NGỦ TRONG ĐƠN ĐỘC

Trong một giấc mơ, bạn thấy mình đã chết, mọi người thì vẫn cười nói, không ai nhìn thấy bạn, không ai nhớ ra bạn. Mà vì sao bạn chết? Bạn có biết đâu. Bạn hỏi cái bàn thờ có di ảnh của mình. Bạn trong di ảnh nhìn bạn, không cười, không nói. Chỉ có đôi mắt luôn buồn bã, âm u. Đôi mắt trách cứ bạn. Tại sao lúc nào cũng rưng rưng. Bạn có biết đâu.
Bạn đi lòng vòng quanh sân, bạn không thấy em. Chắc em không biết bạn đã chết. Mọi người vẫn cứ cười nói, mặc nhiên không ai biết sự vắng mặt của bạn. Bạn đã đi lâu chưa nhỉ? Bạn thắc mắc trong mơ hồ. Và vẫn cứ thắc mắc trong mơ hồ như vậy.
Cơn đau lùa đến, và kéo bạn đi. Bắt đầu từ đỉnh đầu, rồi lan ra, như vệt máu loang trong nước. Bạn nằm và nhắm mắt, dung nham như trào ra từ hốc mắt, cuồn cuộn, chập chùng. Khung cửa sổ lộng gió, sau cửa kính, bạn còn nhìn thấy cây thánh giá trên một ngôi mộ cũ đã được hốt cốt. Trước đây, chỗ này là bãi tha ma trước khi xây nên bệnh viện này. Bạn nhìn nấm mộ cũ, rồi bạn nhập tâm. Đêm cứ đen, hành lang khoa nội vắng tanh, hun hút. Chỉ có dãy đèn led xanh ngắt. Bạn thèm tiếng người, nhưng chỉ có tiếng gió. Mạng wifi chập chờn, bạn muốn kết nối với một ai đấy. Nhưng không kết nối được. Chỉ còn bạn trên dãy ghế chờ ở hành lang trống, những vòng xoáy sâu hút như ảo ảnh, như trong game yewelery, xoắn tròn xoắn tròn và sâu hút, giai điệu của ca khúc Face dập dềnh lôi bạn đi, ra xa. Những khúc rời rạc lại bắt đầu, bạn không xác định được mình đang nghĩ gì, và sẽ nghĩ gì, những cơn chuột rút làm bạn co quắt chân tay. Cơn đau lan dần xa, như vệt địa y mùa mưa, trong sâu thẳm đen, bạn cũng chỉ thấy bạn một mình, bạn muốn vẽ lên nỗi cô độc của mình, nhưng bạn đã nói nhiều về nó rồi, bây giờ bạn còn kể nói được gì? Bạn không biết kể về điều gì bây giờ, quanh bạn, còn gì ngoài nỗi cô đơn? Đã có những nấc thang, đã có những bàn chân trèo lên đấy, đã có những lần rời xa nhau, lòng người dễ vụn vỡ vậy sao? Có khi trong những đêm trắng, chỉ một mình bạn hiện hữu. Không có em, trong suy nghĩ của bạn, vì bạn biết, em cũng như bao người kia, cũng như mưa rơi qua hiên nhà, rồi tan mất Bạn muốn gọi em, nhưng phía đó chỉ còn sự im lặng kéo dài, không có tín hiệu phản hồi, những vòng sóng đồng tâm dằn vặt bạn. Chiếc điện thoại nảy lên những hồi chuông tưởng tượng, sự im lặng đó, sự im lặng ngằn ngặt của chờ đợi làm bạn bức bối đến nghẹt thở. Sự im lặng không hồi đáp khi muốn trốn tránh . Bạn nghĩ, bạn là sự phiền toái? Hay bạn đã trở nên vô hình trong em, trong mọi người?
Bạn thiếp đi trong một giấc ngủ nào đó, xung quanh lạo xạo tiếng cười nói. Có tiếng cười nhạo bạn, có tiếng cười mơ hồ. Những âm thanh lẹt xẹt cà giựt như tiếng ra đi ô lúc nhiễu sóng. Sao bạn lại ngủ ở đây? Bạn cũng không biết nữa. Cứ là phải ngủ, đúng như sắp xếp, đúng như quy trình thôi. ” Nhưng không có công đoạn nào để bạn ngủ ở đây cả” ” Quán cà phê vắng tanh, chứ không phải phòng họp” bạn nói. Nhưng những tiếng cười cứ vang lên nhạo báng bạn. Cây hoa hồng nở những đóa hoa trên cao, thậm chí không cả nhìn xuống.
Bạn lại đi loanh quanh, bậc thang đi xuống sâu hun hút, tối và ẩm ướt. Bạn nhớ cầu thang của khu tập thể năm xưa.
Bạn đi vòng quanh ghế nhìn mình ngủ. Chiếc ghế với dây nhợ lòng thòng mắc chẳng chịt xung quanh , tựa như bụi gai mắc mèo bên vệ đường. Bạn nằm trên ghế như một khối đất sét nhểu nhão. Một chiếc ống màu xanh lam cắm trên miệng bạn. Khi nào thì rút? Rút ra thì là chết? Bạn thắc mắc và muốn nhòm ngó kỹ hơn một chút. Nhưng một lớp kính trong suốt đã bao quanh chiếc ghế, khiến bạn không thể đến gần hơn. Sau lớp kính ấy là gì? Bạn rất tò mò muốn biết. Nhưng không ai cho bạn biết. Người trong khuôn kính ấy đã chết chưa? Hẳn là chưa, vì bạn chỉ mới ngủ thôi mà. Sao có thể là chết được. Nhưng hình như, bao nhiêu người vẫn chết khi đang đi đứng đó thôi. Bạn lại nghi ngờ, hình nhân trong kia không phải bạn. Sao nó nằm dài thế, bạn có cao đến thế đâu. Sao nó mốc meo như thế, da bạn vốn hồng hào cơ mà. Vậy chắc hẳn không phải bạn rồi. Nhưng nó, lại bảo là bạn đấy, nó mang quần áo của bạn, nó đeo phù hiệu của bạn. Một cương thi cũng có thể giả danh sao?
Bạn lại đi lòng vòng ra bên ngoài sân. Hoa trắng nở rợp trời , di ảnh bạn vẫn còn trên bàn thờ. Nhưng bát nhang thì đã nguội ngắt. Mọi người vẫn không ai nhìn thấy bạn. Có người vung tay cười nói ầm ĩ, có người rú rít lên. Lại có đứa dã dượi vắt vẻo nửa nằm nửa ngồi trên ghế, mắt láo lơ, miệng cười cười . Từng tốp những bọn trẻ mang đồng phục ôm những búp hoa lại tiếp tục diễu hành. Những cánh tay vung đều như máy. Bạn đứng lại một chốc, không chạy lung tung nữa. Bạn đứng lại bên chiếc ghế mình đang ngủ. Hình nhân há hốc mồm giữa u mê. Cánh môi giựt giựt như đang định hát ru bài ru của mẹ, hay đang hô to khẩu hiệu trong mơ? Bạn không biết. Bạn khom xuống và chăm chú nhìn. Khúc hát ru bay lửng lơ trên cao. Ru ai mà thơm mùi đồng ruộng, rạ rơm mục rã trên bùn. Ru ai mà hương sen thơm ngát ? Ru ai ngõ tối đêm sâu, hương nhài thoảng rợp sau mưa?
Bạn lại nhìn bức ảnh trên bàn thờ lần nữa . Là khuôn diện của bạn. Bạn chết chưa? Chết rồi sao chưa ăn cháo lú? Chết rồi sao chưa tới sông mê? Hoa kia rập rờn nhưng cũng không phải là bỉ ngạn. Sao chỉ mắt môi bạn tái xanh? Từng dãy từng dãy quan tài xếp trùng trùng điệp điệp. Tững dãy áo quan trôi đều đặn trên băng chuyền. Sau người này là đến người khác. Không nhanh hơn không chậm hơn. Những bàn thờ mọc ra cũng phải đúng quy trình?Là như câu nói ở ngoài cổng một nghĩa địa cũ bạn từng thấy ” Hôm nay chúng tôi, mai là anh chị”
Bạn đi loanh quanh trong khu nhà xác. Nơi nào thì quàn xác thân của bạn? Bạn nhìn ngó xung quanh. Những đôi môi tái xanh, những đôi mắt đông cứng. Và linh hồn bạn vụn vỡ. Sau khi chết, con người bơ vơ thế này ư? Mỗi một xác thân cứ như một tinh cầu cóng lạnh. Giao tử không thoát ra ngoài mà âm u rồi tiêu biến mất giữa hư vô.
Thôi thì bạn đành ngồi xuống mà chờ. Hỏi thì không biết hỏi ai. Ai ai cũng không thấy bạn. Bạn không thể biết được bạn đang ngủ hay là đã chết. Xác thân còn hay không còn có gì dị biệt. Biến mất không dấu vết ngay giữa mọi người. Phố xá đông vui sao bạn cứ trong suốt như sương? Ờ, mỏi gối rồi, ngồi xuống đây mà nghỉ. Không thì cơn gió rập rền kia lại cuốn trôi bạn ra xa. Nơi nào cho bạn neo đậu? Một mảnh quê hương chỉ còn trong quá khứ. Một dấu ấn chỉ thiên rồi cũng như một dạng tính từ. Có những người, bạn không biết họ đang sống hay đã chết. Một dạng hình nhân cười nói giữa hoang vu. Hôm qua thấy trên truyền hình nói cười rào rạt, nay đã nghe cáo phó sang sảng giữa phố phường. Mà có kẻ, sống cũng như chết rồi, chết cũng như là sống rồi. Có khác chi nhau. Ai chết gốc đa bờ suối, om om còn tiếng gọi đò. Ai nương oan hồn tử sĩ, roiiof cũng gò đống xương khô. Mây thì cứ trắng trên đầu, hoa hồng cứ nở trên cao. dẫu bạn có thắc mắc, cũng không ai thèm giải đáp. mà có ai biết để mà giải đáp? ngàn năm cứ một câu mơ hồ. răng ai sống thì là sống, ai chết là chết, ngạn ngục thiên đàng, khôn dại cũng qua một đời.
Bạn ngồi mò mẫm từng đốt ngón tay. Này là ngón vui buồn hoan hợp. Này là ngón cầm nhẫn, ngón leo thang. Ngón nào mang dấu thề bồi? Ngón nào ngoắc tay hứa hẹn? Tay năm ngón có ngón dài ngón ngắn. Em nói: cứ hi vọng rồi sẽ có lúc đổi khác. Sao tay bạn đang nhìn, ngón nào cũng mục nát như nhau? Bạn lại ngồi lăn lóc trước sân nhà phước. Chờ tiếng chuông báo tử khẳng định cho một cái chết, vang lên


Phương Uy

Advertisements

THẾ GIỚI THI CA TƯ TƯỞNG BÙI GIÁNG

Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, văn nghệ sỹ cự phách, thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sỹ kỳ dị, kiệt xuất, xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.

Trời đất, nhật nguyệt vẫn lăn quay dưới gót chân đời cát bụi, Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, quả nhiên là một hiện tượng kỳ lạ mà cho đến ngày nay, chưa một ai có thể hiểu thấu đáo về cõi tư tưởng hoằng viễn, cõi thi ca bát ngát vô song đó.

Tuyệt mù những ngày xa xăm, thời còn niên thiếu, lang thang ở Huế, Quế Sơn, Hội An, Duy Xuyên, Vĩnh Điện, Đà Nẵng… đến năm 1952, lúc mới 24 tuổi, thi sỹ bỏ xứ, lên đường phiêu lưu vào Sài Gòn, bắt đầu cuộc lữ phiêu bồng khốc liệt, không mục đích.

Giai đoạn này, có đi dạy học ở các trường tư thục một thời gian rồi bỏ, chuyển sang sáng tác, viết sách bình luận văn học, dịch thuật và rong chơi ngút mùa cuồng phong bão táp, ướt đẫm sương sa, mưa nắng dầm dề… Kể từ đó cho đến nay, suốt mấy chục năm trời viễn du biền biệt, chưa một lần quy hồi cố quận, nhưng lòng thì vẫn nhung nhớ triền miên :

Điện Bàn Đại Lộc Duy Xuyên
Xiết bao tình nghĩa thần tiên mộng đầu
Vĩnh Trinh Lệ Trạch Thanh Châu
Thi Lai Hà Mật nhìn đâu dáng người
Người đầu tiên đã mỉm cười
Nhìn tôi tưởng thấy niềm vui vô cùng
Tôi ngồi tưởng nhớ mông lung
Tưởng từ chín suối tới bao dung Bầu Trời

Thi sỹ khơi vơi ngồi nhớ quê nhà như thế. Quê hương cố xứ bên dòng sông Thu Bồn ở Duy Xuyên, Quảng Nam. Có người hỏi tiểu sử thì Bùi Giáng cười đáp : “Thi sỹ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây gay cấn, ly kỳ và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn… Thuở nhỏ bỏ học về nhà quê, làm thơ tặng chuồn chuồn và châu chấu.” Hỏi về sự sáng tác phi thường, thì lai rai nói : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sỹ thì ta biết nó làm thơ, nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”

Về sở học của nhà thơ, quả thật là thông đạt, quảng bác vô cùng, làu thông nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Hán… Không biết thi nhân tự học từ lúc nào mà trở thành một bậc thượng trí, hầu như vô sư tự ngộ, chỉ do đọc sách mà phát minh tâm địa, như trường hợp thiền sư Huyền Giác, do đọc kinh Duy Ma Cật mà hoát nhiên triệt ngộ chân lý diệu thường.

Từ đó, trọn suốt cuộc đời thi sỹ cứ phiêu nhiên trên con đường thênh thang sáng tạo. Bước đi thi ca tỏa rợp trời thơ đất mộng bồng bềnh, trôi lênh đênh giữa phù hoa phố hội, hết sức lạ lùng. Lúc bấy giờ có nhà xuất bản An Tiêm do Thanh Tuệ làm giám đốc, vì một cơ duyên hy hữu nào đó đã dốc toàn tâm, toàn lực ra để lo cho công việc in ấn riêng biệt những tác phẩm thơ văn, biên khảo, dịch thuật của Bùi Giáng.

Sức sáng tạo của thi sỹ vào thời gian này, từ năm 1960 đến năm 1975 rất mãnh liệt, như ngọn lửa thiêng, sáng bừng rực rỡ khắp trời đất u huyền, khiến cho nhà xuất bản An Tiêm in ấn không kịp.

Về thi ca : Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Màu Hoa Trên Ngàn, Ngàn Thu Rớt Hột, Bài Ca Quần Đảo, Sa Mạc Phát Tiết, Sa Mạc Trường Ca…

Về biên khảo : Một Vài Nhận Xét Về Truyện Kiều, Phan Trần, Thúy Vân, Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, Quan Âm Thị Kính, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Thúy Vân Tam Hợp Đạo Cô, Đi Vào Cõi Thơ, Thi Ca Tư Tưởng, Tư Tưởng Hiện Đại, Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, Mùa Thu Trong Thi Ca, Mùa Xuân Trong Thi Ca, Ngày Tháng Ngao Du…

Về dịch thuật : Hơn chục tác phẩm của các tác giả Heidegger, Hoelderlin, Nerval, Saint Exupery, Albert Camus, Andre Gide, Shakespeare, Ngọa Long Sinh, To Man Thu….

Đó là một điều không ai hiểu nổi vì suốt ngày thâu đêm, người ta chỉ thấy một Bùi Giáng cuồng phóng rong chơi, cuồng sỹ du hý ca, nhảy múa, la hét giữa trời một cách thoải mái quanh vùng phồn hoa đô hội Sài Gòn, Chợ Lớn, Tân Bình, Gò Vấp…. Thường ngâm thơ, uống rượu lu bù với mọi giới bình dân đây đó, bạ đâu ngủ đấy, ngay ngoài vỉa hè xó chợ, bên góc quán hiên chùa… Rong rêu lêu lổng khắp đầu phường cuối phố, ngao du trào lộng giữa ta bà, quá độ nồng say phóng túng :

Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau
Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời

Chơi ngút mùa thơ, thi sỹ sống không nhà cửa, không vợ con, không tài sản, không sự nghiệp, không danh lợi, không là gì cả, ngoài một bầu rượu túi thơ và một bộ quần áo xốc xếch cũ mèm, rách nát tả tơi, trông giống như một Tế Điên, một gã ăn mày quái dị, nửa tỉnh nửa mê…

Thế mà sức sáng tạo, sáng tác quá đỗi rạt rào như thác đổ trào tuôn, thật là vô tiền khoáng hậu. Nhà thơ viết như thần nhập, như nhảy tung vào cõi huyền ngôn mật ngữ, làm khơi mở mối giềng xiết bao rực cháy, gây nên một nguồn cảm hứng tưng bừng, dậy sóng phiêu bồng cho biết bao kẻ đồng điệu, đồng cảm vút hồn bay chuếnh choáng, ngất ngây trong cơn say sưa túy lúy.

Đi vào cõi thơ Bùi Giáng, chúng ta cần phải buông xuống cái biên kiến, chấp thủ và chỉ khi nào cái bản ngã hạn hẹp của mình được chuyển hóa thì lúc ấy chúng ta mới lãnh hội, tương ứng với ngôn ngữ chân thực nghĩa tân kỳ của thi ca, của một cái gì vốn dĩ vô ngôn mà phải nói đột xuất bất ngờ :

Ấy là nhạc ? Ấy là thơ ?
Ấy là rượu đế một giờ bỗng dưng ?
Ấy điên đảo ? Ấy điệp trùng ?
Ấy từ vô tận lừng khừng mà ra
Thưa em ngôn ngữ thật là
Cái gì như thể ngọc ngà thiên hương

Thưởng thức thơ Bùi Giáng là lang thang vào miền cõi vô ngần bất tuyệt, là tha hồ tự do, bồng tênh trên rừng dưới biển đầy âm thanh vi diệu ngữ, ngát hương kỳ hoa dị thảo, dạo chơi giữa ngã ba, ngã bốn những con đường sương mù, mây trắng rồi bỗng nhiên hiện ra một phương trời xanh biếc Nguyên Xuân, rạng rỡ nhiệm mầu :

Hỏi rằng : Người ở quê đâu
Thưa rằng : Tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng : Từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng : Nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng : Đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng : Ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

Nguyên Xuân là mùa xuân rực rỡ, sơ nguyên trong lòng người, là Diệu Tâm trầm ẩn của chúng ta. Từ cõi quê lòng thanh tịnh đó, thi sỹ bước ra hòa điệu cùng cát bụi phù hoa phố thị, ngao du ngày tháng ta bà qua biết bao heo hút dặm dài, giáp mặt với sơn cùng thủy tận của mộng đời hư huyễn, phù du.

Nhà thơ chứng kiến cõi người ta cứ lo tranh đấu, tranh chiến, cãi lộn đúng sai, phải trái, hơn thua, giành giật nhau mãi… Ai ai cũng phát huy cái bản ngã to bự của mình bằng đủ mọi cách chạy theo danh lợi, địa vị, dấy khởi hoài tham lam, sân hận, si mê… để vô tình quên đi mất cái bản tâm thực tánh, cái mặt mũi xưa nay, cái cõi miền Nguyên Xuân thuần nhiên, huyền diệu giữa lòng mình. Cho nên thi nhân chạnh lòng trắc ẩn, thương xót cho những cảnh đời quá nhiều thống khổ điêu linh, bởi con người cứ mãi đắm chìm trong vọng tưởng, vô minh, hiểu lầm ngộ nhận :

Trần gian thơ mộng xiết bao
Mà buồn vô tận ai nào biết ai
Chưa yêu dấu đã lạc loài
Chát chua ngộ nhận tự ngoài vào trong…

Trần gian đáng lẽ tuyệt vời
Về sau chẳng rõ muôn đời đảo điên
Niềm đau nỗi khổ ưu phiền
Nối đuôi tiếp tới triền miên từng giờ

Khi biết rõ từng giờ từng phút buồn thảm, u sầu cứ triền miên vây khổn chốn phù sinh đầy trầm mê, phiền não, khổ lụy như thế, thi sỹ phát đại bi tâm, nguyện yêu thương hết cả trần gian, yêu muôn loài vạn vật, cả thập loại chúng sinh giữa ba đời sáu cõi luân hồi, qua lại đến đi :

Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh

Em đứng mũi anh chịu sào có vững
Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn

‘‘Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn’’ huống chi là con người phải không ? Tình yêu, tình thương ấy tràn ngập khắp các tác phẩm thơ văn Bùi Giáng, dòng dòng long lanh như Mưa Nguồn tuôn đổ, như thác lũ trường giang chảy hoài miên man, ngàn trùng lấp lánh :

Anh đã định sẽ yêu đời suốt kiếp
Suốt thiên thu từ vạn thuở phiêu bồng
Rồi anh chợt thấy mình luôn liên tiếp
Nửa điên cuồng nửa rồ dại lông bông

Và từng phút từng giây chồng chất ngất
Một trăm năm đứt ruột nát gan vàng
Một vĩnh viễn đoạn trường chìm ngây ngất
Dưới trầm luân từ thực thể muôn vàn

Từ thực thể muôn vàn, trầm luân kiếp nhân sinh đó, cũng như Nguyễn Du, nhà thơ tự nguyện gánh vác lên vai vô số khổ lụy, đoạn trường của Thúy Kiều hay như sư cô Tam Hợp, âm thầm nhiếp dẫn từ bi, cứu nhân độ thế. Chính vì dâu bể, vô thường trong cõi đời máu lệ, điêu linh mà Diệu Pháp Liên Hoa đi về, thể hiện tinh thần “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”, chỉ ra tuệ nhãn, cái thấy biết tuyệt vời, tối thượng :

Từ bi ? Vô tận đoạn trường
Đạo cô Tam Hợp ? Hoa Hương Bốn Mùa
Trăm năm dâu bể thiệt thua
Cũng là Diệu Pháp thượng thừa Liên Hoa

Từ cõi Diệu Pháp, vô vi bất khả tư nghì ấy bước ra, nên hành động của thi sỹ không giống như cõi hệ lụy, ta bà đầy đa đoan, chấp ngã của chúng ta. Thành thử nhà thơ tự nhận mình là thằng điên, thằng khùng, ngây ngô, khờ dại cho khỏe nhẹ, để khỏi còn ai thắc mắc, phân vân :

Thần Tiên Thánh Phật uy quyền
Giúp đời vô tận thằng điên quý gì ?
Điên từ muôn một liên miên
Mà ra vạn thuở nối liền Liên Hoa
Ấy từ Diệu Pháp mà ra
Đất đồng mộc mạc nở hoa lẫy lừng

Đó là thể điệu cuồng điên lộng lẫy của thần tiên du hý, điên chơi tới cảnh giới xuất thần nhập diệu là phiêu diêu, cao hứng bừng reo, la hét, rống gầm sấm sét, dậy lừng cung bậc Lăng Nghiêm trầm hùng cùng tuyệt :

Tam bành tứ trướng cuồng điên
Thần thông du hý thiên tiên dự phần
Lăng Nghiêm tam muội dậy lừng
Vượt non băng núi qua trùng điệp truông

Ấy từ bất khả nghị bàn
Từ vô tận xứ mà Nghiêm Hoa rằng
Hoặc từ vô tận hằng hằng
Từ đâu tới một Nghiêm Lăng khôn lường ?

