AI MANG BỤI ĐỎ ĐI RỒI?

 

Bao nhiêu năm nay, mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh, từ một ca khúc tiền chiến như hơi thở tuyệt vời duy nhất còn lại của một thời đã mất, đến những bài hát mới, phản ảnh sinh động cái hơi thở trăm lần đầm ấm hơn của âm nhạc bây giờ, tôi không khám phá mà chỉ thấy trở lại trong tâm hồn và thẩm âm của mình một số rung động và liên tưởng cố định.
Những rung động ấy đã có từ lâu, những liên tưởng ấy từ đầu đã có. Chúng có từ Thái Thanh với bài hát thứ nhất, và nguyên vẹn như thế cho đến bây giờ. Chẳng phải vì con người thưởng ngoạn âm nhạc trong tôi không có những thay đổi. Cũng chẳng phải vì tiếng hát Thái Thanh là một thực thể âm nhạc bất biến và bất động, không có những thay đổi.
Đã hai mươi năm Thái Thanh hát. Lịch sử âm nhạc ta đã được đánh dấu bằng cái hiện tượng khác thường, duy nhất, là Thái Thanh tiếng hát hai mươi năm. Nếu mỗi con người, mỗi vật thể đều được thực chứng như một biến thái thường hằng trước va chạm khốc liệt dữ dội với đời sống mỗi ngày là một khuôn mặt mới, một tiếng hát, dẫu vượt thời gian như tiếng hát Thái Thanh cũng vậy. Bằng chứng là Thái Thanh của những năm bảy mươi, Thái Thanh của bây giờ không thể và không còn là Thái Thanh của những năm tháng khởi đầu.
Mọi người dễ dàng nhận thấy như tôi là, chuyển lưu không ngừng qua nhiều vùng trời âm điệu khác biệt, hòa nhập không thôi vào mọi không khí, trào lưu âm nhạc và trình diễn thay đổi từng năm, từng mùa như mưa nắng, chính tâm hồn và ý thức người hát, trong mối liên hệ mật thiết một đời với nhạc, thế tất có những biến chuyển. Tiếng hát vì thế cũng đổi thay theo. Nói Thái Thanh hát bao giờ cũng vậy là sai. Lấy một bài hát bây giờ, một bài hát trong mười bốn ca khúc của băng nhạc Tơ Vàng chẳng hạn, cùng nghe với một bài hát cũ, ta thấy ngay, trên cái tiến trình và thành tựu rực rỡ của hai mươi năm đi tới không ngừng, tiếng hát Thái Thanh đang đích thực được lồng đựng trong một kích thước, một tinh thần mới. Sự thay đổi đó không ngẫu nhiên, chẳng tình cờ. Nó biểu hiện cho cái nỗ lực chính yếu của người hát tuyệt nhiên không bao giờ muốn ngủ yên trên những thành công đã có.
Hát với Thái Thanh là một tình yêu muốn cháy đỏ một đời, phải được làm mới từng ngày. Lối hát, cách hát, từ kỹ thuật trình bầy một ca khúc đến cái khó nhận thức hơn, vì ở bên trong, nhưng không phải là không thấy được, là trạng thái tâm hồn Thái Thanh gửi cho âm nhạc, cái phải có và phải thế nào cho tiếng hát của mình bây giờ, trước trưởng thành vượt bậc của âm nhạc và thưởng ngoạn hiện tại, thảy đều dẫn tới một minh chứng: Thái Thanh của những năm bảy mươi đã bỏ lại thật xa ở sau lưng và trong quá khứ, Thái Thanh của thời kỳ khởi nghiệp. Không nhận thấy nỗ lực thay đổi, làm mới này, đó chỉ là vì những người yêu nhạc đã nghe Thái Thanh đều đặn, không đứt quãng, suốt hai mươi năm. Nhìn thấy hoài một khuôn mặt quen thuộc, giản đơn là ta khó thấy những thay đổi của khuôn mặt ấy.
Điểm đặc biệt đáng nói, theo ý tôi, là nếu một mặt, tiếng hát Thái Thanh đã và đang còn vươn phóng rực rỡ tới bắt gặp những chân trời âm điệu mới, phía thưởng ngoạn và tiếp nhận ở rất nhiều người, trong đó có tôi, lại bất biến, từ đầu, không thay đổi. Hai mươi năm, chúng ta vẫn chỉ thấy có một Thái Thanh. Sự ngạc nhiên lại chính là cái hiện tượng muôn vàn quen thuộc. Tại sao như vậy? Tìm hiểu tiếng hát Thái Thanh, cái bởi đâu khiến cho tiếng hát hàng đầu này tồn tại suốt hai mươi năm, trong khi những tiếng hát khác đã tiếp nối nhau lặn chìm và tàn tạ. Cái tại sao, khiến cho sau hai mươi năm, khối lượng cảm tình của khán giả yêu nhạc cả nước dành cho Thái Thanh vẫn đầy ắp như một bát nước đầy, tìm hiểu đó phải được khởi đi từ cái hiện tượng khác thường của thưởng ngoạn tôi vừa nói tới. Nó giải thích được cho cái trường hợp thành tựu duy nhất trong âm nhạc ta.
Ở một bài giới thiệu ngắn trong một chương trình Nhạc Chủ Đề thực hiện trước đây trên làn sóng điện đài Saigon, nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã nhận định về tiếng hát Thái Thanh như một giọng ca không có tuổi. Sáng láng, hồng tươi, không quá khứ. Nhận định này chỉ nói đến một sự thực hiển nhiên. Tốt tươi và phơi phới, bay bổng và cao vút, tiếng hát Thái Thanh hai mươi năm nay là một hơi thở bình minh, ở đó không có một dấu vết nhỏ của tháng năm và quá khứ đè nặng. Đã là một giòng sông đầy, nó vẫn còn là cái thánh thót, cái trong vắt của một giòng suối, nước reo thủy tinh, sỏi lăn trắng muốt. Như một bông hoa không nở và tàn trong một buổi sáng, mà hoa đã mãn khai, vẻ hàm tiếu vẫn còn. Tiếng hát trẻ trung vĩnh viễn, không tuổi, không quá khứ là vì nó tạo mãi được cho người nghe cái cảm giác mát tươi đầu mùa như vậy. Cái não nùng, cái thê thiết rũ rượi là những cái làm già. Thái Thanh không hát cái chết bao giờ, trong cả những ca khúc nói về cái chết. Tiếng hát không bao giờ là một tiếng khóc, nó là đời sống, tiếng cười, và mặt trời. Những cái đen, những cái tối, gì là vũng lầy, gì là vực thẳm, ở ngoài tiếng hát Thái Thanh. Ở ngoài. Không đột nhập.
Nhưng nếu chỉ nói đến cái hiện tượng không có tuổi nằm trong một phía duy nhất là tiếng hát, không đủ. Không có tuổi còn ở phía đối diện, phía người nghe. Nghe Thái Thanh lúc nào cũng vậy, phút rất vui cũng như phút thật buồn. Nghe Thái Thanh ở một nơi chốn nào cũng thế, tiếng hát hàm chứa và phát hiện trong nó một hiệu lực đồng hóa, khiến cho tình yêu của hàng trăm ngàn người gửi cho tiếng hát Thái Thanh có thể thâu tóm toàn vẹn trong một người, trở thành cái có một. Trên dàn nhạc một phòng trà kín bưng mịt mùng khói thuốc, trên thảm cỏ một chương trình từ thiện ngoài trời, ngày nào dưới cái vòm cao vút của Nhà Hát Lớn Hà Nội, bây giờ dưới những đêm sao rực rỡ miền Nam, trên băng nhạc 1800 “phít” hay trên dĩa nhựa 45 vòng, tiếng hát gửi đến, gián tiếp, hay người hát đối diện trực tiếp với đám đông, bằng nhạc Văn Cao, Phạm Duy hay nhạc Hoài Bắc, Cung Tiến, hiệu năng đồng hóa và hiệu lực dẫn độ của tiếng hát Thái Thanh, vĩnh viễn phát xuất từ một khởi điểm tình cảm cố định. Nó dẫn dắt rung động người nghe hát tới những xúc cảm, những liên tưởng cố định. Không một người nào “lỡ” tiếng hát Thái Thanh. Đã gặp một lần là trùng phùng mãi mãi. Chẳng phải vì Thái Thanh đã hát hai mươi năm, còn hát, chỉ đơn giản là chúng ta đã nghe bằng cái trạng thái thuần túy, trong suốt nhất của thưởng ngoạn, nghe bằng cái không tuổi thênh thang phơi phới của mình. Tôi gọi vùng cảm xúc và liên tưởng cố định ấy là quê hương tiếng hát Thái Thanh. Như cây kim trong địa bàn chỉ xoay về hướng bắc, người nghe nào cũng gặp lại, bằng và với tiếng hát Thái Thanh, một thứ quê hương tình cảm muôn thuở trong mình. Chúng ta nói tiếng hát này gợi lại kỷ niệm, đánh thức trí nhớ, đâu phải vì tiếng hát Thái Thanh chỉ hát những bài hướng về kỷ niệm. Chúng ta nói tiếng hát Thái Thanh thân ái, tình nhân, bằng hữu, chỉ là người nghe đã thân ái, bằng hữu, tình nhân với chính mình, từ tiếng hát. Tôi nghĩ đó là nguyên nhân xâu xa đích thực nhất giải thích chu đáo cho khối lượng cảm tình đằm thắm, vững bền, không lạt phai, không lay chuyển, mà quần chúng yêu nhạc ba miền đã dành cho Thái Thanh từ hai mươi năm nay.
Đặt vào tiến trình và hình thành của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tiến trình đó nhất định phải đưa tới một đoạn tuyệt hoàn toàn với những giòng nhạc cũ, hình thành đó tất yếu sẽ nâng đẩy âm nhạc tới những biểu hiện sinh động bay múa nghìn lần hơn cõi nhạc quá khứ, tiếng hát Thái Thanh, hơn mọi tiếng hát khác ở điểm này, hội đủ điều kiện cho một thăng hoa và một hòa nhập lý tưởng. Bởi sau hai mươi năm, nó vẫn là một ra khơi, một lên đường, của những năm bảy mươi và cho những năm bảy mươi, âm nhạc đang được định nghĩa lại, từ phía sáng tác, trình diễn, đến phía thưởng ngoạn. Trước đòi hỏi của một lớp người yêu nhạc càng ngày càng vươn tới những vùng nghệ thuật đích thực, những bước tiến lớn lao ghi nhận được về nghệ thuật hoà tấu, kỹ thuật hoà âm chúng ta thấy thể hiện trong một băng nhạc bây giờ, là những dấu hiệu mở đầu cho một trưởng thành toàn diện.
Tiếng hát Thái Thanh là một đồng nghĩa toàn vẹn với hiện tượng trưởng thành này. Không phải là trong quá khứ, mà bây giờ mới vẹn toàn tiếng hát Thái Thanh. Trên tinh thần này, và trước viễn tượng sáng tươi của âm nhạc Việt Nam những năm bảy mươi, tôi không nghĩ Thái Thanh đã tới, mà nói Thái Thanh mới bắt đầu. Đừng đặt câu hỏi là sau hai mươi năm, bao giờ Thái Thanh vĩnh viễn giã từ âm nhạc. Mùa nhạc này, chúng ta mới chỉ đang nghe những bài hát thứ nhất của Thái Thanh, những bài hát đánh dấu cho một khởi hành mới, những bài hát mở đầu cho một sự nghiệp thứ hai. Những người yêu mến tiếng hát Thái Thanh từ hai mươi năm nay, chắc đều nhận thấy với tôi như vậy.

Mai Thảo.
(lời tựa cho băng nhạc Tơ Vàng 4 – tiếng hát Thái Thanh)
Nguồn: https://nhacxua.vn/nha-van-mai-thao-viet-ve-thai-thanh-nam…/

“SỐNG VỚI SÁCH”

Hồi tôi còn nhỏ, có lần ba tôi, sau khi xem được một quyển sách hay của nhà văn Trung Hoa Lâm Ngữ Đường, đã hứng thú kể tôi nghe câu chuyện về một thư viện rất nổi danh, thư viện Alexandria ở Ai Cập thời cổ đại. Tôi nhớ đại khái như sau: “Lúc đó sách thực hiện bằng ghi chép thủ công. Muốn có nhiều sách cho thư viện, nhân viên thư viện phải đi khắp nơi trong thành Nhã Điển (tên gọi thủ đô Athen của Hy Lạp hồi trước 1975), đặt tiền cọc để mượn sách mang về chép một hoặc nhiều bản. Ngoài ra, khi phát hiện được có bản chép tay nào trên các tàu biển thả neo ngoaì cảng, họ “tạm thời tịch thu” các bản đó để sao chép lại xong mới đem trả.

