.

Sau những nhọc nhằn, giờ đây tôi đã có những phút giây thư giãn. Tôi bắt đầu liên lạc, thư qua tin lại với bạn bè xưa. K 28 có đâu khoảng 50 người trên đất Mỹ. Bạn bè  hầu hết đã quá 60, lâu lâu lại nghe tin buồn một thằng về “Vùng V”. Ôi! Đời người như bóng câu qua cửa sổ.

Năm ngoái, tôi về Houston, Texas tham dự Đại hội Võ Bị lần thứ 19.  Thật cảm động khi gặp lại  những gương mặt “gian ác” thuở nào. Chúng tôi hò hét, cười đùa y như những chàng trai mới lớn. Nhắc lại kỷ niệm xưa có thằng rươm rướm nước mắt dù tóc trên đầu đã ngã màu bạc trắng.

Hôm đến nhà hàng Kim Sơn dự dạ tiệc, ngang qua một số chị em Hội Phụ nữ Lâm Viên, tôi chợt nghe tiếng gọi:

  • – Anh Hiệp…Có phải anh Hiệp không???

Tôi dừng chân. Trước mặt tôi là một người đàn bà còn vẻ duyên dáng trong chiếc áo dài xanh truyền thống…Nhưng tôi không thế nào nhớ nổi đó là ai.

Người đàn bà mỉm cười: -Trông anh không thay đổi mấy. Em nhận ra ngay. Dung Duy Xuyên đây! Anh còn nhớ không?

            -Ồ, cô Dung Duy Xuyên, người góp phần mai mối cho mối tình đầu của tôi ở Quảng Nam. Chúng tôi mừng rỡ. “Tha hương ngộ cố tri ”, hạnh phúc nào bằng! Chúng tôi bồi hồi nhắc lại chuyện hơn 40 năm về trước, thời tôi là một anh SVSQ cù lần và Dung với cái quán cho thuê sách ở góc chợ…Dung đã lấy vị Niên trưởng K27 khi anh đi “tù cải tạo” về và hai vợ chồng qua Mỹ theo diện HO năm 1992.

Dung chợt nghiêm mặt hỏi tôi:

– Anh có nhớ gì về Hạnh không?. Tôi cười cười:

– Sao? Cô ấy làm bà Bí thư Tỉnh ủy chưa? Có bao nhiêu biệt thự rồi?

-Anh không biết thật sao? Đàn ông các anh thật vô tâm…Nó tội lắm.

Dung kể cho tôi nghe. Quả thực như tôi nghĩ, ba Hạnh không chết như trong lý lịch đã khai. Ông tập kết ra Bắc khi Hạnh còn nằm trong bụng mẹ và trở về Nam từ những năm 70. Ông móc nối với gia đình để được tiếp tế và hoạt động trên đất Quảng Nam. Đó cũng chính là lý do mà cả bà ngoại và má Hạnh ngăn cản không cho Hạnh giao tiếp với tôi, một người lính VNCH. Sau ngày tôi trở về trường không lời từ giã, Hạnh đau khổ lắm. Không nhận được thư hồi âm, cô trốn nhà lặn lội vào Đà Lạt. Trước thái độ cự tuyệt lạnh lùng và dứt khoát của tôi, cô về sống lầm lủi ở Xuyên Phước, phụ trách phòng Hộ sinh Xã.

Ngày miền Nam mất, ba Hạnh công khai xuất hiện với cương vị một  “cán bộ Cách Mạng” cao cấp trong sự mừng rỡ của người mẹ chờ đợi  đằng đẳng 20 năm ròng. Nhưng ngày vui ngắn ngủi chẳng được bao lâu. Sự thủy chung của bà đã bị trả giá khá phũ phàng. Chỉ bốn tháng sau, một người đàn bà miền Bắc xuất hiện với những đứa con sau lưng. Ba Hạnh lúng túng giải thích, nhưng mọi chuyện đã quá rõ ràng. Má Hạnh không có con trai. Căn nhà từ đường có cây ngọc lan, có cái giếng đá ong đành để lại cho gia đình mới. Hai mẹ con trở về Điện Bàn sống  với bà Ngoại trong ngôi nhà tôi đã một lần đến thăm.