Lăng Nghiêm Kinh khai thị cái tâm chơn, tâm vọng của con người vốn bất nhị viên dung. Một khi thấu thị kỳ cùng điều đó, thi sỹ bất thần chứng nhập vào cảnh giới huy hoàng hoan hỷ địa, hồn phách bay bổng xuất thần một niềm vui sướng lâng lâng :

Thượng thừa thể lệ trăm năm
Thần tiên du hý đánh chìm tài hoa

Cái tài hoa trác việt, độc đáo của mình, đáng lẽ nên tự hào, hãnh diện, nhưng thi sỹ tự mình làm cho chìm khuất, tiềm ẩn đi, chứ không huênh hoang phách lối, khoe khoang, kiêu ngạo, phô bày ra như kẻ phàm phu, tục tử thường tình. Đó là nhân cách cao thượng của bậc đại trượng phu, của những tâm hồn thượng đẳng hoằng đại.

Tự mình vượt lên trên vòng đối đãi thị phi phải trái, thoát ra ngoài mọi sinh hoạt quy ước của xã hội, để sống tự do, tự tại theo ý mình, thay vì làm một bậc thượng sỹ, cao nhân xuất chúng thì ngược lại, thi nhân thực hiện một bước nhảy trọng đại, ngoạn mục phi thường là tự nguyện làm người điên khùng, khờ dại lãng trí, tự mình trách móc, mắng nhiếc mình theo cách điệu thể thái tùy nghi :

Bỏ đi dẹp mặt mày đi
Làm thằng thi sỹ như mi dơ tuồng
Mi say rượu mi điên cuồng
Mi không ý thức vui buồn thế gian

Lão già say rượu nói nhăng
Làm thơ lẩm cẩm gia tăng tâm tình
Máu tim chia sẻ tâm tình
Nửa dâng Thần Rượu nửa trình Nàng Thơ

Nói thì nói khề khà theo kiểu tự chế giễu, bỡn cợt, khôi hài như thế, nhưng trái tim thi sỹ luôn luôn rực hồng ngọn lửa tình yêu thương, vô lượng vô biên đối với cuộc đời đang sống trong túy sinh, mộng tử này. Nhà thơ đau nỗi đau của con người, sầu nỗi sầu thiên cổ của kiếp nhân sinh, tàn úa phai nhàu, nhất là sau biến cố vô thường dâu bể năm 1975 :

Nỗi buồn khôn tả từ đâu
Đi về phảng phất nỗi sầu thiên thu
Giữa đêm chén tạc chén thù
Một mình độc ẩm sương mù dưới trăng
Nỗi thương nỗi nhớ hằng hằng
Nhớ thương vô cớ cầm bằng như không

Ừ thì như có như không, như mộng như thực, như tỉnh như say… hết thảy đều là một chứ chẳng khác gì nhau như Tâm Kinh đã nói : “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” đó mà. Trên tinh thần diệu dụng đó, thi nhân tiếp tục sáng tác không ngừng những thi phẩm mới : Rong Rêu, Đêm Ngắm Trăng, Như Sương, Mười Hai Con Mắt, Tuyết Băng Vô Tận Xứ, Ký Ức, Trúc Mai Từ Vô Tận Chúng Em, Mùa Màng Tháng Tư, Bèo Mây Bờ Bến, Rớt Hột Phiêu Bồng, Tâm Sự Tuổi Già, Thơ Vô Tận Vui… lai láng chan hòa :

Giật mình tôi chợt nhớ ra
Rằng đây đất của chúng ta chúng người
Mở môi em mỉm miệng cười
Tình yêu từ đó vẹn mười muôn năm

Yêu em yêu mãi tấm lòng
Yêu em quá độ long đong suốt đời
Nhớ em nhớ suốt mây trời
Suốt trăng vĩnh viễn suốt nơi nào là

Tình yêu đó lai láng như trường giang, đại hải mênh mông, cứ tự nhiên trôi chảy, thường hướng đến những tầng lớp nghèo khổ trong xã hội, như anh đạp xích lô, cô quét rác hay cô mua bán ve chai… Niềm thương cảm của thi sỹ có cái gì đó thật khác thường, kỳ lạ :

Kính thưa đồng chí đại ca
Xích lô vô lượng kể đà bao phen
Từng phen lay lất ưu phiền
Niềm vui vô tận thường hằng đeo đai

Ve chai giày dép cũ càng
Em mua giúp hết dịu dàng em mua
Tơ trời thêu dệt bốn mùa
Đổi thay thời tiết nắng mưa luống từng
Dạn dày cho rõ phong sương
Âm thầm ý nghĩa muôn phương mây vàng

Từ cô thôn nữ ở đồng quê, chân lấm tay bùn đến cô em mọi nhỏ ở trên rừng truông, rú thẳm hoang lương, thi nhân cũng chia sẻ, tỏ bày rất đỗi ân cần, trìu mến :

Cày sâu cuốc bẫm cấy bền
Tháng ngày thanh thản êm đềm buồn vui
Thương em ngày tháng ngậm ngùi
Nhớ em ngày tháng sụt sùi giữa đêm

Kể từ vô tận tiêu tao
Yêu em mọi nhỏ chốn nào đầu non
Thấy em như thấy vuông tròn
Thành thân thiên hạ biển non dịu dàng
Yêu em như nước lan tràn
Nhớ em như nhớ những tràng giang xa

Nguồn thơ xanh ngát lại mênh mang chảy tràn qua cổng chùa tu viện, vào thăm viếng thùy mị ni cô. Trước những vẻ đẹp hiền lành, thanh thoát, đoan trang, chàng thi sỹ lóng cóng theo cách điệu bông đùa, cà rỡn quý ni cô thuần hậu, thuần phác :

Than dài trận trận mù sương
Mười ra em mọi một nường ni cô
Gọi tôi bằng bác xô bồ
Bảo tôi đừng gọi ni cô là nuồng

Đi tu em nhớ một lời
Đừng bao giờ trở lại đời làm giai nhân
Đừng đẹp đẽ đến vô ngần
Chỉ cần chút đỉnh đẹp tần ngần tu ( đi )

Ni cô ? Thánh mẫu nhu mì
Thành thân vô tận thuận tùy đầu tiên
Ni cô ? Thục nữ thuyền quyên
Tìm đâu thấy được Nguyên Tuyền Ni Cô ?

Đặc biệt Bùi Giáng dành một tình yêu thương lạ lùng đối với sư cô Trí Hải ở Đại học Vạn Hạnh, người đã dịch Câu Chuyện Dòng Sông của Herman Hesse. Thi sỹ cũng thường gọi sư cô là mẫu thân Phùng Khánh, một cách tân kỳ, sáng tạo :

Lúc về thờ phượng ni cô
Mẫu thân Phùng Khánh điểm tô đạo trời
Thần lên tiếng thánh đổi lời
Niềm riêng Vạn Hạnh mọc mời cô đơn

Kể từ con lạc ra khơi
Mẫu thân Phùng Khánh vội dời chân đi
Một vùng cỏ mọc xanh rì
Hai vùng sóng lục nhu mì mở ra
Con về trong cõi người ta
Nghe tin sét đánh mẹ đà đi tu

U hoài đầu mộng hôm qua
Mẫu thân Phùng Khánh thật là u u
Chân đi từng bước hư phù
Mộng đi từng bước tuyệt trù ống chân
Mẹ về đứng giữa đầu sân
Cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi

Có người thấy lạ, thắc mắc hỏi : ‘‘Cớ sao Phùng Khánh nhỏ tuổi hơn mà đại ca gọi là mẫu thân ?’’ Thi sỹ trả lời : ‘‘Bởi vì Phùng Khánh là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ thì hóa ra tôi là người Lào, người Cao Miên hay con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa Phùng Khánh là bà mẹ loài người, vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi rồi. Nếu tôi không phải con của Phùng Khánh thì hóa ra tôi chẳng phải con người mà là con vật hay sao ?’’

Ngoài Phùng Khánh ra, kỳ nữ Kim Cương cũng là một nàng thơ được thi sỹ đem lòng chiếu cố, quý mến vô lường :

Đầu tiên tiên nữ Kim Cương
Cuối cùng muôn một phi thường Cương Kim
Cúi đầu bái tạ tình em
Về sau vĩnh viễn êm đềm thương nhau

Kể từ tao ngộ đầu tiên
Kim Cương vô tận thuyền quyên vô cùng
Bốn mươi năm đã lẫy lừng
Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân

Với một suối nguồn thương yêu vô điều kiện, yêu thương vô phân biệt, nhà thơ cũng rộn ràng, trang trải cùng các cô gái đứng đường, xem các cô kỹ nữ như là tiên nương, thánh nữ giáng trần và tâm sự cùng các cô chan chứa nỗi niềm :

Bất ngờ tôi bắt gặp em
Vu vơ đi đứng một đêm giữa đường
Đến gần bất chợt tình thương
Bất ngờ tâm sự phi thường gần xa
Em từ viễn ngạn tuôn ra
Mười hằng hồng lệ chín sa dòng dòng
Tôi từ lịch kiếp long đong
Em từ lận đận tấm lòng bao lâu
Chúng ta từ cõi lao đao
Quen nhau từ những kiếp nào xưa xa

Tâm hồn của gái giang hồ
Các em vô tận kể từ đâu ra ?
Anh nay tuổi quá cỡ già
Thương em như nhớ gian nhà lưu ly
Các em dù tuổi tên gì
Cũng từng đã thốt lời gì anh nghe
Ngày nay đứng phố ngồi hè
Nhớ em mộng tưởng muôn bề rã tan
Cậy em lời cậy muôn vàn
Mình em riêng một đá vàng thiên thu

Tình yêu vô tận tự lòng
Tình không yêu cũng tùy tòng vô biên
Lỡ làng chút phận thuyền quyên
Chưa là thánh nữ cũng tiên nương rồi

Chỉ có cái nhìn vô phân biệt trí mới thấy được như thế. Dễ có mấy ai trên đời này xem các kỹ nữ lầu xanh là tiên nương, thánh nữ ? Chỉ duy nhất thi sỹ Bùi Giáng mới có cái nhãn quan đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả như thế và từ cái nhìn thấu thị nhân sinh đó, thi sỹ ngợi ca, tán thán hết lời và gọi chung tất cả thục nữ mười phương là nàng thơ, nàng tiên diễm tuyệt vô ngần.

Các nàng thơ, tiên nữ cứ đi về kề cận gần gũi, thân thiết miên man, bàng bạc ở khắp mọi nơi khắp chốn, từ phồn hoa đô hội đến lâm tuyền huyễn ngạn, ngoài bến gió, bờ sương ngút ngàn quyến rũ mộng mị chiêm bao, dạt dào xao xuyến, xiết bao tâm tình, du dương tha thiết :

Các em vô tận thuyền quyên
Từ thiên cổ tới đầu tiên bây giờ
Các em không thể nào ngờ
Rằng đầu tiên đã bài thơ luống từng

Em từ trái đất tuôn ra
Em đi xinh đẹp tiên nga dậy thì
Gặp em toàn thể nhu mì
Non sông đất nước thuộc tùy tình em

Mai sau còn một tí gì
Ấy là khu vực nhu mì của em
Cái gì vô tận của em
Ấy là cái ấy của em lạ lùng

Em ơi ! Em đẹp vô cùng
Vì em có cái lạ lùng bên trong
Em ơi ! Em đẹp vô song
Vì em có cái bên trong lạ lùng

Lạ lùng cái chi mà hấp dẫn như thế ? Để cho chập chùng những cuộc đi về trên con đường mây trắng phiêu du, lãng đãng mơ màng và bỗng nhiên thấy trần gian đẹp đẽ vô cùng. Đẹp kinh hồn đến độ choáng váng mặt mày, ngập tràn cơn say chuếnh choáng, ngây ngất yêu đời vô tận nên nghêu ngao dạo khúc hát xênh xang.

Trạng thái xuất thần, nhập diệu ấy, càng ngày càng đến thường xuyên hơn trong cuộc sống thường nhật, nên thi sỹ phiêu hốt, phiêu diêu trong cảnh giới tiêu dao vô ngại đó nhiều đến nỗi phải khiêu vũ, nhảy múa như một hoàng đế tự vất bỏ ngai vàng điện ngọc, đi vi hành làm kẻ vô danh tiểu tốt, tha hồ đùa chơi tiếu ngạo, hò reo, la ó um sùm giữa phố thị ồn ào, tấp nập người qua kẻ lại, khiến thiên hạ cứ tưởng là nhà thơ điên. Kỳ thực đó là những phút giây tuyệt đỉnh khinh an, hoan lạc, bay bổng, phiêu bồng :

Ông vua kỳ vĩ thập thành
Vì vui quá độ nên thành ra điên
Bây giờ tôi dại tôi điên
Chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian

Chao ơi ! Thái độ ‘‘chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian’’ đó, chẳng khác chi hạnh nguyện của Bồ tát Thường Bất Khinh, luôn luôn kính trọng hết thảy mọi người, dù ngu trí, lớn nhỏ, giàu nghèo… một cách trân quý lạ thường. Giữa đỉnh cao và hố thẳm, giữa vô hình và hữu hình, giữa phù du và vĩnh cửu với điệu cười sinh tử như không, thi sỹ thấy ra cảnh giới Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi, nên hòa chung cung bậc đất trời rộng mở, thở cùng không khí phóng khoáng, hý lộng giữa đôi bờ mộng thực, tỉnh điên, một cách khoan thai, thoải mái :

Cái điên cái tỉnh ở đời
Nào ai dám chắc thế thời ra sao ?
Kéo dài rất mực chiêm bao
Cuộc chơi kỳ vĩ tiêu tao điên cuồng

Cuồng điên là gì, thế nào là điên cuồng ? Vì sao các thiên tài trên thế giới thường hay bị điên như Nietzsche, Nerval, Strindberg, Pound, Van Gogh, Hoelderlin ? Có lẽ điên là một cảnh giới dị thường mà người tỉnh táo, không thể hiểu được hay lãnh hội được điều chi. Thôi thì, chúng ta cứ tiếp tục đọc thơ chơi, phiêu hốt theo cách điệu phiêu nhiên, hý ngôn lộng ngữ, thư thả cà rỡn bông đùa :

Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời nay đất đá cằn khô
Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên
Điên duỗi dọc điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời

Cuộc chơi kỳ vĩ thập thành
Các em kỳ bí hơn anh quá nhiều
Tử sinh giữa cuộc dấn liều
Tử sinh liều giữa diễm kiều cuộc chơi

Chuyện sinh tử đối với phần đông phàm phu, tục tử chúng ta là rất đỗi trầm trọng, kinh hoàng, khủng khiếp, nhưng với thi sỹ thì thấy nhẹ như lông hồng, cho nên cứ tiếp tục cuộc rỡn đùa chơi. Vì đã thấu triệt được lẽ bất sinh bất diệt, chết rồi cũng chẳng mất đi đâu mà chuyển qua hình thức khác, chuyển biến theo luân hồi giữa ba đời sáu cõi, tái sinh theo nghiệp báo của riêng mình đấy thôi :

Em về choáng váng tê mê
Em về từ tử diệt về tái sinh ?
Em về vô tận bình minh
Từ em tử diệt tái sinh mừng chào

Chào mừng cuộc sống vô lượng, vô biên giữa biển đời trùng trùng sóng phong quang Bát Nhã, sóng lai láng, tràn vào từng trang cổ lục, cảo thơm, giúp cho người ta thấy lại vẽ đẹp huy hoàng, tráng lệ của trí tuệ muôn đời tung bay phất phới :

Thình lình vô tận biển khơi
Sóng triều Bát Nhã đẩy chơi vào bờ
Thượng thừa trí tuệ thẩn thơ
Chép tờ cổ lục cho tờ cảo thơm

Trí tuệ Bát Nhã ấy chẳng ở đâu xa mà nó ở ngay giữa tâm hồn chúng ta đây thôi. Em hãy quay nhìn lại chính mình, thì sẽ thấy ngay lập tức, cái lòng trong trẻo nguyên sơ, hiển hiện ra khắp muôn chiều, diệu dụng cảnh giới Hoa Nghiêm :

Cõi bờ con mắt Hoa Nghiêm
Tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng
Em đi vô tận trùng trùng
Em về vô lượng tự lòng mà ra

Cảnh giới Hoa Nghiêm đang thị hiện, diễn bày chung quanh khắp mặt đất trần gian cát bụi, từ vô lượng kiếp đến mỗi một phút giây của từng sát na vĩnh cửu. Một hôm lang thang lêu lổng, bỗng thi sỹ kỳ ngộ, trùng phùng đức Thế Tôn bên vỉa hè phố chợ, khiến chàng rúng động cả thần hồn, vội quỳ xuống đãnh lễ thành tâm :

Thập thành đãnh lễ bước chân
Như Lai hộ niệm phù vân điệu chào
Quan Âm Bồ Tát chốn nào
Cũng cho nghĩ nghị lối vào Trung Niên

Ôi Bồ Tát hỡi Nhu Lai
Lời thơ đãnh lễ lai rai vài hàng
Ngàn thu rớt hột xuống trang
Lá hoa cồn dậy muôn vàn bữa qua

Ca về tuế nguyệt thiên thâu
Về ca khoảnh khắc sơ đầu sát na
Chân Không Diệu Hữu là ca
Không chân hữu diệu lưu sa hằng hằng

Chân Không mà Diệu Hữu nên mới có chuyện nói đi nói lại, nói mãi suốt từ thiên cổ xưa nay. Nói từ ngày Đức Phật chứng đạo dưới gốc cây Bồ đề đến bây giờ cũng bấy nhiêu chuyện mà thiên kinh vạn quyển, trùng trùng vô tận vẫn nói không hết lời. Cho nên, thi nhân cũng hòa theo chiếu cố, ngưỡng mộ trước phong cách trầm hùng, bất động, vô nhiễm của Như Lai :

Phật ngồi dưới gốc Bồ đề
Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai
Thưa rằng Phật thật là tài
Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong

“Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong.” Chỉ cần một câu thơ đó thôi, Bùi Giáng đã lột tả hết được tinh túy của đạo lý Đông Phương suốt từ mấy ngàn năm rồi, Khổng Tử, Long Thọ hay Cưu Ma La Thập thì cũng muốn nói quanh nói quẩn cái vô sở trụ, vô sở chấp ấy mà thôi :

Lời thô tục ? Ý u tồn ?
Ý nào u tục thô ngôn là lời ?
Giả danh chân đế cũng rồi
Giả danh tục đế đún đẩy lời cũng qua ?
Trăm năm trong cõi người ta
Lọ là Long Thọ lọ là Khổng Khâu ?

Bão giông hằng thể bi thanh
Liên Hoa Diệu Pháp lịch hành Thệ Đa
Thập thành sử hiện ra hoa
Thập Ma La Thập lời Hoa Nghiêm rằng

Rằng thì là… như thế. Như thế là như thế nào ? Chúng ta hãy nghe Bùi Giáng khề khà, đối thoại thong dong : “- Đọc thơ văn mày viết ra, tao thấy rằng thỉnh thoảng mày nói lên đúng cái tư tưởng ẩn mật trong kinh Hoa Nghiêm, mặc dù mày viết theo cái điệu riêng biệt của mày. Thế nên tao càng ngạc nhiên thấy rằng thường thường mày cứ luẩn quẩn đọc những sách nhảm nhí, lăng nhăng. Tao muốn hỏi mày, tại sao mà như thế ? Mày quên mất cõi tư tưởng lớn hay sao ?
– Tao cũng chẳng rõ tại sao, nhưng mày thử giải nghĩa tao nghe thế nào là cõi tư tưởng lớn. Lớn là lớn bằng mặt trời hay mặt trăng hoặc to bự như vũ trụ ?
– Cứ tạm cho là to bự như vũ trụ.
– Thế thì tao thử hỏi lại mày : Có khi nào mày nhìn thấy vũ trụ to bự nằm ở ngay trong một giọt sương ?
– Có
– Trong một lá cỏ ?
– Có
– Trong một lổ chân lông ?
– Có
– Thế thì bây giờ mày đã nhận thấy rằng câu hỏi của mày nêu ra ở trên kia đích thực là lệch lạc ?
– Có lẽ ”

Thế đó, cảnh giới Hoa Nghiêm là vậy, thấy tất cả vũ trụ mười phương, muôn loài vạn vật, thánh phàm, thế gian và xuất thế gian đều nằm gọn trong tâm của chúng ta đây mà thôi. Tâm như hư không, vốn là rỗng lặng, thanh tịnh, chẳng có hình dáng, không sinh, không diệt nhưng vô cùng diệu dụng, rất sinh động, tuy bất biến mà tùy duyên.

Cái tâm sinh động ấy ứng vào lòng thi sỹ Bùi Giáng nên hồn thơ xuất thần bay bổng, lồng lộng giữa trời đất phong quang, bát ngát, mông mênh. Bên ngoài thì nhảy múa hát ca, nhưng bên trong vẫn tịch nhiên niệm Phật như thường :

Huyền hoa đứng ở giữa đường
Người đi rốt cuộc phi thường vẫn đi
Nam mô Đà Phật A Di
Lan mùa nam diện lai quy phục hồi

Con đường hân hoan sáng tạo, thi sỹ bước đi đã quá đổi dập dìu, phiêu lãng hoan say, khiến cho thánh thần cũng lắc đầu chịu thua, chỉ có những bậc Bồ Tát mới độ lượng, mỉm cười, tương ứng cùng thi sỹ sâu xa :

Bây giờ huyền diệu sát na
Bước về gọi mộng sơn hà Trung Niên
Là thằng thi sỹ diện tiền
Làm thơ lố bịch thánh hiền chịu thua
Chỉ duy Bồ Tát vui đùa
Niêm hoa vi tiếu là vừa lòng thôi

Bồ Tát là người có tâm hồn rộng mở, bao dung, chấp nhận tất cả thuận nghịch, tỉnh táo hay điên rồ của thế gian, luôn ban vui, cứu khổ cho con người. Thế là, người thi sỹ, tuy điên cuồng nhưng vẫn được các vị Bồ Tát chiếu cố, vì thế cứ tha hồ rong chơi, tiếu ngạo giang hồ và chuếnh choáng làm thơ tình yêu, ca ngợi tình thương vô lượng, như muốn nhắn gởi điều chi bí mật cho người em chí cốt diệu thường :

Gởi em chút đỉnh mùi hương
Tình yêu xa vắng như dường như không
Gởi em mật pháp phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng quy lai

Sau bao nhiêu trận trận tang bồng, phiêu dật, nhà thơ đã truyền âm nhập mật pháp môn gì đó ? Chỉ có nàng thơ mới có thể nghe và hiểu ra mật pháp đó mà thôi. Chúng ta đừng có tò mò mà luận bàn đủ thứ. Thi sỹ hẹn hò nàng thơ cùng gặp nhau ở phương trời cố quận, cuối nẻo nào heo hút tận chân mây :

Mây theo gió thổi về mau
Bây giờ tiễn biệt mai sau trùng phùng
Cùng em cố quận sẽ cùng
Xiết bao tâm sự điệp trùng tái sinh

Bởi vì cũng từ nàng thơ huyền mộng, từ ngày em xuất hiện trên mặt đất thân yêu này đã khiến cho thi sỹ bừng ngộ ra một điều chi kỳ bí :

Bước vào nào thấy chút chi
Bước ra bỗng thấy cái mì nhu em
Toàn nhiên đại ngộ hoát nhiên
Hoát nhiên đốn ngộ thần tiên thượng thừa

Em từ thiếu nữ bước ra
Thành thân thục nữ tên là thuyền quyên
Mang thêm mỹ nữ chênh vênh
Em làm đắm đuối dưới trên bao người

Em muôn vạn xứ êm đềm
Cho em rất mực muôn nghìn mà ra
Anh từ đó ngộ thiết tha
Em là vô tận em là em ơi !