Chuyện một thư viện có cách nay gần 2.500 năm trước đã rất linh hoạt trong chuyện tổ chức nguồn sách của mình khiến tôi rất thích thú. Ý muốn có một tủ sách gia đình bắt đầu xâm chiếm tôi.

Hoàn cảnh sống nhà tôi hồi đó cũng giống như rất nhiều nhà trong xóm lao động, chủ yếu người lớn đi làm cho tư nhân, lái taxi hay buôn bán nhỏ ở chợ. Con cái nhà nào cũng đông, tự đi học và tự về, đứa nào mực tím cũng dính tay dính áo. Nhưng ba tôi khác với mấy người cha trong xóm, là rất mê đọc sách. Nhà tôi có ông anh là giáo viên, ba má tôi giao phó hẳn việc học mấy đứa con nhỏ cho anh. Như mọi thầy giáo hồi xưa, anh cũng mê sách. Đam mê của các bậc phụ – huynh này đã ảnh hưởng mấy anh em trong nhà.

Sách của ba tôi không nhiều, chứa trong khoảng ba thùng cạc tông. Đa số ông mua từ hồi trai trẻ, chiếm nhiều là truyện Tàu như Tiết Nhơn Quý chinh đông, Đông Chu Liệt quốc, Tam Quốc chí… Có mấy tập thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử là những người cùng thế hệ với ông. Trong số đó, tôi thích nhất bộ “Việt Nam Thi nhân Tiền chiến” của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng. Dù không nổi tiếng như quyển Thi Nhân Việt Nam của Hoàì Thanh – Hoàì Chân nhưng cuốn này rất đầy đặn, phong phú và tất nhiên cập nhật hơn với nhiều bài thơ phát hiện sau này.

Mấy cái thùng sách của ông để cạnh chỗ ngủ.Có lần một cơn mưa dữ dội đưa nước vào nhà, ngấm vào mấy cái thùng khiến cả nhà phải bày ra phơi cả tuần. Rất may sách không bị hư hại nhiều.

Sách của anh Hai tôi để trong một cái rương bằng thiếc. Đó là dấu vết một thời dạy học ở một vùng biên giới Việt – Miên. Khi trở về Sài Gòn, anh đem rương về và nó thành thế giới bí mật đầy quyến rũ với tôi. Có lúc tôi lục lọi được chúng. Trong đó có những tập quay roneo bàì giảng cho sinh viên Văn khoa Sài gòn trước 1975 nhưng tác giả là Đinh Gia Khánh và Nguyễn Đình Thi của Hà Nội. Sau này tôi biết để có những bản sách hiếm có như vậy, các giáo sư Văn khoa đã tìm cách đặt sách từ Hà Nội qua Paris và từ Paris mang về Sài Gòn phổ biến cho Sinh viên. Trong rương có mấy quyển sách bàn về chuyện tình yêu nam nữ của Công giáo, có cả phần giáo dục giới tính. Tò mò xem, tôi ngượng quá nên bí mật đem… bỏ thùng rác. Khi biết được ông anh nổi giận nhưng không giải thích khiến tôi tin chắc là mình… đúng. Tội nghiệp mấy quyển sách vô tội và hiền khô so với sách giáo dục giới tính bây giờ.

Dù có mấy thùng sách, nhà vẫn không có một tủ sách đàng hoàng. Lúc ấy, nhớ đến hồi được làm “quản thủ” tủ sách lớp Năm của trường tiểu học Võ Tánh, tôi bắt đầu lập tủ sách gia đình. Trước hết, xin những quyển sách nào ông anh không đọc nữa, tôi đưa vào tủ sách của tôi.

Thời kỳ này, quyển sách gây men hứng thú là quyển Con Nai Tơ, tác giả Mỹ tôi không nhớ tên nhưng người dịch là Trương Bảo Sơn. Ông này sau dịch những quyển nổi tiếng khác như Ông già và biển cả của Hemingway và Gió đông Gió tây của Pearl Buck. Quyển thứ hai là Phiêu lưu trên lưng ngỗng của Senma Largerlof, nhà văn Thuỵ Điển. Chi tiết tôi nhớ nhất trong truyện là sự tiếc nuối mãnh liệt của cậu bé Nin. Một đêm, cậu bước vào một ngôi thành lớn bên bờ biển. Có nhiều người buôn bán trong thành mời cậu mua sản vật ở đó nhưng cậu từ chối vì tiền trong túi quá ít, chỉ có vài đồng xu. Sáng hôm sau, toàn bộ tòa thành biến mất. Cậu được kể rằng một trăm năm tòa thành này mới hiện ra một lần và trong lần đó, nếu ai mua bán với người trong thành dù chỉ một đồng xu bé cũng giúp nó sống lại sau một lời nguyền tự ngàn xưa.

Thời điểm ấy là năm mới đến sự kiện 1975. Nhiều nhà bán đổ tháo sách ra vỉa hè. Một bà trong xóm tôi không biết vì sao có được mấy bao tải sách của nhà xuất bản Phượng Giang, nhóm Tự Lực Văn Đoàn với bìa trắng, chữ đen và logo hình chim Phượng. Lập tức tôi xúm vào lựa và không nhớ tiền đâu mà mua được khá nhiều quyển của Nhất Linh, Kháí Hưng, Thạch Lam, Trần Tiêu… Bà bán cho người khách duy nhất trong xóm là tôi và đến khi tôi không mua nữa thì bà đem đi bán … ve chai.

Bộ sách này với khoảng hơn hai chục cuốn làm tăng giá trị tủ sách của tôi. Suốt thời gian đó, đang học lớp Tám, xem chừng tôi mê sách hơn mê học. Suốt ngày tôi có mặt ở đường Trần Quang Khải là nơi có bán sách báo vỉa hè để canh mua sách với tất cả tiền có trong tay.

Có lần tôi lập một kế hoạch “chôm” sách đáng xấu hổ. Số là phường tôi ở có một căn nhà chủ bỏ đi nước ngoài năm 75. Nhà này biến thành trụ sở thanh niên của phường. Trong nhà còn đủ bàn, ghế và một tủ sách nhỏ. Theo anh chị đến đó, tôi thường mượn sách để đọc tại chỗ. Đến một ngày, tôi phát hiện sách trên kệ thưa dần. Tôi hỏi và ông anh trả lời rằng chúng đã được số thanh niên ở đây đem xé ra quấn thuốc hút và… đi vệ sinh.

Tôi phẫn uất và lo lắng. Nhìn lên kệ, tôi thấy quyển “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc. Quyển này tôi mê từ hồi chín mườì tuổi khi ông anh mượn về từ thư viện. Sách dày, có nhiều bài ca dao tục ngữ hay. Tôi biết chắc nó sẽ bị tanh bành theo mấy quyển kia.

Một thằng bạn trong xóm thường lên trụ sở này chơi đã bày cách cho tôi. Số là nhà này là căn hộ chung cư ở lầu 1, phía sau dãy nhà là con hẻm. Ngon ơ ! Buổi trưa, tôi và nó lên đó chơi. Lúc nào cũng có người ở đó nên không thể bỏ vào bụng áo một quyển sách dày cộm được. Theo lệ thường, tôi mượn mấy tờ báo thiếu nhi xem tại bàn. Đợi lúc một anh vừa rời căn phòng phía sau ra đứng ngoài hành lang trò chuyện với bạn, tôi đến kệ chộp ngay quyển sách đưa cho thằng bạn ngồi cạnh và biến nhanh xuống cầu thang, chạy ra con hẻm sau dãy nhà. Bạn tôi lập tức xuống nhà bếp, mở cửa thông ra phía sau và ném sách xuống đường. Sách nặng, rơi bộp xuống đất, bung ngay bìa. Tôi chụp nhanh và lỉnh về nhà, tim đập thình thịch.

Tôi rủ thằng bạn đi uống nước đá nhận và nó nhanh chóng quên chuyện đó. Còn tôi đem đóng lại sách, bọc ny lon và sung sướng lật nó đọc hằng ngày. Trong một thời gian dài, thỉnh thoảng lương tâm tôi lại dậy lên chuyện lấy cắp sách.

Khi nhà có độ ngàn quyển sách, ba tôi bắt đầu đóng kệ sách. Đang thời khó khăn, kệ là những miếng ván đặt thẳng góc với tường, cố định bằng những sợi dây kẽm dằng giữ. Cái buồng nhỏ nhà tôi bốn phía đều có kệ sách. Mỗi tường hai kệ, vị chi là tám kệ. Ở giữa là cái giường rộng và lối đi. Kệ sách là nơi bụi ưa thích, vài tháng quét một lần vẫn thấy có bụi. Ông anh tôi lên cơn suyễn thường xuyên thời gian đó. Kệ sách, thứ mà cả nhà đều biết là quý trở thành gánh nặng không muốn rời bỏ.

Một buổi chiều chủ nhật, cảm thấy mình có lỗi vì làm ảnh hưởng không khí trong nhà, tôi bắt đầu ngồi phân loại sách. Có những quyển truyện đọc đi không muốn đọc lại. Có những quyển vô bổ. Có những quyển có cũng được, không có không sao. Rất nhiều quyển làm dậy lên những cảm xúc mới mẻ. Một quyển sách hay mua được trong chiều chủ nhật. Quyển sách kỷ niệm đứa bạn thân không gặp lại nữa. Số sách không dùng, tôi tặng một nhà sư trẻ mê đọc sách và khi anh ta chở những bao sách ra về, tôi cảm thấy thanh thản vì đã không phụ những quyển sách chắt chiu bao năm nay.

Viết về sách thì có thể … viết dăm bài nữa vẫn chưa chán. Vừa rồi, tôi vui mừng tìm được quyển “Sống với sách” của Alan Powers. Cuốn sách nói về sự gắn bó với đời sống con người mà phương Tây, nơi phát minh ra máy in đã khiến sách dễ dàng phổ biến rộng và nhiều hơn, rẻ hơn trong xã hội, giúp con người phát triển nhanh hơn. Với góc nhìn riêng, tôi nghĩ nếu không có sách, cuộc sống này sẽ khó khăn biết bao nhiêu với rất nhiều người, trong đó có tôi. Với sách, chúng ta không cảm thấy bơ vơ. Sách góp phần không nhỏ nuôi dưỡng, chở che, xoa dịu tâm hồn và giúp ta lớn khôn. Dường như vấn đề nào trên đời này, kể cả cái chết, luôn có một quyển sách đang chờ ta ở đâu đó để lý giải, an ủi, trò chuyện và dẫn dắt ta đi.

Phạm Công Luận

Trích cuốn “Những lối về ấu thơ” viết chung với Đặng Nguyễn Đông Vy –

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ – Tập thơ Vũ Hữu Định

Một buổi trưa năm 1973 trong căn phòng bề bộn ở đường Nguyễn Trãi trong thành Ô Ma, tôi đang dọn dẹp thì có một người đi thẳng vào, dáng thấp, đậm, bận áo chemie dài tay, trán cao, cười rạng rỡ :
– Mày là Phạm thanh Chương? Tao Vũ hữu Định, nhà còn cơm không?
Vũ hữu Định ngồi xuống sàn nhà, cởi áo, ăn cơm tự nhiên:
– Mày có biết Hạc thành Hoa nói “làm người mà được ăn cơm thì có hạnh phúc gì bằng” chứ?
Câu nói ấy cứ ám ảnh tôi mãi suốt những năm tháng sau này. Buổi chiều tôi giao căn phòng cho Vũ hữu Định, anh tắm giặt, viết rồi nằm lăn ra ngủ. Chiều tối trở về tôi không thấy Vũ hữu Định đâu cả, anh đến rồi đi bất chợt như một cơn mưa giông ở Saigon.
Bẵng đi hơn tuần lễ, một buổi sáng Vũ hữu Định đến tìm tôi :
– Sáng nay mày làm gì? Gần đây có cái quán nào không?
– Chi vậy ?
– Đi uống với tao chai bia.
– Sao hôm nay chơi “sộp” vậy ?
– Tao vừa ghé VĂN nhận nhuận bút bài thơ của Hạc thành Hoa.
Tôi với Vũ hữu Định vào cái quán nhỏ trong khuôn viên thành Ô Ma, Vũ hữu Định nói mỗi đứa uống 1 chai thôi nhưng cứ vừa uống hết anh lại kêu thêm chai nữa… và cứ như vậy cho đến lúc nhuận bút bài thơ của Hạc thành Hoa bay theo những chiếc vỏ chai nằm lổn ngổn dưới góc bàn anh mới chịu ra về.
“Chiều khó thở ta ngồi bên quán xép.
Một miếng khô một xị rượu nồng
Nhai là nói với đời lận đận
Uống là nghe sầu cháy long đong”