Hạnh từ chối đặc quyền đặc lợi dành cho  “con em chính sách” đi học Bác sỹ ở Hà Nội. Mẹ Hạnh suy sụp hẳn đi và mất sau một cơn đột quỵ. Trước khi mất, bà cầm tay Hạnh ứa nước mắt như một lời xin lỗi muộn màng. Mãn tang mẹ, Hạnh quyết định đi tu Thiên Chúa giáo dòng Phước Môn. Và hiện giờ nàng đang là một nữ tu phụ trách trường trẻ em mồ côi gần Nhà thờ Núi Trà Kiệu!

Tôi ngồi lặng.Trong đầu tôi dần hiện ra hình ảnh cô gái có khuôn mặt trắng mát, cái nốt ruồi như hạt đậu đỏ cuối chân mày, một buổi chiều tháng Ba,ngôi nhà thờ cổ, ngụm nước giếng mát lạnh và …nụ hôn đầu. “Lần đầu ta ghé môi hôn. Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang…”

Tôi biết mình sẽ có nhiều đêm mất ngủ. Hạnh ơi!…

    Hương Thủy

 

 

 

 

 

BẢN SAO TỘI NGHIỆP.

 

Mười bảy tuổi, quyển sách đầu tay của tôi được tủ sách Tuổi Hoa xuất bản… Cả một thế giới nhỏ bé quanh tôi xôn xao, nhưng ba vẫn thản nhiên:

– Ba tưởng con thích làm một nhà thơ hơn chứ!

Tôi cũng tưởng thế, từ năm lớp tám, tôi đã có những bài thơ trẻ con đăng trên các báo, tôi trả lời:

– Con muốn khẳng định mình.

Hơi huênh hoang, nhưng ba chẳng nói gì… Tôi biết những việc tôi làm được là nhờ ba tôi… Tâm hồn thơ dại của tôi được nuôi dưỡng trong một môi trường đẹp, tôi có một tủ sách cổ quý giá của ông nội để đắm chìm vào đọc thay vì rong chơi cùng bè bạn, tôi có một vườn Quỳnh để thao thức nửa đêm ngắm từng nụ hoa run rẩy nở, đẹp đến trào nước mắt, tôi có một con đường Trúc Đào tuyệt vời trong khoảng sân để mỗi ngày cứ thơ thẩn “còn lối bâng khuâng ngõ Trúc Đào”… Những buổi ngâm thơ, bình thơ của ba vào những ngày trăng tỏ đã ru ấu thời tôi vào dòng cổ tích. Các thầy cô dạy văn đã rất ngạc nhiên vì một con bé non choẹt như tôi lại rành rẽ điển tích, điển cố như một nhà nho chân chính…

Ba tôi hiền lắm, tất cả mọi người tiếp xúc với ông đều yêu quý ông, nhưng ông lại rất nghiêm khắc với tôi, có lẽ hơn ai hết, ông biết tôi là một con nhóc bất trị, nhưng thật ra ngoài cái vẻ huênh hoang bất cần, trái tim tôi chỉ là một chiếc lá non run rẩy – như con ốc mượn vỏ che thân vậy mà – Làm bất cứ việc gì tôi cũng cố gắng hết sức để ba hài lòng và tôi sống không một chút nào bình an… Một người bạn lớn làm thơ ở phương xa có hẹn đến nhà, rồi khi tìm đến chỉ để bỏ vào thùng thư một tờ thư nhẹ hẫng: “Tôi đã đến nhà, nhà em kín cổng cao tường, hàng xóm nói em là con ông lớn… ” Đọc thư, tôi đã đau đớn biết bao!

Năm 1972, mùa hè đỏ lửa, Nha Trang của tôi lúc ấy là một thị xã yên bình nhất nước, nửa đêm cả xóm hốt hoảng vì tiếng xe cộ ầm ĩ, xôn xao… Khu vực Xóm Mới thuở ấy còn rộng rãi lắm, cuối đường nhà tôi là một rừng dương liễu có đường mòn đi ra biển… Những người dân Pleiku di tản xuống Nha Trang đã tìm đến ba tôi trong cơn hoảng loạn trước khi tìm đến chính quyền… Những năm trước đó, ba tôi đã nhận thêm một trách nhiệm khác nữa thuộc ngành giáo dục…

Khi ba tôi mất, tôi như một con diều đứt dây, bay lang thang cùng trời cuối đất mà không biết lúc nào rơi xuống… chỉ biết là cần phải bay cao bay xa… Tôi ra trường năm 1978, về dạy học ở một nơi tận cùng của tỉnh, ông Hiệu Trưởng trấn an:

– Cô yên tâm, ngày xưa ba cô nuôi tôi suốt mấy năm sư phạm.

