NGƯỜI CÙNG XÓM ĐÌNH

Chị Hẹ cầm tay tôi, nài nỉ :

– Em tới đó, gặp riêng anh Tấn…

Chị nhìn quanh quất rồi ghé sát tai tôi, nói nhỏ :

– …nói với anh Tấn là ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy tôi còn ngần ngừ chưa hiểu, chị dặn thêm :

– Thì cứ nói ra chỗ cũ là anh biết liền. Nói chừng nớ thôi nghe. Mà nhớ đừng có cho ai biết là chị nhắn.

Tôi nhìn chị, thắc mắc :

– Nhưng mà anh Tấn là ai, em có biết đâu !

Chị Hẹ ngẩn người một thoáng rồi nhìn tôi cười :

– Ừ hỉ ?. Chị quên. Là anh Bòi Anh đó. Em biết rõ quá mà !

Tôi không giấu nổi vẻ ngạc nhiên :

– Ủa, anh Bòi Anh là anh Tấn đó hả ? Tên chi mà lạ hoắc, ai biết.

– Thì tên trong giấy tờ khai sanh đó. Mai mốt anh “ ra ràng” rồi, bộ cứ gọi tên cũ hoài, dị chết. Như chị đây cũng rứa. Chị…mà thôi, em đi đi. Trăng lên cao rồi, sợ khuya. Nhớ là đừng nói với ai nghe, giú kín cho chị.

Rồi thấy tôi còn đứng tần ngần, chị hiểu ý, dỗ dành :

– Mai ra quán, chị để dành cho hai tán đường.

Tôi kèo nài :

– Bữa trước hai tán, bây chừ phải thêm một nữa là ba. Mà đường đen hay đường vàng đây chị ?

Chị Hẹ “xì” một tiếng nhẹ, đẩy vai tôi, hối thúc :

– Cái thằng ni ! Thôi, đi đi cho mau. Ba bốn chi cũng được. Đường vàng đó, chịu chưa ?

Tôi cười, gật đầu rồi chạy vòng qua đầu con dốc.

Trăng sáng vằng vặc, trải ánh vàng trên con đường xóm nhỏ. Cảnh vật thanh vắng, nghe rõ tiếng dế kêu trăng hai bên đường. Tôi nhắm hướng có ánh đèn manchon từ xóm dưới. Anh Bòi Anh ( í quên, anh Tấn) đang sinh hoạt thanh niên thanh nữ ở đó. Cả tuần nay, mấy anh mấy chị lo tập dượt văn nghệ ráo riết để chuẩn bị tổ chức buổi lễ đưa tiễn đám thanh niên trong xóm lên đường thi hành Quân dịch. Làng trên xóm dưới, đi đâu cũng nghe bàn tán chuyện tòng quân, nhất là mấy anh thanh niên vào độ tuổi. Vừa rồi chị Hẹ nói anh Bòi Anh ( í, lại quên nữa, anh Tấn) “ra ràng” là vậy đó. Tại vì Ba của chị chuyên nuôi bồ câu. Ông có tới bốn cái chuồng cao nghệu đặt ở bốn góc nhà. Chuồng nào cũng được sơn phết màu mè sặc sở. Bồ cầu bay lượn từng đàn tấp nập suốt ngày. Ông thích thú và tự hào có đàn bồ câu mà theo Ông thường nói là đông đảo không chỗ nào sánh bằng. Một số đông người trong Xóm cũng lấy làm thích thú lắm. Nhưng mà không đủ can đảm để tự hào vì lẽ rình bắn bồ câu ăn thịt thì tự hào cái nỗi gì !

Chị Hẹ bắt chước Cha, nói gì cũng nhớ tới mấy con bồ câu. Nhiều chữ chị nói nghe lạ tai nhưng mà cũng có lý.

Chim đủ lông đủ cánh rời khỏi tổ tự kiếm ăn gọi là ra ràng.

Anh Tấn bây giờ cũng đã đủ sức lớn khôn để rời bỏ cái xóm nhỏ mà đi thì cũng giống như con chim bồ câu ra ràng chớ khác gì!

Anh vốn không phải là người trong Xóm. Trước sau anh cũng chỉ là người ăn nhờ ở đậu. Tôi nghe những người lớn kể lại, anh được chú Hai Mộc đem về nhà khi anh còn rất nhỏ, đâu khoảng một hai tháng tuổi gì đó. Chú giải thích với mọi người là lượm được anh bên cạnh đường khi chú trở về sau một chuyến làm ăn xa. Chú không đành tâm đi thẳng nên đem anh về nhà. Lời giải thích còn có nhiều nghi vấn, nhất là đối với thím Hai, người vợ đanh đá chua ngoa của chú. Trong một khoảng thời gian khá lâu, thím làm hành làm tỏi chú đủ điều. Chú chịu không nổi nên có ý định đem thằng bé gởi cho Bà Sơ nuôi nấng giùm. Một buổi sáng, chú bọc thằng nhỏ trong chiếc áo len, quày quả ra đi. Vừa đi vừa khóc. Lên tới

ngọn đồi nơi có ngôi nhà thờ lớn thì thím Hai rượt theo níu lại. Hai vợ chồng giằng co thằng bé một đỗi lâu. Cuối cùng chú đành để cho thím đem nó về. Từ đó, chuyện xưa thím không hề nhắc tới.

Anh Tấn ở với chú thím cho đến mười lăm tuổi thì chú, rồi sau đó tới thím, lần lượt qua đời. Anh trở thành đứa con chung của Xóm. Nay nhà này, mai nhà kia quanh năm suốt tháng. Miếng cơm đổi lấy từ những công việc nặng nhọc của một người ở mướn làm thuê. Như loài cỏ hoang trên đồi Trọc rừng Ngo, tự định đoạt lấy đời sống của mình.. Tính tình anh vui vẻ hoạt bát. Hình dong coi cũng ưa nhìn. Chị Hẹ ngó bộ ưa nhìn anh nhất. Không chừng anh chị có tình ý với nhau cũng tựa như con chim bồ câu trống với con chim bồ câu mái “gù” nhau. Tôi bật cười với sự so sánh ngộ nghĩnh này, suýt nữa táng đầu vô cái cổng Đình.

Anh Tấn đang bận sắm vai diễn trong một vở kịch, tôi phải đứng chờ. Vở diễn cảnh người con trai lên đường thi hành Quân dịch, người con gái bịn rịn tiễn bước chân đi. Vai nữ là chị Bưởi. Hai người đang diễn cảnh bịn rịn cầm tay nhau mà thề non hẹn biển. Có anh Trai đứng phía sau nhắc tuồng. Những câu hẹn thề mùi mẫn với lại cái cảnh cầm tay nhau thân mật, tôi thấy nó …động trời quá ! Chuyện trai gái của hai người sao lại đem bêu riếu cho mọi người cùng biết ?.

Chị Bưởi lại lớn hơn anh Tấn 5, 6 tuổi, đã có chồng con. Chồng chị là anh Thuận thợ mộc. Lấy nhau do hẹn ước của hai gia đình từ khi anh chị còn nhỏ. Lời thề hẹn đá vàng không được thốt ra từ tình yêu trai gái mà từ tách trà chung rượu bằng hữu chi giao. Chị ngồi xuống nơi cha mẹ chỉ với tấm lòng hiếu thảo chớ thiệt tình trái tim chị chưa một lần biết rung động trước tình yêu. Thời con gái chưa một lần e lệ cúi đầu che dấu nỗi thẹn thùng từ một ánh nhìn của người khác phái. Rồi những đứa con ra đời như là chất keo gắn chặt thêm tình nghĩa theo năm tháng dần qua, kéo theo tuổi đời an phận.

Chị tham gia đoàn văn nghệ do lời tha thiết yêu cầu của anh Trai. Điểm chính là không có cô gái nào trong xóm chịu đóng vai nữ trong vở kịch nòng cốt cho buổi lễ sắp được tổ chức nay mai. Vở diễn do anh Trai, trưởng đoàn thanh niên thanh nữ, tự soạn và tự đặt lời. Công khó của anh đã thức liền mấy đêm đỏ lừ con mắt để “nặn” cho ra chữ, sắp xếp lớp lang cho thiệt mùi mẫn với lời thề non hẹn biển hợp với cảnh tiễn đưa. Nhất định là phải có chiếc khăn tay vẫy vẫy, có lệ rơi, có cầm tay bịn rịn không rời…

Vậy mà, không có ai chịu nhập vai hết. Mấy chị thanh nữ vừa mới nghe anh Trai diễn tả sơ qua đã đỏ mặt ngượng ngùng, lắc đầu le lưỡi. Miệng đâu mà nói những lời ngọt ngào tình tứ như vậy. Lại còn cái cảnh nắm tay bịn rịn thì thiệt là muốn chọc cho thiên hạ đàm tiếu, dị nghị. Đến như đã là vợ chồng rồi mà khi ra đường cứ việc chồng đi trước, vợ theo sau. Đi như kiểu nhà binh, hàng một. Đừng nói chi tới mấy bà trong Xóm, chụp được cơ hội này thì đố có tha. Đầu trên xóm dưới, tụm năm tụm bảy nói cho mà nhức óc. Cho nên mấy chị, mặc dầu trong bụng cũng ưng, nhưng mà đẩy không nổi bức tường thành kiên cố của thói cũ lề xưa…

Anh Trai bực mình lắm nhưng anh quyết định không chịu thua.. Là người đã từng có một thời gian lưu lạc kiếm sống qua những vùng đất xa lạ, tầm nhìn của anh vượt quá lũy tre làng. Khi mệt mỏi trở về, anh đã đem về bao nhiêu điều mới lạ. Điều mới lạ trước tiên là mái tóc anh lúc nào cũng láng mướt, chải tém đít vịt gọn gàng. Cái lược nhựa lúc nào cũng giắt ở túi áo trước. Chỉ chừng đó thôi mà ai cũng nhìn anh lạ lẫm. Lời khen tiếng chê dồn đống, anh vẫn tỉnh bơ. Riết rồi thấy hay hay, đám thanh niên lần hồi bắt chước. Mấy cái đầu trọc, đầu húi hai phân lần hồi biến dạng thành đầu tóc đen dài, láng coóng, tém đít vịt y theo một kiểu. Chiều chiều, thấy “ mấy con vịt” lạc đàn, đi lên đi xuống con đường chính của xóm nhỏ, mắt dáo dác nhìn quanh…

Nói tóm lại, anh Trai là người của thị thành. Chị Bưởi là người phụ nữ, tuy là hương-đồng-cỏ-nội, nhưng có đầu óc cách tân. Thêm anh Tấn là người thường khi trở chứng ngang tàng bướng bỉnh, không chịu trói buộc bởi lề thói khắt khe ngàn đời không thay đổi. Ba người gặp nhau thiệt là tâm đắc. Có anh Trai nhắc tuồng, chị Bưởi và anh Tấn nhập vai mùi mẫn như thiệt. Thiệt đến nỗi mà tôi cứ đứng nhìn mê mẩn. Cho đến lúc anh Tấn làm điệu bộ bước lên xe (chiếc xe tưởng tượng). Chị Bưởi đưa chiếc khăn tay lên vẫy vẫy tôi mới giật mình hoảng hốt. Cứ tưởng anh sẽ đi, tôi vội vàng chạy đến nắm tay anh giật giật :

– Khoan, khoan đi đã anh ơi !

Anh Tấn khựng người, ngạc nhiên nhìn tôi trong khi chị Bưởi với anh Trai phá lên cười ngặt ngoẻo. Tôi ngượng ngùng đỏ mặt. Anh Tấn cũng cười, đẩy nhẹ tôi một cái :

– Cái thằng này ! Ở đâu mà xuất hiện kịp thời vậy ?

Rồi anh ghé sát tai tôi, thì thầm :

– Sao ?. Có người nhắn nhe gì phải không ?

Tôi nhớ mấy tán đường. Tôi nhớ lời chị Hẹ dặn phải giữ kín cho chị. Kéo anh ra góc sân, tôi nói nhỏ :

– Là chị Hẹ nhắn anh ra chỗ cũ, chị muốn gặp.

Thấy anh ngần ngừ rồi lầm bầm :” Lại làm hành làm tỏi gì nữa đây, trời !…”.Tôi níu tay anh, giục :

– Anh phải ra đó nghe. Nếu như anh không ra là em mất ba tán đường !…

Anh Tấn im lặng. Không nói gì.

Đêm đó, anh và anh Trai đưa chị Bưởi về dưới đường trăng thanh vắng. Tôi lẽo đẽo theo sau. Khi chia tay hai người ở hai con dốc, anh quày quả một mình trở về nhà. Vậy là anh không đến nơi chị Hẹ nhắn. Tôi ngồi sụp xuống vạt cỏ ướt sương đêm, ngẩn ngơ tiếc nuối ba tán đường đã vuột khỏi tầm tay. Và tôi khóc, ngon lành…

Sân đình đêm nay như ngày vô hội kỳ yên. Bà con làng trên xóm dưới lũ lượt kéo về tụ tập trước cái sân khấu lộ thiên. Tiếng trống giòn giả làm nôn nao cả lòng người. Đêm văn nghệ tiễn đưa đám thanh niên hai xóm Đa Cát và Đa Trung lên đường thi hành Quân dịch vinh dự đón tiếp các vị chức sắc từ trên Thị xã xuống. Đoàn văn nghệ của xóm Đa Trung ( là xóm trên) cùng với xóm Đa Cát (là xóm dưới) đang bận bịu tới tấp ở hậu trường. Tiếng là văn nghệ giúp vui nhưng bên trong vẫn có sự ngấm ngầm ganh đua quyết liệt. Xóm nào cũng muốn cho đội văn nghệ của mình vượt trội. Bởi vậy, dưới hàng khán giả, vô hình trung đã có sự phân chia hai nhóm rõ rệt. Tiếng la ó, vỗ tay ủng hộ “gà nhà” vang trời dậy đất. Khí thế sôi nổi làm cho mấy diễn viên trong hai đội văn nghệ lên tinh thần. Thấy anh Trai lúc nào cũng cười nói, đi lên đi xuống, chạy qua chạy lại dặn dò phân công từng tiết mục cho từng người. Anh rất tin tưởng vào vở kịch nòng cốt của chương trình. Nhất định sẽ làm cho khán giả rơi lệ. Sẽ làm cho mấy anh con trai tới độ tuổi tự hào vì được là người lên đường. Sẽ làm cho mấy cô có người yêu (hay không có người yêu, cũng vậy) cảm thấy mình được chia phần vinh dự có người yêu bỏ cày bỏ cuốc, đáp lời sông núi, mà xông pha giữa lằn tên mũi đạn sa trường. Dám không chừng mấy tay trốn Quân dịch cũng phải hết sức hối hận vì đã lỡ dại dột làm cái chuyện đáng ra không nên làm.

Chú Vạy trưởng Xóm, người to lớn dềnh dàng, chống cây ba toong đi lên đi xuống cười nói hễ hả. Gặp anh Trai, chú cười hết cỡ, nói “Très bien”…”Très bien”…

Sau màn vũ khúc “Giã Gạo Đêm Trăng”, tiếng trống bất ngờ nổi lên dồn dập. Anh Trai lẹ làng nhảy lên sân khấu, điệu bộ màu mè chụp lấy cái micro giới thiệu vở kịch then chốt của đêm văn nghệ. Vì đã có sự dặn dò xếp đặt trước nên tiếng vỗ tay nổi lên đồng loạt, tiếng la hét muốn khản cổ của đám khán giả gà nhà làm rung động cả một góc trời. Đèn sân khấu được mấy tay chạy màn cố tình che lại cho trở nên mờ mờ ảo ảo. Có tiếng hát cũng cố tình ghìm giọng như từ xa vọng lại nghe như người nghẹt mũi : “Vài hàng gởi anh trìu mến. Vừa rồi Làng có truyền tin. Nói rằng nước non đang mong. Đi Quân dịch là thương nòi giống…”.

Tiếng hát nhỏ dần, nhỏ dần rồi lịm tắt. Đèn lóe sáng. Từ hậu trường có chàng thanh niên xách chiếc va li thiếc bước ra. Đám con nít tức thì la ré lên :” Anh Bòi anh. Anh Bòi anh đó, bây ơi !…”.Tiếng cười bỗng rộ lên đồng loạt làm anh Tấn (là anh Bòi anh đó) khựng lại, hơi bối rối. Cố giữ dáng điệu, anh bước ra vài bước, nhìn ngó bầu trời rồi làm vẻ mặt buồn ngoái lại phía sau. Ý là biểu lộ sự bịn rịn không rời nơi làng quê xóm cũ khi phải lên đường tòng quân.

Vừa lúc đó, cũng từ phía hậu trường bên phải, một người thiếu nữ bước ra. Đám con nít cùng ré lên : “Chị Bưởi. Chị Bưởi đó…” Không có tiếng cười, nhưng có tiếng anh Trai nhắc tuồng nghe rõ mồn một “ Chạy lên. Chạy lên. Kêu tên. Kêu tên “. Tức thì chị Bưởi sửa dáng, lấy đà lúp xúp chạy về phía người thanh niên đang ở tư thế dợm bước. Chị kêu lên : “Anh Tấn! Anh Tấn!”. Úi trời. Tiếng kêu cố tình hụt hơi đứt đoạn nghe thiệt khá não nùng. Có tiếng xì xầm ở dưới hàng khán giả rồi một khoảng thinh lặng kéo dài đờ đẫn khi hai người trao đổi với nhau những lời thề nguyền lâm ly bi đát. Ngay cả đám con nít cũng nín thở, trố mắt nhìn một màn diễn quá bất ngờ táo bạo chưa từng thấy. Không khí bỗng trầm lặng hẳn. Chỉ còn nghe tiếng, khi thì nức nở bi thương, khi thì dịu dàng âu yếm của cặp trai gái trước giờ phút chia ly. Rõ ràng anh Tấn và chị Bưởi đã nhập vai thiệt là xuất thần.

Anh Trai ngồi chùm hum giấu người ở góc hậu trường, ngạc nhiên đến độ ngẩn ngơ quên cả nhiệm vụ nhắc tuồng của mình. Đám thiếu nữ không còn giữ gìn e lệ, cứ nhăn mặt nhíu mày lòng dạ trải dài xót xa quặn thắt theo từng cảnh diễn, từng lời nói của đôi nam nữ.

Đám thanh niên thì hả lòng hả dạ. Trời ơi là trời! Những lời nói yêu thương nhắn nhủ như rót mật vô lòng. Giá như bom đạn có cày bừa nát ngướu tấm thân cũng thấy không có gì là tiếc nuối.

Sân đình trở nên thinh lặng. Bao cặp mắt đổ dồn, theo dõi từng diễn tiến. Tôi đứng gần sân khấu, thấy chị Bưởi nước mắt đầm đìa. Chị khóc thiệt tình làm cho vai diễn càng thêm sống động. Tự nhiên, tôi cũng cảm thấy nghèn nghẹn. Nếu như hai người thương nhau mà phải xa nhau, họ sẽ nói những lời buồn nẫu cả người như vậy hay sao ?. Nếu vậy thì xa nhau làm gì ! Thương nhau làm gì ! Mà chị Bưởi có thương anh Tấn thiệt không đó. Sao thấy chị khóc ngon khóc lành vậy chớ ! Không có ai trả lời giùm tôi. Mọi người đang say mê theo dõi.

Trên sân khấu, anh Tấn quay người định bước lên xe(chiếc xe tượng trưng là chiếc ghế dài che phủ lá cây). Chị Bưởi vội chạy theo nắm lấy tay anh Tấn. Đoạn này mùi mẫn nhất. Hai người nắm lấy tay nhau. Anh nhìn chị. Chị nhìn anh. Đắm đuối…Đắm đuối…

Bỗng nhiên, mọi người nghe một tiếng thét xé trời. Từ dưới sân đình, một bóng người nhảy chồm lên sân khấu, tay cầm khúc mía chạy ào tới chỗ anh Tấn và chị Bưởi. Tôi giật bắn người, kịp nhận ra là chị Hẹ. Vừa khi khúc mía nhắm ngay đầu anh Tấn vụt tới. Rất may là anh Tấn, khi nghe tiếng hét, giật mình làm chiếc ghế lật nghiêng hất anh ngã xuống. Cú đánh như trời giáng trượt qua đầu khi anh vừa ngã ngửa về phía sau. Chị Hẹ cũng mất đà ngã nhào theo. Hậu trường nhốn nháo, tiếng la hét ồn ào. Rồi thấy anh Tấn vụt chạy bương qua hàng rào nhà ông Thưởng. Đuổi bén gót theo sau là chị Hẹ. Khúc mía đưa cao nhấp nhô theo đà nhún nhảy rồi mất mất hút vào khoảng tối mịt mù phía trước…

Sự việc xảy ra bất ngờ làm bà con bán tín bán nghi. Không lẽ vở diễn kết thúc như vậy sao ? Thấy chú Vạy chống cây ba toong chạy lên tìm anh Trai. Chú giận tím mặt, la lối om sòm :” Cái thằng trời đánh !.Kết cục như rứa là ý nghĩa gì đây ! Trời ơi mi giết tau rồi, Trai ơi!”. Anh Trai, cũng đang giận sôi lên, nói xẵng : ” Trai gái với lại cục hòn chi đây chú! Cái con giặc cái đó tự nhiên ở đâu nhảy lên làm bể dĩa hết trơn “. Rồi anh day sang phía anh Rớt đang trố mắt nhìn, nạt lớn :” Nhìn cái gì nữa. Kéo màn. Kéo màn”.

Chỉ có mình tôi là hiểu thấu sự tình. Ăn đường của chị Hẹ nhiều lần quá mà, làm sao tôi không hiểu thấu cho được !

Rốt cục rồi mọi người cũng vỡ lẽ. Thì ra, nói theo kiểu chị Hẹ, là anh Tấn với chị “gù” nhau .

Chuyện xảy ra từ cái đêm văn nghệ đó là đề tài bàn tán xôn xao làng trên xóm dưới. Búa rìu dư luận theo nề nếp cổ xưa, đuổi xô chị Hẹ về phía cô đơn….

Anh Tấn đã “ra ràng” rồi! Chỉ còn chị vẫn còn náu lại trong cái xóm nhỏ tựa cái chuồng bồ câu dần bạc màu sắc theo thời gian. Tội nghiệp. Mỗi lần ra đường, mọi người đều nhìn chị với ánh mắt khác lạ. Nhất là mấy bà ngồi lê đôi mách, họ thêu dệt về chị theo đà câu chuyện để mua vui trong giờ rảnh rỗi. Đám trai làng e dè ra mặt. Chỉ còn có tôi. Nói cho đúng nghĩa hơn là những-tán-đường-của-chị còn có tôi. Rồi cũng phải nói thêm cho thật lòng, dù ăn miếng đường ngọt ngào thanh cảnh của chị nhưng sao tôi vẫn cảm thấy không gần gụi chị được như ngày nào. Cú đánh trời giáng của chị đã gây ấn tượng mạnh trong tôi. Nó chì chiết trầy trụa tình cảm của tôi về chị đến nỗi tôi đã mất dần cảm giác thèm vị ngọt ngào như tôi vẫn thèm. Và rồi, tôi dần xa chị hồi nào không hay. Mỗi lần có việc qua quán nhà chị, tôi cố tình rão bước. Đôi lần bắt gặp ánh nhìn của chị, tôi cúi đầu lảng tránh.

Thời gian cứ lần lựa trôi qua. Hết hạn ba năm, chẳng thấy anh Tấn trở về như những chàng trai cùng xóm. Rồi đáo hạn kỳ lần nữa, thêm lần nữa, anh Tấn cũng biền biệt phương trời. Chị Hẹ vẫn ngồi nơi quán nhỏ mà lòng trải rộng cả phương trời. Chị gầy ốm, teo tóp rồi lạc tuổi thanh xuân. Nghe đâu trong thời gian qua cũng đã có nhiều đám gần xa mai mối, nhưng chị vẫn không chịu “ra ràng”. Chị như con chim vẫn ngày ngày giam mình trong cái chuồng chim bạc màu son để nhìn ngắm khoảng trời xanh vô tận, tìm kiếm một bóng chim quen.

Con chim lẻ bạn chắc là buồn. Chị Hẹ lẻ loi tình anh Tấn, chắc chị buồn thấm tận tim gan…

Chị Hẹ ơi ! Giờ đây em không còn trách chị như ngày xưa còn bé.

Sự đời vốn nhiều đa đoan. Sự tình cũng có nhiều cớ sự. Khi người ta yêu nhau thì chỉ thấy có mỗi người mình yêu. Và dễ thương (hay dễ ghét) hơn nữa, chỉ muốn người mình thương là của riêng mình.

Em cũng hiểu khúc mía chị dành riêng cho anh Tấn nó đầy đặn ngọt ngào tình yêu thương chớ đâu có phải hận thù. Giá như khúc mía được chia đôi cắn nửa thì tình tự biết bao nhiêu. Nhưng ác thay khúc mía lại làm nên cú đánh như trời giáng để cho anh Tấn hồn bất phụ thể mà lú lẫn cả đường về !. Khi yêu nhau người ta vẫn làm những điều khôn, điều dại cũng chỉ vì người mình thương.

Em cũng hiểu thấu nỗi buồn da diết qua tháng năm chị chờ đợi anh Tấn trở về…

Lý lẽ này tôi tìm kiếm được là lúc tôi lớn khôn. Biết soi gương làm dáng. Biết trái tim có hai dòng đập. Một cho nhịp sống đời thường. Và một cho nhịp slow, tango, bebop hay cha cha cha tùy thuộc hoàn toàn theo đối tượng mình thương…

Chiếc Honda vượt khỏi con đường đất đỏ hai bên là rừng cao su bạt ngàn, dừng lại ở đường quốc lộ. Anh Hường, phụ huynh của học trò tôi, vừa dựng xe vừa nói :

– Thôi, Thầy về ăn Tết vui vẻ nghe. Thầy quyết định về quê ăn Tết tụi tui cũng thấy mừng. Ở đây buồn lắm Thầy ơi !

Buồn hay vui, không phải là nguyên do để tôi đột ngột quyết định phải về nhà ăn Tết. Chỉ vì nhớ.

Tình cờ, sáng nay, khi vừa thức dậy nghe tiếng hát từ chiếc radio ở nhà bên cạnh :

“…Đàn trẻ thơ ngây chờ mong anh trai. Sẽ mang về cho quần áo mới. Ba ngày Xuân đi khoe xóm làng…”. (*)

Lời hát làm cho tôi nhớ đến xót xa những ngày Tết quê nhà. Tôi nhớ những đêm cùng các em thức canh nồi bánh Tết, lòng nôn nao nghe tiếng pháo vọng xa trong màn đêm tĩnh mịch. Những ngày Tết rộn ràng xôn xao câu chúc tụng trên con đường xóm nhỏ dập dìu người qua kẻ lại. Tôi nhớ không khí ấm nồng của những ngày Xuân chan hòa tình làng nghĩa xóm.

Và tôi quyết định phải về, dù hôm nay đã là ngày 30 Tết.

Tốt nghiệp ra trường rồi thuyên chuyển về vùng đất mưa bùn nắng bụi, heo hút bạt ngàn rừng núi này. Đây cũng là cái Tết đầu tiên xa nhà. Tôi muốn trải nếm cảm giác của lòng người xa xứ. Vậy mà, cuối cùng, vẫn không chịu được. Mới hay là nơi chôn-nhao-cắt-rún mãi mãi là nơi chốn phải quay về.

Có chuyến xe hàng ở đầu con dốc. Anh Hường mau mắn đưa tay vẫy chặn. Trong xe thưa thớt chỉ vài người khách, có lẽ cũng về quê ăn Tết muộn như tôi. Bác tài vừa sang số xe, vừa nói :

– Xe về tới Dục Mỹ thôi, thầy Hai. Tới đó, Thầy liệu đường mà bương tiếp…

Tôi không nói gì. Định bụng là đến Dục Mỹ sẽ đón xe về tới ngã ba Thành. Từ đó, đón tiếp xe lên Đàlạt. Chậm lắm là khoảng 11 giờ đêm sẽ có mặt tại thành phố sương mù. Hy vọng còn kịp giờ đón Giao thừa.