Vũ hữu Định mất năm 1981, mười lăm năm sau, năm 1996 Trần từ Duy đứng ra quyên góp anh em trong giới văn nghệ, tập hợp bản thảo để in cuốn CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ. Sách in trang nhã, do Nguyễn việt Hải (hoạ sĩ báo Tuổi trẻ một hoạ sĩ tài hoa trình bày thật ấn tượng. Việt Hải mất khi còn rất trẻ năm 2003 trên đường đi viếng tang lễ nhà thơ Thu Bồn). Tập thơ hình thành như một nén nhang tưởng nhớ anh. Sự đóng góp tuy nhỏ nhoi và khiêm tốn của đông đủ bạn bè đó cũng là cách biểu hiện sự trân trọng và quí mến của tình bằng hữu, những người đã một thời cùng sống hay quen biết Vũ hữu Định.
Anh mất để lại một lượng thơ khá lớn in rải rác trên các tạp chí và tản mác trong bạn bè. Và, anh cũng để lại trong lòng người yêu thơ nỗi nhớ tiếc khôn nguôi.
Hơn ba mươi năm sau, đọc lại thơ Vũ hữu Định bên cạnh những ngổn ngang và lo toan cuộc sống, vẫn thấy dòng thơ anh nhẹ nhàng, mộc mạc đến độ hồn nhiên như chính anh chẳng hề vướng bận điều gì :
” Con đường đất cỏ màu xanh bữa nọ
Cây bên đường màu lá lục hôm kia.
Con chim bỏ đi có bận quay về
Cất tiếng hát chào niềm vui của gió.
Anh ra đứng sau hè để ngó
Không thấy chim mà thấy tiếng kinh chiều”.
Anh thấy “tiếng kinh chiều” giữa khoảng không gian bát ngát, giữa cái vô cùng của thời gian và trong cái ngắn ngủi của kiếp người không biết anh có cảm nhận được điều gì? Nhưng chắc chắn một điều là lòng anh sẽ buồn man mác, vì :
“Vui trong lòng anh đã bước chân theo.
Em có nói là em không trở lại”
“Không trở lại” là một điều mất mát mà trong mất mát bao giờ cũng đi kèm theo đó một nỗi buồn.
Con đường đất, bãi cỏ, dòng sông, luỹ tre làng hình ảnh quen thuộc của tuổi thơ, những hình ảnh quen thuộc đến nỗi không còn rỏ nét mỗi khi nhớ lại, đó cũng là cách nói hết sức tự nhiên của một tâm hồn phóng khoáng ;
” Cây bên đường, cỏ bụi, hàng tre
Quen đến nỗi không nhớ gì tha thiết”
Đôi khi những hình ảnh quá quen thuộc không còn làm ta để ý đến những tiểu tiết, nhưng có một lúc nào đó ta chợt nhận ra :
” Con chim nhỏ có nằm trong vạt cỏ.
Bữa hôm nay anh mới thấy cỏ vàng”.
Vũ hữu Định đã sống một quãng đời lang bạt, anh đã từng “bụi đời” như một gã giang hồ chính hiệu .
” Ta có những ngày đi vất vưởng
Những buổi chiều ngồi chẳng đợi ai quen”.
Tài hoa thì mệnh yểu, không biết câu này có đúng với trường hợp Vũ hữu Định hay không? Anh làm thơ như một nhu cầu bức xúc, như hơi thở, như tiếng nói tự đáy lòng mình. Chân chất, mộc mạc nhưng đầy ấn tượng :
“Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân.
Đi dăm phút đã về chốn cũ…”
Anh mất không phải …CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…mà còn biết bao điều để nhớ về anh :
” Xin cám ơn thành phố có em
Xin cám ơn một mái tóc mềm..”
Xin được cám ơn những bài thơ anh đã viết, những bài thơ bao giờ cũng thấp thoáng một nỗi ngậm ngùi như cuộc đời ngắn ngủi của anh.

Saigon, mùa Giáng sinh
Phạm thanh Chương

   Tay phải làm tay trái không biết

 

Thiện trở về sau bảy năm trong trại giam XM. Đại ca quyết định quên tất cả để làm lại đời. Mà còn cái chi để không làm lại thưa giang hồ? Bốn mươi lăm tuổi đời cọng bảy năm xé lịch. Già rồi, cửa ngõ giang hồ không rãnh để tiếp nhà ngươi đâu. Và vợ con? Ngươi có chạnh lòng khi mỗi năm hai đợt không vợ thì con gái lớn phải mỏi mòn trên xe khách, nuốt tám trăm cây số đường để đến trại giam? Có chạnh lòng khi đi ba thằng con chưa thằng nào được cấp hai và thằng út một tuổi? Vì sao mà tù tội vậy Thiện? Và vì sao ở cái tuổi bốn mươi lăm lại lĩnh án?

Thiện hả? Tay nầy có cái đuôi sau tên nghe như một tay chơi hoa lá cành cây cảnh. Thiện Ngọc Điễm. Ngọc Điễm là tên đời vợ trước của Thiện. Mười tám tuổi Thiện đắm đuối đến quên luôn cha mẹ chứ đường đi lối về thì khỏi nói. Nhưng cha Thiện không đồng ý. Lý do? Ông nói chửa trước không bao giờ xứng đáng là con dâu ông. Má và ba ông anh trai của Ngọc Điễm tuyên bố rằng không sính lễ thì, con gái tao dại tao có cháu ngoại tao ẳm. Đôi bên căng như dây đàn khi nghe tâu mách từ bọn vô công rỗi nghề. Đụng ngoài đường nhưng họ không nhìn thấy nhau. Vì vậy Kim đồng và Ngọc nữ quyết định tự xây tổ uyên ương. Ba ông anh của nàng sôi sục căm hờn khi thằng mắc dịch làm nhục nhã gia đình. Con gái bỏ nhà theo trai là điếm nhục cả ba họ chứ không vừa. Và đã là đàn ông thì không thể ngậm đắng nuốt cay được.

Ba anh bèn can ke kỹ càng và cùng tấn công Thiện bằng cây ba phân vuông. Sỡ dĩ phải can ke là bởi Thiện vốn là võ sĩ. Nó chơi võ từ năm tám tuổi. Thượng đài ba lần thắng cả ba. Võ sĩ Thiện nhanh như sóc và nể là anh của vợ nên nhịn và bỏ chạy về chòi. Vợ yêu quý hỏi vì sao anh bèn kể đầu đuôi và nói:

– Anh mà không nhanh là phơi thây ngoài chiến địa như Võ Đông Sơ rồi.

Nghe qua vợ yêu bèn đi một hơi về nhà gặp mẹ – ý là – má ơi tha cho con, dù gì cũng lỡ rồi, má căng quá tội nghiệp cháu ngoại má. Bà má chỉ một con gái mong uống được ly rượu quý. Ngờ đâu ra cái nước non nầy. Bà có giận nhưng biết làm sao? Có câu con dại cái mang chồng hoang vợ chịu. Phải chi ba thằng anh nghĩ như vậy thì hay quá. Khề khà chén chú chén anh nghe em gái đang trong nhà bèn tuôn về. Thằng lớn chả nói chả rằng xáng cái bốp. Tát mà nghe “bốp” là mạnh lắm, vì thế con nhỏ bụng mang dạ chửa té cái đụi. Thiện nghe vợ yêu được đưa đi cấp cứu ở đa khoa bèn ba chân bốn cẳng ù xuống viện. Bác sĩ bảo rằng đã cố gắng hết sức nhưng rất tiếc chỉ cứu được mẹ chứ con thì… Thiện vào thăm và nhận ra môi má Ngọc Điễm bị bầm. Hỏi. Bà má vợ không chính thức trả lời bị té. Nhưng con mắt võ sĩ nhìn qua là biết, nó gằn giọng:

– Một trong ba thằng bây thằng nào đánh vợ tao?

Ngọc Điễm nắm tay tình mà rằng… thôi anh ơi… em xin anh… Thương vợ quá nên Thiện cho qua. Và dân dụng sức kiếm miếng ăn khó lắm. Ngụ trong bệnh viện bọn nghèo khó sợ xanh mặt. Mới ngày thứ ba Ngọc Điễm được đưa về nhà để mẹ chăm sóc. Thiện đang một xị giải phá cơn sầu thì lại nghe tin vợ yêu có chuyện. Và rồi Ngọc Điễm ra đi trên tay Thiện bởi cô bị băng huyết. Trong cơn thất vọng đến não nùng Thiện đập cho ba thằng anh một trận rồi quay sang trách móc rằng, vì cha mà tui mất cả vợ lẫn con. Ông cha yên lặng đòng đưa trên võng. Biết nói gì bây giờ? Chả phải vì cái cố chấp mà ra tang thương đấy sao?

Buồn tình Thiện dấn thân vào chốn bụi đời. Ngó vậy chứ bụi bờ kiếm sống dễ hơn than củi, miễn gan góc và chấp nhận hiểm nguy. Ai thuê đánh thằng nọ thằng kia dằn mặt Thiện Ngọc Điễm chơi liền. Không đánh đấm thì xập xám tiến lên bài cào xì dách. Đá gà cờ tướng môn nào Thiện cũng có tên trong chốn dzô hàng. Riêng khoản cớ tướng toàn thể dân chơi trong thị trấn Thiện xô nhẹ là té. Và tất nhiên họ và tên tuổi Thiện cũng nằm trong cơ quan bài trừ tệ nạn. Nhưng thế giới của bóng tối muôn đời bí ẩn. Biết vậy nhưng bắt cho được thì khó lắm. Thế giới nầy mười thằng thông minh mưu trí tầm Chu Du hết chín và Thiện là số một.

Giang hồ còn kể rằng đại gia Minh Thước ở thị xã Q khá giỏi trong môn chiếu tướng. Ông ta giàu nên chả cần tiền. Một cuộc cờ thì chầu cà phê hay chầu nhậu là hết phép. Và thường thì Minh Thước chả bao giờ chung. Nghe danh nên Thiện Ngọc Điễm tầm đến Minh Thước thử chơi cho biết. Đại gia năm mươi tuổi nhìn oắt con hai mươi chả buồn tiếp nhưng, cái mặt câng câng kiểu, ta là một là ta là tất cả nên đại gia phải trị cho bớt thói ngông cuồng. Cờ bày ra chơi hai ván Thiện thua non đúng hai. Giang hồ đứng lên vòng tay thi lễ mà rằng:

– Đệ tử xin bái phục. Mong gặp lại sư phụ vào một ngày đẹp trời.

Hôm ấy Minh Thước đang trong bún bò Huế thì Thiện Ngọc Điễm lù lù vào:

– A… xin chào sư phụ… lâu qua không gặp. Sư phụ khỏe chứ?

– Cám ơn đã hỏi thăm. Mày sao? Cờ cuộc lên được chút nào không?

– Dạ… đánh mới biết chứ nói ai nói không được.

Nghe ôn con nói là đại gia sinh ghét. Mới một trận nho nhỏ nên nó chưa biết lễ độ là gì. Cả hai kéo ra cà phê cóc và Thiện lại tiếp tục chung vừa bún bò vừa cà phê thuốc lá. Lại thi lễ hẹn ngày tái ngộ. Đại gia nhìn theo cười ruồi nhủ thầm tao cho mày tái nạm luôn chứ làm chi có tái ngộ mà ham.

Lần thứ ba Minh Thước đang đàm đạo về thế thái nhân tình gớm chết thay cùng bè bạn trong “Trà đình Dạ thảo” – một quán – không dành cho vai u thịt bắp thì mồ hôi dầu Thiện vào, lại lâu quá không gặp lại chúc sức khỏe và lại làm ván chơi vui. Thiện lắc đầu:

– Ông chấp tui con xe thì còn dám và đánh cái gì lớn lớn chút ông già ơi – nó chuyển từ sư phụ sang ông già nghe mất dạy hết phép – ba cái nhỏ lẻ không có hứng.

– Chấp thì chấp. Mày muốn đánh sao?

Thiện móc trong túi ra cọc tiền:

– Một triệu. Ván nào chung ván đó
– Là mày muốn đó nghe.

Thiện thua liền hai ván. Nó hằn học thẩy hết cọc tiền lên bàn:
– Chơi tất tay ván cuối. Thua là tui cạch ông tới chết luôn.

Đại gia trả lại một triệu ra cái vẻ tao không ăn của chú mày. Nhưng Thiện đang thấu cáy nên nóng tiết

:- Một ván cuối. Chẳng qua nãy giờ tui thả…

– Bà cha mày… rượu mời không uống lại uống rượu phạt. Chơi thì chơi.

