NHỚ PHẠM NGỌC LƯ

“Trong cuộc chiến tàn khốc này, đứa nào sống sót là kẻ chiến thắng”
(Phạm Ngọc Lư)

Trong nửa thập niên 60, 70 (TK XX), bên cạnh những nhà văn nhà thơ mà tên tuổi của họ đã được khẳng định, còn có đông đảo những người viết trẻ: Họ, đa phần là những người không có tuổi thanh xuân yên ấm, lần lượt bị vãi ném vào chiến trường; số ít còn lại là công chức, sinh viên… đã có những đóng góp không nhỏ cho dòng văn học miền Nam – dòng văn học được xem là tự do sáng tạo có giá trị về mặt thẩm mỹ và nhân văn trong mỗi tác phẩm – với nhiều khuynh hướng dị biệt (viễn mơ, dấn thân, hiện sinh, hiện thực đối kháng…)
Và, mặc dù dòng văn học này đã bị bức tử sau ngày 30.4.1975 bằng mọi cố gắng “tẩy xóa” của bên “thắng cuộc” dưới nhiều dạng thức khác nhau, nhưng nó, sau hơn 40 năm vẫn âm thầm và lặng lẽ chảy; vẫn đọng lại trong tâm thức độc giả những giá trị không thể đảo ngược. Nó luôn là cái mới của hôm nay, bởi đã tiếp cận với dòng văn học phương Tây qua các trào lưu nhưng vẫn giữ được hồn cốt văn hóa Việt qua biết bao biến động lịch sử.
Những người viết thuộc thế-hệ-chiến-tranh này, có những người bỏ cuộc, nhưng không ít người đã thành danh, đã được công chúng đón nhận như một hiện tượng mới, chững chạc tiếp bước các bậc đàn anh, làm rạng rỡ cho một miền văn chương luôn bị phía bên kia dán cho nhiều nhãn mác thô thiển: Đó là Trần Thị Ngh. Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Vũ Hữu Định… Mỗi nhà văn trẻ đều mang một phong cách riêng, không lẫn lộn, không là cái bóng của các nhà văn đi trước, ít nhiều làm đa dạng, sáng đẹp cho thời kỳ này. Phạm Ngọc Lư trong số đó.

(từ trái: Phạm Ngọc Lư-Trần Hoài Thư-NgLu-Phạm Văn Nhàn
ảnh chụp năm 1969)

Anh xuất hiện lần đầu với những bài viết ngắn trong mục đoản văn trên tuần báo Nghệ Thuật (Mai Thảo chủ bút, Viên Linh thư ký toà soạn) vào cuối những năm 1966, ký tên Phạm Triều Nghi. Đến năm 1969, có thơ và truyện ngắn đăng tải đều đặn trên các tạp chí văn chương miền Nam: Văn, Vấn Đề, Bách Khoa, Trình Bày, Ý Thức… và ký tên thật.
Trong lời bạt tôi viết cho tập thơ Đan Tâm của Lư, có một đoạn trích từ tập tiểu luận Vũ Trụ Thơ (1) của nhà phê bình văn học Đặng Tiến: “Yêu một tác phẩm nghệ thuật giống như yêu một người đàn bà ở điểm là mỗi lần yêu, chúng ta khám phá ở người tình một trinh tiết mới. Yêu một tác phẩm là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm”.
Tôi “yêu” những tác phẩm của Lư bởi sức sáng tạo không ngừng trong những câu chữ lấp lánh của anh! Riêng nhà văn Cung Tích Biền thì có cái nhìn sâu hơn, phân tích kỹ hơn: “Phạm Ngọc Lư khá điềm tĩnh trong hành trình sáng tác của mình, tuy sâu trong tâm khảm, từ biển rộng tâm linh, Lư vẫn cháy bỏng với những khắc khoải, tư duy. Trong bao năm Lư không chạy theo những trào lưu, trường phái, những hào nhoáng ồn ào của thị hiếu. Không làm con thiêu thân để chết non, tàn mùa theo những cám dỗ tức thời. Thơ Lư hình thức là mẫu mực, cổ điển. Vì ta cứ đủng đỉnh cái Riêng mình. Cái bình cổ sống rất lâu. Chính ở điểm này Lư thành công. Nói được rất nhiều trong biểu hiện điều Muốn Nói. Không cầu kỳ. Không đánh bóng ồn ào mặt ngoài bởi ngôn ngữ rỗng…” (2)
Điều đáng nói, mặc dù rất thành công với những bài hành, thất ngôn, lục bát cùng những truyện ngắn phản ảnh những góc khuất của bộ mặt xã hội đương thời, một xã hội đảo điên, chiến tranh bùng vỡ ở mức độ ác liệt, để đưa vào tác phẩm với những cảm thức được chắc lọc đến từng chi tiết nhỏ, hoặc dùng điển tích để chuyển tải – và đã thành công, được độc giả thời bấy giờ (cả sau này) đánh giá cao – nhưng không bao giờ tự mãn, khoa trương mà luôn tìm đến cái mới hơn, đẹp hơn.

* Thơ như một vết cứa vào tim người
Với thơ, anh có một phong cách rất riêng, không lẫn với những người cầm bút cùng thời. Cũng vết về chiến tranh, về thân phận con người, về tình yêu, nỗi cô đơn, khao khát, về mặc cảm đọa đày, khốn cùng…nhưng không sử dụng loại ngôn ngữ sáo rỗng, thời thượng, mà vận dụng các điển điển tích, tiếng Việt-Hán để chuyển tải nội dung. Vì vậy, sau khi khép lại một bài thơ, người đọc có cảm giác đang chìm đắm trong những câu từ cổ kính, lấp lánh như những chiếc bình cổ. Nói khác, với một thủ thuật tài hoa, anh đã làm mới dòng thơ cổ điển mà không dẫm chân lên khuôn thước thơ cổ điển. Điều này cũng dễ hiểu, bởi từ nhỏ, anh đã học chữ Hán với ông nội và cha; lớn lên theo học ban Hán-Nôm Đại học Văn Khoa Huế, nên câu từ luôn được nâng niu, trau chuốt cẩn trọng.
Nhà văn Đỗ Trường đã đưa ra nhận xét: “Thơ Phạm Ngọc Lư mang đậm chất cổ thi và sử dụng nhiều điển tích cũng như từ ngữ Hán Việt. Do vậy, thơ ông cổ kính sang trọng, nhưng khi đọc lên tưởng chừng rất dễ vỡ” (3).
“Em từ tình sử bước ra
Y trang yểu điệu đôi tà mộng bay…
Chờ nhau gác gió lầu mây
Nghìn đêm giọt nến rơi đầy trang thơ
Nghìn đêm sông lạnh trăng mờ
Trương Chi bạc tóc bên bờ Tương Giang
Chiều nao nhất kiến hồng nhan
Chiều nay xác bướm rơi vàng mộ hoa
Áo xưa mộng mị đôi tà
Đành thôi xếp lại Nam Kha gối đầu” (Thuyền Quyên).
Cách đây 15 năm, từ Đà Nẵng Lư gửi thư cho tôi, có đoạn: “Theo tôi, nhà thơ=lãng mạn+cô đơn+bi thương+kiêu hãnh, trong đó “cô đơn” là thuộc tính bi thảm nhất. Chính trong cái cô đơn cùng cực, tôi thấy mình chết, ra đi và đã viết:
Tâm hồn bật một tiếng kêu
Vỡ ra lênh láng giữa chiều tang thương
Âm ba đồng vọng mười phương
Có ai thiên cổ đoạn trường hồi âm?
Tay ai nâng nhẹ phù thân?
Dìu tôi đi giữa phù trầm khổ đau
Tôi và nước mắt dìu nhau
Bơi qua bể khổ muôn màu nhấp nhô
Tôi và cát bụi ngu ngơ
Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh” (thư riêng đề ngày 27.10.2002).
(Nếu nói rằng: Mỗi tác phẩm của nhà văn là những dự báo cho tương lai thì những câu thơ trên như một ám thị cho cái ngày định mệnh cuộc đời anh: Tôi và cát bụi ngu ngơ/Bay quanh trời đất đợi giờ tương sinh. Đó là ngày 26.5.2017 lúc 18h45 tại Đà Nẵng, gây bao thương tiếc cho bạn bè và độc giả hằng mến mộ anh, như lời anh Cung Tích Biền ghi trong thư: “Vắng bóng đời này, lại vĩnh cửu Chốn Kia. Mong Lư đời đời an nghỉ. CTB” (thư ngày 4/6).
Cả cuộc tồn sinh của Lư, lúc nào anh cũng cảm thấy bất toàn, cô đơn, đau khổ… Chúng luôn đeo ám vào những trang thơ văn của anh. Anh loay hoay với bốn bức tường lạnh trong nhà trọ khi dạy học tại Tuy Hòa, loay hoay với đời sống vợ con sau 75. Lư than thở với tôi: “Mình bất tài, bất lực, hèn… sao?” . Đó là khoảng năm 1983 (hay 1984?), anh không chịu nổi ngày ngày phải đi bộ non 2 cây số, gánh từng gánh nước tưới những vồng khoai lang giữa bãi cát cao ngất nghểu ở HTX NN quê anh với chỉ 200grs nửa lúa nửa khoai sắn cho một ngày công (?!) sao đủ nuôi 4 miệng ăn, đành phải gạt nước mắt gửi vợ con về quê ngoại (Qui Nhơn) vào Long Khánh (Đồng Nai) đào đãi vàng, đốt than; xuống tận Hồng Ngự (Đồng Tháp) nấu rượu lậu, bán trái cây độ nhật… và “nghề” nào cũng thất bại, khiến anh đau đớn, quặn thắt hơn trong cuộc mưu sinh ở thời buổi ngăn sông cấm chợ! Thất chí chồng lên thất chí.
Tuổi tác chừng này vẫn ngây thơ
Ma xui quỷ khiến ra ngồi chợ
Bán gió rao trăng… một núi dừa

Lúc chán, rửa môi dăm chén rượu
Lau chân mắc võng nằm lơ mơ
Mây cuốn nắng thiu lòng u uẩn
Tuồng đời như cảnh chợ ngày mưa

Thôi để ta yên bên chén rượu
Uống say… thành bại cũng bằng thừa
Uống say… ném áo lên nóc quán
Hết nợ hết duyên… vĩnh biệt dừa! (Ngồi Chợ)
Cuộc mưu sinh đối với Lư trong giai đoạn này không dễ dàng chút nào. Từ biệt những ê chề miền Đông, Lư xuôi về vùng đất phương Nam. Nhưng đất phương Nam mênh mông sông nước, bạt ngàn màu xanh vờn phủ tính phóng khoáng ấy cũng chẳng dung nạp được anh trong đời thường, nói chi đến tình đồng điệu? Trong cảnh mênh mông, bạt ngàn kia, dường như khiến Lư cô đơn hơn, quặn thắt tâm can hơn khi đưa mắt trông vời phương Bắc, chốn quê nhà xa xôi:
Chân trời giang rộng mênh mông
Cố hương thăm thẳm tịnh không lối về
Giang hà im bặt thuyền ghe
Tha phương nhật mộ… não nề bèo mây (Chiều Qua Châu Thổ)
Đó là bài thơ anh viết khoảng giữa năm 1986 lúc xuôi xuống Hồng Ngự. Ở đó cũng có vài người bạn, nhưng không phải bạn thơ mà là những bạn rượu tầm cỡ Tây Môn Khánh – theo lời anh kể lại! Những bữa rượu ấy không giúp anh nguôi ngoai nỗi cô đơn như một ám ảnh phải đeo mang. Hình ảnh những nơi anh ngụ cư ám vào tâm trí như những ám thị “bệnh hoạn” liên tưởng qua hàng cây, con sông, bến nước, đất đỏ ngấm vào tâm trí rồi đặt bút “tổng kết” trên mười năm lang bạt mưu sinh trong bài Bụi Đỏ viết năm 1994 và chú thích “sau chín năm ly tán”:
Quê người nương náu kiếp lưu dân
Bụi ba dan có phải hồng trần?
Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo
Cơm áo bạc tình… bán hết thanh xuân

Đi giữa rừng cao su trùng điệp
Lòng đau như vết cạo còn tươi
Mủ cứ chảy bám dày tâm sự
Tâm sự đùn cao như gò mối chôn người.
…Đi lơ ngơ vừa tròn một giáp
Mười hai năm lệ tủi đời câm
Rượu Nam phương uống cùng tứ xứ
Tứ xứ ly gia dễ mủi lòng
Cũng dễ quên nhau khi hết rượu
Cái ân tình có có không không
Chốn đất khách lắm hào sảng nhưng không thiếu những “phàm phu”. Bên cạnh những “hào sĩ” những kẻ “nhân từ” là những tay “ích kỷ, lếu láo, say sưa…” khiến anh cảm thấy mệt nhoài với bến nước mười hai đục ngầu bụi đỏ; để sau đó tự hỏi và tự trả lời:
Sao không quay về bến thứ mười ba:
Bến nước trong xanh… soi bóng quê nhà!
Mười hai năm lao thân lao trí đã đủ để anh vật vã những đau đớn, buồn tủi trong “hành trình” xuôi Nam, lang thang nơi đất khách kiếm tìm sự sống kể từ lúc xã hội bị đảo lộn, đạo đức, phẩm hạnh con người bị vãi tung ra lề đường; miếng cơm manh áo ẩn nấp trong những tráo trở. Cái bầy người được mệnh danh là quần chúng nhân dân, là nền móng cho một đất nước được chăn dắt bằng những tấm tem phiếu. Cái ăn cái mặc trở thành thước đo giá trị làm người. Cuộc tìm kiếm áo cơm cũng bình thường như bao con người khác cùng thời, nhưng đến phút cuối thì: Đỏ quạch mồ hôi chua cơm áo/ Cơm áo bạc tình bán hết thanh xuân. Hai câu thơ như hai vết cứa sâu hoắm lên thịt da, phơi lộ hết những bần hàn cơ cực trong một giai đoạn đau khổ tột cùng của bản thân anh trong giai đoạn cùng khổ của đất nước này. Ngoảnh lại, cả một đời làm người của Lư là hình ảnh con ngựa già đã chấm hết những hào quang một thuở!
Ngồi thất thế như con ngựa ốm
Nhớ đường trường thè lưỡi liếm chân (Tuy Hòa Năm Năm)
Lời thơ ẩn lời than đến nao lòng, con ngựa ốm kia cũng là thân phận của người trí thức đã cùng đường, tuyệt lộ trong một xã hội bị đảo lộn mọi trật tự sau biến cố 30.4. Nhiều bài thơ trong hai tập Đan Tâm và Mây Nổi (đều do Thư Ấn Quán, HK ấn hành) của Lư, luôn thấp thoáng bóng dáng của kẻ sĩ thất thế nhưng vẫn giữ lòng tự trọng, liêm sỉ chối từ mọi danh vọng, tiền tài… lui về quê chịu cảnh sống thanh bần chứ không chịu khuất phục, quỳ gối khom lưng.
Trong đời, khi tiếp cận với văn chương, tôi rất ngưỡng mộ và kính phục nhà thơ Hữu Loan sau Nhân văn giai phẩm, một nhân cách lớn trong hành xử với đời; đến cả cái giải thưởng “danh giá” của nhà cầm quyền, ông cũng phẩy tay, bịt mũi, nhắm mắt.
Với Phạm Ngọc Lư thì khác, anh thuộc thế hệ con cháu của Phùng Cung, Hữu Loan, Lê Đạt… sống trong hoàn cảnh xã hội khác xa với “Nhóm Nhân Văn”, được thụ hưởng một nền giáo dục tử tế “nhân bản, dân tộc, khai phóng” nên khó dung hợp với xã hội mới, trong đó có thừa những lọc lừa, dối trá… phi đạo đức, phi nhân bản. Một xã hội như vậy hoàn toàn xa lạ với những con người cũ (SG) ! Nhưng xem chừng xã hội thời cải cách ruộng đất và xã hội đánh vào tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp… không khác xa nhau trong cách “xử sự” với người dân!
Cuối năm 2005 là thời gian anh quay về cố hương không lâu, nhìn cảnh đời nhí-nhố-xum-xoe-lừa-lọc (chữ của Lư), anh thấy thất vọng, cay đắng hơn và đặt bút viết liền một mạch bài thơ Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân (khi mà mọi bưng bít thông tin về nhà thơ Hữu Loan được công khai trên mạng). Bài thơ khá dài, bộc lộ khí chất và bóng dáng của một kẻ sĩ thời hiện đại “không thèm ăn thóc nhà Chu”:
“…Trèo lên xe trâu/ Lui về quê kiểng/ Mài răng gặm nhắm cái thanh bần!/ Lượm lặt nứa tre che căn lều nhỏ/ Phên cửa phong phanh suốt ngày no gió/ Người quen tâng bộc gọi mao lư/ Kẻ nôm na kêu đích danh nhà cỏ/ Chẳng hay ho gì cỏ với mao/ Thời bất lợi voi đành làm chó/ Phong tống thời lại giun dế hóa rồng/ … Tìm trong gia phong mấy lời răn dạy/ Hiểu đâu nhất thời/ Đâu là vạn đại/ Than ôi!/ Cái khôn mới hôm qua/ Hôm nay bổng trở thành cái dại/ Quay lưng với đời ư?/ Dòng đời cuồn cuộn/ Biển đời lợn cợn/ Bảy đục ba trong/ Quay mặt với người ư?/ Mặt người sắc nhọn/ Biển người sao mà ghê rợn/ Đua chen hôi lợi bòn danh/ Đâu dám ví mình với Đào Uyên Minh/ Tụng Quy khứ lai từ…” (4).
Có thể xem Đề Thơ Trước Mộ Thanh Xuân là những lời tự sự, bày tỏ thái độ của nhà thơ trước xã hội hiện tại, sau khi phải nếm trải mọi cay đắng mà anh đã dầm cả thân mình, lặn hụp vào lớp nát nhão sự đời đen trắng, vàng thau lẫn lộn.
…Phải ngươi ba chìm bảy nổi/ Bắt ta mười kiếp long đong/ Mây có – gió không/ tình câm – thơ điếc/ Giai nhân còn mà anh hùng hết/ Chưa mùa đông sao tóc xanh bạch tuyết/ Ngũ thập rồi, tay trắng xóa bạch vân/ Ô hô! / Thiên địa vô cùng/ Uống say mà khóc Đặng Dung – Thuật hoài/ Khóc rồi đập nát cơn say… (Túy Hoài)

Trong gần 100 bài thơ ở hai tập Đan Tâm và Mây Nổi, thì Biên Cương Hành là bài thơ gây ấn tượng mạnh cho độc giả từ ngày trước tới tận bây giờ.
Biên Cương Hành được Lư thai nghén từ khi anh đổi về dạy học tại Củng Sơn, một quận lỵ nhỏ xíu (của Phú Yên) giáp ranh Cheo Reo, bị rừng núi bao phủ bốn bề, trước mặt là sông Ba sâu hoắm; mọi liên lạc với bên ngoài đều bị đóng kín bởi những họng súng của hai bên. Anh thường gọi nơi đây là “biên khu”, vì mỗi khi muốn về thành phố phải đi nhờ trực thăng quân đội, hoặc theo đoàn xe mở đường. Với một khoảng không gian chật hẹp heo hút, chập chùng đồi núi nhấp nhô, lính đông hơn dân và ngày đêm phải nghe tiếng bom đạn gầm réo khiến anh tưởng như rằng chính mình đang có mặt ngoài trận mạc!
Tưởng cũng cần nhắc lại, một số bài viết về thơ Phạm Ngọc Lư, khi đề cập tới Biên Cương Hành, cho rằng Lư viết bài này khi anh tham gia hành quân trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào mùa xuân 1971 của quân đội VNCH trên đất Hạ Lào và bị thất bại nặng nề. Hay như nhà thơ Viên Linh, trong bài viết “Thể hành trong thơ Việt Nam từ bài Tống biệt hành của Thâm Tâm”, đăng trên http://www.nguoiviet.com số August 21, 2013 cho rằng: “Nơi Phạm Ngọc Lư một nhà thơ trẻ thuộc lớp sau cùng của Miền Nam trước 1975, anh chiến đấu trên mặt trận Cao Nguyên miền Trung, nơi gió Lào tanh tưởi, mùa khô xào xạc, giặc nước rình mò , rừng xanh thắm máu. Người đi ở đây là lính ra trận, người theo dõi nơi quê nhà là thiếu phụ chờ mong: “Em đâu, quê nhà chong mắt đợi /Hồn theo mây trắng ra biên cương / Thôi em, yêu chi ta thêm tội / Vô duyên xui rơi lược vỡ gương / Ngày về không hẹn ngày hôn lễ / Hoặc ngày ta nhắm mắt tay buông.” (http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/The-hanh-trong-tho-Viet-Nam-tu-bai-Tong-Biet-Hanh-cua-Tham-Tam-2849/)
Điều này không đúng. Lư chỉ học quân sự 9 tuần ở quân trường Quang Trung và sau đó được biệt phái về trường cũ, chưa từng cầm súng ngoài chiến trường bao giờ.
Lư khởi viết bài thơ này từ cuối năm 1971, sau đổi sang thể “hành” và hoàn thành vào tháng 5.1972. Sau vài lần nhuận sắc, Lư gửi bản thảo cho tạp chí Văn. Ông thư ký tòa soạn Trần Phong Giao đọc bài lai cảo và không tiếc lời khen, cho đăng ngay vào Văn số (?) tháng 10.1972. Có thể nói đây là bài thơ hay nhất trong cuộc đời làm thơ của Lư, đến độ khi đọc xong bài thơ này, nhà thơ Du Tử Lê phải thốt lên: “Biên Cương Hành của ông, đã như một trận động đất lớn: Bất ngờ. Sửng sốt. Thốn buốt tâm can thế hệ”. (5)
Thế hệ đi trong chiến tranh “giải phóng và bảo vệ tự do” là bi kịch của dân tộc. Cuộc chiến tương tàn ấy đã gieo biết bao tang tóc cho triệu triệu người người dân hai miền. Lư đã sống trong những thời khắc kinh hoàng đó, nên anh không thể dửng dưng đứng bên lề. Không cầm súng bắn nhau, cũng không có mặt trên bất kỳ chiến trường ác liệt nào, nhưng hàng ngày, anh có thể “nhìn thấy” cảnh đầu rơi, máu đổ, thịt xương nát tan, lương dân gồng gánh chạy giặc, bỏ lại làng quê mịt mù khói lửa ngút cao và; hàng ngày anh còn chứng kiến những chiếc quan tài kẽm, những người vợ trẻ bồng con trong màu trắng khăn tang… Tất cả những hình ảnh có thật đó đã xoáy động tâm can anh để, cuối cùng phải bật ra những đớn đau trên trang giấy:
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
(Vào đường dẫn này để đọc trọn bài thơ Biên cương hành:
http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=8689 )
Biên cương hành mang tính khái quát cao cho cả một giai đoạn oan khốc của dân tộc. Những hình ảnh Lư mang vào thơ, từ núi, rừng, gió Lào, đá, người chinh phụ, núi vọng phu… đã khắc họa “một thời địa ngục của đất nước” (chữ của Du Tử Lê), không riêng cho bên này hay bên kia. Đó là xương cốt, là máu thịt của những người lính Quốc gia và Cộng sản bị hoài phí một cách oan uổng, dửng dưng máu lạnh.
Đầu năm 1972, khi viết xong Biên cương Hành, Lư đã đọc cho chúng tôi nghe bên chiếu rượu trong đêm gió Lào cuồng dại trên mái nhà, nghe đến sởn gai ốc, rờn rợn da gà, khắp người tựa hồ có hàng ngàn mũi kim nhức buốt thịt xương. Gần nửa thế kỷ, mỗi khi nhớ bài hành này lập tức nhớ nguyên giọng đọc uất nghẹn của Lư, người đã hóa thân chữ nghĩa cho định mệnh của dân tộc trong chất giọng hiu hắt nghẹn ngào, như thể đó là lời than oán của những chinh phụ, những tiếng kêu la đau đớn của những người dân vô tội, của các chiến binh hấp hối ngoài trận mạc!
Về mặt nào đó, Du Tử Lê đã chính xác khi đưa ra nhận định về bài thơ Biên cương hành của Lư: “Tôi gọi đó là “đoạn trường” bất thường của một bài thơ được sinh nở với định mệnh của một thứ cột tháp thảm họa khốc liệt. Mỗi con chữ không chỉ dính gân cốt, thịt, xương trăm ngàn đọa kiếp mà, còn cõng trên lưng cả những hồn ma oan khuất một thời địa ngục đất nước, quê hương nữa! Cho tới khi bài thơ, hội đủ những yếu tố để “đá vỡ, ngọc lộ,” ngời ngợi khí chất tư riêng, khắc họa Những hoắm, sâu thương tích phận người…” (link đã dẫn 5).
Sau Biên cương hành, Lư viết bài Trên Đèo Bình Đê vào năm 1973, lúc hiệp định Paris vừa ký kết, nhưng hòa bình đã không đến, hai bên lại tiếp tục gây ra thảm cảnh “chiến trường ném binh như vãi đậu” để giành nhau từng thước đất cắm cờ (sic). Trên đường về Huế, qua đèo Bình Đê, Lư nhìn thấy cảnh xóm làng, ruộng vườn, với Tam Quan, Bồng Sơn (Bình Định) phía nam và Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) phía bắc đã tan nát vì binh lửa trong các trận đánh mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972!
…Tháng tư/ Lửa bùng lên đâu chợ/ Lửa cháy quanh sông/ Lửa vây Hoài Đức/ Lửa đốt Bồng Sơn/ Người người tan xác giữa đồng/ Người người ngã gục bên dòng Lại giang/ Người người bỏ thân trên đường chạy loạn/ Đôi mắt trừng lên nỗi kinh hoàng/ Đôi mắt ngó về đâu chòng chọc/ Bốn bề khói lửa mù giăng/ Bốn bề binh đao cuồng nộ/ Bốn bề đổ nát tan hoang/ Chạy mau chạy mau người mẹ Hoài Ân/ Quang gánh trên vai chất đầy thống hận/ Máu bầm vướng víu bàn chân/ Chạy đi chạy đi người chị Hoài Nhơn/ Sao cứ nằm ôm con thơ đùm trong tay nải/ Máu khô đen khuôn mặt lạc thần/ Pháo tràn lan xối xả/ Lửa rần rật trên lưng/ Chạy về đâu ?
Lư đã đồng ý với nhận xét của tôi cách đây hơn 40 năm, trong một buổi trà dư tửu hậu rằng: Trên đèo Bình Đê, là những cảm xúc thật, về những cảnh tượng có thật đang xảy ra trước mắt. Những nát tan khói lửa ấy đã khơi dậy những cảm xúc chân thật để bật ra thơ, nhưng dẫu sao, khi đọc xong, tôi vẫn thấy nó (TĐBĐ) là cái bóng của Biên Cương Hành.
Để khép lại phần viết về thơ Phạm Ngọc Lư, xin mượn nhận định sau đây của nhà văn Đỗ Trường: “Có thể nói, Biên Cương Hành là một trong những bài thơ hay nhất viết về chiến tranh, không chỉ của thi ca miền Nam, mà cho cả nền thi ca đất Việt. Đa số những bài viết về đề tài chiến tranh, hay cổ động chiến tranh thường có giá trị nhất thời. Nhưng Biên Cương Hành lại có sức sống dẻo dai và sự lan tỏa mạnh mẽ, bởi ngoài sự thật tàn khốc của chiến tranh, nó còn chứa đựng giá trị nghệ thuật cao” (link đã dẫn 3).