Tôi không hề biết chuyện đó, mẹ tôi chỉ nói:

– Có mấy đứa sinh viên của ba ở quê ra, nghèo lắm, ba cho tiền ăn học… sau nghe nói lên rừng.

Và trong một dịp đến trại An Dưỡng nuôi người già và trẻ mồ côi Lạc Thiện, ông Giám Đốc đã nhận ra tôi không biết qua tên hay qua nét mặt.

– Ngày đó, tôi được lệnh ném một quả lựu đạn vào nhà ba cô nhưng tôi không thể, thay vào đó tôi chỉ quăng một cục sắt để cảnh cáo… Sau đó tôi bị điều qua nơi khác.

Chuyện này thì tôi biết, năm 1970, bên ngoài cục sắt là những lớp giấy báo và một lá thư… Đó cũng là lý do ba tôi muốn từ chức để bảo vệ sự an toàn cho cả gia đình, nhưng rất tiếc ba đã không làm được điều ấy để rồi 5 năm sau trả nợ cho đất nước bằng chính sinh mạng của mình.

Thuở nhỏ, tôi vừa đau khổ vừa hãnh diện vì ba, những mối tình thơ dại của tôi bị ánh mắt giễu cợt của ba đốt thành tro bụi và biến tôi thành một kẻ bạc tình bạc nghĩa. Rồi những bài thơ đăng ở Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Ngàn Thông, Mây Hồng, … Những truyện ngắn đăng ở Sóng Thần, Thời Tập… Ban đầu vì đam mê, thích thú sau dần dần như một cái nghiệp phải trả hoài trả hủy.. Nhiều lúc tôi quá mệt mỏi vì những cố gắng của mình… Tôi chỉ muốn nằm dài ngày này qua ngày khác, nhưng tôi biết ba kỳ vọng vào tôi những hoài bão lớn vì khi ông đọc bài phỏng vấn tôi trên một tờ báo trẻ, tôi đã trả lời rất thành thật vào lúc đó, ước mơ của tuổi mười bảy dễ thương: “Em muốn khi ra trường sẽ được làm tùy viên báo chí của tổng thống.” Ba hỏi : “con thật sự nghĩ đến việc đó sao?”

 Nhưng không ai biết tôi mơ ước những gì, vì những khi quá mệt mỏi, tôi vẫn thường tự nhủ: “tôi chỉ thích làm thơ và đi chơi lang thang!”

Tôi muôn đời chỉ là một bản sao tồi tệ .

Thế rồi khi ba mất vào sinh nhật tôi năm 19 tuổi, tôi buông thả hết, tôi ném những mơ ước của mình vào một xó xỉnh nào đó của giòng đời luân lạc, tôi cay đắng nghĩ rằng bây giờ tôi có làm gì bậy bạ cũng chẳng sợ ai, tôi đi xóa mù trên núi, tôi học Cao Đẳng Sư Phạm, tôi ra trường đi dạy xa lơ xa lắc, bỏ dạy, lấy chồng, viết diễn văn thuê, mở nhà hàng nổi tiếng có tên trong các sách giới thiệu du lịch của Thái Lan, viết lách lăng nhăng rẻ tiền theo đơn đặt hàng không dám ký cả tên mình… Nhiều lúc trái tim loạn nhịp than van, vì đâu nên nỗi ???

Cách giáo dục của ba tôi đúng hay sai tôi không biết vì 5 người khác trong gia đình đều thành công mỹ mãn, trừ tôi ra, lơ ngơ láo ngáo: “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”…
Chốn đoạn trường của tôi nhiều gập ghềnh cay đắng, nhưng tôi cứ hất cái mặt đáng ghét của mình lên để tự hào rằng tôi không sợ, tôi chưa bao giờ biết thế nào là sợ hãi… vì quanh tôi lúc nào cũng có những thiên thần hộ mệnh để tôi can trường đi tiếp con đường mình đã chọn dù khá chông gai và  đâu đó… đôi khi … như ngày xưa,  khi quá mệt mỏi, tôi vẫn thường tự nhủ: ” …thật sự, tôi chỉ thích làm thơ và đi chơi lang thang!”