Ván thứ ba – mẹ cha ơi – Minh Thước thua. Hơ hỏng một chút mà bị thằng con nít cho phơi áo. Đắc chí bởi vừa được bạc vừa thắng trận Thiện ha hả cười. Đại gia là người chứ đâu phải thánh mà không điên:

– Chơi ván nữa.
– Thôi… tui về. Hẹn ông bữa khác. Hôm nay tui rút lại hai từ sư phụ nghe.

Nhìn kẻ thắng cuộc đếm tiền và là lần đầu thua bạc, chẳng là bao với đại gia nhưng đau chứ đâu có đùa. Thua kẻ không đáng thua thật là đáng hận:

– Mày thắng rồi đánh bài chuồn à? Giang hồ thế đếch gì kỳ vậy?

– Được… tiếp thì tiếp… ván nầy đánh hết bạc trong tay luôn. Một ván cuối có anh em làm chứng nghe.

– Khỏi cần ai chứng chiếc lôi thôi. Hết ván nầy tao cũng phải về.

Đại gia lại thua. Lần gặp kế tiếp Minh Thước không chấp xe nữa mà đánh đồng. Sau vài lần lâm trận đại gia nhận ra mình bị gài thế. Từ chỗ ghét Minh Thước quay qua phục tuổi trẻ tài cao. Cứ thế, hết môn nầy đến môn khác Thiện ung dung sống. Nhưng bấy nhiêu chỉ vừa để giang hồ nể. Ở chốn bụi đời nể là chưa đủ. Phải làm sao cho ba quân sợ và phục mới là cao thủ.

Ở thị trấn có một tay chơi khét tiếng chém mướn đâm thuê tên Lục. Ngọai hiệu là Lục Tào Xá. Cũng chả biết tại sao hắn có cái tên nầy. Chắc thiên hạ thuận miệng nên kêu cho vui mồm. Lục hành tẩu khắp chốn, cả cái nơi cư ngụ hắn cũng không chừa. Hắn phô phang rằng quen biết ông nầy bà nọ nên chả kiêng ai. Một tối nọ Lục và Thiện chung một mâm rượu cùng hai đệ tử. Ỷ lớn tuổi nên Lục chửi từ trái sang phải. Hắn đòi đập luôn cả Thiện. Nhịn không xiết Thiện  điểm mặt du côn và nói:

– Tao sẽ chém mày trong đêm nay.

Nói xong liền đứng lên băng mình vào bóng tối. Chủ quán nhìn Lục hàm ý rằng mày ghẹo trúng thằng nói là làm thì nguy rồi. Lục cũng sợ. Giang hồ tuy lấy bóng tối làm ánh sáng nhưng lại sợ bóng tối một phép. Nó rình rập đâu đó trên đường rồi phang cho mình một cây vô đầu là tiêu. Ma không biết quỷ không hay nói chi công quyền. Mà công quyền có truy được thì mình không xanh cỏ ắt cũng tâm thần mất rồi. Sợ quá. Sợ đến nỗi không dám về. Lục đứng trong hẻm la làng thằng Thiện đòi chém tao… bà mẹ nó thằng Thiện đòi chém tao…  bà con cô bác trong hẻm, cả ngoài đường nghe la liền mở cửa ra xem… hôm sau toàn thị trấn kháo rằng Lục Tào Xá mặt xanh như đít nhái, quỳ lạy xin tha bởi bị Thiện kề dao vô cổ. Chuyện không nói cho có là thực tiễn của cuộc đời muôn mặt.

Nhưng chuyện lấy vợ lần hai của Thiện mới làm thiên hạ kinh tâm. Nàng tên Trâm. Con nhà nghèo nhưng nhan sắc tầm hoa nhường nguyệt thẹn. Hải Đầu Bò là con trai một quan chức. Cha nó bận việc công nên việc nhà lo không trọn. Má Hải bận kinh doanh nên giao con cho học thêm học bớt. Có tiền Hải học làm dân chơi. Nó cầm đầu một băng khét lẹt cơm khê ở thị xã Q. Cũng ăn nhậu phá quán, đánh lộn đánh lạo làm nhức đầu nhức óc cả công quyền. Ông cha đau lòng lắm khi ngày nào cũng có cái sự méc của bạn có thẩm quyền bên thị xã về con trai quý. Bà mẹ vung tiền ra bồi thường những cái con bà phá và đánh người gây thương tích cũng đến mệt.

Nghe con trai đòi lấy vợ ông cha và bà má mừng húm. Nó lấy vợ thì có vợ cầm chân. Xưa nay đàn ông hư hao cách mấy vẫn bị tình nó đánh cho sụm gối. Trâm mới lớn nên lòng hơi nhẹ, với lại Hải xem tiền cứ như lá mít nên cha mẹ nàng muội luôn cả hồn lẫn xác. Lấy được thằng chồng đã giàu lại con quan chức là phúc ba đời để lại. Phúc đâu chả thấy. Cưới về được bốn tháng, khi cái bụng Trâm vun lên thì Hải tính nào tật nấy. Đúng là giang sơn dễ đổi bản tính khó dời. Trâm xin về nhà mẹ ruột để đẻ. Nàng sinh đôi một trai một gái. Tiên sư cha thằng con nhà giàu, sư luôn con mẹ nó… nhà chồng Trâm rót tiền cho cha mẹ nàng chăm cháu. Họ bận quá, con còn lo không được nói chi cả cặp cháu. Thằng chồng lâu lâu ghé qua ngó con một chút rồi đi. Trâm ngộ ta mình nhầm và cô lạnh tanh khi chồng có mặt. Đàn bà là sinh vật cao cấp đầy bí ẩn. Họ nồng cháy đó mà băng giá cũng đó luôn. Thật đau lòng cho nhan sắc khi nhặt trúng một chồng hổng chồng hông.

Một hôm kia Thiện đi qua nhà Trâm và choáng váng khi trông thấy một mặt ngọc đang tay ẳm, tay ru con. Chàng và nàng đụng mặt nhau và có cùng một cảm giác, một linh cảm thần bí rằng một nửa của mình đây rồi. Rất nhanh chóng họ là bạn. Bạn. Nhưng tha nhân nhìn vào và thấy rằng khó mà là bạn với cặp đôi nầy.

Tất nhiên mọi thứ không thể qua được mắt thần Hải Đầu Bò.

Hắn đến thăm vợ và cuộc chiến tình nổ ra:

– Thằng Thiện đến đây làm gì vậy?

– Anh hỏi làm chi?

– Mày là vợ, tao phải quan tâm mày hiểu chưa?

– Anh ấy đang là bạn của tôi. Bạn thông thường, nhưng cái kiểu tám tháng quan tâm một lần thế nầy thì trước sau tôi sẽ là bạn tình của anh ấy.

– Mày có tin là tao cho mày ăn bạt tai không? Tiền bạc má tao chu cấp nuôi cả nhà mày còn muốn gì nữa?

– Chỉ cần một bạt tai tôi sẽ bỏ anh tức khắc. Đồng bạc bố thí của gia đình anh không đủ để trả công tôi làm nô lệ tình cho anh đâu. Đừng có mà khinh miệt người khác. Anh đi đi. Ngày mai đến để ký đơn ly hôn.

– Tao không ký đâu mà ham.

– Không hả? Nên nhớ tôi có quyền đơn phương xin ly hôn đấy.

Ông cha bà má chồng con ơi con hỡi đừng ly mà tội nghiệp cho cháu của má. Trâm trả lời ai tội nghiệp tôi? Bà má chồng rằng cháu tao tao bắt, luật pháp và tòa án trong tay tao, mày cứ ly thử xem ai thiệt cho biết. Nhưng tòa án rất công minh. Họ cho ly dị sau ba lần hòa giải không thành và cả hai chia nhau hai đứa nhỏ. Trâm con gái và Hải con trai. Sau bốn tháng làm vợ và một năm làm mẹ tài sản của Trâm chỉ chừng đó.

Cô về tay ôm con gái tay chống trán buồn sầu. Và Thiện Ngọc Điễm đến với tư cách bạn. Dân thị trấn dám lên thị xã vuốt râu hùm là muốn chết. Hải cho đầu bò đầu bướu đến. Tiếc thay dân chơi phố đâu bằng giang hồ thứ thiệt. Thiện thọc direct gối lên chỏ xuống làm cả bọn tháo chạy không còn manh giáp. Anh nhắn với lũ đầu bò rằng Hải muốn gì cứ đến.

Hải đến và cả hai kéo nhau ra cà phê cóc:

– Nếu mày còn yêu con Trâm – Thiện nói – thì vẫn kịp để làm lại. Còn không thì tao nhảy vào. Chọn đi. Còn ba cái trò đánh đấm thì ngữ em út của mày không lại tao đâu.

– Tôi đã ly dị thì không trở lại. Nhưng nếu anh lấy Trâm làm vợ thì làm ơn xem con gái tôi như con.

– Vụ đó mày khỏi phải lo.

Vậy là nửa thất lạc tìm thấy nhau. Họ nên một cặp. Thiện đưa Trâm và con gái của cô rời thị trấn vào thâm sơn phá nương làm rẫy, cất nhà cho mẹ con cô sống. Nhưng cuộc đời không tha cho Thiện. Địa phương đến và khó dễ chuyện phá lâm bất hợp pháp. Trâm ngoại trừ móc tiền nộp phạt còn phải chung chi cho yên. Kẹt cái, ba ông quan nhỏ nhỏ đã có lần một thì có lần hai. Đến lần thứ ba thì Thiện nổi máu du côn đập cho quan chức con con một trận. Trước khi bỏ trốn còn tuyên bố:

– Bây mà làm khó vợ con tao thì chớ có trách.

Vậy là cứ nghiệp cũ Thiện kiếm tiền nuôi vợ con. Cái cùng cốc nơi Trâm cư ngụ ngày mỗi đông. Thiện thoắt đi thoắt về như ma trơi như quỷ dịch. Trâm đẻ cho Thiện trong tám năm những bốn đứa con trai. Đồng bạc nuôi bầy trẻ lớn lên và ăn học từ đánh mướn cờ bạc đá gà và cờ tướng. Một hôm kia Thiện bị công an liên tỉnh giả nai đánh bạc cùng Thiện. Những con na chà cho Thiện ăn những trăm triệu ngoài. Đủ để ra tòa lĩnh án. Tòa kêu ba năm tù giam nhưng sỡ dĩ bẩy năm mới về đời là bởi trong trại Thiện tổ chức vượt ngục.

***

Mấy lần đào tường khoét vách đều không thành. Có lẽ trời xanh không dung nên bị phản bội. Hận ngút trời xanh. Thiện thề sẽ báo thù khi tự do. Ăn thêm bốn năm và bị đưa vô khu vực cách ly bởi bị liệt vô hàng tù nhân nguy hiểm. Khu vực nầy rất nhàn nhã. Phạm chỉ một việc duy nhất là chăm sóc các loại cây cảnh. Từ thân cho đến rễ của lõi các loại cây khô có khắp nơi trong sân. Tươi thì có những mai chiếu thủy, mai vàng, mai trắng, khế bon-sai… Khi Thiện đến, trong cách ly chỉ có một phạm đã già. Ông ta đang trầm tư bên một tượng Bồ Đề Tổ Sư sắp thành hình. Trên tay là một ngọn dao lưỡi sáng như nước, bên dưới chân nào búa nào chàng, đục…

Thiện gác tay lên trán nằm suốt một tuần. Hận thù làm thằng tù không ngủ được. Nằm riết cũng chán Thiện vòng vòng, nghiêng ngó ngắm nhìn, nhưng không thể trèo leo chi được để trốn. Cuối cùng ghé lại nơi lão già đang gọt cắt ngó chơi cho biết. Ông ta hỏi:

– Sao vô đây mậy?

– Vượt ngục. Còn ông?

– Tao cũng vậy.

– Ông ở đây lâu chưa?

– Chục năm rồi.

– Dữ vậy? Bị gì mà những chục năm?

– Bốn năm thôi nhưng tao tự nguyện ở lại.

– Tự nguyện? Ông bị điên hả?

– Tao bình thường.

– Nhưng tại sao ông bị tù rồi tại sao tự nguyện?

– Thằng lính của tao – lão gia cười– thấy nó không nhà tao lôi về coi như em. Ngờ đâu trong lúc tao đi làm ăn nó với vợ tao thông dâm…

– À… vậy là ông vung một dao nên bị tó đúng không?

– Không. Tao có biết mẹ gì đâu. Hai đứa nó gom một gom trốn biệt. Trước khi đi còn báo cho công an bắt khi tao đang làm việc.

– Ông làm gì? Ăn cướp hả?

– Gần gần vậy.

– Là sao?