Truyện là nỗi niềm thế hệ chiến tranh.
Phạm Ngọc Lư viết truyện không nhiều, khoảng gần 20 truyện, đăng trên Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Ý Thức, Tuổi Ngọc… Sau năm 75, anh không còn giữ được truyện nào trong tay (do sách báo bị tịch thu). Giữa năm 2016, khi Lư lâm trọng bệnh, anh em nhóm Thư Ấn Quán đã dày công sao lục trong các thư viện HK, hoặc còn lưu giữ được những số báo có đăng truyện Lư, chia nhau đánh máy và cuối cùng nhà văn Trần Hoài Thư đã ngồi “vá” lại những truyện thất lạc này thành tập truyện Sợi Khói Bay Vòng gửi về VN như một tấm lòng của anh em đối với Lư. Trong lời mở cho tập truyện, Trần Hoài Thư viết: “Lấy tựa đề truyện ngắn Sợi Khói Bay Vòng không phải nó là truyện ngắn đặc sắc hay tiêu biểu. Những truyện của Phạm Ngọc Lư đều hay, đều đẹp, đều buồn. Có truyện tình. Có truyện chiến tranh. Có truyện nói về thân phận lưu đày nơi đất trích. Nhưng Sợi Khói Bay Vòng là truyện có thể chuyên chở hết tất cả cái định mệnh của tuổi trẻ, dù nam hay dù nữ…”.
15 truyện trong Sợi Khói Bay Vòng, viết về nhiều đền tài khác nhau: tình yêu, thân phận làm người, nỗi cô đơn khắc khoải… nhưng tất cả đều lồng ghép trên tấm phông chiến tranh với nhiều gam màu ưu uất, có lúc như không tìm thấy lối thoát cho một tương lai tươi sáng với những chàng trai, cô gái thuộc thế-hệ-chiến-tranh này. Những thanh niên trên dưới 20 tưởng chừng như đang được thụ hưởng những chuỗi ngày tươi đẹp; nhưng thật ra đó chỉ là lớp vỏ che chắn bên ngoài khi những lời sấm truyền ngày càng lan rộng khắp làng quê, thành thị…: “Cả xóm người ta đồn rân: tháng Năm đổ máu, tháng Sáu hòa bình. Tháng Sáu âm lịch rồi đó cậu” . Hòa bình đâu không thấy, chỉ thấy máu tiếp tục đổ, nhà cửa ruộng vườn vẫn liên tục bị xới nát bởi bom đạn, lớp lớp thanh niên vẫn phải lao ra chiến trường: “Có thằng con chớ. Hắn bị bắt quân dịch hồi tết, nghe nói đang đánh giặc tận Cao Miên” (Cái Đuôi Sao Chổi, tạp chí Ý Thức, số 7). Và, hệ quả của nó là: “Cô gái bước lại mở hé cửa và bối rối xô Chấn lui. Nhưng anh cũng vừa kịp thấy cảnh tượng trước mắt: người đàn ông đang gục đầu trên cái rương gỗ khóc tức tưởi, bên cạnh bó nhang đang tỏa khói và mấy ngọn đèn cầy cháy leo lét, buồn thảm. Cô gái chảy dài nước mắt, nói mếu máo: Tội nghiệp anh tui phải nằm lại dọc đường đêm nay… Cái rương gỗ ấy đựng hài cốt anh tui!” (Cuối Ngày Cuối Đường, Văn số 223, 1973).
Lư là nhà giáo, hàng ngày anh phải chứng kiến hoặc nghe kể lại lắm chuyện thương tâm, tang tóc. Trong truyện Một Dòng Sông Trong Miệng Ngậm, đăng trên Văn số 148, ngày 15.2.1970, mô tả những thanh niên tuổi từ 16 đến 19 ở một làng quê tranh tối tranh sáng, có người cày ruộng, có người tham gia du kích địa phương. Họ từng chăn bò tắm sông thuở nhỏ, nhưng kể từ khi trái tim biết rung động, chủ nghĩa vu vơ chen vào, lòng thù hận được trao tay thì tình làng nghĩa xóm vụt tắt nhanh chóng. Đó là nhân vật Mộc, một du kích địa phương đã hành xử với Tương, bạn mình như một kẻ thù đúng nghĩa: “Tương bị đánh thức dậy theo hai người lạ ra khỏi nhà, “cấp trên cần gặp mặt”… Bụng Tương đụng phải vật gì cứng nhọn, chừng đưa tay nắm lấy chàng mới biết mũi súng/ -Trói nó lại! Cùng lúc Tương dợm người thối lui, kịp nhận ra giọng thằng Mộc…/ Mày bắt tao hả Mộc?/ … Mày có tội trạng rõ ràng, tự hiểu lấy…/ Tao tội gì? Có phải mầy tư thù việc con Vui không bằng lòng mầy?/ … Sự thật mầy đã phản bội. Mấy hôm nay mầy trốn lên tỉnh tiết lộ bí mật của ủy ban, tội Việt gian, rõ chưa?”.
Cuối cùng Tương bị đưa qua sông, bị bắn chết. Nhưng số phận Mộc sau đó cũng không hơn gì những người khác trong làng: “Sau này tôi mới nghe, thằng Mộc, thằng Giảng, thằng Chiêm đều bị bọn cán bộ cao cấp kết tội rồi hạ sát ngay phút đầu lính mình đổ bộ… Anh hỏi vì sao hả? Dã man thật, làm vậy cốt phòng ngừa việc mấy thằng ấy hồi chánh khai toạt những bí mật cơ sở… Những người trong làng bị chôn sống đều do tay thằng Mộc cả, bây giờ hắn chết rồi còn ai biết chỗ lấp xác mà tìm. Ghê quá anh à, hồi kháng chiến cũng có chôn tươi tụi Tây bắt được (chính mắt tui chứng kiến) nhưng đâu có tàn nhẫn ba bốn chục người một hầm bằng thời nầy…”.
Hình như không gian và thời gian mà Lư mô tả trong truyện là một làng quê nào đó ở Thừa Thiên-Huế hồi tết Mậu Thân khiến chúng ta nhớ lại thời kỳ kinh hoàng: Cách mạng văn hóa ở Trung Hoa, Cải cách ruộng đất ở VN. Cũng vẫn những đứa con nít ấy, từ ngây thơ trong trắng bị chuyển qua lòng thù hận bởi những lời ru ngọt-ngào-man-trá, giống như các nhân vật thiếu niên của Khuất Đẩu trong Người Giữ Nhà Thờ Họ, làm rung chuyển cả xóm làng, làm ông cha chồng và nàng dâu hết phen hoảng sợ này tiếp đến những thoi thóp dập dờn khác, bao trùm căn nhà lá mái luôn kín cửa như hầm mộ chôn lấp cả hai cha con trong đó. Truyện Khuất Đẩu viết sau (2004), còn MDSTMN của Lư trước đó 34 năm, nhưng hành động, thái độ thì không khác gì nhau trong cách trui luyện của Cách mạng: “Gìa như tôi sống trải qua biết bao năm giặc giã nhưng chưa có lúc nào loạn lạc bằng thời nầy. Cái bọn con nít nổi lên làm cha chú mình không” (ám chỉ những Giảng, Mộc, Chiêm… – chú thích của người viết).
Lớp thanh thiếu niên ấy, có người bên này, người bên kia do hoàn cảnh. Nhưng chắc chắn có điều rằng, không ai muốn lao vào chém giết nhau, trừ phi bị thúc ép, bị nhồi nhét. Rồi thì cũng có người tỉnh trí, nhận ra sự việc, có người mãi lú lấp vào những hào quang không thật. Và cũng có người vùng vẫy cố thoát ra khỏi vòng ám chướng vô định như lời kể nhân vật Cưu cho bạn mình nghe chuyện thật bi hài: “Tao đang bị quân cảnh truy tầm… Thằng con bác lớn tồng ngồng mà sửa khai sanh còn mười bốn tuổi. Tụi lính tóm được, lột quần nó lắc đầu chửi thề, đ.m 14 tuổi gì mà… khó coi quá. Nhưng tụi chúng không bắt nó đi quân dịch, lại nghịch ngợm bảo nó phải nhổ sạch lông mới được tha về. Thằng nhỏ cắn răng khóc ngất…” (Sợi Khói Bay Vòng (Văn, số 153 tháng 5.1970).
Truyện này Lư viết trong thời gian dạy học tại quận lỵ heo hút miền núi Củng Sơn và hoàn thành cuối năm 1969 (Sau đó Lư viết tiếp bài thơ nổi tiếng Biên Cương Hành). Có thể coi đây là truyện ngắn chắc tay nhất của Lư, phản ảnh đúng cách nhìn, suy nghĩ và cách sống của tuổi trẻ thời chiến; trong đó là những vòng tròn không lối thoát, là tình yêu bị mất mát cùng những cay đắng về cuộc đời đối với thời cuộc đảo lộn, chiến tranh lan rộng khủng khiếp. Thái độ chán chường mệt mỏi ấy của những nhân vật trong SKBV đã nói lên đúng thực trạng xã hội miền Nam thời bấy giờ. Họ tìm thấy nhan nhản những nhậu nhẹt, đĩ điếm, gái bán bar, lính Mỹ… như những vệt xám ngoét trong tâm trí trên một nửa đất nước này. Nhân vật Bồng tự dưng chán nãn, chạy trốn Cưu, chạy trốn khói thuốc từ người Cưu, nhưng lại mơ hồ nhớ đến những sợi khói ấy, sâu tận đáy lòng: “Bồng hy vọng khi lên tới bến xe sẽ thấy Cưu đứng sẵn ở đó dù nàng sợ vô cùng mùi khói thuốc ngây ngất cuốn lấy mình từng sợi dày hơn cả mảng lưới”. Và rồi một “hắn” nào đó xuất hiện cạnh Bồng trên băng ghế xe đò chạy về T. với gói thuốc đúng với loại thuốc Cưu hút khiến Bồng trở nên hoang mang. “Hắn” xuống xe ở đoạn nào đó cô gái không hay, chỉ còn trơ lại gói thuốc chỉ còn vài điếu lẻ. Cô giữ lấy như nhìn thấy bóng dáng Cưu quanh quất đâu đây. Truyện được đẩy lên thành cao trào ở đoạn cuối, khi “hắn” bất ngờ xuất hiện trong tấm áo choàng, nón nĩ, bị vải đến từ giã Bồng. Còn Bồng thì luôn có sẵn gói thuốc trong người phòng hờ khi gặp “hắn” sẽ trả lại. Hai người gặp nhau và Bồng nói: “Trả lại anh. Ngồi nói chuyện hút cho hết cả bao rồi hãy đi. Tôi thèm ngửi mùi khói này lắm” . Níu kéo chút thực tế để liên tưởng, để nhớ nhung chút khói sương ngày cũ. Nó có thật và cũng là ảo ảnh, không thể nắm bắt trong tay, như “hắn” mệt mói thốt ra với cô gái: “Phải rồi, đời tôi chỉ là một cụm khói, một sợi khói bay vòng. Chẳng tới đâu, chẳng được gì”. Chưa hết, bất ngờ trong một buổi sáng nào đó, Cưu chuẩn bị trình diện nhập ngũ thì gặp Bồng “mặc áo dưỡng thai” đang đi trên đường, coi như mối tình chấm dứt bằng những núi kéo mơ hồ: “Tôi tin rằng tôi chưa mất em dù em đã có chồng…”. Họ xa nhau có vẻ không ray rức, đau khổ mà tỉnh táo, lạnh tanh: “Cưu còn đứng lại rút tấm lệnh gọi cuốn tròn giả làm điếu thuốc giắt lên môi”.
Truyện rất kiệm lời thoại, chỉ là những suy nghĩ, những dằn vặt nội tâm đan xen vào nhau để xô đẩy tâm lý mỗi nhân vật ì ào như những lớp sóng vỗ mãi vào bờ đá… (Lối kết cấu truyện như vậy, bàng bạc đây đó trong các tác phẩm của những nhà văn trẻ trước 75. Đó là sự tỉnh táo ở Y Uyên, nức nở, bi phẫn ở Trần Hoài Thư, nhẩn nha mà dữ dội ở Hồ Minh Dũng, Phan Tấn Uẩn hay bình thản mà sâu lắng như Kinh Dương Vương.v.v. với những bối cảnh là làng quê nghèo khổ, là những người nông dân chất phác, ngơ ngác, là những thanh niên đang là lính trận, mất dần phương hướng, buông xuôi trong tình yêu và cuộc sống, cứ để cho dòng đời xô đi mà không cách gì chống chọi nổi với những cơn lốc tàn bạo của chiến tranh).
Thân phận làm người đã khó, lại làm người trong thời buổi lửa đạn ngút trời càng thê thảm hơn. Đó là truyện Tàn Đông (Bách Khoa số 344) như cuộc đời biếm trích của thầy giáo Kiền và cô bạn y tá trọ chung nhà bị giam hãm ở một quận lỵ miền núi (Củng Sơn) âm u đến ngột ngạt, chỉ có niềm mơ ước nhỏ nhoi là có ngày được về thành phố để thấy ánh đèn, những con đường nhựa, những chùm bông màu vàng… Cả hai đều có một tâm trạng như nhau. “ Chờ một ngày về lại thành phố, trốn thoát khỏi nơi rừng sâu nước độc nầy… phải có cánh mới bay vượt qua khỏi trùng lũy đồi núi chồng chất vây bủa chung quanh. Núi Cấm hiểm trở, núi Một vòi või, núi Lá rậm rì… và rừng Hòa Thán thâm u, rừng Hàm Long điệp điệp”. Sự mong ngóng có ngày được về thành phố như một ám ảnh nặng trĩu, như một hòn đá tảng đè trên vai hai người. Cô y tá: “Thì đành cười nói ra bộ thân mật với ổng một chút để tránh cảnh chầu chực đợi trực thăng cả tuần lễ không được sao?”. Còn thầy giáo Kiền, trong bức thư cho người bạn gái: “Em thử tưởng tượng da dẻ anh đang mốc meo, đóng vảy cá từng bợn dày, có thể lột ra được từng phiến mong mỏng như lớp lụa bọc ngoài củ hành củ tỏi… Em hãy gửi cho anh vài ánh mặt trời, một gói nắng, càng nhiều càng quý. Anh thèm lắm, thèm đến nỗi nhuốm bệnh…”.
Cả hai mang nỗi đều hoài nhớ, mơ ước từ ngày này sang ngày khác trong khung cảnh chật chội cùng những bất trắc có thể đổ ập đến không biết lúc nào, bởi chiến trường không xa mà sát ngay trong thị trấn: “Mé sông ngoài vòng đai chi khu, đạn nổ rát hơn. Súng cối bắn đùng đùng tới tấp, bay vèo vèo trên đầu. Vách nhà rung chuyển liên hồi…Anh lôi bạn xuống khỏi giường, nàng thất thần ngã vào người anh mềm nhũn như kẻ vừa trúng đạn chết không kịp ngáp”.
Sau trận tấn công vào quận lỵ, là quang cảnh đổ nát của ngôi trường Kiền dạy, những khuôn mặt “ngơ ngác” của đám học trò, và những xác chết “nhỏ thó, trẻ măng” ngoài bờ ruộng và kết thúc truyện: “Thằng này là học sinh mới trốn theo nẫu (6) dại dột chết uổng. Thầy nhớ nó chứ?/ Kiền nhìn khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu bỏ đi”.
Có người, khi đọc đến câu cuối ở truyện này đã phê phán tác giả tạo ra nhân vật thầy giáo Kiền đã đánh mất lương tâm khi nhìn thấy đứa học trò cũ bị bắn chết khi tấn công vào quận lỵ, với cái “lắc đầu bỏ đi” là thái độ dửng dưng đứng trên lương thức con người bình thường. Tôi nghĩ “Kiền nhìn khuôn mặt thâm tái dính đầy máu cục bùn đất, lắc đầu bỏ đi” không hẳn là thái độ có ý thức chính trị rạch ròi như Đỗ Trường nhận định: “…sự chối bỏ không nhận (ra) người học trò của thày giáo Kiền, là thái độ chính trị cũng như tư tưởng yêu ghét rõ ràng của tác giả. Và thông qua hình ảnh cái chết của người học sinh ấy, tác giả còn muốn gửi thông điệp đến người đọc, sự tàn nhẫn của những kẻ dụ dỗ, mua chuộc trẻ em, phụ nữ làm bia đỡ đạn, trong cuộc nội chiến thảm khốc này” (7). Hành vi “lắc đầu bỏ đi” theo tôi, không phải là chối bỏ mà, trước hết là nỗi chán ngán đến cùng cực cuộc chiến tàn khốc này. Hậu quả để lại chỉ là những cái chết oan uổng, những cái chết không đáng chết như đứa học trò kia. Anh không bày tỏ một thái độ chính trị ở đoạn này, và cũng chẳng cần đưa ra một thông điệp nào để lên án chiến tranh. Anh viết và bỏ lửng ở đó để người đọc tự tìm kiếm câu trả lời. Và điều này Lư đã thành công, bởi có nhiều ý kiến trái chiều nhau.
Chiến tranh thoáng hiện thoáng biến vô chừng trong các truyện ngắn của Phạm Ngọc Lư, nhưng bộ mặt thì không rõ rệt như một Phan Nhật Nam, Thảo Trường …hay một vài tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, những nhà văn đi trước Lư khá xa. Nó (CT) như một cái cớ để nói về thân phận làm người đang bị lọt thỏm vào vòng xoáy thời cuộc. Thân phận ấy là thanh niên, thầy giáo, công chức, học sinh và nhiều nhất là những người dân nông thôn, đang trong vùng tranh chấp: “Tới cầu sắt Đoan bữa kia.. Tui mới lùa bò qua giữa cầu, chút nữa chết tan xác rồi. Bò kêu rống chen nhau nhảy xuống sông…” (Xóm Ven Rừng, Văn số 170, ngày 15.1.1971).
Trong truyện ngắn Phạm Ngọc Lư, người đọc còn dễ dàng bắt gặp đây đó những lợn cợn tính dục được giấu kín đằng sau cảm giác bất chợt ập tới, nhưng nhẹ nhàng không òa vỡ, ngấu nghiến như các nhà văn trẻ cùng thời: “Cô vợ có chút ít nhan sắc, trung bình thôi, nhưng người tinh mắt ai cũng công nhận với tấm thân no tròn sinh lực ấy, với đôi vú chữ tâm(*), cặp mông no lẳng như thớt ngựa ấy cũng hứa hẹn sẽ đem lại cho ông vài đứa con…” (Xóm Ven Rừng, sđd). Có khi những dục tính được khơi gợi từ những tác động bên ngoài, như cái đêm hai bên đánh nhau trong phố: “…không chừng Cúc lường được mức độ tham lam quá đáng nơi bàn tay Huỳnh, nàng khẽ đẩy chàng ra giành lại tấm chăn cuốn quanh mình… Cúc ôm chầm lấy Huỳnh ghì đầu chàng vào ngực. Huỳnh thử lắng nghe nhịp tim Cúc đập hối hả, ngoạm lấy áo Cúc nhai kín miệng” (Nhà Hầm, Văn số 140. 1969). Và: “Bất ngờ nàng ôm chầm lấy anh lôi ngã sấp lên ngực, hơi thở nóng ran, hổn hển, dồn dập. Kiền nhúc nhích cựa nhẹ mình nhưng không dám gỡ vòng tay bạn đang quấn quýt siết chặt trên lưng” (Tàn Đông, Bách Khoa số 344). Những hành vi trên, phải chăng là tâm thức của những kẻ cô đơn, của những con người bị “lưu đày” nơi đất trích, của những số phận không có ngày mai, đang ở giữa lằn ranh sự sống và cái chết trong gang tấc?
Đôi lúc tác giả đặt lý trí lên trên để kịp dìm nhục cảm xuống và dựng nên một sự tỉnh táo thái quá trong thời khắc mà hai kẻ yêu nhau đang ở một nơi vắng vẻ, gợi tình: “Gió vẫn phơn phớt phe phẩy lá dương chạm vào mặt nhồn nhột, ve vuốt một khoái cảm không rõ tên. Tôi bò tới chỗ Nhan ngồi.
Thật tình em quá ngây thơ khi có ý ra đây Nhan à!
-Anh sắp làm gì tôi?” (Cái Đuôi Sao Chổi, sđd).
“Tôi” chẳng làm gì cả, mà “cầm lấy lon coca… uống từng hơi dài” như dằn cơn khoái cảm xuống. Vì vậy, dục tính trong truyện của Lư thường xảy ra do sự tình cờ ngẫu nhĩ, do ngoại cảnh đưa đẩy, tức quán tính trong tình thế “cuối đường”.
Trong số gần 20 truyện Lư để lại, với tôi, có lẽ Mộng Thấy Mình Đã Chết (Ý Thức số 7 ngày15.1.1971) là truyện hay nhất. Anh đan xen giữa hiện sinh và siêu hình cùng chút xa gần trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử khiến câu chuyện hư hư thực thực. Mộng và thực ẩn hiện qua từng suy tưởng của nhân vật. Mộng Thấy Mình Đã Chết phần nào phản ảnh tâm trạng lớp thanh niên thời chiến ở miền Nam. Họ hoang mang và tuyệt vọng. Họ luôn luôn đeo mang sự chết trong từng hơi thở, giấc ngủ. Đó là những cái chết tình cờ, có thể đến bất kỳ lúc nào với bất kỳ ai, bất cứ đâu. Nó là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với nhân vật xưng tôi. “Tôi” và Muội yêu nhau, nhưng lúc nào “tôi” cũng thấy Muội đã chết. Nàng đến với “tôi” trong cuộc sống thực mà như từ cõi mộng. Mộng và thực luôn trộn lẫn vào nhau ở hai nhân vật này: “Tôi đã chết? Con đò đưa linh hồn thả về bên kia bờ quá khứ cháy bùng lên, chìm xuống mặt biển sóng gió trùng trùng nô giỡn nhẫn tâm giữa nỗi quên lãng mông mênh ngút ngàn thiên địa tận… Anh đã chết vào sáng sớm ngày mồng 7 Tết dưới gốc cây nêu trước ngõ”.
Có lẽ, thảm cảnh Mậu Thân ở Huế, với những gì đã chứng kiến khiến tinh thần Lư bị tổn thương, tạo nên những vết nứt toang hoác trong tâm tưởng anh, kéo dài khá lâu, hằn sâu vào tâm trí để bật ra câu chữ: “Em tưởng anh đã chết trong biến cố Mậu Thân ở Huế. Anh chết vỡ ngực, máu nhuộm đỏ cả chiếc sơ mi trắng nằm trước cổng nhà với cái tay nải còn rơi vướng cạnh đó”. Một đoạn khác: “Quả thật, tôi đã cầu mong cho cả thành phố ấy nổ tung lên. Ghê thay, tôi đã chết theo. Mẹ tôi, sau những ngày chạy loạn, đói, bệnh, thiếu cơm thiếu thuốc đã đau đớn lìa đời tại nhà một người bà con ở vùng quê. Bà chưa kịp về nằm giữa căn nhà đổ nát thở hơi thở cuối cùng như lời mong mỏi trăng trối lúc lâm chung, chưa kịp biết xác tôi có được chôn lấp đàng hoàng chưa hay đã bị heo chó rỉa rói mất rồi…”.
Những gì đã xảy ra ở Huế là những vết thương đen đúa, tím bầm, cứa mãi vào con tim lịch sử dân tộc. Khép lại những dòng cuối cùng, truyện toát ra chút khắc khoải, nghèn nghẹn, như thể chính người đọc bị hóa thân cùng các nhân vật của anh.
Với truyện ngắn, sau năm 1975 Lư buông bút, không viết một dòng nào (ngoại trừ thơ). Lý do cũng đơn giản, như trong thư viết giữa năm 2002 từ Đà Nẵng gửi cho tôi: “Con đường văn chương của tôi quá ngắn ngủi, sau 75, coi như tuyệt lộ. Đáng buồn. Tiếc thay giấc mộng của một thời thanh xuân! Bất phùng thời, đành vậy…không chơi, không tham dự gì với nền văn học nghệ thuật đương đại từ đó đến nay và mãi mãi… Muốn viết văn xuôi lắm nhưng chắc phải “học” lại đã, lâu năm quá, chữ nghĩa sét gỉ hết rồi…”.
Để khép lại bài viết, chúng tôi xin dẫn nhận định sau của nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh về những tác phẩm của Lư: “chúng tôi có cảm tưởng tác phẩm của ông có điểm khác các nhà văn trẻ cùng thời đó. Có chiến-tranh nhưng không nhất thiết là đề tài chính, có tình-yêu nhưng không xuôi chảy, trơn tru, dễ dàng, có hiện thực đời-sống đang xảy ra nhưng rốt cùng chỉ là cái cớ, có triết lý nhưng cũng không phải để thuyết phục người đọc,… vì thiển nghĩ truyện và thơ ở Phạm Ngọc Lư đã đụng đến cái lõi nhân bản qua các phác thảo, nhận định, đã là những diễn biến tâm sinh lý ông trình bày để nhân-vật tự xuất hiện. Riêng lời văn con chữ mang thi tính đặc sắc, chọn lọc…” (Nguyễn Vy Khanh, Vài Cảm Nghĩ Về Thơ và Truyện Phạm Ngọc Lư, trg 104-105, TQBT số 70, tháng 6.2016).

(Viết những dòng này, như những lời vĩnh biệt, nhớ đến Phạm Ngọc Lư, người bạn thân của tôi, cả đời khốn khó).

Nguyễn Lệ Uyên

Tuy Hòa, tháng 6.2017

_________
(*)

Chữ Tâm viết thường – chữ Tâm cổ
Theo Phạm Ngọc Lư, vú chữ tâm (cổ) là loại vú đẹp của người con gái, giải thích của nhà văn Tô Thẩm Huy và TÂQ.

(1) Đặng Tiến, Vũ trụ thơ, NXB Giao Điểm, SG 1972
(2) https://vietbao.com/p112a268374/nghi-ve-nha-tho-pham-ngoc-lu
(3)http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://danlambaovn.blogspot.com/2015/06/pham-ngoc-lu-nguoi-van-giu-lua-cho-nen.html
(4) Đào Tiềm (365 – 427) tự là Uyên Minh, người đời Đông Tấn, Trung Hoa. Ông làm huyện lệnh ở Bành Trạch, chán cảnh phải luồn cúi quan trên, than thở “ta đâu phải chỉ vì 3 đấu gạo ( tức lương bổng)mà phải khom lưng ư?” bèn cởi trả áo mão cho triều đình, lui về quê ẩn cư, viết bài Quy khứ lai từ để bày tỏ chí hướng.

(5) http://dutule.com/a7597/bien-cuong-hanh-dia-chan-thi-ca-pham-ngoc-lu-ky-02-
(6) Nẫu: phương ngữ Bình Định, Phú Yên, đại từ ngôi thứ 3 chỉ số nhiều. Ở đây Nẫu chỉ những người lên núi theo VC.
(7)https://sangtao.org/2016/10/06/vai-suy-nghi%CC%83-ve-ta%CC%A3p-truye%CC%A3n-so%CC%A3i-khoi-bay-vong-cu%CC%89a-pha%CC%A3m-ngo%CC%A3c-lu/

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 15

 

Hôm sau, vẫn ở phòng chấp pháp khu B, tôi làm việc với chấp pháp số 7. Tôi… đi khách lần thứ bẩy. Chấp pháp số 7 giống hệt tên lái buôn thô lỗ. Mà tôi, nàng Kiều chưa thể chuyên nghiệp.
– Hôm nay anh viết tự khai.
– Tôì đã viết bên Sở hai lần.
– Sở là sở, Trại là trại. Với Trại, mọi chuyện bắt đầu.
– Tôi đã viết thêm một lần ở Trại.
– Anh chưa làm việc với tôi.
Chấp pháp số 7 móc thuốc Vàm Cỏ và hộp diêm Samasa đặt trên bàn:
– Anh tự do hút thuốc. Hết thì sẽ có thêm. Anh được uống cà-phê. Lát nữa, quản giáo đem tới.
Từ nửa tháng nay, đề lao cấm chỉ cà-phê, trà. Vì có phòng bị phát hiện nấu nước sôi bằng lon sữa bò và túi ni lông bện lại nhóm lửa. Cà-phê, trà bị cấm. Sữa đặc bị khui ra đổ vào keo nhựa hay túi ni-lông rồi mới cho vô phòng. Ở tù phiền lắm. Một người vi phạm nội quy, ngàn người vạ lây. Cách mạng có dịp diễn tả sự tử tế: “Chúng tôi không cấm đoán các anh, mọi khó khăn do chính các anh tạo ra”.
Chấp pháp số 7 chưa phát giấy bút. Hắn… mạn đàm:
– Tôi nhắc lại: Anh viết tự khai.
– Tôi hiểu.
– Tốt. Trong các anh, nhiều người chướng lắm. Lố lăng nhất là thằng Trần Dạ Từ. Bảo viết tự khai, nó làm thơ chéo.
Tôi chưa biết thơ chéo ra sao.
– Nó đòi làm việc với nhà văn miền Bắc! Công an bắt nó mà nó mơ mộng. Cuối cùng, nó vẫn làm tự khai.
Chấp pháp số 7 dằn mặt tôi. Hắn lôi người không ở chung phòng tôi ra dẫn chứng. Đây là đòn công an. Như gã chấp pháp xứ Nghệ đã “bỏ nhỏ” Nguyễn Mạnh Côn khai về tôi “không lấy gì làm đẹp”. Cộng sản dùng kế ly gián để chúng tôi bôi lẫn nhau cả những chuyện không liên can tới văn nghệ phản động. Tôi biết chắc họ đã đem tôi ra “bỏ nhỏ” với người này, người kia. Công an chế độ nào cũng giống nhau. Công an và an ninh quân đội. Đòn ly gián rất ếp-phê. “Nhà văn hoá” Trần Tam Tiệp đã áp dụng thủ thuật khốn kiếp này. Muốn bêu tôi, ông ta gửi về tặng Dương Hùng Cường gói thuốc tây, kèm theo cái thư có đoạn “bỏ nhỏ”: Này, thằng Duyên Anh đang ở Paris, nó uống rượu tối ngày, nó chửi mày dữ quá! Dương Hùng Cường sẽ nổi điên, nghĩ rằng thật, nó sang Pháp sung sướng còn nỡ chửi anh em. Bèn hài tội Duyên Anh, thêu dệt đủ tội. Khi người ta phẫn nộ thì ghê lắm, “Nhà văn hoá” Trần Tam Tiệp, gốc an ninh quân đội, chớp được thư nhà, phô-tô cóp-pi vung vít mà gửi khắp quần hào. Cái tác phong ngụy tiểu nhân của cớm sớm muộn nó cũng lòi ra. Bọn bất tài vô tướng thường chơi thủ thuật. Chừng thủ thuật hết thiêng, chúng nó lêu bêu như lũ chó ghẻ già nua.
Chấp pháp số 7 nói tiếp:
– Cái thằng Như Phong Lê Văn Tiến vẫn ngoan cố. Bầy đặt tuyệt thực. Thời đại của Thiệu đã cáo chung. Đứa nào muốn chết cháv, cứ tự nhiên. Gia đình nó sẽ đóng thuế ngu cho nó. Rốt cuộc, Như Phong đành tự khai. Các anh không kiên trì bằng người cộng sản. Các anh là đá, chúng tôi là nước. Nước chảy đá mòn. Các anh là sắt, chúng tôi là át-xít. Át-xít gặm mòn sắt. Chúng tôi có giai đoạn rõ rệt. Kiên trì rồi kiên quyết. Khoan hồng rồi trấn áp. Các anh thích làm anh hùng, chúng tôi biến thành anh hèn ngay. Khẩn trương, đột xuất.
Hắn đánh phủ đầu tới tấp. Nhờ hắn tiết lộ, tôi tin chuyện Như Phong đã khước từ cơm tù 41 ngày mà anh em C-2 kể cho tôi nghe khi anh em chuyển sang C-l, chung phòng tôi, mấy tháng sau. Như Phong “yoga” ở cachot. Anh không viết tự khai, không làm tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng. Nhà quân sự Phải Gió uống nước chanh đường mà yoga. Mức yoga của Như Phong đến bậc thượng thừa. Đề lao biết anh… tuyệt thực, cứ giả vờ như không biết. Ô cửa gió mở. Quản giáo thường xuyên theo rõi. Bấy giờ, Trưởng trại T-20 tức Giám thị đề lao Gia Định là thiếu tá công an Tuấn, Phó trại là Tư Long, tên nằm vùng bán vé xe đò bến Saigon – Đà Lạt cho hãng xe Minh Trung. Tư Long đeo quân hàm đại úy. Ngày thứ 41, Tư Long cúp ống dẫn nước vào cachot. Quân sư Như Phong kềnh ngay lập tức. Người ta khuân anh ra Phòng Y Tế. Người ta chích nước biển. Như Phong còn đủ sức co tay, Tư Long xỉ vả anh. Như Phong thều thào: “Anh nên lễ độ, tôi chấp nhận cái chết”. Bác sĩ Quang năn nỉ Như Phong: “Xin anh cho tôi làm bổn phận y sĩ”. Người ta đè anh, trói chân anh, tay anh trên giường. Và vào nước biển tiếp sức. Như Phong được đề lao bồi dưỡng một thùng sữa đặc, trở thành tù nhân de luxe của đề lao. Anh ra phòng tập thể C-2, ngày ngày đi mạn đàm với chấp pháp. Rồi anh viết tự khai…
Chấp pháp số 7 đã đưa giấy bút cho tôi.
– Anh viết khẩn trương vì tôi sẽ về Hà Nội công tác đột xuất. Tự khai lần này khác.
Tôi hỏi:
– Tôi sẽ viết thế nào?
Hắn đáp:
– Cuộc đời anh từ năm anh 10 tuổi đến ngày anh bị bắt. Thật chi tiết. Chính xác ngày, tháng, năm.
– Làm sao tôi nhớ ngày tháng?
– Cố nhớ đến đâu hay đến đó. Anh hay khoe anh có trí nhớ tốt mà.
– Chỉ vậy?
– Anh tóm tắt mỗi cuốn sách của anh, khai rõ cảm hứng nào anh viết, anh viết nhằm mục đích gì, ai thuê anh viết, mỗi cuốn giá bao nhiêu… Anh đừng quên những bài báo của anh trên những tờ báo anh cộng tác.
– Tôi viết cả 10 ngàn bài dài ngắn.
– Cố nhớ.
Bạn thấy hệ lụy văn chương của những nhà văn ở lại bị bắt chưa? Tôi muốn ông “nhà xuất bản” Đại Nam và các ông “nhà báo” viết thuê cho ông Đại Nam chửi bới tôi đọc Nhà Tù. Hy vọng lương tri các ông ấy thức tỉnh. Tôi cũng muốn độc giả thân mến của tôi tỏ thái độ quyết liệt với những kẻ sống trên lưng nhà văn, sống trên nỗi thống khổ mà nhà văn phải chịu đựng vì hệ lụy văn chương của mình. Cái công trình mồ hôi, nước mắt, tim óc của chúng tôi đã bị chà đạp ở quê nhà, còn bị ăn cướp ở quê người. Và những kẻ cướp đó lại là người Việt Nam, nạn nhân của cộng sản như chúng tôi, nhưng may mắn hơn chúng tôi. Tôi sắp chịu cực hình, đau đớn trên mọi tra tấn. Là tóm tắt 50 cuốn sách của tôi. Và phát biểu cảm tưởng về chữ nghĩa dĩ vãng. Và bôi nhục nó. Và nguyền rủa nó. Ôi, văn chương, nó đã đưa tôi lên và nó đã dìm tôi xuống. Không, cộng sản đã dìm tôi và văn chương của tôi. Hai chúng tôi đang “chết đuối trên cạn”, đang sặc sụa, đang đạp dẫy.
– Tôi nói để anh chuẩn bị tư tưởng: Anh phải tranh thủ thời gian.
Gã quản giáo đã đem ca cà-phê đá tới. Tôi bắt đầu viết tự khai, bắt đầu chơi lại một trò chơi quái đản của ý thức hệ. Trò chơi khốn kiếp này, tôi đã chơi và đã thể hiện ở một tiểu thuyết mới nhất của tôi. 1 Xin trích một đoạn:
– “Tôi đã viết ba lần.
– Ba lần anh viết khác nhau. Tôi chỉ yêu cầu hai lần giống nhau là đủ. Anh viết ba lần ba cuộc đời của ba con người!
– Cô cho phép tôi đọc cả ba bản để cô so sánh.
– James, anh đã biết điều, nên tiếp tục biết điều. Tù nhân không được quyền yêu sách. Anh được đọc nội quy nhà tù chưa?
– Chưa.
– “Triệt để thi hành mệnh lệnh của cán bộ”. Anh viết lại tự khai.
– Bắt đầu?
– Phải, từ năm anh mười tuổi đến khi anh bị bắt.
James viết tự khai lần thứ tư. James viết tự khai lần thứ năm. Lần thứ sáu. Lần thứ bảy. Lần thứ tám. Lần thứ chín. Lần thứ mười, về cuộc đời chàng từ năm chàng mười tuổi đến khi chàng bị bắt. Đến lần thứ ba mươi, ấu thơ chàng, niên thiếu chàng, thanh xuân chàng, kỷ niệm chàng, tình yêu chàng, mơ ước chàng, hạnh phúc chàng, gia đình chàng, trường lớp chàng, thầy cô chàng, bạn bè chàng, nơi chôn rau cắt rốn chàng, dòng sông chàng, cánh đồng chàng, khu rừng chàng, ngọn núi chàng, sân cỏ chàng … ngậm ngùi lếch thếch dắt díu nhau lên trên những trang tự khai quái đản. Dĩ vãng đi. Dĩ vãng về. Dĩ vãng bò. Dĩ vãng lết. Dĩ vãng nhẩy. Dĩ văng chạy. Dĩ vãng vấp. Dĩ vãng ngã. Dĩ vãng tới. Dĩ vãng lui. Dĩ vãng nằm nghiêng. Dĩ vãng nằm ngửa. Tuổi hồng của James bị bầm vặp. Tháng ngày đẹp nhất đời người của James bị đâm chém. James sợ hãi, James kinh hoàng viết về dĩ vãng, về ấu thơ, về gia đình, về trường lớp, về tình yêu. Người lính Mỹ tên là James Fisher tâm hồn thánh thiện, biểu tượng sáng chói của cái thật, cái tốt, cái đẹp của dân tộc Mỹ, tham dự chiến tranh ở Việt Nam không hề mang theo ý thức hệ, không hề nhân danh chủ nghĩa tư bản, chỉ đáp theo tiếng gọi của tổ quốc yếu dấu, đang bị quay chóng mặt trong trò chơi của ý thức hệ. Và trò chơi mang tên tự khai, một kiểu tra tấn tinh thần tinh vi nhất, độc ác nhất trong thời đại mà bóng tối đã phủ kín lương trí loài người.
James Fisher bơ phờ, hốc hác. Chúa Jesus không bị viết tự khai như James Fisher nên ngài mới bình thản nói: “Đừng lo lắng chi về ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai”, James đã thấm đòn tự khai. Chàng lo lắng ngày mai vô cùng. Chàng sợ hãi ngày mai. Ngày mai quằn quại hơn hôm nay. Ngày mai, chàng nhìn rõ móng vuốt nó nhọn hoắt cào cấu đầu óc chàng; chàng nhìn rõ răng nó sắc bén gậm nhắm thần kinh chàng. Trên những trang giấy hãi hùng. Một cây bút, một xấp giấy. Nhỏ bé và êm ái. Thế mà bút và giấy đã khiến chàng bấn loạn điên khùng. James chỉ muốn chết để khỏi viết tự khai. Bây giờ chàng mới hiểu nhà tù cộng sản và sự khoan hồng, nhân đạo cộng sản. Tám năm chịu đựng thống khổ dưới hầm đá, trong các cachots, James đã chịu đựng nổi và sẽ chịu đựng hoài cho tới ngày nhận “phần thưởng trên trời”. Nhưng tự khai, chàng không hứa hẹn lần “no đủ sự công nghĩa”, dẫu tự khai cuộc đời chàng từ năm chàng mười tuổi đến khi chàng bị bắt.
Nàng Chi Mai chẳng thèm xúc động. Chàng viết tự khai lần thứ năm mươi thì ba mươi trang giấy thừa quá nhiều. “Tôi rất tiếc James ạ”! James không thể viết tự khai nữa. Thần kinh của chàng căng thẳng. Chi Mai không tha chàng, không mảy may trắc ẩn. Nàng bày thêm chi tiết của trò chơi. James sắp ăn, nàng gọi lên viết tự khai. James đang ngủ, nàng gọi lên viết tự khai. James mệt mỏi, nàng gọi lên viết tự khai. James ốm đau, nàng gọi lên viết tự khai. Rồi James hết thèm ăn, chán ngủ, James gầy gò, xanh xao. Mắt James thâm quầng. Râu ria James tua tủa. James chẳng còn biết chàng đã viết gì. James mất tự chủ. James hôn mê khi viết tự khai. James viết bậy bạ. James viết thư cho cha mẹ. James viết những lời thương nhớ Susan McCareen. James viết lời quốc ca. James vẽ bản đồ nước Mỹ. James làm thơ. James gọi Thượng Đế. James cầu cứu Chúa Jésus. Vào đúng lúc James tê liệt dễ sai khiến nhất, bảo sao làm vậy miễn là đừng bắt viết tự khai cuộc đời mình từ năm mười tuổi đến ngày bị bắt thì Chi Mai gọi chàng lên văn phòng của nàng.
– James, anh viết bao nhiêu lần rồi, nhớ không?
– Bẩy mươi.
– Sai.
– Sáu mươi.
– Sai. Cố nhớ đi!
– Tôi không nhớ.
– Một trăm mười hai lần!
Chi Mai nhoẻn miệng cười:
– Chưa phải là kỷ lục tự khai.
James hồi hộp chờ đợi một câu nói mà chàng sợ hãi nghe. Nàng cố tình nín thinh. Nàng khoái kéo dài sự lo lắng của James Fisher. Con sói cái muốn vờn con cừu non mềm nhũn, ngã qụy rồi mới rút ruột.
– James!
– Tôi nghe.
– Tôi rất tiếc James ạ!
James Fisher choáng váng.
– Tôi rất tiếc những lần sau cùng anh viết lung tung. Anh mệt mỏi, anh rã rượi rồi, hả?
Chàng thành thật:
– Phải, tôi rã rượi rồi.”
……
Thật sự, nhân vật tiểu thuyết của tôi chưa rã rượi bằng tôi. Tôi đã nói tôi sợ tôi không đủ khả năng diễn tả một buổi trưa hè trong một phòng giam của đề lao Gia Định. Thì làm sao tôi viết hết nổi cảm giác nhục nhằn của tự khai. Nhân vật tiếu thuyết của tôi chi phải tự khai từ năm 10 tuổi đến ngày bị bắt. Còn tôi, tôi phải truy nã hồi tưởng mà tự khai 50 cuốn sách và 10 ngàn bài báo của 15 năm viết lách mưu sinh. Năm 1937, Nguyễn Vĩ than vãn:
Thời thế bây giờ vẫn thấy khó
Nhà văn An nam khổ như chó
Mỗi lần cầm bủt viết văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Rồi nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết.
Nỗi khổ “kiết vẫn kiết” thấm gì với nỗi khổ tự khai của nhà văn Việt Nam năm 1976. Không có hình phạt nào thảm thê bằng hình phạt tự khai. Mọi thống khổ ngục tù trại tập trung là cỏ hèn dưới chân đại thụ tự khai sừng sững. Tự khai của các nhà văn, cuộc truy nã thân phận mình, sự nghiệp mình và kết tội mình. Tự khai của các nhà văn, niềm đau đớn tổng hợp niềm đau đớn của chữ nghĩa cổ kim, Đông Tây. Đó là một tra tấn tổng hợp những tra tấn của loài người ác độc. Tôi đã cố gắng ghi chép:
Người ta đưa cho anh một sấp giấy trắng
đã kiểm soát số trang
anh có thể gạch xóa nhiều hàng
nhưng cấm anh xé bỏ
tư tưởng anh bị soi kính hiển vi từng cái chấm nhỏ
Viết gì
Tự khai
Tự khai gì
Cuộc đời anh từ lên mười đến ngày anh vào rọ
Người ta đưa thêm cho anh một sấp giấy trắng
đã kiểm soát số trang
Viết gì
Tự khai
Tôi viết rồi
Viết nữa
Khai gì
Cuộc đời anh từ lên mười đến ngày anh vào rọ
Người ta lại đưa cho anh một sấp giấy trắng
đã kiểm soát số trang
Viết gì
Tự khai
Tôi đã viết hai lần
Viết thêm nữa
Khai gì
Cuộc đời anh từ lên mười đến ngày anh vào rọ
Anh phải viết ngày này qua tháng nọ
viết đến khi anh phờ phạc dại khờ
dĩ vãng hiện tại anh đảo lộn mập mờ
Viết đến khi anh đớn đau chết ngất
Đó là lúc người ta tìm ra sự thật
để kết án anh dù anh chẳng có tội chi
Này bạn
Bạn sẽ chép lại được mấy lần bức thư tình đã viết
Riêng tôi rất oanh liệt
Viết bốn trăm lần một bản tự khai 2
Những nhà văn bị nhốt ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định đều bị tra tấn theo cung cách này. Tất cả đều chóng mặt. Tất cả đều rã rượi. Tất cả đều bị chữ nghĩa tự khai xoáy mòn xương thịt. Ở những giây phút hôn mê ấy, chỉ có tù nhân và chấp pháp. Đôi khi, chỉ có một tù nhân trong căn phòng nhỏ. Nhà văn cô đơn sáng tạo. Nhà văn cô đơn tự khai. Chắc chắn, không có lão Toan Ánh đứng ngoài nhìn trộm và nghe lén qua khe cửa để bịa đặt tin bẩn, thứ tin chó dại ngoạm vào nỗi thống khổ của người oan khổ dưới bút hiệu Lã Vi. Và, chắc chắn, chỉ một gã chủ báo chưa vỡ nghĩa “người đi đường và con chó” của Quốc văn giáo khoa thư lớp sơ đẳng mới tự phóng uế lên lương tâm mình mà toa rập với “người đi đường” khốn kiếp và ác độc. Không ai biết được nỗi đau đớn, không ai biết được lòng quả cảm và sự hèn mọn ở không gian tự khai cả. Người cộng sản tim thép không xúc động. Họ lại có thú vui nhìn con người quằn quại. Người nhà văn viết tự khai “phờ phạc dại khờ”, “dĩ vãng hiện tại đảo lộn”, chẳng còn hiểu nổi cả sự hiện hữu của bản thân mình. Nhưng tôi, tôi dám thách thức cộng sản Việt Nam xuất bản Tự Khai dầy ngót 2000 trang viết tay giòng thưa của tôi. Tôi thách thức cộng sản Việt Nam công bố một sự thật về tôi có dấu tích thủ bút của tôi ở đề lao Gia Định, nơi tôi đã viết tự khai ròng rã 40 ngày đêm, nếu họ can đảm bằng không, họ nên chấm dứt cái điệp vụ văn hoá rẻ tiền nhằm hạ uy tín chống cộng của tôi, nhằm làm tê liệt sự phản kháng của tôi, nhằm cô lập tôi với đồng bào của tôi. Trò chơi này đã quê kệch và mất ép-phê. Ép-phê ngược là đằng khác. Sau ba năm trở lại nghề viết và hiên ngang sống bằng chữ nghĩa, tính từ tháng 4-1984 đến tháng 4-1987 tôi được phép ngạo mạn ngồi lên mặt cộng sản và những kẻ a dua cộng sản bêu nhục tôi. Tôi đã không chết. Tôi đã không cúi mặt. Tôi vẫn ngẩng mặt. Tôi mãi mãi phong phú sinh lực sáng tạo. Để chiến đấu và để góp phần tạo hạnh phúc cho cả cộng sản lam lũ, bần hàn.
Như nhân vật James Fisher, trong tiểu thuyết mới nhất mang nhan đề tiếng Việt Một định nghĩa tình yêu của tôi mà nhà xuất bản Belford muốn đặt là Un prisonnier américain au Vietnam, tôi đã viết tự khai vào những giờ giấc toan tính của chấp pháp số 7. Hắn chỉ thị quản giáo rình mò tôi. Buổi sáng, nước sôi vào phòng, tôi pha mì vụn điểm tâm, chưa kịp ăn, hắn đã gọi tôi ra viết tự khai. Tôi ngồi viết một chập, hắn cho về ăn lót dạ. Mì chương đầy ca, tôi không muốn ăn. Hắn lại gọi ra. Qua bữa ăn trưa, hắn cho về. Tôi nhấm nhá cầm hơi. Nằm nghỉ chưa kịp nhắm mắt, hắn gọi ra. Tối hắn gọi ra. Đêm hắn gọi ra. Tranh thủ thời gian.Viết ngày không đủ, tranh thủ viết đêm. Tôi mất ăn, mất ngủ. Tôi ngẩn ngơ quên cả ghẻ nước, ghẻ mủ. Phép lạ hay niềm tin đã giúp tôi đủ sức cầm cự đòn tra tấn thần kinh tự khai? Tôi chẳng biết anh em có bị tra tấn như tôi. Nhà văn, nhà báo đã bị cách ly . Nhà văn còn bị cách ly với cả các tù nhân cùng phòng, thời gian viết tự khai. Tại tôi mệt lử cò bọ, về phòng là nằm bất động, các bạn trẻ không thích quấy rầy tôi hay họ bị ra lệnh cấm liên hệ với tôi? Đêm thứ 40, tôi nhớ rõ, tôi đánh số trang 1780, sang phần tự khai những tờ báo tôi viết thuê, tôi làm chủ bút, chủ nhiệm và những bài báo tôi đã ký một lô bút hiệu Thương Sinh, Thập Nguyên, Mõ Báo, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ… Hạnh phúc cho tôi là tôi được ngưng ở trang 1780.
– Anh tạm nghi. Sáng mai tôi về Hà Nội.
Chấp pháp số 7 nói:
– Chúng ta sẽ tiếp tục làm việc. Có một dấu hiệu chứng tỏ anh thiếu thành khẩn.
Hắn giải thich ngay:
– Năm trang tự khai của anh mới bằng một trang bản thảo tiểu thuyết của anh. Anh viết ngoài thói quen viết sít hàng, chữ nhỏ li ti của anh. Ngoài thói quen là ngoài ý muốn. Tư tưởng thể hiện hành động. Anh thiếu thiện chí cải tạo.
Thiện chí cải tạo! Bạn hiểu chưa? Ở xã hội cộng sản, xã hội ưu việt của loài người, con người còn cần biểu lộ thiện chí vào tù, thiện chí chịu đựng đau khổ, thiện chí lãnh đòn tra tấn tinh thần.
Chấp pháp số 7 lôi từ xặc-cột của hắn ra một trang bản thảo tiểu thuyết Người con gái ngồi đợi mộí chuyến tàu về 3 mà đám côn quang đã lục xét, tịch thu tại nhà tôi đêm 8-4-1976. Bản thảo của tôi sạch, đẹp, ít bôi chữa, viết chữ thật nhỏ, dòng thật khít. Đó là thói quen. Tôi lại thích viết bằng giấy in nhật báo. Vì nó mềm và thấm mực bút nguyên tử. Ở tòa soạn, tôi thường viết những bài báo đằng sau bản tin Việt Tấn Xã in một mặt. Tôi không hiểu tại sao chấp pháp số 7 chọn trang thứ nhất của bản thảo Người con gái ngồi đợi một chuyến tầu về là trang tôi viết nhỏ nhất, sít dòng nhất mà so sánh. Hắn đã cho tôi viết tự khai trên pelure mỏng, thứ giấy pelure sản xuất tại Việt Trì mầu như mầu giấy dầu.
– Với cách mạng, anh không thể dấu diếm nổi tư tưởng thầm kín của anh đâu, cách hành văn tự khai của anh như người mới tập viết. Anh bẻ dừa bẻ ngô, râu ria thừa thãi.
Phê bình văn chương tự khai của tôi một lúc, hắn đưa tôi về phòng I C-1. Tôi có những ngày ăn ngủ điều hòa. Cộng sản đã tính sức chịu đựng của tôi. Thêm nữa, tôi sẽ chết gục trên tự khai. Họ chỉ cần hành hạ tôi chứ cần gì tôi tóm tắt toàn bộ tác phẩm của tôi. Họ đã đọc hết, đọc từ lâu. Tôi chờ đợi chấp pháp số 7 trở lại Sàigòn.
Chú thích:
Un prisonnier Americain au Vietnam, cuốn thứ ba của Duyên Anh viết cho nhà Belfond. Giao kèo của Belfond yêu cầu Duyên Anh viết cho họ 5 cuốn.
La Torture (Tra Tấn) trong tập Poèmes de prison do Les Éditions de Caux, Thụy Sĩ xuất bản.
Tiểu thuyết này đăng được 10 chương trên tạp chí Tuổi Ngọc thì dang dở vì cộng sản thôn tính miền Nam.