Bắt đầu qua dèo M’Drăk, xe ngừng lại đón thêm một người khách. Anh ta vứt cái bao đồ khá lớn ở cuối xe rồi nhìn quanh tìm chỗ ngồi. Trong xe cũng còn quá nhiều chỗ trống.

Anh đứng tần ngần một thoáng rồi đến ngồi bên cạnh tôi :

– Chào anh. Ngồi đây cho có bạn chuyện trò đường xa.

Tôi cười gật đầu chào xả giao

– Vâng, chào anh. Anh cũng về Dục Mỹ à ?

– Không, tôi chỉ đến Khánh Dương.

Rồi anh che tay, ngáp, ngon lành. Tôi lén nhìn anh, quan sát. Bộ râu quai nón rậm rì

lốm đốm nhiều sợi bạc. Mái tóc lâu ngày không cắt tỉa phủ xuống quá gáy. Da mặt sạm đen vì nắng gió. Nhìn vẻ dáng thật phong trần. Tôi cứ ngờ ngợ như là đã gặp anh đâu đó một đôi lần. Tôi đem ý nghĩ này nói với anh. Anh cười, hàng răng trắng đều giữa hàm râu rậm :

– Vậy hả ?. Cũng có thể là đã gặp đâu đó. Tôi vẫn qua lại vùng này thường lắm

Qua lại thường ở vùng này thì chắc thế nào anh cũng đến Phước An, nơi tôi làm việc. Có thể là gặp anh một đôi lần nơi đó. Tôi hỏi :

– Nhưng có khi nào anh đến Phước An ?

– Có chứ, một đôi lần. Nhưng hơn năm nay, tôi không ghé. Chẳng có gì phải ghé.

Tôi ngạc nhiên :

– Có gì là có gì, anh ?

Anh lại cười :

– Thì đại khái là kim loại, đồng, thau, vàng, bạc, các loại đồ cổ. Mua bán có, trao đổi có. Nhưng tôi thường đến các buôn bản Thượng. Họ có những món đồ cổ, quý hiếm. Thuận thì trao vừa thì đổi, chẳng ai ép ai. Người Thượng họ thật thà chất phác, gần gụi họ mình cảm thấy cuộc đời phẳng lặng hơn. Anh thấy tôi đầu tóc râu ria giống họ không ? Cố tình đó.

Rồi anh huyên thuyên kể chuyện vui về việc mua bán trao đổi với người Thượng từ các buôn bản xa xôi hẻo lánh. Anh có lối kể chuyện thu hút người nghe và đặc biệt là không ngừng nghỉ. Một mẫu người vui tính và dễ thân thiện, tôi thầm nhận xét.

Kể lể một thôi một hồi, bỗng anh khựng người nhìn tôi, cười :

– Thiệt là vô tâm. Nãy giờ ham chuyện quên hỏi chú em. Í, mà gọi chú em được chớ?.

Ngó bộ dạng trẻ quá mà. Sao? Về quê ăn Tết hay là đang đi kiếm ăn đây ?

– Kiếm chác gì đâu anh ! Tôi làm việc ở vùng này. Về quê ăn Tết đó.

Anh cười, phụ họa :

– Thiệt là bươn chải đường xa, tới ba ngày Tết cũng kiếm đường về. Mà về đâu đây, chú em ?

Tôi đáp gọn :

– Đàlạt

Anh “Hả” lên một tiếng, gương mặt có vẻ ngạc nhiên. Tôi vẫn vô tình :

– Anh lưu lạc nhiều nơi, chắc cũng có dịp về qua Đàlạt.

Gương mặt anh trở nên tư lự. Anh khẽ thở dài :

– Ghé qua sao được. Có thời gian anh ở đó rồi. Mà không lâu.

Tôi cười vui vẻ :

– Vậy là gặp người cùng quê rồi. Anh ở vùng nào vậy ?

Anh im lặng, nhìn ra cửa xe, như đang suy nghĩ điều gì. Rồi anh thở dài :

– Ở không lâu mà đi xa cũng nhớ mới kỳ. Hồi đó anh ở vùng Trại Mát.

– Tôi thì ở cây số 4, là Xóm đình Đa Cát đó. Trại Mát nơi anh ở họ trồng rau nhiều lắm. Đặc biệt, anh biết có gì không ? Đá gà. Nhứt là mùa Tết, cá độ gà đá dữ dằn lắm. Để coi, ở Xóm tôi cũng có nhiều tay mê đá gà nặng. Sống bằng nghề đó luôn. Có Ôn Tôn Lạc, có chú Cử, chú Phú xe Lam nè. Lớp sau này có anh Trai, anh Đát con rể của ôn Cai Hoành…

Tôi đang ngập ngừng cố nhớ thêm vài tay mê đá gà nữa thì nghe anh nói, giọng có vẻ hốt hoảng :

– Ái chà, thôi chú em ngồi nghe. Anh xuống coi cái bao đồ không chừng mấy tay lơ xe moi móc…

Rồi không chờ tôi trả lời, anh hối hả đứng lên đi thẳng. Tôi mất hứng ngồi yên.

Khá lâu không thấy anh trở lại. Tôi ngoái nhìn, thấy anh ngồi khuất ở băng ghế cuối, đang loay hoay làm gì đó.

Xe chạy một đoạn dài, tôi vẫn có ý chờ anh trở lại để tiếp câu chuyện đang còn hứng thú. Vừa lúc đó nghe tiếng bác tài xế rổn rảng :

– Khánh Dương. Khánh Dương. Ai Khánh Dương chuẩn bị xuống nghe.

Xe bắt đầu hãm thắng, chậm dần. Tôi quay lại, cũng vừa lúc anh vội vàng đi lên. Bàn tay anh bóp mạnh lấy vai tôi, đau nhói. Tôi nghe anh nói, giọng có vẻ xúc động :

– Nhớ tìm anh nghe.

Rồi anh lẹ làng nhét một mảnh giấy nhỏ vào túi áo trên của tôi, quay người đi vội xuống cửa sau, chụp bao đồ nhảy xuống khi xe chưa ngừng hẳn. Tôi nhoài người ra cửa

hông, thấy anh đứng bên lề đường đưa tay vẫy vẫy.

Xe qua khỏi Khánh Dương một đoạn, tôi chợt nhớ tờ giấy anh nhét vào túi áo. Đó là tờ giấy bao vỏ thuốc Capstan, trên có ghi địa chỉ nhà anh và ở dưới có dòng chữ viết vội :

“ Chú Trọng

Về quê ăn Tết vui vẻ nghe. Biết chú không có thì giờ thôi thì để ra Giêng tìm tới anh. Có nhiều chuyện muốn hỏi chú.

Anh, Tấn

Người cùng Xóm Đình “

viết dưới hiên trăng

TRẦN HUY SAO

(* ) nhạc phẩm Xuân Này Con Không Về – Trịnh Lâm Ngân

Advertisements

Biểu Tượng Heo Trong Huyền thoại, Điện ảnh, và Văn học

Người miền Nam gọi là con heo. Miền Bắc, gọi con lợn. Ở miền Nam có bánh da lợn và bánh tai heo. Không thấy ai nói bánh da heo và bánh tai lợn. Heo thì có heo nhà và heo rừng. Trong giống heo nhà có gồm chung một loại heo nhỏ, màu đen hoặc đốm đen, là heo mọi. Tiếng Anh có nhiều chữ để chỉ con heo, hoặc lợn. Mãi cho đến thế kỷ thứ mười chín, chữ “swine” là chữ được dùng thường xuyên nhất. “Pig” ban đầu được dùng để chỉ “a young swine” (một con heo còn bé). “Boar” là heo đực tuy nhiên thường được dùng để chỉ loài heo rừng. “Sow” là heo nái. “Barrow” heo đực bị thiến. “Hog” là con heo đực trưởng thành, to lớn hơn “pig,” được dùng chung cho cả hai “swine” hoặc “barrow.” “Farrow” trước kia dùng để chỉ heo con, sau dùng để chỉ đàn heo con mới sinh.
Đối với người Do Thái và người Hồi Giáo, heo là con vật bẩn thỉu vì vậy giáo dân không được phép ăn thịt. Người nào không tuân theo giới cấm sẽ bị Chúa hay Giáo Chủ trừng phạt. Tuy vậy, vẫn có những quốc gia, đưa loài heo vào hàng thần linh. Albina là một nữ thần trong huyền thoại của xứ Etruscan (thuộc về nước Ý thời cổ). Gốc gác Albina là một con heo nái màu trắng. Tương tự như huyền thoại Etruscan, huyền thoại Celtic (bao gồm các quốc gia Ireland, Scotland, Wales) có nữ thần Eridwen (cũng là con heo trắng). Babi Ngepet là một con heo quỉ trong huyền thoại Indonesia. Huyền thoại Wales có Hen Wen, vị thần heo nái đã sinh ra con mèo khổng lồ Cat Palug. Về sau còn mèo này đánh nhau với Vua Arthur. Hildisvíni là con heo đực của vị thần Freyja trong huyền thoại Norse. Gullinbursti là một con heo nọc có bộ da cứng như thép, lông bằng vàng mọc dọc theo xương sống. Bộ da này có thể chiếu sáng trong bóng tối. Gullinbursti được dùng làm quà tặng cho Frey, vị thần tượng trưng cho nắng và thời tiết tốt đẹp, bảo vệ sự sinh tồn và thịnh vượng cho loài người. Kamapua’a trong huyền thoại Hawaii là một cậu bé nửa người nửa heo, là thần tượng trưng cho khả năng sinh sản và bảo vệ của hòn đảo Maui. Moccus là một vị thần heo Celtic bảo vệ thợ săn và chiến sĩ. Trư Bát Giới trong huyền thoại Trung quốc, là một người, nửa phần trên mang hình dáng heo, đã theo Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau khi cuộc thỉnh kinh thành công, Trư Bát Giới trở thành Bồ Tát.
Dường như, người Tây phương thời cổ vì sợ sự tàn phá của loài heo rừng khổng lồ mà đưa chúng vào huyền thoại. Heo, được tôn thờ vì sợ hãi chứ không vì kính yêu. Lưu truyền mãi đến ngày hôm nay, heo luôn luôn là biểu tượng cho sự khinh ghét vì những đặc tính dâm dục, ngu độn, và tham ăn. Phim ảnh về tình dục tục tằn (pornography) được dịch ra là “phim con heo”. Con heo cũng là biểu tượng của sự ngu xuẩn. Người Việt mình thường chê trách một người nào đó bằng thành ngữ “ngu như heo.” Người Mỹ dùng chữ “pig out” để chỉ hành động ăn tham và ăn nhiều. Tiếng Hy-lạp cổ có một thành ngữ được dùng để chỉ người ngu mà hay làm ra vẻ khôn ngoan dạy đời; đó là “a pig contending with Athena” có nghĩa là heo là dám đối đáp với Athena, vị nữ thần bảo hộ thành phố Athen. Bên cạnh hai con heo rừng của Calydon và Heracles, tôi sẽ kể bạn nghe sau đây, Hy lạp còn có con heo rừng (nái) Crommyonian sow là mẹ của con heo rừng Calydon, bị Theseus, vị thần lập nên thành phố Athen, giết chết. Câu chuyện heo Crommyonian cũng na ná như hai huyền thoại kia lại ít chi tiết ly kỳ nên tôi bỏ qua.


Cuộc săn heo rừng ở Calydon.

Calydon là một thành phố của Aetolia, vào thời Hy Lạp cổ, nằm ở bờ phía Tây của con sông Evenus cách bờ biển chừng 11 km. (Theo Wikipedia). Calydon vào thời ấy rất thịnh vượng, được nhắc nhở nhiều lần trong tác phẩm Iliad của Homer. Oeneus, vua của Calydon thường dâng hiến lễ vật cúng tế Artemis, nữ thần chúa tể ngành săn bắn, con của Zeus và là chị/em sinh đôi của thần Apollo. Có một năm, Oeneus quên kèm tên Artemis trong các món lễ dâng cúng các vị thần. Nổi giận vì cho là Oeneus khinh thường mình, Artemis thả con heo rừng khổng lồ của bà đến tàn phá tất cả ruộng vườn nhà cửa và giết hại dân chúng của Calydon. Dân chúng rút vào kinh thành cố thủ, con heo rừng lại canh ngay trước cửa thành khiến dân không thể cày cấy hay săn bắn, dần dần lâm vào nguy cơ bị chết đói. Oeneus kêu gọi anh tài cứu giúp quốc gia. Người nào giết con heo rừng khổng lồ này sẽ được thưởng bộ da và cặp nanh của nó.
Một người thì có lẽ khó mà thắng được con heo rừng của Artemis, tuy nhiên rất nhiều anh hùng xứ Calydon đã đáp ứng lời kêu gọi của Oeneus. Trông số này có Argonauts, đoàn quân đã từng đi săn con cừu thần có cánh với bộ lông bằng vàng, và hoàng tử Meleager, con vua Oeneus. Người yêu của Meleager là Atalanta, săn bắn rất tài giỏi, cũng được mời tham dự cuộc săn.
Atalanta, nguyên là con nuôi của Artemis. Thuở nhỏ đã từng được nuôi bằng sữa của Artemis. Lớn lên nàng thường được Artemis ủy quyền quán xuyến công việc. Tài năng của nàng vượt xa người thường. Hoàng tử Meleager giết chết con quái vật, tuy nhiên, phần thưởng cao quý của người chiến thắng được chàng trao cho Atalanta vì nàng là người đầu tiên bắn trọng thương con quái vật.
Đoàn quân săn bắn không đồng ý việc giải thưởng cao quý này lại được trao cho một người đàn bà (kỳ thị phụ nữ quá!). Mấy người con của Thestios, cậu của Meleager, cướp phần thưởng này, vì thế Meleager giết đám con và cả người cậu. Ngày xưa, khi Meleager mới sinh ra, có một vị thần tiên tri, nhìn mấy cây que củi đang cháy trong lò sưởi, rồi bảo rằng: “Bao giờ cây củi ấy cháy hết, Meleager sẽ chết.” Mẹ của Meleager để bảo vệ con, vội dập tắt cây củi rồi cất vào trong áo. Meleager nhờ đó thoát chết. Đang cơn giận con trai giết chết em trai và cháu, bà rút cây củi đang giấu trong áo ném vào lửa, vì thế giết chết Meleager.
Người ta bảo rằng thần Artemis sai Atalanta đi giúp đoàn người săn con heo rừng khổng lồ để chia rẽ đoàn quân sâu xa hơn, và trả thù vua Oeneus. Trong cuộc săn, người này bắn lầm người kia, các vị anh hùng đâm ra thù oán giết chóc lẫn nhau, xã hội càng thêm hỗn loạn.
Bộ da con heo rừng được thờ trong đền Athena Alea ở Tegea, Laconia; tương truyền từng được người đời nhìn thấy hồi thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên. Bộ nanh heo rừng khổng lồ xứ Calydon, phần gốc to nhất, có chu vi gần 89 centimeters. Bài học duy nhất của cuộc săn heo lưu lại cho đời sau là sự qui tụ rất nhiều anh hùng (heroes) chung tay góp sức với nhau để cứu quốc gia đang gặp nạn.


Cuộc săn heo rừng của Heracles

Người Hy-lạp cổ biến heo rừng thành thần và đưa vào huyền thoại không phải chỉ một lần. Cuộc săn heo rừng trở thành một trong mười hai công việc khó nhọc mà Heracles phải thực hiện để chuộc tội.
Heracles (còn được biết bằng tên La-mã, Hercules) là con của Zeus. Vị chúa tể của các vị thần này có người vợ chính thức tên là Hera. Mẹ của Heracles là Alcmene, một trong những người vợ lẽ của ông. Hera vì ghen nên thường tìm cách hãm hại Heracles. Ngày chàng còn nằm nôi Hera cho hai con rắn thân tín của bà đến giết Heracles. Tuy nhiên, cậu bé Heracles đã bóp chết hai con rắn bởi vì từ khi mới sinh ra đời chàng đã có sức mạnh vô song. Hera không bỏ cuộc. Bà biến Heracles trở nên điên loạn. Trong cơn điên chàng đã giết chết vợ và các con.
Ân hận vì vợ con chết dưới tay mình, Heracles đến đền Delphi cầu xin với các nhà tiên tri lời sấm truyền chỉ cách cho chàng chuộc tội. Sấm truyền Heracles phải đến chầu vua Eurystheus, và thực hiện 12 công việc nhọc nhằn cực độ do vị vua này chọn lựa. Theo lệnh vua Eurystheus, Heracles giết con sư tử thần Nimean rơi từ trên mặt trăng xuống, con rắn chín đầu Hydra, và bắt sống con tuần lộc có bộ lông bằng vàng, thú cưng của thần Artemis. Công việc thứ Tư, Eurystheus sai Heracles đi giết một con heo rừng khổng lồ sống trên núi Erymanthos thường xuyên xuống núi giết người và phá hoại mùa màng.
Tương tự trường hợp Calydon, heo rừng Erymanthos cũng do Artemis thả xuống trần gian để trừng phạt người dân. Erymanthus, con của thần Apollo, nhìn trộm vị nữ thần Aphrodite đang tắm vì thế bị Aphrodite đánh mù mắt. Apollo trả thù cho con bằng cách sai con heo rừng (của Artemis) đi giết Adonis, người tình trẻ tuổi đẹp trai của Aphrodite. Robert Graves, một học giả chuyên nghiên cứu huyền thoại Hy-lạp, cho rằng đời sau ghi chép nhầm lẫn nên gán cho nữ thần Aphrodite, thật ra đó chính là Artemis.
Nếu tin theo giả thuyết của Robert Graves, câu truyện vừa kể bên trên trở thành, Erymanthus nhìn trộm Artemis tắm vì thế nữ thần đánh Erymanthus, cháu gọi bằng cô, đến mù mắt còn gửi cả con heo rừng đến phá hoại mùa màng trên vương quốc của cháu. Thật là một người cô hung tợn. Và Heracles phải giết con quái vật này để chuộc tội giết vợ con.
Trên đường đi giết con heo rừng Erymanthos, Heracles giải cứu Chiron, người bị xiềng trên đỉnh núi. Hằng ngày có con đại bàng đến rỉa gan của Chiron để ăn. Heracles giết chết chim đại bàng cứu Chiron, vì thế được ông ta chỉ cách để bắt giết con heo rừng khổng lồ Erymanthos. Vì đang giữa mùa đông, Heracles lùa con heo rừng vào cánh đồng tuyết thật dày khiến nó bị lún sâu không chạy được. Heracles bắt trói và khuân về để trước mặt Eurystheus. Hoảng sợ vì con thú khổng lồ và hung dữ, vua ra lệnh đem giam nó vào một cái chum khổng lồ “pithos” phân nửa chum được chôn dưới đất. Vẫn còn kinh sợ, vua Eurystheus van xin Heracles đem con quái thú đi thủ tiêu. Người đời sau, Roger Lancelyn Green, kể thêm rằng Heracles ném con quái vật ngoài biển khơi, nó bơi vào nước Ý, và nanh của nó được lưu giữ trong đền thờ Apollo ở Cumae.
Heo rừng thường thường rất dữ tợn và nguy hiểm. Nữ thần Venus đã lên tiếng cảnh cáo Adonis, không nên đi săn heo rừng, nanh của nó có chứa sức mạnh của sấm sét. Tuy vậy, phim ảnh Hoa Kỳ có một con heo rừng rất hiền lành, chỉ biết ăn sâu bọ, đó là Pumbaa, nhân vật trong “the Lion King.” Pumbaa theo tiếng Swahili, Đông Phi, có nghĩa là ngu ngốc, kỳ khôi, cẩu thả, bất cẩn. Pumbaa tuy vậy lúc cần cũng là một chiến sĩ can trường, và sẽ tức giận nếu kẻ nào không phải là bạn mà dám gọi Pumbaa là con heo. Châm ngôn của Pumbaa là “Hakuna Matata” có nghĩa là chẳng hề gì đâu, đừng lo nghĩ, hãy cứ vui mà sống.

Nhưng Pumbaa chỉ là con heo rừng trong phim hoạt họa. Thế còn có con heo nào được đóng phim không. Có chứ. Không chỉ một con mà cả ngàn con trong phim “The Pigs and the Battleships” (1961) hay “Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm.”
“Bầy heo và Đoàn Chiến Hạm” là tên cuốn phim dựa vào tiểu thuyết của Kazu Otsuka do Shohei Imamura làm đạo diễn.
Hai nhân vật chính trong phim là Kinta và Haruko. Phim lấy bối cảnh là Yokosuka, một thành phố cạnh biển vào thập niên năm mươi, lúc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa chấm dứt. Nhân danh bảo vệ Nhật Bản lúc ấy đã đầu hàng và tuyệt đối giã từ vũ khí; Hoa Kỳ mở nhiều trại lính dọc theo chiều dài của quốc gia Thái Dương Thần Nữ. Phim cho thấy quan điểm của Imamura về xã hội Nhật vào thời điểm ấy, khác hẳn nếu không nói là hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Yasujiro Ozu. So sánh quan điểm của Imamura với Ozu mà không với đạo diễn nào khác là bởi vì Imamura đã từng là phụ tá đạo diễn cho Ozu trong rất nhiều phim. Nhiều người bảo rằng Imamura là học trò của Ozu. Với bộ phim rất thành công này, Imamura khẳng định tài năng, và được xem là người dẫn đầu khuynh hướng New Wave (Làn Sóng Mới) của Nhật Bản. Người xem nếu quen thuộc và yêu thích quan hệ cha con, vợ chồng, với những xung đột ngấm ngầm bên dưới bộ mặt lặng lẽ trầm ngâm của các nhân vật; quen thuộc và yêu thích quan niệm thẩm mỹ của vườn Thiền, trà đạo, cắm hoa, thơ haiku như trong phim Ozu; sẽ cảm thấy bực bội, hay choáng váng với cách miêu tả xã hội Nhật của Imamura.
Kinta lớn lên trong một gia đình nghèo, mẹ mất sớm, ông bố nghiện rượu làm nghề kéo xe thuê. Anh lêu lỏng, lười biếng, làm tay sai cho băng đảng Himori, chuyên tống tiền những chủ tiệm nhỏ trong vùng để kiếm tiền tiêu vặt. Haruko giúp việc cho một cái bar nhỏ, yêu Kinta, mơ một ngày nào làm đám cưới với Kinta và thoát ly gia đình. Chị của Haruko hành nghề gái bán bar, lấy tiền mang về giúp mẹ nuôi em. Mẹ Haruko đã hứa gả nàng cho một người Mỹ đứng tuổi để lấy ba chục ngàn. Và tiền đã được bà mẹ lấy trước. Haruko muốn Kinta cùng chạy trốn với nàng đến Kawasaki để tìm việc làm và bắt đầu cuộc sống tự lập.
Cứ mỗi lần một chiến hạm Hoa Kỳ cập bến, thành phố Yokosuka trở nên bát nháo với quang cảnh cờ bạc, say sưa, đĩ điếm. Khung ảnh của Imamura miêu tả những anh chàng lính Mỹ to lớn, đần độn, và dâm dục. Người Nhật thì tham lam, trộm cắp, lường gạt, và đánh mất phẩm giá.
Băng đảng Himori kiếm lợi bằng cách nuôi heo, cung cấp thịt cho các trại lính Hoa Kỳ. Kẻ cắp gặp bà già, băng đảng này bị lường gạt, ký hợp đồng với một tên bịp bợm. Họ nộp tiền trước để được mua thịt hộp phế thải của lính Mỹ và dùng thịt này để nuôi heo. Băng đảng Himori bị bịp hết tiền, thua lỗ. Haruko mang thai, phá thai, hẹn hò đi chơi với lính Mỹ say rượu, bị hiếp dâm, ăn cắp tiền của lính Mỹ, bị bắt, vào tù, được chuộc ra và phải lấy chồng Mỹ để trả nợ. Haruko bỏ trốn đến trại nuôi heo. Kinta tổ chức bắt trộm tất cả heo trong trại đem bán để lấy tiền và trốn đi với Haruko. Kế hoạch không thành, Kinta bị băng đảng đối lập cướp tất cả các xe heo, và bản thân anh ta bị bắt lên xe heo đưa vào thành phố. Kinta dùng súng uy hiếp tài xế của các xe vận tải chở heo phải thả heo ra, và trong cuộc xung đột Kinta bị bắn chết. Đàn heo tràn ngập thành phố chen chúc trong các ngõ hẻm dẫm đạp lên người ta khiến nhiều người bị chết. Haruko nhìn thấy cái chết của Kinta, một mình bỏ thành phố ra đi.
Người xem phim không khỏi nghĩ rằng Imamura đã dùng hình ảnh đàn heo tràn ngập thành phố đè chết người dân như biểu tượng của lính Mỹ dày xéo nước Nhật.
Nếu trong thời cổ đại của Hy-lạp con heo rừng khổng lồ là biểu tượng cho sức mạnh và sự hung tợn của thú vật khống chế loài người, thì trong thời hiện đại con heo của George Orwell là biểu tượng của sự độc tài, sử dụng quyền hành đàn áp và dối gạt người dân. Tuy chê bai loài heo tham lam và dâm dục, loài người, nhất là các nhà độc tài thật ra cũng chẳng khác gì loài heo. Ở phần cuối truyện “Animal Farm” Orwell viết:
“The creatures outside looked from pig to man, from man to pig, and from pig to man again; but already it was impossible to say which was which.”
Dịch là:
“Loài thú ở bên ngoài đưa mắt nhìn từ loài heo sang loài người, rồi từ loài người sang loài heo, rồi lại từ loài heo sang loài người; nhưng không thể nào phân biệt kẻ nào là heo, kẻ nào là người.”
Người Anh (và Mỹ) khi biểu lộ sự khinh bỉ một người đến tột độ, họ mắng là đồ heo. Somerset Maugham đã cho một nữ nhân vật, Sadie Thompson, Altogether [1934.] Rain, kêu lên. “You men! You filthy dirty pigs! You’re all the same, all of you. Pigs! Pigs!” Dịch là “Lũ đàn ông các anh! Bầy heo bẩn thỉu! Các anh toàn như nhau cả. Cả một lũ heo! Heo! Heo!”
Bên cạnh sự bẩn thỉu, ngu xuẩn, tham lam, tham ăn, và dâm dục, ít thông dụng hơn, con heo còn tượng trưng cho sự giận dữ tột độ. Trong vở kịch Lysistrata của Aristophanes, đám phụ nữ đồng lòng biểu tình, từ chối chăn gối với chồng và người yêu, để phản đối chiến tranh, có câu: “I will set loose my sow,” nghĩa đen là “tôi sẽ thả rong con heo nái,” nghĩa bóng là “tôi sẽ bày tỏ cơn giận dữ của tôi.”
Shakespeare đã tận dụng chi tiết, cờ hiệu của vua Richard III có hình con heo trắng. Ông vua này bị Shakespeare gọi là “Heo” thí dụ như: “the boar” (3.2.11), “elvish-marked, abortive, rooting hog” (con heo bị quỉ ám gây ra thất bại), hay con heo phá hoại của quỷ (1.3.227) và
The wretched, bloody, and usurping boar,
That spoiled your summer fields and fruitful vines,
Swills your warm blood like wash, and makes his trough
In your emboweled bosoms” (5.2.7-10)
Con heo khốn nạn, khát máu, xâm chiếm,
Phá hoại ruộng vườn và vườn nho mùa hè đang tốt tươi,
Máu của bạn tuôn chảy ra như là nước để rửa, và làm cái máng cho hắn
Bằng cái lồng ngực bị mổ toang của bạn.
Người Do Thái và Hồi Giáo chê thịt heo bẩn không ăn, nhưng với người Việt thịt heo là vật liệu để nấu thành những món ăn ngon không thể thiếu. Ngày thường ở các hàng quán bán thức ăn, thịt heo là nguyên liệu chính trong cơm sườn, gỏi cuốn, chả giò, bánh canh giò heo. Đặc biệt, với ngày Tết, bên cạnh dưa chua, củ kiệu, thịt heo nạc lưng kho với trứng là món không thể thiếu. Phổ thông đến độ, thịt heo xuất hiện cả trong hai câu đối nổi tiếng, lưu truyền từ bao năm cho đến bây giờ.
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.
Cây nêu tràng pháo nổ bánh chưng xanh.
Xin chúc độc giả một năm mới ngon miệng với nồi thịt kho nước dừa thơm ngát.