– Tao phá đoản nhập nha.

Bị kêu sáu năm cho một lốc phi vụ. Lão gia không cam tâm nên vượt ngục báo thù. Quyết định cho gian phu dâm phụ chầu địa ngục còn mình tử hình cũng ô kê. Hai lần vượt đều không lọt nên bóc thêm bốn cuốn lịch. Sau khi ra cách ly lão gia ngộ ra một điều…

– Điều chi sư phụ?

– Thằng ngươi khi bị cắm sừng bò lên đầu là lỗi tại nó chứ không phải con đàn bà. Biến cái vô dụng của mình thành hận rồi trút lên đầu kẻ khác là ngu.

– Nói vậy nghĩa là sư phụ thừa nhận mình dỡ ẹt vụ đưa tình lên thiên thai.

– Khà khà… muốn hiểu sao cũng được.

– Nhưng ông chứ tôi dứt khoát không cam tâm. Có chết tôi cũng băm chúng ra trăm mảnh.

– Sau khi băm mày làm gì?

– Băm cho hả dạ rồi tính sau.

Buổi tối lão gia ngồi xếp bằng luyện công. Thiện cũng hùng hục gối lên chỏ  xuống sợ quên đòn. Đời võ sĩ không rèn thì có mà tự sát. Luyện xong nó hỏi:

– Ông chơi môn gì vậy?

– Hiệp khí đạo phe ta gọi là khí công.

– Vậy mà tui tưởng ông ngồi thiền.

– Mày muốn thử với tao một chút không?

– Ông thì với tui không quá ba mươi giây. Nếu quá tui xin quỳ xuống bái ông là sư.

– Mày nói đó nghe.

Cả hai vòng tay thi lễ rất chi là kiếm hiệp. Sau đó lui ra và phặp phặp phặp Thiện nhào tới tấn công. Cả năm phút trôi qua mà một trung niên bốn mươi lăm tuổi không đánh trúng được lão gìa sáu mươi một đòn nào. Rồi với một đòn chân lão đã làm Thiện ngã cái bịch.

Thiện quỳ xuống tôn lão gia làm thầy xin thọ giáo Hiếp Khí Đạo. Suốt một năm vận công điều khí để sử dụng khí lực đập tan hỉ nộ trong tâm. Lão gia dạy cho Thiện thế nào là bình tâm với mọi sự. Tất cả có đó mà không đó. Thiện ngộ ra rằng cuộc đời nầy bí ẩn như âm dương và mênh mông như biển rộng. Nó cũng rất dễ hiểu và nhỏ xíu xìu xiu. Lão gia dạy rằng Tôn Ngộ Không nhảy một bước là mười ngàn tám trăm dặm nhưng cả chục bước vẫn không ra khỏi bàn tay Như Lai. Chả phải nhỏ lắm ru?

Vậy nên Thiện quên tất cả để làm lại khi mãn án. Anh về với vợ con. Trong tay là bộ đồ nghề lão gia mến tặng. Nó gồm có dao tiện, búa, đục, chàng. Có cả kéo. Đủ để Thiện hành nghề hoa lá cành kiểng khô kiểng ướt.

Nghe Thiện về thằng em rể đến thăm.

***

– Vợ chồng mày dạo này làm gì?

– Dạ em phụ hồ còn vợ em tráng bánh.

– Tao nghe chị ba nói hồi đám cươi hai đứa mầy được anh chị em đôi bên giúp nhiều lắm nay sao khổ vậy?

– Dạ… làm ăn thất bát quá anh.

– Thất bát sao?

– Dạ… chỉ vì vợ chồng em cho vay trả góp nên bị xù đến hết vốn.

– Tao có nghe chị ba nói vụ nầy. Cho vay lãi mà dồn cho một người thì vợ chồng mày ngu quá. Mày đến đây tính nhờ tao đòi giùm hả? Về đi. Tao rửa tay gác kiếm rồi. Vợ chồng mày cũng nên bỏ đi và xem như bị đánh rơi. Anh của tụi mày đã già rồi. Hiểu không?

– Dạ… em đến thăm anh thôi chứ không dám nhờ vả chi.

Thằng em rể ra về. Thiện nghĩ đến con em út đang bên cái bếp hừng hực nóng và mồ hôi ròng ròng ngồi tráng bánh. Đâu có được. Có tu hành đà đắc đạo chăng đi nữa thì cũng phải lấy công bằng làm tôn chỉ để hưóng chúng sinh vào nẽo thiện. Làm chi có chuyện vay tiền, lãi đã không vốn cùng quên luôn? Chả phải muốn có kinh thầy trò Đường Tăng phải chung cái bình bát vàng cho A Nan và Ca Diếp đấy sao? Thiện lấy cái di động gọi đến kẻ đã vay tiền của em gái:

– A lô…

– A lô… Chín Móm đây… ai gọi vậy?

– Xin lỗi nghe bạn… mình là Thiện đây.

– Thiện nào? Đừng nói là Thiện Ngọc Điễm nghe.

– Ừ… đúng rồi… Ngọc Điễm đây. Em biết anh chớ.

– Biết. Rồi sao?

– Anh mới về… nghe em gái anh nói vợ chồng em vay của nó trăm rưởi triệu nhưng đã năm năm rồi em quên mất. Giờ em tính sao?

– Chuyện cũ rồi… lãi hơn vốn rồi. Ông còn muốn gì nữa?

– Không… em chỉ trả có hai kỳ lãi và quên luôn. Em ỷ vô thế của đại K Hùng Còi nên xù. Bây giờ anh nói gọn cho dễ hiểu. Với anh Hùng Còi chả là cái đinh gì. Anh cho vợ chồng em ba ngày để gửi cho em gái anh năm mươi triệu. Rõ chưa? Nếu không anh xem như em trực tiếp đối đầu với anh.

– A lô… a lô… a lô….

***

– A lô… Thiện Ngọc Điễm nghe đây.

– À… Thiện hả? Tao, Hùng Còi đây.

– Có gì không?

– Tao vừa nghe thằng em nói mày buộc nó phải trả năm mươi triệu cho ai đó…

– Cho em gái tao. Có chi không?

– Mày mới về mà cha chú quá. Muốn vô ấp nằm lại không?

– Hùng à… mày đi đâu, làm gì, thậm chí ăn sáng ở quán nào tao đều biết. Tao nói gọn một câu rằng chuyện của tao mày đừng có xen vào. Tao có bốn thằng con trai, đem đi câu sấu ba thằng vẫn còn một. Mày chỉ có một. Muốn làm ông nội hay chỉ là ông ngoại tùy mày quyết định.

Ngày thứ ba con nợ gọi điện báo cho Thiện, đã đến nhà và trả năm mươi triệu cho cô em gái:

– Vậy là xong hả anh?

– Xong là sao? Đó là bước thứ nhất. Bây giờ ta bước tiếp nhé. Anh cho vợ chồng em trong vòng một tháng nữa trả tiếp năm mươi triệu. Rõ chưa?

– Trời ơi… vợ chồng em kẹt lắm anh ơi. Em phải…

– Em đã phải sao thì đó là chuyện của em anh không biết. Nhưng đã vay thì phải trả. Nếu không anh sẽ tính lãi trong năm năm mà em đã lỡ quên. Hiểu chưa?

Đến ngày thứ hai mươi tám Thiện gọi cho nợ không trả:

– Dạ… – nợ mà xù nói – em chạy hết ra rồi. Anh muốn chém giết gì thì tùy…

– Mày nghe Hùng Còi đối phó với tao hả? Tao biết nhà mày có xe, có đất làm vườn, có quán xá… được rồi…. đã nói vậy thì mày làm ơn mở cửa và nhìn ra đường.

– …….

– Thấy rồi chớ? Mày nhắm lính Hùng Còi cự lại không? Biết ai chớ hả? Băng Hải Đầu Bò ở thị xã Q đó.

Đợt thứ ba đối tác than rằng gần tết rồi anh Thiện ơi, anh cho em qua tết được không? Nhưng Thiện biết đối tác không hề thiếu thốn và, nghĩ đến cô em gái suốt năm năm tráng bánh bỏ mối kiếm cơm bên cái lò hừng hực lửa. Thiện từ chối lời thỉnh cầu. Và hai mươi tám tết vợ chồng cô em đi tết anh trai. Thiện đang bên bình trà trong vườn ngồi đọc Thủy Hử truyện. Thấy em gái vui cười Thiện hỏi:

– Dạo nầy làm ăn sao rồi em?

– Dạ… tết này nhà em vui lắm anh…

Chả biết cô em có biết anh trai đòi giúp nợ cho cô không nhỉ? Có thể có cũng có thể không. Nhưng chuyện ấy chả có gì quan trọng. Làm anh giúp cho em không được cái nầy thì cái khác. Tay phải làm việc nghĩa tay trái không được biết. Thánh nhân dạy vậy.

     Nguyễn Trí

Kẻ phản bội

 

Phải mất một năm, sau khi mọi thứ đã an yên, đúc kết từ cuộc tình với Tuân cộng thêm vài kinh nghiệm “xương máu” từ bạn bè, Loan mới nghiệm ra cái quy trình mà những “kẻ phản bội” áp dụng đều giống nhau, gần như chung một công thức.
Đầu tiên là chối quanh co, sau khi trấn an đối phương bằng những câu từ đầy yêu thương và dịu êm hay giả lả. Tiếp đó, nếu đối phương có những biểu hiện nhún nhường một chút kiểu như, từ bây giờ em không nhắc lại chuyện này nữa, tức khắc kẻ phản bội sẽ có những câu từ rất hiếu chiến và áp đặt, kiểu như em đa nghi quá đấy, em dựng lên câu chuyện có pho có điển, kiểu tin vịt… cho thỏa nỗi nghi ngờ của em mà không quan tâm anh bị xúc phạm thế nào. Vân vân và vân vân. Thế rồi, khi câu chuyện vỡ lở, chỉ cần đối phương có những câu nói kiểu như chúng ta tạm ngưng gặp nhau hay ngưng chat một thời gian là bên kia “OK” ngay tức khắc, bắt đầu tung hoành ngang dọc như chim sổ lồng, coi như chẳng còn cặp mắt cú vọ nào theo dõi 24/24. Và đến đoạn kết thúc, ngậm ngùi nhìn kẻ phản bội chính thức tay trong tay với người khác, hủy kết bạn hay chặn Facebook, email rồi sau đó đường ai nấy đi.
Câu chuyện bắt đầu vào cái ngày lễ Tình nhân. Bình thường mỗi khi đi công tác Tuân không bao giờ vào Facebook cho dù có tin… trời sập đến nơi. Vậy mà sớm tinh mơ, mắt nhắm mắt mở điện thoại của Loan báo có tin nhắn, là Tuân chúc mừng em nhân ngày đặc biệt, anh yêu em, cầu mong em luôn hạnh phúc. Loan ngạc nhiên lắm, sau khi cám ơn người yêu dấu, cô mới nhắn qua thêm một câu không nén được tò mò, lần đầu tiên em thấy anh online Facebook khi đi công tác. Bên kia, Tuân trả lời bằng một đôi môi trái tim và dòng chữ, là vì anh yêu em và hôm nay là lễ Tình nhân. Sau đó, Loan bỏ điện thoại đi vệ sinh, thay quần áo chuẩn bị đi làm. Trước khi cất điện thoại vô túi, Loan vào tin nhắn và thấy bên Tuân vẫn còn sáng đèn. Cô bấm gửi qua một câu: “Anh chưa đi làm sao?”.
Không có dấu hiệu cho biết Tuân đã đọc.
Sau đó, vượt qua bao nhiêu ngã tư đèn xanh đỏ, kẹt cứng người và xe cộ, Loan đến cơ quan. Mở điện thoại lần nữa Loan thấy bên Tuân vẫn còn sáng đèn. Cô theo dõi đến gần 9 giờ mới thấy phía bên kia off.
Câu chuyện không có gì cần phải nhớ ấy đi vào quên lãng cho đến một hôm, Loan nhận được một email chỉ có hình chụp màn hình, nội dung đầy những lời yêu thương của Tuân với một người nào đó vào đúng ngày lễ Tình nhân. Tự dưng miệng Loan đắng nghét và khô khốc dù trước đó 10 phút cô vừa uống xong ly cà phê nhiều sữa. Trạng thái tiếp theo là cảm giác nửa bàng hoàng, nửa lo sợ mà Loan không biết mình lo sợ điều gì. Sau đó là trống ngực đập liên hồi, mồ hôi vã ra.
Bình tĩnh, rót ly nước ực một hơi, Loan bắt đầu hít vào, thở ra đều đặn.
Lạ nữa, vừa uống xong ly nước vậy mà miệng Loan vẫn tiếp tục khô khốc, đắng nghét. Đến giờ cơm Loan không thấy đói, cô theo các đồng nghiệp xuống căn tin bằng những bước chân vô hồn và cái đầu hoàn toàn rỗng. Bên cạnh cô mọi người cười nói rôm rả, ồn ào nhưng hầu như cô không biết ai đang nói với ai chuyện gì.
Lùa đại vài ba hột cơm, Loan trở lại phòng làm việc mà không chờ đồng nghiệp như mọi khi. Cô mở tủ lấy cái túi ngủ trải ra sàn và chui vào trong đó rồi bắt đầu… khóc!
Cho đã một hồi xong Loan bắt đầu công việc tua lại các mốc thời gian và động não suy nghĩ xem chủ nhân email đó là ai? Mục đích gì?