Chuyện kể nhân ngày của Cha

 

Tôi ghi lại câu chuyện có thật, với bản video dưới đây như một phút suy niệm dành cho những người Cha đang – hay sẽ – đối diện với con cái của mình, mỗi ngày, từ nay và đến về sau.

 

Câu chuyện diễn ra ở toà án tại Mỹ. Một ông bố ra toà vì tội đậu xe sai chỗ và có thể bị phạt đến 90$.

Bất ngờ, khi phiên toà bắt đầu, cậu bé 5 tuổi – con trai của bị cáo – đột nhiên leo xuống ghế và tiến đến gần chỗ bố cậu đang đứng. Những ai đang có mặt tại phiên toà đều buồn cười. Vị quan toà cũng vậy. Điều đáng yêu là ông đã mời cậu bé lên chỗ của ông để phỏng vấn về tình trạng phạm tội của bố cậu.

Khi vị quan toà hỏi cậu bé, tên là Jacob, rằng nếu cậu chọn lựa mức phạt nào, số tiền 90$ và 30$, hoặc miễn phạt cho bố cậu thì Jacob đã đáp nhanh là nên phạt mức 30$. Mọi người trong phòng xử án đều bật cười.

Vị quan toà với gương mặt phúc hậu cũng bật cười. Và ông hỏi rằng cậu có đồng ý không nếu ông phạt bố cậu bé số tiền 30$ nhưng là dùng số tiền đó đưa cậu đi ăn sáng, Jacob gật đầu. Câu chuyện kết ở đó, có hậu như một cổ tích ở đời thường.

Nhưng điều tôi muốn kể với các bạn ở đây, đó là thái độ của cậu bé về bố của cậu. Khác với những điều mà nền văn học hay giáo dục cũ mòn hay thích thêu dệt về bố hay mẹ của mình như siêu nhân hay tô vẽ như huyền thoại, cậu bé Jacob khi được hỏi bố cậu giỏi nhất là gì, cậu đã trả lời nhanh, không chút do dự rằng “dạ là nấu ăn”.

Và ngay khi quan toà hỏi rằng lớn lên, cậu bé ước mình sẽ làm giỏi nhất điều gì, Jacob nói ngay – với sự tự hào thấy rõ về bố mình – rằng cậu cũng sẽ nấu ăn, nhất là pizza, vì bố cậu cũng vậy.

Cuộc sống thật lạ lùng và cảm động, bạn thấy không? Một người bố lương thiện dù chỉ là vô danh cũng có thể làm cho đứa con mình tự hào, trưởng thành và tự tin noi theo về cuộc đời lương thiện của mình mà không màng một ánh hào quang danh lợi xa xôi nào khác.

Tôi tạm gọi đó là cuộc sống tử tế, mà người cha đó đã đối diện với con mình mỗi ngày, rồi giản dị tạo nên một thế hệ tử tế nối tiếp. Bình thường mà cao đẹp đến cảm động.

Tôi viết những dòng này, và nhớ đến những công an viên đang hung ác bạo hành với người dân trong đất nước mình, Việt Nam. Những công an viên đã tàn bạo đạp gãy xương đùi ông Kình ở Đồng Tâm, những công an viên đã giết chết anh Nguyễn Hữu Tấn ở Vĩnh Long hay anh Ngô Chí Tâm ở Thủ Đức… trong những trại tạm giam ngột ngạt sự thật. Dù truyền thông nhà nước có bao biện hay che đậy thế nào, ai ai cũng hiểu điều gì đã xảy ra. Và quan trọng nhất là chính những thủ phạm đó đều biết rõ họ đã làm gì.

Chắc không ít người trong số công an viên đã là những người cha. Và chắc chắn từng người ấy rồi sẽ có một gia đình và những đứa con mà họ sẽ đối diện mỗi ngày.

Những đứa trẻ ấy sẽ noi theo cha mình điều gì? Dù có giáo dục tốt nhất, có cắt đứt quá khứ… nghiệp chướng vẫn bao vây họ, chồng chất bởi những oán hờn. Mà sự thật thì không bao giờ có thể che giấu mãi mãi.

Chắc không kẻ nào, dù hung ác, lại muốn con mình noi gương, trở thành sát nhân. Nơi những ngôi nhà tưởng chừng vững chắc với quyền thế hay địa vị, không hẳn các người cha ấy sẽ vui mừng khi con cái đối diện với mình, ngày nào đó tuyên bố rằng chúng thích giết người như cha mình. Những ngôi nhà lộng lẫy, được thời chưa chắc rồi đã hạnh phúc khi mầm ác được nuôi dưỡng im lặng, từ chính người Cha của mình.

Trong phần trò chuyện với Jacob, vị quan toà có nhắc về vua Solomon (vua của Israel cổ đại, mất năm 931 trước CN). Đó là một con người khôn ngoan khi luôn chọn một giải pháp trung dung hơn là tự đưa mình về cực của các vấn đề.

Con người, dù là quan toà, thường dân hay công an viên – nếu khôn ngoan – thì luôn phải có những chọn lựa trung dung để không biến mình thành kẻ cùng cực trong hành động hoặc trở thành công cụ điên cuồng vô tri trong tay kẻ khác. Vua Solomon khôn ngoan có để lại lời dạy như vậy cho hậu thế.

Tôi ngừng câu chuyện kể ở đây, hẹn các bạn trong một dịp khác. Xin chúc một ngày của Cha bình an và tốt lành đến mọi nơi. Chúc một ngày lành của Cha đến những gia đình biết chọn lựa và nhận ra tương lai cần phải có cho mình và con cái của mình, là gì !

Nguyễn Tuấn Khanh

NHÀ TÙ: CHƯƠNG 14

Không tính những tên quản giáo hạch hỏi lý lịch, tôi đã qua tay 5 chấp pháp và gã này là 6. Thân phận Kiều tiếp khách chơi hoa không khổ bằng thân phận nhà văn tiếp khách chấp pháp.
Xưa sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dầy dạn phong sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.
Có phải Nguyễn Du đã tiên tri thân phận những Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, Phan Nhật Nam, thân phận những nhà văn, nhà thơ trong ngục tù cộng sản? Ôi, biết bao câu Kiều nó vận vào cái “đoạn đường ai có qua cầu mới hay” của chúng tôi.
Bây giờ bình đã vỡ rồi
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong
Nợ đời, soạn giả tuồng cải lương Mộc Linh đã diễn tả 5 câu vọng cổ ở khu A. 5 câu thôi, anh bị ho ói máu nên phải dang dở. Trong 5 câu ấy có đoạn:
….”Than ôi, trời đất bao là mà sao ta không có chỗ đứng, lại phải xui chi tới cảnh đoạn trường…Nợ chẳng vay ai mà nay phải trả cho đời”. (Văn chương là cái nợ. Nghệ thuật là cái nợ. Nợ văn chương trả ở nhà tù! Và nhà nghệ sĩ biến thành nàng Kiều, dạt trôi đề-lao, khám lớn, trại tập trung. Cuộc sống vốn hiếm Từ Hải, hiếm cả đến Thúc Sinh. Chỉ rặt lũ chấp pháp cộng sản chở chất thù vặt. Chúng dập vùi tới cả phẩm cách con người. Chủ nghĩa nào ưu việt? Đâu là đỉnh cao trí tuệ? Nơi mô là cái nôi của loài người? Bạn ơi, nhân loại ơi, cái nôi của loài người, đỉnh cao trí tuệ, chủ nghĩa ưu việt tập trung ở nhà tù giam nhốt, đầy đoạ các nhà văn, nhà thơ. Nhà văn, nhà thơ là những kẻ chung thân bất mãn với hiện tại. Trần Dần viết:
Chẳng thể rúc kèn cũ rích
Vác loa mồm kêu:
“Hiện tại rất thiên đường
không
thiên đường chúng ta
là nối đuôi nhau
vô tận thiên đường
đi mãi
chẳng bao giờ thoả
Không có hiện tại nào là thiên đường cả. Và cả khi hiện tại đã là thiên đường, vẫn cần thiết có thiên đường khác rực rỡ hơn. Bổn phận của nhà văn là không ngừng phản kháng hiện hữu. Để thiên đường không đứng lại. Để thiên đường không chết. Để thiên đường tiến lên một thiên đường khác tuyệt vời gấp bội. Sự phản kháng hiện hữu của nhà văn đã bị xã hội cộng sản chụp mũ chống cộng sản. Nhà văn chống mọi bất công, mọi độc tài, mọi áp bức, mọi bóc lột, mọi sự xúc phạm quyền sống của con người. Nhà văn đòi hỏi tự do, dân chủ, công bình, hạnh phúc tuyệt đối cho con người. Bản chất của nhà văn là phản động. Nó phản động trong bất cứ xã hội nào, dưới bất cứ chủ nghĩa nào, ở bất cứ nơi nào nhân quyền bị tước đoạt, nhân phẩm bị chà đạp. Sự phản kháng của nhà văn là ước mơ của loài người. Nó làm thăng hoa cuộc sống. Nó gây cảm hứng leo lên ngọn đỉnh chân thiện mỹ. Chỉ những kẻ ngu xuẩn, bịp bợm và bệnh hoạn nghĩ rằng hiện tại què quặt của mình đã là thiên đường vĩnh cửu mới dùng quyền lực khỏa lấp sự phản kháng của nhà văn. Chỉ có cộng sản mới hèn mọn chụp mũ nhà văn, kết tội nhà văn và giam nhốt nhà văn. Phải vinh tôn những nhà văn phản động và phải bỏ tù bọn bồi bút nịnh bợ “rúc kèn cũ rích, vác loa mồm kêu: hiện tại rất thiên đường”. Đó mới là ưu việt, đỉnh cao trí tuệ. Tại sao? Vì bằng phản kháng hiện tại, nhà văn đã thắp ước mơ như ngọn đèn dẫn đến tương lai, dẫn đến những tương lai vô tận, những thiên đường đích thực của loài người. Vì bằng bồi bút nịnh bợ, bằng yên phận hòn bi, nhà văn đã rúc đầu xuống vực thẳm tội ác. Hà Nội định nghĩa bồi bút:”Bồi bút là kẻ viết sách báo làm tôi tớ cho thực dân đế quốc” – Văn Tân, Từ điển Việt Nam, 1976 – Cộng sản Việt Nam ở Paris đề nghị một định nghĩa:”Bồi bút là kẻ viết sách báo làm tôi tớ cho bọn cường quyền” – Nguyễn Trọng Nghĩa, Đoàn kết 4-1987. Bọn cường quyền hiện hữu ở Việt Nam là cái gì? Cộng Sản! Có lẽ, nên định nghĩa: “Bồi bút là kẻ viết sách báo làm tôi tớ cho thực dân, đế quốc và cộng sản”. Nhưng định nghĩa chính xác nhất là: Bồi bút là đám viết sách báo đứng về phía bọn thống trị. Với nhà văn chân chính, thống trị là đối tượng phản kháng hàng đầu. Nơi nào không có đối lập chính trị, thống trị man rợ, ghê tởm, cần thiết trừ khử. Việt Nam đang là nơi ấy. Và người ta dễ dàng tìm ra sự bồi bút ở hai câu định nghĩa của bồi bút. Họ không dám đụng đến cộng sản và giai cấp thống trị mới ở xã hội cộng sản. Xã hội cộng sản chấp nhận bồi bút, nuôi dưỡng bồi bút và bỏ tù cả nhà văn phản kháng lẫn thi sĩ chỉ viết thơ tình.
Tên công an chấp pháp số 6 dẫn tôi sang khu B, chỗ tôi đã mạn đàm với tên chấp pháp rỗ hoa. Tôi không muốn chế diễu họ. Rẻ tiền lắm. Nhưng bạn cần hiểu rằng, chẳng có tên công an chấp pháp nào giới thiệu tên thật hay bí danh với bạn cả. . Trừ Ba Trung là thằng nằm vùng vây co. Nên tôi đành phải lấy “đặc điểm” của họ mà đặt biệt danh để dễ so sánh. Công an chấp pháp số 6, dân miền Bắc, mặt mũi sáng sủa, người vừa phải. Hắn ta có nụ cười dễ gây cảm tình. Câu mở đầu của hắn:
– Anh có vẻ thất vọng về chúng tôi, phải không, anh Duyên Anh?
Tôi thản nhiên:
– Tôi không thất vọng, cũng chẳng hy vọng gì các anh.
Hắn cười.
– Tại sao?
Tôi đáp:
– Tôi đã hiểu tôi không còn quyền thất vọng và hy vọng.
Hắn khẽ lắc đầu:
– Đừng cay đắng, anh Duyên Anh.
Hắn mời tôi hút thuốc Điện Biên. Nhả nạm khói, hắn nhìn tôi bằng cặp mắt chan chứa cảm thông:
– Với tôi, anh muốn ngồi kiểu nào, tùy ý.
Tôi khựng lại. Chúng nó đã trao đổi với nhau về tôi. Thằng số 5 đấm tôi. Thằng số 6 xoa bóp.
– Anh bớt ghẻ chưa?
– Chưa, anh ạ!
– Nó sẽ phá tung một lượt. Rồi khỏi hẳn. Chị ấy tiếp tế bình thường chứ?
– Cám ơn anh.
– Trường hợp của anh thật oan nghiệt. Anh chống Mỹ, chống Ngụy rồi sợ Mỹ Ngụy trả thù, anh phải chống cộng sản.
Tôi không muốn cãi. Tôi đã chống cộng sản bằng Hoa thiên lý trước khi chống chính sách Mỹ ở Việt Nam và bọn thống trị bù nhìn.
– Tại sao anh chống lung tung thế? Chống tứ phía, phía nào anh sống?
– Tôi vẫn sống.
– Thực tế một chút, anh Duyên Anh. Giá anh đừng chống cộng, anh đã được biểu dương rồi.
Tôi đã nghe Ba Trung, đã nghe tên chấp pháp xứ Nghệ nói cái luận điệu này. Vẫn luận điệu gai góc mà buồn tẻ ấy, chấp pháp số 6 nhai lại. La raison du plus fort est toujours la meilleure. Thi hào La Fontaine đã để lại cho loài người một câu thơ trở thành chân lý vĩnh cửu. Khi trái đất còn quyền lực, còn ngục tù; còn lệnh bắt, còn cai ngục và còn tù nhân, chân lý đó không thay đổi. Ông Hồ Chí Minh là người cảm thầm “lý lẽ của kẻ mạnh nhất”. Ổng ta hiểu “vĩ nhân có thể chết bởi cái gai”, ông ta hiểu “anh hùng có thể chết ở cái lỗ chân trâu”. Và ông ta có triết lý sống đời tù bình thường: Để chúng dắt đi tựa trâu bò. Hạnh phúc cho ông Hồ Chí Minh là ông đã không được sống đời tù cộng sản. Nếu đã nằm nhà tù cộng sản, ông không trở thành “cha già dân tộc”, không trở thành “vĩ nhân”. Cộng sản đã là vĩ nhân, đã là anh hùng. Họ độc quyền anh hùng vĩ nhân. Bạn khó lòng thành vĩ nhân, anh hùng tù ngục cộng sản. Ở nhà tù cộng sản, nhất là nhà tù dành cho tù nhân của tư tưởng, của lương tâm, bạn sẽ bị đối xử tồi tệ hơn trâu bò. Bởi vì, ngoan ngoãn “tựa trâu bò” rồi sẽ thành lãnh tụ vĩ đại. Kinh nghiệm ở tù của Hồ Chí Minh là ánh sáng quang vinh chiếu rọi khắp nhà tù cộng sản. Phải bắt tù nhân lửng lơ giữa người và thú vật. Phải diệt nhân tính của tù nhân. Và, như thế, sự đọa đày mà tù nhân cam chịu không hun đúc nó nên anh hùng. Nó sẽ chỉ loay hoay quanh nỗi đói, nỗi khổ, nỗi nhớ nhà. Nó sẽ chỉ loay hoay quanh niềm sợ hãi, niềm mong đợi ngày được tha. Trong những loay hoay bi thảm của nó, thẩy cho nó chút ân huệ toan tính, bơm cho nó chút hy vọng gian dối, nó sẽ níu lấy ân huệ và hy vọng đê tiện đó, bảo vệ ân huệ và hy vọng đó một cách rất đê tiện. Từ cái ân huệ toan tính, cái hy vọng gian dối ban cho một tù nhân tạo thành những ngờ vực, những thù hận, những đề phòng giữa các tù nhân. Cai ngục mỉm cười, rao giảng phúc âm: “Các anh không thương các anh thì ai thương các anh”. Tù nhân ghét bỏ tù nhân hơn cả cai ngục ghét bỏ tù nhân. Riết rồi, tù nhân “thương yêu” cai ngục! Bản chất và hiện tượng. Hai tuyệt chiêu nằm trong bí kíp cộng sản đã, chẳng những cấy sinh tử phù vào tế bào tù nhân, mà còn cấy vào cả tim phổi quần chúng. Hiện tượng lúc nào cũng bị nghiêm khắc phê bình. Hiện tượng thủ tiêu tập thể 1 triệu 500 ngàn dân lành bị sửa sai. Tổng bí thư Trường Chinh tạm sang nắm ghế Chủ tịch Quốc hội, vẫn là ủy viên Bộ chính trị. Để bản chất đúng và tốt và chân lý. Hiện tượng và bản chất hư hư thật thật. Đảng nhân đạo, khoan dung. Đảng là bản chắt. Cán bộ vô nhân đạo, khắc nghiệt. Cán bộ là hiện tượng. Chấp pháp số 5 là hiện tượng. Chấp pháp số 6 là bản chất. Hiện tượng dọa nạt. Bản chất vuốt ve. Cả hai kết hợp lừa bịp loài người. Bản chất hay hiện tượng thì cũng cứ là cộng sản và do họ nói và đều là lý lẽ của kẻ mạnh. Dẫu có gai góc buồn tẻ một nhịp điệu nhai lại, chớ dại dột bịt tai. Càng không nên nổi giận. “Tư tưởng thể hiện hành động”. Móng vuốt chịu khó dấu đi. Chìa ra là bị chặt đứt liền. Mà chìa móng vuốt với ai?
Tù nhân ở các nhà tù cộng sản có hai lần bầy tỏ thái độ anh hùng. Lần thứ nhất: Làm việc với công an chấp pháp. Bạn sẽ ngồi trong căn phòng chỉ có bạn với chấp pháp. Đừng ngại, không có máy ghi âm bí mật đâu. Chấp pháp sẽ hạch hỏi bạn, sẽ mắng mỏ bạn, sẽ chửi bới bạn, sẽ đập bàn la lối. Bạn nổi máu anh hùng, bạn dậy lòng bất khuất, bạn ăn thua đủ chấp pháp. Nó tống bạn vào cachot, còng bạn đủ kiểu. Nó cho bạn ăn uống theo tiêu chuẩn kỷ luật. Nó cấm vợ con bạn thư từ, tiếp tế. Bạn sẽ chết thảm ở cachot. Lịch sử không hề biết nên sẽ chẳng bao giờ viết. Bạn chết rồi thì chỉ còn một người biết. Là chấp pháp. Nó không ngu gọi bạn là anh hùng. Biên bản… chết của bạn sẽ ghi: Chết bệnh. Nếu bạn không chết, bạn trở về phòng, bạn cũng không dám khoe thành tích. Bạn tù thương bạn lắm. Ngàv thăm nuôi, bạn mỏi mắt đợi quà. Bạn đã bị cúp dài hạn. Anh em ngưỡng mộ vị anh hùng, một dúm mì, một trái chuối, một miếng thịt. Một lần thôi nhé! Chỉ một lần. Nếu bạn xuống máu anh hèn, bạn lạy lục chấp pháp, khóc lóc thảm thê, vẫn chỉ bạn và chấp pháp biết. Chẳng ai chứng kiến cả. Không có chứng nhân ở phòng chấp pháp. Anh hùng và anh hèn đồng hạng. Lần thứ hai: Bạn ra tù, bạn vượt biên hay đi chính thức qua Mỹ qua Ảu, bạn sẽ viết hồi ký. Lúc ấy bạn phong bạn làm anh hùng, bất khuất. Những thằng hèn trong hồi ký của bạn là những thằng đã không cho bạn cục đường, muỗng nước mắm hay trái chuối, dúm mì. Những thằng hèn trong hồi ký của bạn còn là những thằng bạn ghét dù bạn chưa hề sống chung với nó ở tù. Bạn sẽ “nghe kể, nghe đồn” vô tội vạ. Yên ổn nói cái ta anh hùng và cái người anh hèn. Vì rằng, chỉ có ta với chấp pháp biết rõ cái ta. ít khi ta dám lôi cái ta hèn hạ ra phỉ báng. Ta lôi cái người hèn hạ ra phỉ báng để khoả lấp cái ta hèn hạ thì rất nhiều khi. Sự ấu trĩ, dần dà, bị khám phá. Và cái ta vô lại hiện nguvên hình.
Tôi biết có thằng vô liêm sỉ, một bồi bút trơ trẽn là Thanh Vân, tác giả cuốn sách vỏ tôm, nhan đề Sống như anh, diễn tả cuộc đời “anh hùng” Nguyễn Văn Trỗi. 1 Bồi bút Thanh Vân ngu xuẩn và hạ cấp đến độ cho Trỗi chửi nhau tay đôi với thẩm vấn viên của Cảnh Sát Đặc Biệt. Và vợ y, “chị Quyên trung hậu đảm đang” cũng vào Tổng Nha sa sả nguyền rủa “tay sai Mỹ Ngụy”! Chúng ta có thể viết lại Sống như anh, diễn tả trung thực, rất trung thực đoạn anh hèn Văn Trỗi ở phòng thẩm vấn. Anh Trỗi đã chết. Người thẩm vấn anh, có thể, đã chết hay đang nằm tù. Chứng nhân tuyệt tích, cần diệt nhân chứng. Hoá cho nên, anh hùng và anh hèn trên sách vở và trong cả lịch sử đều tùỵ thuộc lòng yêu mến và sự thù hận, tùy thuộc mục đích tuyên truyền chính trị và tham vọng đè hèn. Và luôn luôn cần xét lại cả lịch sử, nhất là lịch sử viết bởi những anh thiếu tư cách.
Đến anh hùng Nguyễn văn Bé mới tức cười. Anh bị bắt ở một trận đánh tại Định Tường, xin hồi chánh, phục vụ Cảnh sát quốc gia. Hà Nội suy tôn Nguyễn Văn Bé là anh hùng, truy điệu liệt sĩ Bé rỉ rả trên Đài Tíếng Nói Việt Nam. Anh Bé nghe đài. Anh Bé hoảng sợ. Anh Bé yêu cầu Cảnh sát quốc gia đổi họ thay tên và tạo lý lịch mới!
Ôi, anh hùng và anh hèn của thời đại khốn kiếp hôm nay, nghĩ mà buồn nôn. Càng buồn nôn hơn khi thấy anh nhanh chân tình nguyện đóng tiền trình diện học tập cải tạo luận anh hùng, anh hèn bị công an ập vào tư gia, còng tay, bịt mắt dẫn đi. Nếu bỏ anh hùng để chỉ luận anh hèn thì anh chưa đến lượt mình (sĩ quan giải ngũ mà) đã nhanh chân nộp tiền xin trình diện học tập cải tạo tư tưởng với triết lý sống đơn giản “nhanh chân có lời” thì anh này hèn rõ rệt. Nhưng anh này âm mưu xóa dấu vết hèn hạ của mình bằng cách luận tội người khác hèn hạ. Rốt cuộc, sự hèn hạ của anh ta cứ ám ảnh anh ta. Và cái cường độ của sự phô diễn anh hùng tự phong, rốt cuộc, là một tự khai thành khẩn “ăn vụng thịt nhà bếp, ăn cắp cơm cháy, ăn tranh phần cám heo” và ngồi nhà “vẽ chân dung Hồ chủ tịch” để trốn tránh lao động! Bạn đã từng biết anh này là ai không? Tôi sẽ định không nêu tên anh ta vì sợ anh ta nổi tiếng. Như vậy, tôi mang tội đố kỵ tài năng. Vậy để anh ta nổi tiếng. Thế thì anh ta là Tạ Tỵ đấy. Anh ta đã “nghe đồn” mà bảo tôi làm “ăng-ten” trong tù. Tôi không nghe ai đồn cả. Tôi viết đúng lời tự thú công khai của anh ta. 2 Và anh Tạ Tỵ đã công khai tự nhận rằng, ở trại cải tạo, anh ta đã “ăn vụng” và “ăn cắp.” Có lẽ, anh ta sẽ nổi tiếng, sẽ đi vào lịch sử văn học, không phải do tài năng hội họa, văn chương, thi ca. Mà do “ăn cắp” và “ăn vụng.”
Tôi không là anh hùng, không bao giờ là anh hùng. Cũng chẳng dám ôm mộng anh hùng. Làm anh hùng khổ lắm. Thường thì anh hùng chết rất đẹp và rất thảm. Và chết xong, anh hùng bị khai thác triệt để. Đó là anh hùng đích thực. Anh hùng giả vờ khổ hơn.
Anh hùng là anh hùng rơm
Cho một mồi lửa hết cơn anh hùng
Tôi chưa là anh hèn. Nhưng để bị bắt bỏ tù, ghẻ kềnh ghẻ càng, xin ngồi nghiêng chấp pháp từ chối, bắt ngồi nghiêm chỉnh, bị tống vào cachot không dám cãi, mạn đàm không ương ngạnh, lý luận… là hèn. Thì tôi đã hèn. Tiền nhân đã thông cảm tuyệt đối với những kẻ sa cơ thất thế.
Anh hùng như thể khúc lươn
Khi cuộn thì ngắn, khi vươn thì dài.
Biết dấu nanh vuốt lúc nào, biết chìa nanh vuốt lúc nào, đó là cái trí của anh hùng. Cựu ước kinh ghi chép: “Có một thời lên tiếng và một thời im lặng”. Khi không thể lên tiếng nói dõng dạc, nên im lặng hơn là nói lảm nhảm. Tân ước, Jésus dạy: “Đừng chống cự kẻ ác”. Phải, đừng chống cự kẻ ác khi mình nằm trong tay nó..
Tôi rất thích những câu ca dao miền Nam này:
Phượng hoàng gẫy cánh hẩm hiu
Sa cơ thất thể phải theo đàn gà
Bao giờ mưa thuận gió hoà
Thay lông trổ mã lại ra phượng hoàng.
Tiền nhân đã an ủi “chim quyên xuống đất ăn trùn”. Người đời xưa thương người đời sau là vậy. Theo tôi, người ta nên luận về lẽ sống chết hơn là luận anh hùng trong thời đại không hề có anh hùng. Hồ Chí Minh là anh hùng của Việt Nam cộng sản, lại là gian hùng của Việt Nam quốc gia. Ngô Đình Diệm là anh hùng của Việt Nam Thiên Chúa giáo, lại là anh hèn của Việt Nam Phật giáo, anh tay sai đế quốc của Việt Nam cộng sản. Trần Văn Bá là anh hùng của ông Lê Quốc Túy, lại là anh thường của ông Hoàng Cơ Minh. Vân vân… Ở tù cộng sản, khôn chết sớm, dại chết muộn, biết thì sống ngất ngư. Sống dễ hay chết dễ? Chết khó hay sống khó? Đông Chu Liệt Quốc có đoạn luận về lẽ sống chết như vầy:
Trình Anh và Công Tôn Cửu Chử cùng là gia nhân nhà họ Triệu. Khi Đỗ Ngạn Giả nắm quyền, xui vua Tấn diệt trung thần. Gia đình họ Triệu (Triệu Thuẫn phò Trùng Nhĩ phục quốc) bị giết hết. Một nàng dâu họ Triệu là công chúa, mang bầu chạy về cung trốn cuộc tàn sát. Công chúa hạ sinh một hài nhi đặt tên là Triệu Vũ. Đỗ Ngạn Giả hay tin, nhưng còn nể vua, chưa dám xông vào cung. Trình Anh và Công Tôn Cửu Chử bàn nhau cứu giòng máu cuối cùng của họ Triệu, vị thầy thuốc tín cẩn được mời vào thăm bệnh cho công chúa rồi bỏ hài nhí vào giỏ xách ra.
Công Tôn Cửu Chử hỏi Trình Anh:
– Sống để nuôi con chủ chờ ngày trả hận khó hay chết để tỏ lòng trung thành với chủ khó?
Trình Anh đáp:
– Sống khó.
Công Tôn Cửu Chử nói:
– Vậy nhà ngươi sống, còn ta chết.
Bèn lập mưu sống và chết. Đúng lúc công chúa hạ sinh cậu bé Triệu Vũ, vợ Công Tôn Cửu Chủ cũng hạ sinh một nhóc tì. Trình Anh làm “ăng ten” đi báo Đỗ Ngạn Giả rằng Công Tôn Cửu Chử dấu hài nhi họ Triệu. Đỗ Ngạn Giả vây nhà Công Tôn Cửu Chử. Công Tôn chỉ mặt Trình Anh nguyền rủa tội lừa thầy, phản bạn, “ăng ten”. Đỗ Ngạn Giả đâm chết Công Tôn Cửu Chử, quật nát hài nhi, giết cả nhà Công Tôn Cửu Chử. Nhở đó, Trình Anh mới đem Triệu Vũ xa kinh thành, nuôi dưỡng, chỉ dạy. Sau này, Triệu Vũ diệt Đỗ Ngạn Giả, khôi phục họ Triệu.
Lẽ sống chết ở đây. Tôi không nuôi tham vọng trả thù ai. Tham vọng của tôi là viết một cuốn sách có ý nghĩa cho đời mình và trả lời câu nói miệt thị của cộng sản “thế giới đâu đã đọc sách của các anh”. Và tôi cần sống. Giá nào tôi cũng phải sống. Cách nào tôi cũng phải sống. Và tôi vẫn sống.
Tôi dập điếu thuốc:
– Ở tù khó mơ mộng lắm, anh ạ!
Chấp pháp số 6 gật gù:
– Tại anh không thích mơ mộng thứ anh mơ mộng. Anh mơ mộng viển vông nên anh thiếu thực tế.
Hắn gợi ý:
– Bồn Lừa là nhân vật lý tưởng của giai cấp. Bố nó là công nhân. Nó thông minh trùm lấp bọn con cái tư sản. Nó tài năng xuất chúng. Bồn Lừa, cuốn truyện tốt. Đổì mầu cờ. Không, viết rõ rệt cờ tổ quốc là cờ tổ quốc của chúng ta, thêm giai cấp tính cho Bồn lừa, cuốn sách hoàn toàn. Chúng ta cần nhân vật tuổi thơ vô sản thần tượng..
Hắn nhìn tôi:
– Liệu anh còn viết nổi những cuốn như Bồn Lừa ?
Không thèm nghe tôi trả lời, hắn ngó đồng hồ, đứng dậy:
– Tôi sẽ làm việc với anh sau.
Thế đó, chấp pháp số 6 làm việc với tôi thật ngắn ngủi. Hắn đưa tôi về 1 C-1 và không tống tôi vào cachot.
Chú thích:
Xin đọc thêm Thời của đàn bà. cùng tác giả. Nam Á Paris xuất bản.
Tạp chí Ngày Nay, xuất bản ở Wichita, Hoa Kỳ, số 46, thảng 5-1985.

Kẻ lai vãng cửa chùa

1.

Tánh anh nóng nảy, nổi cộc lên thì coi hung lắm, phải đi chùa cho nó trầm tính lại”. Đã một thời, nhiều lần vợ tôi đã nhận xét và đề nghị như vậy.

Ngày xưa, do bố tôi theo Tây học, từ Bắc vào Nam làm báo, ra cả báo Pháp và dịch sách, tánh khí nghệ sĩ, phóng dật khiến cho căn nhà nhỏ của gia đình ở khu Đa Kao thời đó thỉnh thoảng lại chộn rộn cái không khí văn chương chữ nghĩa. Có lần, lấy cớ cần khui một chai rượu chát rất xưa, bố tôi mời vài người bạn thân đến nhà chơi. Cần nói thêm là trong bạn bè của bố tôi thời đó, tôi khoái một bác cùng dân Bắc kỳ, để chút râu kiểu Hitler dưới mũi, thường phong nhã với bộ cánh veston, foulard…,  đó là nhà thơ/nhà văn TCHYA Đái Đức Tuấn. Núp phía sau một bức bình phong, tôi lén theo dõi người lớn nói đủ thứ chuyện trên đời. Chợt tôi nghe bác TCHYA cười, vỗ vai bố tôi, gật gù bảo: “…Vậy là toa cũng rất libéral về vấn đề tôn giáo!”.