Nguyễn Thị Hải Hà

TẾT QUÊ NHÀ

Gởi người Xóm đình Đa Cát ( Cây số 4 Đàlạt )

Đã có từng cơn gió chướng tràn về từ hướng núi. Trời trở lạnh và khô. Hoa Quỳ hương nở rộ hai bên đường, vàng óng.
Bác Hai Mộc đã…qui cố hương . Thím Ba Hồng cũng…hồi cố quận . Anh Tư Quân cũng… xếp tàn y về nơi cố thổ. Đó là cách nói thời thượng mang nặng tính võ hiệp giang hồ của anh Kiệt, nghe riết cũng thấy hay hay lại có văn vẻ cho nên ai cũng cố tình bắt chước. Sức học anh thì chưa tính được bao nhiêu nhưng sức đọc của anh thì tính tới bao, bồ mà đựng. Anh đọc truyện tới nỗi quên ăn quên ngủ. Tòan là chuyện kiếm hiệp. Đọc đến nỗi nhập tâm. Có Bác Hai Luân bị “dị ứng” về lối nói năng nặng mùi kiếm hiệp của anh Kiệt. Bác cứ lầm bầm “ Qui cố hương, hồi cố quận hay có về nơi cố thổ thì cứ nói rẹt một tiếng về cho nó gọn. Bày đặt…”.
Mà cũng bày đặt thiệt !
Tết thì về quê ăn Tết chớ bày đặt chuyện qui, hồi cố hương cố quận cố thổ chọc giận nhau làm chi !
Hàng Mai già dọc đường dốc đất bên cạnh Chùa Linh Quang đã kết nụ rồi, sắp nở rồi. Bụi Quỳ hương ở hục Bà Sơ sau lưng chợ Chiều chỉ còn thưa thớt mấy cái bông vàng rực . Vàng rực hết sức để chờ tàn, chờ rụng . Bởi, khi hoa Quỳ hương tàn rụng là lót đường cho mùa Xuân mạnh đường đi tới. Tiếng heo kêu ở nhà thím Hiếu làm nôn nao mấy củ hành ngâm giấm đã trở màu hồng đậm trong hủ thủy tinh. Trở màu là đã “ chín muồi ” vị ngọt chua, thanh cảnh .Gắp ra dĩa, để ghém với miếng thịt heo được rồi ! Mà tiếng heo kêu giờ này nghe tràn đầy nội lực chớ không eo éo như thường ngày vẫn kêu . Như vậy là đã đúng lứa, sắp vô nồi ! Mà nồi chung chớ không phải nồi riêng của gia đình nào.
Chuyện nuôi heo ăn Tết thì hầu như ở Xóm nghèo quê tôi đã quen thành lệ. Cứ năm ba gia đình chung vốn mua heo rồi giao trọng trách cho một người mát tay nhất trong nhóm nuôi vỗ chờ Tết ngả thịt, chia đều. Tính tóan, thỏa thuận rất sòng phẳng để không ai phải bị thiệt thòi.
Thuận buồm xuôi gió thì mùa Tết có thịt để mà rộn ràng bận rộn với nồi niêu xoong chảo . Bằng như…nửa đường đứt gánh thì coi như phủi tay, coi như là chỉ ăn Tết có một nửa, mất vui.
Còn về chuyện thịt gà ! Tuy là không chung vốn mà phải tự lo liệu nhưng cũng phải chuẩn bị kỹ càng. Tháng Tư ta là lo đem gà trống còn non tơ ra chợ tìm ông thợ thiến gà. Lo đóng chuồng. Vật liệu sơ sài cũng được nhưng phải bảo đảm là mỗi chú gà một chuồng riêng vừa đủ đứng, nằm chớ không có khoảng rộng để đi tới đi lui.
Nếu …thuận buồm xuôi gió, thì khoảng tháng mười-hai-ta, lứa gà thiến thịt thà đã nặng chình chịch, lông lá đã trổ màu sắc rực rỡ. Mỗi chú trọng lượng cũng cỡ chừng bốn tới năm ký. Nhà nuôi chừng hai, ba con thì tha hồ mà ăn Tết.
Nhưng mà cũng khó lắm. Bắt đầu từ tháng-mười-chưa-cười-đã-tối cho tới đầu tháng mười-hai-rét-ngọt thì cái nạn dịch gà khó cản. Qua được cửa ải này thì nồi niêu mới có dịp khua ran để mà ăn Tết. Thường thì khó vượt qua…
Còn cái khoản thịt bò thì quá đỗi xa vời, không cách gì với tới. Chỉ có trong dịp hội Làng. Mà nhắc tới Làng Nước thì bao la quá. Nhất là miếng thịt của Làng thì cũng quá là nhiêu khê! Chi bằng trở về lại một mái nhà với miếng thịt tự cung tự cầu, mà cũng… tự nhiên hơn, để hưởng ba ngày Tết.
Chỉ có thịt heo, thịt gà là gần gụi với tầm tay. Và cũng chỉ có chú Quý là người gần gụi và thân tình với bà con hơn hết, nhất là thời gian cận kề Tết. Bởi chú là tay đồ tể, nếu nói theo cách nói của anh Kiệt, là vào bậc thượng thừa. Tôi còn nhớ như in hình ảnh của chú. To lớn dềnh dàng, dáng đi khật khưởng. Gương mặt to ngang với đôi mắt xếch và cặp lông mày rậm đen. Nhìn chú thì thấy dữ dằn nhưng chú hiền lắm, lúc nào cũng cười. Ai nói gì cũng cười, nụ cười tươi vui, đôn hậu trái hẳn với vẻ hung hãn, dữ dằn của chú.
Cũng không biết do từ đâu mà ai gặp cũng gọi chú là Tiết Nhơn Quý, một nhân vật trong truyện Tàu, riết rồi chết tên luôn.
Chắc tại vì tướng tá to lớn dềnh dàng với lại sẵn chú tên Quý. Hay cũng từ anh Kiệt…
Thường ngày, chú rất chậm chạp trong công việc nhưng khi nhập vai đồ tể, chú nhanh nhẹn vô cùng. Từ lúc lùa heo ra cửa chuồng cho tới lúc xả thịt chia chác đồng đều cho các sướng (chớ không phải khổ) chủ, mọi động tác đều chính xác, gọn gàng. Ai nấy nhận phần thảy đều vui lòng hễ hả. Với đôi tay thiện nghệ và dưới mắt nhìn ước lượng cân đo của chú, xác suất trọng lượng phần thịt chia chỉ nhỉnh hơn chút đỉnh. Ngày Tết mà! Giành nhau tiếng cười vui chớ giành nhau chi thêm mấy miếng thịt chưa đủ giắt răng. Thảo nào anh Kiệt nói chú là tay đồ tể thượng thừa kể cũng không ngoa. Dễ chi kiếm được người thứ hai.
Công cán thì chú chỉ nhận đúng nửa ký thịt đùi và một lít rượu, vậy thôi. Thêm cũng không chịu. Bớt cũng không chịu. Ngang bằng sòng phẳng. Rồi chú qua nhà khác cho kịp giờ.
Mùa Tết là mùa làm ăn sung mãn của chú. Mùa Tết cũng là mùa chạy marathon của lũ trẻ chúng tôi. Cứ nghe tiếng heo kêu dậy trời dậy đất là tụi tôi tranh nhau rượt chạy cho kịp thời coi ông Tiết Nhơn Quý sát trư. Có khi một ngày chạy hai ba lần…
Sau này, có thêm chú Thứ nhà gần Hục Bà Sơ nhưng tay nghề không so kịp bằng chú Quý.

Mùa Tết cũng là mùa hoa. Ba ngày Tết mà trong nhà không có màu sắc của hoa thì còn có ý nghĩa gì!
Nhà nào cũng có một cành Mai hồng thắm. Mà đâu phải bỏ tiền mua. Chỉ cần bỏ công nửa ngày, vào rừng. Xóm với rừng gần nhau, đi thì chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ, nhưng phải bỏ công nửa ngày là để chọn lựa một cành Mai ưng ý.
Mai mọc bạt rừng, bạt núi thậm chí tràn vô tới Xóm. Hầu như nhà nào cũng có trồng một cây Mai trước ngõ.
Tháng mười-hai, Mai nhà đã nụ hồng. Có nhà thì hoa đã rộ nở.
Tôi còn nhớ, con đường mà tôi thích nhất là con đường hẻm dài một hàng Mai tươi tốt, từ nhà bác Nghi qua nhà ôn mệ Lào, rồi chấm dứt ở nhà ôn Cai Tư. Một khoảng đường rất ngắn nhưng giữ mãi trong tôi êm đềm cái cảm giác râm mát bóng cây của tháng Hè và nôn nao những bông Mai hồng thắm của ngày Xuân. Tôi thường đi, về trên con đường đất gập ghềnh này trong suốt thời gian học ở trường Tiểu học Bạch Đằng, nằm cheo leo trên ngọn đồi Cao Thắng. Con đường hẻm đất đá có hàng Mai rợp bóng là một trong những kỷ niệm tôi giữ hòai về chốn quê. Nhất là những ngày Xuân, nhìn hoa Mai rộ nở, lòng cứ nôn nao hòa nhập trong những nôn nao có quần áo mới, có tiền lì xì, có pháo đốt thả giàn, có những trò vui chơi trong ngày Hội Làng…Cho đến bây giờ, vẫn cứ còn giữ mãi độ ấm nồng ngầy ngật mỗi độ Xuân về. Ấm nồng ngầy ngật bởi lẽ, duyên nợ trăm năm đã gắn bó đời tôi với tà áo tiểu thư ở một trong những ngôi nhà trên khoảng đường rất ngắn, của ngày xưa, đó…
Những ngày cuối Chạp, đứng ở Xóm mà nhìn về hướng núi là cả một thảm hoa hồng thắm chạy dài từ Cam Ly Hạ ngược lên Dốc Trời ngút ngàn vô sâu tận Rừng Dẻ. Tầm nhìn tuổi thơ chỉ chừng giới hạn nhưng trí tưởng tượng thì dặm dài xa ngất. Tôi nghĩ rừng Mai chắc vô cùng tận, không chỉ ngừng ở Rừng Dẻ vốn đã là quá xa, chắc còn sâu còn xa hơn nữa. Ở chỗ núi mờ xanh thẳm mịt mùng…
Mấy anh trai Xóm thì nghĩ ngợi gần hơn.
Đâu cần phải xanh thẳm mịt mùng làm chi cho mệt. Chỉ cần vào khu rừng Mai Cam Ly Hạ mà đem hương sắc mùa Xuân về trang hòang nhà cửa.
Buổi sớm mai dằn mấy chén cơm cho chắc bụng rồi sẵn sàng dao, rựa rủ nhau đông đảo tới rừng Mai. Khi chọn cành Mai ưng ý là đã đắn đo ước lượng khoảnh rộng hẹp của phòng khách, nơi sẽ được chưng bày cành Mai giữ hương sắc mùa Xuân, cũng chính là nơi làm rạng nét nhà. Phòng khách rộng mà cành Mai nhỏ thì bất xứng, lại bị thầm chê là hòan tòan không có khiếu về mỹ thuật. Cành Mai to đùng mà chưng ở phòng khách quá nhỏ thì có vẻ như là khoe khoang, giựt nổi. Rồi cũng phải tính tóan khít khao làm sao hoa sẽ nở rộ vào đúng những ngày Tết. Nụ nhiều quá thì không tốt mà nở sớm quá thì cũng không tốt luôn.
Đến chúc Tết nhà, việc đầu tiên là liếc thầm một cái về phía cành Mai được trang hòang trong phòng khách, để đánh giá và so sánh. Đánh giá trình độ nghệ thuật của chủ nhà và sẵn đó, so sánh cành Mai của nhà chủ với nhà mình. Chủ và khách, rất nhanh, bắt gặp ánh mắt nhau ở cái liếc thầm này trước khi bắt tay nhau. Sự ganh đua, so sánh không hề to tiếng, chỉ lén thầm nhưng đã thành ước lệ. Thầm nhận biết mình thua hay tự hào mình hơn cũng chỉ là cảm giác buồn, vui nhỏ như tiếng pháo chuột so với tiếng pháo cối, vậy thôi. Nhưng mà cũng phải liếc chớ, thiếu đâu có được!.
Vô hình trung, đã thành một tục lệ âm thầm, ở Xóm quê tôi. Cho nên nhiệm vụ của mấy anh đi chặt cành Mai chưng bày đón Tết là đi mang sứ mạng trong người, có phải chơi đâu…
Ngòai cành Mai là tiêu biểu lớn, còn có hoa Vạn Thọ, hoa Cúc và cao sang quyền quý yểu điệu thục nữ quân tử háo cầu là hoa Lan.
HoaVạn Thọ, Cúc đơn, Cúc đại đóa thì hầu như, ít nhiều, nhà nào cũng rộ. Trồng trong chậu để cầu kỳ dành riêng cho ba ngày Tết . Trồng trước sân nhà làm cây cảnh tự nhiên.
Riêng về cái khoảng hoa Lan thì khó cầu nên chi rất hiếm. Cũng muốn có một chậu Lan để khi người đến chúc Tết , cố theo dõi cái liếc thầm của khách, mà thấy sướng vui trong bụng.
Nhưng mà đâu có dễ bởi vì hoa Lan thiệt như là con cầu tự, khó nuôi khó dưỡng. Nắng thì bất ưng lạnh thì bất ổn. Phải dành một khu đất riêng có giàn rào che chắn gió, có mái chống nắng tránh mưa. Công sức và tiền của bỏ vô đó cũng bộn bề. Chưa nói tới chuyện phải tìm tòi học hỏi trao đổi về kỹ thuật qua sách vở, qua thực tế kinh nghiệm. Phải đong đo cân đếm khí hậu thời tiết thay đổi từng mùa mà liệu chừng tìm phương cách cưng chiều chăm chút thúc ép cho hoa nở đúng thời. Nở sớm quá thì mất duyên. Nở trễ quá thì…hết Tết rồi, nở làm gì nữa !
Miếng bỏ bụng đói no ngày tháng còn chưa lo tới được nói chi chuyện chăm lo cho đời sống cao sang của lòai hoa vương giả. Và, nói cho cuối cùng, cũng chỉ nhằm để thỏa mãn, đắc ý cho một cái liếc thầm của khách. Cao xa quá! Nhiêu khê quá! Làm sao mà liếc cho tới đây ! Thôi thì cứ liếc thầm một cành Mai chưng Tết, đủ rồi !
Tết cũng là dịp để vui chơi sau một năm dài cực khổ trong việc mưu sinh. Cũng là dịp để gia đình đòan tụ. Đồng tiền chắt bóp, dành dụm được trong năm đổ dồn cho ba ngày Tết. Mang công mắc nợ ai thì lo thanh tóan sòng phẳng trước khi bước qua năm mới. Cố dọn dẹp thu vén cho lòng dạ nhẹ nhàng không còn cứ đeo nặng những rủi, buồn năm cũ để chuẩn bị sẵn sàng tống-cựu-nghinh-tân. Đón năm mới với tấm lòng bao dung hương trầm, ngọt ngào dẻo thơm miếng mứt. Và, tận hưởng ba ngày Tết cho giòn dã như pháo…
Tiếng là nói vui chơi ba ngày Tết nhưng có chừng mực như vậy đâu!. Có nơi vui chơi từ mồng-một cho tới mồng-mười. Qua ngày mười-một tháng Giêng thì không nghe ai nói mà cũng không có tự điển nào ghi là mồng-mười-một. Như vậy, có nghĩa là, hết mồng, hết chơi !
Có nơi vui chơi thả giàn tới cuối tháng Giêng.
Nói chung, Tết là không có ai làm mà chỉ chơi. Cũng không có ai buồn mà chỉ vui. Nhưng mà có gì để chơi cho vui đây?.

Thì có Hội Làng Mùa Xuân đó !
Hội Làng Mùa Xuân, nói gọn nhẹ là Hội Tết, ở quê tôi Làng nào mà không có.
Tuổi thơ tôi rưng rức những kỷ niệm mang vẻ dáng mộc mạc chân quê, đầy đặn sắc thái và đặc thù tính dân tộc của Hội Làng Tết. Ngầy ngật cho tới cả bây giờ.
Tiếng chiêng trống vang lừng và tiếng pháo nổ dòn tan báo giờ khai Hội của một buổi sáng Mồng Một Tết năm nào, và cả nhiều năm sau đó trong tuổi thơ, còn đọng lại đâu đây. Bà con lũ lượt về hướng sân Đình chờ giờ mở Hội khai Xuân.
Tôi thấy cả một bức tranh quê sống động.
Thấy chú Tiết Nhơn Quý ôm chai rượu đi ngang giữa đường Làng, gặp ai chú cũng cười. Một tiếng cười là thêm một ngụm rượu. Ba ngày Tết chú cứ đi ngang, không thèm đi thẳng.
Thấy mọi người mặc quần áo mới, nói cười hễ hả. Gặp nhau và chúc tụng nhau.
Thấy Ba tôi, ôn Cai Hòanh, khăn đóng áo dài đang giục giã ba hồi trống lệnh. Bên kia, bác Ba Cận, tiếp chiêu với ba hồi chiêng vang lừng.
Thấy anh Bé, trưởng tràng nhóm Lễ sinh, hai tay trịnh trọng nâng cây đèn sáp đi từng bước theo nhịp trống. Những bước chân bài bản, nhấc cao lên rồi hạ xuống, vững chắc nhịp nhàng. Anh dừng lại trước tràng pháo dài được treo từ cây nêu cao ngất. Tiếng trống, từ nhịp khoan thai, trở điệu liên hồi gióng giả hòa với tiếng chiêng nghe rộn cả lòng. Ngọn lửa được châm vào ngòi pháo báo giờ khai Hội ngày Xuân. Anh lạng người chạy lẹ, tránh pháo. Đám trẻ tụi tôi thì tranh nhau nhào tới để giành giựt những chiếc pháo xì. Bà con xoa tay hớn hở, tìm chỗ vui Xuân.
Đầu tiên là phải tới thăm đám bầu-cua-cá-cọp hay mấy tay tráo bài ba lá. Văn nhân thì khai bút đầu năm. Thường nhân thì đâu có tài nhả ngọc phun châu, bút mực đâu mà khai! Khai bạc đầu năm để thử thời vận cũng tốt. Có người thì chừng mực. Có người thì quyết đấu!. Nếu thử thời vận thì chỉ một hai ván cho biết chừng số đỏ, số đen đầu năm rồi lo kiếm đường qua trò chơi khác. Ăn bạc thì mừng rơn vì tin là năm tới mình sẽ phát tài. Thua bạc thì buồn trong bụng vì nghĩ là năm tới số mình đen vận. Nhưng dẫu sao cũng cố vớt vát được vì sực nhớ còn có câu “đen bạc đỏ tình”. Câu nói thiệt như là lời an ủi cho vận hạn rủi may. Năm mới không có bạc nhưng có tình thì cũng coi như là, không đỏ, mà hồng. Hồng tất nhiên là phải tốt hơn đen.
Rồi nghĩ cho cùng, cũng thấy kẹt. Với mấy tay còn độc thân vui ( hay khó ) tính mà được tình thì coi như buồn ngủ gặp chiếu manh, như mèo thấy mỡ. Mấy tay vợ con đùm đề mà được tình thì chắc là lụy.
Còn tính chuyện quyết đấu thì chẳng khác gì đem đồng tiền làm lụng cả năm trời mà lì xì mừng Tết cho mấy sòng bầu-cua-cá-cọp hay mấy đám bài ba lá.
Không tin ngó anh Cu Lập, con thím Nghi, ngồi ở góc sân nhà chú Thưởng uống rượu tì tì. Ai cũng lấy làm lạ, bởi hồi nào tới giờ anh có uống rượu đâu! Uống trà đậm còn say mà! Hỏi ra mới biết tại vì anh thua tới cháy túi vì sòng bầu-cua-cá-cọp nên uống rượu tiêu sầu ! Sầu thì không (hay chưa) tiêu mà chỉ thấy khiêng anh về nhà nằm rẹp thẳng cẳng, chẳng thèm dậy ăn Tết.
Rồi còn chú Tư Lãm đi lên đi xuống ở đường Làng, mặt mày ngơ ngác dáo dác tìm quanh. Ngày Xuân mà gặp ai chú cũng không có lời chúc Tết mà như có ai chúc Tết, chú cũng cứ bỏ ngơ. Hỏi ra mới biết chú vừa bị mấy đám bài…ba láp nó …táp hết tiền rồi!
Đi lên đi xuống dáo dác nhìn quanh là đi tìm lại tiền đó mà! Chắc là thua đậm mới lậm hồn vía tới tầm cỡ đó !.
Khai bạc đầu năm chi mà quá bất nhẩn vậy trời !