Những câu chat trong ngày lễ Tình nhân phù hợp với thời gian Loan thấy Tuân online trong đợt công tác. Cô lục tung cuốn sổ ký ức. Dạo sau này Tuân đặt chế độ bạn bè riêng tư chỉ mình Tuân biết. Có lần Loan thắc mắc thì Tuân nói kiểu lấp liếm cho qua rằng không muốn có cặp mắt của mấy đứa bạn nhiều chuyện, tò mò theo dõi. Hành tung của anh trên Facebook cũng khác trước, rất ít “thích” hay bình luận trạng thái của ai và không cập nhật gì. Như vậy, vào Facebook chỉ có chat?
Nhớ lại, nhiều đêm Loan thấy Tuân online đến 2 giờ sáng, mỗi khi cô tỉnh giấc trong đêm. Thường do buồn ngủ lại nhanh nên Loan bỏ qua, không để tâm. Có lần cô nhắn hỏi Tuân sao chưa ngủ nhưng không thấy dấu hiệu cho biết đã đọc và sau đó thì tắt đèn.
Bức ảnh chụp hình màn hình mười ngày sau Loan mới gửi cho Tuân sau khi cô bỏ thời gian theo dõi đèn xanh phía bên kia và chắc chắn mình không sai, cũng như đoán được chủ ý của người gửi email khiêu khích.
Tất nhiên ban đầu Tuân chối. Nhưng những lời bao biện quá yếu về lý đã khiến sau đó anh lồng lên, hùng hổ tự bảo vệ mình.
Và câu chuyện chấm dứt từ phía Loan trước. Cô không muốn dây vào cuộc tình tay ba, một người đi với một người, một người đi với nụ cười hắt hiu. Cô không đủ bao dung để tha thứ, bỏ qua. Gõ câu trạng thái trong bài hát “Đắp mộ cuộc tình”, để đúng một ngày, Loan khóa Facebook, ủi luôn ứng dụng trên điện thoại.
Loan cảm giác như mình vừa trút đi một cái gánh, lòng nhẹ tênh. Nhưng cũng chỉ được một ngày sau đó là triền miên nỗi buồn với một trái tim nặng trĩu và những đêm dài mắt thao láo nằm đếm tiếng thằn lằn tặc lưỡi.
Từ những đêm trắng đó Loan thấy mình chợt thành… triết gia. Cô bắt đầu phân tích, mình có lỗi gì mà bị phản bội như vậy sau 3 năm yêu nhau? Mới hiểu ra là cô chẳng có lỗi gì cả ngoại trừ cái lỗi là Tuân không tìm thấy cảm hứng từ cô nữa. Mỗi người trong đời thường vài ba cuộc tình mới tiến đến hôn nhân. Mỗi cuộc tình đều có một kết thúc. Thế gian xưa giờ vậy rồi cho nên mới có thất tình, đau khổ vì tình. Vậy thì chuyện mình đâu ngoại lệ? Một ngày có biết bao nhiêu cặp tình nhân chia tay nhau, ai thống kê được số khăn giấy tiêu thụ cho những cuộc chia tay này?

Có người khuyên yêu là phải biết buông tay, buông là cho mình, vì mình chứ không phải cho kẻ phản bội. Chuyện hôm qua mình yêu anh ta là chuyện tưởng tượng. Chuyện thật là hôm nay hai người đã chia tay. Đau khổ cũng chỉ là tưởng tượng. Chính cái đầu khiến mình đau khổ chứ có ai thấy hay biết mình đau khổ? Đừng đem ký ức ra dằn vặt nữa. Phải quên ngay đi, làm mới lại mình. Thế nhưng để quên một đối tượng có dễ dàng không và cần bao nhiêu thời gian? Cô nghiệm ra thêm, hình như tình yêu và tình thù sinh ra hai loại hóa chất khác nhau tác động vào trí não con người. Mới hôm qua còn hưng phấn, đầy cảm hứng sống, sang hôm nay đã thấy như sinh lực trong người cạn kiệt, chán chường, buông trôi, thậm chí nhấc cái tay thôi cũng không nổi.
Để giải phóng hết cái loại hóa chất gây hụt hẫng, buồn tủi, nhớ nhung, sầu khổ ra khỏi trái tim, trí não con người mất bao lâu? Nhắc mình, tỉnh lại đi hãy nhận ra rằng đối tượng không xứng đáng để mình yêu thương. Chính anh ta vừa đánh mất đi một người yêu thương anh ta thật lòng, còn mình thì chỉ mất một thứ không đáng. Ai thiệt hơn ai? Hãy cứu mình trước, một người đã không còn nghĩ đến mình nữa thì mình có chết họ cũng chẳng màng. Như vậy bi lụy làm chi?
Quan trọng nữa là phải đẹp hơn, mới hơn ngày hôm qua cho kẻ phản bội khi gặp lại phải khao khát! Cần chấm dứt câu chuyện này càng sớm càng tốt.
Biết rõ là vậy, tuy nhiên ban ngày đi làm không sao nhưng đêm về, những suy nghĩ cứ lan man dài thượt như thế. Lắc đầu cố quên lại càng thấy ấm ức, tức tối. Hết tức người rồi đâm trách mình sao cứ nghĩ hoài một câu chuyện tồi tệ, một con người không đáng giá một xu.
Một ngày, đứng trước gương, Loan giật mình, có phải là mình không? Mắt trõm lơ, mặt hốc hác, tóc tai xơ xác, gầy tong teo khô khốc…
Cái người trong gương nhìn cô bằng ánh mắt đầy trách móc, giận hờn. Loan cảm giác như có luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng khiến cô rùng mình. Và rồi tỉnh táo nhận ra, mình đã lãng phí quá nhiều thời gian cho một câu chuyện, một con người đã chết từ lâu rồi!
Như người vừa thoát khỏi cơn mộng dữ. Loan tỉnh hồn, nếu mình không thoát được tức là mình đã chết theo hắn ta. Bản thân mình có đáng bị đối xử như vậy không?

Sau này mỗi khi nhớ lại, Loan biết rất rõ chính cái cảm giác “tỉnh hồn” đã kéo cô thoát khỏi ma trận mộng mị, tiếc nuối, oán hờn, trách cứ… và làm nên những suy nghĩ giải quyết vấn đề cho bản thân một cách tích cực, hữu hiệu.
Cho đến một ngày Loan gặp lại Tuân đang đi cùng với một người khác cô thấy lòng mình nhẹ tênh, thanh thản. Cô chợt ngạc nhiên không thể hiểu được tại sao có một quãng thời gian mình đau khổ vì câu chuyện này đến thế, trông hắn ta cũng xoàng thôi mà, có gì đáng để quan tâm đâu!
“Kẻ phản bội” tròn xoe mắt nhìn cô: “Trông em khác quá, đẹp bất ngờ, anh nhìn không ra luôn”.
Loan mỉm cười nói câu cám ơn, hỏi thăm sức khỏe. Cô chợt thấy ánh mắt bên cạnh Tuân nhìn cô vừa ghen tức vừa hằn học.
Lúc quay đi, Loan liếc nhìn mình trong cửa kính một shop thời trang. Cũng bộ váy màu đỏ đã mặc một lần hai tuần trước rồi nhưng cô bỗng thấy mình đẹp lạ!

Đào Thị Thanh Tuyền

Thử giải mã sức quyến rũ trường cửu của NHẠC XUÂN MIỀN NAM TRƯỚC 1975: Chiến Tranh, Hoà Bình, Nước Mắt &…cả Nỗi Chết!

Vì sao miền Nam trước 1975 có một dòng nhạc gọi là nhạc Xuân, còn miền Bắc thì không?
Một câu hỏi mà muốn trả lời chắc phải bằng một tiểu luận hoặc 1 quyển sách, một câu hỏi về một lãnh vực mà ngày nay ít nhiều đã bị trùm phủ bởi những trí trá hư-nguỵ.

Chỉ biết rằng cũng chừng ấy bài, từng ấy giọng ca… nhưng nỗi bùi ngùi & cảm hứng “phải” nghe nhạc Xuân thì năm nào cũng là một nỗi bùi ngùi & háo hức mới…Có thể “e Tết lại không rượu mềm môi, không bánh không trà, chẳng hạt dưa”, “không có hoa mai không có hoa đào trang điểm trần ai…Không áo xanh áo đỏ thơm hương”…nhưng nhất thiết phải có…nhạc Xuân….Bắt đầu có thể rất sớm, sau đêm Noel …là…đến mùa nhạc Tết, “hát lên nhân loại trả buồn cho Đông”.

Trước năm 1975, nhạc Việt không màu, bởi trăm nghìn hồng tía nên không ai tô vẽ màu cho âm nhạc. Danh từ “nhạc vàng”cũng ít được sử dụng. Có chăng chỉ có ban Nhạc Vàng của Đài truyền hình Sài Gòn do nhạc Phó Quốc Lân phụ trách, “Nhạc vàng”trong chương trình ca nhạc này chỉ mang ý nghĩa những bài nhạc hay, được tuyển chọn cho chương trình này (*), hoặc số hiếm những cuốn băng có ghi nhạc vàng = “chương trình nhạc yêu cầu êm dịu”. Trong khi đó, miền Bắc sau này gọi chung nhạc Việt miền Nam là “nhạc vàng”, được dán nhãn chính trị là nhạc “ru ngủ”, “đồi trụy”và “phản động”. Cũng trong ý hướng “bênh vực” cho “thứ” nhạc vàng ròng đó, bài viết ngắn này cũng muốn khơi chuyện thế nào là một nền văn chương & một bề dày âm nhạc miền Nam dát vàng, vàng của vàng son rực rỡ, vàng cùa vàng mười quý hiếm, không phải vàng của vàng vọt ủ ê hay vàng ệch của rã rời bải hoải!

Nói về âm nhạc miền Nam là phải nói về một bối cảnh nghệ thuật rực rỡ nghìn hoa đua nở của tất cả văn học nghệ thuật của bên này vĩ tuyến trong vòng vỏn vẹn chỉ 2 thập niên ngắn ngủi.
Cũng trong cùng 1 vùng cảm thức của “văn chương miền Nam” như vậy, để bàn về lời ca rất đặc sắc của những bài ca Xuân, tôi muốn dựa vào những hình ảnh mà nhà văn Trần Hoài Thư đã phân tích đến rốt ráo và tận cùng ý nghĩa của “nhân bản” qua những góc nhìn/ hình tượng “sáng” lên tính chất này của văn chương miền Nam: Tiếng khóc / Hoà Bình / Cây Súng. Nhạc Xuân cũng có những hình ảnh và những vùng cảm thức như vậy…

Trong đó, hình ảnh tiếng khóc/ cây súng – hai hình ảnh âm u & khốc liệt – lại là (một trong những) điều làm nhạc Xuân khó quên và có chất gây “nghiện” như nó đang và đã là! (và nói như nhà cảm-nhạc-bolero Trần Hữu Ngư: “Một bài hát hay, đứng được với thời gian, người nghe không thể nào quên là nhờ ở lời ca hay nốt nhạc? Có lẽ ca từ là yếu tố quan trọng để khắc ghi hình ảnh, cảm xúc… rồi nhờ giai điệu (mélodie) chuyển tải vào lòng người. “Bài hát đâu chỉ là nốt nhạc”, nếu bài hát chỉ là những nốt nhạc thì nó sẽ trở thành “Những bài quên không bao giờ ca”!”)