Phải nói là, trước khi tôi đủ lớn khôn để tìm hiểu cho thật rõ tính từ “libéral” có nghĩa là gì thì bố tôi đã có quan niệm rất phóng khoáng về vấn đề tín ngưỡng, nghĩa là vợ con trong nhà ai muốn theo đạo nào cũng được. Bố tôi không hề bày tỏ một ý kiến, nhận xét nào về chuyện mẹ tôi sùng đạo Phật, qui y tại chùa, có pháp danh cũng như bày khuôn thờ Phật Bà Quan Âm phía trên bàn thờ ông bà, hay chuyện em gái tôi được mấy xơ trường Thiên Phước ở Tân Định dẫn dắt vô đạo Thiên Chúa khi em học tiểu học tại trường này. Có lần một vị giáo sư, bạn bà chị họ rũ tôi vào đạo Baha’i. Tôi nhận vài tờ tài liệu về đạo này, đem kể cho bố tôi nghe. Ông chỉ cười, nói: “Đạo Bà Hai, gốc ở Ba Tư chớ gì. Thì đạo nào cũng dạy con người sống, cư xử cho có đạo đức và làm việc thiện. Tùy ý con thôi.”

Rốt cuộc, tôi lớn lên không thể không chịu ảnh hưởng tinh thần libéral ấy từ bố tôi. Đã vậy, thời theo ban triết Đông&Tây trường Văn Khoa Sài Gòn, tôi được học hỏi ít nhiểu các hệ tư tưởng, giáo lý của Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Bà la môn giáo,…  Do vậy, hầu hết đám sinh viên triết bọn tôi không thể là người vô thần. Ngay cả vài sinh viên như tôi – tức không hay chưa là tín đồ của một tôn giáo nào để tin vào Phật Tổ, Đức Chúa Trời, đấng Allah, đấng Bhrama…, bọn tôi vẫn tin trên cõi đời này, vũ trụ này vốn có một đấng Thiêng Liêng, một Thượng Đế Tối Cao định đoạt mọi sự ở trần gian, trong đó định mạng con người.

Mặt khác, do bạn học của bọn tôi các lớp triết Tây hay Đông đều gồm cả các linh mục, sư huynh, nữ tu, nhà sư, ni cô nên dần hồi bọn tôi có quan niệm đại khái như “liên tôn giáo” hay “hòa đồng tôn giáo”, thấy đạo nào cũng tốt, hay ít ra là những đại diện của các tôn giáo ấy chẳng xa lạ gì với mình.

2.

Sau biến cố 30-4, cuộc sống ăn-độn đầy dẫy khó khăn, thiếu thốn. Với nhiều người dân miền Nam, một khi những lo nghĩ về cơm-áo-gạo-tiền quá đè nặng tâm trí, khó tránh chuyện đức tin tôn giáo lung lay. Ai vốn xem giá trị tinh thần, tâm linh cao quý hơn của cải vật chất cứ như bị thời thế cải tạo, dần hồi chuyển qua những cách nghĩ thực dụng như “Có thực mới vực được đạo”, “Lương tâm không bằng lương… thực”! Không ai bảo ai, người ta lặng lẽ tạm làm lơ nhu cầu phía đời sống tín ngưỡng, sinh hoạt thờ phượng. Đến một Phật tử sùng đạo như mẹ tôi cũng dần hồi thưa thớt, rồi bỏ hẳn việc đi chùa ngày rằm, mùng Một, để còn lo xếp hàng mua nhu yếu phẩm hay may hàng gia công kiếm thêm tiền chợ, phụ vào đổng lương chết đói của mấy đứa con công nhân viên…

Thời ăn-độn hay gặp người khùng hoặc nữa tỉnh nữa mê ngoài đường phố. Tôi nhớ một lần có việc ra bến xe Văn Thánh, tôi lên một chiếc xe than, ngồi chờ xe chạy. Chợt có một người đàn ông ốm yếu, mặc bộ nâu sòng rách nát, cầm một cây phướn, bước lên xe kêu gọi hành khách:“Bá gia ơi, lo tu đi, không thì chết đó nghen! Hội Long Hoa tới rồi! Ráng tu liền đi bá gia!”. Tôi chạnh nghĩ:“Mệt quá, đang thiếu đói tùm lum đây, lo chạy cơm từng bữa cho con người chưa xong, sức đâu lo chuyện tu hành cho vui lòng thần Phật nào đó?!”. Đang lúc chán nãn, lo nghĩ chuyện cơm áo như thế, tôi chán luôn nhà tiên tri thảm hại đang lãi nhãi rao giảng kia. Đúng lúc xe nổ máy, tôi buột miệng nói nhảm như mỉa mai ông ta:“Thôi xuống xe đi bá gia ơi! Không chịu xuống thì lơ nó lấy tiền xe, bá gia có tiền trả không đó?”.

Đến khi tôi lập gia đình, rất chật vật với cảnh chồng công nhân viên/vợ bán buôn lặt vặt, thu nhập không đủ sống, vợ tôi lại sinh con đầu lòng. Tôi quyết định nghỉ việc để dốc hết sức lực phụ bà xả chuyển hẳn qua nghề buôn chuyến hàng tạp hóa.

Tất nhiên, vào cái thời thiếu thốn đủ điều ấy, vợ tôi – đã quy y cửa Phật từ thời con gái – cũng đành bỏ lệ đi chùa ngày rằm, mùng một. Tôi nhớ chỉ có một lần, là vào ngày Phật đãn năm nào đó, vợ tôi đã ráng cùng mẹ tôi đến thắp nhang, lạy Phật ở ngôi chùa gần nhà.

Rồi thời “mở cửa” cũng đến, cuộc sống tương đối dễ thở hơn, quý phụ nữ gia đình chúng tôi gần như chính thức trở lại với tập quán đi chùa vào ngày rằm, mùng một. Còn những dịp đặc biệt như Tết nguyên đán, Phật đãn, rằm tháng Giêng, Tết Đoan ngọ, rằm tháng Bảy và rằm tháng Chạp, mẹ tôi và vợ tôi soạn mâm quả cúng chùa thịnh soạn hơn, cũng như sẽ ăn bữa chay tại chùa luôn.

Thêm một sự “trở lại” đầy tốt lành nữa tại nhà chúng tôi, đó là tôi lãnh nhiệm vụ dựng lại bàn thiêng ngoài sân trước nhà. Khi ấy tôi như chợt được sống lại những cảm xúc tinh khôi của thời thơ ấu… Nguyên từ nhỏ tôi đã rất yêu những hình ảnh ngọt ngào, thanh tịnh ở vùng quê Nha Trang, nơi tôi luôn quay về ở trọn mấy tháng nghỉ hè hằng năm. Còn lưu lại mãi trong ký ức tôi là hình ảnh bà ngoại tôi, cứ ngày rằm, mùng một hay dịp giỗ chạp là ngoại lụm cụm ra cắt những loại hoa trồng trong vườn nhà, như: bông trang, vạn thọ, huệ, mồng gà, bông giấy… Rồi ngoại đi quét sơ bàn bàn thiêng ở sân trước, xúc cái lục bình, chưng mớ bông vừa cắt cùng nãi chuối xanh, trái thanh long cũng bẻ trong vườn.

3.

Vài năm sau, có chút tiền dành dụm từ nghề buôn bán, chúng tôi ra riêng, Từ dạo ấy, hễ vợ tôi đi chùa là tôi chở bằng honda – có nghĩa cái gã, do chán cảnh đời tối mù vì nợ cơm áo, từ rất lâu đã không lai vãng cửa chùa, nay đã đi chùa trở lại. Có điều là, vẫn do nếp nghĩ duy lý, duy con người chứ không duy thần linh, tôi không cùng bà xả vào chánh điện thắp nhang, lạy Phật mà chỉ ngồi băng đá trong sân chùa, hút thuốc, lơ đãng nhìn cảnh mọi người xung quang dâng hương, khấn lạy…

Đâu khoảng năm 2003 hay 2004, tôi dự một chuyến hành hương ra tận vùng Bình Thuận. Nói là đi chùa nhưng thật ra đây là một chuyến đi phượt bằng honda đầy nhọc nhằn, lang bạt. Điểm đến là chùa Linh Sơn Trường Thọ, cách Sài Gòn hơn 250km đẩy nắng bụi. Chùa lại nằm trên sườn núi Tà Cú ở độ cao 400m và năm đó chưa có cáp treo nên bọn tôi phải leo núi. Đó là một cái “cầu thang” đất, đá quanh co, dài tới 2500m. Trên đường đi, tôi gặp vài cụ già phải nhờ người dìu lên từng bậc đá. Rồi khi đã lên đến chùa, các cụ lại nhờ người dắt đến trước Phật đài để quì xuống, khấn lạy thật lâu trước tượng Thích Ca lúc nào cũng nhắm mắt, khiến khuôn mặt tượng lúc nào cũng toát ra một vẻ bình an vời vợi.

Và vào lúc màn đêm sắp phủ trùm sân chùa, chợt thoáng qua như một sát-na, hình như tôi cũng đã được thấy thêm một vẻ bình an diệu vợi khác nơi gương mặt của một cụ già mù, đang quì lạy pho tượng Phật mà cụ không thể nào nhìn thấy…

Nói là do cảnh tượng siêu tưởng trên mà tôi đã “Ngộ” thì nghe cao đạo quá. Tôi chỉ xin nhận mình như một con thú hoang đàng, do chữ Duyên của nhà Phật mà  được thuần hóa thật nhẹ nhàng bởi hình ảnh đạo hạnh thuần khiết của cụ già mù.

Từ sau chuyến đi định mệnh ấy, tôi dẩn dần đổi tính – vợ tôi có thừa nhận, ít ra là thay đổi thái độ ích kỹ, khép kín của mình đối với vấn đề tín ngưỡng. Tôi bắt đầu săn ảnh, làm bộ sưu tập chùa chiền, nhất là các ngôi cổ tự. Và khi tự hồi sinh tinh thần giúp ích của hướng đạo sinh đã rèn luyện từ thời niên thiếu, có dịp là tôi cố gắng gợi ý bạn bè và người có khả năng cùng làm việc thiện, như giúp trẻ cô nhi, người già neo đơn, người tàn tật. Riêng đối với anh em lính chế độ cũ như mình, có lần tôi thu thập được địa chỉ một số anh em thương binh hạng nặng nhất ở Sài Gòn để báo cho một nhà hảo tâm ở California…

Nhiều năm qua, khung cảnh quen thuộc để nuôi giữ, bồi bổ cho bước “trở lại tâm linh” của tôi là tịnh xá Trung Tâm, gần chợ Cây Quéo. Do ngôi chùa này rất gần nhà, coi như chỉ băng qua đường xe lửa ga Xóm Thơm là tới nên vợ chồng tôi thường ghé chùa lễ Phật vào lễ Phật đãn, các ngày rằm, mùng một, cùng những khi vợ tôi cần nguyện xin điều gì đó hay cúng tạ khi xin được điều gì đó. Đáng nhớ là khi vợ tôi đã chữa lành một căn bệnh ngặt nghèo, gia đình tôi đã đi in một số quyển kinh ấn tống, đem cất dưới bệ tòa sen dưới chân tượng Phật Bà Quan Âm dựng ở phía bên trái khuôn viên chùa để tặng lại cho ai cần đến…

4.

Sáng thứ bảy này, vợ chồng tôi muốn tìm đến một nơi mát mẻ, thoáng đãng sau một đêm khó ngủ vì trời vẫn tiếp tục nóng bức y như mấy ngày trước. Công viên Gia Định ở gần nhà thì đang làm cầu vượt, mặt đường bị ép hẹp bởi ‘lô cốt’, xe cộ dồn cục rối rắm. Vợ tôi nói: “Hay mình ghé chùa Trung Tâm đi. Ngày mùng 1 vừa rồi, mấy đứa nó đến chơi cả ngày, làm mình đâu có đi chùa được!”.

Vậy là chúng tôi đến tịnh xá Trung Tâm. Vợ tôi đến thắp nhang trước tượng Phật Bà Quan Âm. Tôi cũng lạy Phật Bà rồi tìm đến một băng đá dưới bóng cây sa la ngồi, thư thái ngó quanh.

Bá tánh trong chùa sáng nay chợt có cả mấy con mèo hoang, không biết ở đâu đến mà chạy lung tung. Là mèo con nên chúng rất nghịch ngợm, con bám gốc cây hoa sứ, con lục hộp nhang, con rúc dưới bệ tượng Phật Bà… Tôi biết cái kiểu mình dáo dác theo dõi mấy con mèo cũng đang bị theo dõi bởi một người khác. Đó là một bé gái đang đứng gần cây hoa sứ, nước da đen đúa, quần áo cũ vá, đi chân trần, trên tay không cầm xấp vé số hay hộp singum gì đó thì chắc là dân sống lang thang đường phố. Chẳng phải đợi lâu, cô bé bụi đời lên tiếng cho biết bầy mèo con cũng ‘bụi đời’ này tổng cộng là bảy ‘đứa’. Cô bé còn đoan chắc con số đó là chính xác nhất vì ‘tụi nó’ chạy lung tung, phải đếm tới đếm lui cả buổi mới được.

Một chị phụ nữ mù đứng gần đó, vừa mời tôi mua vé số vừa cho thêm thông tin, rằng theo chị biết thì lâu nay các sư không có nhận nuôi chó, mèo hoang, thành ra bầy mèo con này phải do ai đó lén bỏ đại vô sân chùa, chắc là vào ban đêm.

Hai chú mèo hoang nhỏ bé thật nghịch ngợm, đang loay hoay leo lên cây hoa sứ với bàn tay trợ giúp của cô bé bụi đời. Tôi lấy điện thoại ra bấm liền mấy ‘pô’. Thấy tôi dáo dác nhìn quanh, tỏ ý muốn chụp nữa, cô bé nói “Để con đi bắt tụi nó cho”.

Cô bé mệt mề chạy tới chạy lui ở khu vực xung quanh tượng Phật Bà, kiếm được cứ hai chú mèo là hai tay cầm chạy liền đến chỗ vợ tôi đang ngồi chờ, tạm giao trước hai ‘đứa’ rồi ù chạy đi kiếm tiếp… Mất cả mươi, mười lăm phút cô bé mới gom lại đủ lại cả bảy con mèo con đang một mực rong chơi tứ tán kia cho tôi chụp hình.

Cần nói thêm, hẳn cô bé đã gần gũi, sinh hoạt với bầy mèo con này lâu ngày rồi, tức đã trở nên bạn bè, cùn chơi đùa đủ trò nên chúng để yên cho cô bé đưa tay nắm từng con lên, ưng đem đi đâu thì đem, chẳng phản ứng gì.

Vợ tôi thật vui, nói: “Bảy đứa mèo này thiệt bụi đời, mà đứa nào đứa nấy đều dễ thương hết sức!”. Tôi nghĩ, phải nói là có tám ‘đứa’ bụi đời, ‘đứa’ nào cũng dễ thương hết sức mới đúng, vì không thể không tính tới cô bé chưa biết tên kia, đã quá ân cần giúp chúng tôi tiếp cận với bầy mèo con.

Giữa khung cảnh cửa Phật tịnh yên, kẻ lai vãng sân chùa nghĩ thầm vậy thôi mà tự nhiên lòng anh ta nhẹ tênh, an lạc hiếm-khi-được-vậy.

PHẠM NGA

(Rằm tháng năm Đinh Dậu)

 

NHÀ TÙ; CHƯƠNG 13

Cùng buổi chiều Thanh Thương Hoàng vào cachot, Hồ Văn Đông, Trịnh Viết Thành, Như Phong, Doãn Quốc Sĩ cũng túi bị vào cachot. Chủ nhiệm nhật báo Quyết tiến trụ trì cachot số 6. Chủ bút nhật báo Quật Cường trụ trì cachot số 3. Tác giả Sầu mây chiếm cachot số 11. Tác giả Khói Sóng 1, cuốn tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng, cắm dùi ở cachot số C-2. Những cachots còn lại của C-1 dành cho quý vị đại đức Ấn Quang. Thượng tọa Thích Quảng Độ trụ trì cachot số 7. Được đúng tuần lễ, kể từ hôm Thanh Thương Hoàng giã từ 6C-1, ba chúng tôi, Hồng Dương, Nguyễn Hải Chí, Duyên Anh, nhận lệnh rời phòng. Người công an chấp pháp nói: “Các anh cần đổi nước”. Chúng tôi đã tưởng đi xa. Cuối cùng thì Nguyễn Hải Chí sang khu A; Hồng Dương và tôi vào 1C-1, cái phòng bẩn cả nội dung lần hình thức. Thời gian này, cửa nhà giam đã trổ rộng một nửa gần chấn song và ống nước đã vô phòng. 1C-1 hưởng dưỡng khí và ánh sáng 24/24 đầu tiên. Trưởng phòng 1C-1 tên là Nguyễn Hữu Trí. Hắn vốn làm tài xế tắc xi sau khi giải ngũ. Ở quân đội, hắn đeo lon thượng sĩ. Hồng Dương miệt thị hắn là Trá xế. Trí cấu kết với Viên và Quang. Về sau ba đứa tách rời. Cả ba cùng vượt biên đường bộ, bị bắt ngay tại bến xe đò Pleiku. Phó phòng tên Đảm, quen biết chúng tôi bên Sở Công An. Đa số tù nhân bên 1C-1 là những người tuổi trẻ, đủ thành phần, vượt biên đường bộ, từ Pleiku, Bạn Mê Thuột chuyển về.
Chế độ nhà tù ở Pleiku, Ban Mê Thuộc hết sức tồi tệ. Tù nhân bị tịch thu hết, chỉ còn bộ quần áo dính thân thể. Họ không được tắm gội cả tháng nên ghẻ lỡ kềnh càng, chấy rận lổn ngổn. Ở mấy nhà tù cao nguyên, nhóm tù nhân này đã hục hặc nhau, chia bè kết đảng. Và bộ ba Trí-Viên-Quang bị bọn trẻ thù ghét. Trở về đề lao Gia Định, Nguyễn Hữu Trí vẫn làm trưởng phòng. Giữa hắn và phó phòng Đảm không ưa nhau. Thêm thư ký Miên coi thường hắn nên hắn bám chặt cai ngục. Hắn chỉ sợ mất chức trưởng phòng. 1C-1 ngoài Nguyễn Hữu Trí nham hiểm, còn có “nghệ sĩ” Ngô Văn Sự. Tên này bị gù, có tài về trang trí. Sử nói phét thánh trời. Hắn tự nhận hắn là Chóe, quen thân với Nhã Ca, Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ… Bất ngờ chúng tôi vào 1C-1, Ngô Văn Sử bị anh em lột mặt nạ. Đó là sự bất hạnh của hai chúng tôi. Sử được ra ngoài sơn cửa các phòng tù. Hắn cấu kết với Trí. Hồng Dương và tôi là hai đối tượng báo cáo của hai đứa. “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”. Tôi không quan tâm hai thằng vô lại này mà rất quan tâm chấy rận vượt biên xâm lăng tôi.
Tôi bắt đầu ghẻ nhiều ở 1C-1. Chúng tôi vẫn chưa được gặp vợ con. Đúng lúc ghẻ hành hạ tôi, vợ tôi viết thư báo tin buồn: “Ông ngoại đã chết. Em mặt áo tang đến xin gặp bố, người ta từ chối”. Thật sự, tôi muốn quên chuyện gia đình. Nhưng muốn quên thật khó. Mà nhớ thì lòng dạ như bị xát muối. Nhìn khuôn mặt hốc hác của Trịnh Viết Thành dán chặt vào ô cửa gió cachot số 3, Hồng Dương bảo tôi:
– Sắp đến lượt mình.
Tôi không sợ cachot. Tôi thèm nằm cachot. Rất giản dị, ở cachot, tôi chẳng cần đề phòng ai. Cachot đề lao Gia Định lý tưởng lắm, nếu không bị còng tay chéo chân để ngủ ngồi. Nhờ ghẻ nặng, tôi loay hoay với ghẻ cả ngày. Khởi sự là ghẻ nước. Ghẻ mọc từng cụm trên mu bàn chân. Vừa khều nặn xong vài mụn, vài mụn khác đã mọc quanh. Chuyện khó tin mà có thật. Cả 1C-1 ghẻ. Ngót 50 tù nhân ngồi nặn ghẻ mủ, ghẻ nước. Tất cả bị nấm tấn công “hạ bộ”. Đàn Ta-Lư gẩy liên miên. Cơ thể tôi thiếu sinh tố.. Da khô và mỏng. Chất nhờn trên mặt da không bài tiết nữa. Ở 6C-1, tôi nặn hết nước, nặn ra máu, thấm khô rồi bôi thuốc xanh, mụn ghẻ chịu ngay. Ở 1C-1, nặn hết nước, bôi thuốc, nước cứ đùn ra. Nước đùn rạ, ghẻ mọc thêm. Ghẻ mọc cả trên mụn ghẻ mới khỏi. Ghẻ tấn công ngược. Bắt đầu ở chân, rồi lên đùi, háng, mông. Ghẻ nước lỡ toét bị nhiễm trùng thành ghẻ mủ. 1C-1 có mấy “dũng sĩ” ghẻ. Hai cẳng ghẻ cơ hồ cơm cháy đắp lên. Nước vàng ri rỉ cả ngày. Bục xi-măng nhớp nhúa. Manh chiếu khô cứng máu mủ, nước vàng. Mùi vị tanh tưởi nồng nặc. Tôi đã ăn, ngủ, hít thở cùng mùi vị tanh tưởi mủ ghẻ ấy. Khi ghẻ mủ mọc khắp cẳng, đùi và đầy mông, tôi mất ngủ. Nằm nghiêng hằng đêm, tôi thao thức. Các bạn trẻ của tôi nhờ dễ ngủ mà bớt ngứa, bớt đau. Nhức ghẻ mủ, ngứa nấm ăn “hạ bộ”, hai cái thái cực quái đản nầy tưởng xa mà gần, tưởng mơ hồ mà hiện thực. Tôi vốn khổ từ niên thiếu. Những nỗi khổ tôi đem vào đời, những nỗi khổ tôi làm cuộc đời tôi, tôi ngỡ đã ghê gớm lắm. Vất đi tại đề lao Gia Định. Vất hết đi. Tôi nằm nghiêng trên hai gang chiếu của phòng 1C-1, ngửi mùi tanh mủ ghẻ, nuốt đắng cay, nghiến răng chịu nhức nhối. Để nhập môn thống khổ.
Sau khi đi học tập viết tự khai và sau khi viết tự khai tại phòng, người ta tách Hồng Dương khỏi tôi. Hồng Dương từ giã tôi. Từ đó tới nay, tôi chưa gặp lại. Tôi không tin tên Nguyễn Hữu Trí báo cáo Hồng Dương. Thời gian chuẩn bị thẩm vấn, người ta cách ly chúng tôi. Để tránh trao đổi ý kiến. Hồng Dương đi, 1C-1 có thay đổi. Anh em vượt biên được gia đình tiếp tế. Xà phòng tắm gội. Quần áo cũ loại bỏ. Phòng bớt tanh và chấy rận bớt dần. Viên đi. Quang đi. Đảm đi. Nguyễn Hữu Trí hòa hoãn với thư ký Nguyễn Hữu Miên và mọi người. Vợ hắn không nuôi hắn. Hắn chợt hiểu cai ngục không cho hắn mì vụn và uống cà phê. Hắn bám anh em. Ngô Văn Sự chuyển trại. Mọi việc bình thường. Tôi bình yên nằm nghiêng nghe mủ mưng trên cơ thể. Lãng mạn một chút, tôi bảo thống khổ mưng giữa nỗi đời cơ cực của tôi.
Tháng 7, 1976, đề lao Gia Định tiếp nhận hàng ngàn tù nhân phản động bình dân. Gọi là phản động bình dân để phân loại. Ngày 30-4-75, các nhà tù thành phố được giải phóng hết. Nhưng 1-5, nhà tù mở cửa đón khách mới. Lâm Văn Thế là khách khai trương. Từ tháng 6-1975 đến tháng 5-1976, đề lao tiếp nhận tù nhân phản động trí thức. Thời điểm rực rỡ này là thời điểm của sinh viên, học sinh, luật sư, giáo sư chống phá cách mạng. Bây giờ là thời điểm của nông dân, công nhân, phu nhà đòn, lơ xe đò, du đãng… Những nhà nghiên cứu Mác xít sẽ nhức đầu về hiện tượng phản động bình dân. Ngoài tù nhân phản động bình dân, tháng 7-1976, đề lao cũng tiếp nhận hàng ngàn tù nhân vượt biên bị bắt. Người ta sắp xây thêm các khu D, E… 1C-1 phải chứa 60 tù nhân! Tôi đã phiêu bạt khá nhiều phòng giam của đề lao Gia Định. Và tôi có một nhận xét: Tỷ lệ đại đức thượng tọa vượt biên 1%, linh mục 99%; tỷ lệ đại đức thượng tọa phản động 99%, linh mục 1%. Những người vượt biên thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Vượt biên đường biển thì bị chặn bắt ngay tại Phú Lâm. Vượt biên đường bộ thì bị chặn bắt ngay khi vừa bước xuống các bến xe đò Pleiku, Ban Mê Thuột. Hài hước của vượt biên đường bộ có ông giáo sư họ Mai là biểu tượng. Ông này mang theo ba đôi giày deluxe, hai bộ complet, chục cái cà-vạt, chuẩn bị họp báo ở Vọng Các. Bi thảm thì có cậu cháu anh thợ hàn xì lạc rừng mây ba ngày, đói quá, bẻ trộm bắp, bị mọi cộng bắt trói đem giao nộp Việt cộng. Đúng lúc 1C-1 đông nghẹt, tôi được gọi ra làm việc. Người ta dẫn tôi sang phòng chấp pháp khu B. Tôi cặm cụi đi, không nhìn ngang nhìn dọc. Công an chấp pháp ngồi đối diện tôi. Hắn ta cao lớn, mặt rỗ hoa mè, mặc áo sơ-mi mầu trứng sáo. Chỉ cái ghế trước bàn giấy, hắn bảo tôi ngồi.
– Tôi xin anh một ân huệ?
– Gì?
– Tôi bị ghẻ mủ đầy mông, anh cho tôi ngồi nghiêng.
– Không. Anh phải ngồi ngay ngắn. Vì anh làm việc với đại diện của Đảng (Hắn dân Bắc kỳ, giọng nói miền biển Tiền Hải)
– Hiểu chưa?
– Tôi hiểu.
Tôi đã đụng độ ba thằng việt cộng đằng đằng thù hận. Thằng thứ nhất bên Sở Công An, phòng lý lịch. Nó quát tháo khi thấy tôi ngồi gác chân. Nó bắt tôi ngồi nghiêm túc và mang tội thiếu… văn hóa. Thằng thứ hai ở đề lao. Nó đến cửa 6C-1 ghi lý lịch tôi. Nó mắng tôi nói láo vì tôi khai tôi là nhà văn chế độ cũ. Nó muốn tôi khai tôi là tay sai chế độ cũ. Thằng thứ ba đang đứng trước mặt tôi. Hắn nhìn tôi, hất hàm:
– Khi các anh bắt cộng sản, các anh đối xử thế nào?
Tôi chưa ngồi, tôi vẫn đứng.
– Chúng tôi không bắt ai. Chúng tôi không có quyền bắt ai. Chúng tôi không thích bắt ai.
Tôi nói thêm:
– Nhà văn không phải là nhà cầm quyền.
Phản ứng của tên chấp pháp Bác Kỳ là nụ cười nửa miệng.
– Anh không phải là ngụy quyền?
Tôi đáp:
– Phải.
Hắn dập điếu thuốc lá:
– Nhưng anh là tay sai của ngụy quyền, các anh là tay sai của ngụy quyền, bọn nhà văn Sàigòn là tay sai của ngụy quyền.
Tôi nói:
– Đó là ý nghĩ của anh.
Hắn gằn giọng;
– Của nhân dân. Các anh nhận tiền của Mỹ, của Ngụy chống phá cách mạng, tạo ra chiến tranh tâm lý. Anh muốn tôi kể tên những thằng chống cộng ăn lương Mỹ Ngụy không?
– Anh đừng kể.
– Anh xấu hổ à?
– Tôi đã biết. Chính chúng tôi đã công kích chúng nó công khai.
Chúng nó. Chỉ có vài thằng thôi! Đứa lấy tiền của Juspao, của Usis qua trung gian Lý Trung Dũng. Đứa lấy tiền của Ngô Đỉnh Diệm qua trung gian Bùi Kiến Tín. Đứa lấy tiền của Sở Nghiên Cứu Chính Trị. Đứa lấy tiền của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Đứa lấy tiền của Asian Foundation… Toàn những khuôn mặt khoa bảng và văn nghệ hàng đầu cả. Hai ba đứa làm tôi mọi cho đài phát thanh chiến lược Mỹ. Những thằng nhà văn “for rent” này đã chuồn hết. Chúng tôi ở lại chịu nhục. Chịu nhục với công sản chưa đủ, còn bị chúng nó bêu nhục trên đất Mỹ. Tôi đã cố dằn phẫn nộ để im lặng về thái độ bần tiện của chúng nó khi chúng nó toa rập nhận chìm tôi xuống bùn nhơ. Rõ rệt, chúng nó đã “bắt nạt tôi những ngày đầu lưu vong của tôi”.
– Anh công kích?
– Người khác.
– Ai?
– Anh có đọc một bài báo của Nguyên Sa không?
Hắn bảo tôi:
– Anh ngồi xuống.
Tôi hỏi:
– Ngồi nghiêng?
Hắn lắc đầu:
– Ngồi ngay ngắn, ngồi nghiêm túc.
Tôi ngồi ngay ngắn. Nỗi đau khác đã làm bớt nỗi đau ghẻ mủ. Tôi biết sức nặng của phần trên thân thể đã bắt những mụn ghẻ mủ ở mông tôi vỡ ra. Tên công an chấp pháp biết rõ hơn. Hắn thích vậy. Hắn muốn nhìn tôi đau đớn. Bao thuốc chìa ra, hắn mời:
– Anh hút thuốc.
Tôi rút một điều thuốc Vàm Cỏ. Hắn quẹt diêm cho tôi mồi thuốc.
– Tôi gọi anh ra để mạn đàm.
Hắn nhả khói thuốc.
– Mạn đàm cũng là làm việc đấy.
Cuộc mạn đàm bắt đầu.
– Anh xa nhà mấy tháng rồi, anh Duyên Anh, thần tượng của tuổi trẻ?
Giọng mỉa mai, hắn bĩu môi nói hai tiếng “thần tượng”. Mạn đàm với hắn là vấn nạn, đối với tôi, với chúng tôi, những nhà văn, nhà thơ bị bỏ tù.
– Tôi không là thần tượng của ai cả. Tôi đã viết điều này. Làm thần tượng có hai điều khổ. Một, trở thành nô lệ của những kẻ phong tước vị cho mình. Hai, sẽ bị đạp đổ.
– Anh đã được coi là thần tượng?
– Tôi thành thật khước từ.
– Tại sao?
– Tôi thích tự do làm theo ý của tôi. Thần tượng, tôi phải làm theo ý của người khác. Khác ý họ, tôi bị đạp đổ nhục nhã. Nhưng thần tượng là cái gì? Theo tôi, thần tượng là đất nung, gỗ đẻo.
– Anh ám chỉ ai?
– Tôi nói tôi.
– Mà anh mà là thần tượng à?
– Anh vừa bảo tôi là thần tượng.
– Anh tin tôi thành thật ư?
– Cách mạng không bao giờ gian dối.
Hắn nhìn thẳng mặt tôi, đôi mắt hắn long xồng xộc:
– Lũ các anh là thần tượng móc méo, xỏ xiên. Tôi hỏi anh xa nhà mấy tháng rồi?
Hắn chuyển đoạn cau có. Tôi chậm rãi đáp:
– Tôi vào tù từ 8-4.
– Ai bảo anh vào tù?
– Cán bộ Ba Trung bên Sở.
– Anh đi học tập cải tạo tư tưởng.
– Tôi xa nhà.
– Anh xa nhà đi hoc.
– Vâng, tôi xa nhà đi học được bốn tháng rồi.
– Thấy thế nào?
– Nhớ vợ, thương con.
– Có vậy thôi?
– Phải, có vậy.
– Không thấm thía à?
– Không.
– Thế là chưa tiến bộ, chưa có chuyển biến tư tưởng. Anh cần học tập lâu hơn.
– Tùy anh.
– Tùy ở chính bản thân anh đấy.
Thằng rỗ mặt hoa nầy coi bộ đã nhận chỉ thị áp đảo tinh thần tôi. Tất cả những nhà văn, nhà thơ làm việc, bị mạn đàm đều bị làm khán giả xem kịch sĩ công an thủ các vai Ác và Thiên. Hễ hôm nào bị Ác át giong, ngày mai sẽ được Thiện vuốt ve. Ác bít lối, Thiện mở đường. Thiện thỏa mãn yêu sách chưa được thực hiện, Ác đã xoá bỏ ngay tức thì. Thằng mặt rỗ hoa mè mặc áo sơ mi mầu trứng sáo, tháng 6 năm 1977, gặp Doãn Quốc Sĩ ở 3C-1, kể lại cuộc mạn đàm, anh Sĩ nhận ra “cố nhân” liền. Anh Sĩ nói: “Nó đã dọa chặt tôi ra làm ba khúc xem thân thể tôi có là kim cương. Chính nó tống tôi vào cachot.”
– Anh Duyên Anh.
– Tôi nghe.
– Đồng chí Ba Trung bảo anh vào tù là đúng.
– Tôi không xa nhà đi học?
– Anh nằm tù.
– Anh vừa nói …
– Bây giờ là chân ly, anh nằm tù. Anh nằm tù suy nghĩ tội ác. Các anh nằm tù suy nghĩ tội ác.
Bổng hắn hất hàm:
– Thằng Doãn Quốc Sĩ thế nào?
Tôi thừa hiểu, khi chúng nó nói chuyện với nhau, khi chúng nó nói với anh em của tôi, chúng nó cũng gọi tôi là thằng Duyên Anh, như lãnh tụ của chúng nó mở miệng là thằng Diệm, thằng Nhu…
– Đó là thằng được nhiều người kính trọng.
– Thằng Doãn Quốc Sĩ được nhiều người kính trọng? Nó ví Hồ Chủ Tịch là chồn tinh chín đuôi. Vũ Hạnh báo cáo thằng Sĩ thường nhục mạ Bác. Sàigòn có ba thằng đáng tội chém. Thằng Doãn Quốc Sĩ viết cổ tích lăng mạ lãnh tụ Hồ Chí Minh. Thằng Chóe vẽ cờ tổ quốc cắm lên cán chổi. Còn anh, anh ví cờ tổ quốc với xì-líp đàn bà có kinh. May cho các anh, Biệt đôi bận việc khác, chứ không, các anh đã ăn đạn như thằng Chu Tử.
Chu Tử viết Ao thả vịt của nhật báo Sống, chê “Hồ chủ tịt làm thơ như cục kít”. Tôi xin phép được nói rõ về trường hợp Chu Tử và sau đó, một vài trường hợp ngộ nhận quốc gia sát hai quốc gia. Thuở báo Sống chống đối sự thừa thắng xông lên của các ông sư chính trị, nhóm Phật giáo quá khích đã đốt tòa soạn Sống, đốt luôn chiếc xe Vespa mới toanh của nhân viên trị sự tên là Vũ Hải Vân. Chu Tử nổi giận. Nhật báo Sống đánh sư chính trị, sư thành phố thả giàn. Chu Tử bị mưu sát. Chúng tôi quả quyết thủ phạm là thượng tọa Thích Thiên Minh. Báo chí Sàigòn tỏ thái độ với Phật tử ồn ào xuống đường và lãnh tụ của họ. Tự nhiên, nhà cầm quyền hưởng lợi. Chẳng cần thuê mà báo chí xúm nhau “mần thit” những kẻ chống đối mình. Rồi thượng tọa Thích Thiên Minh bị mưu sát. Phật giáo Ấn Quang đổ riết tội cho nhà nước. Nhà nước, nhà chùa, nhà báo chơi nhau lung tung beng. Nhà báo bảo nhà chùa … dàn cảnh. Đến khi chết giữa biển và chết trên quê hương, Chu Tử vẫn tưởng Thích Thiên Minh bắn mình và Thích Thiện Minh vẫn tường nhà nước hại nhà chùa. Tôi, nhờ nhà tù, tai nghe rõ cộng sản xác nhận họ bắn Chu Tử. Họ gây xáo trộn tình hình Sàigòn. Từ đó, tôi nhận diện thủ phạm ám sát Nguyễn Văn Bông và Trần Văn Văn. Tôi vốn không ưa ông Kỳ và không hưởng bổng lộc gì của ông Loan, nhưng tôi muốn đóng góp một chút sự thật vào sự thật của lịch sử. Trong cuốn Một người tên là Trần Văn Bá, tôi viết ông Nguyễn Cao Kỳ và ông Nguyễn Ngọc Loan không hề ám hại nhà chính khách đối lập Trần Văn Văn. Thủ phạm vẫn chỉ là việt cộng, tác giả các vụ Chu Tử, Thích Thiện Minh, Nguyễn Văn Bông, Trần Văn Văn,… Phản ứng của bà Trần Văn Văn là, căn cứ vào một tờ báo lưu vong xuất bản tại Úc Đại Lợi, ký tên một tác giả không ai biết, vẫn khẳng định Kỳ, Loan giết chồng bà. Những ngộ nhận tại hai điển hình vừa kể, cần phải chấm dứt. Còn ngộ nhận là còn chơi trò chơi tạo mâu thuẫn của cộng sản.
– Tại sao anh dám ví cờ tổ quốc với xì-líp đàn bà có kinh?
– Tôi không biết trả lời.
Trả lời thế nào? Trả lời hôm nay, khi ngồi viết hồi ký ở Ivry Sur Seine rằng, tôi ví cờ tổ quốc của anh với xì-líp đàn bà có kinh vì tôi ghê tởm cờ tổ quốc anh. Tôi không ham nói phét, dẫu nói phét không bị đánh thuế và dẫu có thể được coi như ngục sĩ anh hùng. Cuộc đời đã thừa thãi những anh Rambo, chẳng nên thêm tôi. Ở cuốn Đàn bà, người đàn ông bị vợ từ chối không cho làm tình, gã hỏi “Hôm nay em kéo cờ cộng sản hả?”. Tôi dám ví cờ đỏ sao vàng với xì-líp đàn bà có kinh? Cộng sản chụp mũ tôi. Họ ví chứ tôi không ví.
– Anh chỉ biết viết?
– Tôi không biết trả lời.
– Anh không trả lời?
– Anh hiểu tôi khó trả lời mà.
– Anh cần suy nghĩ.
– Phải.
Hắn tống tôi vào cachot khu B, khóa chặt cửa gió, không cho tôi về 1C-1 thu dọn hành lý, không phát chiếu, không còng tay. Cuộc mạn đàm kết thúc như vậy. Tôi có dịp biết cachot. Và tôi bằng lòng ở cachot. Cachot là phòng lý tưởng của khách sạn quốc doanh đề lao. Đang nằm nghiêng trên hai gang chiếu ở cái phòng tập thể nhung nhúc tù nhân, nồng nặc mùi mồ hôi, hôi nách, ghẻ mủ, được nằm thoải mái một bục xi-măng láng coóng, yên tĩnh, cầu tiêu, vòi nước riêng, tôi cảm giác mình được cách mạng đãi ngộ. Đối diện dãy cachot nhốt tôi là các phòng tập thể khu B dành riêng cho nữ tù nhân. Tôi không nhìn thấy ai cả. Thú thật, lúc ấy tôi quên sợ hãi. Càng ở tù lâu, hai chữ cũng đành càng lớn và cảm giác sợ hãi nhỏ dần. Ngồi mạn đàm với đại diện của đảng cộng sản quang vinh, những mụn ghẻ mủ ở mông tôi vỡ ra, ướt nhẫy đít quần. Bây giờ, quần bám chặt vào mụn ghẻ tạo thành mảng mài lớn, khô cứng. Tôi không dám gỡ ra, sỡ máu sẽ chảy và lại thành mảng mài lớn. Với riêng nỗi khổ ghẻ mủ, tôi đã muốn ngồi lên mặt những đứa bịa đặt chuyện bêu nhục tôi ở tù bằng cái đũng quần cứng khô máu mủ. Nhưng mà tôi đã ngồi lên mặt chủ nghĩa cộng sản. Như thế hách hơn.
Người ta không cho tôi ăn cơm trưa, không cho cả nước sôi. Tôi ghé miệng vào vòi nước, vặn rô-bi-nê uống nước phông tên. Rồi tôi nằm duỗi chân, dang chân thoải mái mà ngủ. Cơn mưa lớn đã ru tôi ngủ ngon. Khi tôi thức giấc, mưa đã tạnh và ngọn đèn vàng trong cachot đã bật. Mụ cai ngục lùn, mắt lé mở khóa. Tên công an chấp pháp mặt rỗ huê đợi tôi bước ra. Hắn hỏi tôi:
– Anh suy nghĩ chưa?
Tôi nói:
– Đói quá, tôi không suy nghĩ được.
Hắn nín thinh dẫn tôi về khu C-1, giao tôi cho cai ngục. Tôi trở lại 1C-1 ồn ào và tiếc rẻ cachot khu B. Sáng sớm hôm sau, trước cả giờ báo thức, cai ngục gọi tôi ra làm việc. Tên công an rỗ hoa dẫn tôi ra khu A, tống tôi vào cachot. Nhờ ví cờ cộng sản với xì-líp đàn bà có kinh, tôi biết thêm cachot khu A, khu sát khít trường Hồ Ngọc Cẩn. Hôm nay tôi bị còng tay chéo sau lưng. Vẫn bị cúp bữa cơm trưa, cúp nước sôi. Chập tối, tên công an rỗ hoa lại dẫn tôi về khu C-1. Một tuần liền, sáng sớm tinh mơ tôi vào cachot, chập tối tôi ra cachot với vài kiểu còng tay, còng chân. Bố tôi, tháng 9-1975, đi lẻn vào Sàigòn, dạy tôi kinh nghiệm ngục tù: “Ăn ít, dù gia đình tiếp tế đầy đủ. Tập thắt dạ dày, vì, sẽ bị nhịn vài ngày”. Nhờ kinh nghiệm của bố, được … học tập ăn một bữa suốt tuần, tôi đã tồn tại.
Trò chơi của tên công an chấp pháp rỗ hoa đến đó là chấm dứt. Hắn không cho tôi ngủ đêm ở cachot. Hắn cũng quên hỏi tôi “Suy nghĩ chưa”. Tôi bị bỏ rơi ba ngày liền. Lúc này, Doãn Quốc Sĩ đã từ cachot 12 chuyển về cachot số 1 đối diện phòng tập thể của tôi. Trịnh Viết Thành, Hồ Văn Đông bị sang Sở Công An. Chuyến đi này có thêm Nguyễn Mạnh Côn. Bên cachot C-2, Như Phong vẫn khước từ viết tự khai. Bệnh ghẻ mủ của tôi không thuyên giảm. Có mòi tăng triển. Ghẻ báo động … đỏ. Mỗi tuần, vào buổi trưa nắng, đề lao cho tù nhân ra phơi nắng 10 phút. Phòng này vào, phòng kia ra. Tù nhân ngồi nguyên chỗ của mình. Các cửa gió của cachot đóng kín, đề phòng liên lạc bằng dấu hiệu. Mười phút nắng chỉ làm ghẻ buồn cười. Hôm tắm nắng, đồ đạc treo lên hết. Trực sinh rửa phòng và y tế xịt thuốc trừ chấy rận. Tôi khám phá ra sự thiếu máu. Ở ngoài nắng bước vô, mắt tôi mờ đi mấy phút. Tôi ôm mặt đứng. Cứ ngỡ mình đã bị lòa. Tôi thèm nói chuyện mắt với Doãn Quốc Sĩ. Anh ta không hề dán mặt vào ô gió cachot như những tù nhân khác. Sáng sớm, Sĩ chạy tại chỗ. Rồi thiền và ngủ. Vợ tôi vẫn tiếp tế đều đặn. Qua ba ngày không thấy tên công an chấp pháp rỗ hoa gọi ra, tôi ngỡ đã yên thân. Tôi nhầm. Cai ngục lại réo tên cúng cơm của tôi.
– Vũ Mộng Long.
– Có.
– Mặc quần áo ra làm việc.
Chú thích:
Viết tiểu thuyết, Như Phong ký Lý Thắng. Trường thiên tiểu thuyết Khói Sóng đăng dang dở trên nhật báo Tự Do trước 1963.