Hoát nhiên đốn ngộ điều chi ? Thi sỹ không nói, chỉ biết rằng, tất cả mọi việc làm, hành động từ xưa đến nay cũng chỉ là vô tâm, vô niệm, như không, chẳng là gì gì hết cả :

Như không là ấy ruột rà
Như không vô tận từ ta tặng người
Em từ viễn tượng xa xôi
Về từ thiên thượng tuyệt vời tố nga
Tình yêu có lẽ chăng là
Tình thương vô tận tặng quà vô tâm

Tặng người em gái quê, gái phố, gái núi, gái rừng, gái biển, gái thuyền quyên, thục nữ mười phương, một bài thơ tình thương yêu, bất tuyệt vĩnh hằng :

Tặng em thể điệu toàn thân
Kết chùm nguyệt rộng đôi vần thi ca
Tặng em thỉnh thoảng mà ra
Thiên thu tặng vật đóa hoa tình đầu

Chiều nay bỗng thấy tình thương
Chảy tràn ngập khắp du dương cõi bờ
Chân tình anh hỏi nàng thơ
Chẳng thà như rứa chớ bơ vơ – ồ !

Hình thành tinh thể bài thơ
Vô cùng kiều diễm một giờ mà ra
Muôn trùng vĩnh biệt thiết tha
Một giờ như thể muôn hoa một mùa

Một mùa chi mà lạ rứa ? Thưa rằng không biết nữa. Chỉ hay rằng, nhà thơ Bùi Giáng có một niềm tương ứng đậm đà, thâm sâu đến độ tâm đắc cùng lục bát Nguyễn Du qua tác phẩm Truyện Kiều. Hình ảnh thi hào Tố Như luôn luôn xuất hiện, đi về trên khắp hàng ngàn trang thơ văn, nồng nàn hơi thở :

Làm đi làm lại bài thơ
Kể từ tao ngộ bất ngờ Nguyễn Du
Về bên cố quận tuyệt trù
Vượt biên giới nhập thiên thu vô lường

Thiên thu vĩnh cửu nằm ngay trong giây phút bây giờ và ở đây. Không còn biên giới phân biệt nhị nguyên đúng sai, phải trái… Hết rồi những có không, mộng thực giữa chốn tồn sinh. Người thi sỹ hồn nhiên như trẻ thơ, thở nhẹ nhàng từng điệu thở hài nhi, nhẹ vời với tiếng cười nhẹ nhõm, reo vui :

Chưa biết nói đã biết cười
Cười như thượng thặng vẹn mười Như Lai
Hồn như Di Lặc dẻo dai
Cười không biết chán chường ai ai người
Quả nhiên nó đúng là người
Mà sao nó khác hẳn người chúng ta
Quả nhiên nó rất là già
Mà sao nó bảo nó là trẻ thơ
Trẻ thơ nào có bao giờ
Biết làm thơ để phượng thờ tình yêu ?

Bùi Giáng là thế, vẫn tà tà cách điệu tiếu lâm, riễu cợt hài hước cho “vui thôi mà” chớ có chi đâu mà trầm trọng, nặng nề phê phán hơn thua, được mất, trúng trật, dở hay… phải không ? Mỉm cười nhẹ thênh trên con đường miên man sáng tạo, trên ngõ về vô sở trú phong quang, thi sỹ thung dung trỗi nhịp cung đàn hoan ca, hòa âm cùng cung bậc Bất nhị, như nhiên.

Với tinh thần vô sở cầu, vô sở chấp, vô sở đắc, lặng lẽ buông bỏ, cho và cho hết những gì mà thiên hạ đang đấu tranh, giành giật chiếm hữu lẫn nhau, thi nhân tự nguyện sống nghèo nàn, hàn sỹ, làm kẻ ăn mày, một tên cuồng sỹ, lang thang, suốt đời hát bản độc hành ca qua Ngày Tháng Ngao Du làm Rớt Hột Phiêu Bồng giữa trời Thơ Vô Tận Vui :

Đã đi đã đến cuối trời
Đã về như vẫn muôn đời đã đi
Đi về đi ở đi đi
Đi là đi biệt từ khi chưa về

Về hay đi cũng cùng trên nhịp điệu hân hoan thượng đẳng. Văn hào Mỹ Henry Miller nói : “Từ chút ít sách vở tôi đã đọc, tôi nghiệm ra rằng, những người lặn lội sâu nhất trong cuộc đời, những người nhồi nặn cuộc đời, những người chính là cuộc đời đều ăn ít, ngủ ít, sở hữu ít hay không có gì cả. Họ không có bất kỳ một ảo tưởng nào về bổn phận, hoặc nối dõi tông đường hay duy trì quốc gia. Họ chỉ quan tâm tới chân lý và chân lý mà thôi. Họ chỉ chấp nhận một hình thức hoạt động là sáng tạo. Không một người nào có thể chỉ huy công việc họ, bởi vì họ tự nguyện cho tất cả. Họ cho không, bởi vì đó là cách duy nhất để cho.”*

Nhận định trên của Henry Miller rất đúng với trường hợp Bùi Giáng biết bao. Một thi nhân đã tận hiến cho cuộc sống bằng tất cả tinh thành, chân thiết nhất, bằng con đường nghệ thuật thi ca.

Nhà thơ đã sống trọn vẹn một cuộc đời hạnh phúc, viên mãn theo ý nghĩa đạo Phật. Suốt bình sinh cuộc sống, thi sỹ là hình ảnh quá cùng đẹp trong cái nhìn của thiên hạ mọi người, nhất là giới tăng sỹ Phật giáo và giới văn nghệ sỹ, ai ai cũng nhìn ông với niềm ưu ái, quý mến đầy ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ sự tự do tự tại, thung dung thoát tục, không dính bụi trần mà “hòa cùng ánh sáng, trộn cùng cát bụi” của thi nhân.

Bồng tênh tiêu sái, rong chơi suốt một đời thơ giữa phồn hoa phố thị như một hài nhi tóc bạc thơ ngây, nhảy múa hồn nhiên, hát ca vi vu vi vút. Cuộc đời Bùi Giáng vô cùng thi vị, một cuộc đời hoàn toàn sống vì nghệ thuật, dâng hiến tất cả cho nghệ thuật thuần túy, chỉ biết sống hết mình cho thi ca và đệ nhất hy hữu nàng thơ tuyệt cùng chơn mỹ :

Vì yêu dấu quá nàng thơ
Với em vô tận nên ngơ ngẩn buồn
Thần tiên thánh Phật bao dung
Hiểu lòng tôi lắm tôi khùng vì thơ

Nhà thơ thõng tay vào chợ, tung hoành ngang dọc, nhảy múa quay cuồng đủ thể điệu quàng xiên mà vẫn sáng suốt, thông tuệ phi thường. Điều đó chứng tỏ một nội công thâm hậu, một tư tưởng thượng thừa.

Tư tưởng trong thơ Bùi Giáng mang một ý nghĩa bùng vỡ khai phóng, đầy ắp hào quang sáng tạo. Tư tưởng nhập cuộc chịu chơi vào cõi tồn lưu mà vẫn thanh thản thong dong, không dính mắc, chẳng ràng buộc, không chấp chặt của thi nhân thật chẳng khác gì thái độ vô tâm, vô niệm, vô sự của những bậc thiền sư.

Tư tưởng phá chấp triệt để của Thiền tông được thi nhân thể hiện suốt bình sinh cuộc sống bằng chính bản thân mình, như ngụ ngầm khai thị một điều gì vi diệu mà mỗi một người trong chúng ta phải tự lãnh hội, tự thấu hiểu ra mà thôi.

Sở dĩ con người đau khổ là vì cố chấp, chấp ngã, chấp pháp, chấp đủ thử lu bù nên cứ mãi khổ đau, trầm thống triền miên. Muốn thoát khỏi vòng trầm luân, khổ não đó, chỉ còn một cách là hãy trở về lại chính mình, nhận biết cái bản tâm nguyên sơ, sống với thực tại đang là ngay trong từng hơi thở, luôn luôn mới lạ và mới lạ.

Tiến sỹ Nguyễn Tường Bách nhận xét về Bùi Giáng : “Bùi Giáng cũng như một người điên, cỡ Tế Điên. Cũng như Tế Điên, hình như ông đến cõi đời này để dạo chơi, để đùa rỡn và cũng để giáo hóa cho con người thấy tất cả đều chỉ là trò ảo giác của sắc thân, của chữ nghĩa, của tư tưởng, chúng đều là chuyện đáng để đùa rỡn.”**

Rỡn đùa, điên khùng chơi theo thể điệu Tiếu Ngạo Giang Hồ Lệnh Hồ Xung tung chưởng vô chiêu, hay như vua hề Charles Chaplin với cung đàn Limelight bất tuyệt hoặc khùng điên nhảy múa ca hát, tràn đầy yêu thương tuyệt mỹ như nghệ sỹ Nijinsky : “Tôi là Thượng đế trong con người. Tôi cảm những gì Christ đã cảm. Tôi giống như Đức Phật, tôi là đức Như Lai Phật giáo và là tất cả mọi Thượng đế thiên hình vạn trạng. Tôi quen biết tất cả những vị đó và đã gặp gỡ tất cả những vị đó. Tôi giả vờ làm thằng điên một cách cố ý, vì những mục đích riêng tư của tôi. Tôi biết rằng, nếu mọi người nghĩ rằng tôi là một thằng điên vô tội thì họ sẽ không sợ tôi. Tôi không thích thiên hạ nghĩ rằng tôi là một thằng điên nguy hiểm. Tôi là một thằng điên yêu thương nhân loại. Cơn bệnh điên của tôi là tình thương của tôi đối với nhân loại.”***

Bùi Giáng cũng như vậy, cơn bệnh điên của thi sỹ là vì quá thương yêu nhân loại đó thôi. Yêu thương quá độ mà thành ra điên, mà bày ra đủ trò khiêu vũ ngôn ngữ, hý lộng ngữ ngôn, một cách thượng thừa như đùa, như rỡn trào tuôn. Ừ thì như thị, như thế như thế, cứ mở ra những cuộc rỡn đùa chơi hay đại hòa điệu chơi giữa cõi người ta, vì tất cả mọi sự trên thế gian này đều chỉ là trò chơi, trò đùa huyễn mộng.

Sống chết là chơi, vui buồn là chơi, hạnh phúc, đau khổ là chơi, tỉnh táo, điên rồ là chơi, uống rượu say sưa, nhảy múa, khề khà là chơi, mê gái, làm thơ, làm thẩn, làm văn nghệ là chơi, đi tu cũng là một cách chơi, làm bất cứ việc gì cũng là trò chơi, trò đùa, du hý mà thôi :

Mỗi người có một cách chơi
Em vui với gió tôi ngồi nhìn trăng
Em đi năm tháng thường hằng
Tôi nằm nhớ mãi hàm răng em cười

Mở tờ giấy mới ra chơi
Hình như giấy cũng vui cười với em
Bài thơ do đó lem nhem
Lúc vui lúc khổ như em đó mà
Còn tôi vui khổ thật là
Đảo điên rất mực tiên nga giật mình
Trăm năm khó đổi tính tình
Cũng không có thể làm thinh muôn đời
Thôi thì cứ nói cho vui
Nghìn năm chỉ có một đời muôn năm

Làm sao quên được giọng cười ‘‘ vui thôi mà’’ của thi nhân ? Giọng cười ấy vẫn còn đồng vọng khắp nơi trên mặt đất. Bất cứ ở đâu, nếu ai còn cảm được thi ca và phiêu lãng đều nói về Bùi Giáng với niềm rỡn tếu, bông đùa một cách vui vẻ thân mật, gần gũi như là anh em chí cốt ruột rà vậy.

Đa số mọi người đều thấy đấy là một bậc vô sư tự ngộ, một Bồ tát nghệ sỹ đi về mặt đất trần gian, chuyển hóa con người ta nên buông xả cái tâm chấp thủ, dính mắc vào danh lợi, để sống thanh thản an nhiên với niềm tự do, vô quái ngại. Người thi sỹ thượng thừa đã về đã tới nơi chốn quê nhà, đã qui hồi cố quận, nằm ngắm trăng đón gió cùng mây về hòa điệu khúc cung cầm vô thủy vô chung :

Tâm tình mấy nẻo mông lung
Ta nằm cố quận muôn trùng người đi

Kỳ tuyệt cõi thi ca Bùi Giáng, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng sự sự vô ngại, lý sự viên dung của pháp giới Hoa Nghiêm. Tư tưởng đó được thi sỹ tiêu dung, tiêu hóa và sáng tạo thành một nguồn thơ độc đáo. Hồn thơ như ngọn lửa thiêng ngời tỏa ánh hào quang, cháy bừng lên rực rỡ, làm ấm áp khắp mặt đất trần gian, chan chứa, nồng nàn trong cõi người ta, tha thiết thiên thu.

Giữa thiên thu vạn đại, tôi xin kính tặng thi sỹ một bài thơ để nhớ mãi những Ngày Tháng Ngao Du, chở thi sỹ đi lang thang khắp cùng ngõ hẻm Gò Vấp, Rong Rêu muôn nẻo Sài Gòn, xôn xao phố thị phiêu bồng :

Không chỗ trú chẳng bến bờ
Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài
Ngút mùa cuồng sĩ lai rai
Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm

Có gì đâu phải đi tìm
Ba nghìn thế giới trong tim của mình
Tà tà giữa cuộc phiêu linh
Một hôm bất chợt thấy hình bóng xưa

Nên về cà rỡn bông đùa
Múa ca diệu dụng cùng mưa nắng cười
Miền hoan hỷ địa rong chơi
Khơi nguồn sáng tạo mở trời đất ra

Và xin tái tặng một bài thơ nữa, bài Cuồng Sỹ Ca, gọi là cảm tạ những cốc rượu, những bữa cơm trưa mà Bùi Thi Sỹ nhanh tay dành trả tiền trước, ở các quán sá bình dân, dọc hè phố náo nhiệt Sài Gòn. Đó là thời kỳ quá mộng, quá thơ mà tôi thường hay tìm gặp, viếng thăm thi sỹ, rồi chở đi lãng đãng suốt ngày đêm, đầm đìa cát bụi :

Có bậc trượng phu lên đỉnh núi
Ngồi gẫm đâu là lẽ tử sinh ?
Còn ta xuống biển thuyền không bến
Gõ nhịp tình tang hát một mình

Ta lấy đại dương làm bầu rượu
Đãi kẻ dị nhân khách bụi hồng
Mời gã Tế Điên cuồng túy lúy
Với chàng Bố Đại Phổ Hóa ngông

Mời lão Hàn San và Thập Đắc
Cùng tên Bùi Giáng nhảy múa say
Cạn chén tự do không ràng buộc
Vào chốn phù du cõi tạm này

Cái chuyện Niết bàn hay Tịnh độ
Dỗ con nít khóc nín mà thôi
Đan Hà đốt Phật tìm xá lợi
A ha ! Rúng động rỗng rang cười

Tâm Nhiên

* Nguyễn Hữu Hiệu. Con Đường Sáng Tạo. Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn 1973
** Nguyễn Tường Bách. Mùi Hương Trầm. Trẻ xuất bản 2001
*** Phạm Công Thiện. Henry Miller. Phạm Hoàng xuất bản, Sài Gòn 1969
Thơ văn Bùi Giáng ( chữ nghiêng ) trích trong các tác phẩm : Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Sa Mạc Phát Tiết, Sa Mạc Trường Ca, Rong Rêu, Như Sương, Đêm Ngắm Trăng, Mùa Màng Tháng Tư, Ký Ức, Trúc Mai, Mười Hai Con Mắt, Rớt Hột Phiêu Bồng, Bèo Mây Bờ Bến. Thơ Vô Tận Vui Thúy Vân, Mùa Xuân Trong Thi Ca, Tư Tưởng Hiện Đại, Lời Cố Quận, Lễ Hội Tháng Ba, Ngày Tháng Ngao Du.

SỰ THẬT SAU TẤN TUỒNG ĐIỀU TRẦN

Cuộc chiến đánh thẩm phán Kavanaugh đã leo thang mạnh trong tuần qua, cùng lúc với cuộc điều trần trước Thượng Viện của cả ông Kavanaugh và bà Ford, là người tố giác ông sách nhiễu tình dục cách đây hơn 35 năm.
Cuộc điều trần hiện rõ như một tấn tuồng với các diễn viên cực dở.
Tại sao là một tấn tuồng? Tại vì ai cũng biết cuộc điều trần chẳng thay đổi một ly ông cụ nào về cuộc biểu quyết. Bất kể chuyện gì xẩy ra trong cuộc điều trần, các nghị sĩ chống vẫn chống, ủng hộ vẫn ủng hộ, lừng chừng vẫn bận thăm dò cử tri.
Câu hỏi quan trọng nhất: tại sao lại có thể có chuyện vô lý như vậy? Tại sao lại có chuyện coi thường sự thật và khinh mạn thiên hạ như vậy? Ta thử nhìn lại toàn bộ câu chuyện cho kỹ.

CUỘC ĐIỀU TRẦN TRƯỚC THƯỢNG VIỆN

Trước hết, phải nói ngay phe CH đã chịu thua từng bước từng bước. Liên tục dời ngày điều trần theo yêu sách của bà Ford khi bà này đòi thêm thời giờ để ‘chuẩn bị’, chấp nhận điều kiện không có đối chất với ông Kavanaugh, không dám chất vấn trực tiếp bà Ford mà phải thuê một bà công tố làm việc này, rồi hoãn ngày biểu quyết.
Trong khi CH rét, thối lui liên tục vì sợ mất phiếu phụ nữ, thì ông Rush Limbaugh, một bình luận gia bảo thủ cực đoan nổi tiếng qua các bài nói chuyện trên radio, đã lớn tiếng cảnh giác CH tiếp tục thối lui sẽ mất phiếu của cử tri của Trump trong cuộc bầu quốc hội tới. Đúng là tình trạng nhức răng, tiến thoái lưỡng nan cho các ông bà CH.
Phần điều trần của bà Ford:
Để tránh hình ảnh một chục ông đánh hội đồng một bà Ford cũng như để có vẻ đây là một cuộc điều trần chuyên nghiệp, không mang tính chính trị, khối đa số 11 nghị sĩ CH đã nhường quyền chất vấn của họ cho bà Rachel Mitchell, một công tố chuyên về những tố tụng sách nhiễu tình dục. Bà Mitchell đã tra hỏi bà Ford như một thám tử cảnh sát điều tra một nạn nhân. Mục đích của bà Mitchell hiển nhiên không phải là tố cáo bà Ford về tội gì hết, là điều mà khối CH muốn tránh tối đa, mà chỉ là đặt những câu hỏi để bà Ford liên tục trả lời “không nhớ”, reo mối nghi ngờ lên những tố cáo của bà Ford. Qua cả chục lần “không nhớ” của bà Ford, bà Mitchell coi như đã chu toàn trách nhiệm.
Khối thiểu số 10 nghị sĩ DC tất cả đều ca đúng một bài: ca tụng bà Ford mút mùa và đòi hỏi FBI điều tra. Nói cách khác, tìm cách câu giờ cho qua bầu cử. Chẳng ai có một câu hỏi về câu chuyện bà Ford hết.
Về phần bà Ford, bà diễn tuồng một nạn nhân đau khổ, bối rối, rất giỏi. CNN dĩ nhiên đăng ngay hình bà Ford đang mếu máo muốn khóc. Câu chuyện của bà không có gì mới lạ. Tất cả đều đã được báo chí phổ biến từ hai tuần nay. Hầu hết những chi tiết khác mà bà Mitchell hỏi thì đều chỉ có một câu trả lời: không nhớ rõ.
Bà Ford đưa ra tên 3 người mà bà cho là có thể làm nhân chứng, nhưng cả 3 người đều cho biết họ không nhớ là đã có câu chuyện bà Ford kể lại, kể cả bà Leland Keyser mà bà Ford gọi là bạn đời –lifelong friend-. Trả lời câu hỏi về chuyện này, bà Ford giải thích bà Keyser “có vấn đề sức khoẻ” (ai muốn hiểu sao thì hiểu), và bà Keyser đã viết thư xin lỗi bà Ford. Bà Ford ‘quên’ không nói rõ là bà Keyser xin lỗi vì đã phải nói sự thật bất lợi cho bạn chứ không xin lỗi là đã nói láo.
Phần điều trần của ông Kavanaugh:
Ông Kavanaugh mở đầu với bài phát biểu dài gần một tiếng đồng hồ, tự bênh vực và đả kích phe DC với những lời lẽ mạnh bạo nhất. Đôi lúc, ông quá xúc động, nói không ra lời. Ông chấp nhận việc bà Ford có thể đã bị tấn công tình dục đâu đó, nhưng khẳng định không phải là ông. Ông mạnh miệng đả kích việc phe DC đã lợi dụng câu chuyện vì mưu đồ chính trị, tàn sát ông, tên tuổi ông, sự nghiệp và cả gia đình của ông, đồng thời cũng gây tổn thương cho bà Ford qua tấn tuồng điều trần này.
Điểm quan trọng: ông Kavanaugh trình cho Ủy Ban một lịch trình sinh hoạt cá nhân trong đó ông ghi rõ việc làm mỗi ngày từ năm 1980, có ghi rõ 3 tháng mùa hè 1982, ông Kavanaugh đã không có mặt ở Maryland là nơi xẩy ra câu chuyện.
Trái ngược hoàn toàn với phần trình bày của bà Ford, các nghị sĩ DC không có một người nào có một lời khen hay lịch sự với TP Kanavaugh. Tất cả đều chất vấn với đủ loại câu hỏi hóc búa về điều tra của FBI, về tuổi trẻ của ông, về việc ông uống bia, có bạn gái, dự party,… Trong khi phần lớn các nghị sĩ CH thắc mắc tại sao bà Feinstein giữ im lặng trong hai tháng, đợi đúng một tuần trước khi biểu quyết mới tung hồ sơ bà Ford ra. Có cần FBI điều tra không?
Phần điều trần của bà Ford dĩ nhiên quan trọng hơn vì bà là người tố cáo. Nhưng tiếc thay, bà đã chẳng đưa ra được bằng chứng hay nhân chứng nào. Hầu hết các câu hỏi về chi tiết đều chỉ có một câu trả lời: “không nhớ”. Thế thì ai biết đường nào mà mò?
Kẻ này vừa coi vừa ngủ gật. Cho đến khi TP Kavanaugh đăng đàn thì tỉnh ngủ hẳn với bài diễn văn mở đầu nổ đùng như bom. Sau khi hai ba nghị sĩ nhường phần đặt câu hỏi cho bà Mitchell, tới phiên nghị sĩ Lindsey Graham thì ông này dành lại quyền chất vấn. Phát biểu của ông này nổ còn hơn bom CBU, mạt sát phe DC bằng những tố cáo nặng nề hiếm thấy trong quốc hội Mỹ. Đây có lẽ là phần hấp dẫn nhất trong cuộc điều trần:

Sau đó, tất cả các nghị sĩ CH đều tự phát biểu, cho bà Mitchell về hưu non. Sai lầm của bà Mitchell là hỏi như cái máy, hết sức nhàm chán, những câu hỏi chi tiết ít ai hiểu ý nghĩa của câu hỏi, khiến cả hội trường ngủ gật. Có lợi cho bà Ford.
Dù vậy, bà Mitchell cũng khơi ra được vài điểm đáng chú ý:
– Bà Ford cho biết hai luật sư thầy dùi ngồi bên cạnh là do bà Feinstein ‘giới thiệu’. Chứng tỏ bà Feinstein đã ‘hợp tác’ chặt chẽ với bà Ford ngay từ đầu, từ trước khi bà Feinstein tung câu chuyện ra. Điều này đi ngược lại cái biện giải muốn giữ bí mật cho bà Ford nên không công bố bức thư sớm hơn. Muốn giữ bí mật sao lại lo giới thiệu luật sư cho bà Ford?
– Bà Ford nói bà không biết ai trả tiền bà đi thử máy đo nói thật (kiểm tra nói dối) và cũng không nói rõ lý do tại sao phải làm chuyện này. Trước hết, chẳng ai biết bà đi kiểm tra nói dối về chuyện gì, có liên quan đến vụ tố ông Kavanaugh hay không. Sau đó, điều lạ lùng là bà Ford không nhớ ai đã giới thiệu chuyên gia làm việc này cho bà, không biết tốn bao nhiêu và ai trả tiền (số tiền này do hai luật sư thầy dùi của bà Ford trả, có lẽ do bà Feinstein ‘thu xếp’).
– Bà Ford khẳng định bà viết thư nặc danh vì không muốn chường mặt ra. Nếu bà nghĩ bà có thể gặp một dân biểu DC, viết thư cho bà nghị sĩ, thuê luật sư, kể chuyện cho báo Washington Post mà vẫn có thể không chường mặt ra thì hoặc là bà nói láo, hoặc là bà ngu ngơ hơn đứa con nít tiểu học chứ không phải là giáo sư đại học về tâm lý. Quái lạ hơn nữa, bà nghị sĩ Feinstein biện giải việc bà giữ câu chuyện bí mật vì bà tôn trọng ý của bà Ford muốn dấu tên. Xin lỗi, bà là ‘niên trưởng’ của DC trong Ủy Ban, đã làm chính trị Mỹ đến bát tuần mà có thể nghĩ sẽ giữ bí mật này sao? Trong chính trị Mỹ, giữ bí mật không khác gì lấy lưới đánh cá chặn nước. Sự thật giản dị hơn nhiều: bà Feinstein ngay từ đầu đã bàn thảo kế hoạch phục kích ông Kavanaugh với bà Ford, giới thiệu luật sư, trả tiền bà Ford đi thử máy nói thật, dìm câu chuyện, đợi đến giờ chót mới bung ra, với hy vọng sẽ là lý do chính đáng để hoãn mọi việc đến sau bầu cử.
– Bà Ford bị vạch rõ nói láo một chuyện: ban đầu, bà từ chối ra điều trần tại Hoa Thịnh Đốn, vịn lý do bà sợ đi máy bay và đòi FBI điều tra, y chang lập luận của khối DC, tìm cách câu giờ cho đến khi TNS Grassley cho tối hậu thư thì đành phải ra điều trần. Bà Mitchell chứng minh bà Ford đi máy bay rất thường xuyên, rất thích đi nghỉ hè tại Hawaii và du lịch thế giới. Khi chủ tịch Ủy Ban nhắc lại Thượng Viện sẵn sàng cử người đi San Francisco gặp bà để bà khỏi phải đi máy bay qua thủ đô, thì bà Ford nói bà “không hay biết” đề nghị này. Đề nghị này, cả nước biết vì báo đăng đầy rẫy (kể cả diễn đàn này), “không hay biết“ nghiã là sao?
– Bà Ford nói đi dự party tại một nhà gần một câu lạc bộ có hồ bơi, nơi bà đi lội trước khi đến dự party. Bà Mitchell đưa ra bản đồ cho thấy nhà bà Ford cách hồ bơi gần 9 miles, không thể đi bộ được. Bà Ford khi đó 15 tuổi, chưa được lái xe, tất nhiên có người chở đến và đưa về. Bà Ford không nhớ ai, và cũng chưa có một người nào nhận đã làm chuyện này. Party đó có 5 người tham dự theo bà Ford. Ngoài bà và ông Kavanaugh ra, cả 3 người kia đều ký giấy xác nhận không biết gì về cái party đó. Thế thì ai đưa bà về? Ý định của bà Mitchell: chứng minh cái party đó đã không xẩy ra, hay nếu xẩy ra thì bà Ford cũng đã không có mặt tại đó.
– Chuyện lạ: bà Ford khai bà lên lầu để đi vào nhà cầu trên lầu (căn nhà không có nhà cầu dưới nhà, gần phòng khách sao?), nhà cầu trên lầu ngay cạnh một phòng ngủ, bà bất ngờ bị xô vào phòng ngủ và đè ngay lên giường, bà đánh lộn, xô ông Kavanaugh ra, chạy ra khỏi phòng. Trong tình huống đó mà bà lại nhớ rõ căn phòng như thế nào, có bàn ghế tủ giường như thế nào theo lời khai của chính bà. Những chuyện lớn như nhà nào, của ai, bà đến và đi như thế nào,… thì lại không nhớ. Trí nhớ của bà Mỹ gọi là ‘selective memory’, trí nhớ có tuyển lựa.
(Những điểm trên, dĩ nhiên TTDC không nêu lên!)

SỰ THẬT

Toàn bộ câu chuyện bà Ford thấy rõ là chuyện bá láp, vô căn cứ, mà nếu ra trước tòa án thật, quan tòa sẽ bác bỏ ngay sau hai phút coi hồ sơ. Thế nhưng các nghị sĩ DC lại muốn bám vào để cản việc bổ phiệm một thẩm phán vào TCPV. Câu hỏi lớn dĩ nhiên là tại sao?
Ai cũng hiểu đây là một âm mưu lộ liễu của đảng DC để cản việc phê chuẩn TP Kavanaugh không hơn không kém.
Việc không có bằng chứng cụ thể và không có nhân chứng đã không cho phép khối DC thẳng thắn tố giác TP Kavanaugh, nhưng những tố cáo của bà Ford đã đủ là lý do để DC kiếm cách câu giờ, đòi điều tra một chuyện không thể điều tra. Chỉ với chủ đích là cố trì hoãn đến sau ngày bầu lại quốc hội, hy vọng DC chiếm được đa số tại Thượng Viện là coi như ông Kavanaugh tiêu tan hy vọng vào TCPV. Chẳng những vậy, mà TT Trump và khối CH cũng sẽ tiêu tan hy vọng bổ nhiệm bất cứ một thẩm phán bảo thủ nào khác vào TCPV.
Tại sao lại phải nghiến răng nghiến lợi, bất chấp mọi việc để cản TP Kavanaugh?
Thật ra đây không còn là việc cản cá nhân ông Kavanaugh nữa, mà cũng chẳng còn là chuyện phá TT Trump luôn. Vấn đề đi xa hơn hơn cá nhân hai vị này rất nhiều. Càng không phải là chuyện sex gì đó của mấy bà vô danh. Trên bàn cân là hướng đi của toàn bộ xã hội Mỹ trong cả một thế hệ tới.
Ta nhìn lại TCPV.
Tư pháp là nhánh thứ ba của cơ cấu chính quyền Mỹ, sau hành pháp và lập pháp, mà trong ngành tư pháp, TCPV là cơ quan có tiếng nói quyết định. Cho đến nay, ít người để ý đến vai trò của TCPV, nhưng trên thực tế TCPV nắm giữ vai trò then chốt hơn cả hai nhánh kia. Đây là nhánh có trách nhiệm ‘bảo vệ Hiến Pháp’ trên nguyên tắc, nhưng trên thực tế, có quyền ‘diễn giải’ Hiến Pháp, nghiã là gián tiếp thay thế luôn cả Hiến Pháp, là nền tảng của thể chế chính trị Mỹ.

Từ trái qua phải:
– Hàng đứng: bà Elena Kagan (Obama); ông Samuel Alito (Bush con); bà Sonia Sotomayor (Obama); ông Neil Gorsuch (Trump).
– Hàng ngồi: bà Ruth Ginsburg (Clinton); ông Anthony Kennedy mới từ nhiệm (Reagan); chánh án TCPV John Roberts (Bush con); ông Clarence Thomas (Bush cha); ông Stephen Breyer (Clinton).

Điểm cực kỳ quan trọng của TCPV là nhân sự và quyết định của TCPV là chuyện vĩnh viễn. Các thẩm phán ngồi đó cho đến chết hay tự ý từ chức với lý do chính đáng. Các án quyết có giá trị hầu như vĩnh viễn, không ai thay đổi được, ngoại trừ chính TCPV. Trong khi nhân sự trong hành pháp và lập pháp đến rồi đi, có thể thay đổi vài năm một lần, và những quyết định của hành pháp và những luật của lập pháp cũng vậy, có thể thay đổi liên tục. Hơn thế nữa, TCPV cũng có quyền hủy bỏ các quyết định của hành pháp hay các luật của lập pháp, trong khi cả hành pháp lẫn lập pháp đều không thể đụng đến một án quyết của TCPV.
Trong cái nhìn đó, TCPV đóng vai trò cực kỳ quan trọng, như thuyền trưởng lái con tầu Cờ Hoa đi về hướng tả hay hữu. Hành pháp và lập pháp chỉ là thủy thủ đoàn.
Trước đây, TCPV có bốn vị bảo thủ, bốn vị cấp tiến và một vị… ‘trung dung’, là TP Kennedy. Một cách thật ngắn gọn và giản dị, ông Kennedy có khuynh hướng bảo thủ về các vấn đề chính trị và kinh tế như quyền mang vũ khí, quyền tự do gây quỹ tranh cử, quyền hạn của hành pháp,… nhưng lại thiên về cấp tiến trong các quyết định mang tính xã hội, như ủng hộ phá thai, hôn nhân đồng tính, trợ cấp,…
Khi TP Kennedy từ chức và ông Kavanaugh được bổ nhiệm thay thế thì phe cấp tiến hốt hoảng sợ những cải cách xã hội của các tổng thống cấp tiến từ thời TT Kennedy, qua thời các TT Johnson, Clinton và Obama sẽ bị thu hồi, nhất là luật cho phá thai tự do. Kinh hoàng hơn nữa cho phe DC là họ sẽ phải chịu đựng sự ‘thống trị’ của khuynh hướng bảo thủ, ngăn chặn bước tiến của ‘văn minh cấp tiến’ của họ trong hai ba chục năm nữa, tức là trong nguyên một thế hệ.
Đó là chưa nói đến việc trong ngắn hạn, TP Kavanaugh có thể là người sẽ cứu TT Trump nếu ông này bị thưa kiện ra trước TCPV vì bất cứ chuyện gì. TP Kavanaugh trước đây là phụ tá cho công tố Kenneth Starr truy tố TT Clinton. Nhưng sau đó, ông làm phụ tá cho TT Bush và thay đổi lập trường, cho rằng sau khi làm phụ tá cho TT Bsuh thì ông khám phá ra trách nhiệm khổng lồ của một tổng thống và sự nguy hại của việc truy tố một tổng thống đương nhiệm. Do đó, quan điểm hiện nay của TP Kavanaugh là không truy tố tổng thống khi còn tại chức, mà phải đợi sau khi mãn nhiệm muốn truy tố gì thì truy tố. Đây dĩ nhiên là chuyện phe DC không chấp nhận vì họ muốn đảo chánh TT Trump càng sớm càng tốt qua việc truy tố về một tội nào đó.
Vì hậu quả của việc bổ nhiệm ông Kavanaugh đối với họ quá lớn, quá tai hại, nên phe DC chấp nhận trả mọi giá để cản cho bằng được ông Kavanaugh. Đó chính là lý do tại sao bà Ford được lôi từ trong nhà kho của 35 năm trước, chùi rửa rồi mang ra trình làng. Cho dù không bằng chứng hay nhân chứng cũng không sao, vì đây không còn là chuyện pháp lý, phải chứng minh tội lỗi gì hết, mà là chuyện chính trị, đánh là đánh, không cần lý do hay lý luận.
Ai cũng thấy chuyện bà Ford là chuyện vớ vẩn. Cả phe DC cũng thấy vậy khi bà TNS Feinstein nhìn nhận không chắc bà Ford đã nói thật, nhưng đây là cách cuối cùng không còn cách nào khác để cản ông Kavanaugh cũng như để chiếm đa số tại Thượng Viện. Họ hy vọng việc này sẽ khích động cử tri phụ nữ trước ngày bầu cử, khiến các nghị sĩ CH rét, phải chịu thua.
Phe CH hiểu rất rõ vấn đề nên bằng mọi giá tìm cách phê chuẩn ông Kavanaugh trước bầu cử. Không ai biết chắc kết quả bầu cử, nếu CH mất Hạ Viện không sao, nhưng mất Thượng Viện thì sẽ là đại họa cho CH vì phe DC sẽ bác bất cứ ai được TT Trump đề cử vào TCPV (hay bất cứ chức vụ nào khác) để rồi tất cả các quyết định của các tòa phá án liên bang, phần lớn do quan tòa cấp tiến của các TT Clinton và Obama nắm, sẽ có hiệu lực (chuyện này đã bàn qua tuần rồi).
CH hiện chỉ có đa số đúng 1 phiếu tại Thượng Viện. Chỉ cần 2 nghị sĩ CH ‘đào ngũ’ là ông Kavanaugh sẽ không được phê chuẩn. Hiện chỉ còn ba nghị sĩ CH với quan điểm chưa rõ rệt, đòi FBI điều tra trước; bù lại, cũng có ít ra là 3 nghị sĩ DC có thể bỏ phiếu thuận.
Trong câu chuyện TP Kavanaugh, vấn đề xin lập lại để mọi người nhìn cho rõ: chẳng liên quan gì đến cá nhân ông Kavanaugh hay cá nhân TT Trump, càng không liên hệ đến chuyện sex hay bảo vệ phụ nữ hay gì gì khác. Quý bà trước khi la hoảng cần nhìn cho rõ họ đang bị lợi dụng làm vũ khí đánh nhau thôi. Tất cả chỉ vì mục tiêu của đảng DC và TTDC là bảo vệ ý thức hệ cấp tiến bằng cách cản việc ông Kavanaugh trở thành thẩm phán TCPV thôi. Cản việc nước Mỹ rẽ qua hướng bảo thủ. Do đó, tất cả những tranh cãi về thủ tục pháp lý và lý luận phải trái, bằng chứng hay nhân chứng, đều bằng thừa. Đối với phe DC, mục tiêu tối hậu biện minh cho mọi phương tiện. Chấm hết.
Tin giờ chót: Ủy Ban Tư Pháp đã biểu quyết khuyến cáo việc phê chuẩn TP Kavanaugh, theo đúng làn ranh đảng phái, 11 thuận, 10 chống. Tuy nhiên, Thượng Viện đã yêu cầu TT Trump ra lệnh cho FBI điều tra thêm, với thời hạn cuối nộp báo cáo là Thứ Sáu 5/10 để TV có thể biểu quyết Thứ Ba 9/10. Một lần nữa, phe CH tháo lui, nhượng bộ phe DC, để cho FBI điều tra trước khi biểu quyết.
Quý độc giả nào nghĩ sau khi FBI điều tra và bạch hóa ông Kavanaugh, phe DC sẽ vui vẻ chấp nhận, biểu quyết phê chuẩn ông Kavanaugh, xin cho biết danh tánh. Kẻ này sẽ trân trọng tặng giải thưởng “Người ngây ngô nhất thế giới”.

VŨ LINH

Lời Chia Tay Giữa Mưa

1.

Tiếng người đàn bà:
“Anh còn ở đó không?”
Tiếng người đàn ông:
“Còn… Sao? “
“Đi ra ngoài đường mùa nầy nhớ giữ ấm…”
“Thời tiết đang mát mẻ mà… “
“Nhưng anh lớn tuổi rồi… Hứa với em vậy đi”
“Hứa. Cúp phone nhe?”
“Còn phải hứa một điều nữa…”
‘Ừ… Nói đi.”
“Mỗi buổi sáng nhờ uống một ly nước lọc. Đó là điều rất tốt cho cơ thể…”
“Ừm.”
“Bấy lâu nay anh có thường xuyên uống nước mỗi buổi sáng đâu? Nói yêu em mà không chịu làm theo điều em dặn mà nói yêu chỗ nào?”
“Anh ráng…”
“Hôn em đi.”
“Ừa, hôn…”
“Hôn ở đâu?
“Mọi chỗ”.
“Hôn trên mắt cho em ngủ thôi”…
Anh chúc nàng ngủ ngon và sáng mai một ngày tốt lành. Giọng anh ngập ngừng.
“Đây không phải chỉ là một lời chúc thôi. Mà hàm chứa những lời tác động từ trái tim.”
Hình như người đàn ông của nàng đang giấu nàng một điều gì. Và nàng thì đang là một phụ nữ không còn trẻ trung. Đàn bà trưởng thành nhờ những tổn thương, chứ không phải vì năm tháng từng trải.
“Sao nghe giọng anh hơi lạ? Anh ân hận à?”
“Trong tình yêu, không có sự ân hận”. Anh nói.
“Có đó. Không những ân hận mà còn quá nhiều thương tổn nữa kìa.”
“Anh không biết nhiều điều đâu. Nhưng có một điều anh biết chắc chắn, đó là anh yêu em.”
“Anh có biết em thích nhất những từ nào không?”
“Từ nào?”
“Ấm áp và sự âu yếm…”
“Thì chúng ta đang có đấy thôi…”
“Xa như vậy mà có à?“
Có tiếng thở dài nơi đầu giây bên kia… Nhẹ thôi và chạm vào âm phách một cung đàn xưa. Nơi bốn bức tường và có nàng ngồi co ro nghe tiếng đời bung rạc.
“Ngay cả yêu bản thân mình, cũng trở thành việc rất khó…“ Nàng nói.
Cuộc điện đàm trái nghịch thời gian. Bên anh là ngày trong khi nơi nàng là đêm.
Nàng nói, mùa này, Việt Nam thật lạ. Buổi sáng có nắng hanh hao mà lạnh. Người ta túa ra đường mang hờ thêm áo ấm và chờ nghe giá rét thổi trên da thịt. Buổi chiều lại thêm cơn mưa bất chợt có những sợi mềm lây lất…
Không biết nàng đang làm gì lúc này. Đang ngồi trước computer nhìn lên màn hình và kéo con chuột lên xuống. Hay đang nằm trên giường ôm gối ôm quen thuộc và trùm mền kín mít?
“Anh. Hỏi anh cái này nè?”
“Gì?”
“Bao giờ thì anh ly dị với Sương Phố?”
Một câu nói vừa phải, không lên xuống cung bậc, nhưng thật sự làm anh nhói đau. Sự nhói đau dù cố không muốn nghĩ hay chạm đến. Vì hễ chạm là lại đau.
Chắc phải khó khăn nàng mới nói lên điều đó. Và phải khó khăn lắm anh mới đè nén một trái tim đang chồng chềnh, bất an…
“Cho anh một thời gian đi… Sương Phố đang có vấn đề sức khỏe…”
“Anh muốn em đứng bên ngoài tình yêu này đến bao giờ?”
“Em không đứng ngoài mà em đang tham dự…”
“Có một lúc em thấy hết còn hứng thú làm người yêu của anh…”
“Đừng như vậy. Em yêu anh, mà Sương Phố đang cần anh…”
“Anh và em đều trưởng thành. Chúng ta cần dũng cảm để đối mặt, chớ không cần sự yếu mềm chạy trốn.”