Nếu như “Thơ thời chiến không chỉ sắt và máu, là bắn giết, là huy chương. Nó còn mang theo trái tim cùng với ba lô và súng đạn. Trái tim ấy cứng như thép khi lâm trận, nhưng cũng mềm như lụa sau khi hết trận. Người lính miền Nam khác người lính miền Bắc là ở chỗ đó. Văn chương miền Nam cũng khác với văn chương miền Bắc là ở chỗ đó…” (**) như ước mơ đơn giản, ngát hương hoà bình trong bài thơ Một Bông Hồng Nở Giửa Tim Anh – Phạm Cao Hoàng

“…em yêu dấu đây là lần thứ nhất
trong đời mình anh thấy quá hân hoan
anh muốn nói với muôn người trên mặt đất
rằng nơi đây sắp hết điêu tàn
và có thể nào đêm nay không còn tiếng súng
không còn nghe tiếng còi hụ giới nghiêm
ba giờ sáng xuống ngã tư quốc tế
ăn một tô mì thơm ngát bình yên
có thể nào sáng mai trên phố cũ
người ta bảo nhau hôm nay hòa bình
người ta dắt nhau trên đường trẩy hôi
riêng một bông hồng nở giửa tim anh…”

hay Kim Tuấn “những điều ghi được trong giấc ngủ”:

“Khi tôi trở về có con chim câu nằm trong tổ ấm. Dây thép gai hết rào quanh đồn phòng ngự và người lính đã trở về cày đám ruộng xanh.

Khi tôi trở về có con diều bay đùa trong gió. Ở quê nhà, trên thảm cỏ xanh, có đứa trẻ để bụng lòi chấm rốn đen cười nụ thanh bình. Buổi chiều có con trâu rung mỏ vu vơ như trong giấc mộng.

Khi tôi trở về hai tay níu tim lồng ngực. Giọng hát ru kéo lại dĩ vãng trầm trầm như chưa tắt thở. Có người rủ nhân loại đi xem địa ngục mà không ai trả lời.

Khi tôi trở về mẹ vừa tóc bạc. Đôi mắt nhìn vào tương lai và quên bao nỗi ưu phiền. Con cò lại bay trong đồng ruộng xanh. Lũy tre cúi xuống ưu tư cùng mùi khói un quen thuộc….”

… thì nhạc Xuân cũng vậy, vẫn cái mộng ước hoà bình buồn và lắng ấy, ước mơ Hoà Bình lớn đến nỗi có 2 tác giả cùng có một ước muốn về 1 mùa Xuân Hoà Bình – 2 tác giả : Trầm Tử Thiêng & Nhật Ngân viết 2 bài cùng chủ đề với những ca từ nghe…buồn muốn khóc !

“Nếu mùa xuân này quê hương HÒA BÌNH
Người người vui chơi, hội hè suốt đêm suốt sáng
Nếu mùa xuân này quê hương hòa bình
Nhà nhà hân hoan, mừng người thân mình quay về…”
(Nếu Xuân này hòa bình – Nhật Ngân)

“Nếu xuân này hòa bình
Cây nở hoa không chờ đợi mùa
Anh tìm em không cần hẹn hò
Yêu cho đầy ắp đôi tay chờ
Mẹ sẽ giăng đôi tay già nua
Đón con về từ ngoài sa trường
Mừng đầy vơi khóc như trẻ thơ
Cha tìm con giữa đời lạc loài
Con gọi cha xanh lời vụng dại
Cha con cười vỡ đêm Xuân dài”
 (Nếu Xuân này hoà bình – Trầm Tử Thiêng)

“Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông HOÀ BÌNH, HOÀ BÌNH
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi”
 (Ly rượu mừng – Phạm Đình Chương)

“Anh ơi! Xuân đến bên thềm rồi nhắp rượu hồng vơi đi
HẾT RỒI MÙA CHIA LY cho tình Xuân vừa ý
Xin yêu thương đến vơi hận thù để tiếng hát hôm nay
Người chiến sĩ mơ say bên đàn trẻ bé thơ ngây” (Mùa Xuân đầu tiên – Tuấn Khanh)

“Giờ đây, mùa Xuân đang xóa tan mây mờ
Quên đi đau thương sầu nhớ
Vui ca tung gieo nguồn sống
ĐẮP XÂY TỰ DO…”
 (Xuân miền Nam – Văn Phụng)

“Ôi nhớ xuân nào THUỞ TRỜI YÊN VUI
nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi”
 (Xuân này con không về – Trịnh Lâm Ngân)

“Đầu Xuân xin chúc QUÊ HƯƠNG YÊN BÌNH thành đô đến nơi đồng xanh,
Ý lành nước non vươn màu xanh mới đón Xuân thắm trong niềm vui …”
 (Đầu Xuân lính chúc – Hoài Linh & Tấn An)

“Tiền đồn heo hút nhắc em kỷ niệm ấu thơ.
Hỏi “em có nghe trong tâm hồn gợi giây phút xưa?”
Năm nao đêm giao thừa ngày KHÓI LỬA CHƯA KÍN QUÊ HƯƠNG,
Và đôi ta nhỏ bé, thức xem giao thừa,
Kể chuyện vu vơ và thức trong mộng mơ…”
 (Phút giao mùa – Trần Thiện Thanh)

“Tôi chúc muôn người mọi đều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng THANH BÌNH
Để người anh lính chiến quay về với gia đình
Tìm vui bên lửa ấm…”
 (Cánh thiệp đầu Xuân – Lê Dinh & Minh Kỳ)

“Đợi hai ba năm nữa, QUÊ MÌNH THÔI KHÓI LỬA,
mời xuân đến với tôi, giờ còn nặng hai vai,
thân chinh nhân hồ hải, hỏi xuân có gì vui,
 (Tôi chưa có mùa Xuân – Châu Kỳ)

Và tiếp sau, hãy nói đến một điều thú vị trong nhạc Xuân (mùa lẽ ra phải vui, thế mà….):tiếng khóc, tiếng khóc bùng trỗi dậy và ướt đẫm những bài nhạc Xuân.
Hình ảnh của nước mắt, của đau đớn trở thành “nhân bản” và …tình cảm thế nào…trong nhạc Tết?
Cũng như trong văn chương thời chiến:
“Về phương diện vật lý, tiếng khóc, làm rung bần bật đôi vai mềm, làm môi vị mặn, làm đôi mắt sưng vù. Nhưng về phương diện tinh thần, những giọt nước mắt chính là những giọt nước cứu rỗi. Con tim bị đau, bị cứa… thì tiếng khóc phải bật ra, phải ào tuôn, phải làm đá phải mòn, phải khóc để mà chia sẻ. Đó là phương thuốc cứu rổi mầu nhiệm.
Và đó có lẽ là lý do thi ca thời chiến miền Nam lai láng những tiếng khóc…”

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu”
(Lê Thị Ý, Thương Ca 1)

Không phải là những tiến lên, những xung phong, những nhanh tay gặt lúa, những vui mừng khanh khách đủ chỉ tiêu cho một mùa Xuân vinh quang & thắng lợi… Nỗi buồn trong nhạc Xuân, từ những bài hát cũ, nhưng năm nào nghe lại cũng mới…là một thứ đặc sản giản dị mà sang cả của miền Nam, nỗi buồn (& mộng ước hoà bình như đã viết ở trên) là hai phương tiện cứu rỗi tâm hồn của người miền Nam khi Tết đến Xuân về. Nhạc (Xuân) miền Nam là loại nhạc đứng về phía nỗi buồn, về phía nước mắt, về cả phía …những cái chết (lạ lùng thay, người ta thường tránh nói về mất mát trong 3 ngày tết 4 ngày Xuân, nhưng nhạc Xuân thì được ưu ái…chừa ra, khắp hang cùng ngõ hẻm, người ta…” vui Xuân” bằng cách mở nhạc Xuân, và trong nhạc Xuân…có cả nỗi chết!!!)

Hãy nghe lại đi, hãy nhìn lại đi: ràn rụa lệ tuôn, ràn rụa thâm âm của nỗi buồn, nhưng buồn không phải để héo úa, mà là buồn để mãn khai, để đón chờ, để con tin rung lên, để “suối tuôn lệ mừng vòng tay thân yêu ôm trọn mùa Xuân”, khóc để “ta đón đợi Xuân Hồng ngày mai”…À, mà có khóc đâu, đó là nụ cười với nàng Xuân đấy chứ : “Cười tuôn nước mắt cho Xuân tình dấy men”:

“Bàn tay nâng niu hoa cúc/ Bàn tay hiu hắt GIỌT LỆ ĐẦY” (Mùa Xuân đó có em – Anh Việt Thu)

“ Chim mách rằng anh đang ngoài chiến tuyến
người yêu thay tay súng, gối mộng là lá rừng
Vì quê hương còn khổ, tình yêu xin để đó
cho XÁC CHẾT ngậm cười, cho NƯỚC MẮT thôi rơi.”

(Đan áo mùa Xuân – Phạm Thế Mỹ)

“Hoa xưa dần qua biết bao kỳ đâm bông
Riêng ai buồn thương hắt hiu còn trông mong
Và Xuân thay áo mấy mùa đợi chờ
MẮT HUYỀN LỆ RƯNG RƯNG, sầu héo đến bao giờ”

(Xuân tha hương – Phạm Đình Chương)

“Mẹ ơi hoa cúc hoa mai nở rồi
Giờ đây đời con đang còn lênh đênh
Đèo cao gió lộng ngày đêm bạt ngàn
Áo trận sờn vai bạc màu
Nhìn Xuân về lòng BUỒN MÊNH MANG”

(Mùa Xuân của mẹ – Trịnh Lâm Ngân)

“Dừng chân trông hoa Xuân hồng thắm
BUỒN TÌM VỀ tình ai đằm thắm
Giờ vun vút trời mây”

(Nhớ một chiều Xuân – Nguyễn Văn Đông)

“Anh ơi em là hoa hoa biết nói
Giữa tuổi Xuân thắm tươi
Vẫn không yêu kiếp người .
Anh đi trong ngày Xuân hay bóng tối
Hồn em như chới với
Mắt em như LỆ RƠI”

(Những kiếp hoa Xuân – Anh Bằng)

“Con đã thấy mùa Xuân trong lòng mẹ
Mẹ đã tìm mùa Xuân trong mắt cha
Mẹ RƯNG RƯNG ôm Xuân nồng hội ngộ
Cha mừng Xuân trong sắc áo sương pha”

(Tôi đã gặp mùa Xuân – Trầm Tử Thiêng)

“Xuân tôi ơi ! Sức Xuân tôi còn khát khao
Dù nay, dù mai cũng như mọi ai CHẾT trong địa cầu” (Xuân ca – Phạm Duy)

“Bài Xuân này xin hát quanh năm

Hát say mê reo mời Xuân về
áo đua bay theo mùa hội hè
Tìm gặp đây lao xao tâm sự
chuyện thời xưa thời loạn ly
Hát suy tôn ƠN NGƯỜI DƯỚI MỘ
đã xuôi tay môi cười xong nợ
rời mùa Xuân tìm mùa Xuân”

(Bài Xuân này xin hát quanh năm – Trầm Tử Thiêng)

“Người đi giữa độ Xuân nồng
Nhìn nhau bỡ ngỡ RƯNG RƯNG lòng nhớ thương”
 (Xuân thì – Phạm Duy)

Và cây súng? Một vật vô tri vô giác nhưng là biểu tượng thảm khốc của chết chóc, của chiến tranh…, thế mà trong văn chương miền Nam, nó có hồn, nó rưng rức, nó chấp nhận căn phần trong một định mệnh bên này không muốn…

“hình như cây súng con lạ lắm
sao nó run lên khi đạn lên nòng
tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
một kẻ nằm, kẻ đứng, xót xa không? “
(Nguyễn Dương Quang – Đêm cuối năm viết cho má)

“Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
(Chiến tranh Việt Nam – Nguyễn Bắc Sơn)

Cái sự “uỷ mị” “nhân bản” ấy, phải chăng làm thành thứ “nhạc vàng” và một “bên thua cuộc”… Súng không còn là vật tiêu diệt, mà giờ súng ở đó, như một bầu bạn, như một nhân chứng, như một chia sớt …

“Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào Xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay
Ngờ đâu hoá lá rơi”
 (Phiên gác đêm Xuân – Nguyễn Văn Đông)

“ Chim mách rằng anh đang ngoài chiến tuyến
người yêu thay tay súng, gối mộng là lá rừng
Vì quê hương còn khổ, tình yêu xin để đó
cho xác chết ngậm cười, cho nước mắt thôi rơi.”
 (Đan áo mùa Xuân – Phạm Thế Mỹ)

“E Tết lại không rượu mềm môi
Không bánh không trà chẳng hạt dưa
Chắc lại mừng Xuân bằng quân lương khô
Ðón giao thừa bằng đèn hỏa châu rơi”
 (Thư Xuân trên rừng cao – Trịnh Lâm Ngân)

“Tình Xuân chớm nở đêm qua
Khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời

Và thương cây súng cô đơn
Hoa đào đã nở trên vết mòn chiến xa…
 (Xuân thì – Phạm Duy)

Ừ, mà sao lạ nhỉ? Người ta không thấy …hân hoan, không thấy muốn …quay trở về, không thấy muốn ngồi xuống chiêm nghiệm lại thăng trầm 1 năm, muốn thắp một nén nhang cho những người đã khuất, muốn sắm sửa thêm cho gia đình một món gì đó, muốn mua cho đàn em chút quà mọn ngày đầu năm, muốn quên đi những chuyện không may, và không hay đã xảy ra khi…. nghe “Mùa xuân này về trên quê ta…”…hay “Lặng nghe nước reo âm vang mùa xuân ước mơ rực sáng” hoặc “Mùa xuân người cầm súng lộc giắc đầy trên lưng /Mùa xuân người ra đồng trải dài nương lúa “, mà người ta cứ nghe ba cái nhạc Xuân gì xưa cũ.