Đồng tiền được lì xì đầu năm mới thì thể nào tôi cũng mua một con gà đất của một ông nào lạ hoắc, không phải dân miền tôi ở. Tiếng nói ông lơ lớ, da màu nâu sẫm, tóc hơi xoắn. Tôi “ngửi” ông có mùi biển mặn. Chắc là ông từ miệt Tháp Chàm, Phan Rang, Phan Rí. Gà được bày hàng trên chiếc chiếu lớn. Đám con nít bu quanh tranh nhau lì xì tiền cho ông. Có qua có lại , ông cũng lì xì gà đất không hở tay. Mỗi ngày ông bán hết một vuông chiếu lớn gà rồi ngày sau gà lại nở ra thêm một vuông chiếu lớn nữa. Gà đất mà đắt như tôm tươi bởi đám nhỏ tụi tôi mê mệt con gà đất này quá sức. Nó thiệt ngộ nghĩnh về hình dáng, màu sắc mà còn biết gáy nữa. Đầu với đuôi được nối bằng lớp giấy rất dày. Hai tay cầm đầu cầm đuôi rồi đẩy tới đẩy lui, nó gáy nghe rất lạ. Nếu không muốn cầm mà đẩy thì ở cuối đuôi có khoét một lỗ nhỏ, tròn. Kê miệng vô mà thổi, lực hơi đẩy mạnh cái đầu nó nhỏm tới, nó cũng gáy nghe rất khoái. Nó được làm bằng đất nung. Chắc chắn là được đúc khuôn rời từng mảnh rồi gắn với nhau bằng lớp keo dính vì thấy đầu đuôi cũng y dạng. Toàn thân sơn màu đất đỏ rồi được phết sơ sài chiếu lệ một lớp dầu bóng. Mấy nét vẽ vội vàng chủ yếu là phân biệt đầu với đuôi. Đầu thì có hai con mắt với lại mấy nét vẽ phết xuống tượng hình là lông gà. Đuôi thì ngòai cái lỗ nhỏ khoét sẵn, thêm vài nét vẽ phết ngược lên tượng hình là cái đuôi. Lớp giấy dày nối đầu và đuôi làm thân gà thì không vẽ vời lông lá gì cả mà loang vết dầu chắc là có dụng ý giữ cho giấy có độ dai để chịu đựng lực kéo. Nhìn chung thì nó cũng chỉ phảng phất hình dáng con gà. Tiếng gáy thì cũng chỉ nghe “ót, ót” chớ đâu có trầm bổng gì đâu. Mấy nét vẽ sơ sài trên phần đầu tròn vo với phần đuôi cũng tròn vo y dạng không phân biệt được gà mái hay gà cồ. Thật ra, cũng chỉ tự lòng ham thích đồ chơi lạ và trí tưởng tượng phong phú mà nó đã là con gà đất hằn dấu trong kỷ niệm ấu thơ để mà giữ mãi trong đời. Còn chuyện gà trống hay gà mái thì có gì mà bận tâm. Gà trống cũng được. Gà mái cũng được. Miễn là có con gà đất biết gáy để chơi ba ngày Tết là cũng được quá rồi!
Lại có thêm một ông nữa, bán heo đất. Đất nung và cũng được đúc khuôn rời hai mảnh rồi gắn lại với nhau bằng lớp keo dính. Hình dáng khá rõ ràng là một chú heo mập ú. Có đôi mắt được vẽ xếch ngược lên, nhìn như đang cười. Có cả hai cái tai nhỏ xíu . Có chùm lông đuôi đen nhánh ở cuối cái đuôi được đúc nổi cộm. Có bốn cái chân ngắn củn, mập tròn. Điểm chính yếu và quan trọng nhất để nó trở thành con heo đất là một rảnh nhỏ, dài đủ để bỏ tiền lọt vô trong cái bụng to bành. Tiền giấy thì xếp làm tư, nhét xuống. Tiền cắc thì cứ thả vô tự nhiên. Heo đất giữ lâu hơn, có thể giáp năm, để giữ tiền dành dụm. Nó cũng cất giữ cho tôi nỗi buồn vui. Cất giữ luôn tiếng khóc tiếng cười. Và, cũng giữ cho tôi quá nhiều kỷ niệm…
Con heo đất được cất giữ ở một nơi kín đáo thường là dưới gậm giường ở chỗ tối nhất. Mỗi lần có tiền để bỏ vô bụng heo mặc dù không có ai nhưng cứ nhìn quanh dáo dác. Tiền cắc bỏ vô nghe cái “rẻng”, sướng rêm. Tiền giấy xếp tư nhét xuống nghe tiếng giấy cạ vào thành lỗ “rẹt,rẹt” lại càng sướng hung. Lâu lâu, lại dáo dác nhìn quanh, lấy con heo đất ra cầm trên tay ướm chừng độ nặng, nhẹ. Thể nào cũng phải lắc lắc vài cái để nghe tiền cắc đánh nhau trong đó rổn rảng, tiền giấy đẩy nhau trong đó sột soạt. Thời điểm để khui heo đất là dịp cuối năm.
Nói là khui heo đất, thật ra, thì không đúng. Phải nói là đập heo đất nghe đúng nghĩa hơn. Cầm con heo đất mà xáng xuống nền nhà nghe một tiếng ”bộp”. Cầm cái búa hay cục đá, hòn gạch đập mạnh vào con heo đất nghe một tiếng “bụp”. Dù cho “bộp” hay “bụp” thì cũng cảm thấy sướng tay. Cảm giác sau đó là “đã” con mắt khi thấy tiền lâu ngày kìm hãm được dịp túa ra. Tiền giấy ôm tiền cắc sõng sòai la liệt. Cảm giác cuối cùng sau khi đã sướng tay mãn nhãn là nỗi buồn vui lẫn lộn. Vui là vì cứ nghĩ là lâu nay mình bỏ tiền vô ít mà bây giờ sao mà ùa té ra nhiều dữ vậy! Buồn là vì cứ đinh ninh mình bỏ tiền vô nhiều mà sao giờ nhảy ra có chút đỉnh ! Buồn với vui cũng chỉ là cảm giác bất chợt rồi qua đi như tiếng “bộp” hay tiếng “bụp” thôi! Điều đáng nói lâu dài là có mớ bạc giắt lưng để rong chơi ba ngày Tết.
Khi đã có mớ tiền rủng rỉnh thì cũng tính chuyện tiêu pha nhưng phải nhớ là mua một con heo đất khác để cuối năm còn có dịp mà “bộp” hay “bụp” một cái cho buồn vui lẫn lộn.
Cũng đừng quên là có gian hàng mới lạ, mang vẻ dáng văn minh thành phố mà lâu nay làng quê chợ xóm không thể nào có được.
Đó là gian hàng nước đá nhận xi rô.
Không kể đám con nít tụi tôi mà cả nam phụ lão đều đứng đông nghẹt để chờ nắm cho được cục nước đá có màu xi rô xanh, đỏ,tím,vàng mà mút chùn chụt.
Đám con nít tụi tôi cầm cục đá nhận xi rô mà mút kiểu đó thì là chuyện bình thường, có khi còn thấy dễ thương. Tầm cỡ như bô lão, phụ lão, thanh niên, thiếu nữ mà mút, cũng chỉ là kiểu đó thôi, thì coi đã không bình thường mà thiệt là dễ nực.
Có mấy ông, chắc cũng tại vì răng cỏ lung lay chịu không siết hơi đá lạnh, nhịp mút không được sung. Nước đá quyện với nước xi rô chảy dính râu tèm nhẹp. Có mấy chị, chắc vì khóai khẩu mùi vị thơm ngọt của nước xi rô lại thêm hơi mát lạnh của cục đá nhận, cứ ngẩng đầu lên mút cố mạng. Vừa đi vừa mút đụng ai nấy chịu.
Mà cũng đúng thôi!
Thuở nào tới giờ ở Xóm quê làm gì có cục nước đá mát lạnh! Đã vậy lại còn có cả nước xi rô, tìm ở đâu cho ra mà hưởng! Nay, vừa có đá lạnh vừa có nước xi rô thì bu đông đen tìm của lạ là đúng ! Còn mút cỡ nào miễn tận hưởng cho tới bến là được rồi.
Buôn một lời năm, mười chớ đâu phải chơi đâu! Cục nước đá được bào nhuyễn rớt xuống cái ly đầy vun. Nghĩ thì đầy vun hào sảng vậy đó chớ khi nén xuống, nó chỉ còn có tới gần nửa ly thôi. Có thêm tiết mục hỏi khách hàng ưng ý xi rô màu gì?. Xanh đỏ tím vàng tùy theo ý thích, mà nếu ưng có nửa màu này nửa màu kia cho lạ mắt thì cũng được, không phiền hà gì. Cầm chai xi rô xịt vô rồi lật ngược cái ly thổ nhẹ. Cục đá tẩm màu rớt ra, cứng ngắt. Một tay đưa cho khách một tay lấy tiền bỏ hộc. Tòan tay trần năm ngón, không có ly dĩa giấy lót rườm rà. Cái thú của món đá nhận xi rô là cầm vừa mát tay mút vừa mát miệng lại mát cả lòng.
Trước sau cũng chỉ tòan là nước, vậy mà bà con cứ đứng xếp hàng đóng tiền vui vẻ, thoải mái.
Tôi rõ chuyện này lắm vì ông chủ gian hàng bán nước đá nhận xi rô có phải ai đâu xa lạ, là ông chú họ của tôi mà. Chú Thành đó.
Chú đứng tên xin Ban Hương Chức Làng một lô đất để bán nước giải khát . Làng thì không thắc mắc miễn có xin phép, có đóng tiền mua lô, có đóng thêm một vài khỏan tiền qui định là được.
Nhưng mà Thím tôi thì thắc mắc, cứ gặn hỏi chú hoài. Khi biết được cái tên nước giải khát gì mà lạ, trước giờ chưa nghe, thì thím ngồi buồn xo như chiều ba-mươi-tết. Thím làm mình làm mẩy không chịu gói bánh, không thèm làm mứt. Thím đình công luôn cái vụ mặc áo đẹp, nhồi phấn thoa son cho chú nhìn ngắm ba ngày Tết.
Lý do mà thím giận thím hờn cũng thiệt là đúng. Ai đời cái xóm đèn dầu quanh năm suốt tháng, nhà nào sang cả lắm thì cũng chỉ một cây đèn manchon, cũng được bơm và thắp sáng bằng dầu, mà tính chi tới chuyện xa vời khó tưởng. Nước suối nước sông thì có chớ nước đá, tìm đâu! Rồi còn cái nước xi rô xi ra đỏ tím xanh vàng chi đó, là cái nước chi?. Chắc là ông qua bên Tây, bên Mỹ ông kiếm đưa về. Thím trách chú là mộng tưởng xa vời, ngồi thắp cây đèn dầu mà đòi uống nước đá “giận” với “xi rồ”( chắc là ý của Thím muốn nói khéo là thím giận chú điên rồ!).
Chú giải thích, phân tích mấy thím cũng không nghe. Năn nỉ quá chừng, cuối cùng, thím chịu theo chú tới gặp Ba tôi để bàn chuyện phải trái nên hư. Nghe qua lời Thím phân trần, cuối cùng, Ba tôi phán :”Thím yên tâm về gói bánh, làm thêm mứt món ăn mừng. Chuyện này để chú nó lo”. Thím liếc Ba tôi một cái, nhưng mà không dám bén, như khi liếc một cái cho chú. Bởi vì, Ba tôi là kẻ lớn trong Họ, lời nói phải nặng cỡ bao tạ. Thím là vai em, là dâu về gởi Họ, khó cãi lời. Về thôi !
Ba tôi mạnh miệng là vì ông biết quá rành về chú . Chú đã từng theo học nghề của Ba tôi mấy năm mà chậm lụt không ra gì, cuối cùng thì có ý lơ là bỏ cuộc. Bù lại, chú có đầu óc kinh doanh, nắm bắt thời cơ rất nhạy. Dám đi buôn bò ở tận miệt Gia Lai xa tít cả năm mười ngày rồi lùa bò về. Lặn lội lên tới miệt Suối Vàng vô các làng Thượng trao đổi heo, gà, đồ đồng, đồ cổ các loại. Bươn chải tới miệt Phan Rang, Phan Rí buôn vịt con, chum, vại, đồ đất, đồ đồng…Nói chung,việc gì nhắm có ra hơi tiền là chú nhào vô kiếm chác. Không có lần nào thua hết. Thiệt đúng như lời anh Kiệt nói là “độc cô cầu bại”. Nay vợ chồng cùng tìm tới vấn kế làm ăn thì phán một câu như vậy là đúng sách. Tay này thì đâu có phải vừa, trước khi tới thì đã có vạch sẵn kế hoạch làm ăn, tính tóan lỗ lời rồi. Chẳng qua tới để tìm đồng minh đó thôi !
Phần chú, được lời của Ba tôi, chú làm liền. Nước đá thì đâu có khó khăn gì. Hợp đồng( giá hợp đồng nhẹ hơn nhiều lần so với giá mua lẻ) với hãng nước đá ngòai phố. Chỉ cần nhân sự và xe đạp thồ về. Có đá là phải nghĩ tới biện pháp giữ cho lâu tan, cũng không khó. Trước tiên là đóng một cái thùng gỗ thật lớn trét dầu bên trong cho kín hơi. Sau là tìm trấu và mạt cưa để ủ đá trong thùng giữ độ lạnh. Tòan đồ phế thải vừa bán vừa cho cũng không thèm đau lòng. Trấu thì phải xuống tận vùng Đức Trọng tốn chút tiền xe chuyên chở. Mạt cưa thì xuống trại cưa Ngọc Dung gần phố, thồ về. Việc quan trọng, cuối cùng, là đặt làm một cái bàn bào nước đá. Bàn bào bằng gỗ thì đã có bác Hai Mộc vừa…qui cố hương đó, chỉ hì hục vài tiếng đồng hồ là xong. Lưỡi bào bằng thép thì tới chú Tùng thợ rèn, hì hục lắm thì cũng mau hơn hay lâu hơn bác Hai Mộc vài phút, cũng là xong.
Tính tới giai đoạn hai là nước xi rô xanh đỏ tím vàng. Đi qua Tây qua Mỹ làm chi, chỉ cần đích thân chú tôi nhảy lên xe đò Minh Tâm về gặp mấy chú ba ở Chợ Lớn. Ở đó thì xanh đỏ tím vàng đủ hạng. Hạng nhứt . Hạng nhì . Hạng ba . Muốn bao nhiêu cũng có. Mua nhiều thì tính giá sỉ, xoa bụng cười hề hề, tặng thêm một chai níu khách.
Tính ra, chịu khó bôn ba xoay trở rồi bỏ ít vốn vô đó mà lời khẳm ghe. Nói theo lời anh Kiệt, chú quả là tay hảo thủ, bất ngờ trở cú tuyệt chiêu hoàn tòan mới lạ để bà con tranh nhau đóng tiền cho chú thả được một cặp heo vô chuồng, gầy thêm hai cặp gà, mua tặng cho thím một chai nước hoa Bông Hồng, hai cái lược ngà ( một cái răng sưa để chải tóc, một cái răng sít để chải chí), một chai dầu gội đầu Bồ Kết, một đôi guốc gỗ sơn bóng có in chìm hoa Sen. Quan trọng nhứt là một gói giấy cho thím bỏ lẹ vô tủ khóa cẩn thận. Tới lúc này thì thím cười. Chú giả bộ hỏi thím còn chê đá “giận” với “ xi rồ” không?. Thím háy chú một cái rồi giả lơ làm như là không nghe. Thiệt là !. Đàn bà là chúa giả lơ. Đàn ông là vua giả bộ.
Tôi thì không giả lơ mà cũng không thèm giả bộ, cứ giả thiệt đứng xớ rớ chờ ở gian hàng của chú. Cứ đứng chình ình trước mặt chú thì chú không thể nào giả bộ không thấy được cho nên chú phải nhận cho một cục nước đá đậm màu xi rô đưa tận tay. Giả bộ cười vui và cũng giả bộ quên lấy tiền bỏ vô hộc. Bề nào cũng phải nể tình Ba tôi, người đã nói một câu nói lót đường cho chú hốt bạc. Tính ra một ngày tôi giả thiệt cũng tới bốn năm lần. Lần nào chú cũng “tiếp chiêu” gọn, đẹp. Thiệt, đúng là tay hảo thủ!
Vừa mút đá nhận, vừa coi đá gà. Hết một độ gà thì lại vội vàng chạy qua gian hàng chú mà giả thiệt đứng sớ rớ. Khi chú giả bộ cười vui đưa cục nước đá nhận là vòng ngược lại qua sân gà cho kịp độ mới.
Sôi động, hào hứng nhất Hội Làng là sân đá gà. Anh hùng tứ chiếng khắp mọi miền nườm nượp kéo về, tay ôm con gà dị tướng, lông lá trụi lủi mà da dẻ thì đỏ ngầu. Ở xa tít dưới vùng Trạm Hành, Đơn Dương, Đức Trọng cũng lặn lội tìm lên. Ở mút tận Lạc Dương, Suối Vàng cũng tìm xuống. Bà con bu đông như kiến, la ó cãi vã nhau om sòm. Mấy tay chuyên nghề cá độ thì coi như ăn ở tại chỗ, bám sân từ sáng cho cho tới giờ mản cuộc. Quần áo xốc xếch, tóc tai bờm xờm thiệt chẳng giống ai.
Ở Xóm nghèo quê tôi, nuôi gà đá truyền đời là phải kể tới ôn Tôn Lạc. Sống gần như nghề độ nhật là chú Sáu Cử, chú Phú. Sau này, lớp hậu duệ, có dượng Đát là tay nuôi gà đá bài bản, có nghiên cứu sách vở. Đã từng chiếm giải nhiều độ gà suốt mấy Hội Làng Xuân. Lớp đàn em nữa, có ông bạn Cu Lu ( là tên thường quen gọi ở Xóm chớ ra khỏi lằn ranh Xóm nhỏ là Hồ Ngọc Sơn chớ không có lu, vại gì nữa). Có chú em Tôn Thất Thuận (con của ôn Tôn Lạc, rể của võ sư Sáu Trọng). Gà của chú thì tôi chưa coi được trận nào nhưng có nhiều lần đi coi chú thượng đài tỉ võ nhiều trận ở sân vận động Thị xã.
Cũng còn mấy tay nữa nhưng mà thuộc loại nuôi gà tài tử.
Hội Làng Xuân mà không có sân đá gà thì đâu có ý nghĩa gì!. Tôi cũng góp mặt cho vui vậy thôi chớ không đành lòng nhìn cảnh bại vong của mấy con gà xoải cánh, quỵ chân, lê lếch, máu me nhầy nhụa…Thắng thua hào hứng là từ những đồng tiền cá độ của những tay chuyên nghề và cả những tay ăn theo. Tôi có đứng đó chẳng qua là vì sân gà gần kế bên gian hàng đá nhận xi rô. Chạy qua , chạy lại cho tới lúc mút đá đã thèm là tìm đường đi qua gian hàng khác…
Hội Làng chỉ đúng ba ngày rồi im ắng nhưng vẫn còn giữ mãi hình ảnh vui nhộn cho hết tháng Giêng.
Đến bây giờ, tôi cũng không nhớ vào khoảng thời gian nào, không khí sôi nổi rộn ràng của Hội Làng Xuân chìm khuất và mất dấu trong những ngày Tết.
Có lẽ là từ ngày cuộc sống làng quê đã dần thay đổi theo đà văn minh tiến bộ. Những con đường đất gập ghềnh đã được san bằng, trải nhựa. Ánh điện đã tràn tới đuổi xua những ngọn đèn dầu leo lét. Cục đá nhận xi rô đã đi vào quên lảng. Đã có nước đá cục trong những chiếc ly thủy tinh khi uống beer nhãn hiệu con Cọp hay nước ngọt hiệu Vina, Phương Tòan. Trống chiêng cũng thưa thớt dần không đủ sức kéo ùa theo không khí Tết. Chú Tiết Nhơn Quý đã đổi “gu” màu rượu trắng ra màu nâu đậm của các vị thuốc Bắc phương. Bộ quần áo bà ba đen bạc cũng mất dấu để nhường cho cho bộ quần áo mang dáng vẻ Tây phương.
Con gà đất đâu rồi trên vuông chiếu lớn!
Con heo đất cũng lần hồi biến dạng. Dáng vẻ tân kỳ, màu mè sặc sỡ hơn, trơn láng hơn, to nhỏ đủ hạng . Cuối cùng rồi cũng bỏ đi đâu, tìm không ra!
Tôi cũng đi, không về Xóm nhỏ. Hàng xóm láng giềng lớp còn ở lại, lớp bỏ ra đi. Đi về đâu không biết trong cuộc bể dâu…
Hàng năm, những ngày Tết, tôi chỉ còn lại trên vuông chiếu đời của một thời thơ ấu, những hình ảnh gìn giữ cả một trời quê quyện ngát hương trầm và mùi pháo Tết.
Tháng Giêng, Hai ở đây thì quê nhà đã là cuối Chạp, chuẩn bị sẵn sàng để tống cựu nghinh tân.
Rừng Mai hồng giữ vẻ dáng mùa Xuân níu kéo những cái liếc thầm mang ước lệ của Xóm quê xưa, nay đã không còn…
Nhưng vẫn còn trong tôi, vẫn còn, trong lòng những người cùng chung Xóm cũ hình ảnh rộn rịp đông vui khi tiếng pháo khai hội ngày Xuân nổ giòn níu kéo thân tình cho nhau suốt ba ngày Tết.

Những người xưa cũ nay đâu ! Có còn giữ lại mùa Xuân như tôi đang giữ hay là như con heo đất nghe “bộp” hay “bụp” một tiếng thiệt quá đã mà không thấy đồng tiền nào túa ra…Bởi có dành dụm gì đâu ! Hay có dành dụm nhưng cứ móc dần ra tiêu pha ngày tháng mất rồi !

Cuối cùng, chỉ là trống vắng…

Hiên Trăng, những ngày Tết quê xa
TRẦN HUY SAO
(tuyển tập Thơ Văn Viết dưới Hiên Trăng, 2018)

LỄ HÔI HOA

1. Mùa lễ hội thứ nhất kế hoạch của nhóm bị phá vỡ chỉ bởi một lý do mới nghe ra thì có lý, nhưng ngẫm lại thấy … lãng xẹt: Tuấn và Hương giận nhau! Nhóm bốn người, có hai người ngoảnh mặt làm sao vui, một con ngựa đau cả tàu chê cỏ huống chi đến hai con ngựa cùng “đau răng” (ê ẩm)! Nghĩ lại, đời có bao ngày vui mà cứ mãi giận hờn – lãng nhách! Mất công Thành năn nỉ ông anh cả tháng mới mượn được chiếc Jolie, chuẩn bị cả tuần lễ củi lửa, xăng, nhớt … Cuối cùng xôi hỏng bỏng không! Buổi tối Linh nằm nhà coi TV. Thấy cả muôn hồng ngìn tía hoa là hoa, đâm ra tức Hương tánh hay hờn, hở chút là dỗi, và bỗng dưng thấy … tội nghiệp cho Tuấn, bao năm sống chung với … õng ẹo.
2. Mùa lễ hội thứ hai, Thành tậu được chiếc Everest – cũ người mới ta. Hết sạch bao nhiêu năm đi làm công ty nước ngoài. Lần này Thành la lớn với cả hội: “Có giận nhau thì ráng làm hòa sớm. Đừng để đến giờ chót làm cụt hứng nghen!”. Cả tuần, cứ hết giờ làm việc Thành lại chui vào ga–ra hì hục với chiếc xe, mặt mũi lấm lem, gắn cái này, thêm cái kia, chỉnh thứ nọ….
Và cái giờ “hoàng đạo” cũng đến. Thứ bảy, xong bửa cơm trưa văn phòng cả nhóm ba lô lên đường. Lái xe tất nhiên là Thành, Tuấn ngồi ghế trước giữ trọng trách làm cho Thành không buồn ngủ và “canh giùm mấy thầy bắn tốc độ” – Thành nói. Phía sau là Hương và Linh, có nhiệm vụ bóc trái cây, tiếp bánh kẹo, nước khoáng … cho phía trước. Vừa đi, vừa nghỉ, vừa.. tiếu lâm lên đến thành phố hoa là lúc cao điểm của những chiếc xe hoa tiến vào khu lễ hội. Cả rừng người và hoa rùng rùng, nhảy múa. Rộn ràng, náo nức! Nhìn đâu cũng thấy hoa, hoa trên đồi, hoa trên vỉa hè, hoa trước nhà, hoa trên dốc, hoa trước mặt, hoa sau lưng….
Chiếc xe của Tuấn nhích từng chút, len giữa người và xe và hoa đến khách sạn mất cả tiếng hơn. Nhận phòng, tắm rửa qua loa, cả nhóm kéo nhau xuống phố tìm thứ gì bỏ bụng. Đường chật như nêm, quán nào cũng nghẹt người. Kiếm được một chỗ ăn thật quá nhiêu khê! Hương và Linh sợ không tìm được chỗ tốt trên khán đài nên đưa ra sáng kiến mua bánh mì vào lễ hội vừa ăn vừa xem, một công đôi việc được sự đồng thuận nhanh (khó mà tạo được tiếng nói chung như thế này!)
Phố ken dày áo len, người người vội vã như chiều ba mươi tết. Từ trên dốc nhìn xuống lộn xộn đủ màu sắc và âm thanh. Hoa mắt, rối tai! Trời lạnh nhưng ai cũng thấy nóng. Tại hàng rào chắn bảo vệ vào khu vực lễ hội hỗn loạn bởi sự chen lấn xô đẩy. Tuấn thuộc tuýp người thích tiện nghi và mau nản đưa ra ý tưởng bỏ cuộc đầu tiên :
– Vất vả quá! Về khách sạn coi TV cho rồi!
Linh nhìn bao quát không gian chật chội xung quanh. Một người chồng cõng vợ cũng ráng chen vào. Những ông bố, bà mẹ có em bé ra sức bảo vệ cho con mình được an toàn trong dòng người dạt xô ấy. Thành bàn:
– Ngồi đâu đó uống nước, ăn bánh mì rồi tính tiếp.
Chẳng tìm được một chỗ ngồi nào khả dĩ, cả bọn chồm hổm trên vệ đường nạp năng lượng vào bao tử. Khi mấy ổ bánh mì được thanh toán hết. Hương đưa ra sáng kiến vào hội chợ. Và thế là bốn người kéo nhau đi.
Sà vào hàng quần áo, Linh mua cho mẹ tấm khăn choàng. Thành mua cho em gái chiếc áo cổ lọ và mẹ một cái áo len…. Cứ thế cho đến khi hai tay xách đầy những chiếc bị. Thành và Linh lạc Hương và Tuấn lúc nào không biết.
Cuối cùng Thành và Linh cũng chen tìm được một chỗ ngồi trên khán đài. Gió lộng tứ bề. Chưa bao giờ Linh cảm nhận cái lạnh như vậy. Tai Linh ù đi vì gió. Cái lạnh làm cho cô phân tâm với những màn trình diễn rất ngoạn mục trên sân khấu. Quá nửa chương trình cô run lập cập. Thành lôi chiếc áo len mới mua choàng cho Linh nhưng cô vẫn không hết run. Thế là tất cả những gì có trong túi vừa mua ở Hội chợ được lấy hết ra sử dụng. Vớ, mũ, khăn choàng … Cả hai nhìn nhau cười như con nít không hiểu những thứ trang phục trên người bây giờ là thời trang gì nữa. Cuối cùng không chịu nổi gió lạnh Linh kéo Thành đứng lên rời khỏi khu lễ hội bỏ lại sau lưng giọng hát của cô ca sĩ và màn múa minh họa mà Linh rất thích.
Đêm đen tuyền, khô ráo và lạnh buốt. Con dốc đổ về phố hun hút hàng cây. Thành phố mờ tỏ ánh đèn, những mái nhà lô xô bên dưới con dốc, những mảng sáng tối chập chờn xao xuyến. Thành choàng tay qua vai Linh hỏi cô có lạnh không. Bất giác Linh rùng mình, cô cảm thấy dòng máu đổ về tim có cục nghẹn vô hình nào đó rồi thoáng qua nhanh. Dòng người từ dưới lên và từ trên xuống như những đàn kiến kéo đi tìm thức ăn. Bước chân hai người cứ thế mà đi, đi mãi. Linh không nhớ mình đã qua bao con đường, bao con dốc. Đến khi đôi chân mỏi nhừ, Linh níu Thành ngồi xuống vệ đường thì vừa lúc thấy Hương và Tuấn đi đến. Thành phố nhỏ vô cùng, không hẹn mà cùng gặp, cả bốn ngồi xuống bờ cỏ. Hương đêm từ một khu vườn nào đó tỏa ra không gian lạnh và khô một mùi ngai ngái, nồng nồng. Linh nhìn lên bầu trời đen, một biển hằng hà lấp lánh. Đêm tinh khiết và nồng nàn. Chẳng ai nói với ai câu nào cho đến khi Hương đề nghị đi tiếp lên trường đại học. Đã khuya lắm nhưng thành phố vẫn còn nhộn nhịp bởi lễ hội. Và như thế, bốn người lại tiếp tục cuốc bộ qua những con dốc dài. Trời lạnh chẳng ai thấy mỏi chân. Đi có mục đích mà như vô định bởi chẳng biết đích đến để làm gì. Đến khi những chỏm mái nhà cao trong khuôn viên trường đại học hiện ra trong tầm mắt cả bọn lại kéo nhau trở về. Đêm chuyển sang ngày mới. Vậy là hết một đêm khai mạc lễ hội không như háo hức, trông đợi. Sương xuống làm ẩm mái tóc và bước chân mọi người như trĩu nặng hơn. Linh cảm giác hai cánh mũi mình tê buốt. Đôi bàn tay lạnh đến nỗi cô không nắm lại được. Thành hỏi Linh có lạnh không và nắm lấy tay cô bóp nhẹ. Hơi ấm lan truyền vào cơ thể khiến Linh rùng mình lần nữa.
Cho đến khi về tới khách sạn, thả người xuống tấm nệm êm và chui vào tấm chăn dày, “Lần đầu tiên trong đời mới biết thế nào là hạnh phúc!“. Nói với Linh câu đó xong, Hương chìm ngay vào giấc ngủ. Linh còn thao thức một chút, cô nhớ đến cái choàng tay qua vai của Thành, cô thấy vạt hoa quỳ vàng rực thung lũng, có những con thú kết hoa đang nhảy múa và từng đàn bướm chập chờn. Trên mặt hồ nước rộng có cũng có những chú ong kết hoa vàng, những đóa cẩm tú cầu màu hồng lung linh, lung linh. Và có cả một thảm cỏ xanh nối đuôi nhau thành sóng đến tận chân đồi, ở đó có một vườn hồng dày đặc quả; những quả hồng đính vào cành cây khô như những vật trang trí cây thông noel. Thấp thoáng một nụ cười quen thuộc và ấm áp. Có đống củi khô vừa được đốt lên tỏa ra mùi nhựa thông thơm nồng. Đối với Linh có lẽ đó là một giấc mơ đẹp nhất trong cuộc đời. Hoa và mộng, thực và ảo đan xen nhau lung linh, huyễn mộng.
Sáng hôm sau, dù ê ẩm đôi chân nhưng cả bốn người cùng háo hức dậy sớm gọi nhau tranh thủ đi cho hết ngày chủ nhật để chiều về lại Sài Gòn. Đứng trên đồi cao nhìn xuống thung lũng tràn hoa trong khu triển lãm. Thành kêu Tuấn chụp anh và Linh vài kiểu. Chiếc áo khoác màu đỏ của Linh như rực rỡ hơn giữa muôn hồng nghìn tía. Linh nghe Thành nói thật nhỏ bên tai mình : “Ghi lại để làm kỷ niệm”. Câu nói nghe hơi “sến” và có vẻ mang chút hơi hám của sự chia tay. Linh ngước lên nhìn, cô thấy đôi mắt Thành trong veo, sáng ngời nhưng ẩn chứa một khao khát về một điều gì đó có vẻ xa vời tầm tay với, có thoáng chút buồn và da diết thế nào!
Trời đang đẹp bỗng đùng đùng đổ mưa ầm ào, bàng hoàng, thảng thốt. Linh thật sự lạc mất mọi người khi cô vội chạy vào trú trong một gian nhà hoa. Mưa ào ạt hết cơn này đến cơn khác, trắng xóa trên tầng cao mênh mông. Trong chốc lát khu nhà mấy trăm mét vuông như nêm bởi người, và ướt át bởi ai cũng mang theo vào một chút nước. Những tiếng trầm trồ và những tiếng trả giá giáng phũ phàng xuống những chậu hoa rất đẹp. Linh đi dọc theo dãy hàng hoa, đủ mọi loài hoa được tỉa tót, thúc bón kỹ lưỡng lướt qua mắt cô. Liệu những chậu hoa này sẽ tồn tại được mấy ngày khi mang về Sài Gòn? Linh dừng lại gian hàng Ikebana. Mấy chàng thanh niên người Nhật đang ra sức biểu diễn nghệ thuật cắm hoa truyền thống của xứ sở mình. Những cánh hoa bình thường dưới bàn tay phù thủy bỗng chốc ngự trị sáng rỡ trên những lọ hoa có kiểu dáng rất lạ. Linh bị cuốn hút vào đó rất lâu cho đến khi cô giật mình vì một bàn tay đặt lên vai : “Họ tự hào cũng phải nhỉ?”. Thành đứng bên cô lúc nào. Cả hai đứng lại bình phẩm một vài tác phẩm vừa mới hoàn thành, rồi kéo nhau đi. Mưa vẫn còn nặng hạt, rầm rào trên mái tôn. Gió thổi thốc từng cơn mang theo bụi nước li ti làm tăng thêm cái giá lạnh. Thành lấy di động bấm gọi Tuấn và Hương. Đường truyền tắc nghẽn, chỉ có tiếng ò í e. Mọi liên lạc đã bị phong toả bởi mưa, bởi không gian hạn hẹp của gian nhà. Mưa này có khả năng kéo dài đến quá trưa. Thành nhìn đồng hồ tay và anh quyết định chạy băng qua bên kia đường mang về hai chiếc áo mưa. Hai người rời khu vực triển lãm trong lúc mưa và gió giằng xé nhau, lạnh buốt.
Người tính không bằng trời tính. Hết một mùa lễ hội không như mong muốn.
Tuấn sau đó cũng rời công ty. Ba chiếc bàn làm việc trong phòng có ngay ba người khác điền vào chỗ trống. Chỉ mình Linh ngồi lại, thỉnh thoảng bước đến khung cửa sổ nhìn xuống đường, khối hình góc cạnh quen thuộc của ngôi nhà thờ và cái bùng binh luôn có những chiếc xe vòng quanh kéo lê trong suy nghĩ của cô một nỗi buồn. Ba năm qua vèo nhưng quá nhiều thứ để nhớ. Mọi điều đến rồi đi, ngôi nhà thờ dưới kia đã chứng kiến biết bao biến cố lịch sử và vẫn âm thầm tiếp tục trong vai trò làm nhân chứng. Kể cả những lần cô và Thành cùng đứng bên khung cửa sổ này nhìn xuống, cùng trầm trồ về khối kiến trúc quá hoàn hảo và tấm thảm xanh hiếm hoi ngự trị giữa lòng thành phố. Linh nhìn thấy hai cây thánh giá nhỏ xíu đậu trên hai khối chóp cao sao mà buồn và cô đơn quá!
Buổi chiều về nhà sớm Linh bật máy vi tính và để online. Cô hy vọng gặp ai đó để chia sẻ những cảm nhận về một lễ hội. Chẳng có ai online trong một buổi chiều gần hết năm tiết trời ráo rẻ và se lạnh như thế này. Thời tiết này không phải để ôm chiếc máy vi tính mà là dạo phố hay đi đâu đó. Dù nhớ da diết cái lạnh của Đà Lạt năm ngoái, nhưng giờ đây Linh không thể nào hình dung lại được nó đã lạnh như thế nào. Chương trình thời sự trên TV đang phát những tin tức về lễ hội sắp khai mạc. Khúc phim quay cận cảnh những đóa cẩm tú cầu, rồi cả đồi hoa quỳ vàng rực đến nôn nao. Linh bỗng cảm giác có mùi nhựa thông lẩn quất đâu đây. Cô bỗng triết lý, phải chăng những mối tình đẹp luôn có những cuộc chia tay buồn bã? Mimosa, anh đào, quỳ vàng đang nở rộ nhưng sao cô bỗng thấy buốt xót, ngậm ngùi.
Chuông điện thoại bỗng vang lên những hồi giục giã. Với tay lên đầu giường, áp ống nghe vào tai một giọng nói trầm và ấm vọng về từ rất xa:
– Anh đang ngồi ở một quán cà phê trên phố. Giờ là buổi sáng và trời đang rất lạnh dù nắng rất đẹp. Đà Lạt đang lễ hội hoa phải không em?
Linh nghe tiếng ghi-ta gần sát và thảng hoặc có tiếng xe chạy ào qua rất nhẹ. Thành nói :
– Em có nghe tiếng đàn của anh không? Anh nối máy cho em nói chuyện với Hương.
Chàng lãng tử và giấc mơ quá lãng mạn! Đối với Linh đó là quá đủ. Dù có mơ mộng đến đâu, chưa bao giờ Linh nghĩ Thành là một bến đỗ bình yên.
Tiếng đàn khoan thai, chậm rãi vào đoạn kết thúc, có những âm thanh dồn nén, ức chế của sợi dây đàn bị chận. Thành nhắc:
– Thẻ điện thoại của Thành còn 3 phút nữa.
Linh nhìn lên màn hình TV trước mặt. Những chiếc xe đạp hoa đang đi qua khán đài, những tà áo dài trắng ẩn hiện trong màn múa hoa đủ màu sắc. Lễ hội bắt đầu cùng lúc với tiếng ngắt tút tút trong điện thoại. Linh bước ra ban công nhìn xuống đường. Phố dưới kia lóng lánh trăm ngàn sắc màu, những cây thông nhấp nháy trong các cửa tiệm nôn nao đón chờ Giáng sinh – mùa của bình an và hy vọng. Cao nguyên đang vào mùa dã quỳ. Màu hoa của nỗi nhớ. Mênh mang. Ray rứt! Nơi đây chẳng bao giờ thấy hoa quỳ vàng để biết một mùa mưa đã qua, mùa đông đã đến và mùa xuân sắp về. Từ tiệm băng đĩa bên kia đường một giai điệu tha thiết, ngọt ngào hòa lẫn trong không gian sắc màu cuối năm một bài hát đã cũ đoạn điệp khúc mà Linh biết rất rõ có một nốt thăng và một nốt giáng cùng một nốt xuống trầm đột ngột: “Buồn hoài chi ta ơi, nơi ấy hoa vàng cho đẹp mùa sang. Đường mình qua lúc nào, giờ bước âm thầm, tình bỗng dâng trào…..”. Những con đường, góc phố, cao nguyên và mùa lễ hội đi qua như tất cả những gì đã đến cũng đều đã đi qua….