TRONG GÓC TỐI

 

 

Và đêm đó tôi mơ, giấc mơ vượt qua thung lũng, qua thảo nguyên xanh non, qua tuyết trắng đại hàn, đến với tôi khi tôi đang nghe khúc Main Theme. Vượt qua cả mười năm xa cách, vượt qua cả mười năm đợi trông, trong mơ, tôi gọi tên An, trong mơ tôi đã hình dung khuôn mặt của An, khuôn mặt tôi đã hình dung suốt mười năm qua. Tôi ngồi đó, ràn rụa nước mắt nhìn giấc mơ trước mặt mình, An ơi
Giấc mơ về một ngày quá khứ.
Hay giấc mơ cho một hoài niệm không bao giờ thành sự thật?
Biển đêm không xanh mà sâu hút.
Hay hơi se lạnh đêm cuối năm.
Đống lửa đốt dưới rặng dương không đủ ấm. Tay An lạnh buốt, và chúng tôi ngồi dưới sương, nhìn đêm trắng đi qua, nhìn ban mai từ từ loãng ra, như cách chúng tôi dần mờ tan trong nhau.
Tôi ngồi trong góc tối, nước mắt vẫn ràn rụa trên mặt. Trong mơ, tôi chỉ muốn chụp chung với An một tấm hình. Tấm hình chúng tôi cùng mang áo liệm. Nhưng thật khó khăn. Chúng tôi đã phải leo qua mấy con dốc cành khô gãy dưới chân. Leo qua bao cảm giác chông chênh. Tôi muốn được vịn tay An biết bao.
Giấc mơ đưa tôi đến với màu trăng xưa không tàn. An có cùng đưa tay níu thời gian với tôi?
Những năm tháng ấy, An từng nói tôi nghe về góc tối An náu mình. An nói về sự bất an của ánh sáng, An nói về nỗi sợ hãi hạnh phúc, về ảo giác, về ảo vọng làm người, tại sao tôi không hiểu An, không thấu được cảm giác như bây giờ? Mười năm, quá dài cho một lời chia sẻ. Tôi không muốn hiểu lời giải thích vì sao An ra đi.
Cách đây mười năm, An nói với tôi , An chỉ thích ngồi miệt mài trong bóng tối, An thấy an toàn trong góc tối của mình, những đêm dài sâu, An kể tôi nghe những cảm xúc ấy, An nói về sự cô đơn, mất niềm tin, sự không thỏa hiệp. tôi từng nghĩ, điều gì đã làm cho chàng trai mười sáu tuổi phải dằn vặt như vậy. Tôi đã không hiểu được An, không chia sẻ được gì cho An. Bây giờ, An không còn, tôi vừa chợt nhận ra thì An đã không còn. Đêm thì quá dài, An ơi
Tôi ngồi trong góc tối và ràn rụa nước mắt. Trong nhà vẫn khói nhang mù mịt. Mẹ vẫn chốc chốc trợn ngược mắt, nhảy dựng lên “ hí í í í í í …..”. Hai bên chiếu, mọi người rạp xuống lạy. Lúc này mẹ là Thánh . “ Không biết là Thánh Xuân Nhất hay Thánh Xuân Nhị về đấy?” Mọi người thì thào. Mẹ thành Thánh từ hai mươi năm nay. Xuân Nhất và Xuân Nhị là hai thằng anh song sinh của tôi. Hai đứa nó chết lưu trong bụng mẹ trong thời gian mẹ đi buôn mực khô. Muốn qua trạm quản lý thị trường, mấy bà thường bó mực vào bụng, giả làm bụng bầu. Mẹ vác cả hai đứa trong bụng, lại còn nịt thêm gần chục kí mực, bó chặt quá nên tụi nó chịu không nổi, sống không nổi mà chết non trong bụng. Sau này buôn bán lỗ lã, quản lý thị trường bắt mấy vụ, vậy là cụt vốn. Mẹ về quê và thành “Thánh” để kiếm cơm.
Thánh lại hí thất thanh thêm lần nữa, sau đó mẹ ngã lăn ra đất. “ Ngài thăng rồi, vừa rồi là ngựa hí đưa Ngài đi” Mọi người lại thì thào. Họ mặc lại áo cho người điên vừa được đưa tới cho Thánh chữa bệnh. Tấm lưng trần nát nhừ những vết bỏng đỏ loét vì mẹ dùng nhang cháy quất vào. Tôi ngồi trong góc và xây xẩm nhớ lại tấm lưng trần của An. Ngày xưa, An cũng được mẹ chữa bệnh điên như thế.
Tôi ngồi đó và ràn rụa nước mắt. Có tiếng ba lè nhè trong nhà : “ Ăn rồi chỉ biết đánh bạc, con đàn bà hư đốn” Mùi nhang vẫn còn nghi ngút trong nhà. Mẹ đã sang bên xóm đánh tứ sắc, có khi hết đêm nay chưa về.
Góc tối lạnh và nhiều muỗi, hai thằng anh chết non của tôi đang nhảy nhót trửng giỡn trên cái am thờ trước nhà. Xuân Nhất bẻ một trái chuối lột bỏ miệng nuốt chửng, thằng em thì đu đưa trên con ngựa giấy “ Mày đi chơi với bọn tao không? Vui lắm cơ” Xong nó cười ré lên. Tôi muốn ăn chuối nhưng dạ dày nóng rát, mồ hôi lạnh với nước miếng lạt túa ra. Tôi đói, sáng giờ chưa được cho ăn thứ gì. Tôi muốn nôn mà không nôn được.
“ Mày chơi vui thì mày chơi một mình đi, sao mày bắt An của tao theo mày làm chi?”
“ Nó chết do mẹ cho nó uống thuốc tầm bậy mà lại không cho nó ăn nên nó trúng gió mà chết chứ, mà cũng tại mày đêm hôm đưa nó ra biển chi, đâu phải tại tao, thôi bọn tao đi đây”
Tôi vẫn ngồi đó và ràn rụa nước mắt như đã khóc bao năm nay.
Trong nhà im lìm, ba đã ngủ, thằng em trai sau khi đi chơi về khuya cũng lăn ra sàn nhà ngủ luôn. Mẹ vẫn chưa về.
Giấc mơ lại đến với tôi, giấc mơ vượt qua sóng ngút bạc đầu, qua chiều mưa tầm tả, qua hàng phi lao xanh ngắt khi tôi lén tháo xích cho An và dắt An chạy ra biển trốn. Giấc mơ được triệu hồi trong sự đập cánh loạn xạ của ánh sáng, giấc mơ nhấn chìm con sóng dữ nào đó đã từng nhấn chìm chiếc thuyền thúng của tôi và An trên biển. Giấc mơ của tôi há to miệng cắn ngập biển từng miếng và nhai nuốt ngon lành. Biển vỡ ra từng mảnh, xanh ngắt và trong suốt như nước mắt , những giọt nước mắt tôi đã khóc mười năm nay. Biển nhỏ dần, nhỏ dần rồi biến mất trong cái miệng khổng lồ ấy. Nhưng còn An của tôi, An của tôi vẫn còn nằm lại trong biển, giấc mơ đã ăn hết biển rồi, tôi còn biết tìm An ở nơi đâu?
Khi ấy, tôi bị sóng đánh giạt vào bờ, còn An thì không thấy đâu cả. An của tôi đi đâu? Tại sao mẹ lại xích tôi lại mà không cho tôi xuống nước tìm An?
Tôi ngồi bó gối trong góc tối và ràn rụa nước mắt, chân tay tôi lạnh buốt và thân thể càng lúc càng nhẹ bẩng. Tôi phải đi tìm An, tôi nương theo ánh trăng xanh lét cuối tháng mà bay. Được một đoạn, tôi ngoái lại nhìn căn chòi tôi đã ngồi suốt mười năm nay, nơi đó vẫn tối, lạnh và nhiều muỗi.
Một cơn gió thổi qua làm tôi xính vính, tôi lại nương theo ánh trăng lạnh buốt mà bay lên, theo mùi hương xa lắc xa lơ dội về từ phía u mê.
Mùa hè đã đi vắng mười năm nay, chỉ còn cơn mưa khan tiếng trôi mệt mỏi.
Bay nhanh lên, bay đi trước khi ánh trăng tàn đêm nhạt dần, gió vẫn ầm ào hú lộng dập dềnh trong linh ẩn cơn mơ.

 

Phương Uy

 

 

 

NHÀ TÙ: Chương 12

 

Bạn biết người y tá tù là ai không? Đoàn văn Toại, tác giả Goulag Vietnamien láo lếu đấy. Cái xó xỉnh đề lao Gia Định này là biểu tượng của nền ngục tù ô nhục của công sản ư? Đoàn Văn Toại chỉ quanh quẩn ở đề lao Gia Định. Anh ta bị bắt trước tôi vài tháng. Khi tôi đến đề lao, Đoàn Văn toại được ban phát ân huệ giúp việc Phòng Y Tế. Trưởng phòng Y Tế, bác sĩ Quang, y sĩ trung úy Thủy Quân Lục Chiến … nằm vùng. Sau 30-4-1975, anh ta mang quân hàm trung úy công an. Có lẽ, Quang là bí danh của anh ta. Đoàn văn Toại nghiền, tán thuốc dân tộc và phát thuộc các phòng tập thể C-1. Anh ta chưa được bén mảng ở cửa cachot. Toại hưởng quy chế ăn uống, tắm giặt thoải mái trên Phòng Y Tế. Mỗi tuần, Toại ra cổng trại, nhận thuốc của thân nhân tù nhân đăng ký. Bề ngoài nhận xét, Đoàn Văn Toại có vẻ là một cán bộ bị kỷ luật hơn một tù nhân chính trị. Lý do nào anh ta được cộng sản tin cẩn, tôi không hiểu. Toại biết thân, biết phận, không bàng nhàng với anh em. Một cách vô tư mà nhận xét, dưới mắt tôi, Đoàn văn Toai chỉ khúm núm cầu an. Anh ta chưa hề hại ai. Mà cũng chẳng ai có thể hại ai ở trong tù. Những kẻ xử dụng ngôn từ đao to búa lớn “Bước lên xác anh em, bán xác anh em” là những kẻ gian dối. Nó đã chứng tỏ kiến thức nhà tù cộng sản quá thấp. Cộng sản không bao giờ tin cả những tên họ xử dụng làm tai mắt cho họ. Hễ tên “ăng-ten” báo cáo một tù nhân nào, ít nhất, hai tù nhân khác bị gọi ra làm việc trước. Và câu hỏi như vậy: “Anh thấy anh X có khả năng làm việc đó, nói điều đó không?” Nếu hai tù nhân “chứng nhân” trả lời “không”, tù nhân bị báo cáo bình yên, và tên “ăng-ten” viết tự kiểm. Tôi đã trải qua ba nhà tù lớn nhất và hãi hùng nhất của miền Nam, tôi chưa thấy một tù nhân nào bị chết vì bị “ăng-ten” báo cáo. Tôi cũng chưa thấy một tù nhân nào được thả sớm nhờ làm “ăng -ten”. Chuyện “ăng-ten” là chuyện nhỏ nhặt đấy. Bạn còn nhớ Vũ Thành An, tác giả Những bài ca không tên chứ? Tất cả viên chức cao cấp “ngụy quyền” ở Lòng Thành đều rõ. Vũ Thành An đã sáng tác ca khúc có đoạn:
… Nay mới rõ, đế quốc Mỹ là quân xâm lược
Nay mới rõ, lũ ngụy quyền là lũ tay sai
Bao nhiêu năm mình cúc cung phục vụ miệt mài …
Nhờ ca khúc … nín thở qua câu này, Vũ Thành An ho lao đỡ phải vác cuốc, ngồi nhà làm Thông Tin Văn Hóa tù. Rốt cuộc, anh ta vẫn bị đày ra Bắc và trở về bệnh hoạn tiều tụy. Người ta có nỡ kết án Vũ Thành An làm “ăng-ten”, Vũ Thành An “bán xác anh em” không? Vẫn ở trại cải tạo Long Thành, bác sĩ N. Ng. T. (hiện đang định cư ở Mỹ) phục vụ tại bệnh xá tù, đã tình nguyện vác cả tủ lạnh, ti vi đem vào dâng Trưởng trại Ba Tô để hưởng nhàn, để tích trữ thuốc và để Chánh án Đào Minh Lượng mất nửa lá phổi, để Vũ Thành An ói máu thì sao không ai nói? Chưa đủ đê tiện, bác sĩ T. còn dụ đưa Ba Tô về Sàigòn chơi, cho Ba Tô ăn uống no say, để được ngủ với vợ. Và bầy trò khám các nữ tù trại Long Thành để bọn cai tù … coi xi nê thỏa thích 1. Sao không nghe ai nói nhỉ? Tôi sẽ bênh vực đến cùng, nếu ai bảo Đoàn Văn Toại làm “ăng-ten”. Toại, ban ngày, ở ngoài phè phỡn, ban đêm, vào phòng 7C-1. Phòng 7C-1 có phóng viên lùn Văn Chi, dũng sĩ quốc gia đã đánh hai Pháp kiều thân Cộng treo cờ Giải Phóng ở trung tâm Sàigòn trước 1975. Sau năm 1975, Văn Chi bán phở và tham gia tổ chức phản động. Anh ta đã “chào mừng” tôi bằng trái xoài nhờ Đoàn Văn Toại chuyển. Phòng 7C-1 có tỷ phú Phạm Quang Khai, vua tàu dầu, tư sản mại bản. Ông Khai có 50 chiếc tàu chuyên chở dầu chiến lược. Ông không tin thủy thủ đoàn Việt Nam, chuẩn bị một chiếc tàu với thủy thủ đoàn Đại Hàn. Chổi cùn, dế rách ở biệt thự nguy nga số lẻ đường Công Lý, đối diện trường Régina Mundi, được khuân hết xuống tàu. Vợ con ông đã đi từ khuya. Ngày 29-4-1975, ông khệnh khạng xuống tàu. Thủy thủ đoàn Đại Hàn ớn cộng sản đã chuồn rồi. Ông tỷ phú đứng khóc. Ông muốn điên. Ông lú lẫn. Ông không kiếm người khác. Ông sợ tàu… chìm. Và ông … vào tù y hệt tinh thần luân lý giáo khoa thư: “Ba quan đắt quá, thà chết còn hơn”. Phòng 7C-1 có cụ Cao Văn Diên, phản động già và cụ Trần Văn Liễu, phản động gân. Nhân vật Cao Văn Diên hiện diện trong Goulag Vietnamien của Đoàn Văn Toại như một ông già bị bắt oan và chết tại đề lao Gia Định. Sẽ đề cập sau.
Nhờ thảnh thơi ban ngày ngoài phòng giam, Đoàn văn Toại đã thoát dịch ghẻ 1976 kéo dài từ tháng 4-1976 đến tháng 10-1976. Cuối năm 1976, Toại bị tống vào phòng vì sự liên hệ lèm nhèm nào đó. Chức vụ y tá C-1 rơi vào tay Lý Sen, chủ nhà băng Đông Nam Á, tư sản mại bản Chợ Lớn. Đoàn Văn Toai bắt đầu bất mãn. Vợ anh ta, quốc tịch Pháp, con gái nhạc sĩ Võ Đức Tuyết, đã ẵm con sang Tây. Toại ở chung phòng với Đặng Giao bên khu A. “Ngày nào thành công, tôi sẽ sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống!” Đoàn Văn Toại tâm sự với Đặng Giao và Đặng Giao kể lại ngày chúng tôi tái ngộ ở Chí Hòa. Rồi Toại được thả, được leo lên máy bay Air France, đoàn tụ gia đình. Tôi vượt biển sang Pháp, biết Đoàn Văn Toại đã kể chuyện đề lao cho Minh Đức Hoài Trinh và Minh Đức Hoài Trinh thông dịch cho một ký giả Tây. Và Goulag Vietnamien xuất bản. Tôi lại biết Toại đã vận động định cư ở Mỹ và theo Trương Như Tảng. Tảng theo Hoàng Văn Hoan, chỉ chống tập đoàn Lê Duẩn – Trường Chinh, chứ không chống cộng sản Việt Nam. Họ đã xác định lập trường. Hồ Chí Minh vẫn là xác chết được tôn thờ. Cậu Đoàn Văn Toại từng bầy tỏ chí khí “Sản xuất một loạt cầu tiêu hình đầu Hồ Chí Minh. Cái miệng lão là chỗ phân rơi xuống”. Bây giờ, cậu Đoàn Văn Toại “phản tỉnh”, “thức tỉnh”, cậu hò hét “Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”. Giữa Toại và tôi đã có biên giới.
Mùa thu 1985, Đoàn Văn Toại, qua Paris, với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, mời tôi ăn tối. Với tư cách cựu tù nhân đề lao Gia Định, tôi nhận lời. Chúng tôi hẹn nhau ở quán Đào Viên quận 13. Đoàn Văn Toại tặng tôi cuốn Goulag Vietnamien. Tôi nói:
– Tôi đã đọc. Sách của cậu đáng liệng vào thùng rác. Vì có những ba điều bố láo. Một: Ở đề lao Gia Định, giấy và bút bị nghiêm cấm. Công an kiểm tra hành lý tù thường xuyên, cậu đào đâu ra giấy bút mà lập kiến nghị? Rồi tù nhân bị nhốt kỹ 24 trên 24, cậu liên lạc với ai mà xin được hàng trăm chữ ký? Hai: Cụ Cao Văn Diên phản động nặng, cụ bị đầy lên Pleiku và chết tại Gia Trung, cậu bảo cụ ấy chết ở đề lao. Cậu được tha, cụ Diên vẫn còn nằm ở đề lao. Cụ Diên rời đề lao sau 2-9-1977. Ba: Cậu quả quyết tôi chết rồi. Còn rất nhiều bố láo. Ba điều thôi đã đủ liệng sách “Chứng nhân” của cậu vào thùng rác. Tôi sẽ chửi nhà xuất bản Laffort cái tội rủa tôi chết.
Đoàn văn Toại cười cầu tài:
– Tôi kể đại ông ơi!
Tôi nhìn thẳng mặt anh ta:
– Điều nầy ngoài cuốn sách. Cậu là thằng bất nhân. Đã cho tôi chết, cậu còn bảo tôi làm “ăng-ten”
Toại chối:
– Tôi thề với ông, tôi không hề bêu nhục ông. Đứa nào nói với ông vậy?
Tôi chậm rãi:
– Bạn cậu, Vũ Ngọc Yên, tạp chí Độc Lập bên Đức.
Đoàn Văn Toai câm họng. Tôi cười xòa và bốc anh ta chín từng mây. Toại khoái chí chửi Trương Như Tảng cù lần, Hoàng Văn Hoan đần độn, Nguyễn Công Hoan ngu dốt, Tô Văn cố đấm ăn xôi… Anh ta nói về đài phát thanh sẽ lập ở Tân Gia Ba, gợi ý mời tôi bằng cách than thở thiếu nhân tài. Nội tình của phe nhóm anh ta, anh ta kể vanh vách. Tôi nghĩ thầm: Mẹ kiếp, mày nhóc tì, tuổi ít hơn ông, ngu hơn bò mà cứ đòi đi mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc ông à? Ông vừa trổ đòn nhà báo, mày đã tự khai vung xích chó. Hết chai rượu đỏ, tôi nói:
– Thôi nhé, chut tình đồng tù đề lao đến đây chấm dứt. Cậu đi đường cậu, tôi đi đường tôi. Mai này tôi đánh, cậu rán mà đỡ. Tôi thích sòng phẳng.
Chúng tôi chia tay. Ít tháng sau, Toại gửi cho tôi một bức thứ từ Liễu Châu. Anh ta ba hoa: “Đã thăm mộ các liệt sĩ quốc gia, sẽ không còn sai lầm như họ”. Tôi suýt chửi thề. Đó, người y tá tù đề lao Gia Định khu C-1, nhà cách mạng lưu vong Đoàn Văn Toại, với đầy đủ tài năng và tư cách, người đang chu du thế giới bằng tiền Tàu, tranh đấu cho giấc mộng Tôn Sĩ Nghị cùng đám Hoàng Văn Hoan, Trương Như Tảng. Và tôi, tôi ngồi trên lầu 8 của cái immeuble bên bờ sông Seine, thành phố có thị trưởng Jacques Laloe, là đảng viện cộng sản, có tổng hành định của Georges Marchais, Tổng bí thư Đảng cộng sản Tây, viết sách mưu sinh. Bởi nghèo, nên bị cư trú tại Ivry Sur Seine. Bởi chống cộng, nên bị Jacques Laloe lờ tít mọi trợ cấp xã hội, y tế. Không sao, tôi đã chống cộng, tôi đang chống cộng, tôi còn chống cộng đến tối. Tôi anh dũng thấy mẹ, tôi chống cộng trong lòng địch!
Trở lại đề lao Gia Định, nơi tôi đang học môn Thống Khổ Nhập Môn. Tôi ở 6C-1 đã 2 tuần, đã quen với sinh hoạt phóng này. Tôi không còn gớm ghiếc nhìn đống mài ghẻ mà trực sinh quét gom buổi sáng. Bạn thử tưởng tượng mài ghẻ mủ và mủ ghẻ dính nhớp nhúa trên bục nằm, mỗi sáng. Người ta phát cho chúng tôi miếng bố tời, vừa để chùi chân bước lên cầu tiêu vừa để lau bục nằm. Ở đề lao, dép cất kỹ trong bị, chỉ mang khi bị gọi lên phòng chấp pháp làm việc. Làm việc, danh từ cộng sản, có nghĩa là làm việc với công an, có nghĩa là viết tự khai và chịu đựng những cuộc thẩm vấn điên đầu. Người cộng sản chơi chữ rất xảo quyệt. Một ông Ba Tàu đã phát biểu ý kiến ở phòng B, Sở Công An: “Lù má ló, pắt pỏ tù lại pảo li học tập. Lấy cung lại pảo làm việc. Nhà tù lại pảo trường học. Cai ngục lại pảo quản giáo, cán pộ!” Chữ nghĩa của cộng sản đã huyễn hoặc thế giới. Cho đến hôm nay, báo chí người và cả báo chí mình vẫn viết nhà tù, trại tập trung khổ sai lao động là Trại học tập cải tạo! Ở khắp nơi tôi đi làm chứng nhân, người ta đều hỏi tôi: “Ông được học tập ra sao?” Và tôi đã trả lời: “Tôi chẳng được dạy dỗ gì cả. Người cộng sản có một mục đích rõ rệt. Họ làm chúng tôi sợ hãi, bắt chúng tôi khổ cực và bỏ chúng tôi đói. Càng kéo dài sự sợ hãi, khổ cực và đói, chúng tôi càng sa sút tinh thần. Khi biết chúng tôi tàn lụi ý chí phấn đấu, đó là lúc họ thả chúng tôi về. Và họ đã đạt kết quả. Đa số, chúng tôi về mất trí, thành phế nhân. Có nhiều người đã được xuất ngoại chính thức theo chương trình ODP, sang Mỹ, sang Tây … vẫn chưa hết ngẩn ngơ, ngơ ngác. Chúng tôi học tập sợ hãi, khổ cực và đói. Bất cứ tù nhân nào vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói, thì sẽ tự học ở đó những ý nghĩa rạng ngời của cuộc sống, của lý tưởng chiến đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền.” Tôi không dám nói thêm: “Nhưng không dám vượt qua sợ hãi, khổ cực và đói thì sẽ ăn vụng thịt dưới bếp, ăn cắp cơm cháy, ăn tranh phần cơm heo và tự đòng hóa mình với súc vật”. Vậy thì, làm việc là danh từ hãi hùng của tù nhân. Bạn sẽ mệt lữ cò bơ với làm việc. Làm việc ở đề lao Gia Định, là bị truy nã dĩ vãng, hiện tại; ở Chí Hòa là bị đánh học máu mồm; ở các trại tập trung là vào nhà lô, ăn đòn nhừ tử.
Tôi chưa bị ghẻ. Hồng Dương đã bắt đầu. Nhờ không biết ăn mắm ruốc và cá biển, một vài mụn ghẻ nước của tôi chịu thuốc xanh ngay. Tôi dùng mũi kim băng khều mụn, nặn đến máu chảy ra rồi thấm khô, chấm thuốc. Là mụn ghẻ mọc mài. Mỗi tù nhân đề lao đều có một cái kim băng và phải dấu kỹ. Khi bị ngứa, ngày cũng như đêm, tôi lấy bàn chải đánh răng chà lên chỗ ngứa. Nếu gãi bằng móng tay, gãi cho đã, da sẽ bị xước. Và chỉ cần da xước một tí là ghẻ mủ cấp kỳ. Ghẻ nhà tù “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” hơn xã hội chủ nghĩa. Hàng chục thứ bệnh truyền nhiễm ở phòng giam tập thể, nhưng tù nhân không được chích thuốc ngừa. Sự khôn ngoan chống ghẻ của tôi bắt tôi phải đánh răng bằng cái bàn chải tôi đã gãi khắp thân thể. Không có sự khôn ngoan nào không bị trả giá. Sự khôn lớn của con người bị trả giá đắt nhất. Phòng 6C-1, ngoài mấy tên trộm cắp vô lại, mấy tên Mafia cơm nước, mấy “chuyện buồn nhỏ nhặt”, không đáng chi phải để phòng. Tôi yêu nhóm anh em trẻ phản động Hóc Môn, Bà Điểm. Người của Mười tám thôn vườn trầu đã được hai kép hát Út Trà Ôn và Thành Được diễn tả điêu luyện và rung động trong Người ven đô như những chiến sĩ “Chống Mỹ cứu nước” phi thường lại cũng chống cộng cứu nước phi thường. Nếu tôi đã ngờ vực Trương Phiên, tôi hoàn toàn ngưỡng mộ và tin tưởng tinh thần chống cộng của nông dân trẻ miền Nam. Bắt đầu, ở phòng 6C-1, tôi suy nghĩ về cuộc tân cách mạng Tây Sơn 2. Tôi đã nói chuyện nhiều với nhóm anh em Mười tám thôn vườn trầu. 6C-1 có một người tên Nga, tâm sự na ná Moritz của Gheorghiu. Anh ta nuôi heo cho một chủ trại ở Thủ Đức. Vợ anh ta đã chết. Anh ta làm gà trống chăm sóc đứa con gái 8 tuổi. Chủ trại bị bắt. Anh Nga bị bắt theo. Người ta chụp lên đầu anh cái mũ phản động … nuôi heo để dễ ăn cướp bầy heo. Anh Nga xin đem con gái vào tủ. Người ta từ chối. Cả ngày, anh ta ngồi xổm trên thành hồ nước hết khóc lại thở dài. Này bạn chống cộng sản và bạn thân cộng sản, có bao giờ bạn thấy một người vô sản ngồi khóc nhớ con trong nhà tù cách mạng vô sản về tội nuôi heo? Chẳng bao giờ bạn thấy cả. Vì bạn không bao giờ ở tù cộng sản. Vậy bạn nên suy nghĩ về cái gọi là bản chất và hiện tượng cộng sản, xuyên qua thân phận người vô sản cùng khốn tên Nga. Chừng suy nghĩ đắn đo, chín muồi, bạn sẽ có thái độ chính trị quyết liệt, dù chống cộng hay thân cộng. Tôi vốn khinh bỉ mọi sự làm dáng chính trị. Nó không thấm khô nước mắt của anh Nga nuôi heo, nó không lau sạch mủ ghẻ trên bục xi măng nhà tù.
Tôi chưa kể chuyện người bạn tuổi nhỏ của tôi, nhà văn Từ Kế Tường, cũng bị bắt, bị đưa về đề lao Gia Định và đã tạm trú ở 7 C-1. Từ Kế Tường trốn quân dịch. Giám đốc Nha Quân Pháp của Bộ Quốc Phòng ký cho cậu ta đầy đủ giấy tờ hợp lệ như một sĩ quan. Từ Kế Tường lãnh lương và đóng thêm tiền mồ hôi nước mắt, nộp cho cai thầu lính kiểng. Cậu ta mặc quân phục, mang phù hiệu quân pháp, đeo lon thiếu úy công khai. Sau hai năm, lên trung úy. Từ Kế Tường dại dột diện quân phục về ngõ nhà mình. Khi các sĩ quan đi trình diện học tập hết, không thấy Từ Kế Tường ra đi, mấy đứa ác độc gần nhà cậu ta tố cáo cậu ta trốn học tập cải tạo. Từ Kế Tường bị bắt. Nằm đề lao chưa kịp ghẻ, nhờ ông bố tập kết bảo lãnh nên hồ sơ… lính kiểng được cứu xét lẹ. Từ Kế Tường về đời xã hội chủ nghĩa, làm tới chức Chủ nhiệm Nhà Văn Hoá quận 4. Báo Tuổi Ngọc phá kỷ lục vào tù. Chủ nhiệm Duyên Anh, chủ bút Đinh Tiến Luyện, thư ký tòa soạn Từ Kế Tường. Cuối năm 1981, được tin tôi ra trại, Từ Kế Tường, Nguyễn Thanh Trịnh, Đinh Tiến Luyện đến thăm tôi. Luyện đã phiêu lưu các trại tập trung Suối Máu, Bù Gia Mập, Tống Lê Chân và làm nghề buôn bán hạt giống, nước mắm. Trịnh làm công nhân xưởng dệt quốc doanh, cộng tác với báo Tuổi trẻ. Pham Đình Thống bán thuốc tây chợ trời. Chúng tôi vẫn dành cho nhau nguyên vẹn tình cảm nhưng tư tưởng đã tạm ngăn cách. Và đó là nỗi buồn của chúng tôi. Pham Đình Thống khấm khá nhờ những kinh nghiệm và thủ đoạn chợ trời. Trước ngày tôi bỏ Sàigòn, Thống mở hiệu bán thuốc với công ty bằng hữu ở đường Đồng Khánh. Chẳng biết hiệu thuộc của Thống còn tồn tại? Từ Kế Tường đã bị loại khỏi sinh hoạt văn nghệ. Nguyễn Thanh Trịnh mỗi năm chỉ được đăng hai truyện ngắn ca ngợi lao động sản xuất. Đinh Tiến Luyện vượt biên hoài không nổi, đành kết hôn với một nữ thuyền nhân hụt và yên phận chọn Tam Hiệp, Biên Hòa. Luyện đã có con gái đầu lòng. Cuộc đời đã đổi thay hết.
Một thứ không hề thay đổi. Là cung cách chiến đấu chống cộng sản. Một thứ dừng lại. Là tư tưởng văn chương của các tiên chỉ, lý trưởng văn nghệ. Một thứ trở về. Là lối kiếm tiền chụp giật để chóng giàu. Một thứ tiến bộ. Là tinh thần ăn cắp, ăn quỵt, chụp mũ.
Đầu tuần lễ thứ ba, sau khi điểm tâm, chúng tôi được lệnh chuyển trại cả phòng. Lệnh khẩn trương. Tù nhân hạ bị, giỏ, tháo gỡ hết giây, gom góp mọi đồ “tế nhuyễn”, đem ra xếp thứ tự thành một hàng dài ngoài hành lang. Tất cả sợ hãi và băn khoăn. Ngày mai thăm nuôi, chuyển trại đột xuất, chưa kịp báo tin, vợ con khuân quà cáp tới sẽ mất công khuân về và sẽ lo lắng không hiểu chồng, cha mình ở đâu. Như ở bên Sở, tù nhân được nhận quà của gia đình mỗi tuần một lần. Ngày này, danh từ cộng sản gọi là ngày thăm gặp. Thực ra, không có thăm, cũng chẳng có gặp. Thân nhân bỏ quà cáp (thịt khô, mì vụn, mắm ruốc, nước mắm, kẹo bánh, cà phê, thuốc lá, thuốc bệnh, thuốc rê, thuốc lào, giấy quấn, diêm quẹt, trái cây… và 10 đồng) vào bị cói hay túi vải, túi phân bón, kèm tấm giấy ghi các món quà. Công an kiểm soát các món ở sân ngoài, rồi ký tên xác nhận lên tấm giấy “danh sách quà cáp”. Món nào cấm, công an gạch xóa. Được nhận quà, thân nhân tin là tù nhân không bị kỷ luật, bèn về ngay. Những người được Sở cho phép gặp tù nhân thì ngồi chờ trong phòng khách. Các Trưởng phòng khiêng những túi quà vào một căn nhà khám xét quà cáp của khu mình. Đề lao Gia Định có ba khu, mỗi khu một ngày nhận quà. Ở căn nhà khám xét, công an chiếu cố quà cáp kỹ lưỡng. Món nào dính dáng tới nước mắm, bị đổ ra cái thau nhựa. Đũa, muổng, dĩa khoắng, quậy, gắp, rỉa xem có thư gửi lén. Rồi lại dồn vô túi ni-lông. Thịt kho ướp mắm ruốc, cá kho là vì cái thau nhựa bới tung mắm ruốc, cá kho bới tung thịt.. Đường, cà phê… bị nắn bóp. Bánh chưng bị cắt làm tư. Quà tù nghe chừng cũng đau đớn. Dưới mắt công an cộng sản, cái gì của tù nhân phản động đều … phản cách mạng cả. Thuốc lá bị xé bao, dẫu là thuốc lá cách mạng, dồn vào túi ni lông. Dồn cả 200 điếu. Vẫn thuốc lá ấy, nhà tù mua giùm tù nhân thì để nguyên trong bao! Khám xét … nát quà cáp, rồi vất bừa vô bị, vô giỏ. Lúc ấy, trưởng phòng khiêng về cửa phòng theo tên tù nhân và số phòng. Cai ngục mở cửa. Tù nhân dở đồ ra sắp xếp. Chuối là dập nát. Xoài là dập nát. Bún chả tanh mùi cá. Phở xào nặng hương vị mắm tôm. Mì vụn vương đầy thuốc rê. Thăm gặp, dùng chữ của công sản, là một thủ đoạn. Đừng tưởng cộng sản ban phát ân huệ. Thăm gặp nhằm những mục đích:
° Chính sách cải tạo của Đảng và Nhà Nước nhân đạo.
° Đỡ tốn thức ăn và thuốc men.
° Tù nhân dinh dưỡng bằng thực phẩm của gia đình mình sẽ khỏe mạnh để ở tù lâu.
° Cho tù nhân hưởng phè phỡn thành thói quen. Sẽ dọa cúp thăm gặp làm áp lực tình cảm và vật chất.
Bởi vậy, ngoài thăm gặp hàng tuần, còn cho mua hàng hóa hàng tuần. Tù nhân sợ chuyển trai, phần lớn, vì sợ mất liên lạc gia đình, ít ra, nửa tháng. Đến trại mới được gửi quà.
Sau khi tù nhân ra ngoài hết, cửa phòng khóa chặt. Mỗi tù nhân đứng cạnh hành lý của mình. Cai ngục điểm số. Chúng tôi, từng người đọc tên và số thứ tự xếp hàng.
– Số 1, Vũ Mông Long.
– Số 2, Nguyễn Thanh Chiểu.