TÔN- NỮ THU- DUNG

  PHẠM CHU SA MÊNH MÔNG CÕI TÌNH

 

 

“Quá nửa đời anh đi tìm một nửa
Một nửa nào thất lạc của anh xưa
(Phạm Chu Sa)

Phạm Chu Sa có thơ đăng trên các báo văn nghệ Sài Gòn từ 1970, khi ông đang theo học Đại Học VạnHạnh, cùng lúc làm biên tập và là thư ký tòa soạn tuần báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh, từ 1971 đến cuốinăm 1973 thì bị bắt quân dịch, bị đẩy lên Tây Nguyên, đến đầu năm 1975, ông đào ngũ trốn về SàiGòn.

Cả ba tập thơ của ông xuất hiện trước công chúng có một khoảng cách khá dài, Những Nụ Tình Xanh do cơ sở Đồng Dao xuất bản năm 1972. Đến tháng 2 năm 1975, ông tự xuất bản tập Trên Đồi Sương Phủ, lúc mà cuộc chiến bùng nổ ác liệt và đến hồi gần kết thúc, nên tập thơ bị bỏ ngỏ, không thể tới tay độc giả.

Tuy khoảng cách xuất hiện khá xa nhau về thời gian, nhưng thơ của Phạm Chu Sa trước sau vẫn là cõi mộng mênh mông tình. Đó là những cuộc tình lỡ, tình say, tình ảo… Cho tới khi ngã rẽ cuộc đời ông là lính thú – quân dịch – trên vùng đất Tây Nguyên heo hút. Heo hút, nhưng không thiếu tiếng đạn bom. Vì vậy, thơ ông vẫn vang vọng âm sắc của những mối tình uất nghẹn, chia lìa vượt thời gian như đang hít thở khói trời lồng lộng. Và ông làm thơ không phải mang tâm thức của kẻ lưu đày mà, vượt lên trên khói lửa vẫn là những vần điệu ngọt ngào đến cay đắng của chàng thư sinh đang bước nốt đoạn đường của mộng, của say cùng tỉnh thức theo trăm ngả phân ly để hoàn tất nốt cuộc lữ trong nỗi cô đơn cùng tận.

Bắc Phương Hành, ông viết vào tháng 2.1973 sau ngày ký hiệp định Paris, tràn đầy cảm xúc như mâu thuẫn nhau: Vừa khấp khởi mừng vui vì hòa bình sắp lập lại trên quê hương đã quá đỗi điêu tàn, vừa ngậm ngùi thương nhớ bao nhiêu người đã nằm xuống.!…  Đó là những người bạn, người tình, là nhân thế nổi trôi bềnh bồng quanh ông, trên quê hương ông, để những giờ khắc khơi vơi, một mình đâu đó, nơi đèo cao dốc thẳm, chốn núi rừng thâm u kéo dài những u hoài chồng chéo nhau:

Hai mươi năm nối thành bi khúc

Bài ca buồn bã nối điêu tàn

Những ngựa ngủ vùi lòng đất chết

Những đời nằm xuống vẫn hoang mang

Màu quê cũ rưng hồn lữ khách

Chút lòng lận đận với quê hương…

(Một Nửa, trg 12)

Thời khắc ông viết bài hành này là lúc ông tưởng tượng ra một cuộc hành trình từ Nam ra Bắc khi quê hương ngưng tiếng súng (vì hiệp định đã ký), hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, không còn giòng sông chia cắt, non sông nối liền một dải:

Ta đi biển thét lời giông bão

Sá gì chút gió mặn chiều hô

Mà không dựng thẳng cờ minh đạo

Soi một giòng sông nối một giòng…

Mới dợm bước chân khởi cuộc lữ hành (mới chỉ là tưởng tượng) thi sĩ đã nâng chén rượu nhạt chia tay người tình – chia tay một cuộc tình:

…Ví thử đời ta men rượu nhạt

Mời em nhân buổi tiễn đưa này

Chắc cũng buốt môi người cúi mặt

Còn chút tình xưa như khói bay

(Một Nửa, trg 7)