ĐÀO THỊ THANH TUYỀN
(°) Nói chuyện qua điện thoại trực tiếp một lần với nhiều người ở những nơi nhau.

Thi sĩ TRẦN THOẠI NGUYÊN: Đời Thơ – Phận Người

Trời lạnh, tôi đứng bên nầy sông Santa Ana, sau cơn mưa nước sông cũng chỉ như dòng suối, nhưng bên cạnh là mặt hồ rộng của công viên Centennial. Tôi tưởng tượng điếu thuốc Pall Mall trên môi và nhìn làn khói trắng tan vào trong gió, thói quen để chống trả cảnh hiu hắt và giá lạnh giữa biển khơi thuở nào. Hình ảnh đã xa lắm, nhưng hôm nay đứng đây, bất chợt tôi liên tưởng đến anh bạn Trần Thoại Nguyên (TTN), trên tay lúc nào cũng kẹp điếu thuốc. Và
mơ hồ, nhân vật Tất Đạt trong “Câu chuyện Dòng Sông” của Hermann Hesse. Hai nhân vật không liên quan gì với nhau, nhưng cùng lúc cả hai hiện hữu trong trí nhớ của tôi.

Trần Thoại Nguyên – người bạn kết nối từ những dòng thơ trên FaceBook – Tất Đạt và TTN mỗi người một tính cách. Tất Đạt, sau khi từ bỏ lý thuyết và những điều thầy (Cồ Đàm) dạy, đi tìm cho mình lý thuyết tốt đẹp hơn với một ý chí thép – đạt tới đích hoặc chết –

Còn TTN một mình, một cõi, không phe nhóm, không hội đoàn, chàng thong dong sống với thơ trong mơ hồ về Phật tánh, về triết lý siêu hình, bằng cảm giác và trải nghiệm của một thi sĩ.

“Tôi đi giữa lòng cuộc đời
Không hội đoàn băng nhóm.
Cánh cửa hồn thơ tôi
Mở ra những chân trời huyền diệu mộng!”
Trích – HUYỀN NGÔN THƠ.

Khi Tất Đạt theo hồng nhan Kiều Loan và đại gia Vạn Mỹ, sống trong trụy lạc, tham lam. Đời sống trở nên trống rỗng, nhàm chán. Lạc thú và của cải không thay thế được nhu cầu tri thức, Tất Đạt tìm đến bên dòng sông, làm người đưa đò với Vệ Sĩ – Người thực sự giúp cho Tất Đạt chứng nghiệm và giác ngộ.

Trần Thoại Nguyên, sau bão tố lịch sử, những xáo động của xã hội bắn tung chàng lãng tử rơi từ thiên đường xuống địa ngục, từ cõi nhân gian vào chốn lọc lừa. Càng lăn lóc, thơ TTN càng quấn quít với chân tình và phảng phất khói hương thiền tông Phật đạo. Trên đường thơ, có khi TTN lạc vào mê hồn của Hàn Mặt Tử theo trăng.

“Tình yêu phụng hiến trăng là nguyệt
Khép mở muôn trùng … cánh sao băng!”

Rải rác, trong thơ TTN ta gặp trăng:

“Trên đỉnh thu sầu màu trăng vỡ
Đường nhân gian lạnh buốt đêm dài!
Người yêu hỡi ! Trăng vàng suối ngọc
Cát mịn màng … sóng vỗ biển dâu.”
(Cõi Tàn Phai)

Và :
“Triệu con trăng khóc tang mùa
Tôi nằm tuyệt huyết bên chùa động chuông.”
(Bướm lạ)

“Tàn khuya núi đá vô ngôn
Bướm tiền duyên về đậu
Ôm mảnh cô hồn
Tôi gối đầu trăng sao say sáng tạo.”
(Thi sĩ)

Trăng với TTN như một nhân duyên kết tụ, ngoài những trăng rải rác trong các câu thơ, ta bắt gặp “ĐÊM TRĂNG LEO LÊN MÁI CHÙA” , “ĐÊM TRĂNG PHƯỚC TÍCH”(*), và “ĐÊM TRĂNG NGỦ TRÊN ĐỒI CÙ ĐÀ LẠT”(**).

ĐÊM TRĂNG LEO LÊN MÁI CHÙA

Ngồi trong vườn nguyệt lộ
Hôn một màu trăng non.
Nghe lòng mình cười rộ
Chạy băng đồi vô ngôn.

Ồ. Hồn tràn mộng trắng
Tôi ôm trăng không màu
Tôi ngút xuống biển dạng
Tôi dại khờ mắt nâu.

Ngắt một bông trắng lau
Hương thắm giọt máu đào.
Đêm bừng lên nguyệt thẹn
Tôi nằm dài xanh xao.

Chim về ngủ ôm trăng,
Ngô đồng rơi chánh điện.
Tôi ngồi giữa Phật đàng
Làm thơ như thánh hiện.

Máu ràn rụa tây hiên,
Ồ. Máu băng ngực điên!

Tôi tĩnh mịch trang thơ
Hồn bay theo nhang khói.
Chim chết giữa điện thờ
Tôi rớt xuống điện thờ.

Chùa BẢO LỘC, Thu 1970.

Đêm trăng leo lên mái chùa là định mệnh, là cột mốc giữa đời sinh viên lang bạt, bằng một sự kiện hi hữu, TTN trở thành thi sĩ.
Sau khi bị té từ mái chùa xuống đất, đầu rướm máu, TTN xuất hồn viết bài thơ trên giấy của bao thuốc Bastos xanh, bài thơ qua tay người ban đến với Thiền sư Tuệ Sĩ, được chọn đăng trên Tập san TƯ TƯỞNG của Viện Đại Học Vạn Hạnh – Cơ quan ngôn luận, dẫn đạo về tư tưởng, Triết lý, Giáo dục và Văn hóa rất uy tín của Phật Giáo Việt Nam.

Hai mươi tuổi, chàng sinh viên Trần Thoại Nguyên có thơ đăng trên tạp chí TƯ TƯỞNG là một vinh dự lớn. Chỗ đứng của một bài thơ tự khắc xác định đảng cấp của một tác giả. Nhưng với người phê bình, không thể vì “Bứt dây động rừng” mà né tránh những nhận thức của mình với “Đêm trăng leo lên mái chùa”.

Đọc bài thơ, như tác giả thổ lộ với Lý Thừa Nghiệp thì leo lên mái chùa là ” định chơi ngông muốn thưởng trăng nơi cõi thượng giới ” thưởng trăng cõi thượng giới là cách nói từ vô thức. Thượng giới thuộc về trời cao, vô biên. Khoảng cách độ cao từ mái chùa đến mặt đất, đối với vô biên chỉ là con số không, nghĩa là thưởng trăng dưới đất và trên mái chùa như nhau. Do ý nghĩ sai lầm đó, TTN đem vào trong thơ những từ ngữ triết học và thiền tông, bài thơ trở nên khó hiểu, nó chỉ phù hợp với một số đọc giả tin vào giá trị và uy danh tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh. Bài thơ được đăng ở Tư Tưởng số 16, trang 27, năm 1970. Tên tuổi Trần Thoại Nguyên đứng chung với những tác giả lừng danh như Thích Minh Châu, Thích Nguyên Tánh, Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát, Kim Định, Trúc Thiên, Lê Tôn Nghiêm, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư ….. tự khắc, chỗ đứng của bài thơ mặc nhiên khẳng định TTN là một Thi Sĩ. Chàng Thi Sĩ hai mươi tuổi từ đó sa đà vào dòng thơ mang tính cách bác học, ý niệm Thiền và hơi hướng Phật giáo chi phối lổn ngổn trong nhiều bài thơ của TTN, nó hướng tâm hồn của thi nhân vào chỗ đứng cao ngất ngưỡng, cần có một số vốn liếng triết học và căn bản Phật học môn phái Thiền tông, mới hoà nhập vào hồn thơ và ý nghĩa của “Đêm trăng leo lên mái chùa”.

Ngồi trong vườn nguyệt lộ
Hôn một màu trăng non.
Nghe lòng mình cười rộ
Chạy băng đồi vô ngôn.

Nguyệt lộ là trăng sáng, sương rơi, là cảnh đẹp thiên nhiên. Vô ngôn trong Thiền tông diễn tả trạng thái tự chứng pháp, tức là thâm mật, là bản trụ của pháp tính. Một khổ thơ rất đẹp, trong vườn sương long lanh ánh trăng, chàng thanh niên ngồi hôn màu trăng non, lòng vui sướng tự chứng cho mình một pháp tính, các khổ thơ tiếp theo diễn đạt thêm. Một bài thơ mang tính thiền, ở đây tôi đang trình bày về Đời thơ, Phận người và Thi sĩ Trần Thoại Nguyên, chỉ lướt qua một ít thơ đặc trưng theo chủ đề, để có thể định hình tính chất Trần Thoại Nguyên trong thơ.

Chúng ta thử tách ra một vài khổ thơ rồi dấu tên tác giả TTN, như:

Cây lá xanh biêng biếc thời gian
Chuồn chuồn châu chấu mãi bay sang
Cầu vồng sinh tử thiên thu soi bóng
Lối bay về thiên sứ ca vang.
(Huyền ngôn thơ)

Đọc khổ thơ trên, Có thể nhiều bạn đọc nghĩ là thơ của Bùi Giáng.
Hay, một chút gì váng vất Tuệ Sĩ, dưới đây:

Từ đỉnh núi cao đến biển sâu thăm thẳm
Hạt cát vàng lấp lánh khắp cõi uyên linh.
Hôn giọt nắng ta nghe lòng mình xanh thắm
Người yêu ơi ! Màu năm tháng mãi xanh tình.
(Mỗi sáng mai mở cửa ta chào ngày mới)

Với bài “Bướm lạ” tặng Pham Thiên Thư, TTN viết những câu lục bát tài hoa. Không phải ai làm thơ lục bát cũng thành thơ , TTN đã viết những câu lục bát để tặng cho tác giả “Động hoa vàng” ở lứa tuổi hai mươi đậm chất thiền, lại ứng vào đời sống như một tiên tri.

Triệu con trăng khóc tang mùa
Tôi nằm tuyệt huyết bên chùa động chuông.
Có con bướm hiện dị thường
Gáy liên thiên mộng hoang đường nửa đêm.
Ngần ngần hồn vỡ thơ điên
Ồ! Con bướm lạ ấy tiên tri đời.

Trên đây là những trích dẩn khi tôi đọc lướt qua một vài bài thơ của TTN, mà đời thơ TTN quá đồ sộ, diễn tả đủ mọi tình huống. Cho nên trích dẫn có thể là tích cực, nhưng thường là theo chiều hướng tiêu cực. Còn tôi, tôi muốn người bạn tài hoa của tôi nhìn lại mình, làm sao để mọi người khi đọc lên là nhận ra thơ của Trần Thoại Nguyên, chứ không thể ai khác.

Thi sĩ Trần Thoại Nguyên sống đời lảng tử, mê thơ, sáng tác thơ từ thuở thiếu thời. Lớn lên giữa chiến tranh, thơ song hành cùng với những nẻo đường lang bạt kỳ hồ. Người lính ngoài trận địa tin vào hoả lực, tin vào sức mạnh vũ khí, thì người thơ sống bằng ý thức, được tâm hồn chuyển hoá thành thơ. Tâm hồn thi nhân là sợi tơ căng giữa cuộc đời, bao nhiêu biến chuyển của xã hội tác động làm rung sợi tơ. m thanh từ sợi tơ tác động tâm hồn, người thơ vịn vào khả năng của mình, cùng với tâm hồn, thơ ra đời từ đó.

Trong số bạn bè thân thiết, nhiều người biết thơ TTN, thuộc thơ của chàng. Trần Thoại Nguyên có thơ đăng rải rác trên các tạp chí danh tiếng từ những thập niên 70 của thế kỹ 20. Nay có nhiều trang mạng văn nghệ chọn đăng, nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. Một đời người, đời thơ nhưng TTN đến nay chưa có tác phẩm nào xuất hiện. Tuy nhiên, trong một phản hồi trên FaceBook, TTN đã có lần thổ lộ:

Thân du tử ! Đi về đâu chẳng biết
Zulu DC ơi ! Bằng hữu đẹp thơ ơi !
Đời mộng ảo trần gian chân lếch thếch
Sông đã nguồn con sóng lạ trùng khơi !

Thơ tôi làm ra tặng đời sao kể xiết
Thuở mười hai nay suơng gió bạc đầu
Thơ là hơi thở thơm tho hồn bất tuyệt
Chưa in được thi phẩm nào ! Ai biết vì đâu !

Tôi đã từng gọp thơ trình bày rất đẹp
SẦU CA TÓC XANH thuở trung học mê gái lang thang
THIÊN SỨ CA bạn bè sinh viên chuyền tay đọc khen hết biết
TRƯỜNG CA MẸ TÔI cũng đều thất lạc trong ngọn lửa hung tàn !

Ôi năm tháng mộng tình bay theo mây trắng
Thơ một đời cùng tay trắng chào lúc ra đi
Còn vần điệu ghim trong lòng người đồng cảm
Thuộc lòng từ xưa cho lại như cánh nhạn lai thi !

Trần Thoại Nguyên đi nhiều, sống nhiều, quen biết nhiều những tài danh như Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Tuệ sĩ ….. Trịnh Công Sơn.

Tôi biết Trần Thoại Nguyên qua những bài thơ trên Facebook, những bài thơ thấp thoáng ánh đạo vàng, một chút về thiền, thiên nhiên, tình bạn, tình người ….. Thơ TTN không thâm nhập trực tiếp, nó đòi người đọc chiêm nghiệm, trăn trở với thơ, với những ngôn từ lạ lẫm, những câu thơ tân hình thức, hậu hiện đại. Loại thơ thích hợp cho những ai có nhu cầu khám phá mới lạ của ngôn ngữ mà thôi.

Gió thổi qua mùa hư không
Lá vặn gân lá máu đông
Hoa tàn kiệt
Mặt đất rung cơn hủy diệt
Cõi người xương máu áo cơm
Điêu khắc thành sầu đáy huyệt
Cõi người xương máu điêu linh
Héo hắt những linh hồn !
(Thi Sĩ)

Trần Thoại Nguyên là một thi sĩ dấn thân, không phải vào đời thường, chàng lăn xả vào thi ca, liều mạng và độc lập, nhưng chưa thể tạo cho mình bản lĩnh và làm nổi bật cá tính của một thi nhân.
Trần Thoại Nguyên, với tính cách nghệ sĩ, là gạch nối dàn trải sinh hoạt trực tiếp văn chương giữa hai chế độ, hai xã hội, hai nền văn hoá, từ khi chàng còn rất trẻ. Bằng trình tự dân tộc và cảm thức trong sức sống của miền nam, TTN tiếp thụ văn hoá mới và đồng thời duy trì, phát triển văn chương nhân bản, văn học khai phóng của nơi TTN sinh và lớn lên.

Đứng nhìn bóng phượng liên chiều
Chiều ơi ! Chiều dại ! Chiều xiêu ngã lòng.
Chiều vang, chiều trắng, chiều không
Ồ ! Tôi đứng hát giữa mông mênh chiều.
(CHIỀU KHÔNG)

Tính cách nghệ sĩ của TTN không bị dòng Bến Hải ngăn đôi, dù hình thức hay tư duy. TTN vẫn làm thơ, sống với thơ, lang thang trong thơ như mạch sống lăn đều, như những toa tàu, chỉ thay đổi hành khách lên xuống, TTN vẫn là TTN với cảm xúc tự chân tình, vẫn thân quen. Nếu có khác, thì chỉ khác ở mức độ hoàn cảnh mà thôi. Họa hoằn lắm, để ý chúng ta có thể thấy kinh nghiệm phiêu du một thời của bóng đêm và sự tỉnh lặng còn sót lại chút gì như khắc khoải, vô vọng đâu đó trong thơ.

Đập đổ tan mọi thần tượng
Cho cây đời trổ hoa ngát hương.
Cho tôi sống hồn nhiên ngất ngưỡng
Ca hát Tự Do trên những con đường.
(HUYỀN NGÔN THƠ)

Thơ Trần Thoại Nguyên có sức thuyết phục nhờ nôi dung phong phú, không gian trải rộng và chữ nghĩa được chắt lọc kỷ càng, nhưng đôi khi thơ đưa người đọc đến chỗ vô vọng, dửng dưng với cảm xúc, nhiều từ ngữ mang tính triết lý, hơi hướng thiền và câu thơ gần với tân hình thức, là một dạng thơ kén chọn người đọc.

Hạt cát vàng lấp lánh thế gian
Đóa hoa nghiêng chao trời đất mơ màng.
Vô biên xanh tay cầm khoảnh khắc
Chớp mắt sáng lừng vĩnh cửu mang mang!
(Huyền ngôn thơ)

Nhưng đó chỉ là những lúc xuất hồn, ngôn ngữ trong thơ là thứ ngôn ngữ của tỉnh với mê, khi tâm hồn thi nhân lạc vào trong những công án thiền, làm cho ý tưởng thoát ra ngoài cõi nhân gian, xa lạ, đòi hỏi sự cảm nhận đồng điệu, cùng một tần số mới hiểu được những gì trong thơ của thơ.

Nhìn một tác giả từ nhiều góc cạnh, trong mênh mông của văn chương, những gì lưu lại với tâm trí của người đọc rõ nét nhất, nó sẽ làm nên tên tuổi của tác giả.

Thơ TTN không có gì to tát lắm, những đề tài thường là biểu tỏ nội tâm mang tính triết lý, ảnh hưởng thiền định và tinh thần Phật giáo. Tình gia đình, bạn hữu, tình quê hương.
Thi sĩ Trần Thoại Nguyên, con người và thơ văn là sự kiện văn học nối từ nền Cộng Hoà qua Xã Hội Chủ Nghĩa. Thơ đến với TTN tình cờ, như cơn gió thoảng cho tâm hồn ta mát, cho tình ta gần lại và lòng ta đẹp hơn. Những ý niệm về Thiền, về Phật trong thơ TTN chỉ là nét chấm phá nguệch ngoạc của chú tiểu bắt đầu học kinh.

Điều chúng ta quí mến ở TTN là tấm lòng. Thơ anh khao khát tình thân, bè bạn, yêu đời nhưng bất cần danh vọng, quyền uy. TTN như là lữ khách rảo bước trên con đường thơ, bằng cảm xúc và chân tình, chàng đi tìm tri kỹ, tri âm. Thơ như cây lá ven đường, có khi sương che, gió thoảng, người lữ hành đơn độc, tựa hồ như đi vào vườn khuya trăng chiếu, vẻ huyền hoặc đó mơ hồ đưa thơ TTN vào cõi mông lung, thơ vươn ra khỏi cảnh bình thường.

Thơ là tiếng lòng do tâm hồn cô đọng lại, là ngôn ngữ được chắt lọc mang tính sử thi, thơ gần gủi thực sự khi chúng ta nghe trong tiếng mẹ đẻ ấy có tiếng của lòng mình. Điều nầy Trần Thoại Nguyên thể hiện chính xác và tài tình.

Sông Trà chết giấc nay bừng tỉnh
Bạn quê ơi ! Nâng chén,đừng than !
Giá phải đêm trăng dòng lấp lánh
Có bờ xe nước múc ánh vàng…

Cây lá xanh đôi bờ vẫn mộng
Vẫn ngân vang chén rượu chiều nay
Thưa em mây gió vô cùng sóng
Bạn hữu quê hương bát nước đầy!
Anh bạn dang tay như múa hát
Đọc thơ sang sảng quán chiều mưa
Đọc thơ sang sảng Cao Bá Quát
Nhớ “Trăng Sông Trà” một đêm xưa !
Sóng nước miên man nguồn ơi biển
Nâng chén khà khà thân củi trôi!
Cầm tay Trà Khúc lòng quyến luyến
Nửa thế kỷ buồn thân phận tôi !
(CHIỀU MƯA UỐNG RƯỢU SÔNG TRÀ)

Về hình thức thơ TTN đa dạng, ở lãnh vực tình cảm, nhiều bài thơ đã lưu lại trong trí nhớ của bạn bè, người đọc. Nhiều bài được các nhạc sĩ phổ thành nhạc, nhưng chưa có đĩnh cao để nhìn cho rõ tính cách của thơ Trần Thoại Nguyên.

Con người trong cuộc sống hàng ngày, ảnh hưởng nhiều bởi ngôn ngữ của thời đại, bởi tính cách xã hội uốn hình lịch sử, cho nên thơ TTN không thể vươn lên khỏi vận nước, dù rằng chàng vẫn ôm ấp giấc mơ làm cho thơ mình đạt đến cõi siêu thức. Có thể đó là nguyên do thơ TTN còn tạp chất và chưa định hình rõ nét.

Thơ của Trần Thoại Nguyên chưa có dấu hiệu mệt mỏi, bao nhiêu cảm xúc cho đầy
tâm hồn nghệ sĩ như TTN. Yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên sự vật, chàng mê trăng, mê cả sông hồ. Nhưng rất lạ, chàng yêu luôn gió, mà yêu một cách trang trọng. Với Trần Thoại Nguyên gió là một thực thể hữu hình, chàng đối đãi với gió như là người bạn tri âm. Có khi TTN một mình thức trắng đêm, sự thôi thúc của sáng tạo, của thơ và đối mặt với cô đơn, gió thành người bạn.

ĐÊM TRẮNG

Tàn khuya gió gọi ngoài hiên vắng
Tôi thức mình tôi. Gió cứ vào !
Cửa khép hờ, bàn trang giấy trắng
Gió cùng tôi vẽ mộng chiêm bao!

Trên bầu trời lấp lánh trăng sao
Dưới mặt đất hoa cỏ nhiệm màu
Tôi thở luồng hơi sương khói trắng
Chập chờn bóng ảnh gió lao xao!

Đêm tĩnh lặng dòng hương tinh khiết
Tôi thức mình tôi. Đêm trắng tinh.
Xương máu gọi thơ reo gió biếc
Hồn tôi đêm trắng một trang kinh!

Đêm tỉnh mịch, bầu trời lấp lánh trăng sao, mặt đất hoa cỏ nhiệm mầu. Trong căn phòng êm ái, tàn khuya là hết đêm, tác giả chưa ngủ, ngoài hiên thì thầm tiếng gió. Trong căn phòng TTN đặt sẵn trang giấy trắng, cửa khép hờ để gió vào cùng chàng vẽ mộng chiêm bao.

Trần Thoại Nguyên, thi sĩ chân tình với thơ, phong thái ngoài đời và hình ảnh trong thơ, TTN là anh chàng lảng tử, phiêu bạt giang hồ, hiền hoà, thân thiết với anh em, bè bạn, hiếu thảo trong gia đình và thanh thản ngoài xã hội.

Trần Thoại Nguyên, một thi sĩ có bề dày hơn 55 năm sáng tác, là một tên tuổi trong giới văn nghệ sĩ, với hoàn cảnh, với thời cuộc, TTN vẫn là một lử hành chưa chọn ra điểm đến, một sa di chưa có mái chùa, một thi sĩ chưa có tác phẩm, dù thơ chàng trải dài hơn nửa thế kỹ nay.

Zulu DC.