– Số 52, Lâm Văn Thế.
Điểm số xong, cai ngục nói:
– Các anh nhớ số của mình.
Cửa phòng lại mở. Chúng tôi nhận lệnh trở vào. Cai ngục gọi:
– Số 1.
Tôi hô “có” và đi ra. Cai ngục bắt tôi đứng nghiêm, dơ hai tay lên. Hắn rờ nắn thân thể tôi khám xét túi quần, túi áo tôi. Những tên vệ binh đeo súng ngắn, đứng canh chừng. Khám người xong, cai ngục bảo tôi đổ từng đồ “tế nhuyễn” ở túi, bị, giỏ ra. Hắn kiểm soát từng món, cật vấn đủ điều. Thư vợ tôi gửi, cai ngục tịch thu. Ảnh vợ con tôi, hắn giữ lại “nghiên cứu”. Hành lý của tôi bừa bãi trên nền xi măng của hành lang khu C. Cai ngục hạ lệnh “Khẩn trương”. Tôi quơ vội nhét vào giỏ, bị. Nước mắm lẫn với quần áo. Tôi được đem hành lý vào phòng. Tù nhân thứ hai, Nguyễn Thanh Chiểu, bị gọi ra. Cứ vậy, tới tù nhân số 52. Một buổi tổng kiểm tra phòng. Cai ngục nói dối chuyển trại để tù nhân có cất dấu cái gì trong phòng cũng sẽ phải thu quén bỏ hết vào bị. Thêm một thủ thuật. Thủ thuật biến ảo. Nó không thành qui luật chết. Nên tù nhân mắc bẫy dài dài. Lần sau chuyển trại thật sự, tù nhân tưởng tổng kiểm tra, công kênh nhau dấu những thứ cần dấu trên những xà gỗ trần phòng. Thế là vất lại những gì đã dấu. Nửa tháng, có khi một tuần, tù nhân, tiếc rẻ món này bị tịch thu, mừng húm món kia thoát nạn. Là đầu óc bớt căng thẳng, sự nổi loạn ở phòng giam được bảo đảm. Tôi đã nhìn rõ tôi qua hình ảnh Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Hải Chí và tất cả tù nhân đề lao ngoài ánh sáng. Mặt chúng tôi trắng bệch, ngơ ngác. Mới đứng tại hành lang khám tư trang của tù nhân đã thấy mình hèn mọn. Mọi sự hung hăng biến đâu mất. Tôi chợt nhớ bài thơ L’albatros của Beaudelaire. Con hải âu đã rơi xuống sàn tàu. Tôi chợt nhớ bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ. Con hổ đã nằm trong chuồng. Tôi chợt nhớ thiên hồi ký ngắn của Nguyễn Mạnh Côn, nhắc lại kỷ niệm ở tù Việt Minh với nhà văn Trọng Lang 3. Anh Nguyễn Mạnh Côn, viết rất thật, rất người rằng, vì thương con, Trọng Lang đã lạy cộng sản để nó đừng giết mình. Trọng Lang đã phản ứng bằng cách miệt thị Nguyễn Mạnh Côn nói láo. Tôi vừa tìm ra sự thật. Chưa có ai lạy cai ngục cả. Nhưng tất cả đều lễ phép khi bị cai ngục cật vấn, xét hành lý. Tôi lại chợt nhớ lời khuyên của Thanh Thương Hoàng bằng thơ Sông Hồ “Chuyện buồn nhỏ nhặt liệu mà quên”.
Chúng tôi ăn cơm trưa muộn. Vì bận bịu sắp xếp và treo hành lý tù. Buổi trưa, không ngủ, tôi mò sang chỗ ông Lâm Văn Thế đánh cờ tướng. Đánh cờ để tâm sự. Chúng tôi nói thật nhỏ.
– Ông Thế, ông nghĩ bao lâu họ thả chúng ta?
– Chịu. Không ai đoán nổi. Mọi suy nghĩ về cộng sản của người quốc gia đều sai hết. Ông sẽ đi lao cải, sẽ về, tùy vào sự ổn định tình hình sớm hay muộn.
– Còn ông?
– Tôi sẽ ở đây với các ông Thái Đen, Nguyễn Thiện Giai, Như Phong chờ phép lạ. Hai nơi đến và đi của chúng tôi: Sở và Đề Lao. Người ta không cho chúng tôi ra ánh sáng đâu.
– Tại sao?
– Chúng tôi là tự điển!
Tự điển, ông Lâm Văn Thế, thiếu tá cảnh sát đặc biệt giải thích:
– Tôi đặc trách một cụm tình báo. Rất nhiều cộng tác viên tình báo không có tên. Họ lãnh lương bằng hàng trăm mật danh ổi, xoài, mít… Tôi cũng không thể biết mặt họ toàn thể. Một số nào quan trọng thôi. Cơ quan của tôi, kẻ đã di tản, người trốn trình diện. Và tôi bị bắt ngay đêm 30-4. Tình báo đánh giá đúng mức tình báo. Họ dùng tôi làm tự điển.
– Họ tra … ông?
– Phải. Bắt được nhân viên của tôi trốn trình diện hay một người họ ngờ vực là cộng tác viên của tôi, trước hết, họ khai thác người bị bắt. Nếu người bị bắt chối, họ bảo người bị bắt làm tự khai danh dự, chấp nhận mọi hậu quả nếu gian dối. Rồi họ gọi tôi ra. Họ nêu tên tuổi người bị bắt, hỏi tôi có quen biết không. Tôi nói không quen, họ dẫn tôi về phòng. Rồi họ lại gọi tôi ra, cho tôi gặp mặt người mà tôi nói không quen biết. Họ quan sát mặt chúng tôi, cử chỉ của chúng tôi để tìm ra sự thật.
– Nếu ông trả lời ông quen biết?
– Thì người chối không hề quen biết tôi can tội gian dối. Và anh ta đích thị là công tác viên tình báo.
– Có trường hợp ngược?
– Có chứ. Tôi đâu biết người bị bắt khai làm việc với tôi, tôi nói không quen. Họ dí vào mặt tôi tờ tự khai và dẫn người bị bắt ra gặp tôi.
– Rồi sao?
– Tôi bắt buộc phải làm tự điển trung thực.
Ông Thế buồn bã:
– Với công ăn ở bất cứ chế độ nào ông có thể dấu diếm được tư tưởng trong đầu óc ông mà không thể dấu diếm được các sự việc đã xảy ra. Ngoài tôi, còn các cuốn tự điển khác mà tôi không biết. Có lẽ, họ cũng bị bắt sớm như tôi. Cá nhân tôi, tôi cũng chẳng rõ ai chạy thoát, ai kẹt lại, ai trình diện, ai bị bắt, ai còn lẩn trốn. Họ sợ tình báo, họ cần quét sạch tình báo, từ lính đen sĩ quan, từ gác cổng đến bưng nước văn phòng.
Tôi hỏi:
– Như Phong dính dáng tình báo?
Ông Thế đáp:
– Ông ấy là tự điển Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Tôi đã thấy Trịnh Quốc Tài tự tra … tự điển bên Sở Công An. Và tôi đã thấy ông ta tra bạn tôi, Thanh Thương Hoàng.
– Họ cũng tra tự điển tôi về các nhà văn, nhà báo. Cơ quan của tôi không phụ trách “hồ sơ” văn nghệ sĩ.
Chúng tôi ngừng cuộc cờ. Tôi trở lại chỗ của tôi, ngồi dựa lưng vào tường suy nghĩ. Có hai đối tượng cộng sản đang truy lùng: Tình báo và đảng phải. Cộng sản thù hận các đảng Đại Việt, Duy Dân, Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là mối thù “truyền kiếp”. Rất nhiều đảng viên của ba đảng này không trình diện và tiếp tục chống đối cộng sản. Cụ thể hóa sự sợ hãi và lòng thù hận của cộng sản là Mai Chí Thọ đã đích thân chỉ huy cuộc hành quân, vây bắt trọn vẹn đàn ông (thanh niên, phụ lão) của hai làng Sống Vinh (Bà Rịa), hai làng do Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập trong kế hoạch khẩn hoang lập ấp của Phan Quang Đán. Họ sợ hãi những nhân vật chìm, những con bài chưa lật tẩy. Thứ đã lật tẩy, đã om sòm tên tuổi cỡ Vũ Hồng Khanh, Hà Thúc Ký, Đặng Văn Sung, Phạm Huy Cơ, đi hay ở, chẳng có gì quan trọng. Vũ Hồng Khanh, kẻ ngang vai vế với Hồ Chí Minh (Ở bối cảnh lịch sử 1946, còn trên cơ là khác), đã lẽo đẽo đi trình diện, đã trả lời câu hỏi “Tai sao ông chống cộng?” của tên thiếu tá quân đội nhân dân như vầy: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Câu trả lời bất hủ nầy phẩm định giá trị chiến đấu của đại lãnh tụ quốc gia. Ông Vũ Hồng Khanh đã già lắm, đáng lẽ, ông đã khước từ trình diện và chỉ chấp thuận trả lời Phạm Văn Đồng, Trương Chinh. Ông đã sợ … chết già. Ông ta ham sống như bọn lãnh tụ già bất tài vô tướng ham sống vậy. Câu trả lời bằng tiếng nói đích thực của Vũ Hồng Khanh đã được truyền thanh khắp nước, ròng rã hàng tháng. Biểu tượng quốc gia bị bêu nhục. Ông giáo Giản 4 đã tiêu diệt các đảng phải quốc gia nhỏ để Việt Nam Quốc Dân Đảng của ông chiếm đa số ghế trong Quốc Hội bịp 1946. Ông giáo Giản suýt thủ tiêu Nguyễn Mạnh Côn (Việt Nam Phục Quốc Đảng), nếu Nguyễn Tường Tam không kịp can thiệp 5. Nhà lãnh tủ đa sát này đã đứng giữa hoàng hôn giăng giối: “Sống dưới chế độ miền Nam, không chống cộng là chết!” Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Nguyễn Tú (ký giả nhật báo Chính luận, tên thật Nguyễn Ngọc Tú, nhân vật quan trọng của Đại Việt quan lai, từng chấp chính giữ ghế Tổng Giám đốc Nha Thanh Niên thời Tổng Trưởng Nguyễn Văn Kiểu) bị bắt ngay đêm 30-4-75 mà Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng, Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng vẫn đạp xe mini suốt tháng 5-1975, Tự điển người! Ghê gớm thay thủ đoạn cộng sản. Tôi bắt đầu lo ngại cho Thanh Thương Hoàng.
Anh ta đã thức giấc đúng lúc nước sôi buổi chiều vào. Thanh Thương Hoàng pha cà phê mời tôi uống.
– Vụ ấy, mày không nhận là may. Anh em bảo mày OK.
Tôi ngẩn tò te.
– Vụ nào?
Thanh Thương Hoàng cười ruồi:
– Vụ anh em đưa vợ con mày đi.
Tôi nhớ rồi.
– Bị bắt hết. Bị Mai Chí Thọ cài người gài bẫy bắt hết.
– Có chuyến đi?
– Có. Chuyến đi dính lưới toàn bộ.
– Có chiến khu?
– Có. Một nhóm sĩ quan, một nhóm lính. Đang nằm trong tay Quân Báo bên Tô Hiến Thành.
– Sao mày biết?
– Tao không dám ta-pi. Tao từ chối. Một người quen thoát lưới chuyến đi, nhờ hối lộ tên công an Phước Tỉnh hai lạng vàng, cho tao rõ. Mấy hôm sau, người ấy báo cáo thêm cả tổ chức bị sa lưới.
– Không phải là tao không nhận. Vợ tao đau nặng hôm đó.
– Vận may. Đàn bà con nít không nên vào tủ. Họ phải ở ngoài tiếp tế cho bọn mình.
Thanh Thương Hoàng thở dài:
– Bốn phương mù mịt cả. Tổ chức nào cũng dính lưới. Có tổ chức cài người vào Phường, khi bị công an bảo vệ chính trị bắt, Phường trưởng không tin người bị bắt là phản động. Trước hôm mày vô 6C-1, thằng Chín bị đổi phòng. Nó được cài vào huyện đội công an Thủ Đức. Nó chửi Mỹ tổ chức chống cộng rồi xúi cộng sản bắt!
Tôi bỗng nhớ Trương Phiên. Người Mỹ âm mưu gì nữa? Tôi hoàn toàn mù tịt. Vỗ vai Thanh Thương Hoàng, tôi hỏi:
– Mày thận trọng nhé! Tao thấy thằng Trịnh Quốc Tài viết báo cáo có tên mày, Trịnh Viết Thành, Tô Ngọc. Mày dính dáng Phủ Đặc Ủy Trung ương Tình báo hả?
Thanh Thương Hoàng giật mình:
– Không, không…
Tô Ngọc phục vụ cảnh sát đặc biệt để trốn lính như Y Vân. Trịnh Viết Thành làm báo Quật Cường của Trung ương Tình báo với Anh Quân. Còn Thanh Thương Hoàng chỉ tai tiếng vụ Làng Báo Chí. Anh ta có dính liếu với Trung ương Tình báo hay không, tôi không biết. Nhưng khi tôi nhắc nhở anh ta có tên trong báo cáo của Trịnh Quốc Tài, anh ta rầu rĩ vô cùng. Sáng hôm sau, cai ngục đến 6C-1 trước giờ phát nước sôi. Tên hắn là Sáu, dân Sàigòn, vì bị lé nên tù nhân tặng hắn biệt danh Sáu lé.
– Nguyễn Thanh Chiểu.
– Có
– Mặc quần áo ra làm việc.
Thanh Thương Hoàng vội vàng mặc bộ bà ba vải mỏng, mầu gụ. Anh ta cầm đôi giép Nhựt bước tới cửa phòng. Tù nhân ra làm việc, bất kể làm gì, đều phải ăn mặc tươm tất, đi giép. Đầu tóc có thể rối bù. Râu ria có thể rậm rạp. Quần áo không thể thiếu nghiêm chỉnh. Ở đề lao, hàng tháng, tù nhân được cắt tóc, cạo râu một lần. Tù cắt tóc cho tù. Cai ngục đứng giám sát. Cuối khu C-1, người ta dựng cột lợp tôn làm cái chái. Do đó, phòng 7C-1 thiếu ánh sáng. Tù nhân khu C-1 ra cắt tóc ở cái chái nầy. Buổi sáng một phòng. Buổi chiều một phòng. Ba thợ cắt tóc tù làm việc khẩn trương. Cai ngục mở cửa. Ba tù nhân ra một lượt. Cửa khép chặt, ấn khóa. Không có khăn quàng. Không có dao cạo. Không có kéo. Không có gương. Tông-đơ Trung quốc lưỡi thưa, thứ tông đơ cắt lông ngựa liếm tóc tù nhân. Giáo điều cắt tóc của cách mạng vô sản:
– Cắt dài là thiếu nếp sống văn hóa mới.
– Cắt trọc là chống đối.
Bởi thế, tông-đơ đẩy lưng chừng. Đẩy xong những đường tóc, tông-đơ đẩy râu ria. Tông-đơ chấm bát luôn. Năm phút một cái đầu. Cằm bị chảy máu, mép bị chảy máu, ráng chịu. Tông-đơ nhai tóc, đừng kêu ca. Ba anh này vào, ba anh kia ra. Anh nọ soi gương bằng cách nhìn đầu anh kia. Thấy mình giống quái vật. Cắt tóc xong thì bước vô phòng tắm, dùng khăn khô phủi tóc cho nhau, đợi sáng mai hãy tắm (nếu cắt tóc chiều). Ngủ một đêm với tóc vụn dính mồ hôi có sao. Ngứa thì gãi chung với gãi ghẻ cho tiến bộ, đuổi kịp nếp sống văn hóa mới.
Đầu tóc, râu ria Thanh Thương Hoàng khiếp lắm. Rõ là thằng tù! Sáu lé mở cửa. Hắn khóa lại. Tù nhân đi trước, cai ngục đi sau, đề phòng đánh lén. Cách mạng luôn luôn cảnh giác cao. Sau bữa ăn sáng, Thanh Thương Hoàng trở về. Anh ta mệt mỏi, bỏ cơm. Kẻng tù báo thức giấc trưa, anh ta ra làm việc. Cứ vậy, sự làm việc của Thanh Thương Hoàng kéo dài cả tuần. Trong khi ấy, Chóe, Hồng Dương, Thân Trọng Kỳ, Cao Sơn và tôi chưa bị gọi ra. Một buổi tối, chúng tôi ngồi bên nhau hút thuốc lá, chuyện gẫu. Thanh Thương Hoàng nói :
– Tao đã kết thúc tự khai.
Anh ta kể:
– Tao viết một câu rất hòa giải dân tộc.
Thanh Thương Hoàng đọc:
– “Chúng tôi sẵn sàng bắt tay với các anh xây dựng lại đất nước”.
Hồng Dương dẫy nẩy:
– Hỏng rồi.
Thanh Thương Hoàng vốn phục Hồng Dương thông minh, đọc nhiều. Anh ta hỏi.
– Hỏng sao?
Tôi nhanh miệng đáp:
– Mày bỏ tù nó, mày viết thế là mày cao thượng, quốc gia cao thượng. Nó bỏ tù mày, mày nói thế là mày xấc. Nó sẽ hành mày. Nó ví chúng ta là thú vật. Mày hiểu chưa? Nó đòi cắt đuôi chúng ta để chúng ta làm người. Sức mấy nó chìa tay cho mày bắt. Xấc thì hay đấy nhưng thiếu lô-gích. Thằng nào chấp pháp mày?
– Hai Nghiêm.
– Dân gì?
– Quảng Bình.
– Nó đọc chưa?
– Rồi.
– Phát biểu?
– Tốt.
Hồng Dương lắc đầu. Hôm sau, Thanh Thương Hoàng lại lên làm việc. Lúc về, anh ta uể oải:
– Chúng mày đúng. Nó bảo tay tao chưa sạch tội ác. Tao chuẩn bị vào cachot. Nó bảo vậy.
Thanh Thương Hoàng sửa soạn hành lý. Ngay buổi chiều, anh ta rời phòng 6C-1 vào cachot số 4 của khu C. Thanh Thương Hoàng nằm cachot một tuần thì bị đưa trở lại Sở Công An. Từ đó, tôi mất tin anh. Tháng 9 năm 1981, về đời, tôi biết anh bị lưu đày lên Pleiku cùng chuyến đi với Doãn Quốc Sĩ. Gặp Sĩ, anh nói tác giả Cánh chim mỏi rã rượi lắm. Anh ta rụng hết răng, tê liệt. Người vợ thứ nhất của Thanh Thương Hoàng là con gái của Lê Khải Trạch đã không còn ở với anh từ lâu. Mọi sự nuôi anh trong tù do người vợ thứ hai. Người nầy tiếp tế anh đầy đủ. Nhưng chị ấy đã vượt biên. Người vợ thứ nhất lo việc tiếp tế. Chị ta nghèo, thiếu phương tiện thăm chồng xa xôi. Thanh Thương Hoàng trở thành “con bà phước” ở rừng núi Gia Trung 6. Anh ta hào sảng lắm, ở Sở Công An, ở đề lao Gia Định. Trên Pleiku có ai hào sảng với anh? Tất cả đã là tù nhân. Tất cả đều là bạn tù. Bạn tù trong danh ngôn nghiệt ngã “Bạn tù, tình nhà thổ”. Khi nỗi khổ kéo dài mòn mỏi, khi sự phú quý đi giật lùi, con người đâm ra bần tiện, chỉ còn biết nghĩ đến mình. Mọi thù hận lẫn nhau phát xuất từ đó. Anh em nguyền rủa lẫn nhau, nói xấu lẫn nhau. Ra khỏi tù, anh em không quên thù hận, vẫn nguyền rủa nhau, nói xấu nhau, gặp nhau không thèm nhìn mặt. Đó là mục đích trong những mục đích của học tập cải tạo tư tưởng!

Chú thích
Đọc Sỏi Đá Ngậm Ngùi, cùng một tác giả, Nam Á Paris xuất bản 1985.
Trong bộ tiểu thuyết Hồn Say Phấn Lạ, tôi khai triển tư tưởng cách mạng Tây Sơn.
Đã đăng trên tạp chí Bách Khoa, tôi quên số và tháng, năm phát hành.
Vũ Hồng Khanh, xuất thân là giáo làng.
Đọc Hồi Ký Nguyễn Mạnh Côn, tạp chí Bách Khoa.
Nghe nói anh đã được tha vào năm 1986.

ĐẦU XUÂN, BƯỚC CHÂN QUA VÙNG “XÔI ĐẬU”…

 

( Kí sự)

“ Có ai qua vùng hỏa tuyến.
Nhắn cho tôi đôi lời….”

Có cô ca sĩ nào đó , có cái giọng lạ, hớp hồn tôi bằng một bài hát của nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Một giọng ca thiên phú,  chỉ dành riêng cho dòng nhạc vàng_  trong trẻo và da diết. Chất giọng mềm và chân, hầu như không có sự luyến láy của học thuật bỗng dưng làm thăng hoa một cái gì đó đã quá cũ kỹ. Một thứ đã qua tay quá nhiều người, trong việc cố gắng làm sống nó , bằng khá nhiều hình thức, nhưng gần như thất bại. Em đã thành công , ít ra trong tôi, nhờ một vấn đề mà những người đi trước đã bỏ qua hoặc không chú ý đến. Sự chân chất…. và chiếc lư xỉn màu vì thời gian trên đôi tay thành tâm của người thợ đánh bóng trong những ngày giáp Tết, qua vài vòng cọ xát với lượt vải mềm, một màu đồng sáng chợt hiện ra, lóe lên, ngời ngợi …. chao lòng người!

“ _ Ai hát vậy em?” Tôi ngoái cổ lại, hỏi thăm cô chủ quán.

“ _ Ca sĩ Hồng Trúc đó anh!”

Cái tên nghe lạ!  Tôi cố gắng ngồi nán lại trong cái  quán cà phê nghèo ven sông để nghe cho hết bài hát.

****

Đi làm ở Sài Gòn khá lâu và nhiều buổi chiều, khi đi làm về , tôi thường đứng hóng mát trên cầu Sài Gòn. Tôi đứng từ chạng vạng đến lúc đỏ đèn, khoảng tiếng đồng hồ,  để nhìn dòng sông mênh mang, trãi rộng trong tầm mắt. Nghe âm thanh lạch bạch quen thuộc của những chiếc võ lãi, dõi theo  những chiếc ghe bầu cũ kỹ, ì ạch chở sản vật của từ những vùng quê lân cận mang xuống thành phố . Con sông quanh năm suốt tháng  chỉ mang một màu phù sa đùng đục  ….thứ màu  của bùn đất, của lam lũ ..xuôi qua phố thị náo nhiệt, tráng lệ. ….Đôi lúc tự hỏi có con sông nào trên thế giới,  mang những hình ảnh tương phản như phần đặc trưng của sự sống chính mình thế này hay không ?…. Đứng nhìn những xoáy nước cuộn dưới chân cầu, cũng tội những mảng riều, lục bình trăm năm cứ lẩn quẩn mãi ở một khúc sông, không ra được tới biển , theo con nước ròng vừa qua được chân cầu lại gặp con nước lớn đẩy ngược trở lại, cứ như thế, theo dòng thời gian, một sự giành giật chà xát không khoan nhượng giữa những thế lực tự nhiên mạnh mẽ hơn nhiều…

Cầu Phú Cường_ Thủ dầu Một  , mồng tám Tết Đinh Dậu ( 2017). Một thứ dây leo trùm lên thân cây tràm, cho những chùm quả đỏ mọng lạ mắt , dẫn tôi theo một con đường tôi chưa hề có ý định rẽ vào.  Bên trái là cung đường khá quen thuộc lúc tôi còn làm công trình ở Tây Ninh. Cầu Phú Cường, vắt ngang sông Sài Gòn (đoạn này có tên Sông Cái ), theo tỉnh lộ 8, lên đến trung tâm huyện Củ Chi, hòa nhập vào quốc lộ 22, sau đến Trảng Bàng rồi Gò Dầu…Còn rẽ phải, cầu Rạch Trầu, kho xăng dầu Thalexim….gì gì nữa, tôi chịu, chỉ biết nó dẫn lên vùng thượng nguồn sông Sài gòn, hồ Dầu Tiếng, chiến khu  Dương minh Châu…. Cung đường vắng vẻ, đã rãi nhựa. Bên trái, trãi ra đến mé sông, khu đô thị Chánh Mỹ  với những khu biệt thự dành  cho người nước ngoài thuê hoặc cho những đại gia người Việt đứng biệt lập, sau bức tường rào và hàng cây cao được tỉa tót cẩn thận.  Loáng thoáng màu áo xanh biển của những tay bảo vệ  và màu trắng của người phục vụ.  Gần 9 h, không gian im ắng. Một vài  công ty cở nhỏ đóng cửa im lìm, chưa hoạt động.   Đoạn qua làng Mỹ Hảo,  cư dân hai bên đường có vẻ đông đúc hơn.  Một ngôi làng đẹp, lâu đời với những con đường nhỏ láng xi măng, sạch sẽ. Cư dân theo đạo công giáo, niềm nở và tốt bụng, sẵn sàng dành thời gian để trả lời những câu hỏi cho khách qua đường . Những nụ cười đôn hậu không quên được. Cuối làng là một nghĩa trang  và một ngôi nhà thờ nhỏ…. Khu phố Mỹ Hảo 2 là những mảnh đất đã phân khu nằm trong quy hoạch, nhưng có thể thiếu kinh phí hoặc chưa có nhà đầu tư nên gần như bỏ hoang. Vài cụm dân cư, trường học nằm cô lập. Mái ngói đỏ au, những bức tường mới xây cho cảm giác đây là khu dân cư mới ….Và thú thật, cái mới không hấp dẫn tôi lắm. Như một kẻ háo chuyện tinh vi… và cái mới có gì để nói.

Qua cầu Bà  Cô….một ngã ba, rẽ tay trái… Một ngôi đền có biển cảnh báo đang sửa sang và những cây dầu cổ thụ thẳng tắp , cao ngất ngưỡng. Không gian mát mẻ hẳn lại.  Tôi hỏi người đàn bà đang bán hàng bún mì gần đó: _ “ Đền thờ ai vậy chị?”  _” Đền thờ ông Phan Thanh Giản”. Chị trả lời , quay lại với câu chuyện đang dở với bà khách   “….Trời tối mò. Đạn bay lẹt xẹt xanh lè. Mấy ông lính la hét quá trời…” . Thấy không tiện hỏi thêm, tôi đứng bên đường, ngóng vào. Cánh cửa vào đền đóng kín. Một bệ thờ cũ, án ngữ phía trước, có họa tiết, che chắn tầm nhìn. Phía trong có tượng một con cọp đang nằm vẻ phấn khích với cái đuôi  cong vểnh lên. Lạ so với nhiều con cọp tại những ngôi miếu cổ , mà tôi từng biết. Sâu hơn một mái ngói đã hư hỏng khá nhiều. Tường gạch đôi chỗ không còn nguyên vẹn….Ngôi đền trông xập xệ và thiểu não. Tôi đứng nhìn loanh quanh, những ngôi nhà bên đường không còn mới, nhưng cũng không gọi là cũ, tầm độ mười, mười lăm năm đổ về sau. Điều đáng chú ý là khá nhiều những ngôi mộ nằm trong khuôn viên nhà. Những ngôi mộ được xây bằng loại đá ong đỏ, đã sẫm màu. Một số bị thời gian bào mòn, vẹt đi. Tôi có lấy tay, khẩy khẩy vài nơi. Không một vụn đá rơi ra. Đá khá rắn và chắc chắn….Một vùng đất lâu đời, có từ thời khai thiên lập ấp của Chúa Nguyễn, nơi dừng chân một bộ phận giống nòi Giao Chỉ trong cuộc Nam tiến. ẩn mình bên mép sông Sài gòn, cách thành phố Thủ dầu Một khoảng mươi cây số về phía Tây Bắc, Sài Gòn khoảng bốn mươi cây theo đường chim bay. Phía Nam góc hợp lưu của con sông Sài gòn và Thị Tĩnh, nơi có những trận giao tranh lớn giữa quân Giải phóng và quân đội Sài gòn , vào những năm 72-74. Bên kia sông là Củ Chi, Đất Thép,  địa danh giành giật không ngưng nghỉ của hai phe vào những năm chiến tranh… Làng Tương Bình Hiệp, Bình Dương.

Tôi quay lại, hỏi người đàn bà , lúc này đã rỗi việc, đang với cái khăn lau.

“_ Chị dân đây hả chị?”

“ _ Tui dân đây lâu rồi!”

Người đàn bà cũng thật khó đoán tuổi. Dấu ấn thời gian bị trượt khá nhiều trên sự cơ cực và những biến cố tác động lên con người. Ngặt thay những tác nhân này quá đậm nét làm khuôn mặt người đàn bà trông già nua một cách đáng kể. Ẩn số cứ tiếp tục gia tăng cho đến khi một phản xạ quay ngoắt để tránh mấy con ruồi, làm tôi nhận ra, chị không lớn tuổi như tôi tưởng.

_ Vùng này trước đây an ninh không chị?

_ Đánh nhau ….

_  Chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

……

Người đàn bà không trả lời tôi, cặm cụi với việc lau mấy cái tô, như không nghe. Hoặc chị không muốn nói chuyện với người lạ….hoặc câu nói của tôi là một sự vô tình đánh động một điều gì đó…” _ Trời ! Sao cách nhau chỉ một con sông mà con người khác dữ!”  . Biết không thể đứng thêm, tôi chào chị, quay đi. Nghe phía sau em ém một tiếng thở dài đánh sượt….Hỏi sau bốn mươi mấy năm dư âm một cuộc chiến có còn ẩn náu đâu đó trong lòng người ???

****

Vùng xôi đậu là một danh từ có trong thời chiến tranh. Cuộc chiến kéo dài 30 năm trên đất nước này, hàm chỉ một vùng đất nằm trong sự tranh chấp giữa hai phía, (Lúc bên này, lúc bên kia …. hoặc sáng bên này, tối bên kia)  thay nhau dành quyền kiểm soát. Trong thời gian kiểm soát dù là ngắn ngủi, các bên cũng cố gắng áp dụng những biện pháp ‘khả thi’ để củng cố chính quyền  của mình.  Ban đầu cũng khá dễ dãi nhưng về sau sự tinh vi và khắc nghiệt cũng tăng dần theo mức độ  leo thang của cuộc chiến, khi máu đã đổ và những hạt giống của thù hận bắt đầu được gieo rắc khắp mảnh đất Việt. Vào quãng cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, má tôi lúc ấy còn là thiếu nữ khoảng mười tám đôi mươi. Ở  Nha Trang nhưng bà vẫn cùng bạn bè cùng độ tuổi đi chơi  vào tận miền Tây. Sóc trăng, Sa đec, Cần Thơ….Nhiều lần cũng ra vào vùng tạm chiếm phía bên kia. Bà kể cũng chẳng có chuyện gì xảy ra, nếu gặp Việt Minh chỉ khai đi chơi thôi, người ta cũng cho qua…. Tôi tin rằng sau hiệp định Genève ( 1954) có một giai đoạn người Việt phía bên này và người Việt phía bên kia vẫn rộng lượng với nhau, đối xử với nhau trong tình người, có thể do niềm tin  vào một nền  hòa bình quá lớn lao hiện hữu gần như trước mắt ….. Có lẽ cuộc chiến nên dừng lại ở đó. Chiến tranh nên kết thúc sứ mạng của mình trên đất nước này vào thời điểm ấy. Nhưng không cuộc chiến lại tiếp tục với cường độ cao hơn nữa, trãi rộng hơn nữa, kéo dài thêm hai mươi năm, với bàn tay can thiệp sâu hơn  của những cường quốc. Hai mươi năm cho bao sinh linh, bao tinh hoa nước Việt cả hai miền nằm xuống, bao tài nguyên bị phá hủy, bao sự lệ thuộc nặng nề, bao hệ lụy tối tăm trở thành ý thức hệ, hận thù chất đống….

Dạy cho con tiếng nói thật thà

Dạy cho con chớ quên màu da

Ôi lũ con cùng cha

Quên hận thù…..

Lời ru của Mẹ Việt như thúc thủ giữa tiếng súng đạn gào thét trên tay những đứa con say máu…

Khác những cuộc cách mạng mà khoa học ký thuật mang đến cho nhân loại,- nhằm làm thay đổi nhận thức, hành vi, cuộc sống… diễn ra một cách hiền hòa  thâm nhập một cách êm thấm  vào đời sống con người vào cuối thế kỷ 20. Đại diện như computer, internet, điện thoại di động trong truyền thông….tự động hóa  trong sản xuất, vật liệu mới cho xây dựng….Những sản phẩm đã khá tinh xảo của nền công nghiệp cơ khí  vào thập kỷ  50-60 đến với tay người nông dân Việt, vốn chỉ quen nẫu với đồng lúa, con trâu, các sản phẩm tre , gỗ …hì hụi thổi bể cùng lắm cho những lưỡi cày, cái mác….nay được ấn vào tay những công cụ cáu cạnh của hãng Colt, Kalashnikov… có khả năng phun ra 1200 hòn chì/ phút. Một cuộc cách mạng dữ dội , mạnh mẽ đến bạo tàn điều đáng tiếc những thứ ấy chỉ được gắn với mỗi một nhiệm vụ: hủy diệt và giết chóc….