Tôi nghĩ, khi sử dụng thể hành, thì nhà thơ có thể giãi bày trọn vẹn tâm cảm gần xa, nên trước kia, những Trần Huyền Trân, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Bính đã đẩy câu thơ chuồi dài tới tận sau này với những Độc hành ca, Hồ trường, Hành Phương Nam… nên Phạm Chu Sa đã chọn thể hành như để gửi gắm tấc lòng, để giãi bày những ưu uất sâu kín, ông đã mang theo cùng năm tháng?  Ông thản nhiên đón nhận số phận đẩy đưa. Thản nhiên đến mức lạnh lùng trong bài hành thứ hai: Trường Sơn hành như một định mệnh khắc nghiệt đời ông được báo trước.

Núi chẻ đèo cao rừng thăm thẳm

Núi tiếp rừng xanh nắng trải thảm

Chân bước dò trên xác lá khô

Hồn mở vào cửa mộng hư vô

(…)Mang trên vai nửa đời tuổi trẻ

Nhìn quanh ta chập chùng bóng xế

Bước vội, nhưng nhịp nhàng nhịp nhàng

Đầy ắp hồn thơ điệu cuồng vang

(Một Nửa, trg 32)

Giữa đại ngàn Trường Sơn thâm u, tâm hồn và bản thân ông vừa chìm ngập vào thiên nhiên hùng vĩ mà gờn gợn để tiếp tục, vừa thản nhiên quan sát và liên tưởng đến số phận “tàn xiêu, mây trôi” của mình trong thời gian biếm trích nơi vùng đất chết:

Trường Sơn núi dài hằn vết chém

Nát bấy hồn ta làm muôn mảnh

Máu đỏ ngầu sông núi thân yêu

Ta nhìn ta bóng đổ tàn xiêu

Trường Sơn núi biếc trời đứng bóng

Rền vang tiếng bước thời gian vọng

Lắng chìm hơi thở thời gian xuôi

Đời ta như một bóng mây trôi

(Một Nửa, trg 37)

Trong buổi nhiễu nhương, tâm cảm nơi ông chừng như là những mộng mị trôi nổi có không từ “thời gian vọng” đến “thời gian xuôi” như cách gắn liền quá khứ xa tới hiện tại gần, là nỗi cô đơn của kẻ lưu đày trên chính ngay mảnh đất ông đang bước tới, gắn chặt, thở khói trời u uẩn. Ông chìm khuất và mất tăm giữa cái ồn ào trống rỗng, là tiếng kêu bi thiết của con chim gục ngã trên tổ rơm thông thống lỗ méo nụ hoang hoác:

Bằng hữu lang thang người mỗi ngả

Mình ta đứng gọi thấu trăm năm

Ông gọi ai đến nỗi phải mang theo nỗi trống trải dặm dài, ông thở với lớp lớp mây trắng đùn quanh chóp núi trống trơn, nghêu ngao với những cuộc tình nhân thế dẫy đầy ảo mộng?

Thật ra, không phải tới tận bây giờ Phạm Chu Sa, (khi Một Nửa đến với độc giả như một cuộc tương phùng sau chừng ấy năm dài im lặng) mới hé lộ những rơi rớt tang thương những cuộc tình lỡ, mà trước đó, ông đã khơi gợi như một phiên thư âm bản ở hai tập: Những nụ tình xanh (1972)  Qua đồi sương phủ (1975). Đó là những âm tiết khởi đầu bật lên nỗi hoài nhớ mênh mông một kiếp người, một cuộc tình như khói như sương và rồi đọng lại trong tâm trí ông như một bức ảnh hoen nhòe màu thời gian.

Tình em cuộn tròn như con mèo ốm

Vo viên đời anh như điếu thuốc

(…)

Anh cũng muốn hỏi em biết điều gì không

Đêm và bóng tối

Đã quanh quẩn trong anh nửa đời mộng thực

(Những Nụ Tình Xanh, trg 54-55)