HỘI XUÂN MIỀN BẮC NGÀY ẤY

Tản Văn

Đây cả mùa xuân đã đến rồi
từng nhà mở cửa đón xuân tươi
từng cô em bé so màu áo
đôi má hồng lên nhí nhảnh cười.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Pháo nổ đâu đây khói ngợp trời
nhà nhà đoàn tụ dưới hoa tươi
lòng tôi như cánh hoa tiên ấy
một án thơ đề nét chẳng phai.

Nguyễn-Bính “ Thơ Xuân “

Mỗi độ xuân về . . .nhi đồng, thiếu niên thì nao nức đếm từng ngày đợi tết, thanh niên nam nữ thì xao xuyến trước hương xuân như không khí trong bài “ thơ xuân “ của Nguyễn-Bính. Riêng tầng lớp trung niên, thất thập cổ lai hy thì ngồi bên cốc trà, ly rượu để bâng khuâng hồi tưởng lại những xuân xưa, thầm tiếc cho những cái tết cổ truyền đã qua. Tết xưa có rất nhiều hội hè gọi là “Xuân Bách Hí “, xuân có trăm trò vui nồng nàn bản sắc dân tộc. Có xuân vui thật trữ tình, lãng mạn, có thú vui thật thanh tao, nho nhã. Nhưng mọi xuân vui đều mang một ý nghĩa quyện trong hồn thiêng sông núi trải dài từ bắc chí nam.
Với cuộc sống tất bật bộn bề hiện nay, tết chỉ thật sự đến vào ngày 30, mồng 1 nhưng với người xưa thì tết bắt đầu từ đêm 23, đêm cúng đưa ba Ông Táo về trời để tâu sớ mọi việc ở hạ giới với Ngọc-Hoàng. Thời ấy cách đây hơn thế kỷ, Trần-Tế-Xương đã nâng cốc chúc ba vua bếp trong nụ cười châm biếm, hóm hỉnh :

Ba ông Vua Bếp dạo chơi xuân
đội mũ đi hia chẳng mặc quần
Trời hỏi làm sao ăn vận thế ?
Thưa rằng hạ giới nó duy tân.
[ Vua Bếp Chơi Xuân – Trần-Tế-Xương ]
Sang ngày 24 AL là lễ khép ấn. Lễ khép ấn diễn ra thật long trọng từ triều đình cho đến các làng xã, những vị vua nhà Nguyễn thời ấy thì đóng lại ngọc tỷ, từ phủ huyện cho đến hương lý thì rửa sạch con triện bỏ vào tráp, bao nhiêu việc quan, việc dân xem như khép lại, nếu lỡ gặp việc trọng đại các quan bất đắc dĩ mới hành xử, còn những việc tuế toái như đánh lộn, trộm cắp, kiện cáo nợ nần . .thì tạm thời giam lại đó, đợi qua ba ngày tết chọn giờ lành ngày tốt mới gọi lên công đường khai ấn.
Sau ngày khép ấn các quan tha hồ vui chơi, rượu chè, cờ bạc, đàn ca xướng hát bằng thành quả của một năm thu hoạch của bàn dân thiên hạ. Cùng với ngày khép ấn thì bà con nhà nhà cũng khép lại bao việc ruộng nương, đồng án tứ cao nguyên cho đến biển xanh để chuẩn bị đón tết. Chùa chiền bắt đầu treo phướng, làng dựng nêu để dành đất với ma quỷ. [ thường các gia đình chiều 30 mới dựng nêu ]. Nhưng nàng xuân chỉ có quyền khai hoa nở nhụy khi có lệnh vua sau lễ ban sóc.

Xuân từ trong ấy mới ban ra
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tú Xương

Ban sóc là ngày nhà vua ban lịch có ấn tín cho tất cả thần dân biết thời điểm năm cũ chuyển sang năm mới bằng một cái lễ hết sức trọng thể ở hoàng cung. Triều đình Huế thời ấy, các quan từ huyện, phủ phải theo về tập trung hai hàng văn võ theo thứ tự phẩm trật. Ở giữa điện Thái-Hòa trên bệ cao có đặt một cái ngai sơn son thếp vàng, dù có vua hay không, các quan vẫn làm lễ hết sức cung kính như thể vua đang ngự ở đó. Xong lễ nghi mới được nhận lịch, đinh ninh rằng, nàng xuân sẽ theo lệnh vua nẩy lộc khắp nơi khắp chốn.
Sau lễ ban sóc, nhân dân mới tha hồ mua pháo, nấu bánh chưng, làm đủ loại bánh mứt theo phong tục mỗi miền, nhà nhà quét dọn, dựng nêu, treo câu đối . . .nợ nần chạy ngược chạy xuôi, bên đòi bên trả và cũng không thiếu cảnh cãi vả chưởi bới nhau cuối năm xôn xao cả góc làng góc xóm.
Nay trước thềm xuân Kỷ Hợi [ 2019 ] , mặc dầu ngày tết chưa tới nhưng sao những cánh mai vàng trước sân đã vội nở, lòng chợt bồi hồi nhớ lại những ngày xuân xửa xuân xưa với bao hội hè đã làm nao nức hồi hộp nhiều thế hệ cha ông. Bởi vậy xin gởi hồn về quá khứ để nhớ lại một vài hội lễ vui xuân của dân tộc ở miền bắc mỗi năm vào tết cổ truyền.
ĐÁNH VẬT:
Hội vật ở làng Mai-Động, tổ chức hằng năm vào mồng 4 – 5 – 6 tháng giêng AL, trong làng có đền thờ Bà Lê-Chân, nữ tướng tiên phong của Hai Bà Trưng.
Thủa xa xưa, nữ tướng Lê-Chân đã tổ chức những hội vật để tuyển tướng. Khi quân của Mã-Viện sang xâm chiếm nước ta, Hai Bà Trưng đã sai Bà Lê-Chân cầm quân chống giặc ở hồ Lãng Bạc, Bà đã dũng cảm ngăn bước quân thù nhưng không chống nổi tài thao lược của Mã-Viện với hai phó tướng là Phù-Lạc Hầu Lưu-Long và Đốc-Lâu Đoàn-Chí. Cuối cùng Bà Lê-Chân phải rút quân về Mai-Động và tuẩn tiết ở đó. Dân làng Mai-Động lập đền thờ Bà và tôn làm Thượng Đẳng Phúc Thần Công-Chúa. Hằng năm sau tết Nguyên-Đán, dân làng mở hội “ Chọi Vật “ để tưởng nhớ những cuộc thi tuyển võ tướng của Bà Lê-Chân.
Vật là một môn võ kết hợp cả sức, miếng, thế rất được giới bình dân khâm phục. Thời bình đó là môn giải trí kích thích lòng người, còn thời chiến là môn võ để tự vệ và chiến đấu rất hữu hiệu. Ở những miền quê đất bắc, thanh niên trai tráng ai cũng có vài miếng võ vật. Ngày xưa có rất nhiều tay đô vật nổi tiếng như ở làng Chung Màu, làng Yên Xã tỉnh Bắc-Ninh, làng Vị-Thanh, làng Hội-Hạ ở Vĩnh-Yên, làng Mộ-Trạch ở Hưng-Yên, làng Mai-Động . . .
Đánh vật tất nhiên là dùng sức nhưng muốn thắng địch phải giỏi thế và dùng miếng mới quật ngã được đối thủ gọi là “ vật ngã trắng bụng “ hoặc nhấc bổng đối thủ lên mới gọi là thắng cuộc. Hội vật thường tổ chức trước đình làng, già trẻ lớn bé ai cũng nô nức cổ vũ. Giải vật gồm ba giải chính : Nhất, nhì, ba và nhiều giải hàng, giải hàng là giải khuyến khích, kích động tinh thần thượng võ, thường cho đấu trước khi diễn ra cuộc đấu chính. Ba giải chính đấu vào ngày chính hội, thường người chiến thắng năm trước giữ giải đợi đối thủ phá giải, nếu trong ba ngày không có ai thách đấu, theo luật, người giữ giải là người thắng cuộc tiếp tục giữ giải cho đến năm sau.
Thể thức vật là, hai bên đều trần truồng chỉ đóng một cái khố che bộ hạ. Khố của các đô vật có màu xanh, vàng, hồng điều bằng lụa, bằng nhiễu. Đó là những vuông nhiễu, lụa họ đã đoạt được trong những lần thắng giải trước đây. Khi vào cuộc đấu, hai đô vật phải bái vọng Thần-Hoàng của đình làng rồi mới diệu võ giương oai, xông vào ôm níu nhau dùng những miếng đòn quét ngáng cho đối thủ ngã xuống, hoặc dùng đầu húc vào bụng, nhấc bổng đối thủ lên. Có những đô vật thất thế phải vội nằm sấp xuống đất bò nhoài như con chạch mặc cho đối thủ tìm đủ mọi cách quật ngữa họ lên, rồi lựa lúc địch thủ hớ hênh họ bật dậy tiếp tục cuộc đấu. Lúc hai đô vật quần thảo, bà con ở ngoài chia làm hai phe, bên nầy bên kia la hét vang trời, còn các cụ đánh trống như thúc quân ra trận. Trên đài thường có một tuần đinh cầm cái trống quân chạy quanh hai đô vật đánh “ bùng ! bùng ! “ bên tai họ để “ thúc thúc ! giục giục ! “, tiếng trống càng dập dồn khi hai đô vật ra đòn ra thế quyết dành lấy giải vàng.
Ngày hội vật chính thực hào hứng làm xôn xao hồn xuân những ngày đầu năm mới.
Các giải chính có tỷ lệ :

Giải nhất trong 6 ngoài 5
Giải nhì trong 5 ngoài 4
Giải ba trong 4 ngoài 3
Theo luật chơi thì người giữ giải phải thắng luôn 6 đối thủ, còn người phá giải chỉ cần 5 thắng là đoạt được giải và các giải nhì ba cũng theo tỷ lệ như vậy. Lệ thường giải ba vật trước rồi đến giải nhì. Mỗi lần có đô vật thắng, làng đánh trống thật rộn ràng rồi đốt chúc mừng người chiến thắng một phong pháo.
Đến giải chính mới thật sự sôi nổi hào hứng. Khi hai đô vật đã loại hết đối thủ, họ ra đòn, lừa nhau từng động tác khiến người xem hồi hộp, thú vị tưởng chừng như chính mình đang tham dự cuộc đấu trong những ngày đầu xuân vậy.

ĐÁNH TRUNG BÌNH TIÊN:

Trung bình tiên là một cây thảo dài hơn hai sải tay, khi vào thế phải xuống trung bình tấn, thời trước ở miền bắc, thanh niên trai tráng rất mê luyện tập, tương truyền môn võ nầy có từ thời Vạn-Thắng-Vương Đinh-Bộ-Lĩnh, Ngài đã dùng thảo roi để luyện tập ba quân tướng sĩ và để nhớ lại thời cờ lau tập trận trong thủa còn chăn trâu.
Đánh trung bình tiên còn gọi là đánh thảo, đánh roi. Ở huyện Vũ-Tiên, tỉnh Thái-Bình có thảo đường Ô-Mê, tại phủ Vĩnh-Tường, tỉnh Vĩnh-Yên, thanh niên rất mê say môn võ trung bình tiên. Thường các làng xã tổ chức lễ hội vào mồng 6 tết. Đó là ngày hội kích thích tinh thần thượng võ, quy tụ nam phụ lão ấu khắp nơi về dự hội trong những ngày đầu năm mới.
Đánh trung bình tiên là hai võ sĩ thượng đài thi đấu, vũ khí là một cây gậy dài được bịt bằng vải để tránh nguy hiểm, đầu gậy được nhúng vào nước vôi để khi đánh trúng đối phương còn để lại dấu trên mình và lấy đó mà tính điểm. Ai đánh trúng đối thủ vào chỗ hiểm nhiều nơi trên thân thể thì ban giám khảo lấy đó mà tính điểm để quyết định người thắng cuộc, Thường trận đấu có nhiều hiệp được phân ra theo động tác của hai đối thủ. Trung bình tiên là môn võ hữu dụng trong thời chiến, một mình có thể chống cự được nhiều kẻ địch. Ông cha ta đã biến hóa thành thú vui lễ hội đầu xuân để giữ gìn khơi dậy bản lĩnh tự cường của dân tộc trước hiểm họa giặc phương bắc luôn luôn dòm ngó. Thời bình thanh niên rất ưa thích luyện tập để tham dự những ngày hội và để bảo vệ nhà cửa phòng khi có trộm cướp.
Với cây trung bình tiên bằng tre đặc, một người có thể tả xung hữu đột với bọn cướp hoặc đám côn đồ quậy phá, thời bình là môn võ đem thú vui trong lễ hội nhưng thời loạn trung bình tiên là môn võ hữu hiệu để chiến đấu với kẻ thù.

ĐÁNH PHẾT:

Đánh phết cũng như môn thể thao khúc côn cầu ngày nay, khác biệt là quả phết bằng gỗ to như bong bóng trâu thổi phồng, nặng như quả tạ. Người chơi phải thật khỏe mạnh mới đánh nổi, tương truyền đánh phết là môn thể thao ưa thích của Hai Bà Trưng, vừa để giải trí, vừa để cho ba quân luyện tập cơ thể để chiến đấu.
Gậy đánh phết là một gốc tre đào nguyên cả cây chặt dài khoảng 1m, vạt bỏ rễ lấy gốc cong cong, vì vậy người chơi phết phải khí lực mới vung được gậy phang vào phết. Chơi phết chia làm hai đội, phải chọn khu đất rộng, mỗi bên đào một cái hố tròn. Khi hai đội vào cuộc đấu phải lừa phết bằng gậy như cầu thủ lừa bóng, làm sao đánh phết rớt xuống hố mới được tính điểm, nhưng phải coi chừng khi tinh thần tranh thắng dâng cao thì những chiếc gậy tre kia sẽ trở thành quả chùy nguy hiểm, đối thủ nào không kịp né tránh những đối thủ phang trật vào phết thì chỉ có đường cấp cứu phải rời sân.
Thủa xa xưa khi nữ binh chơi phết Hai Bà Trưng thường ngự lãm treo giải thưởng để cổ động tinh thần tướng sĩ. Khi Hai Bà thua Mã-Viện nhảy xuống sông Hát-Giang tuẩn tiết, tướng sĩ của Hai Bà có nhiều người chết theo để giữ lòng trung. Tướng Cao-Nguyên sau khi trầm mình xác trôi về phủ Vĩnh-Tường ở Phong-Châu, dân làng Thượng-Lập vớt lên mai táng lập đền thờ. Những làng có thờ các danh tướng thời Hai Bà Trưng hằng năm đều tổ chức hội đánh phết để tưởng nhớ thời oanh liệt của đoàn nữ binh.
Ngày xưa chơi phết đều là đàn bà con gái nhưng về sau các làng Bình-Đại, Thượng-Lập . . .các cụ cho thanh niên trai tráng giả làm gái để chơi phết trong những lễ hội mùa xuân. Chơi phết là môn khí lực tràn trề sức sống, đúng như câu nói “ vui ra phết “. Những lễ hội đầu năm ở miền bắc ngày ấy đầy tinh thần thượng võ, tôi luyện dũng khí của dân tộc, hẳn đó cũng là một trong những tầm nhìn xa trông rộng của tiền nhân trước hiểm họa giặc Tàu luôn luôn mưu đồ xâm chiếm.

VƯƠNG KIỀU

ĐOẠN TANG

Xả tang, người bình dân gọi thế. Đoạn hay xả đều có nghĩa là cắt đứt, bỏ đi. Anh em tôi, dâu rể, con cháu quay về VN để dự lễ đoạn tang của ông cụ. Sao không xả tang ở Mỹ, có người hỏi tôi. Thưa vì bà cụ muốn thế, và vì ông cụ hiện đang yên nghỉ tại nghĩa trang của một họ đạo.

Phong tục VN cho phép con cái đoạn tang sau một thời gian dăm ba năm. Trong thời gian này, con cái hạn chế những cuộc vui chơi, hội hè vì đang chịu tang lớn trong gia đình, và để tỏ lòng hiếu thảo. Sau lễ đoạn tang (tục xưa con cháu bỏ hết khăn tang vào một hũ hớn và đốt cháy ra tro), con cái vui vẻ quay trở lại nếp sống sinh hoạt bình thường. Đoạn tang mang ý nghĩa đó, chứ không phải dứt tang là cắt đứt mối liên hệ với kẻ quá cố. Theo đức tin, con cái phải luôn cầu nguyện cho cha mẹ đã nằm xuống cho đến lúc chết, vì đó là bổn phận theo điều răn thứ bốn, là hiếu thảo theo truyền thống văn hóa VN.

Phi trường TSN vẫn chật ních người. Nhà nước không lường được số lượng quá tải khi mở rộng vòng đai phi trường. Đường sá chỉ đến đó, trục lộ giao thông không kham nổi một lượng xe cộ chạy rầm rập ngày lẫn đêm. Tầm nhìn của những kẻ có trách nhiệm ở đâu đó chỉ một vài năm ngắn hạn. Cả một Saigòn bức nóng, ồn ào, ngột ngạt hơi thở như hai năm trước khi tôi về để tang ông cụ. Tất cả vẫn vậy, chẳng có gì thay đổi.

Vậy mà tôi nhận ra một thay đổi. Anh thuế quan xét giấy nhập cảnh tại hàng rào an ninh là một người miền Nam. Người Bắc dọn vào miền Nam sinh sống khá đông sau 75, nhưng chỉ có phi trường là nơi tập trung nhiều người Bắc nhất. Họ nắm giữ các chức vụ then chốt, chỉ nhường lại những công việc tầm thường cho người địa phương. Những lần trước về, khi bước đến quầy thuế quan, tôi đều bắt gặp ánh mắt dò xét, và giọng nói dấm dẳn thật lạ tai của người miền Bắc. Cặp mắt anh loang loáng đầy nghi kỵ đến nỗi tôi cứ tưởng mặt tôi dính nhọ. Cung cách hỏi của anh, “về làm gì, ở đâu,” (thường không có chủ từ) “ở bao lâu,” như quan tòa ngồi ngất ngưởng trên cao hạch sách phạm nhân. Tôi là công dân Mỹ lương thiện nên cứ bình thản trả lời từng câu hỏi cộc lốc. Cũng ngắn, gọn, vừa phải. Giọng vừa đủ nghe, nói không thêm, không bớt. Riêng âm giọng anh cao ngất, xoáy vào tai nghe như búa bổ. Bởi thế, những lần trước cứ bước ra khỏi hàng rào an ninh là đầu tôi nhức nhối khó chịu.

Lần này khác hẳn, anh thuế quan người miền Nam cất tiếng chào hỏi vợ chồng tôi thật lịch sự. Cũng từng ấy câu hỏi nhưng giọng anh nhã nhặn, nếu không nói là lễ phép. Không vồn vã, cũng không lãnh đạm, đúng cung cách của một người làm việc tại cửa công. Về nhà hỏi lại mấy chú em về dự lễ giỗ và được biết người xét giấy nhập cảnh đều là người miền Nam. Lúc về lại Mỹ, khi trình giấy tờ tôi cũng gặp một cô gái người miền Nam. Hóa ra hàng rào an ninh bây giờ hầu hết là người địa phương. Một thay đổi bất ngờ.

Giỗ đoạn tang xong, cả mấy anh em kéo nhau đi chơi Phú Quốc. Sân bay nội địa từ trước đến nay đều là người miền Nam. Tôi bắt gặp được sự thân quen thuở nào. Đáp máy bay nội địa lần đầu sau gần nửa thế kỷ, thế mà tôi có cảm giác như mới hôm qua, như tôi chưa hề rời mảnh đất thân yêu, dù chỉ một lần. Giọng anh tiếp viên của hãng VietJet trầm bổng bằng 2 thứ tiếng, Anh và Việt, thuần thục và trôi chảy như nhau. Dĩ nhiên, tôi khỏi cần giới thiệu, anh là người miền Nam chính gốc.

Ở Phú Quốc tôi được tin bà con Lộc Hưng bị cưỡng chế đất đai qua mạng FB. Hình ảnh một đứa bé ngồi trên bao tải đựng quần áo dưới mái hiên xiêu vẹo khiến lòng tôi chùng xuống. Đúng ra em được ngồi trên một chiếc ghế nào đó, kế chiếc bàn học. Đáng lẽ quần áo trong bao tải được treo lên móc. Nhưng nhà cửa không còn thì làm gì còn ghế. Tủ quần áo gẫy vụn nằm tả tơi trên nền đất khô thì làm gì còn móc để treo. Cả một cảnh hoang tàn trên một diện tích 220m vuông. Hơn một trăm gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, như vừa qua một trận thiên tai. Không, nhân tai. Ông trời hình như chịu thua cái ác của con người, ngoảnh mặt đi. Tết gần kề, gần nghìn nạn nhân không còn chỗ nương thân, nói gì hưởng Xuân. Chỉ thấy nỗi đau như hơn 50 năm về trước, Tết Mậu Thân. Màu tang trắng thấm máu đỏ nhuộm khắp xứ Huế. Lộc Hưng, 2019, cũng một màu trắng oan khiên. Những giọt nước mắt màu trắng đục rơi lã chã trên vùng đất bị cưỡng chế bởi nhà cầm quyền.

Phú Quốc sống cho khách du lịch. Nhà hàng, khách sạn, kể cả những resort, mọc lên san sát dọc theo bờ biển khu Dương Đông. Chợ Đêm rộn ràng tấp nập từ sẩm tối, một sắc thái đặc biệt của hòn đảo cực nam. Hải sản tươi rói, giá cả phải chăng, ăn ngon miệng. Tuy vậy, hòn đảo này còn khá hoang vu. Dọc trên đường từ phi trường về khách sạn, những khu rừng nhỏ còn đậm nét thiên nhiên chạy đều hai bên đường. Hệ thống du lịch hình như chưa phát triển đúng bài bản. Nhiều bãi biển vẫn còn buôn thúng bán bưng, chưa đi vào kế hoạch tầm cỡ. Có thể vì tầm nhìn của các viên chức nhà nước hạn chế, hoặc giả Phú Quốc sửa soạn trở thành đặc khu của Tàu nên nhà cầm quyền thấy không cần phát triển, dành việc phát triển cho nhà nước Tàu.

Vậy mà tôi cố ý tìm vẫn không thấy bóng một người Tàu nào. Có thể vì tôi chưa đến những khu resort đắt tiền, $500/đêm. Quanh tôi, chỉ thấy người miền Bắc. Họ từ miền cực bắc, lặn lội đến hòn đảo cực nam để kiếm sống. Tôi nhờ nhân viên khách sạn gọi một cuốc taxi đến cửa hàng ngọc trai Ngọc Hiền. Tài xế là một anh miền Bắc, trắng trẻo, mập mạp, thân nặng trĩu trên ghế. Anh hỏi tôi dấm dẳn, mặt lạnh lùng. Đoạn đường ngắn, chưa đến 4km nên tài xế và khách miệng ngậm hột thị. Đến nơi, tôi hỏi bao nhiêu? Anh chỉ ngón tay vào đồng hồ, chẳng buồn vén môi nói số tiền. Tôi trả tiền và biếu anh số tiền lẻ. Anh chộp lấy tờ giấy bạc không một lời cám ơn. Trên đường về, tôi gặp anh tài xế đen đủi, khẳng khiu. Giọng anh đơn đớt vùng Rạch Giá. Tôi lân la hỏi chuyện làm ăn. Anh tâm sự, mỗi ngày phải trả cho chủ (người miền Bắc) khoảng 450 nghìn, và ký một hợp đồng khoảng 5 tháng. Có ngày dư dả nuôi vợ và hai con, có ngày thiếu hụt phải oằn lưng trả nợ chủ. Không thể trả xe nếu chưa hết hạn hợp đồng. Bất thường, như cuộc sống của anh. Tiền trả chuyến về cũng bằng tiền chuyến đi. Dĩ nhiên, tôi biếu số tiền lẻ như ban sáng. Anh cám ơn chân tình. Xuống xe, tôi móc túi biếu anh thêm. Anh nắm lấy tay tôi cám ơn nồng nàn.

Trầm mình trong nước biển ấm vào buổi sáng trời se lạnh, nhìn về hướng Đông, nơi quê hương thứ hai đã ân cần nắm lấy tay tôi và chợt nghĩ ai sẽ nắm lấy những bàn tay gầy guộc của đồng bào Lộc Hưng? Tôi cố quên Lộc Hưng và dành thì giờ trọn vẹn với gia đình. Những ngày vui qua mau. Bay về đất liền sau mấy ngày đầm mình trong vũng nước mặn quê hương. Vừa bước ra khỏi cửa Tân Sơn Nhất đã nghe tiếng ồn ào của 2 thanh niên miền Bắc. “Bay lâu thế, tao chờ mày vãi l…” Lần đầu tiên tôi nghe nguyên văn một câu trách quá lạ tai. Anh nói oang oang, thật tự nhiên, thoải mái giữa chốn công cọng. Ông tiến sĩ tình dục học Thiên Nguyên đã khẳng định đó là nét văn hóa đặc thù (cứ tìm trên mạng sẽ thấy bài nói chuyện của ông tiến sĩ này) của người dân sống trong lòng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa “vãi l…” xuất phát từ miền Bắc sau 75 và du nhập vào Nam. Xem ra người miền Nam chẳng mặn mà gì với nét văn hóa đó. Sự vật biến đổi không ngừng, như tinh túy của nền văn hóa qua bốn nghìn năm kết tụ thành nền văn hóa vãi l…

Sàigòn vẫn sinh hoạt nhộn nhịp. Không một ai nói đến Lộc Hưng. Mấy người em tôi cũng chẳng biết gì về một khu đất vừa bị cưỡng chế. Tất cả đều im lìm, như tiếng than van uất nghẹn của dân Lộc Hưng.

Ngày tôi bỏ tang xuống cũng là ngày đồng bào Lộc Hưng khoác lên người mảnh khăn trắng của bất công, của uất ức, và của oan khiên.

Xin thêm lời cầu nguyện cho họ.

HẠ NGÔN

ÔN CỐ TRI TÂN


Hàng đứng: Nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Đức Phổ.
Ngồi: Nhà văn Phạm Ngũ Yên, Hồ Đình Nghiêm, nhà thơ Triều Hoa Đại, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long.

Người về già thường hay mang tật nhìn lui, vọng tưởng. Có thể để tiếc nuối.

Năm cùng tháng tận, giữa bàn giao chuyển dịch cũ sang mới, ta thường mượn đến bốn chữ “rêu bám” này: Ôn cố tri tân. Cố là quá khứ, tân là hiện tiền. Nhắc chuyện cũ để hiểu thêm chuyện mới. Lâu nay chưa có chữ nào thay thế? Đành lạm dụng cho giản tiện. Ôi, hán với nôm! Nói rêu bám là bởi thế.

Vì sao gọi “ông cố nội”? Cớ sao bảo “kẻ quá cố”? Tựu trung nó thay thế cho một thứ gì được xếp vào hàng cổ vật. Xưa rồi diễm là cụm từ rất đỗi tầm bậy. Năm con Heo xuất hành đúng lối hoàng đạo, thiên thời địa lợi nhân hoà nên cưa đổ được em tên Diễm tuổi tròn trăng, đang cầm tay nhau đôi uyên ương nọ hẵng phật lòng, bất bình khi nghe được. Cái gì xưa, cha nội? Diễm rạng ngời như đoá tường vi vừa bung nở trong đêm giao thừa đấy thôi, sương ướt át còn đọng, mới tinh khôi. Không cứ là tình nhân, Trịnh Công Sơn khi đón nhận, trong dạ cũng chẳng mấy vui. Bá tánh thật lắm chuyện!