Anh nhớ ngày anh quen Hạ Hiền là một ngày tháng mười một ở NewYork cách đây 1 năm.
Lúc đó nàng đang có 3 tháng du lịch Hoa Kỳ và điểm dừng chân đầu tiên là Washington D.C. Từ những chuyến viếng thăm tòa nhà quan trọng nhất nước Mỹ là điện Capitol đường Independence Ave, đến những di tích lịch sử như Washington Monument, Tidal Basin (tháp Bút Chì, BEP (nhà in tiền)… ngay cả việc thả bộ dưới những cây anh đào đang mùa chết khô hai bên bờ sông Potomac, rồi những lần bắt Metro về Virginia… Maryland…
Còn anh từ Việt Nam trở về khi nghe tin Sương Phố nằm nhà thương. Chuyến bay vô tình mang hai trái tim chưa từng đập với nhau một lần, nhưng tình yêu đã nói với nhau lời quen thuộc.
Không biết nàng có còn nhớ bao nhiêu cái thành phố chật ních xe cộ và san sát những nhà cao tầng. Nhưng anh thì vẫn nhớ. Vì đó là một nơi ghi dấu kỷ niệm đẹp nhưng nhuốm màu đen tối. Nơi mà không ai bảo ai đều trượt chân ngã xuống đời nhau. Cùng gối đầu trên cánh tay nhau và gọi tên những tháng ngày rách nát.
Thành phố sụt sùi khóc những lá phong thay nhau rụng như mưa trên đường chiều mịt mùng. Chỉ cần một chiếc thôi dù mới đổi màu, cũng đủ lắp vừa một vết thương.
Cái thành phố trưởng thành cùng với lịch sử vàng son của Mỹ từ trên máy bay nhìn xuống đã làm nàng mê hoặc.
Những giải mây trắng như bông gòn xếp chồng lên nhau nằm yên dưới hai cánh màu trắng xám. Thành phố trên cao nhìn xuống như một bàn cờ, trên đó xe cộ, nhà cửa như những quân cờ ngổn ngang chưa kịp thu dọn.
Thành phố New York luôn đông nghẹt người. Các tài xế taxi luồn lách tài tình giữa những lằn đường. Ða số khách vãng lai mới đến New York lần đầu khó lòng tìm ra chỗ đậu xe. Những mái nhà ngất ngưỡng che khuất ánh nắng mặt trời và người ta đi dưới lòng đường đầy bóng mát. Ai đó nói rằng tấc đất là tấc vàng, thành phố này đang nói lên chính xác điều đó.
New York, giống như Chicago, thành phố ngày cũng như đêm. Ánh điện thay cho ánh sáng mặt trời. Anh không biết người ở đâu ra mà lúc nào cũng thấy nối đuôi từng hàng. Những ngọn đèn xanh đỏ liên tục lóe sáng trên những giao lô. Những hành lang sâu tít giống như miệng những quái vật nuốt chững từng đám bộ hành. Ðứng trên cao nhìn xuống, con người không khác một đàn kiến đủ màu táo tác chạy tìm thức ăn.
Người ta đi trong gió lạnh buổi mai và hai tay thủ trong túi áo. Vài người khác cầm trong tay ly cà phê. Vài người cầm dù. Nơi những tam cấp dẫn xuống trạm xe điện ngầm, những tấm biển quảng cáo cho những quán ăn, những hộp đêm có nhạc sống bay phất phới. Vượt khỏi tấm nhìn, là khu Time Square, và khu Manhattan lộng lẫy, nơi nhộn nhịp nhất và nói lên rõ ràng nhất cái diện mạo đời sống của New York. Tại đây có đủ mọi quán xá, tiệm buôn, những rạp hát, những quán cà phê lộ thiên nhìn ra đường. Thực khách xếp hàng rồng rắn trước những tiệm bán Pizza và tiệm bán mì sợi làm theo kiểu Ý Ðại Lợi. Họ cầm món ăn trong tay và đứng ăn, trong khi chờ đợi xe buýt hay taxi. Vừa ăn, vừa uống vừa nói cười. Tại đây cũng có chỗ đậu xuống của Thiên Thần và cũng có chỗ dừng chân của Quỷ. Có những con đường dẫn đến nơi thờ phượng Chúa đồng thời có những hành lang u uất quanh co, dẫn đến khu ăn chơi, xối xả bia bọt. Có diễn thuyết buổi sáng mai và buổi chiều xuống đường biểu tình. Có những cô gái hở hang như chưa từng biết qua áo quần vải vóc. Có những người đồng tính thoạt nhìn tưởng người mẫu. Cũng có những chủ nhân Do Thái đội mũ úp màu đen. Họ vào ra ngân hàng với bộ ria xồm xàm cùng Veston trịnh trọng. Mọi thứ trộn lẫn, dằng xé, như một bối cảnh từ một phim trường hoang tưởng. Mọi thứ đan nhập vào nhau và tỏa lan một mùi vị, một màu sắc riêng biệt làm nên thành phố lớn và đông dân nhứt nước Mỹ.
New York còn có những con đường mà người lái xe chỉ sai một đường lane là không biết chạy về đâu. Có những nhịp cầu vòng vo nối liền với New Jersey bên kia. Có tượng Nữ Thần Tự Do nhìn xuống vịnh Hudson và những chuyến phà chở khách. Có tòa nhà ghi dấu quá khứ những bước chân đầu tiên của người tị nạn. Nơi đó trưng bày hình ảnh các rương gỗ đựng vật dụng, quần áo mang theo trên chuyến hải hành. Những kỷ vật mang nỗi ngậm ngùi nước mắt.
Ðường phố nơi đây dường như chật chội hơn những nơi anh từng ghé qua. Hay phố xá đan kín làm cho người ta mang cảm giác tù túng. Thị dân cũng không giống với thị dân ở một vài thành phố khác, như Houston, Dallas chẳng hạn. Rất ít khi thấy họ đứng nói chuyện bên đường, hay vồn vã. Họ đi qua không muốn nhìn thấy nhau, lầm lũi. Anh nghĩ thầm, nếu như vậy thì làm sao để hai trái tim có thể san sẻ một hơi ấm nào đó, dù chỉ cảm thông?
Vậy mà, nơi căn tiền phòng của ngôi nhà trọ có tên Courtyard Marriot, ở góc đường 43 và đường số 7 đã ghi nhận một mối quan hệ không tên gọi- không có lời thuyết minh. Như một chỗ giao nhau của tình yêu và bội phản. Trước khi chờ một bình minh để theo đoàn du lịch về một thành phố khác, Hạ Hiền đã gọi điện cho anh. Cú phone làm tan vỡ lấm lem những cuộc đời trong sáng.
Ðoạn đường ngắn nhưng phải mất nhiều phút anh mới đến được nơi của nàng. Tán dù nhiều màu dường như muốn nghiêng ngã theo chiều gió. Những chiếc bàn tưởng nằm lấn ra đường, nhưng không phải vậy. Người chủ quán cố tình trang trí để người qua đường thấy quán mang một vẽ luộm thuộm nhưng đầy nghệ sĩ tính, mang phong cách tiệm cà phê khu Germain hay Paris chẳng hạn. Những chiếc bàn tròn tạo nên bởi những thanh sắt uốn cong dành cho hai người ngồi, nhìn ra một bến taxi. Buổi tối tràn trề không khí rét ngọt chưa kịp quen thuộc vì anh mới từ một thành phố nóng bức. Nhưng sự mới mẻ của cảnh vật làm anh cảm giác đang trưởng thành chớ không phải già nua. Đâu đây, gió thổi mơn man như lời truy điệu bài tình ca rát mặt.
Đêm của miền Đông Bắc Mỹ lạnh đủ để hai cơ thể không từ chối gần gũi nhau. Cả hai đều buông thả và không ai muốn kiểm soát cảm xúc. Mùi dâu pha trộn với mùi mật ong trên môi nàng cùng với mùi Rhum trên môi anh quyện vào nhau. Không có khoảnh khắc nào để nói lên đủ cái thế giới này là của ai và sự hồn nhiên của nàng cũng trở thành sự bí ẩn của của người khác. Anh nhớ khi ấy, Hạ Hiền nói, giữa hai nụ hôn.
“Đàn ông món lạ nào đối với họ cũng ngon. Và càng chỉ muốn thêm chớ không muốn dừng lại…”
Dưới chiếc rèm cửa đang ngây ngất chờ đợi khám phá sự lãng mạn của tình yêu, đêm ướt át như chưa từng biết qua những mùa khô tạnh.
Sáng mai, sẽ có một người đàn ông tự dằn vật khi trở về gia đình. Những màu hoa bên đường ra phi trường không còn hớn hở tươi xanh, mà tái tím như màu môi tuyệt vọng.

2.
Quán ăn nằm bên góc đường số 2 và Trinity của Austin, có tên rất ngộ là Café Blue. Quán khai trương từ mùa thu năm rồi. Cà phê là một phần nhỏ của thực đơn. Hải sản và rượu mới là chủ yếu. Món hào sống vắt chanh, ăn và uống cùng Margarita có thường xuyên mỗi tối.
Sương Phố phải đứng một hồi lâu cho quen thuộc với bóng tối. Mọi quán ăn có bia bọt đều bài trí giống như một ngôi nhà dưới âm phủ. Nàng vừa từ ngoài đường bước vào, xém vấp ở ngạch cửa, may mà nàng đi dép.
“Xin lỗi.” Nàng nói.
“Cô ngồi đâu?” Người phục vụ cúi mình.
“Không, để tôi ngồi ở quầy rượu cũng được… Tôi có hẹn một người.”
Nàng tiến đến kéo ghế ngồi xuống. Không cần máy lạnh cũng nghe lạnh ùa về đâu đó.
Hình như khi qua 40 tuổi, người đàn bà miễn nhiểm với những lời tán tỉnh. Nàng không cần một lời khen hay một vòng tay đưa ra để dẫn nàng bước xuống một tam cấp. Mà nàng thì đã gần 50. Bao lâu nữa nàng mới bắt đầu chạm môi để nhẩn nha thưởng thức một nỗi buồn?
Hôm qua, có người đòi chia tay với nàng. Người đàn ông nào cũng vừa muốn ôm sự ấm áp về mình, vừa muốn mở cửa trái tim để đón nhận nhiều ngọn gió mới.
Từ bao giờ, nàng thân thiết những thói quen. Những điều quen thuộc đến nỗi nhàm chán. Nhưng đó là ngày hôm qua và quá khứ. Hôm nay, nàng đang chán ghét những điều đó. Những ảo tưởng và sự khờ dại sẽ được xóa hết. Những chiếc bóng cũng sẽ từ bỏ mình khi căn phòng không còn ánh sáng, huống chi một người đàn ông bên cạnh?
Người bartender đẩy tờ thực đơn về phía nàng. Ngọn đèn trên trần phòng dọi xuống vầng xanh trong vắt như màu trăng đêm. Đủ cho nàng thấy rõ những gì trên khung giấy gấp đôi. Những món hải sản hấp dẫn nằm kề những thức uống đủ loại… Lúc nàng định kêu một cái gì để uống thì thấy anh bước vào.
Chiếc áo thun trồng cổ màu hột gà và chiếc bê rê đen quen thuộc. Trông anh mệt mỏi dù thời gian mới mười một giờ sáng.
“Chào em. Tối qua anh không ngủ được.”
“Còn em thì ngủ thoải mái.” Sương Phố nói khi anh hôn phớt lên má nàng. Những cọng râu cạo bỏ sót trong lúc vội vã của anh làm nàng nhột.
“Anh gọi món ăn giùm em đi.”
Nàng đẩy tờ giấy về phía anh. Tiếng nhạc đủ làm say sóng những trái tim và những lòng tàu. Bài “How Can I Tell Her”do Lobo hát, nghe như thuộc về một thế giới khác… Chỉ có sự hoang tưởng và hấp hối hòa quyện vào nhau. Chỉ có sự nguyên vẹn bao bọc và chở che trái tim vốn yếu mềm.
“Bản nhạc này làm anh nhớ đến một lần chúng ta đi ăn tối với nhau.”
“Lần cuối cùng chúng ta đi ăn với nhau là khi nào?”
“Ngày Thanksgiving năm 2016.”
“Vậy là hơn 2 năm rồi.”
“Lúc đó em mặc chiếc áo rất đẹp.”
“Anh vẫn thường nói vậy với bất cứ mọi người mà?” Nàng mai mỉa…
Giữa lưng chừng mặt bàn và những muổng nĩa, bàn tay nàng trong tay anh. Những lời của anh vẫn nghe chân thành:
“Bác sĩ nói với em làm sao? Sức khỏe em vẫn OK chứ?”
“Làm sao OK được khi thịt da con người tiếp xúc với dao kéo?”
“Anh thấy em rất tự tin ở bản thân.”
“Chứ anh muốn em phải làm sao? Sau cái lời chia tay đó?”
“Anh rất tiếc.”
“Lời chia tay anh nói dễ dàng nhưng với em thì không dễ dàng …”
“Anh hoàn toàn tôn trọng em. Và cho tới giờ phút tồi tệ này anh thấy vẫn yêu em như chưa từng được yêu.”
“Xém chút nữa anh đã làm em xiêu lòng.”
“Anh không ngừng suy nghĩ rằng 1 hay 2 hôm nữa anh sẽ đi và không bao giờ gặp lại em…”
“Sớm hay muộn gì cũng đến ngày đó”
“Anh trân trọng và biết ơn những ngày tháng đẹp mình có.”
“Em cũng vậy. Nhưng đâu cần phải khách sáonhư vậy? Anh muốn làm một người rộng lượng chăng?”
Anh trả lời bằng một câu hỏi khác:
“Em thích loại bia nào? ”
“Không quan trọng. Loại nào cũng ngon cả. Giống như tình yêu, lúc nhận và lúc cho đi.”
“Có đúng sự dững dưng là kết quả đau đớn của tình cảm?”
“Đó là sự dịu dàng với bản thân.”
“Em nghĩ, cứ để mọi chuyện qua đi. Hãy xem chia tay giống như tỉnh dậy sau một ác mộng. “
“Anh chỉ sợ em đau khổ và đang đau yếu.”
“Khi đàn ông phản bội, đừng bao giờ dùng nước mắt để níu kéo.” Nàng nói và quấn lại chiếc khăn choàng trên vai. Một vạt vòng qua lưng và vạt kia che trước ngực. Vết thương vừa mới mổ cách đây nửa năm đã trở thành một vệt mờ. Như một ảo ảnh…
“Là phụ nữ, nên học cách chấp nhận. Em đang như vậy đó.”
“Người ta có thể quên rất nhiều điều, nhưng tình đầu thì không thể.”
Từ quán ăn bước ra ngoài, mưa đang rắt hột. Tháng này mà có mưa giông. Trời tối. Các cửa tiệm vừa sáng đèn.
Anh nắm tay đưa nàng bước qua một vũng nước. Qua một tiệm bán phone di động của người Mễ và một của tiệm Dollar General (tiệm bán đồ một đồng). Phía sau con đường là một hành lang nối với nhà kho. Những hình vẽ bằng sơn xịt trên tường, ghi nhận sự bất mãn vô cớ. Không khí ngây ngất mùi dục vọng. Có vài người đang quấn quít, không phải tránh mưa mà vì môi miệng bỗng dưng thèm muốn nhau.)
(Tuần rồi còn nằm trong vòng tay nhau, vẫn là một ngày mưa, nhưng Sương Phố cảm nhận sự ấm áp. Mặc cho ngày mai sẽ như thế nào. Mặc cho những gào thét của con tim rằng đừng yêu nhau… đừng yêu nhau… và đừng làm khổ nhau nữa…)
Anh châm thuốc. Khói bay tỏa ngang mắt nàng. Có màu nào buồn hơn như vậy?
Anh biết những ngày tới sự cô đơn cũng chật trên đôi mắt đó. Thật ra đàn bà yêu và buồn giống nhau. Và anh thấy rõ ràng là phụ nữ đẹp hơn sau khi chia tay…
“Anh không thể chia sẻ cuộc sống với em. Có gì quá đáng hay không?”
“Em không giận anh…”
Như vậy. Anh và nàng chia tay bên ngoài quán ăn ồn ào, ướt át.

3.
Căn nhà nàng sửa lại cách đây nhiều năm, từ ngày chồng qua đời. Mấy đứa con gái có gia đình ở riêng, cùng trong một thành phố. Lâu lâu tụi nó trở về làm sống động những thước không khí đang im ắng, rồi đi.
Có một thời nàng không muốn tu bổ vì có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chán nản.
Đêm rạc rời tiếng nhánh lá quét trên mái nhà. Những ánh điện từ ngọn đèn đường khiêu vũ trên balcon.
Tiếng gió rít róng từ một cơn bão kéo theo những tiếng đời lạnh câm, hốt hoảng. Tiếng mưa trầm lắng nhưng hối hả làm sao? Mọi âm thanh đều tác động lên giấc ngủ muộn ngoại trừ tiếng gõ của trái tim.
Vậy mà người đàn bà đó đã tự mở toang cánh cửa lòng của mình sau nhiều tháng dài nhiều năm dài để thu vào một hồn bão rớt?
Người đàn ông từ bên kia đại dương, từ những mối tình liêu xiêu không đậm mùi hạnh phúc trở về đòi cưới nàng. Bây giờ anh đang ngồi trước chiếc bàn ăn bằng đá hoa cương giả, một bình hoa không biết đã thay nước rồi hay chưa. Chiếc bếp sạch boong và chậu rửa chén cũng trống trơn. Có ai lắng nghe được điều gì sau những ánh mắt, như muốn nói mà không thể?
“Người ta nói hạnh phúc không chịu nói…”
Anh mở lời. và tiếp:
“Anh sẽ nói dối nếu nói rằng trong một thời gian dài như vậy anh không nhớ đến em…”
“Đâu đủ dài nếu tính từ ngày em đi chơi ở New York?”
“Anh đang thích sự yên tĩnh trong ngôi nhà của em.”
“Cho nên tiếng chuông cửa làm em chới với. Đáng lẽ em không mở cửa vì anh không gọi trước…”
“Em bảo anh phải làm sao khi anh chỉ có một thời gian ngắn để thu xếp và cả vé máy bay anh cũng mới biết mình thực sự sở hữu từ hôm qua.”
Người đàn bà nồng cháy một thời, nhưng tình yêu là thay đổi. Hạ Hiền nghĩ thầm. Mỗi ngày trôi qua, đẩy nàng và anh thêm khoảng cách. Trong nỗi thinh lặng đáng sợ của lòng, bao lần nàng nhìn lại bóng mình trên tường.
“Cho anh nói với em lời cầu hôn nhé.”
“Sương Phố thì sao? Đừng vội vàng làm người đàn ông phụ bạc?”
Qua vai anh, nàng thấy nỗi buồn bay quẩn quanh trên tường. Trên những khung ảnh có nàng trong đó. (Nàng đang nhìn xuống và cười. Người chụp chân dung cho nàng nắm bắt được nụ cười hiếm hoi và rạng rỡ làm sao).
“Sương Phố đã có một cuộc sống khác không cần anh. Nàng chỉ cần gia đình của nàng và sùng bái những tiếng cười của trẻ thơ. Trong khi anh không đáp ứng được điều đó…”
Một thời gian dài cả hai người đều không ai nói với nhau…
“Cho anh lập lại lời cầu hôn với em?”
“Có lẽ em thích sống một mình…”
“Không ai thích sống như vậy cả.”
Hạ Hiền đi vòng sau lưng anh. Khung cửa sáng và khu vườn bên ngoài. Có những cây hoa mười giờ và cúc vạn thọ đang ra hoa. Còn bao nhiêu ngày nữa đền tháng giêng và thời tiết đang chuyển mùa đợi một mùa lễ lạc?
Những luống rau ít oi phơi phới màu xanh. Góc sân, chậu mai tứ quý có vài nụ dự báo nở kịp vài ngày tới.
Không lẽ, chấm dứt một tình yêu dễ dàng đến như vậy?
“Chuyện gì đã xảy ra?“
“Anh thử đoán xem?”
“Em không nói những lời khó chịu trong 6 phút rồi…”
“Ừ…”
“Chúng ta sinh ra để cho nhau… Từng gặp nhau và đáng được hạnh phúc.”
“Hãy quên nó đi…”
“Anh không quên được.”
“Anh đã từng làm vậy.”
“Tình yêu là điều quan trọng nhất. Đừng quên điều đó. Đó là thứ duy nhất cứu rỗi nhân loại.”
“Nhưng em đã suy nghĩ và những gì chúng ta cho nhau, không hẳn là tình yêu.”
Nàng quay mặt nhìn anh. Không tránh né.
“Em đã bỏ mười năm chăm sóc những ham muốn của em. Nhưng có một lúc em khổ sở khi đối diện với nó.”
“Em đã hứa đi cùng anh đến tận cuối con đường.”
“Nhưng chúng ta chẳng nói rõ nơi đâu là cuối con đường. Giới hạn của chúng ta khác nhau và em dừng lại… Hãy trả mọi thứ về nơi bắt đầu.”
Người đàn ông đứng lên. Hối tiếc một chút vì đã trở về…
“Em đã để lý trí làm tổn thương trái tim… Và anh không biết chiếc nhẫn anh mua phải trao lại cho ai?”
“Anh hãy trao lại nó cho Sương Phố. Hay một người nào khác, xứng đáng.”
“Ngay cả với em, cũng vậy?”
“Vâng. Không nhất thiết phải tặng quà cho em đâu. Chúng ta muốn già đi cùng nhau, mà không được.”
“Em có thể cho anh hi vọng không?”
“Anh có trọn quyền mà.”
“Người ta có thể hi vọng mà không có niềm tin. Nhưng anh không thể tin mà không có hi vọng. Anh vẫn yêu em được không?
“Trong tình yêu của chúng ta, những thứ mà anh cho em, lúc nào cũng là những thứ mà anh muốn cho… Anh chưa bao giờ để tâm rằng đó liệu có phải là thứ em muốn có hay không?”
“Cho anh nắm tay em.” Anh nói khi ra đến tận cửa. Bỗng nghe tiếng mưa đâu đó trên mái nhà. Rồi mưa. Mưa…
Nàng đưa tay cho anh nắm.
“Anh đi về bình an nhé. Coi như chưa từng xuất hiện ở đây.”
Anh đứng băn khoăn trên bậc thềm loáng thoáng nước. Mưa không nhiều nhưng đủ làm chùng những bước chân. Người đàn bà đứng thấp hơn anh nên chuyện khoác chiếc áo mưa lên vai anh là điều khó khăn. Anh nhìn xuống chiếc ngực cong tròn mộng mị sau làn áo mỏng. Dễ chừng bờ ngực đó trẻ hơn tuổi thật đến mười năm…
Anh nghe nàng nói:
“Có lần em thích được anh ôm và hôn trên mắt em cho em ngủ…Ôi, cái tuổi của em. Điên cuồng, mơ mộng, khờ dại. Bây giờ em xóa bỏ hết…”
“Em thật hoàn hảo.” Anh nói nhưng không tin lời mình nói… “Nhưng còn có một vòng tay ôm vào ban đêm thì sao?”
“Em chỉ muốn tìm một người đồng hành sẻ chia mà không cần phải ràng buộc… Điều em muốn chỉ là tình nhân của ai đó. Trình bày hoa, làm bánh, nấu ăn và ngồi chờ… Và tắt nến… Và ngã trên một chiếc giường êm ái…Trọn vẹn yêu và yêu… Không muốn làm người thứ hai chỉ vì sự nhỏng nhẽo bất thường của người đàn bà thứ nhứt…”

Phạm Ngũ Yên

Cà phê mưa 2

1.
Trong cuộc sống, chỉ rất bình thường là chuyện mưa nắng nhưng nhiều lúc, khi trời đổ mưa là mang đến cho những cư dân thành phố chúng ta những vui buồn xen lẫn vào nhau. Như khi Sài Gòn có mưa sẩm chiều và đêm, ở khu trung tâm và các phố thương mai và dịch vụ, vô vàn ánh đèn đủ màu đủ sắc, đầu đường cuối phố, trên cao dưới thấp nhập nhòa trong màn mưa đã khiến cho Sài Gòn trong cơn mưa đêm trông có vẻ như đẹp hơn, một vẻ lộng lẫy mơ hồ…
Thành phố đẹp hơn khi có mưa đêm nhưng dù ngày hay đêm, mưa trời đã làm cuộc sống của nhiều người trong chúng ta phải nhọc nhằn, vất vã hơn. Mùa mưa đến xua đi cái oi bức khó chịu của mùa khô, mát mẻ hơn đấy nhưng lại bắt đầu diễn ra đủ thứ chuyện không hay ho gì. Như ướt át, nước ngập, kẹt xe… gây khó khăn, trở ngại cho việc đi đến chỗ làm và ra về khi tan sở, việc đưa rước con cái đi học, chở hàng đi giao, gánh hàng rong đi bán .v.v… Nhiều công việc, sinh hoạt sẽ trở nên mất nhiều thì giờ hơn, hiệu quả lại giảm sút, năng suất xuống dốc, hàng hóa ế ẩm…, nhất là đối với những người ngày đêm phải thường xuyên có mặt ngoài đường phố, bám lấy đường phố để sinh nhai.
Tuy nhiên, cũng có lúc – đối với bạn và tôi – trời mưa lại là một món quà tặng hậu hĩnh của thiên nhiên. Thôi nói luôn cho rồi: trời mưa thì đi uống cà phê rất thú vị.
Trước tiên, có thể hình dung những người đang lầm lũi bán hàng rong ngoài đường hay những anh thợ hồ, thợ sơn đang làm việc trên giàn giáo ngoài trời, trời chợt đổ mưa lớn thì phải ngưng việc, đi tìm chỗ trú. Ngay lúc này, ở mái hiên ké né núp mưa chợt có một tủ bán thuốc lá – cà phê, hay ngay cổng công trường có luôn cái quán cóc của chị Ba, chú Tư…, có một cái cà phê nóng lúc này sẽ rất ngon và đã đời, nhất là với người quần áo đã ướt sủng nước mưa đến lạnh run.