Đó là những lời tự thú ngọt chát và cay sè nơi cõi lòng ông, liêu xiêu nơi hai bờ mộng thực. Nhớ lại những năm trọ học cùng ông trên căn gác gỗ đường Nguyễn Huỳnh Đức (nay là Huỳnh Văn Bánh), Phú Nhuận, nhìn bờm tóc ông nhuốm ráng chiều màu nắng quái ngoài hành lang, nhìn cái dáng xiêu xiêu thẫn thờ dưới cột đèn ngã chúi về đêm trong con hẻm nhỏ và hai tay trong túi quần và ánh mắt như màu tối đậm trên bờ tường thấp loang lổ, tôi đã tự hỏi: ông tự tìm kiếm chính mình trong nỗi cô đơn hay hoài nhớ về những gì ông đã đánh rơi đâu đó, là những hình bóng nhập nhòa, hiển hiện trên bờ tường đá ong, những mất mát luôn vây bủa, bi lụy không ít đến cuộc đời ông?

Những thứ rơi vãi dọc đời ông, không hình hài rõ nét. Chúng chợt bật lên trong ông, có khi là một cơn mưa dầm, một ngày nắng cháy. Cũng có khi đang có chút se lạnh trong lớp khí trời từ phương bắc tràn về, xám đục đến ảm đạm:

Ở Sài Gòn thèm một ngày mưa bụi

Thèm nhạc sầu của gió bấc heo may

(…) Mưa ở đây mưa quá đỗi bất thường

Và nắng gắt cháy cả tình mới chớm

(Một Nửa, trg 15)

Khoảng không gian trơ khấc và nhão nhoét kia bất chợt trườn vào tâm trí ông, để cuối cùng chỉ còn là nỗi trống không, mà khởi đầu là những nhớ-nhung-trong-mất-mát-không-cùng:

Ở Sài Gòn chiều không em mây nổi

Nhớ em nghe giá buốt dậy trong hồn

(Một Nửa, trg 16)

Bài thơ này (Ở Sài Gòn), ông viết xong vào tháng 6 năm 1973, nửa năm sau hiệp định Paris. Nỗi hoang mang và nhớ nhung hỗn độn nơi ông, trong chính nội dung bài thơ không để người đọc khám phá điều gì về thời cuộc. Nhưng ẩn giấu phía sau những ngày Sài Gòn anh bỏ quên mộng tưởng/ Đêm đèn màu rực sáng nỗi ưu tư/ Cơn mộng nhỏ môi dậy thì thiếu nữ/ Sao niềm đau chợt buốt nhức không ngờlại dẫn ta đến những liên tưởng về những hoang mang của ông trong khoảnh khắc “còn một chút Sài Gòn” trước khi ông trở thành gã đào binh. Ông giấu cái thực trong mộng tưởng. Ông cất nỗi ngậm ngùi trên vai áo, để mấy chục năm sau, cũng Sài Gòn ấy lại khơi gợi hình ảnh Sài Gòn trước, vẫn là những tâm trạng Ở Sài Gòn bây giờ có những sớm mai buồn muốn khóc/ Mặt trời mù cơn ngái ngủ bình minh/ Những giọt cà phê buồn rơi lặng lẽ/  Sóng sánh màu mắt em (Ở Sài Gòn bây giờ, trg 52). Những hình ảnh của Sài Gòn trước và bây giờ vẫn cứ nguyên vẹn trong ông, vẫn là sớm mai buồn, giọt cà phê buồn, vẫn rơi lặng lẽ và dồn nén thành màu mắt em, chiếm trọn tâm hồn ông, không thay thế, không ai khác ngoài em.

Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó Dostoevsky viết, đại ý rằng: “Cả đời tôi chỉ muốn đẩy tới tận cùng những gì người khác chỉ làm được có một nửa”. Phạm Chu Sa thì không đủ lực để làm cái công việc vĩ đại của đại văn hào Dostoevsky. Ông không tuyên bố hoàn thiện cuộc đời bị xáo tung, mà đơn giản là tìm trong chính mình, đi tìm một nửa của cuộc đời mình bị rơi lạc nơi đồi hoang núi sâu hay giữa lòng thành phố tràn ngập ánh đèn? Chuỗi dài quẩn quanh tìm kiếm cái đã mất trong con người chính mình đến mệt nhoài những hơi thở dốc. Và khi tìm thấy thì hệ quả là:

Quá nửa đời anh đi tìm một nửa

Một nửa nào thất lạc của anh xưa

Khi tìm được thì nửa anh vụn vỡ

Nên làm sao ta ráp lại cho vừa.