Những  vùng xôi đậu mọc lên ngày càng nhiều, những con người khốn khổ còn lưu  trú ẩn trong những địa danh rặt ngôn từ Việt với ý thức bất di bất dịch là giữ lấy mảnh đất tổ tiên, bám lấy mảnh ruộng, miếng vườn của cha ông bị quăng đi, quật lại với mật độ cao hơn nhiều. Cái chết , sự hoại thương không chỉ nằm ở  những hòn chì, miểng bom của ngoại bang ….mà còn nằm ở sự hành xử nhẫn tâm giữa con người với con người chung một giống nòi.

Trong một đất nước lịch sử vốn được xây dựng bằng những cuộc nội chiến từ thời Lê Mạc (1533-1677) ,Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1672), (1773- 1775) Tây sơn – Chúa Nguyễn (1771-1802) tổng cộng vào khoảng 173 năm. Đối tượng cho người lính cả hai bên nhắm vào không đơn thuần là một đối phương với vũ khí, quân phục…hoặc những dấu hiệu cụ thể để nhận biết đó là địch quân  mà còn là những người dân tay không, trong vùng tranh chấp . …..Gần hai thế kỷ,  liệu có cho những người lính một kinh nghiệm tác chiến hiệu quả trong môi trường đặc trưng này không, hay chỉ cho ra đời một câu vè “ than vắn, thở dài” cho sự bế tắc.

“ Bạc như dân, bất nhân như lính”

Vị thế người dân trong vùng xôi đậu được đặt lên đỉnh một con lật đật không biết sẽ ngã nghiêng theo chiều hướng nào….

Cuộc chiến kéo dài đủ lâu để con người sống trong môi trường đó mang hai khuôn mặt riêng biệt. Một cho bên này và một cho bên kia. Một cho những người lính quân đội Sai gòn ban ngày và một cho những người Việt Cộng ban đêm. Với từng chuỗi ngày đêm, bản năng sống còn đã khoác lên những con người còn sống, những chiếc mặt nạ hóa trang kệch cỡm nhất, buồn bả nhất của người nông dân Việt vốn có tự trọng, nhưng lại “thấp cổ, bé họng” trước sự ưu thắng của những kẻ cầm vũ khí. Con người bỗng trở thành những nghệ sĩ nghèo nàn trong hoạt cảnh đầy tên bay, đạn lạc và chết chóc là có thực. Ngày nào vở tuồng ấy cũng diễn ra ….. Hai mươi năm trời dăng dẵng, nếu còn sống sót, liệu những chiếc mặt nạ có dính sâu vào trong da thịt??? Những người đã chết, liệu họ có trút bỏ được chiếc mặt nạ đang đeo????

Dân cư vùng “ Xôi đậu” thường chỉ còn lại những người đàn bà, những người già _đã quá già cho một sự tranh chấp, những đứa nhỏ còn quá nhỏ đế suy nghĩ, những người đàn ông hầu hết đều đã có con đường cho chính họ, hoặc ở bên này, hoặc ở bên kia ….Thực ra trong lứa tuổi cầm súng hoặc còn có khả năng cầm vũ khí, việc khẳng định sự trung lập trong thời buổi chiến tranh, là điều vô cùng khó khăn. Những luật lệ hoặc chẳng cần luật lệ của cả hai bên đều được áp dụng để đẩy bật những người đàn ông khỏi nơi trú ẩn của họ, hoặc chèo kéo họ về phía mình, hoặc những cuộc thanh lọc không minh bạch với mục đích loại trừ những đối tượng có khả năng gây nguy hiểm ….và những người đàn ông thường là những mục tiêu đầu tiên được nhắm đến.

Đặc tính địa phương của những vùng xôi đậu khá phức tạp và đa dạng, là những nơi xa xôi, hẻo lánh miền cao nguyên trung phần, dân cư thưa thớt, những xóm chài ven biển heo hút, những đồn điền cao su bạt ngàn miền Đông Nam bộ, hoặc  nằm rìa những vùng đất trù phú miền Nam có khả năng cung cấp lúa gạo, những vùng đệm sát nách những thành phố, thị trấn …nơi có thể tạo một sự đe dọa về mặt quân sự …Nhưng dù ở đâu đi nữa, dù được ngợi ca thế nào đi nữa, chiến tranh vẫn mang đến sự tệ hại thứ hai sau chết chóc và tàn phá là những cộng đồng tan nát, rục rã sự tin cậy lẫn nhau giữa con người và con người. Người ta luôn sống trong sự hoài nghi. Những người,  gia đình có người thân theo phe bên này nghi ngờ những gia đình có người bên nọ. Anh em một nhà có chí hướng khác nhau cũng mất đi sự tin tưởng vào nhau. Hàng xóm láng giềng  trở nên nghi kỵ. Những cuộc chiến tuyên truyền của cả hai bên là những chất xúc tác mạnh mẽ cho sự chia rẽ sâu sắc này. Có lần qua một địa phương ở miền Trung, tôi có nghe một người đàn bà, tâm sự : “ Ngồi nói chuyện một đám. Biết bả là dân bên kia nằm vùng. Nhưng không ai nói ra….” Cái từ “ Không nói ra” của người Việt không bao hàm hàm ý ủng hộ hoặc ghét bỏ, nhưng ẩn chứa thái độ dè chừng, tạo khoảng cách….Điều này không loại trừ những việc để tạo một cảm giác an toàn cho cuộc sống chính mình, cho gia đình mình….đôi lúc họ buộc phải làm những việc thật nhẫn tâm. Dù trái với cái nhìn đạo đức được nhìn nhận là truyền thống, nhưng trong chiến tranh, nó được khuyến khích bởi các thế lực…và thù hận theo sau là hệ quả khó tránh.

***

Tôi ngồi đối diện với Má trong cái quán nhỏ. Nắng xuân đậm đủ để ghim những cánh mai bên kia đường trong một sắc vàng tươi tắn, cho cảm nhận rõ rệt về sự ưu ái mà tự nhiên dành cho mọi sinh vật trong cái mùa phồn thực.  Những con gió nhẹ từ phía sông Sài gòn thỉnh thoảng tràn qua, làm chao nghiêng mấy con bướm, lật lên một sự tương phản mang tính đối kháng chẳng bao giờ đi đến đồng nhất của cái đẹp với cái đẹp. Con đường nhỏ vắt qua làng đã tráng nhựa nhưng chắc đã lâu không duy tu nên để lại những ổ gà lởm chởm. Ngôi miếu nhỏ thờ Bà chúa xứ bằng xi măng dựng ven đường không gây được sự chú ý cho lắm bởi khá thấp và sơ sài. Má  bảo có gian thờ lớn phía trong kia….

Má tên thật Nguyễn Bạch Nhạn, năm nay đã chín mươi  ( sinh năm 1927), có đến 9 người con. Cô con gái út bán bún mì cũng xấp xỉ  năm mươi ,đã có cháu ngoại. Người chồng gia nhập Việt Minh thời kháng Pháp , sau này theo Việt Cộng chết vào năm 1969 dưới Bình Thung (thị trấn Dĩ An), mói chuyển di cốt về gần được vài năm. Ở lứa tuổi như vậy nhưng đầu óc người đàn bà này vẫn còn khá minh mẫn. Tôi thật sự thán phục khi nhìn bà bán hàng. Những phép tính cộng trừ nhân chia được bà nhẩm tính một cách nhanh chóng và chính xác, nhanh hơn cả nhưng cô bé đáng tuổi chắt bà.  Điều này có lẽ mang đến sự đối lập với cái vẻ bề ngoài đã chậm chạp vì tuổi tác. Vóc người thấp nhỏ, khuôn mặt rất có nét, chắc lúc trẻ khá đẹp….nhưng đôi mắt ….Đôi mắt khá lạ! Đôi mắt xám và trơ.  Đôi mắt chẳng bao giờ nhướn lên hoặc nheo lại khi cười. Đôi mắt lành lạnh của sự đóng băng. Không hiển thị một điều gì và không điểm kết thúc khi nhìn vào nó….Nhưng khi nói chuyện,  như một đặc điểm đáng quý của những người đàn bà Nam bộ , suốt chiều dài câu chuyện là  thời điểm mà sự cả tin bị mê hoặc bởi tính chân chất và thật lòng.

Bà sinh ra và lớn lên tại làng Tương Bình Hiệp này. Gia đình cũng khá giả nên được học hành đầy đủ. Có bằng Thành Chung (Primaire), sau đó gia đình không cho học nữa, ở nhà làm ruộng, gia chánh. Năm 17 tuổi lấy chồng.  Năm 19 tuổi theo chồng ra bưng kháng chiến, xuống tận Đồng Tháp Mười, làm y tá. Được biết với cái tên Hoàng Anh Phụng ( đi Việt Minh mà tên đẹp dữ) và những giai thoại về việc cứu sống khá nhiều thương bệnh binh trong đó có việc truyền dịch bằng nước dừa…. Má kể có lần có một anh thương binh bị mày bay Pháp bắn lủng ruột, anh này còn khá trẻ khoảng 16-17. Nằm trên sạp mỗi lần tỉnh ảnh cứ nắm tay Má, kêu “ Chị ráng cứu em sống… Em còn bà già ở nhà….” Nhưng lúc đó thuốc men khan hiếm, không nước biển, cứ nước dừa mà truyền, nên vài hôm sau anh chết. Cái chết của người lính đó làm Má ray rứt một khoảng thời gian dài, vì không biết được tên tuổi, quê quán và cả gia đình ảnh sống ở đâu. Nghe phong phanh đâu Mĩ Tho, nhưng đất mênh mông biết đâu mà tìm….Sau 1954 đình chiến, người Pháp thua trận, Hiệp định Genève được kí kết, đất nước chia đôi hai miền, những người tham gia Việt Minh một phần tập kết ra Bắc , số còn lại về quê làm ăn , chờ ngày tổng tuyển cử….  Má cùng chồng với mấy đứa con nhỏ, lục tục quay về làng cũ, bắt đầu cuộc sống mới. Ở đây bà làm cô giáo dạy tiểu học, còn người chồng về làm ruộng. Những ngày hòa bình đầu tiên sau những năm dài chiến tranh và đô hộ thật yên bình, ngọt ngào. Bà kể :”_ Ở thôn quê lúc đó ngày nào cũng như ngày Tết. Dù nghèo, nhưng người ta sống chơn thiệt và nghĩa tình. Không có trộm cắp, cướp giựt. Lúa má làm ra dư dả. Vụ sáu tháng đất nghỉ sáu tháng vẫn dư ăn. Tụi con nít ngoan ngoãn, lễ phép, biết vâng lời. Chính quyền thì cũng những ông hương xã  cũ, hoặc những người mới do dân bầu lên, nhưng phần đông là những người lớn tuổi và đáng kính trọng. Không thấy bóng dáng lính tráng nhưng thật sự yên ổn…..” Kỳ vọng về một biểu tượng hòa bình lâu dài cũng rất sớm tan vỡ. Cái ngày hiệp thương kéo dài, kéo dài mãi cho đến khi nó không có một dấu hiệu nào để chứng minh nó tồn tại. Sự mong đợi trở thành nỗi thất vọng lớn lao. Tiếng súng của chính quyền trong cuộc bình định những đảng phái chống đối như Năm Cụt, Bảy Viễn, Hòa hảo, Cao Đài….khơi mào cho nỗi lo âu của những người từng tham gia Việt minh chống Pháp, Dù được xem như những người có công trong công cuộc đánh đuổi thực dân, nhưng những viễn cảnh về một cuộc sống yên lành dưới chế độ mới, cũng là một điều không dễ mường tượng. Chính quyền mới lập cơ chế quản lý hành chính mới. Những xung đột và kỳ thị lại thường xuyên xảy ra sau một thời gian vắng bóng. Sự can thiệp của lực lượng cảnh sát . Và điều quan trọng là sự móc nối  của những người Việt minh còn trụ lại trong bưng về quyết tâm tiến hành một cuộc chiến võ trang nhằm thống nhất đất nước, sau kì vọng lớn đã mất. Người chồng sau vài lần bị mời thẩm vấn, xét hỏi …ở trụ sở thôn lại trốn vào rừng. Má khóc hết nước mắt nhưng con cái tay dắt, tay bồng đành cắn răng ở lại. Sự phân cực đến hồi đỉnh điểm của Thế giới đã khởi động một guồng quay với động cơ là những bàn tay đã thọc quá sâu của những thế lực bên ngoài. Một sự chuyển động kéo dài hai mươi năm, cuốn theo số phận của bao con người, trong đó có người đàn bà Việt vóc bé nhỏ, có tám đứa con ở một cái làng sát bên dòng sông Sài Gòn, cách thị trấn Thủ Dầu Một khoảng mười mấy cây số về hướng Tây Bắc.

Tôi không mang tham vọng viết những trang viết về những hình thái nhằm quản trị những người dân nằm ở vùng giáp ranh vào thời điểm ấy. Những kiến trúc được xây dựng trên cả cơ sở chính trị lẫn thổ  nhưỡng mang tính kinh nghiệm nặng nề của những đầu óc bậc thầy trên thế giới được áp dụng trong cuộc chiến. Phần nữa  sau bốn mươi năm đã quá nhiều sách vở, tài liệu, hồi ký lịch sử ….từ nhiều phía , từ những nhân vật tiếng tăm …..được xuất bản đã mô tả khá chi tiết về những cấu trúc đã  bị lãng quên hoặc diệt vong trong thế giới đương thời….Việc của tôi là theo đuổi những số phận. Những số phận nằm bên dưới những mô hình , chính sách, hiệp định, nghị quyết và những con số thống kê mang tính khoa học, đầy chất thuyết phục hàng ngày vẫn được đưa lên những buổi thuyết trình hoặc các bản báo cáo…..Tuy chỉ là vài dòng, đứt quãng, đầy thăng trầm…đôi lúc thiếu logic.

_ Vùng này hồi trước làm ruộng hả má?

_ Ờ…Nhưng ở đây gò, đất xấu…Phải đi ghe qua Củ Chi.

_ Hồi đó ở đây có xây dựng ấp chiến lược không Má?

_ Không….Nhưng đồn lính gần đây, trên kia… Vùng này là vùng an ninh mà….. Nói thì nói vậy thôi, chớ Việt Cộng lúc đó đâu không có.

Một thoáng suy nghĩ lướt qua trong tôi. Có thể  do cùng đất này này khá lâu đời, dân cư tập trung đông và cũng gần những thủ phủ như Lái Thiêu, Thủ Dầu Một.

_ Vậy cuộc sống có dễ thở không Má?

_ Lúc trước thời ông Diệm thì khó, sáng nào cũng bắt lên tra vấn, xét hỏi chồng đi đâu, làm gì….nhưng sau này rồi cũng hết…Hỏi riết …chán….Họ cũng không đả động gì nữa…Má cười nhạt. Lần đầu tiên tôi thấy nụ cười xuất hiện trên khuôn mặt bà_  Đời sống sau này dễ thở hơn. Lúa gạo cũng dư dả. Nhất là khi gạo Mỹ vô. Gạo Mỹ hột tròn, gạo Mỹ hột dài …cả bao bố, rẻ thúi…..Mấy thứ Thần Nông của mình đâu có bao nhiêu….

_ Lúc Mỹ vô có đóng bót ở đây không?

_ Đâu bên Củ Chi, Bến Cát….Ở đây không có. Thỉnh thoảng cũng thấy tụi nó đi…nhưng cũng không đụng chạm gì…Chỉ có lính Cộng Hòa….Lính cũng có người này, người nọ…..Có người phá phách…cũng có người đàng hoàng. Sợ nhứt là bom đạn. Nhà nào hồi đó cũng có cái hầm bên hông nhà ….Bom đạn là thứ vô tình. ….

_ Rồi phía cách mạng có về không?

_ Có chớ….Đêm nào không về. bên kia sông Củ Chi lội qua….trên Bến Cát. Mỹ Phước đổ xuống….Dạo sau này  năm 67-68 trở đi, bom đạn liên miên. Ban ngày lính quốc gia, ban đêm Việt Cộng….Chiều khoảng 3-4 giờ , lính rút về đồn hết. Làng xóm chỉ con lại đàn bà, con nít, mấy ông già, bà già…Mấy ống lại vô làng, mặc quần áo đen, xách cái rổ, gõ cửa từng nhà xin gạo. Thấy ốm đói, tội nghiệp cũng cho. Sau Mậu Thân, chồng tui về …trốn cả tuần dưới hầm…rồi đi biền biệt. Sau đó mới ra con Út. Ổng mất năm 69 , dưới Dĩ An….

Một khoảng không gian lặng yên. Không những chỉ tôi mà cả bà, đều thấy cần một khoảng yên lặng tối thiểu trong thời điểm này. Ngoài sân mấy con ong bầu đen trũi nặng nề đậu trĩu cả những búi mai vàng rực làm những cánh hoa tròn xoe rơi lả tả, xoay tròn đánh những vòng trôn ốc chầm chậm cho đến khi chạm đất.

_  Lúc cho gạo không sợ bên quốc gia họ biết sao? Tôi hỏi sau thời gian yên ắng.

_  Sợ chớ… Nó biết được , nó lôi ra nó đánh….làm tình, làm tội dữ lắm….Nhưng thấy họ hốc hác, đói rách quá cũng cho….cái tình là ở con người với con người….

_ Năm 74 nghe đâu đánh lớn trên miệt Rạch Bắp, Thị Tính…Ở đây có sao không má?

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tác động của thời gian lên con người. Bà đưa ngón tay trỏ lên, day day những nếp nhăn nơi trán, như muốn gợi dậy những ký ức quá cũ kỹ ẩn náu đâu đó trong tâm thức. Ngón tay mốc thếch, ngắn cũn như trái quả chuối cau đã dậy mùi, loang lỗ vết tàn nhang.

_ Có nhưng chỉ trên Bến Thế, nhà cửa trên đó tan hoang hết…Dân chạy loạn xuống đây, xuống Thủ Dầu Một. Ở đây ít hơn chỉ thỉnh thoảng bị pháo kích, dội bom…Lúc đó suốt ngày cứ trốn trong hầm, không ra ngoài làm ăn gì được.

_ Có chết ai không?

_   Có…thỉnh thoảng cũng năm ba mạng….

_ Vậy có kiện ai không?

_   Biết ai đâu mà kiện. Thời tên bay đạn lạc….. Trời kêu ai nấy dạ…

_  Rồi năm 75????

_  Năm 75 thì yên. Lính tráng bỏ chạy hết. Giải phóng không có một tiếng súng…Chỉ có mấy ông “ Ba mươi” nó quậy thôi!

Cái từ nghe lạ! Tôi quay hỏi lại.

_  Tụi “ Ba mươi” là tụi nào Má?

_  Tụi “ Ba mươi” là mấy ông nhỏ 15-16 , tay băng đỏ, cầm súng, ngồi xe zíp đó!

….

Cô con gái mới về. Dáng người chắc, đậm của những người phụ nữ miền quê choáng hết lối đi. Chị chào tôi, vứt cái nón vào góc nhà, quay ra nói chuyện với bà. Để hai mẹ con nói chuyện, tôi bước tới cửa, châm điếu thuốc hút. Trời đã vào trưa. Nắng sẫm vàng. Tôi dưa mắt cố tìm chung quanh những vật chứng có thể liên kết với câu chuyện của bà, nhưng thấy bất khả. Đã hơn 40 năm những vết tích dù nhỏ nhặt của cuộc chiến cũng không còn. Bóng dáng của những cộng đồng nhỏ bé thúc thủ, thu mình trong những công cụ phòng vệ quân sự chừng như đã tuyệt diệt hoàn toàn. Mấy cây dừa ngất ngưỡng trước nhà , thân trơn bóng chứng tỏ cũng mới trồng chừng chục năm đổ lại. Nông thôn ngày nay đã thật sự thay đổi. Những ngôi nhà hình hộp hiện đại cũng mọc rãi rác. Con người cũng xóa được cái lằn ranh tự kỉ giữa phố thị và thôn quê tồn tại trước đây. Những con hẻm đổ bê tông sạch sẽ. Mấy luống hoa đủ màu sắc dọc bên đường cũng làm dịu cái nhìn trong sự phản xạ gay gắt của ánh nắng….Tuy vậy bên cạnh đó  vẫn còn những mái nhà tiều tụy, chắp vá của cái nghèo níu kéo.

Cô con gái có vẻ vồn vả khi thấy tôi quay lại:

_ Anh dưới thành phố lên định đi mua đất hả? Có mấy lô đẹp lắm, sát đường…tui dẫn cho mà coi!

Tôi cũng ngớ người trước cái từ khá “ hot” dưới thành phố lại lọt tuốt lên đây. Tự hỏi sao bây giờ ở đâu người ta cũng dùng cái từ trở nên khá thời thượng này. Chừng như khắp đất nước.

Tôi chống chế:

_  Không… Tôi chỉ đi chơi cho biết thôi. Mua bán gì đâu….

­ _ Ảnh ở miền Trung vô chơi…Hỏi thăm cuộc sống, làm ăn chổ mình….Má ngồi bên kia, nói giúp qua.

Chị con gái bắt chuyện cũng nhanh:

_ Giờ làm ăn gì nữa anh ơi! Ruộng đất bán quy hoạch thành khu công nghiệp rồi. Còn mấy lô đất nhà để lại, xẻ bán dần thôi.

_ Ủa chị bây giờ làm gì?

_ Giờ sáng bán bún mì, hủ tiếu, đồ ăn sáng cho công nhân đi làm. Ngày kiếm được khoảng trăm, trăm rưỡi . Già…. quá tuổi công nhân , người ta đâu có nhận.

_ Vậy còn ông xã ?

_ Ổng chạy xe ôm, lúc phụ hồ….Thu nhập bấp bênh lắm!

Câu nói của chị khiến tôi nhận thấy một thực trạng nhức nhối trong cuộc sống của những người nông dân vùng ven_  Những vùng đang bị cơn lốc công nghiệp hóa, đô thị hóa cuốn vào. Những con người hiện tại không còn đất đai canh tác, ruộng đất được đền bù theo giá đất nông nghiệp giỏi lắm chỉ xây được căn nhà khang trang, trong khi tay nghề hoặc lứa tuổi không đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn của các nhà máy, xí nghiệp mới mọc lên trên mảnh đất vốn trước đây của họ. Một lực lượng lao động dôi ra đáng kể…. Liên đới với báo giới  khoảng thời gian gần đây về tình trạng tăng vọt của lực lượng bán vé số, đó là chưa tính đến những thành phần lao động tự do khác như: xe ôm, buôn bán nhỏ, hậu cần linh tinh cho những quần thể công nghiệp và cả một nguồn lao động trôi nổi từ vùng quê  di cư vào các thành phố lớn theo mùa hoặc thời vụ…… Tôi nghĩ, phần nhiều trong số những con người đó đang là hệ quả của vấn đề được nêu lên ở trên. Vậy hỏi họ sẽ làm gì để tiếp tục cuộc sống còn với hiện tại và tương lai trước mắt?????

….

Tiếng xe máy phân khối lớn rú lên, phá không gian vốn yên ả của ngày Tết. Mấy con bồ câu nghe động bay vù lên. Tiếng đập cánh sàn sạt qua cửa sổ. Hai cái đầu vàng hoe gói trong chiếc mũ bảo hiểm thò vào, dáo dác. Chị con gái nhanh nhẩu đứng dậy, te te bước ra bên ngoài. Mấy câu đối thoại nửa Tây, nửa ta…rồi tiếng xe máy lại gào lên, lao đi.

_ Tây ba lô….Chị xuất hiện ở khung cửa, nhoẻn cười , nói. Tụi nó mua nước suối.

_  Bọn nó lên đây thường xuyên không Chị?

_  Đầy, ngày nào không có….Chị lại cười, chỉ tay vào Má_ Hỏi bà già trước Tết bị tụi nó lừa làm sao nè?

Tôi quay sang Má, thấy bà cười đôn hậu. Một niềm vui thật sự xuất hiện trên khuôn mặt bà khiến các nếp nhăn giãn ra. Điểm trơ trong đôi mắt nhòa đi, khỏa lấp trong  sự từ tâm. Một cái gì của tâm hồn Việt hiếm hoi, còn sót lại, giữa thời này.

_ Mồ tổ nó….Hết người lừa nó lừa bà già….Một triệu tám chớ ít ỏi gì……Mồ tổ cha hai thằng Mỹ đen, Tây mặt ghạch….

Nghe bà chửi lẩy, tôi cũng thấy không nhịn được cười. Không gian bỗng có cái gì đó khá gần gũi. Tự dưng tôi lại có niềm vui lây từ câu chuyện rất đời của hai má con. Dù bụng muốn ra về, tôi cố ngồi hóng hớt cho hết câu  chuyện…

_ Sau này nghe nói tụi nó bị công an bắt đâu bên Củ Chi, cũng cái trò ảo thuật tráo tiền. _ Chị con gái nói.

_ Vậy có lấy lại được tiền không?  Tôi chăm chú hỏi.

_ Không , trong túi tụi nó chỉ còn vài trăm ngàn.

_ Mất luôn à?

_ Mất luôn! Chị con gái trả lời gọn lỏn.

_ Thôi cho nó cho rồi…Nhắc hoài làm gì. Của đi thay người mà…. Đầu kia Má nhỏ giọng.

Ôi chao cái câu, nghe mà nghèn nghẹn! Câu nói mà dường như tôi đã thuộc lòng từ thời ở với bà ngoại đến khi về bên nhà Má ruột. Cũng câu nói  đầy hỷ xả của muôn bà má tôi đã gặp và ngồi trò chuyện. Từ những làng chài của dãi đất hẹp miền Trung cháy bỏng cát, nắng, phi lao… đến những vuông đất ngậm nước, ướt loáng màu thép, cò bay thẳng cánh của đồng bằng miền Tây nam bộ….và giờ thì ở đây, nơi nền đất nện thẫm màu đỏ bazan, lợn cợn đá ong quá lửa của những xóm thôn miền đông này. Sao đâu cũng vậy!

_ Vậy sau giải phóng cuộc sống ở đây thế nào má?  Tôi hỏi khi không gian đã nhàn nhạt.

Câu hỏi của tôi chạm phải sự im lặng. Cả hai người đàn bà như hóa đá, ngồi miên man đến nỗi tôi không biết phải làm gì. Lát sau, cô Út nói:

_ Anh hỏi thời kỳ sau 75 hả? ….Nhiều chuyện để nói lắm anh ơi…

_ Vùng này có thuộc diện đi kinh tế mới không Chị?

_ Không chiến tranh xác xơ hết rồi đi gì nữa…Dựng làng xóm như cũ đã thấy ông bà ông vãi rồi!

_  Rồi cuộc sống có đỡ không ? Tôi bám theo câu chuyện

_  Đỡ gì đâu anh ơi! Ruộng đất vô hợp tác xã. Lúa gạo thì chia phần đâu đủ ăn. Hỏi Má coi, ngày nào Má cũng nấu nồi khoai to tổ bố cho mấy đứa con trong nhà….. Xuồng anh Ba đi chở lúa từ Củ Chi về, qua trạm kiểm soát, chưa kịp dừng lại. Nó xả cả băng đạn. Chìm mất cả xuồng lúa. Người chưa chết là may…Có lít gạo giấu trong người mang từ đây xuống Thủ Dầu Một, tụi “ Ba mươi” chặn lại. Nó lấy cây xăm,  xăm nát mình, nát mẩy……Gạo lộn với máu chảy xuống mặt đường….

Tôi lặng người , sau đó ngước nhìn má, cố tìm xem phản ứng của người đàn bà trước những sự kiện trần trụi được khơi lại một cách vô tình này.  Đôi mắt trở lại trạng thái vốn có của nó _trơ và xám lạnh. Tròng mắt tĩnh và sâu….Ở trạng thái mà mọi tác động bên ngoài như  bị hóa giải và khó làm rối được một tâm trạng  khó hiểu che giấu đâu đó  phía trong,

Sau tiếng thở dài, bà nói:

_  Bây giờ mặc kệ ai làm gì đó thì làm…..

Thực tình trong tôi, tôi cũng không thể nào chấp chứa cùng lúc hai hình ảnh đối lập,  kịch tính,  mang đầy mâu thuẫn đến vậy . Hình ảnh của những con người trong bộ đồ ba ba đen , tay cắp cái rổ, đến gõ cửa từng ngôi nhà tranh xin từng nắm gạo và cũng chính những con người đó, sau đó vài năm, với họng súng trong tay, lại đi lục soát, xăm nát thân thể của những nông dân từng nuôi giấu họ, để tìm ít gạo giấu trong người…. Mặt đất vốn đỏ thẫm nay lại loang lỗ gạo lẫn máu.

_ Còn bây giờ thì sao hả chị? Tôi hỏi tiếp.

Cũng chị con gái trả lời: _ Giờ thì đỡ rồi . Tụi sau này có học hành nên làm việc đàng hoàng hơn. Cái đám lúc trước đã “ về vườn “ ….. Dân còn ghét lắm. Đi qua nhà, họ còn hắt nước cơm, chửi trước mặt “_ Cơm tao thà cho chó ăn, còn hơn mày ăn”…..

Không gian im lặng . Tôi cũng không nén được một làn hơi sườn sượt.

Thấy trời đứng bóng, tôi quay ra chào Má và chị con gái để chuẩn bị ra về. Đang nói câu từ biệt, bỗng khuôn mặt rất dễ thương của một thiếu nữ, khoảng đôi mươi, lấp ló phía cửa. Đôi mắt to chững lại nơi tôi như dò hỏi. Chị con gái nhanh miệng:

_ Con Út tui . Chào Bác đi con. Nó học Đại học tài chính dưới Thủ Dầu. Năm nay năm cuối!

Thiếu nữ chào tôi, dắt chiếc xe đi vào trong hẻm trong cái dõi theo của hai người đàn bà.

…..

Tôi nắm bàn tay thô kệch, với những ngón tay ngắn, loang mốc. Lòng bày tay lạnh, lớp da chai và dày đến nỗi không cảm nhận được nguồn nhiệt phía sau. Chia tay Má, không hiểu sao tôi không dám nhìn  thẳng vào đôi mắt của bà.

Con đường mới _ Theo tay hai người đàn chỉ, ra khỏi làng không dài. Con đường chạy qua một ngôi trường tiểu học hay trung học gì đó mới xây khá đẹp, mang tên Tương Bình Hiệp. Tôi có đứng trước cổng ngó vào trong sân một lúc. Dưới những tán hoa bằng lăng  biêng biếc là những tà áo dài trắng lướt thướt qua lại.  Tiếng cười đùa vô tư của một thế hệ mới lớn át cả tiếng xe cộ ầm ào từ quốc lộ 13 gần đó, vọng vào.

Cái tên “Vùng xôi đậu” đã phai lãng từ lâu lắm rồi trong tâm thức con người ở đất nước này , cả những người từng kinh qua chiến tranh_ cũng như cuộc chiến ngày càng trở nên là một cái bóng mờ  trong quá khứ……nhưng trên mảnh đất bazan đã lành lặn vết thương, dưới tán lá cao su xanh um mới trồng từ chục năm đổ lại, vẫn còn lẫn khuất đâu đó là đôi mắt lạnh, ráo hoảnh của những người đàn bà và cái nhìn thật sự khó hiểu.

Dù chỉ đơn thuần là người chuyển tải những thông tin đến những nơi cần đến, tôi cũng cảm thấy đang nợ họ một điều gì.

Và bạn, nếu thật sự quan tâm….. bạn có nghĩ thế không?

Sài Gòn, 15/04/2017

Vũ Khuê

NHÀ TÙ : CHƯƠNG 11 ,THỐNG KHỔ NHẬP MÔN

 

Quá khuya, sương trải thật nhiều. Những giọt sương, đọng trên lá cây bên sân Tòa Tỉnh Trưởng Gia Định, rơi xuống mái tôn nhà tù như những giọt buồn ray rứt. Khu C-1 xây dài theo bức tường biên giới đề lao và tòa tỉnh – đã trở thành Trụ sở Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh. Nếu tính phòng 7 C-1 là đầu, thì đầu khu C-1 sát khít vỉa hè đường Phan Đăng Lưu. Tôi nhớ thuở Bùi Thế Cầu làm Tỉnh trưởng Gia Định, hay ghé đây thăm bạn … tổng đốc Gia Định Thành. Và tôi không quên những cây vú sữa chung quanh sân. Bây giờ, những giọt sương, đọng trên lá vú sữa, não nề rơi xuống mái tôn nhà tù. Và tôi ngồi giữa cái hoang vu của kiếp người, nghe điệu sáo thấm vào hồn mình. Nguyễn Vĩ đã diễn tả.

Sương rơi
… Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào
Em ơi
Trong lòng
Hạt sương
Thành một
Vết thương
Rồi hạt
Sương trong
Tan tác
Trong lòng
Tả tơi
Em ơi
Từng giọt
Thánh thót
Từng giọt
Điêu tàn
Trên nấm
Mồ hoang …

Những giọt sương của Nguyễn Vĩ đã rơi vào năm 1935, năm tôi “mang tiếng khóc ban đầu mà ra” đời. Vẫn là hạt sương của 40 năm trước, 40 năm sau nó tuyệt tích âm điệu thánh thót. Nó không còn là vết thương của một người nữa. Nó đã ngậm oan khiên của lịch sử giống nòi. Nó đã rơi xuống xác hai triệu người Việt Nam chết đói, một triệu rưỡi người Việt Nam chết Cải Cách Ruộng Đất, bao nhiêu triệu người Việt Nam chết thủ tiêu – bom đạn chiến tranh. Hôm nay, nó rơi xuống roi gạo mác xít, rơi xuống thuyền gỗ lênh đênh vượt biển, rơi xuống các trại tị nạn ô nhục, rơi xuống nhà tù, trại tập trung. Giọt sương theo nỗi đổi đời, đã thành giọt nước mắt. “Nếu cột đèn biết đi, nó sẽ đi tìm tự do”. Thuyền nhân nào đó đã trả lời phóng viên một đài phát thanh ngoại quốc thế. Sự ví von thật hay. Cột đèn không biết đi. Con người biết đi. Nhưng con người đã dừng lại sau chuyến đi dài. Người Việt Nam không thích nhớ những gì đáng nhớ, phải nhớ; không thích quên những gì cần quên, nên quên. Cái truyền thống hẩm hiu nhất của dân tộc ta là nhớ thù vặt và ham trả thù vặt. Triều đại này lật đổ triều đại kia, tiêu hủy mọi công trình xây dựng tốt đẹp, kể luôn công trình kiến trúc. Cao Miên còn hãnh diện có Đế Thiện Đế Thích, chúng ta còn gì? Phải cám ơn ông thực dân Pháp một tí. Nhờ ông chiếm đất nước tôi nên chúng tôi còn chút xíu lăng tẩm, thành quách triều đại Nguyễn Phúc Ánh. Ông sang muộn, những kẻ phục Lê lật đổ Nguyễn sẽ san bằng những lăng tẩm, bia mộ, đền đài ở Huế! Nhưng mà những kẻ nhớ thù vặt, trả thù vặt tận tình nhất vẫn là cộng sản Việt Nam. Mắt mờ thù hận, óc ủng thù hận, cộng sản Việt Nam đã dẫm nát báu vật và giam nhốt tài năng của dân tộc. Còn chúng ta, chúng ta bảo vệ báu vật và tài năng ra sao? Chúng ta hất hủi, hờ hững, kèn cựa. Và với triết lý thoát là tới, chúng ta đã quên những oan khiên mà giọt sương vẫn ngậm, vẫn rơi đều đặn xuống thân phận Việt Nam. Dân tộc đang kiên nhẫn bước trên sầu đạo để chiến đấu, để tìm ý nghĩa rạng ngời cho lịch sử. Quê hương đang cựa quậy. Chúng ta dừng lại, dầu chúng ta khác hẳn cột đèn. À, chúng ta cũng đi chứ! Chúng ta đi giật lùi. Đã nhiều dâu biển trong kẻ thù của chúng ta. Chưa có dấu hiệu sắp dâu biển trong cung cách chiến đấu để chiến thắng kẻ thù của chúng ta. Mọi lãnh vực, chúng ta đứng. Rồi nằm. Và nhai lại. Khi đó, những giọt sương đã “đổi đời” và không ngừng rơi xuống những xót xa, nghẹn ngào bắt thức tỉnh, suy tư.