2.
Cũng không tệ lắm cái chuyện những người bán hàng rong, những anh thợ xây dựng đã được cà phê an ủi nhiều vào lúc phải khổ sở dừng công việc vì trời đổ mưa đột ngột. Còn những người xưa nay đã sẵn ghiền cà phê như bạn và tôi thì sao khi mưa đổ ngoài trời?
Vào cái thời còn lui tới giảng đường Văn Khoa, đám sinh viên đầy mơ mộng tụi tôi rất khoái trời mưa. Thấy sấm chớp nổi lên, mưa vừa rớt hột thì thiên hạ lo chạy đi tìm chỗ trú hay chạy vội về nhà để tránh cơn mưa, còn tụi tôi thì làm ngược lại – chạy…ra đường. Có gì đâu, chỉ là kiếm tìm nhau để đi uống café. Địa điểm rất ít khi thay đổi là quán Hân ở vùng Đakao. Nếu trời đổ mưa đang lúc cả bọn có mặt tại trường thì càng dễ rủ rê vì quán này chỉ cách trường vài trăm mét. Chỉ cần tên nào đó lên tiếng là cả đám đồng loạt xếp sách vở, xuống sân lấy xe. Có khi đi bộ luôn trên đường Đinh Tiên Hoàng dưới cơn mưa – cho thêm phần…lãng mạn.
Đúng hơn là dân ghiền, thích cà phê như chúng tôi đều đi ngồi café – ngồi lâu dài, ngồi nhẵn mặt ở cái quán quen thuộc của mình. Đến quán, an vị rồi thì lơ đãng nghe nhạc trong khi chờ món cà phê mình gọi được mang ra. Nhạc ở Hân rất tuyệt, từ nhạc Việt, nhạc ngoại quốc cho đến nhạc giao hưởng. Sau một lát trao đổi vài đề tài nhẹ nhàng, ai nấy đều trở nên thinh lặng và lười cử động. Mỗi người như đều tách khỏi câu chuyện bạn bè để riêng mình theo đuổi cái cảm giác bình yên, ấm cúng đang choáng ngợp thân tâm lúc này. Qua mơ màng khói thuốc, có thể ung dung ngắm mưa ngoài đường hay thầm lén ngắm trộm cô bạn học ngồi trước mặt đang rón rén thưởng thức ly nước cam vắt. Hình như khi thướt tha áo dài, buông lơi tóc thả vào lúc trời đổ mưa, cô bạn trở nên duyên dáng lạ thường.
Nguyên có một cô bé SV mới xong năm dự bị, tức dưới tôi gần nguyên học kỳ cử nhân 4 năm, nhưng trong nhóm, số bạn SV cao học như tôi lại ngầm xem cô bé “đàn em” này ngang hàng bởi họ thấy giữa tôi và cô bé đã có hình-như-là-tình-yêu với nhau, Trong một lần hẹn hò đi cà phê với cô nàng rồi trúng trời mưa, tôi đã bàng hoàng đến muốn bay bổng lên mây!
Lần ấy, hai đứa hẹn ở quán La Pagode, theo tiếng Pháp nghĩa là cái chùa, ở đường Tự Do. Tôi đến muộn, quần áo thì ướt đẫm nước mưa. Nhà hàng sang trọng này có hai mặt tiền bằng vách kính dày, mưa càng lớn thì khách ngồi bên trong càng cảm thấy ấm áp, khô ráo, nhưng tôi thì đã thấm lạnh, khó chịu trong người, mặc dù máy lạnh chỉ ở mức điều hòa không khí. Co ro trước tách café nóng và mơ mơ màng màng qua những vờn khói thuốc, tôi chợt nhận ra người con gái đang ngồi kề bên chợt xinh đẹp diệu kỳ. Từ ánh mắt lúng liếng, nụ cười thẹn thùng, suối tóc mây êm ả, cho đến chiếc áo dài – vừa huyền hoặc như chợt thoát ra từ lời hát thiết tha của bản Ngàn Thu Áo Tím, vừa thẳng thớm, tề chỉnh như đang được mặc trong vũ hội – tất cả như chợt hợp điệu thành một vẻ đẹp toàn bích, trang trọng đến tuyệt vời. Chính là cơn mưa lớn đã dửng dưng làm tôi ướt át, khổ sở, nhưng đổi lại, mưa lại hào phóng nâng lên vẻ duyên dáng của người con gái – cái bờ bến yêu kiều, bình yên, tạnh ráo mà gã thư sinh mấy độ phong sương, lạc nẽo lý tưởng chỉ mong được phép ghé vào tá túc, tìm chút hơi ấm nồng nàn trong cơn mưa gió.
Sâu xa hơn thì tình yêu có một loại phong vũ biểu đặc biệt dành cho ai đó – rất riêng tư mà sẵn sàng hòa điệu với mưa trời. Lời xưa có nói: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách / Sắc bất ba đào dị nịch nhân”, tạm dịch là “Mưa trời đâu có kềm trói ai nhưng vẫn có thể giữ chân người và sắc đẹp đâu có sóng to (ba) sóng nhỏ (đào) đâu mà vẫn nhấn chìm người”. Trời chợt đổ mưa thì có thể gây khó khăn, trễ nãi cho ai đó chứ đối với những đôi tình nhân, đi uống cà phê với nhau lỡ trời mưa và mưa lại kéo dài thì… càng tốt thôi! Đôi lứa yêu nhau cứ lấy cớ trời mưa giữ chân họ mãi trong quán, nên họ phải… tha hồ ở bên nhau mà tình tự, nghĩa là mưa càng kéo dài thì càng ơn ích cho những cặp tình nhân.

3.
Bởi chút hạnh phúc nhỏ bé mà ai cũng có thể tìm thấy ở những tách cà phê nhâm nhi dưới mưa như thế, sau bao năm tháng cà phê cà pháo với nhau, hằng năm hễ đến lúc giữa thinh không chợt có sấm chớp báo hiệu cơn mưa đầu mùa xuất hiện thì đám bạn già chúng tôi thường vội vàng rủ rê, hú gọi nhau, nán chờ nhau họp mặt ở một quán cà phê quen, càng đủ mặt càng ấm cúng thân tình bè bạn.

PHẠM NGA
(Cuối mùa mưa 2018)

CAO BỒI MIỀN TÂY

Khi nghĩ về nước Mỹ, hầu hết mọi người đều liên tưởng đến hình ảnh chàng cao-bồi. Nhớ những bức tranh hoạt hình về chàng Lucky Luke của tuổi thơ. Lúc-Ky Lúc-Ke mặc áo vàng, đội mũ trắng rộng vành, cái môi chu ra luôn phì phèo điếu thuốc vấn, bắn súng nhanh hơn cả cái bóng của mình, luôn đơn độc lang thang trên cánh đồng hoang mạc cùng con ngựa Jolly Jumper để bảo vệ cho công lý và lẽ phải. Hình ảnh lãng tử cuối mỗi tập truyện là chàng cưỡi ngựa đi về phía cuối chân trời và hát bài “Tôi là gã cao bồi nghèo đơn độc, rong ruổi trên đường xa nhà, thật xa…”
I’m a poor lonesome cow-boy
And a long far away from home…

Lại nhớ đến những bao thuốc lá Malboro có hình chàng cowboy điển trai, khuôn mặt góc cạnh đàn ông, cũng trong chiếc mũ rộng vành, nghiêng đầu ghé môi châm điếu thuốc đầu lọc bằng chiếc bật lửa zippo. Chàng cao-bồi và con ngựa mustang luôn mang một nét đẹp hoang dại, ngang tàng, hào hùng, đơn độc và mạnh mẽ của tuổi trẻ.

Hình ảnh cowboy đẹp là vậy, dù lan man trong các phim về miền viễn Tây là pha trộn những cái tốt, cái xấu và cái ác (The Good, the Bad and the Ugly) đặc thù. Thực chất hình ảnh chàng cao-bồi là gì? Hãy tìm về cội nguồn của chàng từ thế kỷ 16, những năm tháng thuộc địa ở Mễ tây Cơ. Ở đó người ta gọi chàng là Vaquero, nghĩa là bò ,từ chữ vaca theo tiếng Tây Ban Nha. Khi người Tây Ban Nha đến Mễ Tây Cơ, họ mang theo những con ngựa, những thảo nguyên mênh mông ở Nam Mỹ là miền đất lý tưởng cho những vó ngựa và đàn bò thả rong gặm cỏ. Ở đó họ mở rộng những trang trại nuôi bò, lan dần lên tới Texas, Arizona và New Mexico, cũng như xuống tận Argentina. Những đàn bò hàng ngàn con cần đến những chàng trai cưỡi ngựa chăn dắt, vây tròn gọi là round-up bằng dùng dây thừng có thắt vòng lasso để quăng lọt vào cổ hoặc trói chân những con bò. Họ dùng thanh sắt nung nóng mang dấu hiệu của trang trại để đóng lên bò con. Việc gom lại một đàn bò hoặc thú nuôi lớn hoang dã cần những tay chăn bò khỏe mạnh, nhanh nhẹn và thiện nghệ trên lưng ngựa. Họ là chủ nhân giữa đất trời bao la trên những cánh đồng không cây cỏ bạt ngàn, của những vực núi đá cheo leo, của những miền đất đầy gai xương rồng, chăn dắt hàng ngàn trâu bò qua hàng ngàn dặm đường hoang vu, những thác lũ cuộn sóng, luôn thường xuyên đối phó với hiểm nguy từ thú dữ rắn rít đến những mũi tên của người da đỏ, của những tên cướp sống ngoài vòng pháp luật. Họ phải đơn thương độc mã dưới đất trời bao la khi bão tố phủ vây, sấm sét ngang đầu, khi chung quanh không có một túp lều trú ẩn, ngủ hàng đêm trên sỏi đá dưới sao trời, lầm lũi vó ngựa trong tuyết ngập đến gối, ăn uống nhọc nhằn từ những lon đậu trong hộp thiếc và miếng bánh mì khô khốc, cô liêu bầu bạn chỉ với chiếc kèn Harmonica​ lạc lõng theo gió thảo nguyên mênh mông…

Họ mang những đôi giày ủng da cao cổ có đinh thúc ngựa, mũi giày nhọn bọc sắt để lọt gọn vào bàn đạp bên hông ngựa; tay mang đôi găng da sờn mòn vì cầm cương, chiếc quần vải bố bền bỉ có phủ thêm tấm da che chân để bảo vệ những khi băng qua các bụi gai rậm, đầy xương rồng; chiếc mũ cao rộng vành để che nắng, chiếc mũ bằng da mềm có thể dùng làm gàu múc nước suối, dùng làm gối khi ngủ qua đêm trên cánh đồng hoang; chiếc khăn bandana như khăn tay bằng vải cột ngang cổ để che miệng và mũi trên cánh đồng đầy bụi bặm, cũng như làm ấm cổ trong mùa đông rét mướt. Khoát chiếc áo vest có nhiều túi để đựng gói thuốc lá nặng mùi và những tờ giấy quấn. Chiếc áo sơ mi không cổ để dễ dàng ngoái đầu trông đàn chăn và đặc trưng là chiếc áo choàng dài phủ xuống tận gót để như tấm chăn che ấm những mùa đông hay cơn mưa tầm tả. Đó là hình ảnh của một chàng cao-bồi miền Tây còn giữ đến ngày hôm nay. Họ luôn gắn bó với yên ngựa và chỉ xuống ngựa khi khiêu vũ những bước nhảy 2 steps với các cô gái xinh đẹp sau khi thắng cuộc thi rodeo, một cuộc thi thố hào hứng trổ tài cưởi ngựa quăng dây thừng, ngồi lâu trên lưng bò hoang dã hung hăng tung chân đá, lao xuống ôm sừng các con bò con…Tuổi trung bình của các chàng cao-bồi là 24. Họ gầy nhưng bền bỉ khỏe mạnh, được trả lương thấp và làm việc cực nhọc, mình luôn hôi mùi ngựa. Tài sản của họ chỉ là cái yên ngựa. Lắm khi chỉ được trả công bằng những con bò con và họ sẽ nuôi chúng lớn lên để bán kiếm lời.

Khi con đường sắt xuyên về miền Tây và nhu cầu thịt bò tăng cao sau cuộc nội chiến đã thu hút hàng ngàn cuộc mua bán bò ngựa từ miền Nam lên miền Bắc và nhất là miền Đông. Những con bò giá 4 đô ở Texas được mua đến 40 đô ở Illinois. Sau chiến tranh thì con số bò thả rông và lớn nhanh do không người, ruộng vườn bỏ hoang, cỏ dại ngập tràn. Những cựu chiến binh của cuộc nội chiến trở về không nghề nghiệp và tài sản, những người da đen được trả tự do lang thang không tìm được việc, những di dân mới đến từ xa xôi và cả người da đỏ. Họ đều trở thành cao-bồi chính hiệu. Lợi nhuận mua bán bò ngày càng cao theo những con đường dẫn bò lên phía bắc và về miền đông đã hình thành những con đường mòn như Chilsom Trail, Loving Trail nổi tiếng (mà ngày nay trở thành những đại lộ, địa danh lịch sử) Những con đường dẫn dắt cả ngàn con bò dài đến ngàn dặm từ Texas lên Trạm xe lửa ở Dodge City hay Abilene, Kansas. Mất hàng tháng trời để đến nơi, trung bình họ đi 15 dặm một ngày trong gió bụi…

Do đời sống gắn bó với thiên nhiên nên họ rất tốt bụng, dù ít học nhưng trọng nghĩa khí anh hùng, tôn trọng lẽ phải và công lý. Cái công lý đôi khi được giải quyết nhanh gọn bằng những tay súng bắn nhanh. Tuy vậy khi rời yên ngựa nghỉ chân các saloon, bar rượu thì đồng tiền họ làm được lại bị ma lực của men say và hương phấn phụ nữ dẫn dắt. Có không ít các vụ ẩu đả và đấu súng diễn ra, có không ít những lần luật pháp phải can thiệp và luôn gặp khó khăn khi chính những chàng cao-bồi để tự vệ lại luôn mang sẵn cây súng bên mình. Và những người hùng cảnh sát marshal thời ấy như Wyatt Earp và tay cướp Billy the Kid ra đời. Đáng kể nhất là Jesse James cướp nhà băng, xe chở hàng và ngay cả cướp đoàn tàu lửa khét tiếng lúc bấy giờ.


I’m a poor lonesome cow-boy
And a long far away from home…

Ngày nay hình ảnh cao-bồi bao gồm nhiều nghĩa tốt lẫn xấu. Nó mâu thuẫn như chính bản thân con người đơn độc, luôn phải đối phó với nghịch cảnh và tự lập để tồn sinh. Người ta yêu thích khoác lên mình trang phục cao-bồi với cái nịt có khóa to bảng, với đôi giàu ủng cao cổ bằng da mũi nhọn, với chiếc quần Jean sờn gối. Dù họ chưa bao giờ là cao-bồi, dù họ là dân thị thành chính hiệu. Những cô gái miệt quê cowgirl nhưng hấp dẫn quyến rũ với chiếc quần jean bó sát đùi, cái eo thon nhỏ trong chiếc áo chẻn ca-rô và chiếc mũ cao-bồi ngạo nghễ. Họ yêu đến chết bỏ cái gốc gác quê mùa của mình, dù đi tha phương nhưng không bao giờ đánh mất quê hương trong trái tim họ: “you can’t take the country out of the girl!”Dòng nhạc đồng quê luôn lấn lướt các giai điệu rock trẻ trung náo nhiệt và giọng nói mang âm hưởng quê mùa miền Nam vẫn tự hào nơi phương Bắc. Tuy vậy 2 chữ cao-bồi cũng hàm ý chê bai cho những kẻ liều mạng, bạo lực, chè chén và bài bạc. Tạp chí Time đã có lần gọi chính sách của cựu tổng thống Bush là “cowboy diplomacy”. Châu Âu đã gọi Bush là “cowboy”. Miền Đông cũng gọi những tay lái xe bạt mạng là thế! Dù thích hay không thì đã có đến 4 vị tổng thống của nước Mỹ từng là cao-bồi thực thụ: Theodore Roosevelt, Calvin Coolidge, Lyndon Johnson và Ronald Reagan.

Riêng người viết mãi yêu thích một hình ảnh cao-bồi trầm tư, ít nói, gai góc và cáu cạnh. Dù có tí dơ bẩn bụi bặm như Clint Eastwood. Thỉnh thoảng chàng nhổ toẹt nước miếng tỉnh bơ, nhổ như bà già quê mình nhai trầu nhổ bả. Điếu thuốc lá vấn nó là vậy. Cứ cay cay trên môi. Cứ say say khi nhớ lại hình ảnh ngày xưa chơi cao-bồi bắn da đỏ “Bang Bang.” Lại nhớ chàng Lucky Luke dí dỏm, đơn độc mà tự do, hào hiệp mà trọng lẽ phải. Ngồi phì phèo điếu thuốc lá bên cạnh các tù trưởng da đỏ cũng mịt mù ​khói thuốc như ​ống vố thuốc lào. ​Hình ảnh chàng cao-bồi miền Tây như cái đẹp hoang sơ mà mãnh liệt, sẽ sống mãi theo thời gian. ​Chỉ tiếc chàng cao-bồi Malboro là chết hẳn, ​chết theo các ​trang quảng cáo và ​những bao ​thuốc lá, ​ ​một thời ngây ngất say​.

Sean Bảo

VIẾT VỀ ANH NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Hôm nay là ngày giỗ 4 năm nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

Anh Phạm Tín An Ninh gợi ý tôi viết một điều gì đó cho Đặc san Võ Tánh Nữ trung Học Nha Trang của năm 2015 để tưởng niệm cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng cũng là một cựu học sinh Võ Tánh Nha Trang năm xưa . Điều tưởng rằng đơn giản kia nhưng khi ngồi xuống để lắng nghe dòng cảm xúc thì lại khó khăn , bởi vì anh Nguyễn Xuân Hoàng là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam thời đương đại . Có quá nhiều bạn bè trong giới văn thơ hải ngoại cũng như trong nước viết về anh ấy . Dùng ngôn ngữ để bày tỏ sự thương mến của mình dành cho anh ấy e rằng không đủ ngôn từ và cũng dễ trùng lấp vào những bài viết khác

Anh Nguyễn Xuân Hoàng mất cũng đã tròn 4 năm . Mộ của anh chắc giờ cũng đã xanh cỏ . Tháng 5 năm 2014 khi nghe anh Song Thao báo tin anh Nguyễn Xuân Hoàng bị vướng vào một căn bệnh hiểm nghèo mà sự sống có thể đếm được từng tuần thậm chí từng ngày làm tôi bàng hoàng và bất ngờ quá sức . Mới năm 2012 đây thôi nhân một chuyến đi Cali đến tham dự chương trình âm nhạc những sáng tác mới tại Le Petit Trianon Theatre, San Jose tôi còn gặp anh Hoàng và chị Vy tươi rói và khoẻ mạnh . Lần không hẹn nhưng tình cờ gặp lại đó anh tỏ ra mừng rỡ thân tình . Nhớ lại lần đầu tiên tôi còn chân ướt chân ráo từ New Orleans bay lên San Jose được anh đón tiếp cũng y như vậỵ . Anh dư biết tôi là dân nhà quê lên tỉnh, để tránh cho tôi khỏi bỡ ngỡ , anh đã ân cần chu đáo như thể là anh từng quen biết tôi từ thời lâu lơ lâu lắc . Ngay lần đó tôi đâm ra cảm mến và cả nễ . Anh Nguyễn Xuân Hoàng là vậy , lúc nào cũng niềm nỡ nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy trong cuộc sống của anh có rất nhiều bạn bè thương mến . Với tôi anh Hoàng đặc biệt hơn người khác vì gốc gác của anh là dân Ninh Hòa , địa danh này cũng chính là nơi tôi được sinh ra và lớn lên . Anh cũng là cựu học sinh Trường Võ Tánh Nha Trang thời trung học , đó cũng là ngôi trường cuối cùng của tôi trước khi bỏ lại giữa đời chiếc áo trắng quần xanh để khoác vào người chiếc áo nhà binh . Suy ra giữa tôi và anh Nguyễn Xuân Hoàng là người cùng quê quán và học cùng một trường dù anh ra đời trước tôi gần một thế hệ . Nếu tính thế hệ thì tôi là học trò của anh . May mắn cho tôi là quen biết anh như giữa hai người cầm bút khi anh phụ trách chủ bút cho tạp chí Văn tại hải ngoại mà tôi là người cộng tác nên được anh xem là bạn văn .

Từ ngày được qua Mỹ định cư muộn màng , tôi kiếm sống bằng nghề công nhân . Tôi làm việc bằng tay chân cho một hãng xưởng đóng tàu , do đó công việc viết lách phải dùng đầu óc đối với tôi không phải là một công việc dễ dàng . Tôi hiểu điều đó bằng kiến thức vô cùng hạn hẹp của mình . Nhưng tôi thích thơ văn , đôi lúc rảnh rang không biết làm gì tôi cũng tập tành viết lách với mục đích giải tỏa bớt những suy nghĩ lan man thỉnh thoảng mắc míu trong cảm xúc của mình . Nhờ anh, tôi làm quen với tạp chí Văn , tôi có thêm nhiều bằng hữu, bạn bè dể thương mà trước đó tôi không hề nghĩ đến . Những lần nói chuyện qua phone với anh, anh luôn tạo cho tôi một cảm giác an tâm và thân thiện . Giọng nói của anh hiền lành từ tốn pha chất tếu của người Nha Trang . Anh luôn tỏ ra lạc quan và bình thản dù đôi khi trên con đường anh đi gặp phải không ít tiếng chì tiếng bấc của những người không cảm hiểu được anh . Với tôi anh là một người khiêm cung dạt dào tình cảm .