Hàn gắn lại em ơi đời tạm bợ

Một chiều say một sớm tỉnh một khuya buồn

Một giọng hát một điệu cười khúc khích

Cũng tràn đầy cả hạnh phúc đau thương

(Một Nửa, trg 104).

Nhà thơ Du Tử Lê có một nhận xét về Phạm Chu Sa, theo tôi là chính xác: “… và người đọc đã bắt gặp một cái gì đó, một cái gì đó có thể nhìn như một Phạm Chu Sa. Một cái gì không thể mang một tên gọi khác… Tôi muốn ví thơ ông như một giòng sông xanh, nhưng dưới đáy lại ẩn sẵn khá nhiều sóng ngầm”.

Cuộc đời ông chưa bao giờ yên ả. Và thơ ông cũng vậy, ẩn bên dưới sự phẳng lặng là những giòng chảy ngầm cuồng phẫn, chờ chực bùng lên những đợt sóng gầm gào. Thoạt lướt qua, tưởng chừng như những câu thơ kia dung dị, đôi khi mang hơi thở chung của những chàng thi sĩ trước năm 1975, là những buồn chán, cột đèn vàng, giọt cà phê đen… tâm trạng của một thời tan tác. Nhưng ẩn bên dưới ngữ nghĩa tầng sâu lại là những cuồng khích, bung vỡ sôi sục, đôi khi nhuốm màu sắc phản kháng của tuổi trẻ:

Bằng màu đen của bóng tối cạm bẫy

Trốn chạy nỗi căm hận khô đắng

Trốn chạy niềm cô đơn

Cuồng loạn những điệu kèn da đen buổi dạ hội hóa trang

Sự bất lực của âm thanh

Và bóng tối đồng lõa

(Một Nửa, trg 63).

Thời nhiễu nhương, tuổi trẻ phản kháng, tuổi trẻ gào rống, tuổi trẻ xuống đường, buồn nôn, phẫn nộ, chán chường… không phải là điều mới lạ. Thời nào và ở đâu tuổi trẻ cũng nhạy cảm trước các vấn đề xã hội, thời cuộc… Xã hội và thời cuộc nhớp nhếch như là mệnh đề tiên thiên xô ngã con người vào “vũng trống”, và họ bất lực gào lên:

Đêm thành phố thật buồn

Mười giờ tối còi giới nghiêm reo vội vã

Đêm chợt im vắng trong niềm sôi sục

Sẽ vỡ tung một sớm mai nào

(Những Nụ Tình Xanh, trg 72).

Có lẽ, sẽ rất thừa thãi khi các nhà đạo đức, trong bối cảnh xã hội suy đồi, phong hóa, lên tiếng chỉ trích sự mất cân bằng trong suy nghĩ và hành động của giới trẻ. Thời kỳ đó, Phạm Chu Sa thuộc lớp tuổi hai mươi, nhưng không tĩnh yên để lắng nghe, để nhìn, đọc những lời rao giảng như Thiền sư Nhất Hạnh đã từng viết: “Tôi rưng rưng nước mắt, vì tôi được nghe chính tiếng nói của lòng tôi, tiếng tự thú của lòng tôi… Nếu các em biết thương yêu và tha thứ thì hồn nước cũng sẽ giật mình, đời chúng ta sẽ lên sức sống, tủi hờn sẽ lắng xuống và niềm kiêu hãnh sẽ vươn lên. Nếu các em biết thương yêu và tha thứ thì súng đạn cũng sẽ phải thở dài, tàu bay cũng sẽ phải khóc, lựu đạn sẽ phải im tiếng, và quê hương ta sẽ không còn là một bãi chiến trường” (Nói Với Tuổi Hai Mươi). Nhưng khốn nỗi, đó chỉ là cách nhìn của thầy Nhất Hạnh. Tuổi trẻ không còn đủ tỉnh táo để bước đi trên những con đường gập ghềnh, hỗn độn. Đó cũng là nét chung với đa phần. Phạm Chu Sa không tự tách mình ra khỏi đống bùng nhùng kia, ông viết:

Khép kín trái tim.

Hai tay vo tròn quá khứ

Hồn chết lịm từng phiến băng tan

Ta cúi đầu bỏ trốn

Ngôi mộ đời cỏ úa xương người

(Những Nụ Tình Xanh, trg 30).