Sự suy tư của tôi gần gũi nhất. Là cái “nội các” của ông Đinh Xuân Cầu. Trực giác của tôi cho tôi biết mục sư Trương Phiên đã bịp chúng tôi. Tôi chợt nẩy sự ngờ vực từ hôm Trương Phiên dọa tôi rằng công an mật đã bao vây nhà tôi. Hắn muốn cắt đứt đường về của tôi. Rồi hắn bảo tôi cho tổ chức mượn mấy lạng vàng. Tôi viết thư về nhà. Con gái tôi trả lời thay vợ tôi. Tôi đọc thư, lòng dạ tan nát. Con tôi viết: “Mẹ bị mù rồi hay sao ấy, bố ạ! Mẹ chẳng còn nhìn rõ cái gì”. Có lần, vợ tôi đã không đọc rõ chữ và tôi phải cầu cứu Bùi Duy Tâm. Tôi tin ngay. “Nhà cạn tiền rồi, bố về lo cho các con”. Tôi chưa về, vì nghĩ vợ con tôi chưa biết công an mật lởn vởn trước nhà tôi. Trương Phiên chở em vợ hắn đến An Đông lấy vàng. Hắn đã thất vọng. Hắn vẫn quả quyết ông tướng Ngô Quang Trưởng còn ở trong “bưng”. Đặng Xuân Côn đề nghị: “Chỉ cần đưa ông Trưởng về Sàigòn, dẫn ông tướng này gặp vài người là thừa vàng chiến đấu”. Trương Phiên nồng nhiệt hứa hẹn thực hiện kế hoạch Đặng Xuân Côn. Những chuyến “ra đi” của “nội các” cứ bị hoãn lại. Lần thì Nguyễn Cao Kỳ bay về bưng bắt Bùi Thế Lân, gây áp lực với Hội Đồng Bảo Quốc. Lần thì địch “báo động đỏ”, giăng lưới các cửa biển. Vân vân . Trương Phiên có tài nói và diễn xuất. Mục sư mà. Hắn phô bày chí lớn của hắn bằng bí danh Trương Mộng Hoàng. Họ Trương ôm giấc mộng trở thành hoàng đế! Hắn nói, ngay cả tôi nghe, cứ tưởng hắn dốc tâm can vì nước. Có nhiều lúc, kẻ khôn ngoan bỗng ngu xuẩn một cách tội nghiệp. May cho tôi, khi qua nhà số chẵn đường Tăng Bạt Hổ, nhân xem ti vi, tôi đã ngỡ ngàng. Báo chí Mỹ thân Cộng đã chụp đầy mặt tướng lãnh lưu vong tặng Việt cộng. Ông thì đang rót rượu, ông thì đang lau bàn… Việt cộng thuyết minh thêm. Mỗi chân dung tướng lãnh hiện rõ trên màn ảnh nhỏ. Có ông Kỳ, ông Trưởng … Tôi quyết định trở về sau vài tuần lưu lạc ở Hòa Hưng, Bảy Hiền. Thoạt tiên, tôi đến nhà bà Nguyễn Đình Vượng, địa chỉ tạp chí Văn. Tôi nhờ bà liên lạc với vợ tôi. Vợ tôi lên đón tôi chập tối. Sáng tỉnh mơ hôm sau, tôi đến Phú Nhuận. Tôi lại về nhà. Rồi tôi ở nhà luôn. Rồi tôi đi về lung tung. Chẳng thấy bóng dáng công an nào. Ông Đinh Xuân Cầu và Sao giò bị bắt trong tháng 1-1976. Tôi bình yên. Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Thiện Ngọ … bình yên. Chúng tôi vẫn gặp nhau ở một tiệm thợ may trong chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Trương Phiên tuyệt tích.

Tôi không đánh giá Trương Phiên như một công an cộng sản lùa chúng tôi vào lưới. Thấp hơn, tôi đánh giá hắn như một tên lợi dụng tinh thần chống cộng của mọi người. Hắn khôn khéo đạo diễn, thảy cái bè chuối xuống nước đúng lúc. Sau 30-4-75, rất nhiều tên làm tiền và làm tình bằng những thủ thuật phục quốc và rất nhiều người mất vàng, mất trinh, rồi vào tù. Hoàng hôn của miền Nam nó thảm thiết vậy đó. Tôi sẽ viết ở những trang sắp tới. Ông Đinh Xuân Cầu nghĩ rằng Trương Phiên là gián điệp Mỹ. Năm 19 tuổi, lòng chứa chan mộng ước, tôi theo Duy Dân lên rừng Ban Mê Thuột làm cách mạng. Trở lại Sàigòn thất học, bơ vơ, tôi thù hận chính trị, cách mạng. Và tôi đã diễn tả sự khinh miệt lãnh tụ trong tiểu thuyết Ảo vọng tuổi trẻ. Năm 1975, lòng chứa chan uất ức, tôi đi chống cộng sản. Và tôi cũng trở về, chán nản, bơ vơ. Rốt cuộc thì tôi vào tù, mất toi một lạng vàng cho sự nghiệp chống cộng đến chiều. Ít ra, tôi đã trung thành với khẩu hiệuChống cộng đến chiều đầy hệ lụy mà tôi đã viết từ thuở tôi cầm bút chống cộng. Nhưng sự bẽ bàng chống cộng tàn mùa của tôi, một mình tôi chịu. Và tiếp tục nói dối cả với vợ con tôi, với Đặng Xuân Côn: “Tôi đã vào chiến khu, đã gặp Ngô Quang Trưởng, đã gặp Mỹ với khí giới tối tân!” Ở tù, tôi quen bao nhiêu con người chống công tâm huyết, trẻ có, già có. Họ cũng bị bịp như tôi. Bạn đã hiểu tại sao tôi khinh bỉ những tên lái buôn chống cộng, những công ty đấu thầu chống cộng. Tôi chưa cháy niềm tin chống cộng. Tôi vẫn chống cộng. Vì dân tộc, chắc chắn, là viễn vông. Vì những con người đã dấu diếm tôi, đã săn sóc tôi, đã kỳ vọng nơi tôi, ở các căn nhà hẽm phố Trần Quý Cáp, phố An Đông, phố Tăng Bạt Hổ, phố Tô Hiến Thành, Bảy Hiền, Xóm Mới. Chính xác, tôi chống cộng với tuổi trẻ, với các bạn Pháp và Việt của tôi. Tôi không chống cộng với lãnh tụ ghẻ lở, với cây mục vô tích sự, với lái buôn, cai thầu. Và tôi tin vào sự quật khởi của dân tộc tôi, không tin vào các thế lực ngoại bang.

Kẻng tù báo thức làm sự suy tư của tôi ngừng lại. Tù nhân bắt đầu ồn ào. Hãy tưởng tượng đống sơ mít, nhặng bu đầy, bị đụng khẽ. Tù nhân đã vo ve như thế từ lúc kẻng báo thức đến lúc kẻng báo ngủ. Sự tranh chỗ tiểu tiện, đại tiện, đánh răng, rửa mặt náo nhiệt vô cùng. Không có nhường nhịn ở nhà tù. Luật đời và luật tù giống hệt nhau. Thằng nào manh, thằng ấy chủ động. Những thằng mạnh, cộng sản biết dùng người lắm, là những thằng cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội, du đãng được sử dụng vào các chức Trưởng phòng và Trật tự viên. Những thằng này, bất cứ hoàn cảnh nào, đều biết cách đàn áp anh em để thủ lợi. Dưới chế độ cộng sản, các vua tù bị thoái vị. Trưởng phòng mất quyền bóc lột, hà hiếp tù nhân. Ở đề lao Gia Định, cộng sản ban phát cho Trưởng phòng ân huệ ra ngoài khiêng đồ tiếp tế của thân nhân tù nhân, mỗi tuần lễ. Ra khiêng đồ sẽ được gặp vợ con trong năm phút. Để bảo vệ quyền lợi khốn kiếp này, Trưởng phòng đã ghi những câu nói mỉa mai của tù nhân, báo cáo Trưởng khu hay Cán bộ giáo dục. Tùy theo mức “phản động” nặng hay nhẹ, tù nhân sẽ bị viết tự kiểm, sẽ bị cấm viết thư, sẽ bị cấm nhận quà tiếp tế, sẽ bị nằm cachot. Không phải Trưởng phòng nào cũng đê tiện. Cộng sản chọn người xứng đáng cho công việc xứng đáng. Khi nó đã chọn, đừng hòng từ chối. Từ chối là chồng đối chế độ. Chống đối chế đó ở nhà tù là mút chỉ ăn cơm hẩm. Đừng hòng tình nguyện. Tình nguyện là có ý đồ. Có ý đồ là bị điều tra. Ở bất cứ nhà tù nào, dưới bất cứ một chế độ nào, trên bất cứ một quốc gia nào, bạn đừng đòi hỏi tự do. Bạn chỉ được đòi ân huệ và chớ dại dột yêu sách. Yêu sách, bạn sẽ được nâng quan điểm lên bất mãn. Mỗi nhà tù một quy chế. Cái hợp lý ở đề lao Gia Định sẽ là cái vô lý ở khám Chí Hòa. Chính sách nhà tù cộng sản thả nổi. Ở đề lao Gia Định, bạn có quyền tuyệt thực. Sang khám Chí Hòa, bạn tuyệt thực thì bụng bạn đói mà thân bạn no đòn. Những kẻ chỉ loanh quanh các trại cải tạo không nên lạm bàn về nhà tù. Trại cải tạo là động. Nhà tù là tỉnh. Trại cải tạo là ánh sáng. Nhà tù là bóng tối. Ở trại cải tạo, cộng sản gọi bạn là trại viên. Nhà tù, cộng sản gọi bạn là can phạm. Ở trại cải tạo, bạn sống chung với các chiến hữu. Ở nhà tù, bán sống chung ô hợp với đủ mọi thành phần xã hội. Ân huệ của Trưởng phòng là ra ngoài khiêng đồ, gặp vợ con, hít no dưỡng khí, tắm nắng thỏa thuê, tuy còng lưng, mỏi tay. Ân huệ của Trật tự viện là đi đổ rác, phơi quần áo, tha hồ liếc nhìn các phòng, các cachots và gặp gỡ “anh em” ở đống rác, ở chỗ phơi quần áo. Ấy, ân huệ nhỏ mọn thế thôi, mà cộng sản dư khả năng tạo ra mọi ngờ vực, mọi phôi pha tình người. Trưởng phòng Lâm Văn Thế không thuộc loại đê tiện. Ít nhất, ông ta cũng là sĩ quan. Dzũng quan tài không tệ, nhưng đám mafia 6 C-1 cậy thế nó để tác yêu, tác quái ở hồ nước.

Không một tù nhân nào được tắm bằng nước chứa trong hồ. Nước này chỉ dùng xối cầu tiêu, rửa chén, rửa mặt, đánh răng và rửa … đít. Tù nhân bị cấm sử dụng giấy vệ sinh. Mafia 6C-1 bất chấp luật lệ. Nửa đêm, chúng thay phiên nhau tắm để ngủ ngon. Mỗi ngày, vòi nước lùa qua ô cửa gió 2 lần. Nước đầy hồ, tù nhân mới được tắm. Tù nhân trần truồng đứng xếp hàng. Mafia cầm vòi nước. Tôi đếm thử những cái tích tắc, tính ra mỗi tù nhân hưởng 10 giây đồng hồ tắm gội. Bị mafia ăn cắp một giây. 520 giây tắm cho 52 tù nhân đa số bị ghẻ lở! Không thể sát xà phòng. Ngôn ngữ tục tĩu nhất đã phóng ra ở sân tắm vào giờ nước vào. Những ngày Sáu Cầu làm Trưởng khu, không có điểm danh. Trưởng phòng đếm tù, rồi báo cáo cán bộ là xong. Những ngày này, tù nhận được nhận cà phê và trà. Mỗi ông tù có một cái vợt vải nhỏ. Màn tắm táp sáng nay đã xong. Tù nhân ngồi chờ nước sôi và nghe nhạc cách mạng oang oang từ cái ô-pạc-lơ gắn trên nóc phòng 7C-1. Tôi thích nhất bài Tình em biển nhớ của Nguyễn Đức Toàn. Có lẽ, tôi thích nhất hai câu đầu. Ở cái lúc chui rúc trong chuồng gà kỹ nghệ, sự nghiệp tiêu tan, thân thể lênh đênh, vợ đau con dại mà thưởng thức giọng hát Đỗ Dậu nỉ non: Chưa có hôm nào đẹp như hôm nay, đất nước thanh bình, lòng ta mê say… thì dẫu là Khổng Tử, vẫn cần thiết chửi thầm. Thân phận tù cộng sản nó cay đắng khôn cùng. Nó không bị xét xử. Nó không có án. Nó không biết ngày về. Ba cái không chưa đủ làm điên, còn sáng, trưa, tôi nghe hát chưa có hôm nào đẹp như hôm nay!

Nhưng mà nước sôi đã tới. Cai ngục mở cửa. Trật tự viên xách xô nhựa ra. Tù nhân tín cẩn gánh nước từ bếp khu A sang, múc đầy xô. Trật tự viên xách vào. Chỗ chia cơm nước lại sinh động. 52 cái ca nhựa bầy sẵn. Tù nhân đứng hết dậy. 104 con mắt nhìn Trật tự viên chia nước sôi. Ăn thua từng giọt. Cãi nhau vì mì đã bỏ sẵn vô ca mà không ưu tiên chia nước trước. Phân bì ca nhỏ sao nước bằng mức ca lớn. Vân vân … Nước chia xong, tù nhân đem về chỗ của mình. Anh không có cà phê thì đổi nửa phần nước cho anh có cà phê lấy chút đường và… cái bã. Những anh ăn chung thì vừa ngâm mì vụn vừa pha cà phê. Mì ăn dứt, ta nhâm nhi cà phê, hút thuốc rê, thuốc lá, thuốc lào. Các anh máu mì, máu cà phê, thì pha bột Bích Chi, bột đậu xanh… Cách mạng kể ra tốt chán. Tù nhân điểm tâm bằng sự… nhịn ăn uống của vợ con mình! Chấm dứt điểm tâm là màn rửa ca, rửa muỗng. Bụng đã có tí sinh tố, tù nhân thay phiên nhau đi cầu. Và đây mới là hoạt cảnh. Anh tù lên giàn bắn. Anh ta chơi ra-phan. Những anh tù khác vừa nghe đạn nổ, vừa ngửi thuốc súng. Hàng tràng chửi thề tới tấp. “Xối nước đi”! Ngôn ngữ cách mạng phong phú. “Xối khẩn trương. Xối tối đa. Xối thoải mái. Xối nhanh. Xối mạnh. Xối vững chắc”! Anh tù cứ thản nhiên … rặn. Hòa bình rồi. Thống nhất tổ quốc rồi. Đi đâu mà vội. “Khẩn trương cho người khác tiếp quản cầu tiêu chứ”? 52 tù nhân xếp hàng đi cầu. Thì đâu vào đó cả. Cách mạng không sai lầm. Đảng ta luôn luôn sáng suốt. “Khắc phục ỉa đi!” “Khắc phục cái củ cà-rốt, đi cầu chứ đi sang Liên Xô sao?” “Mẹ anh, nhân dân làm chủ cái cầu hay anh làm chủ? Đầu óc tư hữu lạc hậu!”

Cuối cùng, mọi việc đều tốt. Tù nhân chơi cờ tướng, chơi đô-mi-nô. Khích bác nhau một chặp, chơi văng bậy và suýt chơi chân tay. Ông Thế say sưa học chữ Tàu. Ông hiểu trưởng Tàu say sưa học tiếng Việt. Các ông Tàu Chợ Lớn bị xử ức. Cộng sản nó bảo: “Anh ở nước tôi mấy đời rồi, anh không hoc nổi tiếng nước tôi, học viết chữ nước tôi, chúng tôi không làm việc với anh qua thông ngôn. Học đi, chừng biết viết Tự khai hãy nghĩ chuyện về sum họp gia đình.” Các ông Tàu thộn mặt. Và tự giác mình đã láo lếu mấy đời. Tù nhân chia từng nhóm. Nhóm ngồi hút thuốc tâm sự. Nhóm ngồi gãi ghẻ. Nhóm ngồi nặn trứng cá, nhổ tóc sâu. Chuyện tù sao mà nhiều thế! Nói hoài nói hủy. Thuốc rê đốt um khói. Thuốc lào rít liên hồi. Ở 6C-1, tôi yêu nhất hai chú bé phản động mà tôi quên tên. Hai chú bé dưới 18 tuổi, không tranh giành cơm nước, không chửi thề nói bậy. Hai chú bé nằm dưới sàn chia cơm và bắt được hai con dế chui vô phòng. Thế là hai chú bé đá dế, cười nói hồn nhiên. Tôi biết chắc hai chú bé không hề nuôi một tham vọng nào khi đi làm phản động. Không thích cộng sản, các chủ bé chống cộng sản. Đi chiến đấu hồn nhiên, vào tù hồn nhiên, đau khổ hồn nhiên và chiến thắng vẫn hồn nhiên. Đất nước cần những tâm hồn chiến đấu không thèm toan tính ấy. Hai chú bé con nhà nghèo, không một ai tiếp tế. Chỉ sống bằng cơm tù, ai cho gì cũng từ chối. Cuộc chiến đấu của tôi còn vì những chú bé như hai chú bé này. Tôi bị lừa gạt niềm tin hai lần. Lần thứ nhất, tôi 20 tuổi. Lần thứ hai, tôi 40 tuổi. Tôi không muốn những chú bé Việt Nam bị lừa gạt niềm tin chiến đấu. 20 tuổi, tôi viết:

Tổ quốc mình đó em
Anh đi làm lịch sử
Với bọn cò mồi hèn
Thấy thiên đường đổ vỡ
Anh còn gì đâu em
Anh còn gì cho em

Từ niềm tin đầu đời bị lừa gạt, tôi chở sự phẫn nộ vào cuộc sống. Và rồi tôi bơ vơ, lạc lõng. Tôi trở thành kẻ quá khích của điều thiện, một thứ cuồng sỉ khó ai dung dưỡng nối. Kẻ quá khích của điều thiện chỉ đem về cho nó những thù ghét cay đắng, những ngộ nhận nghiệt ngã, những săn đuổi không thương xót. Không phải bất cứ ai cũng có thể giải tỏa nỗi ẩn ức của mình bằng chữ nghĩa. Tôi nghĩ tới những tác động phá phách của tuổi trẻ mất niềm tin và cả những bất động nữa. Cả hai điều thiệt thòi cho quê hương. Bọn buôn bán tuổi trẻ đã không hề nghĩ đến sự thiệt thòi ấy. Chúng nó chỉ biết làm lợi cho chúng nó. Và tôi lên tiếng. Tiếng nói của tôi chìm vào hư vô bởi những khỏa lấp của quyền lực và tài lực. Thêm nữa là sự rút đầu xuống cát của đà điểu văn nghệ. Chẳng ai ngu si đi tìm những oan khiên cho mình. Ai cũng biết khôn ngoan sống chiều lòng người, vừa lòng người, đẹp lòng người, khen luôn những cái không đáng khen của người, suốt đời ngậm miệng không chê người… Cái triết lý sống bần tiện này không nên có ở những người cầm bút trong thời đại hôm nay. Anh đừng nói anh chuyên viết và bình luận văn học, không dính dáng chính trị. Chúng ta đang sống ở kỷ nguyên mà con người khó thoát khỏi quỹ đạo chính trị. Anh không làm chính trị, anh cũng không có thái độ chính trị nữa sao? Vậy sự từ bỏ Việt Nam sang Mỹ của anh là thái độ gì? Kỷ nguyên nghệ thuật vị nghệ thuật đã chấm dứt và nó rất lạc hậu đối với hiện cảnh và thảm cảnh Việt Nam. Người cộng sản chỉ mong anh không có thái độ chính trị, chỉ mong anh bàn về ăn mặc, uống trà, để khen anh. Họ đã khen anh. Và rồi họ sẽ nuốt anh. Như họ đã nuốt anh em của anh, dẫu có người chưa hề có thái độ chính trị. Thế Viên chẳng hạn. Vũ Hoàng Chương chẳng hạn. Anh khôn lõi. Tôi dại dột. Nếu các hào kiệt Nhân văn giai phẩm đã khôn lõi, chắc chắn, đã không có dấy động tuyệt vời của chữ nghĩa. Anh khôn lõi, anh được tôn sùng. Tôi dại dột, tôi bị ghét bỏ. Nhưng tôi hãnh diện về sự dại dột của tôi. Và tôi ngạo nghễ khinh thường thơ văn không chính kiến của anh hôm nay là:

Thứ thơ văn nghìn năm không dấy động
Thơ văn cột rỗng
Lớp son mầu mè tỉa tót công phu
Thứ thơ văn tửu hậu trà dư
Thơ văn chết khi cuộc đời căng nhựa sống
Thơ văn ngồi khi Việt Nam khốn quẫn
Thơ văn nằm khi bạo lực diễn hành
Thơ văn tô móng tay khi dân tộc đói nhăn răng
Thơ văn nhẫy nhụa môi son vênh vang trưng diện

Tôi viết văn, làm thơ chẳng hề đeo tham vọng đi vào văn học sử hay bất tử. Với tôi, đó là chuyện hề kệch cỡm. Trước năm 1975, rất nhiều lần, tôi thành thật nói tôi viết văn để mưu sinh. Không biết làm nghề gì cả, tôi làm nghề viết văn. Và tôi đã sống bằng nghề viết văn, hoàn toàn sống bằng nghề viết văn. Không có thiên chức hay sứ mạng gì trong văn chương của tôi cả. Chưa từng ngửa tay nhận tiền của cơ quan ngoại quốc nào để vừa viết văn vừa ăn vừa lo nộp sách. Cũng chưa từng ngửa tay nhận tiền của Mạnh Thường Quân nào. Tôi bán chữ nghĩa của tôi thẳng cho nhà xuất bản. Tôi là công nhân chữ nghĩa, nếu anh muốn gọi thế. Tôi bắt đầu có tham vọng văn chương từ hôm Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung, tác giả Vụ án hồ con rùa, đại diện đảng Cộng sản Việt Nam, nói với tôi một câu đầy miệt thị: “Thế giới đâu đã đọc sách của các anh.” Rồi trải qua ba nhà tù, hai trại tập trung ròng rã 6 năm. Rồi nhìn lại một Sàigòn bán máu đỏ mua gạo đen, nhìn lại một sản phụ không sữa nuôi con bị vắt vú ba lần mới được mua sữa bò giá chính thức, nhìn lại cảnh chó và người mưu sinh chung ở đống rác, nhìn lại vô số … Rồi tôi vượt biển và nhìn đồng bào tôi bị ngược đãi tại quán trọ trước cổng thiên đường. Tôi càng thấy tôi nên có tham vọng văn chương. Tham vọng văn chương của tôi sẽ không bao giờ đi vào văn học sử. Tôi nghĩ chúng ta cần có tổ quốc đã. Thiếu tổ quốc, hình như, không có lịch sử và mọi chuyện đều vá víu tạm bợ. Vậy thì tham vọng văn chương của tôi, bây giờ, là ngày mai của tổ quốc tôi. Muốn có ngày mai của tổ quốc, tôi phải chiến đấu. Văn chương của tôi là văn chương chiến đấu, là tư tưởng dấy động, là chữ nghĩa lên đường; không thể là văn chương chết, là tư tưởng ngồi, là chữ nghĩa nằm. Văn chương ấy phải làm thế giới xúc động mà cảm thông nỗi khổ của dân tộc tôi. Tôi đã sung sướng thực hiện được một bước trong ngàn bước tham vọng văn chương của tôi, dẫu tôi cô đơn, âm thầm làm một mình, dẫu tôi bị móng vuốt của đố kỵ hèn mọn cào cấu chảy máu, dẫu tôi bị bạo lực cộng sản bức tử. Nói tóm lại, tôi thích được gọi là người viết văn có chính kiến và chấp nhận mọi thiệt thòi, vật chất và tinh thần, cho kẻ ham bày tỏ chính kiến rõ rệt, dứt khoát. Tôi đọc ở Remarque câu này: “Khi thế giới còn những bọn hung tàn vô nhận đạo mà mình biết mình đủ khả năng chống đối, lại không dám chống đối, là mang tội ác.” Tội ác trên cả tội lỗi, ghê gớm lắm. Tôi sợ mang tội ác nên tôi tiếp tục chống đối, sau thêm một phen bị lừa gạt niềm tin ở tuổi 40. Tôi đã chiến đấu ngoài đời và trong văn chương. Ở hoàn cảnh tôi năm 1975, anh không dám phản động đâu. Chưa ai lãng mạn hơn tôi. Với tôi, tất cả đều trực diện chiến đấu, không phục kích, chiến đấu công khai. Cuộc chiến đấu của tôi rất trẻ nên tôi cần dẹp bỏ bọn lái buôn lý tưởng của tuổi trẻ.

Tôi ngồi suy nghĩ vẩn vơ một chặp thì đến giờ phát thuốc. Mọi sinh hoạt ngừng hẳn. Tù nhân chen nhau ở chỗ chia cơm nước. Vì cửa phòng mở rộng, ai cũng thèm đứng gần cửa để hít dưỡng khí. Y tá tù bê một khay thuốc.

– Ai bệnh cảm cúm?

Tù nhân bị cảm cúm dơ tay. Mỗi người cầm sẵn một ca nước. Y tá múc thuốc bột bằng muỗng cà phê từ cái hủ thủy tinh. Thuốc cảm giống màu xi măng nên tù nhân đặt tên nó là thuốc xi măng. Tù nhân uống thuốc trước mặt y tá.

– Ai cảm sốt?

Tù nhân cảm sốt dơ tay. Thuốc cảm sốt y hệt thuốc cảm cúm. Nghĩa là thuốc xi măng ở cùng cái hủ.

– Ai đau bao tử?

Đau bao tử được uống xi rô màu hồng.

– Ai đau tim?

Bệnh tim tương tự bệnh bao tử, nên trị bằng … xi-rô màu hồng luôn.

– Ai tiêu chảy? Ai ghẻ mủ? Ai kiết lỵ?

Ba bệnh nầy chung một triệu chứng. Và bệnh nhân uống Xuyên Tâm Liên, món thuốc trị bá bệnh, trị cả ung thư nữa. Tù nhân đau bao tử và đau tim… giả vờ đông hơn cả tù nhân đau thật sự. Vì xi-rô có đường. Tù nhân cần chất đường, thêm chất đường cho đỡ hại cơ thể! Cách mạng nắm vững vấn đề. Do đó, đau tim và đau bao tử chỉ được phát một muỗng cà phê xi-rô hồng. Các thứ bệnh “điều trị” xong, y tá phát thuốc tư. Thuốc tư là thuốc của thân nhân gởi vào nhà tù cho tù nhân. Thuốc phải đăng ký ở Phòng Y Tế của đề lao. Muốn xử dụng hôm nay, tù nhân phải thông báo y tá từ hôm qua. Y tá ghi vào sổ. Tù nhân đăng ký thuốc tư có số riêng. Trừ thuốc bổ, các thứ thuốc bệnh phải uống trước mặt y tá. Khi tù nhân bị bệnh đột xuất, thí dụ trúng gió, ngộp thở, bất kể ngày đêm, trưởng phòng ghé miệng sát cửa gió, nói lớn: “Báo cáo cán bộ, phòng … có người bệnh nặng.” Bác sĩ nhà tù sẽ đến cấp cứu. Bệnh nguy kịch, tù nhận được chở qua bệnh viện Nguyễn Văn Học.

Màn phát thuốc chấm dứt. Cửa phòng khép lại, khóa kỹ. Y tá sang 7C-1. Thời khoá biểu đề lao được áp dụng trúng phóc. Đến giờ cơm trưa. Cơm trưa đề lao ăn lúc mười giờ. Cửa phòng mở. Trật tự viên và hai “trực sinh” ra khiêng cơm và thức ăn vào. Tù nhân thay phiên nhau, hàng ngày, hai người chịu trách nhiệm quét phòng, lau sàn phòng, bục ngủ, chà rửa sàn nước, cầu tiêu, khiêng cơm. Cơm nước chia xong, phải lau sàn và rửa thùng đựng cơm, thùng đựng thức ăn sạch sẽ. Một ngày làm công việc này gọi là trực nhật, và người làm gọi là trực sinh! Theo luật nhà tù xã hội chủ nghĩa, phòng giam tập thể chia thành nhiều tổ, mỗi tổ 10 tù nhân lãnh đạo bởi Tổ trưởng và Tổ phó. Vậy một phòng giam có Trưởng phòng (chủ tịch nhà nước), Phó phòng (phó chủ tịch nhà nước), Trật tự viên (Tổng Bí thư), Thư ký (ban bí thư trung ương đảng), các Tổ trưởng, Tổ phó (uỷ viên trung ương đảng). Mỗi tối thứ sáu họp phòng, kiểm điểm … thành tích tù. Biên bản ghi một câu đúng chỉ tiêu đặt ra: “Các can phạm triệt để tin tưởng vào sự khoan hồng nhân đạo của Đảng và Nhà Nước, quyết tâm học tập cải tạo tốt để sớm được về sum họp gia đình. Trước khi bế mạc, các can phẩm hồ hởi, phấn khởi liên hoan văn nghệ bằng hợp ca bản Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Biên bản này được đọc lớn cho cả phòng nghe. Mọi người nhất trí.” Trực sinh do Tổ trưởng chỉ định từng cấp thuộc tổ mình. Trưởng phòng, trật tự viên, thư ký được miễn trực nhật.

104 cái ca nhựa được bày thứ tự thẳng hàng. Trật tự viên phân phối cơm và thức ăn. Cơm gạo hẩm, đầy cả cỏ ngọn. Thức ăn bữa thì hai miếng đậu kho, bữa thì su su kho, bữa thì cá ngừ hay cá đuối kho, bữa thì canh rau muống già, canh bí rợ. Kho và nấu canh bằng muối. Đậu kho tuyệt tích từ tháng 8-1976. Muốn ăn miếng thịt cà ri hay thịt khô, phải đợi mấy ngày lễ lớn. Thường xuyên là cá biển ươn kho. Ươn phát thối thì cà-ri cá. Cá biển lừng danh đến nỗi tù nhân đặt cho những tên mỹ miều như: Trần Thị Lệ Đuối, Lệ Ngừ… Cuối cùng, các loại cá biển nhà tù mang chung tên của một ca khúc cách mạng:Đàn Ta-Lư. Bởi vì, tù nhân bị ghẻ mà ăn cá ngừ, cá đuối thì gãi bằng thích. Khi gãi ghẻ, tù nhân bảo gẩy đàn Ta-Lư! Tính tính tính tính tang tính tình … Đàn em reo vang, đàn Ta-Lư. Vừa gãi ghẻ, vừa nghe danh ca hạng nhất Hà Nội là em Tường vi hát Đàn Ta-Lư, sẽ giật giật tuyệt cú mèo. Chia cơm ồn ào gấp bội chia nước sôi. Đôi khi, đấm đá xảy ra giữa các ông tù trộm cướp với các ông tù mafia. Trưởng phòng giả vờ đui điếc. Báo cáo cán bộ, đêm nó nấu bao ni-lông, nó đổ vào mắt là mù.

Bữa cơm trưa vừa dứt là kẻng báo ngủ trưa. Cả phòng im lặng. Không ngủ thì ngồi im lặng. Bây giờ, phòng giam mới là cái lò nướng bánh mì đúng nghĩa. Nắng hừng hực trên mái tôn. Sức nóng hầm da thịt. Tù nhân mình trần, quần xà lỏn nằm nghiêng, nằm ngửa trên bục xi-măng. Mồ hôi tuôn xối xả. Nguyễn Hải Chí thấm ướt cái khăn tắm đặt lên ngực cho mát mà ngủ. Chừng thức giấc, cái khăn khô rom. Mồ hôi không ra ở ngực, nó ra ở lưng. Vài tù nhân quên Nội qui, cởi truồng nằm ngửa tênh hênh, ngáy pho pho. Thân phận con người như những con heo cạo lông phơi bày trên sạp bán thịt. Không hiểu tại sao tù túng thế, khổ cực thế mà tính dục vẫn chưa bị diệt. Kìa tù nhân cởi truồng nằm ngửa, khẩu đại bác đang dựng đứng. Và trong giấc mơ hoa ở lò nướng bánh, hắn đã bắn máy bay, đạn phọt lên! Hắn cựa quậy. Rồi hắn vội lấy khăn che dấu khẩu đại bác. Tôi ngồi dựa lưng vào tường quan sát. Chẳng biết một mai sống sót về, tôi có đủ khá năng diễn tả một buổi trưa hè trong một phong giam ở đề lao Gia Định? Tôi viết về những cuốn sách dính dáng tới nhà tù. Tôi tưởng tượng. Tôi viết mò. Tôi gian dối với độc giả. Tôi vừa tìm ra cái lý do văn học của chúng ta thiếu tác phẩm lớn, tác phẩm tầm vóc quốc tế, dù quê hương chúng ta đầy dẫy đề tài kích thước, để cống hiến cho các nhà vẫn thống lĩnh đỉnh núi trong suốt ba thập niên cách mạng, thù hận, chiến tranh, giải phóng, chia lìa, đổ vỡ, lưu đày, đói khổ, ngục tù… Nhà văn lỗi lạc của chúng ta ở miền Bắc đã bị cưỡng bức sa đọa hóa tư tưởng. Họ đã bị hoàn toàn tê liệt sự rung động và sáng tạo. Nhà văn lỗi lạc của chúng ta ở miền Nam thì ít sống, sợ sống, lười sống. Hãy đọc Sống chỉ một lần xem Mai Thảo sống ra sao. Sống loanh quanh thành phố, lang thang phòng trà, tửu điếm, hộp đêm. Sau một kinh qua vỡ núi lấp sông của dân tộc, Mai Thảo cứ nhởn nhơ sống theo phong cách đó và thản nhiên tái bản Sống chỉ một lần. Những tài năng đoạt giải nhất, giải nhì khác? Chưa có biến chuyển khác lạ. Vẫn nhai lại. Tôi xác định thêm một lần nữa: Tôi chỉ là người viết tiểu thuyết mưu sinh tầm thường, không đáng kể. Tôi kỳ vọng những tác phẩm lớn ở những nhà văn lỗi lạc của chúng ta. Không có, vì họ sợ sống. Thế Phong đã đưa ra một đề nghị lạ lùng: “Muốn có tác phẩm lớn, phải nhờ bọn thống trị lôi các nhà văn ra bùng binh Chợ Bến Thành, quất roi xuống thân phận họ, họ sẽ viết.” Có vẻ sa-đích. Mà đúng. Nhà văn của chúng ta thiếu phẫn nộ bởi lánh xa mọi phẫn nộ của dân tộc. Có kẻ đã thể nghiệm sự phẫn nộ, sự thống khổ của quê hương đấy. Kẻ ấy giương danh nhà văn chân chính, chê tư tưởng thiên hạ “Cao hơn giép râu cộng sản”, viết pho sách ngót nghét nghìn trang để chỉ phô diễn sự “Ăn vụng, ăn cắp, ăn tranh phần cơm heo”. Chẳng nên làm nổi danh kẻ này bằng cách nêu tên ông ta và tên “tác phẩm để đời” của ông ta. Tôi vừa vỡ lòng cay đắng, đang nhập môn thống khổ, nhưng tài còm của tôi vẫn khó hứa hẹn diễn tả nổi một buổi trưa hè trong một phòng giam của đề lao Gia Định. Thật sự mà nói, muốn có tác phẩm văn học lớn, chúng ta phải chờ đợi các nhà văn trẻ thế hệ sau 1975.

Kẻng báo thức lại khua. Tù nhân lại ồn ào. Vòi nước đã chuyển qua ô cửa gió. Như buổi sáng, nước đầy hồ rồi thì mỗi tù nhân có 10 giây tắm, gội không sát xà phòng. Cuộc tắm hà tiện nước của cách mạng chấm dứt khi vòi nước kéo mạnh ra. Người ta đã nhìn đồng hồ mà ban ân huệ tắm. Y tá xuất hiện với hai chai thuốc ghẻ xanh và vàng. Xanh là Bleu de méthylène. Vàng là gì, tôi không rõ. Vàng, nếu tôi đúng, là môn thuốc ghẻ cổ lỗ sĩ chế bằng diêm sinh và lưu hoàng, mùi hôi khó tả và xức ghẻ thì xót điếng người. Y tá rót thuốc xanh và vàng vô hai cái lọ thủy tinh mà Trật tự viên có bổn phận bảo quản. (Nhà tù sợ tù nhân tự sát hoặc sát hại nhau bằng mảnh thủy tinh). Thêm một hoạt cảnh đề lao. Ghẻ mủ, ghẻ nước, hắc lào đều bôi thuốc xanh, thuốc vàng. Hai tù nhân bôi thuốc cho nhau. Ghẻ đề lao ranh mãnh lắm. Nó cứ nhè “của quý’ mà lập chiến khu. Tù nhân nầy cởi truồng, chổng mông để tù nhân nọ bôi thuốc. Thuốc vừa bồi xong, tù nhân nọ vội lấy quạt quạt lia lịa. Vì thuốc xót vô cùng. Tù nhân bị bôi thuốc dẩy nẩy. Kẻ nhảy tăng tăng, kẻ quạt lia chia. Một vũ điệu ngoạn mục của đề lao Gia Định. Chừng hết xót, tù nhân đã được bạn bôi thuốc sẽ bôi thuốc trả nợ bạn. Và quạt. Bục tù biến thành sân khấu nhảy múa. Mà người biên soạn vũ điệu ghẻ là cách mạng, là Đảng quang vinh! Có tù nhân ghẻ tứ tung bèn sơn thuốc xanh khắp mình mẩy và được phong làm chim xanh, mang tên Mỹ: Mr. Blue Bird. Ông Thế kể đã có tù nhân chết vì … ghẻ, tháng trước, tại 6C-1. Tù nhân tên Tuấn, trung úy cảnh sát đặc biệt. Anh ta vốn mắc bệnh phong tình. Vô đề lao, anh bị ghẻ mủ. Anh ta tuyệt vọng, khước từ uống và bôi thuốc của vợ gửi vào. Anh ta khước từ tắm luôn. Ghẻ ăn chung quanh mắt anh. Nhà tù mời vợ anh vô thuyết phục anh. Anh vẫn khước từ. Người ta đưa anh vô bệnh viện Nguyễn Văn Học. Anh chết. Bởi anh tình nguyện chết.

Hoạt cảnh ghẻ hạ màn. Cơm chiều đến. Cơm chiều giống cơm sáng. Chia chác, ăn uống, rửa ca muỗng xong, tù nhân chơi đô-mi-nô, cờ tướng, chuyện trò, hút thuốc, nhớ vợ con, mong đợi thả về và chờ kẻng báo ngủ. Thế đó, trừ những hôm thăm nuôi, mua hàng, họp cuối tuần, sinh hoạt ở các phòng giam đề lao Gia Định giống hệt nhau. Một ngày như mọi ngày. Cô đơn trong thống khổ. Rã rượi trong tủi nhục.