Trên một võ đài hai võ sĩ cùng múa may quay cuồng cố tung cho nhau những cú đấm rất là hung hăng , khán giả vỗ tay rầm rầm khen ngợi khiến ta có cảm tưởng hai võ sĩ đó đều là cao thủ mà tất cả ngón nghề trong thiên hạ đều nằm trong tầm tay của họ . Nhưng một võ sư không làm thế . Một võ sư chỉ ngồi im lặng quan sát . Anh Nguyễn Xuân Hoàng đối với tôi là một võ sư . Ngay cả những ngày tháng này có thể gọi là từng những giây phút còn lại trên đời này , anh vẫn lạc quan để đón nhận . Nhìn nét mặt anh bình thản qua những tấm hình chụp trên giường bệnh không ai nói rằng đó là một người sợ phải ra đi . Tôi chưa bao giờ được chết cho nên không có kinh nghiệm nói về điều đó, nhưng tôi đã từng được sống và trên thế gian này nếu sống chỉ là một sinh hoạt theo nhu cầu ngày hai buổi và cứ thế tiếp diễn đến ngày nằm xuống gọi là cái chết thì sống và chết có gì khác nhau ? Vì thế cái chết chưa chắc hẳn đã là điều phải sợ

Nghe tin anh bệnh nan y trong khi vì công việc kiếm cơm tôi phải theo chiếc hộ tống hạm LPD 25 ra khơi trong vùng vịnh Mexico một tuần lễ để thử trước khi giao nó lại cho Hải quân vì đã hoàn tất . Chiếc chiến hạm này mà một số sắt dùng để đóng nó được lấy từ chiếc máy bay United Airlines Flight 93 bị khủng bố khống chế rơi ở Pennsylvania nhân sự kiện 9/11/2001 . Khi ra đến hải phận quốc tế mọi tín hiệu sẽ nằm ngoài vùng phủ sóng . Như vậy có nghĩa là tôi không có phương tiện để liên lạc được với bạn bè trong bờ để biết tin tức về anh .

Những ngày lênh đênh trên biển theo con tàu , mình tôi giũa biển trời mây nước bao la, trong tận cùng của một tia hy vọng nhỏ nhoi tôi cầu nguyện Phật trời sẽ ban cho anh một nhiệm mầu . Đó là diều duy nhất tôi có thể làm được cho anh . Nhưng điều nhiệm mầu đó đã không xảy ra . Ngày 13/09/2014 anh đã ra đi để lại bao tiếc thương cho bạn bè và gia đình . Tội nghiệp cho chị Vy vốn là người yếu đuối , bệnh hoạn trường kỳ luôn tựa vào vai anh . Trên Facebook có thể gặp chị Vy hằng ngày nhưng ít khi thấy chị được khoẻ mạnh . Hầu như lúc nào cũng thấy chị online khi nằm trong bệnh viện . Trong cuộc sống bạn có thể quên đi những từng cùng nhau vui vẻ , nhưng bạn không thể bao giờ quên được những từng khóc cùng nhau . Chị Vy là người đã những từng khóc cùng nhau với anh Nguyễn Xuân Hoàng . Còn tôi và những ai thương mến anh thì dù sao cũng chỉ là người từng cùng nhau vui vẻ

Vào một ngày nào đó thời gian sẽ nguôi ngoai vào quên lãng mọi thứ , nhưng những gì anh để lại cho văn học Việt Nam mãi mãi sinh tồn . Cũng như tình cảm tôi dành cho anh không phải là một công tắc điện muốn bật là bật muốn tắt là tắt . Tình cảm khi đã bật lên rồi thì khó mà tắt được . Anh như một người anh lớn đã có cùng tôi nhiều kỷ niệm . Chắc chắn một điều mỗi khi tối trời bước vào căn nhà thơ văn đầy bóng tối , tôi chỉ bật mở công tắc ra thì anh lại trở về .

Quan Dương

Trong hình trái qua phải : anh Nguyễn Đình Toàn – cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng – Quan Dương – Lê Thu Ba – cố nhà thơ Cao Đông Khánh – nhà văn Phạm Ngũ Yên

Chúc mừng Thư Quán Bản Thảo 17 tuổi

Thư Quán Bản Thảo chào đời vào tháng 9/2001, cùng năm và tháng với sự kiện khủng bố 911. Dịp này bọn khủng bố Hồi giáo Al-Qaeda đã cướp tổng cộng 4 máy bay: hai chiếc đâm vào hai ngọn tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở thành phố New York, chiếc máy bay thứ ba nhằm vào Ngũ Giác Đài ngay bên ngoài Washington D.C., và chiếc máy bay thứ tư bị rơi trên một cánh đồng ở Pennsylvania. Sự kiện này đã làm rúng động toàn thể nước Mỹ cũng như thế giới.

Tôi tin rằng Thư Quán Bản Thảo (TQBT) cũng đã làm rúng động giới văn chương Việt Nam trong nước và hải ngoại khi hai anh Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn đã ráng trụ và lèo lái tờ tạp chí này trong suốt 17 năm qua để ngày một thêm khởi sắc và vẫn giữ được chủ trương từ những ngày đầu. Từ bấy đến nay thoáng chốc đã 17 năm trôi qua và bây giờ TQBT đang bước vào năm thứ 18.

Ngày ấy hai anh đã tập họp một số thân hữu “cùng một lứa bên trời lận đận” để cho ra đời TQBT, mà trong số tháng 11/2001 có nhắc đến:
“Mục đích là giữ gìn và phổ biến những sáng tác của bạn bè thân hữu và những người làm văn học nghệ thuật của miền Nam trước 1975. Họ đã bị quên lãng. 25 năm qua, quá lâu, quá dài, để nói một lời tạ lỗi và cám ơn của chúng tôi. Về những giữ gìn của họ, về khí phách của họ, nhọc nhằn của họ, để văn chương miền Nam ngày nào không bị đồng hóa và lai hóa.” (*)

Ngoài những thành quả của những năm trước như đã giới thiệu các tạp chí văn học nghệ thuật cũng như các tác giả của văn chương miền Nam trước năm 1975. Như các tạp chí Ý Thức, Trước Mặt, Bách Khoa, Văn, Sáng Tạo, Khởi Hành, Trình Bầy, Hiện Đại, Nghệ Thuật, Mai, Văn Học, Văn Hóa Nguyệt San, Tình Thương. Về các tác giả có thể kể: Y Uyên, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Nguyễn Bắc Sơn, Võ Hồng, Vũ Hữu Định, Hoài Khanh, Nguyễn Nho Sa Mạc, Phan Nhự Thức, Từ Thế Mộng, Trần Dzạ Lữ, Lê Văn Trung, Khuất Đẩu, Thảo Trường, Doãn Dân, Luân Hoán, Lâm Vị Thủy, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Thị Thanh Sâm, Khoa Hữu, Nh Tay Ngàn, Dương Nghiễm Mậu, Phạm Ngọc Lư, Phùng Thăng, Hoàng Ngọc Hiển…

Trong năm vừa qua, TQBT đã giới thiệu thêm 4 tác giả: Lữ Quỳnh, Triều Sơn, Trần Hoài Thư và Cao Đông Khánh cùng tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ. Đặc biệt là tác giả Triều Sơn cùng tác phẩm Nuôi Sẹo và tác giả Cao Đông Khánh. Nhà văn Triều Sơn đã qua đời từ khi còn rất trẻ – 33 tuổi – và tiểu thuyết Nuôi Sẹo của ông còn ở dạng bản thảo đã được đăng từng kỳ trên báo Tình Thương (TT) của sinh viên Đại Học Y Khoa Saigon. Nhưng đăng chưa hết thì báo TT đã bị đình bản và bản thảo duy nhất viết tay ấy nay đã bị thất lạc. Nhờ một thân hữu giúp mượn 29 số báo TT từ thư viện đại học Cornell qua interloan library mà TQBT đã đánh máy lại và giới thiệu được phần tác phẩm đã đi trên TT. Còn nhà thơ Cao Đông Khánh đã mất từ năm 2000. Năm 2001 tạp chí Văn Học kêu gọi bạn bè đóng góp bài vở để thực hiện số chủ đề “Tưởng Niệm Cao Đông Khánh” nhưng không thành công. Với sự giúp đỡ của anh Tô Thẩm Huy cùng những thân hữu khác, hai anh Trần Hoài Thư và Phạm Văn Nhàn đã thực hiện được một số báo kể là rất “gai góc”, như trường hợp số báo chủ đề về nữ sĩ Phùng Thăng. Còn hạnh phúc nào hơn?

Nhắc đến TQBT, không thể không nhắc tới chị Nguyễn Ngọc Yến, hiền thê của anh Trần Hoài Thư, người đã cùng anh lặn lội đến những thư viện Cornelle và Yale của Hoa Kỳ để sưu tầm di sản văn chương miền Nam đã bị ngọn lửa lịch sử oan khiên đốt sạch tại quê nhà.

Chỉ là yêu một bài văn
Mà tay chị lật một trang sử đời
Đến khi yêu dấu một người
Là yêu người của một thời chiến chinh
Là bao gian khổ hy sinh
Chia ly, tù ngục, điêu linh, nhọc nhằn
Là năm và tháng gian nan
Âm thầm, son sắt, tảo tần, thủy chung
Nắng mưa bão tuyết chia cùng
Chị – người chiến hữu của Trần Hoài Thư
(Lãm Thúy – Đau lòng lắm chị Yến ơi!)

Hai bộ văn thơ miền Nam dày mấy ngàn trang là hai bộ sách rất quý đã được giới trẻ trong nước dùng làm tài liệu để viết những luận án về Văn chương miền Nam trước 1975. Chị cũng là người ngoài việc nội trợ trong gia đình, đã giúp anh khâu bằng chỉ những cuốn sách dày cả ngàn trang, phụ khiêng những thùng giấy, viết địa chỉ, bỏ sách báo vào phong bì, dán tem… Một cánh tay mặt rất đắc lực của anh. Vậy mà sau cơn đột quỵ vào cuối năm 2012, nghĩa là đã gần 6 năm, một mình anh phải cáng đáng mọi việc, từ việc nhà, săn sóc và nấu ăn cho chị Yến cũng như lo cho TQBT.

Vậy mà em bỏ đi xa
Bỏ ngôi nhà, bỏ buồng thờ, đèn nhang
Em đi để nhận đoạn trường
Xe lăn định mệnh, chiếc giường nghiệp oan

Hay là em chuộc giùm chồng
Như xưa Chúa đã chuộc giùm thế gian?
(Trích từ tập thơ VỊN VÀO LỤC BÁT của Trần Hoài Thư
Thư Ấn Quán xuất bản, tháng 7-2017)

Năm vừa qua, sức khỏe của chị ngày một xấu hơn. Đầu óc chị không còn minh mẫn như xưa. Nhưng may mắn là chị vẫn còn nhận ra anh. Những món ăn anh nấu chị thích thì có khi bây giờ chị không đụng tới. Thương lắm! Anh cứ phải lên mạng để tìm kiếm nấu những món ăn thích hợp với khẩu vị của chị. Hôm nào chị ăn hết anh vui mừng như đứa trẻ được quà. Còn những hôm chị không chịu ăn anh lại buồn rười rượi… Ngoài ra, bệnh Gout thỉnh thoảng lại hành hạ khiến anh có khi không “lết” nổi. Vậy mà TQBT vẫn ra đều đều cứ mỗi 2 hoặc 3 tháng. Chưa kể những cuốn văn thơ phụ bản anh làm giúp thân hữu. Có thể nói tập thơ “Thu Hoang Đường” của Lê Văn Trung với bìa in nổi tuyệt đẹp, ai cũng phải trầm trồ.

Anh Phạm văn Nhàn cũng thế. Anh bị đau chân và hiện giờ cũng đang chăm sóc chị Thu, vợ anh, bị bệnh.

Tình cảnh của hai người trụ cột như thế nên TQBT còn sống được đến hôm nay là một phép mầu.

Cầu mong mọi sự an lành sẽ đến với hai anh cùng hai chị để hai anh có thể tiếp tục con đường mà hai anh đã chọn. Mong TQBT sẽ mãi là một mái nhà để anh em cầm bút chia sẻ những sáng tác mới, là nơi gìn giữ di sản văn chương miền Nam và luôn được bạn đọc yêu thương, ủng hộ.

Trần thị Nguyệt Mai
12.8.2018

(*) trích từ tạp bút “Có một thời như vậy” của Cao Vị Khanh

—-

Kính viếng hương linh nhà thơ Phạm văn Bình *

Giờ anh đã đi thật xa
Mười hai tháng, chẳng tháng nào còn anh
Ngày ấy từ thuở chiến tranh
Bốn vùng chiến thuật bước chân chẳng ngừng
Anh đi gìn giữ quê hương
Cho hoa tự do nở trên đường thắm tươi
Một ngày vật đổi sao dời
Anh vào tù gánh nặng đời gian nan
Qua rồi khổ ải lầm than
Đến vùng đất mới ủi an tuổi già
Giờ thì anh đã thật xa
Mong anh yên nghỉ hiền hòa trời mây…

Trần thị Nguyệt Mai
12.8.2018

(*) Tác giả bài thơ “Mười hai tháng anh đi”

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG GÌ?

Câu trả lời cho tựa bài viết tuần này hiển nhiên: đảng DC là một trong hai chính đảng của đại cường Cờ Hoa, là đảng có quan điểm thiên tả, có thể gọi một cách nhẹ nhàng hơn, là ‘cấp tiến’. Là đảng tự nhận phục vụ người dân… thấp cổ bé họng, như dân nghèo, dân da màu, dân lao động và dân tỵ nạn.
TT Thiệu đã nói một câu để đời, có thể áp dụng vào rất nhiều chuyện. Kể cả áp dụng vào đảng DC Mỹ: đừng nghe những gì họ nói, mà hãy nhìn kỹ những gì họ làm.

Năm 1992, có bầu tổng thống giữa đương kim TT Bush (cha) và thống đốc Clinton. Tôi gặp một bà cụ tỵ nạn, hỏi bà có tính đi bầu không?
– Có chứ, mình phải đi bầu để bảo vệ quyền lợi mình chứ.
– Thế cụ tính bầu cho ai?
– Thì bắt buộc phải bầu cho Clinton chứ gì nữa. Bầu mấy thằng Cộng Hòa của tụi trắng kỳ thị, nó cắt hết tiền trợ cấp, có khi còn đuổi về VN nữa, có điên không?
Câu chuyện tóm gọn vài huyền thoại lớn mà nhiều ông bà tỵ nạn ta cho đến nay vẫn ôm cứng trong đầu. Trong mấy thập niên qua, đảng DC phải nói là đã được xây dựng trên một mớ huyền thoại, mười phần thì phịa hết bẩy tám. Kẻ này đã viết không biết bao nhiêu lần trước đây, bây giờ viết lại vẫn không thừa thãi vì những huyền thoại vẫn còn đó.

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA DÂN NGHÈO?
Đây là hình ảnh quan trọng nhất, được nhiều người chấp nhận nhất. Nhưng cũng là huyền thoại lớn nhất. Nhìn vào thực tế thì thấy: các lãnh tụ DC như Obama, Clinton, Pelosi,… đều có gia tài bạc trăm triệu. Họ đều xuất thân bình thường như quý độc giả và kẻ này, đừng hỏi tại sao sau khi làm chính trị ‘phục vụ dân nghèo’, bây giờ lại giàu vậy. Ba thượng nghị sĩ giàu nhất Thượng Viện là Mark Warner, Richard Blumenthal, và Dianne Feinstein, đều thuộc đảng DC hết. Các đại tài phiệt giàu nhất Mỹ đều theo DC: Bill Gates, George Soros, Jeff Bezos, Warren Buffet, Mark Zuckerberg,…
Tại sao những người giàu nhất lại thường theo DC, ra vẻ tranh đấu cho dân nghèo, dân lao động? Một phần vì mặc cảm, một phần vì muốn che dấu những hoạt động kinh doanh, cách làm giàu mờ ám của họ.
Jeff Bezos, ông chủ của Amazon và Washington Post, là vua… giết tiểu thương và trung thương. Cách kinh doanh làm giàu của anh ta là giết hay nuốt các cơ sở thương mại bán lẻ nhỏ. Bill Gates là nhà từ thiện lớn nhất thế giới, nhưng anh ta đã làm giàu bằng những mánh mung kinh doanh xảo trá nhất mà Steve Jobs (Apple) đã từng vạch ra. Zuckerberg bán dữ liệu cá nhân của cả chục triệu người sử dụng Facebook cho các công ty nghiên cứu thị trường vì mục tiêu kinh doanh hay chính trị.
Trên căn bản, đúng là DC chủ trương giúp dân nghèo nhiều nhất, qua trợ cấp đủ loại, từ phiếu thực phẩm đến bảo hiểm y tế, trợ cấp đông con, tiền thất nghiệp, v.v… Những người nào mơ mộng những thứ này, nên ủng hộ đảng DC.
TT Obama đã hãnh diện khoe số người lãnh Medicaid, là bảo hiểm y tế của Nhà Nước cấp cho dân nghèo, đạt được kỷ lục cao nhất xưa nay. Một kỷ lục mà nhiều người hoan hô, nhưng là một tin đáng buồn hơn vui. Đúng vậy, trách nhiệm của người lãnh đạo là làm cho dân giàu nước mạnh, chứ không phải là làm sao cho càng nhiều người nghèo khổ, sống nhờ Nhà Nước càng tốt.
Trợ cấp trên căn bản là cần thiết, vì lý do nhân đạo, giúp những người kém may mắn và tránh bất ổn xã hội. Có những người thật sự có nhu cầu trợ cấp, Nhà Nước có tránh nhiệm giúp họ, chẳng ai trách gì họ. Nhưng nếu trợ cấp bị lạm dụng, nhiều người có thể tự lực cánh sinh nhưng vẫn lạm dụng trợ cấp, thì đó là những trường hợp khó thông cảm được.
Trợ cấp cũng có mặt trái: biến con người thành nô lệ. Một khi dính vào tròng trợ cấp, khó thoát ra, và càng ngày càng lệ thuộc trợ cấp, lệ thuộc vào đảng đã ban phát trợ cấp. Đâm ra ỷ lại vào trợ cấp, mất dần ý chí tự lập, sanh ra làm biếng luôn. Mà một khi đã lệ thuộc vào trợ cấp thì sẽ mãi mãi phải vật lộn với mức chi tiêu trong vòng trợ cấp, có nghiã là sẽ ngàn đời nghèo túng, không bao giờ có cơ hội khá hơn vì trợ cấp chỉ giúp sống qua ngày, không bao giờ giúp leo lên bực thang xã hội.
Đó có phải là phương thuốc lý tưởng nhất để giúp dân nghèo không? Tuyệt đối không! Cách giúp dân nghèo đúng nhất là giúp họ thoát ra khỏi vòng nghèo túng chứ không phải giam hãm họ trong vòng trợ cấp càng đông và càng lâu càng tốt.
Mà cách giúp hữu hiệu nhất là tạo công ăn việc làm qua tăng trưởng kinh tế, không phải qua tái phân phối lợi tức, chia lại những gì đang có, dựa trên việc tăng thuế nhà giàu chia lại cho dân nghèo. Nói cách khác, cần làm cho cái bánh lớn ra, tất cả mọi người đều có phần lớn ra, thay vì cứ giữ cái bánh như cũ rồi lo chia phần cho đều hơn. Trách nhiệm của Nhà Nước là bảo đảm khi chiếc bánh lớn ra thì phần của mỗi người, nhất là phần của người nghèo, cũng sẽ lớn ra, không bị mấy ông nhà giàu hay quyền thế cưỡng chiếm mất.
Trợ cấp đến một giới hạn nào đó là cần thiết và chính đáng. Nhưng thực tế chính trị ngày nay, đảng DC nhờ công của TT Obama, đã biến trợ cấp thành một hình thức hối lộ, mua phiếu cử tri không hơn không kém.
Sự khác biệt căn bản giữa CH và DC rất rõ ràng: CH tin ở tinh thần cầu tiến và khả năng thành đạt của cá nhân, giúp người nghèo tự mình vươn lên để thoát ra khỏi vòng nghèo túng, DC giúp người nghèo bằng cách lấy của nhà giàu chia lại cho người nghèo để họ mãi mãi thoi thóp trong nghèo túng, mãi mãi lệ thuộc vào trợ cấp và mãi mãi phải bầu cho DC. DC cho rằng dân ngu khu đen vĩnh viễn u tối, chỉ có lãnh đạo và công chức là ưu việt biết cách cứu nhân độ thế.

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA TRỢ CẤP?
Trong lịch sử cận đại Mỹ từ sau Thế Chiến Thứ Hai, đã có 6 tổng thống DC và 6 CH, không kể TT Trump. Trong tất cả 6 ông CH, đã có 3 ông cắt thuế, nhưng không có một ông nào cắt một xu trợ cấp nào của bất cứ ai. Trái lại, ngoài TT Johnson, chỉ có một tổng thống duy nhất đã tăng trợ cấp một cách quy mô: đó là TT Bush con của CH, với trợ cấp Medicare Part D, Nhà Nước bồi hoàn tiền mua thuốc cho các cụ lãnh Medicare. Vậy chứ mỗi lần bầu cử tổng thống là bài ca con cá vàng “CH cắt trợ cấp” lại được ban hợp ca DC hát lên với dàn nhạc TTDC, như cái đĩa hát rè của thập niên 40. Vẫn có người nghe và tin.