Ôn cố, thường phải nương nhờ vào bộ phận mơ hồ gọi là chất xám. Người lớn tuổi ắt trí nhớ phải bị thần thời gian bào mòn đi, lu mờ dần. Nếu nó vẫn bén nhạy, linh hoạt, sung sức, thì một cha nội tuổi 80, giả dụ thế, khi buồn miệng nhắc lại, kể ra thì “mua vui cũng được một tuần”, chí ít. Đêm giao thừa ngồi bên nồi lớn dung tích chứa 80 lít nước dùng luộc bánh tét bánh chưng, đít nồi đen thui hứng đỡ ba thanh củi to đang reo vui do thần hoả kích hoạt. Rét đậm dùng dằng chịu đứng ngoài rào chớ không mon men vào được, sự ấm cúng quây quần kia đã chận đứng “âm mưu hiểm độc” của thần gió muốn bà con phải cảm hàn. Bà con vui xuân không quên nhiệm vụ bánh trái mứt món dâng cúng ông bà đã khuất, để khỏi ngủ gật, bà con vòi vĩnh tới ông cố nội: Kể chiện đi mờ, từ hồi thoát chết vụ cải cách ruộng đất đến bi chừ, ông cố thiếu cha gì biến cố đã kinh qua. Tản cư, chạy giặc, di tản… ui mười ngón tay không đủ để xoè ra đếm những kỷ niệm xám đen máu lửa.

Lửa tí tách reo phà ra làn khói nồng ấm dù đôi phần cay mắt, nước sôi trong nồi kêu lục bục. Má dặn hồi nào ba thanh củi to cháy hết bề dài còn lại than hồng thì xem như bánh vừa chín. Bánh chín mà chuyện ông cố nội vẫn còn râm rang. Thôi mày, tao hổng kể nữa đâu nhen. Đời tao toàn cả chuyện buồn, năm mới năm me nặn óc nhớ lại chuyện nào vui thì hổng có. Xui chi xui vô hậu!

Hoạt cảnh trên xảy ra “vào thuở xa xưa trên đất Thần kinh”. Giờ này chẳng biết có tồn tại? Đó là nói riêng tới dân tình ở trong nước. Chạy ra ngoài này thì mọi sự cầm bằng như nước cuốn hoa trôi, đã xôi hỏng bỏng không, chín bỏ làm mười, vắng ngắt hơn cả chùa bà Đanh ghẻ lạnh. Thốn tim, run lòng. Có phải do lẽ nọ mà mỗi độ nghe ra chữ Tết như gió thoảng qua tai thì đầu óc tự động… ôn cố tri tân. Người yếu bóng vía thì hát thầm “nhạc sến”: Mẹ ơi xuân này con vắng nhà… Mới thấy sến luôn chứa giá trị của sến. “Nếu hoa mai không nở con đâu biết xuân về hay chưa?”. Ui, nức nở thiếu đường chảy nước mắt! Bạn vin vào đâu để luận tới chữ sến? Hà cớ gì để chân đi quàng xiên? Bạn đã làm ra thức gì khiến cho thiên hạ phải “nửa hồn thương đau” tựa thế? Mình xin gọi bạn là Tám. Mình nhỏ nhẹ: Bỏ đi Tám.

Mình vào đội tuyển U-60 nhưng luôn ngồi ghế dự bị. Làm hậu vệ thì yếu việc cản phá bóng, làm trung phong thì chuyền banh chẳng ai nhận, đến khi đôn lên chân tiền đạo thì cứ sút bóng ra khung thành hoặc phạm lỗi trong vùng cấm địa. Nếu bạn chẳng am tường bộ môn túc cầu thì nói như này: Mình loay hoay xoay trở trên chiếu văn chương nhiều trận cứ mãi bị phơi áo, luôn thua lỗ mà chẳng có khi được mở tỉ số làm bàn. Đầu óc bạn “chạy” có ngon lành không chứ bộ nhớ mình rất tệ, phôi pha gần hết bao hình ảnh thơ mộng tuổi đầu xanh. Tình cờ bạn học đệ Lục đệ Ngũ xưa quắc cần câu hổm kìa hôm kia nhìn nhận ra mình, nhắc nhớ bao tuồng tích cũ mà mình cứ đực mặt ra lòng nhăn nhàu hoài nghi. Ai đứng đó lạ lùng như mới gặp, sao dang tay ôm gọi thân ái ngày xưa? Trời không nắng mây chẳng đổ mưa, hãy trách mắng về thịnh tình khô hạn. Khi “ôn cố” mà nghèo nàn kiểu đó thì không rõ “tri tân” có đậm đà?

Bữa tê bữa nhiếp mình nhìn ra tên hai người quen năm cũ, vừa gửi bài đăng trên Sáng Tạo: Nhà thơ Đức Phổ và nhà văn Nguyễn Vĩnh Long. Tự nhiên trí nhớ hao mòn vùng dậy để rục rịch làm một màn ôn cố. Cố sự là vầy, năm 2000 nhà thơ Phan Xuân Sinh ở Boston xuất bản tập thơ “Đứng Dưới Trời Đổ Nát” bèn tổ chức ngay buổi ra mắt sách, hóng được tin hành lang sẽ có lắm thân hữu bốn phương lành lặn chịu đưa đầu trần về đứng chung dưới “bầu trời” bất toàn nọ nên địa phương quân Mộng Lệ An gồm nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn cùng mình không hẹn mà làm cuộc vượt biên mất có hơn bốn tiếng gầm rú trên xe ngốn lấy đoạn đường “an toàn xa lộ” (làm bà xã hài lòng).

Đi buổi trưa đứng bóng, tới buổi chiều còn sáng nắng hoàng hôn. Khi ghé tới nhà anh Trần Trung Đạo làm trạm trung chuyển chưa thật sự đông đủ mặt quần hào, ở đó phút đầu mình gặp Nguyễn Vĩnh Long cùng một nửa rạng ngời mặt ngọc của nhà văn. Dạo nọ Nguyễn Vĩnh Long định cư ở Carolina (?) thường gửi sáng tác đăng ở báo Văn của anh Nguyễn Xuân Hoàng. Nho nhã, hiền từ, thong dong, dáng điệu như một cậu sinh viên chưa giã từ trường ốc. Có thể Vĩnh Long là bút hiệu? Người được sinh đẻ ở thành phố Vĩnh Long nên muốn mang ơn vùng đất từng dinh dưỡng mình? Phút sơ ngộ nên chẳng tâm sự được gì nhiều, dù gì thì cả hai đã nhìn ngó ra nhau thầm lặng tỏ bày hàng tháng trên các trang giấy do Văn magazine thu giữ.

Sau chuyến đi “thực tế” ở Boston, Nguyễn Vĩnh Long có ghi lại đôi điều cảm nhận gửi đăng báo Văn, thứ tuỳ bút chất đủ một trải lòng đáng mến có nơi nhà văn tâm lành ấy. Có thể số báo nọ đã nằm trong hai thùng giấy lớn mình vui vẻ trao tặng cho người trẻ tuổi sanh sau đẻ muộn mãi mến chuộng thơ văn hải ngoại: Nguyễn Trường Trung Huy (Huy Vespa) hiện ở Sài Gòn ngăn cách (bốn phương vô sản đều là bạn văn). Nếu còn giữ hẵng mình đã giở lục nhằm chép lại, đưa lên để nhớ một kỷ niệm chừng đã “đổ nát”, phôi pha.

Bóng tối dồn về, hối thúc mọi người đến nơi sum vầy có ở một hội trường lớn. Hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi làm người điều khiển chương trình, nhà văn Trần Doãn Nho lên nói về thi tập của nhân vật chính Phan Xuân Sinh. Mình ngồi ở bàn xôm tụ, nơi chật ghế chen vai thích cánh toàn những khuôn mặt “hào kiệt”: Nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Triều Hoa Đại, nhà thơ Đức Phổ, nhà thơ Hoàng Lộc, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long, nhà văn Lương Thư Trung (Hai Trầu)… Ai đó đã điểm danh mang tật kiểm kê vùng miền: Riêng xứ Huế đếm ra được hai chàng, HĐN và Đức Phổ.

Đức Phổ tửu lượng cao, anh uống “tì tì” cho tàn năm canh cũng “ba say chưa chai”. Những ai tiếp cận lần đầu với vị sĩ quan Hải Quân ngày cũ này đều có chung một nhận định: Hiền từ. Thích cười hơn nói. Có nghĩa là nghe bạn vung vít nhặng xị, nhà thơ Đức Phổ chẳng lấy đó làm điều, chỉ bày vành môi cười không tròn nụ. Thơ anh làm cũng vậy, một biểu tỏ thường đằm thắm, nhỏ nhẹ, nói ít hiểu nhiều. Một chắt lọc đầy sâu lắng. Ít ra thì mình quá vui khi được ngồi bên Huế mềnh, thứ lầu son gác tía nay thành “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Ngồi bên nhau buổi ấy, có thể mình vô tâm không hay biết nhà Sông Thu đã xuất bản cho anh thi tập “Một Chỗ Về”. Hai năm sau, (2002) được biết tạp chí Văn ở Cali đứng tên xuất bản tác phẩm thứ nhì mang tên “Mùa Tình, Xin Kịp Gặt”.

Giống như thành phố mang tên Vĩnh Long, Đức Phổ là một huyện thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Vậy thì danh từ riêng Đức Phổ khoác thân nơi nhà thơ hiền lành ít ăn ít nói chánh quán người Huế này e có ẩn chứa một sự tình khác lạ chăng? Mới đây nhà thơ nhắc lại đôi lần anh từ Atlanta thuộc bang Georgia sang thăm Montréal gặp gỡ quàng vai nhau đi uống cà phê sau những cuộc rượu, mới giật mình hay ra mới đó mà dòng chảy cuộc sống tha phương đã mười mấy năm chìm trôi trong tịch lặng. Đôi lúc chạnh lòng phải mượn lời Trịnh Công Sơn ra để hát thầm “Này nhân gian có nghe đời nghiêng”. Mình xin lấy tạm một bài thơ trong muôn ngàn bài (từng có thơ đăng báo ở Sài Gòn thập niên 1970) của anh Đức Phổ, bài” Gửi Tình Theo Quê” mà mình từng mặn nồng, sau đây:

Sáng nay giống sáng hôm qua
thức dậy. ngồi ngóng xa xa quê tình.
ngóng tin em đến đầu đình
hẹn trăng ngàn núi. hẹn anh phương trời.

mắt buồn theo ngọn lá rơi
thương người xuống vực. lên đồi vẫn thương.
nói chi đời. cuộc vô thường
tử sinh. còn mất. tròn vuông… cũng đành.

em đâu hiểu được ngọn ngành
cuộc ly tan ấy đã thành di căn.
mốt mai dù mãn căn phần
tình thiên thu. vẫn ngàn năm không rời.

sáng nay ngồi ngắm mưa rơi
nguồn cơn nào đã khiến xui bọt bèo.
mây ngang đầu ải lưng đèo
có hay tình đã về theo quê tình.

Đức Phổ

Sáng nay ôn cố tri tân, mình nghe tiếng động lần khân vọng về. Vĩnh Long hề, Đức Phổ hề! Hai nơi kia đã tứ bề mây che. Còn chăng nước chảy lũng khe, hai nhân diện cũ vừa le lói bày. Người xưa dấu mặt độ rày, tri tân năm mới đến vầy cuộc chơi.

Mong sức khoẻ đến với bạn văn, tha thứ nếu trí nhớ mình đã chịu qua định luật nước chảy đá mòn. Chúng ta nay đã tựa nắng quái bên đèo cho nên còn trao được chữ tình với tha nhân là chuyện đáng xiển dương. Hy vọng được đón đọc tiếp các sáng tác của nhị vị. Và như vậy, mai hậu thật dễ cho mình khi muốn vọng động “ôn cố tri tân”. Xa xưa cho đến tận giờ, mình vẫn mang ơn Bùi Giáng:

Giờ đứng lại là bây giờ rất lạ
Là bao giờ từ buổi lạc tin hoa
Nhầm bóng nguyệt là sầu đau khôn tả
Phút trùng lai là ngó vội nhau và…

Hồ Đình Nghiêm

BOLSA CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM ?

Thiệt tình! Đất Bolsa (Little Saigon) không hề hổ danh là đất “Thần Kinh.” Cam đoan nếu quý vị ở lâu sẽ mắc bệnh “thần kinh.” Tôi thấy, chỉ có bệnh nhân tâm thần mới không biết là ở Bolsa có nhiều “chuyện lạ” không giống con giáp nào?!
Bây giờ hãy lấy chút can đảm rồi thử vạch áo cho mọi người xem lưng một phùa xem sao!? Và dĩ nhiên cũng sẵn sàng đón nhận tất cả lời chê bai, kể cả tiếng chửi, để hy vọng tìm ra một lời giải cho những sự thật mà nhiều người không muốn nghe chút nào?!

TVG

CHỈ CÓ Ở BOLSA: Các hãng xe Nhật khi bán xe cho người Việt có thể bớt đến $1000.00 để khỏi gắn đèn “signals” vì người Việt lái xe khu Bolsa không cần xài đèn “signals” khi quẹo hoặc sang “lane.” Ngoài ra, khi đậu xe chờ đèn xanh, dân mít ta ngồi móc mũi búng ra ngoài cửa xe coi rất điệu nghệ!!!
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Người Việt chạy xe 15 Miles Per Hour (MPH) trên đường có bảng hiệu giao thông ghi là “35 MPH Speed Limit”; và chỉ tà tà chạy 50 MPH trên “fast lane” của “Freeway 22” vào sáng sớm tinh sương thứ Bảy và Chủ Nhật! WTF (What The Eff-fort!)
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Mới có vô số người Việt lái xe “Mẹc-sơ-đì” (“Mercedes”) mặc dù chỉ đủ tiền ăn “mì” gói. Ngoài ra, trong xe lúc nào cũng có sẵn thùng “mì ăn liền !”
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Đồng phục (thiếu hoặc không có vải) của chiêu đãi viên quán nhậu ôm, quán cà phê Bikini, Dĩ vãng 1, 2, 3 …

CHỈ CÓ Ở BOLSA: Mới có quảng cáo dich vụ Ly dị Đơn Giản giá $399.00, Khai Phá Sản Dễ Dàng giá $299.00. Hèn chi mấy bà thấy giá “sales” ham quá, rủ nhau làm giấy ly dị ào ào. Mấy ông thì khai phá sản lia chia (Tưng bừng khai trương, Âm thầm đóng cửa!)
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Mới thấy có quảng cáo dich vụ “Lấy Quốc Tịch Hoa Kỳ” mà không cần phải thi cử chi cả?! Miễn thi Quốc tịch! Có tiền là có Quốc tịch !(What a miracle!) (Tôi đã nhìn thất tận mắt mà lỡ mất cơ hội chụp hình mấy cái quảng cáo loại này trên đường Wesminster –


(photo by TUI)

CHỈ CÓ Ở BOLSA: “Nhiệt liệt,” quyết không để bất cứ người Việt nào sống mà không có bằng Quốc tịch Hoa Kỳ (“Thi Bao đậu?”)
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Các quán ăn (phở, hủ tíu, bún bò Huế, bánh cuốn, cháo…) ồn ào như chợ cá Trần Quốc Toản Sài gòn.
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Thực khách đang ngồi ăn cháo lòng trong nhà hàng nghe mấy thực khách bên cạnh lớn tiếng khoe nhau mới đi soi ruột, cột buồng trứng, cắt nhiếp hộ tuyến… nghe rùng rợn ớn da gà.
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Đi khiêu vũ ban trưa 3 tiếng, được học khiêu vũ miễn phí, giá chỉ có $3.00. Ban đêm khiêu vũ tưng bừng 4 tiếng chỉ có $5.00 bao luôn nước uống và thức ăn nhẹ, có luôn hát cho nhau nghe.
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Trung tâm thần dược của thế giới (?) Hàng ngày mấy đài TV hoặc radio quảng cáo hàng loạt các ông “Bác sĩ” Đông Y (dù chỉ học vài tháng trường lèo, non-accredited) có các loại thần dược mới ra lò trị dứt nọc tất cả các loại bệnh nan y (như Viêm gan – HIV, Ung thư…) mà nhà thương, Bác sĩ Mỹ đang bó tay.
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Các loại thuốc bổ dược thảo bán ở Bolsa mang nhãn hiệu là các con số cho dễ nhớ vì bệnh (nạn) nhân là những người già cả, lú lẩn, nhẹ dạ. Ví dụ chai số 39 để trị cao máu, chai số 40 trị cao đường, chai số 69 trị liệt dương, chai số 89 trị thổ tả v..v…
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Thủ đô của các hội đoàn người Việt. Nhiều hội đoàn chỉ vỏn vẹn có 3 hội viên (Hội trường, Phó hội trưởng và Tổng thư ký?!) mà chỗ nào cũng có mặt, cáo phó nào cũng có trong danh sách chia buồn loạn cào cào (mặc dù chẳng hề biết buồn chút nào – Dù gì cũng bớt đi được một đối thủ hè?)
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Mới có các “Cáo phó” lớn (đăng đầy trang trên báo) để khoe lắm con, lắm cháu, lắm… vợ và lắm của; đồng thời nhân tiện khoe cựu đủ thứ cho người già, bằng cấp đủ thứ cho người trẻ, vẻ vang đủ thứ của con cháu trong nhà ta nhớn bé.
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Các phụ nữ có bộ ngực quả bưởi hấp dẫn được mời xuất hiện trên các đài TV làm quảng cáo không công (không cần thù lao) vì được dịp “show” hàng giả màu mỡ (loại tân trang) thoải mái.
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Có tới 48 tiệm “mát-xa” có môn bài (“Licensed”) hẳn hoi; không kể số tiệm “mát-xa” chui. Phải lấy làm lạ là tại sao người Việt tị nạn lại có nhu cầu “mát-xa” cao như vậy? Có lẽ vì sự sống ở Bolsa mệt mỏi hơn các nơi khác?
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Bà Âu Cơ đem xuống Little Sài gòn 10,000 quả trứng, nở ra thành 10,000 phụ nữ, mũi và ví cao giống nhau, da mặt căng giống nhau, cằm chẻ giống nhau, môi trái tim giống nhau, mắt xăm màu giống nhau. Nhìn là biết 10,000 quả trứng ấp từ Thẩm Mỹ Viện Âu Cơ. Bó tay.cơm.

CHỈ CÓ Ở BOLSA: Họp mặt gây quỹ từ thiện liên tu bất tận (cả một chục “phi vụ” mỗi tháng) còn được báo chí viết tường thuật tỉ mỉ trên trang nhất… Chỉ cần giúp $100.00 mà được mang cả nhà đi theo ăn mệt nghỉ và coi văn nghệ miễn phí (?) nữa. Tuyệt chiêu!
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Dù hàng tháng ăn tiền trợ cấp xã hội, ở nhà “Section 8” (trợ cấp “housing” của chính phủ cho người nghèo) nhưng là hội viên danh dự các sòng bài Las Vegas, sắm i-phone mới ra lò lòe thiên hạ
CHỈ CÓ Ở BOLSA: Dù đang làm chủ 2 chợ, nhưng gia đình vẫn có “MediCal” (bảo hiểm sức khỏe cho người nghèo) xài ngon ơ!

(chưa hết đâu… hãy chờ… còn tiếp)
“Tui có người yêu đến tận ‘Bôn-Sa’ (Bolsa).
Tui có người yêu ở ‘Quách Minh Tưa…’ (Westminster).
(Nhái bài “Tình ca người mất trí” của TCS)

Hu hu! Hi hi!

Trần Văn Giang
(ghi lại)
Orange, ngày 22 tháng 12 năm 2018.

KẺ LẠ

1.
Bỏ chiếc khung xe đạp chưa sơn xuống thềm nhà, anh ôm con búp bê bằng nhựa, ngồi chờ. Đây là con búp bê anh mua được với một cái giá gần như cho không trên đường phố Sài Gòn sau ngày Miền Nam giải phóng. Đương nhiên nó không đẹp như búp bê của Nga, nhưng vẫn đẹp hơn những búp bê bằng gỗ hay đất sét ở Hà Nội. Chân tay nó hồng hào, mũm mĩm, mà mắt lại biết nhắm biết mở nữa. Để nằm là nó ngủ, để ngồi là nó thức. Nhất định con gái anh sẽ reo lên, bố ơi, bố ơi, con yêu bố lắm.
Và vợ anh, chắc chị sẽ ôm lấy anh mừng mừng tủi tủi. Chị sẽ khóc, khóc nghẹn ngào vì mừng vui chứ không phải vì lo sợ, như 5 năm trước khi tiễn anh lên đường đi B.
Năm ấy, người ta đã không cho chị khóc. Trong buổi liên hoan, chị phải tươi cười, phải hát hò, phải hô khẩu hiệu để động viên anh. Nhưng khi về đến nhà, chị đã rũ xuống như một cọng rau héo. Có bao nhiêu nước mắt là chị để nó tuôn ra hết bấy nhiêu. Cả anh cũng vậy, khóc mùi mẫn, khóc dầm dề, khóc gần như suốt đêm.
Mãi đến khi đã đeo ba lô lên vai, hai người mới nhận ra rằng, sao ngu dữ vậy, sao cứ khóc lóc than thở hoài mà không yêu nhau đi.
Thế là, cũng trên thềm nhà này, chính chỗ anh đang ngồi này, anh vật chị và chị cũng vật anh, nên cả hai cùng ngã xuống một lúc để cho những thứ cần có nhau tự tìm đến nhau. Những thứ đó không thèm dỗ dành, không cần an ủi, cũng không hứa hẹn, cứ trần trụi xông thẳng vào nhau, hùng hục cắn xé như ăn tươi nuốt sống lẫn nhau, khiến cả anh và chị cùng quằn quại, rên siết một cách hả hê đến nỗi người hàng xóm thức giấc chỉa miệng sang: “định giết nhau đấy à?!”.
Chính lần “yêu” tưởng chừng đã chạm đến gót chân của cái chết ấy mà trong những trận đánh khốc liệt nhất, anh đã sống sót một cách thần kỳ. Và cả trong những cơn sốt rét rừng bải hoải, trong những lần bị thương thịt da thối rữa dòi bò lỏm ngỏm, anh cũng vượt qua khi nhớ tới tiếng kêu đắm đuối “em chết mất anh ơi”!
Rồi chốc nữa đây, chỉ nghĩ tới thôi đã thấy sướng ran, thì hãy cứ để mặc cho con bé chơi với con búp bê nhắm mắt mở mắt, cả hai sẽ lén đưa nhau vào buồng, sẽ không dữ dội điên cuồng như buổi sáng hôm ấy, nhưng nhất định không có cuộc ăn mừng hòa bình nào thắm thiết và no say bằng.

2.
Anh chưa hút xong điếu thuốc thì chị dẫn con gái đi vào sân gạch. Ôi, đúng là con bé xinh đẹp và dễ thương làm sao! Nó xúng xính đi cạnh mẹ, miệng lí nhí hỏi nói gì kia, chắc là hỏi có phải bố về rồi, phải không mẹ? A, dường như nó đang chạy tới bên anh. Và anh rướn người lên để dang tay ra, đón bé.
Nhưng không, nó bấu chặt lấy ống quần của mẹ, rồi giấu mặt vào đó.
Nó sợ! Đúng rồi, nó chưa gặp anh lần nào, sợ là phải.
Nhưng mẹ nó, sao lại nhìn anh với cái nhìn lạnh lẽo, khó chịu như nhìn một người lạ.
Anh đang lúng túng, chưa kịp thốt lên hai tiếng “chào em”, thì đã nghe đau nhói vì những tiếng nói khô lạnh, như đá sỏi ném xuống cái mặt hồ đang nổi sóng của lòng anh.
‘Ông gì kia, sao lại ngồi trước hiên nhà tôi?”
Anh ú ớ, : tôi là …là…là sao vậy trời? anh thoáng nghĩ, vợ mình đây sao, người mà mình thường nghĩ tới cứ như Phật như tiên, sao lại có bộ mặt mắt xanh nanh vàng của một bà chằng hé?! Chắc là đùa đấy thôi, phải không nào, cũng có thể là làm mặt lạnh chứ giữa ban ngày ban mặt mà mình đè ra thì xấu hổ chết!
Nghĩ thế, anh lấy lại bình tĩnh, nói như vuốt ve, dỗ dành:
“Thôi mà em, đừng trêu anh nữa, anh đây mà!”
“ Ông là ai mà dám xưng hô anh em với tôi?”
Thế này thì không phải là đùa dai nữa rồi! Anh điên tiết phun ra:
“ Là chồng cô, rõ chưa?”
Chị cũng không vừa, nói như tạt cả một thau nước vào mặt.
“Đồ điên! Bước ra ngay khỏi nhà tôi!”
Như thế này thì trời đất đảo điên hết rồi! Anh phanh ngực ra, gào to:
“ Cô dám đuổi tôi đấy à? Đây là nhà tôi, nếu cô không còn muốn nhận tôi làm chồng thì cứ việc cút xéo đi, nhưng kia là con tôi, con gái tôi”.
Anh lao xuống thềm, giằng lấy đứa bé. Cả hai đều cố sức kéo về mình khiến đứa bé dài ngoằng ra, ngất lên ặc ặc như sắp đứt làm đôi.
Thấy vậy, người hàng xóm bước qua can ngăn. Rồi cả xóm cùng kéo tới chở che cho đứa bé. Anh phân bua:
“ Làng nước có thấy lạ lùng chưa? Tôi sinh ra ở làng này, là thằng Trần Mạnh T. này, thế mà ma xui quỷ ám khiến con mụ này bảo tôi không phải là chồng, con bé này không phải con tôi, nhà này là của cha mẹ tôi chết đi để lại cho tôi, mà dám bảo tôi không phải chủ nhà, đòi đuổi tôi ra, thế là thế nào, thưa bà con làng nước?!”
Tuôn ra cả một hơi dài những người thật việc thật tưởng sẽ được nghe mọi người cùng kêu lên: thì đúng là ông chứ còn ai vào đây nữa, không ngờ những người đứng vây quanh đều im lặng, không một ai nói ra lời nào.
Anh lại gào lên hoang dại: không phải tôi là chủ nhà này sao? Tôi đã chết đâu, tôi là người thật đây mà, tôi bị thương cùng mình nhưng vẫn sống để về với vợ con, tôi đâu phải là ma hiện hồn về, phải không?
Đúng lúc ấy, một người đàn ông rẽ vào. Ông ta quát:
“Mày là thằng chó nào mà dám bảo là chủ nhà này?”
Một tay ông thộp ngực, một tay ông co lại thành nắm đấm dí sát vào mặt anh. Mặc dù vậy, anh vẫn thoát ra được và gằn giọng:
“Tao cũng muốn hỏi mày là thằng nào mà đến đây cướp nhà, cướp vợ con tao?”
Lúc này ông hàng xóm mới lên tiếng:
“Thôi tôi xin. Dù gì, hai đồng chí cũng là bộ đội phục viên. Đồng chí Trần Mạnh T. này (chỉ người đàn ông), thì đúng là người của làng này, ở sát cạnh nhà tôi, trước khi vào Nam còn qua chào tôi thì không thể là ai khác được. Nhưng đồng chí gì đây, chắc cũng có điều chi ẩn ức, hoặc là bị thuốc độc khai hoang của Mỹ nó làm cho đầu óc không còn sáng suốt nữa, nên mới có thể nhận lầm quê quán vợ con người khác là của mình. Tôi đề nghị hãy đem nhau ra đồn công an để làm sáng tỏ mọi việc chứ không nên hầm hầm muốn giết nhau như thế này.