Lúc này, trong tay tôi chỉ còn hai tập: Những Nụ Tình Xanh và Một Nửa (Trên Đồi Sương Phủ, ngay chính tác giả cũng không giữ nổi), nhưng khi soi rọi lại, có vẻ như Một Nửa là sự nối dài từ tập thơ đầu tay. Vẫn giọng điệu ấy, vẫn tâm tình ấy. Hơi thở từ thơ ông tưởng chừng như mong manh khói sương, nhưng đằng sau lại là những ẩn ức, những bất lực, trắc trở… cả đời ông cất công tìm kiếm, ráp nối cho trọn vẹn. Khốn thay, thảy đều không theo đúng ý ông:

Lang thang trong rừng vắng

Hái một cụm hoa sầu

Ồ khắp trời mây trắng

Biết lối về nơi đâu?

(NNTX, trg 59)

Trời cao trăng nở rộ

Lữ khách trên đường khuya

Bóng nhòa trong sương lạnh

Nhớ nhà, đâu lối về?

(NNTX, trg 74)

40 năm trước ông không tìm ra “lối về” cho riêng mình, thì đến 40 năm sau ông vẫn loay hoay tự tra vấn:

Như đời ta vốn đã quá ngu ngơ

Đi tìm mãi những điều không có thật!

Cám ơn đời từ niềm tin thứ nhất

Thứ hai, ba, tư… cho đến cuối cùng

(Một Nửa, trg 103)

Cuối cùng thì đâu là “lối về” của ông?

Có lẽ, xin tạm mượn mấy dòng sau của nhà thơ Du Tử Lê nhận xét về tác phẩm Phạm Chu Sa để kết thúc bài viết này:

“Phạm Chu Sa, với những bài thơ mới, nơi nửa sau của thi phẩm “Một nửa” đã cho thấy ông vượt qua được ngưỡng cửa ngáng trở tàn khốc của thời gian. Thơ của họ Phạm ở những năm tháng sau 1975, tuy căn để, đa số vẫn là những thao thiết về tình yêu. Nhưng đó là một thứ tình yêu đã ra khỏi hố, hầm ẩn náu của những xung động tình cảm đôi lứa thuần túy. Mà, tình yêu, trong cõi giới thi ca Phạm Chu Sa hôm nay, là những vấn nạn được cất lên từ những tâm bão nhân sinh. Những cật vấn tử / sinh. Kiếp / đời. Theo tôi, đó là những câu thơ được chắt ra từ những chiêm nghiệm đời sống đã sắc xuống. Để tự thân, thơ có được chiều sâu và, độ rộng… Trong ‘Một nửa’ của họ Phạm, cá nhân tôi rất thích những câu thơ như, ‘Tự đào huyệt chôn mình / như một tên tử tội / a ha ta hóa trang / làm anh hề múa rối.’ Hoặc, ‘Hạnh phúc trơ vơ trên dây thong lọng / em kịp mua về đốt hết nhân gian.’ Hoặc ‘Dã quỳ thắp nắng / chìm dần trong sương / nhặt bóng tà dương / ném vào vô tận.’ Hoặc nữa, ‘Một chân thò lỗ huyệt / một chân nhảy lò cò / đi tìm phương bất diệt,’ vân vân…”    (dutule.com)

 

NGUYỄN LỆ UYÊN

__________

Tên thật: Phạm Đình Thống.

Sanh năm 1949 tại Bình Định, Trung phần VN.

Cựu sinh viên ĐH Vạn Hạnh.

Trước 1975, cộng tác với Tuổi Ngọc, Vấn Đề, Văn, Khởi Hành…

Sau 1975, làm nhiều nghề kiếm sống, rồi làm Phóng viên, Biên tập viên các báo: Thanh Niên, Gia Đình & Xã Hội; Phụ trách phía Nam tạp chí Ngày Nay ( Hiệp Hội UNESCO-VN). Cộng tác với các báo, tạp chí: Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Phụ Nữ TP.HCM, Kiến Thức Ngày Nay, Xưa & Nay …

Thơ đã xuất bản:

– Những nụ tình xanh, NXB Đồng Dao (1972)

– Qua đồi sương phủ, Tác giả XB (tháng 2-1975)

– Một nửa, NXB Thanh Niên (2011)