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA DÂN LAO ĐỘNG?
Theo cơ quan thăm dò Gallup, hai năm sau khi Obamacare ra đời năm 2010, một nửa số doanh nghiệp tiểu thương đã đóng băng không thuê thêm nhân viên, trong khi một phần năm doanh nghiệp nhỏ đã sa thải nhân viên. Năm 2014 là năm đầu tiên Obamacare được áp dụng trọn vẹn, cũng là năm đầu tiên trong lịch sử Mỹ mà số doanh nghiệp tiểu thương ‘âm thầm đóng cửa’ cao hơn số doanh nghiệp ‘tưng bừng khai trương’. Tỷ lệ thất nghiệp leo lên tới 10%. Năm đó cũng là năm DC thất bại nặng nề nhất lịch sừ bầu cử quốc hội giữa mùa.
Thất nghiệp không phải là ưu tư của đảng DC. Càng nhiều người thất nghiệp càng tốt vì họ sẽ phải lệ thuộc vào trợ cấp, bắt buộc phải bỏ phiếu cho DC.
DC là đảng cổ võ cho nghiệp đoàn vì nghiệp đoàn bảo vệ quyền lợi nhân công. Chỉ tiếc là coi vậy chứ chưa chắc đã là vậy.
Những người tỵ nạn thời 75 hẳn còn nhớ hai hãng máy bay lớn nhất Mỹ thời đó là Pan American Airline và Eastern Airline. Rất nhiều dân tỵ nạn thời mới qua, những năm sau 75, đã làm việc cho hai hãng đó. Cả hai hãng đều đã không còn nữa. Phá sản dưới thời TT Carter, tất cả nhân công bị sa thải hết, hàng trăm ngàn người bị thất nghiệp khi đó. Tại sao? Vì chi phí lương nhân viên quá cao, không thể cạnh tranh được với mấy hãng máy bay không có nghiệp đoàn của các hãng nhỏ mới ra, hay hãng ngoại quốc. Lương cao là do kết quả tranh đấu của nghiệp đoàn. Nhìn cho kỹ, nghiệp đoàn chỉ có lợi ngắn hạn, trong cái nhìn thiển cận, nhưng đưa đến thảm họa phá sản trong đường dài.
Kỹ nghệ xe hơi của Mỹ cũng ở trong tình trạng tương tự. Không cạnh tranh nổi với Nhật, Hàn Quốc, và Âu Châu vì lương nhân công quá cao. Đáng lẽ đã xập tiệm nếu không có TT Bush và TT Obama bơm tiền vào cứu.
Nghiệp đoàn cũng đang tranh đấu đòi tăng lương tối thiểu lên tới 15 đô một giờ, và được đảng DC ủng hộ trong khi CH chống đối. Vấn đề phải nhìn cho kỹ.
Đối với những đại công ty như Wal-Mart (mà bà Hillary trước đây là thành viên Hội Đồng Quản Trị) mà các vị chủ tịch, tổng giám đốc lãnh lương bạc triệu hay chục triệu trong khi một số lớn mấy người bán hàng chỉ được làm bán thời, lãnh lương chết đói mà không có quyền lợi bảo hiểm y tế, nghỉ thường niên,… thì việc tăng lương tối thiểu cho nhân công là chuyện đáng làm và cần làm, nhưng lại không xẩy ra.
Nhưng đối với hàng triệu cơ sở kinh doanh tiểu và trung thương, tăng lương tối thiểu sẽ giết chết họ. Như cột báo này đã viết nhiều lần, thử hỏi ông chủ tiệm phở tại khu Bolsa, nếu bị bắt phải tăng lương tối thiểu lên 15 đô một giờ cho những người chạy bàn, rửa chén, quét dọn, thì ông sẽ phản ứng như thế nào? Vui vẻ tăng lương họ để rồi lỗ lã, phá sản? Hay là sa thải họ để đi thuê dân Mễ lậu, trả lương rẻ hơn? Như vậy tăng lương tối thiểu có giúp cho dân lao động tiểu thương không? Hiển nhiên là không. Cho dù đóng cửa hay sa thải đi thuê dân Mễ lậu thì kết quả là dân lao động Mỹ vẫn mất job, thay vì lương được lên 15 đô. Đó là quy luật kinh tế, không cần biết đảng nào đang nắm quyền.
Tăng lương tối thiểu không phải là giải pháp, chỉ có tăng trưởng kinh tế mới giúp mọi người khá hơn. Có tăng trưởng kinh tế thì tự động sẽ có tăng lương thực tế. Không có tăng trưởng mà chỉ muốn tăng lương thì mọi người sẽ mất việc, chưa kể sẽ có nạn lạm phát, đồng tiền mất giá để rồi tăng lương cũng như không.

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ TÚP LỀU LỚN?
Túp lều lớn mang ý nghĩa đa dạng, bao dung, bình quyền, không kỳ thị, nhân ái… DC là đảng của đủ sắc dân, đủ tôn giáo, đủ khuynh hướng chính trị. Nghe quá hay.
Sự thật, cái lều DC bé như cái “lều chó con” -nói theo Hồng Y Dolan- chỉ chấp nhận những người cùng chia sẻ quan điểm cấp tiến. Một ông bảo thủ đắc cử tổng thống? ‘Not My President’, tìm đủ cách chống đối và lật đổ. Một nhà báo nói chuyện ‘phản động’ với sinh viên? Nhìn vào những bạo động tại đại học Berkeley thì biết. Bình quyền? Một thống đốc tuyên bố “All lives matter, not just black lives matter” bị bắt buộc phải xin lỗi và rút lời.
Đa dạng tôn giáo? ‘Phải đạo chính trị’ của DC là phải kính trọng … Hồi giáo như tôn giáo của hòa bình, nhưng cấm không được quảng bá Thiên Chúa giáo; cấm không được gọi khủng bố Hồi giáo là …’khủng bố Hồi giáo’, nhưng lại mau mắn gọi các sư Miến Điện là ‘khủng bố Phật giáo’.
Thế nào là nhân ái? Có phải là nhân đạo và bác ái không? Là quý trọng và bảo vệ mạng sống của con người không? Thế thì sao lại chủ trương phá thai tự do? Chỉ vì muốn bảo vệ quyền của phụ nữ ham vui thả giàn mà không muốn nhận trách nhiệm? Mạng của một bào thai không quan trọng bằng một đêm vui chơi thoải mái?
Rất ‘rộng rãi’ trong chính sách phá thai, nhưng lại chống đối kịch liệt án tử hình cho những tội đại hình. Sinh mạng của những bào thai vô tội có thể hủy tự do, nhưng sinh mạng của những tên tội đồ ghê gớm nhất thì lại phải bảo vệ bằng mọi giá.

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ ĐẢNG CỦA DÂN DA MÀU?
Nội chiến Nam Bắc Mỹ xẩy ra vì tổng thống Abraham Lincoln của đảng CH chủ trương hủy bỏ chế độ nô lệ da đen bị khối DC miền nam nước Mỹ chống lại.
Ngay cả cho đến thời các TT Kennedy và Johnson, lúc đầu mấy ông này cũng chống lại những tranh đấu của dân da đen đòi bình quyền. Cho đến khi miền nam đại loạn, biểu tình, chống đối nổi lên khắp nơi dưới sự lãnh đạo của mục sư Martin Luther King thì TT Johnson bắt buộc phải nhượng bộ, ký luật nhân quyền, rồi đúng theo mô thức của chính trị gia, nhẩy ra vỗ ngực khoe công ‘giải phóng’ dân da đen! TT Johnson khi ký các đạo luật nhân quyền cho dân da đen cũng vẫn gọi họ là “mấy tên mọi” –f…cking niggers!
Ngày nay, DC là đảng được dân da màu ủng hộ thật. Một phần vì TT Johnson đã mang lại công bằng cho họ khi ra luật Civil Rights Act và Voting Rights Act (mở cửa cho việc ông Obama đắc cử tổng thống), nhưng đó là chuyện của nửa thế kỷ trước. Ngày nay dân da đen ủng hộ đảng DC chỉ vì là đảng ban bố trợ cấp rộng rãi nhất lịch sử Mỹ. Bất cứ ông bà nào ra tranh cử với danh nghiã DC sẽ được dân da màu (đen, nâu, vàng) nhiệt liệt ủng hộ ngay, vì trợ cấp.
Chính sách trợ cấp bừa bãi đã phá nát nền tảng gia đình trong khối dân da đen, khi hàng loạt phụ nữ không chồng mà vẫn đầy con nhờ Nhà Nước nuôi, chẳng biết đứa nào là con ai. Trong 10 đứa trẻ con da đen chạy long nhong ngoài đường, đã có 7 đứa không có bố chính thức. Đó có phải là chính sách ‘bạn’ với dân da đen không?
Trong vấn đề di dân bất hợp pháp cũng vậy, tất cả chỉ là chuyện đếm phiếu không hơn không kém. DC hô hào ân xá vì lý do nhân đạo, vì muốn bảo vệ trẻ con di dân, vì muốn di dân được đoàn tụ gia đình,… nhưng chỉ là ngụy biện thôi.
Trong hai năm 2009-2010, DC nắm Tòa Bạch Ốc, và kiểm soát cả thượng viện lẫn hạ viện, họ đã có thể ra luật ân xá toàn diện cả chục triệu di dân lậu. Nhưng họ không làm gì hết, vì đa số dân biểu nghị sĩ DC cũng không thực sự muốn ân xá. Hô hào ân xá bằng miệng thu được cảm tình và phiếu của cử tri gốc Mễ. Ân xá bằng luật thật sự sẽ mất hết phiếu của cử tri da trắng.

ĐẢNG DÂN CHỦ LÀ BẠN CỦA DÂN TỴ NẠN VIỆT?

Đây là lập luận của những ông bà tỵ nạn Việt ủng hộ đảng DC. Nhiều dân HO nhớ ơn DC vì nghĩ TT Carter của DC đã là người mở rộng cánh tay đón HO vào Mỹ. Nhưng nhìn lại cho kỹ, coi dzậy mà hổng phải dzậy đâu, các cụ ơi.
Trước tiên, đảng DC là đảng đã bức tử VNCH, sau khi thanh toán TT Diệm để có thể áp đặt lính Mỹ vào miền Nam, để rồi vẫn thua VC, rồi ép TT Nixon phải bỏ miền Nam VN qua hàng loạt biện pháp khóa tay như cấm bành trướng chiến tranh qua Căm-Pu-Chia và Lào, cấm thả bom đường mòn Hồ Chí Minh, cắt giảm ngân sách, cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự cho Nam VN. Chuyện ‘Nixon bán đứng Nam VN cho Mao’ chỉ là chuyện đổ thừa chạy tội không có căn bản cũng chẳng hợp tình hay hợp lý mà cột báo này đã bàn quá nhiều lần.
Năm 1972, ứng cử viên tổng thống của đảng DC là George McGovern. Ông này chủ trương Mỹ rút quân ra khỏi Nam VN ngay lập tức, chỉ với một điều kiện duy nhất: CSBV trả lại tù nhân Mỹ. Chuyện miền Nam VN sẽ bị CSBV chiếm không phải là chuyện Mỹ phải thắc mắc hay điều đình gì hết. Năm 1975, ông McGovern kịch liệt chống việc TT Ford nhận dân tỵ nạn VN vào Mỹ. Cùng chống với ông, có hai tiếng nói hăng nhất là Jerry Brown, khi đó đã là Thống Đốc Cali và cựu PTT Joe Biden khi đó là thượng nghị sĩ.
Năm 1978 khi hàng triệu quân cán chính miền Nam còn chết dở sống dở trong tù cải tạo từ Cà Mau đến Sơn La, TT Carter, với hậu thuẫn của vài thượng nghị sĩ cựu quân nhân như John McCain, John Kerry,… gửi một phái đoàn qua Hà Nội thảo luận việc bỏ cấm vận và thiết lập bang giao nếu VC giúp tìm xác lính Mỹ. VC khi đó đang khủng hoảng kinh tế, trên bờ phá sản, lại cũng chuẩn bị đánh Căm-Pu-Chia và đối phó với Trung Cộng, nên ra giá sẽ cho phép Mỹ đến tìm xác lính Mỹ đổi lấy việc TT Carter nhận tù cải tạo qua diện HO, và nhận hàng vạn thuyền nhân bị VC trục xuất, để xả bớt ưu tư an ninh nội bộ (lo sợ chưa kiểm soát được khối quân cán chính ‘ngụy’, lo sợ dân Việt gốc Hoa nằm vùng cho TC) và gánh nặng kinh tế (bớt miệng ăn).
Những người nghĩ TT Carter đón nhận HO và thuyền nhân vì lý do nhân đạo, thương dân Việt, mang ơn Carter, chỉ là những người ngủ mơ. Ưu tiên của TT Carter là xác lính Mỹ để được bầu lại khi ra tái tranh cử. Nhận tù cải tạo và thuyền nhân là cái giá mà VC bắt TT Carter phải trả để VC cho phép tìm xác lính Mỹ.
Nhìn vào quan hệ Mỹ-Việt, ta thấy TT Carter là người đầu tiên bắc lại nhịp cầu với CSVN, TT Clinton là người thiết lập ngoại giao, bỏ cấm vận kinh tế với CSVN, cho CSVN gia nhập các tổ chức quốc tế, TT Obama là người bỏ luôn cấm vận quân sự với CSVN. Cả ba đều có chính sách thân thiện nhất với CSVN, và cả ba đều thuộc đảng DC. Dĩ nhiên, cả ba ông cũng đều lớn tiếng đòi nhân quyền cho VN. Chẳng có một kết quả cụ thể nào ngoài việc VC thỉnh thoảng thả một tù chính trị qua Mỹ cho Mỹ vui. VC thả một, bắt thêm một trăm.
Nhiều cụ tỵ nạn ta đã quên bẵng khối cấp tiến DC và TTDC đã là nguyên nhân lớn nhất khiến ta thua cuộc, phải vắt chân lên cổ bỏ xứ đi tỵ nạn, cũng quên luôn là đảng DC đã kịch liệt chống lại việc nhận chúng ta vào Mỹ năm 75.

Nói tóm lại, tất cả những chuyện Dân Chủ là đảng của dân nghèo, lao động, di dân, da màu, tỵ nạn, v.v… chỉ là những huyền thoại do đảng Dân Chủ tạo ra, rồi được truyền thông phe ta quảng bá. Nguyên tắc chỉ đạo của nghệ thuật tuyên truyền là cho dù là một điều không đúng sự thật, nhưng nói mãi cũng sẽ có người tin, càng về lâu về dài càng nhiều người tin.

VŨ LINH ( Diễn Đàn Trái Chiều)

Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch trước những quán cà phê, quán ăn tạm bợ của những người chủ kê những chiếc ghế nhựa ra ngoài đón du khách. Về cuối hàng rào có một khoảng trống nhiều cỏ mọc, phía trước là vịnh biển nhìn qua bờ Vũng Tàu, và sau lưng có một xí nghiệp hải sản bỏ hoang. Nhiều đá xanh bỏ thành đống trên bờ, chắc để tiếp tục xây bờ kè.

Buổi chiều. Cô gái ngồi một mình trên đống đá nhìn ra biển. Nắng nhạt trên những ngọn sóng nhỏ. Bãi biển gần như không có du khách vì cát ở đây khá bẩn. Bỗng nhiên cô quay mặt nhìn lại hướng hàng rào của xí nghiệp hải sản vì nghe những tiếng kêu là lạ. Và từ phía sau hàng rào bỏ hoang đó, qua một khoảng trống nhỏ từng chú dê chậm rãi bước ra. Có khoảng chục con như vậy, đi sau chúng là một chàng trai, tay cầm một nhánh cây vung vẩy. Trước sự ngạc nhiên của cô gái, đàn dê vẫn tiếp tục đi về hướng cô ngồi. Chàng chăn dê cũng đã nhìn thấy cô và anh tự nhiên mỉm cười đưa bàn tay không cầm nhánh cây vẫy vẫy. Cô gái cũng dùng tay chào lại nhân vật làm mình chú ý này. Khi đã đến gần, chàng trai la to: “Stop chút đi các chú dê!”, và bước đến nhìn cô gái, nói một cách tự nhiên: – Hi, lần đầu tiên anh thấy một người xinh đẹp ra ngắm biển Cần Giờ như em đó nhen!

Định tán tỉnh đây. Cô gái thầm nghĩ nhưng vẫn trả lời:- Cũng lần đầu tiên em thấy một anh chăn dê mang kính cận!

Chàng trai ngồi xuống một tảng đá:- Anh ngồi chút xíu được chớ? Ba ngày rồi không nói chuyện với ai.

Cô gái gật đầu, cười mỉm, dạ nhỏ.

Chàng trai ngồi xuống, cũng nhìn ra hướng biển với cô nhưng lại không nghe anh nói gì. Cô gái nhìn cái túi vải chàng để trên mấy phiến đá, nó cộm lên, rõ hình là một cuốn sách dày. Cô cười nụ: – Em tò mò xíu, cái gì trong cái túi của anh?

Chàng trai quay lại, thoáng chút bối rối: – Hì, không có gì, chai nước…
– Và một cuốn sách?
– Hì…
– Em có thể biết anh đọc gì không?
– …

Chàng trai nhắc cái túi lên, mở ra và đưa cho cô một cuốn sách khá dày. Đó là cuốn Istanbul – Hồi ức và Thành phố của Orhan Pamuk bản tiếng Việt.
– Dạ, em cũng có cuốn này, đã đọc nhiều lần.
– Ừ, một thực thể huy hoàng đổ vỡ…

Họ nói một chút về sách, nhưng rồi lại im lặng nhìn ra biển như thể không muốn những tò mò về nhau làm tan mất không gian yên bình đến lạ lùng này. Nắng tắt, đàn dê kêu be be, chân chúng dẫm loạt soạt trên cát vẻ như sốt ruột nhưng vẫn đứng quanh đợi chủ.

– Tụi nó đòi về kìa anh?
– Không sao, hì tụi nó quen rồi.
– Anh có mấy con dê?

Cô hỏi xong, nhìn chăm chú đàn dê và đếm: Một, hai, ba…
– Chín con, à mười, vì một con sắp có em bé.

Cô bật cười vì cái chữ “em bé” của anh. Gương mặt anh sạm nắng nhưng hiền lành như nụ cười. Anh bỗng hỏi:

– Sao em ngồi đây một mình?
– Dạ, em… thích vậy.

Im lặng. Cô nhìn ra mặt biển đang thẩm màu, rồi như thấy câu trả lời của mình dẫn vào lối cụt, cô nói:
– Em đi nghỉ dài ngày với anh chị, họ dự tiệc trong nhà hàng còn em trốn ra đây!

***

Buổi chiều, cô gái vẫn ngồi chỗ cũ nhưng đến sẫm tối, vẫn không thấy đàn dê trở về như hôm qua. Cô ngồi đến tối mịt, cho đến khi nhìn thấy những ánh đèn bên kia vịnh Gành Rái. Cô bỗng thấy tiếc là mình đã không hỏi bất cứ một thông tin để kết nối nào từ anh, mà anh cũng vậy, nhìn thân thiện mà vô tình. Có tiếng ai gọi tên cô. Là bà chị đang đi kiếm. Cô vội vàng lên tiếng vì sợ chị mình hốt hoảng. Hôm sau, thứ sáu, mai là họ về lại thành phố, nhưng qua dò hỏi một chị bán cà phê, cô đã biết đó là đàn dê duy nhất ở đây…

Khi cô bước qua chiếc cổng cùng người chủ nhà, những con dê bị nhốt trong chuồng dường như nhận ra cô, bọn nó kêu be be mừng rỡ. Đó là một khoảng đất rộng xây tường bao chung quanh. Có một căn nhà xây cao, nơi đó phát ra tiếng chim yến gọi bầy và từng đàn yến lượn quanh xung quanh mái nhà. Thì ra là một trang trại nuôi yến nhưng lại có chuồng nuôi dê. Bà chủ là một phụ nữ ngoài bốn mươi hơi ngạc nhiên khi thấy cô hỏi về anh, người chăn dê đeo kính cận và đọc Orhan Pamuk.

– Quốc ha? Nó là em trai chị, hay về đây chơi. Tuần rồi không biết sao ở đến mấy ngày. Ông xã chị về đây kinh doanh, chị theo về đây rồi muốn ở lại luôn, nuôi mấy con dê cho vui thôi.
– Dạ..
– Nó học luật, hội họa… nghiên cứu cái gì đó mà về đây thường thức đến gần sáng, nói chung là… lung tung. À, lại nói muốn sau này yên bình về đây sống nữa chớ.
– Dạ, em gặp ảnh hôm trước, khi ảnh dẫn bầy dê về. Em cũng sống ở Sài Gòn nên muốn làm quen, học thêm về ảnh mà hôm đó quên xin facebook, số điện thoại.

– Ừ, vậy em có muốn hỏi chị thêm điều gì không?
– Dạ… thôi. Em về đây!
– Ừ, ghi số điện thoại của nó chưa?
– Dạ, em ghi rồi, cám ơn chị!

***
Trung tâm thành phố.

Sáng Chủ Nhật. Cô thỉnh thoảng vẫn cùng bạn bè đi mua sắm nhưng lần này không khí cực kỳ ngột ngạt. Có rất nhiều cảnh sát và những người mặc áo dân phòng. Khuôn mặt họ căng thẳng, nhiều người trông dữ tợn, trên tay cầm bộ đàm và dùi cui. Hôm qua cô đã gọi cho Quốc và anh hẹn chiều Chủ nhật đi uống cà phê nhưng khi cô cho biết buổi sáng mình mới rảnh, anh có vẻ đắn đo rồi nói:

– Sáng Chủ nhật tại trung tâm thành phố có thể có biểu tình, anh sẽ ra đó.
– Em có đọc trên facebook, em gặp anh tại đó được không?

Quốc có vẻ ngần ngừ:
– Em đã từng đi biểu tình chưa? Như vụ chống Formosa hồi 2016?
– Dạ chưa…
– Hay chiều mình hẹn cà phê đi, anh nghĩ em chưa nên ra đây vào sáng mai.
– Tại sao vậy?
– Anh không biết, mà thôi tùy em. Ra thì gọi cho anh!

Những con đường đổ về trung tâm như nén lại trong một không khí ngờ vực từ các đám đông, các đội dân phòng áo xanh và cảnh sát cơ động. Khi nói chuyện cùng Quốc, cô không nghĩ tình hình căng thẳng như vậy. Lảng tránh ánh mắt soi mói của đội quân áo xanh và cảm thấy sờ sợ, cô bước vô phía trong công viên, nơi có nhiều bạn trẻ trạc tuổi mình vẫn điềm nhiên ngồi uống trà sữa mua từ các xe đẩy lưu động. Vừa đứng đó vừa nhìn quanh và định gọi cho Quốc thì bỗng nhiên có rất nhiều tiếng còi tuýt tuýt chói tai vang lên. Tiếng chân người chạy sầm sập. Trong thoáng chốc những người trẻ tuổi cách cô chừng 10m đứng vụt dậy thành vòng tròn và rút từ trong túi ra những tờ giấy A4 có ghi những dòng chữ đậm phản đối Luật đặc khu. Rất nhiều người mặc đồng phục xanh quây kín các bạn trẻ và dùi cui đã vung lên. Những người trẻ tuổi vẫn đứng yên và họ hô vang các khẩu hiệu phản đối.

Giờ thì cô sợ hãi thực sự. Lần đầu tiên trong đời cô nhìn thấy bạo lực ngay tại trung tâm thành phố. Cô không còn nghĩ đến cuộc hẹn với anh và nhanh chóng rời khỏi công viên. Trong lúc chạy cắt ngang con đường đã bị chặn xe, cô nhìn thấy rất nhiều người trẻ tuổi, cả phụ nữ bị khóa chặt tay, quăng lên những thùng xe cảnh sát. Cô thoáng nhìn thấy một khuôn mặt giống như anh, với khóe miệng rướm máu đang bị ba người mặc thường phục khóa tay nhưng không còn chiếc kính cận, hoặc chính là anh nhưng chiếc kính đã văng mất.

Những dòng nước mắt hổ thẹn rơi dài trên hai gò má cô nhưng nỗi sợ hãi đã lấn át tất cả. Khi đã rời khá xa khu vực bị đàn áp hỗn loạn, cô ngồi thụp xuống một góc tường, run rẩy lấy điện thoại ra bấm vào tên “chande” nhưng chỉ nghe những tiếng tút ngắn ngủi…

***

Đã vài tuần kể từ hôm chạy trốn, cô chưa dám bấm lại vào cái số điện thoại mà ngày nào cô cũng mở ra nhìn. Giờ thì cô đã dần quen với không khí nặng nề tại trung tâm thành phố trong những ngày nghỉ với các barrier tua tủa. Sáng chủ nhật này, cô mang theo một bó hồng nhung và nhẫn nại cài từng đóa trên hàng rào kẻm gai. Cô lẩm nhẩm lại câu nói của anh hôm ở Cần Giờ: “Một thực thể huy hoàng đổ vỡ…”.

Nguyễn Đình Bổn