3.
Tại đồn, trưởng công an nói:
“Đồng chí Trần Mạnh T. cấp bực thượng úy, tình nguyện đi B ngày…tháng, tham dự hơn mười trận đánh, trong đó có trận tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, bốn lần bị thương, được trao huy chương chiến công hạng ba, huy chương anh hùng diệt Mỹ, ngày …tháng…phục viên, được tái nhập hộ khẩu, nhận sổ mua gạo… ”.
“Đó là lý lịch của tôi, anh nói, tuy chưa được nhập hộ khẩu và nhận sổ gạo vì người lạ mặt này (chỉ người đàn ông), đã nhận vơ là tôi, chiếm đoạt tất cả”.
“Tôi không nhận vơ, rõ ràng tôi là con dân của làng này, là thừa kế của dòng họ Trần nhà tôi, là chồng của Nguyễn thị Y. vợ tôi, là cha của con gái tôi tên là Trần thị Tiểu Quyên, yêu cầu đồng chí công an, căn cứ vào hồ sơ lý lịch, giải quyết việc này một cách mau chóng, trả lại danh dự cho tôi. Đồng thời tôi cũng đề nghị điều tra làm rõ âm mưu đen tối của tên Mỹ ngụy CIA này đội lốt bộ đội ta, trước mắt làm tan rã gia đình tôi, sau đó là lót ổ cho đế quốc Mỹ trở lại lần nữa để đánh chiếm nước ta”.
“Tôi còn muốn yêu cầu nhiều hơn nữa, anh nói. Phải đối chiếu chỉ tay và thử ADN của bố và con”.
Sự việc có hai người cùng một lý lịch, cùng một màu tóc, cùng một màu mắt tranh nhau nhà cửa vợ con quả thực chưa hề xảy ra ở làng này. Chỉ có một người biết rõ ai là thật ai là giả, chính là người mẹ. Chỉ cần nghe tiếng bước chân thôi cũng đã biết ai là con của bà, nhưng tiếc thay bà mất rồi. Rối mù như thế nên công an thôn không giải quyết được phải đưa lên các cấp cao hơn.
Trong quá trình điều tra, đồng đội và các cấp chỉ huy đều xác nhận người mà tác giả đang kể chuyện, chính là Trần Mạnh T. Trong khi tại cơ sở, chính quyền và dân làng, nhất là vợ anh, lại khẳng định người đàn ông mà anh tin là ma quỷ đó, thực sự là chồng của mình.
Nhiêu đó đủ điên cái đầu rồi, mà chỉ tay hai người lại giống nhau, ADN cũng phù hợp với ADN của con gái!
Vụ án vì thế thật khó để tuyên bố ai là thật ai là giả. Dẫu có kiện lên tận Trung ương, Đảng cũng bó tay mà thôi. Hồ sơ đành phải xếp lại, Người ta không làm tội anh, nhưng cũng không thừa nhận anh.
Từ đó, anh không nhà cửa, không vợ con, không hộ khẩu, không sổ gạo, sống lang thang vất vưởng như hồn ma bóng quế.
Anh không tài nào hiểu được, bằng phù phép ma thuật nào mà một thằng lưu manh như hắn có thể làm mờ mắt cả làng nước, và vợ anh, người đã chia xương xẻ thịt cho nhau đến nỗi tưởng không còn gì để cho nhau hơn được nữa, lại có thể nhận hắn làm chồng!
Sau này, trên những dặm dài lưu lạc, bới rác kiếm thức ăn, ngủ dưới gậm cầu, anh cũng đã gặp chục hàng trăm, những người đàn ông đi xa một hôm trở về, bỗng thấy trong nhà mình có một kẻ lạ hươ lạ hoắc mà vợ mình lại âu yếm gọi là chồng, con mình lễ phép thưa là cha.
Và cũng không ít những người vợ mất chồng theo cách có một con mẹ nào đó ngang nhiên chui vào giường, làm cái chuyện ấy miên man, rồi má má con con với lũ con mình ngọt xớt.

Phải rất nhiều năm sau nữa, anh mới hiểu được rằng đây là thời của lú, của mê, thời của bọn lộn sòng lộng giả thành chân. Một thời mà nước còn có thể mất, khi có kẻ lạ cứ lăm le nhảy vào làm vua, thì chuyện anh mất cả nhà cửa, mất cả vợ con chỉ là chuyện nhỏ.
Thôi nhé, hãy tìm một chị mất chồng nào đó mà làm lại cuộc đời. Một khi cả hai đều bầm dập thì chẳng còn thằng cha con mẹ nào thèm cướp nữa đâu.

MIẾNG MO CAU

Trong những kỷ vật hiếm hoi mà cô tôi để lại, ngoài đôi bông tai màu đỏ bằng đồng, một chiếc kẹp tóc bằng bạc, những thứ trang sức dành cho một cô gái nghèo, còn có một miếng mo cau hình tam giác to bằng bàn tay, mỗi góc nhọn đều có cột sợi dây dài chừng nửa mét. Tất cả đựng trong một chiếc hộp phủ khăn nhiễu đỏ, chỉ đến ngày giỗ cô, bà tôi mới mở ra lau chùi một cách nâng niu trìu mến.
Vào cái thời mà một miếng trầu cay được đưa vào miệng thường ngày sau miếng cơm, thì cây cau cũng được coi như một loại cây thân thiết của dân quê chỉ sau cây lúa.
Nhà tôi, nhờ vườn rộng nên bà tôi trồng đến cả trăm cây cau. Khi tôi được sinh ra, chúng đã lớn lên cao vút. Những thân cau xám bạc, mảnh mai, đội trên đầu những tàu lá xanh đen, trông từ xa cứ như có hàng trăm người khách đội dù đang đi cà khêu đến thăm nhà tôi vậy.
Vườn cau đối với bà không chỉ vui mắt, phong nhã, đẹp thanh tao mà còn là một nguồn lợi đáng kể trong số thu nhập ít ỏi của gia đình.
Dù đã nhịn ăn đến nỗi cả nhà, ngay cả khi đau bệnh cũng không một ai dám động đến hạt gạo, mà lúa vẫn không đủ để đóng thuế nông nghiệp, vì ông tôi bị quy là địa chủ.
Thực ra, ruộng ông tôi chưa đến hai mẫu ta, dù công cấy và công cày phải trả đến hai mươi công. Nhờ chút danh của ông anh con người bác làm thơ lại ở huyện, mà trong một lần bầu lý trưởng, ông tôi đã được dân làng dồn phiếu cho.
Cái gốc rễ đôn lên địa chủ là từ đó.
Nhưng, nguồn cội sâu xa là từ cái đầu óc đen tối của một tay bần cố nông cốt cán. Hắn ở sau lưng nhà tôi, trong một cái lều xập xệ nhỏ như lỗ mũi. Ngoài cái rẻo đất đó ra, hắn chẳng còn có cục đất nào nữa để ném chó ỉa như cách người ta mỉa mai.
Hắn sống bằng cái nghề mà ai cũng ghét nhưng chẳng dám nói ra. Người ta sợ, cũng đúng thôi, vì hắn thông thuộc hết mọi ngõ ngách của từng nhà, biết chỗ nào cất giữ của quý, biết ai nằm đâu ngủ đâu…
Dù phải tiết kiệm dầu đèn, nhưng mỗi tối bà và mẹ tôi vẫn phải thắp lên soi rọi khắp nhà, vì trong lúc chạng vạng hắn có thể lẻn vào đu người trốn dưới gậm giường, đợi cả nhà ngủ say là khoắng sạch những thứ đồ thờ và nồi chảo làm bằng đồng thau.
Ngoài ra, hắn còn có cái tật ban đêm thích lẻn vào vườn sau nhà tôi để rình xem cô tôi tắm. Cô tôi rất ghét, dù khi tắm vẫn để nguyên cả quần áo. Trong một lần thấy hắn thập thò sau bụi chuối, cô tôi đã lôi cả ông bà tổ tiên nhà hắn ra mà đổ cả xuống sông xuống biển.
Đó là lúc chưa có chính sách thuế nông nghiệp và chưa phát động cải cách ruộng đất. Khi được đảng ủy đưa vào ngồi một trong năm cái ghế chủ tịch đoàn, thì người đầu tiên mà hắn quy địa chủ chính là ông tôi.
Chuyện đó hãy nói sau, giờ xin trở lại với những cây cau của bà tôi. Dù những năm kháng chiến, chẳng còn mấy ai ăn trầu nữa, ngay cả những người già, nhưng cau khô vẫn được mua rất đắt. Người ta bảo cau có thể trị sốt rét và nhất là cầm máu khi bị thương. Ngoài cau sấy khô, bà tôi còn tướt tàu cau bó thành chổi để bán cũng khá được tiền. Mo cau kết thành gàu múc nước, cắt thành quạt mo hay đựng cơm vắt đem ra đồng, rất tiện lợi. Thế nhưng cái miếng mo cau be bé của cô tôi dùng để làm gì, hỏi thì bà chỉ mếu máo cười không nói, ra dấu bảo đi chỗ khác chơi.

Trở lại chuyện trả thù của tay bần cố nông cốt cán.
Dạo ấy là cuối năm 54. Cả làng rùng rùng trống mõ, không đêm nào là không học tập phóng tay phát động quần chúng, tố khổ địa chủ. Ông tôi và cả chục địa chủ phú nông trong làng bị đem ra cho mọi người mắng nhiếc, chửi rủa…tức là đấu lý trước khi đấu lực. Mà đấu lực là bị đánh cho dập mình dập mẩy, ngoan cố thì bị đánh cho đến chết!
Pháp đi càn, đốt nhà hãm hiếp, mổ bụng trẻ con, sợ lắm! Nhưng chưa sợ bằng những cảnh đấu lực khủng khiếp sắp diễn ra! Vì vậy, trong một đêm, ông tôi đã leo lên cây cau cao nhất, định nhảy xuống tự tử. Nhưng khi trông thấy cô tôi đứng dưới gốc gào khóc thảm thiết, ông không còn lòng dạ nào mà chết nữa, đành phải tụt xuống và cả hai cha con cùng ôm nhau ngồi khóc.
Cô tôi, người rất thuộc Kiều, đã nói với ông tôi:
“Thôi xin cha, hãy để cho con bán mình mà chuộc cha!”
Mãi một lúc, ông tôi mới hiểu ra cớ sự, hỏi:
“Bán à, nhưng bán cho ai?”
Cô tôi nói: “bán cho thằng Còn!”
“Thằng Còn nào?”
“Thằng Còn sau nhà chứ còn thằng nào nữa!”
“Thằng ăn cắp đó à?”
“Dạ!”
“Không đời nào! Thôi để cha chết phứt cho rồi! Cha chết là hết chuyện!”
“Không đâu cha! Cha chết, hãy còn mẹ và con. Nhất là con. Nó thèm muốn con từ lâu, nếu lấy được con làm vợ, chắc nó sẽ tha mạng cho cha!”
“Không được! Vậy thì cả cha và con cùng chết, sống như thế nhục nhã lắm!”
“Không sao đâu cha, con có cách sống được mà!”
Ngay từ sáng sớm, cô tôi đã qua báo cho hắn biết cái tin không bao giờ hắn ngờ được, là sẽ lấy hắn làm chồng, thì ngay tối hôm đó, ông tôi đã không bị điệu ra đứng trước nhân dân nữa.
Và, liền hôm sau là động phòng mà không cần cưới hỏi.

Trước cái quyết định như đi vào hang cọp của cô con gái út, thay vì khóc lóc than thở, bà tôi bỗng trở nên im lặng như đất trời trước cơn bão lớn. Bà lấy một cái mo cau còn mới, gọi cô tôi vào buồng, rồi hai mẹ con rầm rì làm những gì trong đó mãi đến chiều tối mới bước ra.
Cô tôi mang theo một bọc áo quần, lặng lẽ ra sau vườn, vạch rào chui qua nhà hắn. Hồi đó chó đã bị giết sạch, nên khi thấy cô tôi bước vào, hắn giật mình kêu ớ ớ, lúng túng không biết gọi cô bằng gì.
Không đèn lồng, không pháo nổ, không đưa dâu, không đón dâu, một đời con gái mà lấy chồng trốn chui trốn nhủi như thế, ông bà tôi rất xấu hổ đau lòng. Ông thì nằm dài trên phản như chết đã ba ngày mà chưa chôn, bà thì cứ ngồi ngoáy mãi cái cối giã trầu đến nỗi làm nó thủng một lỗ mà chưa chịu đưa miếng trầu lên miệng.
Suốt đêm hôm đó hai ông bà không hề ngủ, nín thở chờ đợi mà chẳng biết chờ gì. Có thể là tiếng khóc, cũng có thể là tiếng thét, để cả hai có cớ mà ôm nhau khóc cho đứa con tội nghiệp của mình.
Mặc dù đảng ủy bảo như thế này là sai quan điểm lập trường, là không đúng với đấu tranh giai cấp, nhưng hắn bảo các nữ bần cố có ai chịu làm vợ hắn đâu!
“ Thưa thiệt với các đồng chí, hắn vừa nói vừa cười, con nít thì em biết, nhưng lớn lên thành đàn bà thì em không biết cái đó nó nằm ngang hay nằm dọc, thôi hãy nhắm mắt thông qua giùm cho. Mà nhà đó chiếu theo tiêu chuẩn thì cũng chỉ là trung nông thôi. Địa chủ là do em đẩy lên đấy!”
Vì cần một tên trơ khất có lý lịch đến bảy đời là cố nông để cơ cấu vào trong đội cải cách, nên đảng ủy cũng đành phải bớt cố chấp mà gật đầu. Một trong các vị liền vỗ vai nháy mắt, bảo sắp lên tiên rồi đấy nhé. Sướng thế!
Suốt buổi chiều hắn ngâm mình dưới sông kỳ cọ và vuốt ve cái của nợ, rủ rỉ nựng nịu: “mày sắp sướng ngất trời rồi đấy con ạ. Dài ra hơn nữa đi, to ra hơn nữa đi, cứng lên nào! Đấy, thế đấy, chưa chi đã thấy sướng điên lên rồi!”
Khi cô vợ bước vào, hắn liền đóng kín cửa, và như bọn trai làng cười cợt, chắc là hắn đè nghiến ra như hổ đói vồ mồi. Nhiều người, mặc dù sợ hắn như sợ cọp, nhưng vẫn tỏ ra bất bình và xót xa thương cảm cho cô tôi hoa nhài cắm bãi cứt trâu. Họ bảo bị Tây đen hiếp mà còn ít nhục hơn là làm vợ hắn!
Sáng ra, ai cũng tưởng vớ được con gái nhà địa chủ da trắng tóc dài, là coi như giai cấp vô sản đã chiến thắng, thế nào mặt hắn cũng câng câng, đã dễ ghét lại càng dễ ghét hơn nữa. Rồi thừa thắng xông lên, hắn sẽ đấu cho các nhà khác cũng phải nôn ra hết của cải vòng vàng, nếu muốn giữ lại chút danh tiết của vợ con.
Nhưng không, mặt hắn bỗng trở nên ỉu xìu như một miếng giẻ lau vừa mới đem nhúng nước. Thay vì vác mặt lên hiu hiu tự đắc thì hắn cụp đuôi tiu nghỉu như chó mất chủ. Đêm đấu lý hôm đó, hắn ngồi im re bỏ cả hai chân lên ghế, không còn xỉa xói hò hét, đánh đánh, giết giết như mọi đêm trước nữa.
Chẳng ai hiểu vì sao, nên khi tan buổi đấu lý, nhiều kẻ tò mò liền đi theo hắn về nhà để rình xem. Cả bọn vô cùng kinh ngạc khi thấy hắn bò xuống sàn nhà, vừa van xin vừa rên rỉ như một tên đầy tớ đang chịu tội, trong khi cô vợ nằm lặng thinh trên giường như một bà chủ uy nghiêm khó tính.
Người ta xì xào nhỏ to bàn tán. Có kẻ bảo hắn đã từng đào mồ lên lấy trộm đồ, giờ cùi tận mạng nên bị cô vợ hất xuống giường là phải lắm. Nhưng cũng có người thâm trầm hơn thì bảo, cái giống lưu manh bần tiện nó hùng hùng hổ hổ là vậy, nhưng khi đứng trước một nhan sắc trời cho lại run bắn lên. Làm bậy thì dễ chứ làm chồng một người cách xa mình cả một trời một vực đâu có dễ.
Chẳng biết đâu mà lần. Nhưng cô tôi dù đã sa chân vào hang cọp, cũng vẫn không mất đi cái cốt cách đằm thắm tự nhiên của một người đã được bà tôi dạy dỗ một cách cẩn thận. Mặc cho thằng chồng mặt lúc nào cũng nhăn như khỉ ăn ớt, cô tôi vẫn bình thản, coi như không có chuyện gì xảy ra.
Thế rồi, mấy tháng sau, xệch xạc như một manh chiếu rách, hắn thất thểu bước lên tàu Ba Lan đi tập kết ra Bắc. Cô tôi trở lại nhà, coi như vừa mãn hạn tù.
Khi chính quyền quốc gia đến tiếp thu, có một trung úy muốn ra tay nghĩa hiệp cưới cô làm vợ, nhưng cô lắc đầu từ chối. Cô tâm sự với mẹ tôi: “dù gì, em cũng đã mang tiếng chung chạ với một thằng cán bộ bẩn thỉu, thì chồng và con em nếu có sau này, cũng sẽ chỉ xấu hổ lây mà thôi. Em nhất định ở vậy, thề sẽ không lấy ai nữa!”
Cô sống đến năm ba mươi tuổi thì mất vì một căn bệnh hiểm nghèo.

Phải nhiều năm sau, trong một bữa giỗ cô, cha tôi vừa nhìn lén mẹ tôi vừa giải mã cái bí mật của miếng mo cau do cô tôi để lại.
“ Có gì khó hiểu đâu, ông nói, cô mày đeo cái miếng mo cau ấy vào, giống như cái đai trinh tiết của lính La Mã thời xưa đeo cho vợ trước khi ra trận, thằng Còn chỉ có nước ngồi khóc mà thôi! Nó héo ruột héo gan là vì thế!”
Mặc dù mẹ tôi nguýt dài tưởng chừng vung một đường dao sắc hơn cả dao cau, cha tôi vẫn đưa ly rượu lên môi, uống cạn. Xong, ông khà một tiếng, vuốt chòm râu lơ thơ một cách đắc chí, nói lớn:
“Giỏi thiệt! Chống cọng mà bản lĩnh mưu trí như bà nội và cô mày, đúng là giỏi hơn cả Mỹ!”


QUÊ NGOẠI

Thưở bé, được về ngoại là không gì thích bằng. Mà tôi lại có đến những ba nơi gọi là quê ngoại: một của tôi, một của cha và một của ông nội.
Hai tiếng quê ngoại lúc nào nghe cũng dịu ngọt, ấm áp. Và những chuyện bên ngoại nghe cứ như chuyện cổ tích.
Quê ngoại của tôi ở làng Thuận Thái, một ngôi làng bao quanh những tre là tre nằm dọc phía hạ lưu của sông Kôn, con sông chảy qua thành Đồ Bàn, nơi mà bóng dáng Huyền Trân tưởng chừng vẫn còn thấp thoáng đâu đó bên tháp Cánh Tiên.
Quê ngoại giáp ranh với quê nội, nên tôi có thể chạy một mạch từ nhà nội thẳng đến cổng nhà ngoại, chỉ chừng mười lăm phút. Bà ngoại đã mất sau khi sinh mẹ tôi, nên chỉ có ông ngoại râu trắng và dài tận ngực, ra đón cháu với một miếng đường phèn ngọt lịm.
Tôi nói có thể là sau này lớn lên, chứ lúc ấy tôi mới có bốn tuổi và mẹ tôi phải bồng, tôi mới có thể qua được con đường rẽ vào nhà tối om, đầy gai tre mục.
Nhà ông tôi nằm cạnh nhà ông nghè, là em họ của ông. Ông ấy đậu cử nhân thứ nhì nhưng không ra làm quan, nên vẫn là nhà lá mái lợp tranh, chỉ cửa ngõ xây gạch có đắp hình ông Lã Vọng ngồi câu. Ông là hình ảnh của nạn nhân đấu tố qua nhân vật cụ nghè Nhã của Những tháng năm cuồng nộ.
Làng có một ngôi chợ rất nhỏ lèo tèo vài chiếc lều chỏng chơ, gọi là chợ Rượu, nhưng dạo ấy cấm bán rượu, chỉ nhóm vào buổi sáng và là nơi bà tôi thường đem cau chuối trong vườn nhà lên bán.
Vào dịp Tết, chín cái chòi bé tí mỗi cái chỉ đủ chỗ cho một người ngồi được dựng lên giữa chợ, rồi trống kèn, hò hát, để mọi người từ khắp nơi kéo đến thử vận may. Những ông Ầm, Nọc Đượng, Sáu Cẳng, Bạch Huê …trong trò chơi đánh bài chòi ấy đã in vào đầu óc tôi từ đó. Và cũng không bất ngờ khi nó đi vào tác phẩm Lão tiền bối.
Dân làng, trong một lần đốt rác sau khi dựng chòi xong, đã bị máy bay Pháp trông thấy ném xuống một trái bom giữa chợ. Miểng văng vào tận vườn sau nhà ngoại, giết chết cô cháu gái tám tuổi con dì cùng một tuổi với tôi. Chị ấy mắt đen, da rất trắng, chẳng hiểu sao có tên là Quạ. Đến thời chống Mỹ, một trái nữa lại rơi ngay cạnh nhà, giờ hãy còn một cái hố sâu thẳm không bao giờ cạn nước.
Những ấn tượng đó ít nhiều làm mất dần cái vẻ ngọt ngào đầy yêu thương của quê ngoại, chỉ còn là những vang bóng lạnh lẽo của thương đau mà thôi.
Cái hình ảnh đẹp nhất còn để lại trong tôi, chính là bộ râu dài của ngoại. Trông nó rối rắm nhưng chưa bao giờ làm bối rối những ngón tay bé bỏng của đứa cháu nhỏ, mỗi khi nó được ông cho phép vuốt thử. Cũng may, trong những bài tập làm văn dù đã được nhồi nhét, tôi vẫn không một lần nào đem ra so sánh râu của ông với râu…Bác Hồ!

Quê ngoại thứ hai là của cha tôi. Dù đi bộ phải mất hơn nửa ngày, nhưng tôi vẫn thích theo bà về thăm trong những lần cúng giỗ hay Tết đến.
Mỗi lần như thế, tôi được dịp đi chơi xa, thoát khỏi sự dạy dỗ nghiêm khắc của con trai bà. Tôi lại được những người cháu gọi bà bằng cô chìu chuộng, cho rất nhiều quà bánh và tiền lì xì. Làng tên Lục Thuận, gần ngã ba sông có bắc một cây cầu chữ Y. Bên kia cầu là quê chồng của người chị ruột ông tôi. Ở đó, lính Đại Hàn đã dồn những người đàn ông mà bọn họ nghi là cọng sản vào trong một căn nhà, bên ngoài tưới xăng rồi châm lửa đốt. Một người cháu gọi ông bằng cậu may mắn thoát được nhờ nằm dưới một tấm vách bị ngã đổ.
Con đường đi qua làng của bà là con đường liên xã khá rộng và bằng phẳng, dạo sau này có xe ngựa, đi rất thích. Không gì vui bằng những ngày đầu năm, xúng xính trong bộ quần áo mới, giày mới, được ngồi bên cạnh bác xà ích nhìn cái bờm ngựa vàng hoe phơ phất và nghe tiếng nhạc ngựa leng keng ngọt ngào. Và càng thích hơn nữa, khi trong xe có một cô bé áo tím kiềng vàng cũng theo mẹ đi chùa hay về thăm quê ngoại. Đừng tưởng lấy cớ xe chật mà đụng tay đụng chân như bây giờ, cả hai ngồi im như pho tượng bằng đất sét, chỉ có trái tim, nếu tượng có một trái tim, là nhảy choi choi như muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Nhưng cũng hơi buồn là chẳng có một cái liếc mắt nào dù là liếc trộm, chứ nếu có thì chắc đã nhớ nhau từ độ lâu rồi.Quê ngoại thứ ba là của ông nội tôi. Xa, rất xa, tận chân núi Chuông mây phủ, nơi có hai hòn đá một lớn một bé giống hình người mẹ đang ngồi bắt chí cho con. Từ đó phát sinh câu chuyện huyền hoặc: hòn vọng phu. Vẫn là chờ chồng hóađá, nhưng người chồng lại là người anh ruột bỏ đi sau khi biết mình phạm tội loạn luân! Câu chuyện ấy khiến quê ngoại của ông trở nên huyền bí và hấp dẫn. Tôi từng ao ước được một lần leo lên, tận mắt ngắm và tận tay sờ thử cái da thịt kia một khi đã thành đá nó như thế nào. Mãi đến năm đình chiến, ông tôi lần đầu và cũng là lần duy nhất đưa tôi về thăm quê mẹ của ông.Đứa cháu ngoại già đương nhiên không còn mong gặp ông bàngoại, cũng không mong gặp cậu mợ, chỉ mong gặp những người anh giờ cũng đã già như ông. Họ đứng mãi bên thềm, xúc động không nói lên lời. Mãi một lúc sau mới bước vào nhà. Ông tôi khoe đứa cháu trai mười bốn tuổi và họ xem mắt xemmũi tôi thật lâu như thể cố tìm trên đó một chút gì của nhà họPhạm còn lưu lại ở đứa cháu đời thứ tư. Rồi đó, hết nhà ông bác này đến nhà ông bác nọ mở tiệc đón mời. Chưa bao giờ tôi được ăn nhiều thịt như thế. Các mâm cỗ đầy ắp thịt, có cả thịt nai và heo rừng.
Trong bữa ăn, họ hỏi nói đủ thứ chuyện, nhất là chuyện cải cách ruộng đất vừa qua. Họ cũng không quên nói chuyện đi săn, chuyện cọp trả thù và chuyện bắt rết rừng trong những cơn mưa đầu mùa để làm mồi nhậu. Không ai nói chuyện hai mẹ con trên núi Chuông, không biết có phải vì quá quen thuộc hay vì đó là nơi linh thiêng có đầy âm khí.Nhà họ Phạm khá giàu, đã chia một phần gia tài cho cô em, và bà cố tôi đã đem số của cải ấy về tậu ruộng ở quê chồng. Ruộng sát vườn nhà, gọi là đám Ngõ. Lúc bé, mùa lụt tôi thường ra ngồi câu, đến mùa gặt xem thợ gặt và mùa cấy xemthợ cấy. Hình ảnh những cô thợ cấy trên đồng, tuy lam lũ, nhưng theo tôi là dịu dàng và xinh đẹp nhất. Ruộng vừa bừa xong, nước bùn lênh láng, biến thành một tấm gương thật to in cả mây trời long lanh nắng. Các cô gái mười tám đôi mươi, quần đen xắn lên quá gối, nón trắng nghiêng nghiêng, xếp thành hàng dài như những con thiên nga đen trong vở ballet Swan lake. Khi con đầu đàn dứt một câu hò là cả đám cùng cất tiếng hế hò hê nghe thật êm ái.Nhưng, giống như quê ngoại của tôi và của cha, quê ngoại của ông cũng không tránh khỏi bất hạnh do chiến tranh.Một người có cha đi tập kết, mà con lại bị Thượng cọng bắn chết trên đèo Mang Giang, khi bác ấy chạy xe đò trên đường Quy Nhơn An Khê.Một người nữa, là gái, tôi gọi bằng cô, một mình lái xe geep đưa mẹ tôi vào Ninh Hòa trước khi chạy vào Sài Gòn, đến Phan Thiết thì bị lính di tản cướp mất xe. Nghe nói cô ấy ngã xuống bất tỉnh dù không bị bắn, vì trong bánh xe secours có chứa đầy vàng! Quê ngoại buồn như thế đấy! Mà quê nội cũng không ít buồn hơn. Ông tôi đã bị bắn chết bên bờ dậu sau khi ngôi nhà đã bịđốt cháy. Thật không may, thế hệ của chúng tôi, ai cũng có một tuổi thơ ít nhiều ngậm ngùi. Ngậm ngùi hơn nữa nếu mai đây, chẳng những không còn quê nội quê ngoại, mà cả thành phố cũng trở nên xa lạ, nếu đất nước này biến thành một tỉnh của những con chó sói
phương bắc. Đi đâu, dứng đâu, ngồi đâu cũng chỉ thấy rặt một giống tàu, tàu và tàu!Thì thôi, hãy khóc lên đi hỡi quê hương yêu dấu*!

mượn tựa tiểu thuyết nổi tiếng của Alan Paton


Khuất Đẩu

Đầu năm 2019