Nhạc Xuân gì xưa như trái đất, nghe (tưởng) sầu thúi ruột nhưng hay…ve kêu!

“Tôi xin cảm ơn người
Cảm ơn ai, đã đem.. luyến thương.. nồng ấm… đến với…” nhân gian!

Nguyễn Trường Trung Huy

Đêm 30 giao thừa (Tết Dương Lịch), “niềm vui đến không bến bờ…”

P/s: Tất cả những điều nói ra trên đây, đều bắt gặp trong chùm ca khúc Xuân của Trầm Tử Thiêng, tính ra ông có khá nhiều bài nhạc Xuân từ trong nước ra đến hải ngoại, xin được làm 1 collection và tặng mọi người (tính ra các bài Xuân của ông, vài bài thoạt nhìn là nhớ ra ngay và tưởng là có nhiều version chính thức ở hải ngoại, nhưng thật ra cũng khá hiếm, vd như Mùa Xuân Trên Cao chỉ có 2-3 version, hoặc bài Mùa Xuân Đi Qua (TTT lấy bút danh Tôn Nữ Thuận An – và hình như là bài duy nhất ông viết với bút danh Tôn Nữ này) hay Mùa Xuân Không Đợi sau 1975, mỗi bài chỉ có 1 version (Hồng Hạnh thu trong CD Lời đầu năm cho con bài Mùa Xuân Đi Qua, Khánh Ly thâu trong CD Asia Tết bài Mùa Xuân Không Đợi …), hoặc Tôi Đã Gặp Mùa Xuân cũng ít ca sĩ thu (Hương Lan, Ngọc Lan….), bài Bài Xuân Này Xin Hát Quanh Năm chỉ có version Khánh Ly hát trong tape Shotgun Xuân 1975. Một điều thú vị là có 2 bài Nếu Xuân Này Hoà Bình – 1 của Trầm Tử Thiêng, 1 của Trịnh Lâm Ngân.
https://www.mediafire.com/…/TRAM_TU_THIENG_-_NEU_XUAN_…/file
1. Mùa Xuân trên cao – Giao Linh (CD Phượng Hoàng – Ly Rượu Mừng)
2. Nếu Xuân này hoà bình – Hồng Hạnh (CD Làng Văn – Trường Sơn/ Duy Khánh – Lời đầy năm cho con)
3. Tôi đã gặp mùa Xuân – Ngọc Lan (CD Mimosa – Xuân nhớ mẹ)
4. Mùa Xuân không đợi – Khánh Ly (CD Asia – Xuân)
5. Thư Xuân hải ngoại – Ngọc Hạ (CD Thuý Nga – Mộng chiều xuân)
6. Bài Xuân này xin hát quanh năm (tape) – Khánh Ly (tape Shotgun Xuân 1975)
7. Mùa Xuân đi qua – Hồng Hạnh (CD Làng Văn – Trường Sơn/ Duy Khánh – Lời đầy năm cho con)
Bonus 1 : Mùa xuân trên cao + Tâm sự ngày Xuân – Hoàng Oanh & Trung Chỉnh (CD Thuý Nga)
Bonus 2: Tôi đã gặp mùa Xuân – Hương Lan (CD Giáng Ngọc – Dạ Vũ Mừng Xuân)
Bonus 3: Nếu Xuân này hoà bình (Nhật Ngân) – Thái Hiền (tape Làng Văn – Mùa xuân & Tuổi trẻ)

(*) có tham khảo nhận xét của Lê Hữu trong “Nhạc vàng: Bên thắng cuộc”
(**) Tính nhân bản trong thơ văn miền Nam thời chiến – Trần Hoài Thư

NHỮNG CON MA DỄ THƯƠNG.

 

 

Tôi có duyên nợ với những con ma, năm 20 tuổi, tôi về dạy học ở một thị trấn ven đường, hoang sơ , vắng lặng… Trường nằm bên Quốc lộ 1, thời chiến tranh, nơi này đã hứng chịu những tàn phá khốc liệt của đạn bom, là nơi mà ban ngày Cộng Hòa, ban đêm Cộng Sản… Phụ huynh thấy cô giáo nhỏ xíu, ốm yếu thì thương, nói:”Cô về nhà tôi ở, cái bàn viết mà trường phân cho cô ngồi soạn bài, chấm bài là chỗ mấy ổng đâm nhau bằng lưỡi lê chết gục ở trển, máu me tùm lum mà cô không để ý!” Quả thật, những vết máu khô nâu nhòe nhoẹt được học trò cạo tới cạo lui bằng mảnh chai vẫn còn nhòa nhòa trên mặt. Mỗi lần ngồi làm việc ở đó, tôi trải lên một tờ giấy báo để che đi .

(Tôi không sợ ma kể từ ngày Cà Rốt chết. Cà Rốt là bạn hàng xóm thân thiết nhất của tôi từ thời thơ ấu cho đến lúc nó vĩnh biệt trần gian… Nó chết lãng nhách vì một trái bom thả rơi vô tội vạ vào trung tâm khu cư xá công chức. Một thành phố thanh bình yên ổn nhất chưa hề nghe tiếng đạn bom trong suốt cuộc chiến tranh lại phải hứng chịu một trận mưa bom tan tác vào những ngày chấm dứt cuộc chiến. Tôi vĩnh biệt Cà Rốt cũng là vĩnh biệt tuổi thơ tôi!)
Những buổi chiều cuối tuần buồn rợn, từ cửa sổ của phòng nhìn về phía con đường nhỏ dẫn ra sau trường là một rừng xương rồng và một bãi tha ma hoang vắng. Tất cả giáo viên đã về nhà còn mình tôi ở lại… Tôi không thể chen chân lên những chuyến xe than chạy qua quốc lộ vì quá đông người và hàng hóa… Rất nhiều khi các học trò ban ngày làm du kích, ban đêm đi học bổ túc văn hóa thấy cô giáo đứng lơ ngơ chảy nước mắt khi những chiếc xe lần lượt đi qua không ngừng lại, chỉ để rơi rớt những đốm lửa cháy đỏ trên đường… đã động lòng trắc ẩn, về xã đội lấy súng chặn đường tài xế, gởi cô giáo về Nha Trang.
Những chiều sẩm tối, rừng xương rồng buồn bã một màu hoa đỏ, phụ huynh thường nói những lúc đi qua nhìn thấy cô giáo đăm đắm nhìn về hướng đó:”Nó thấm quá nhiều máu nên hoa màu đỏ rực!”.
Mặt trời chiều nào cũng nuối tiếc rơi xuống những đốm nắng tàn phai… tôi đi về phía ngôi nhà nguyện đổ nát, hoang tàn để được đọc những bài kinh còn nhớ trong tâm trí... Lạy Cha chúng tôi ở trên trời… Kính mừng Maria đầy ơn phước... để cảm thấy mình được an ủi và có thêm chút nghị lực mà sống tiếp… Cứ mỗi lần về ngang con đường mòn này trong chiều chập choạng tôi luôn nghe tiếng :” Chào Cô Giáo” và thấy một người lính trẻ, áo lính bạc màu, mũ bê rê nâu đứng tựa bức tường rêu thấp với nụ cười trêu chọc… tôi nhắm mắt chạy nhanh qua. Thầy Lập nói: ” đó là oan hồn của một người lính trẻ, mới rời quân trường về thăm nhà chưa kịp ra trận đã bị “bên kia” xử bắn ở cái cổng chào này! Cô giáo có duyên lắm mới được nhìn thấy đó!”
Buồn, nhớ 2 câu thơ anh Võ Duy Chung: Như đám tàn quân chiều trận mạc/ Khoác chiến bào che giấu vết thương... Và thầm nghĩ: nếu những con ma đều dễ thương đến vậy thì đâu có gì đáng sợ!
Hơn 6 năm dạy học ở đây, tôi nhiều lần theo phụ huynh học sinh đi vượt biển, Thị trấn nằm giữa, bên biển bên rừng và lớp tôi chủ nhiệm đa số là học sinh vùng biển. Trước mỗi chuyến đi, người lính trẻ đều đến trong giấc ngủ buồn bã hỏi tôi rằng:” Nỡ bỏ tôi đi sao cô giáo?” và như một sợi dây neo chặt tôi vào vùng đất đã trở thành quen thuộc này dù phụ huynh đã dặn dò tôi phải đọc thuộc mấy câu kệ để thoát khỏi vòng âm khí …Tôi trả lời trong mơ:” Yết Đế Yết Đế, Ba La Yết Đế, Bồ Đề Tát Bà Ha” để linh hồn ấy được siêu sinh tịnh độ.

Năm ấy, Thầy Lập rủ:” Ở lại qua đêm Giao thừa này đi cô Thụy, dự một phiên chợ Âm Dương cho biết với người ta!”
Chợ họp ở chân Dốc Găng, giữa rừng dương liễu, những ngọn đèn bão lững lờ như trôi trong đêm sương, những ngọn đuốc chớp tắt theo gió núi và những đống lửa nhỏ đốt bên đường sưởi ấm… Những bóng người mờ tỏ âm u. Tôi nắm chặt tay Hương Giang vì nó đang sợ muốn khóc thét lên. Thầy Lập hỏi: ” sợ không cô Thụy?” Tôi cười:” Thụy vốn là bạn của những con ma mà!”
Đêm nay là đêm Giao thừa, người sống và người chết trả hết những ân oán mà họ đã gieo gặt cho nhau để không còn nợ nần vương vấn. Tôi chỉ cho thầy Lập và Hương Giang thấy người lính ấy… Tôi không muốn đọc bài kệ cũ nữa. Mặc bạn thôi, nếu bạn không muốn siêu sinh tịnh độ thì cứ ở lại nơi này mà lặng lẽ gởi đến mọi người những nụ cười trêu chọc!
” Cô giáo, đói lòng ăn nửa trái Sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương” và trút vào giỏ tôi một rổ Sim tím thẩm… tay thầy Lập còn lạnh ngắt hơn cả tay Hương Giang nữa .” Cô nói chuyện với ai vậy Thụy?” Rồi kéo cả hai chúng tôi chạy nhanh ra Quốc lộ.

Đó là đêm cuối cùng tôi ở nơi xứ đó, Thị- Trấn- Ven- Đường .Mùng một tết tôi về nhà theo chuyến xe đò sớm nhất và không bao giờ trở lại nơi này vì lớp tôi chủ nhiệm đã vượt biên gần hết trong đêm tôi đi tìm phiên chợ Âm Dương!

Luôn có những con ma theo tôi suốt những chặng đường. Trước khi sinh đứa con gái đầu lòng, trưa nào nằm ngủ tôi cũng nghe tiếng banh thẻ đập đều đều trên sàn gác. Tôi hỏi:”đứa nào chơi ồn vậy con!” Tiếng trẻ con nũng nịu :” con nè cô, con là Tiểu Phượng”. Tôi nhớ, tôi gặp cô bạn thời trung học trong một trại tạm giam ở Phú Yên, cô có bầu 7 tháng và sinh non trong trạm xá. Con bé chết, cô nói trong dòng nước mắt đớn đau uất ức:” Tao đặt tên bé là Trần thị Tạm Giam và gởi trong chùa Núi.Thỉnh thoảng mày về thăm nó giùm tao” Tôi để cô thấm những giọt nước mắt đau buồn trên vai áo mà chẳng biết nói gì… Sau đó cô vượt biên, mất tích để tôi cứ đau đáu chờ hoài tin tức từ một chiếc ghe thất lạc!
Tôi về chùa Núi, xin sư cô đổi tên cho bé. Tôi khấn thầm: ” Bé con, cô yêu thương con vô cùng, cô gọi con là Tiểu Phượng… đóa hoa phượng bé bỏng xinh đẹp cuối mùa hè mà mẹ và cô ép vào trang lưu bút rồi tức tưởi từ bỏ tuổi thơ ngây…”
Tôi sinh con gái đầu lòng, nó dịu dàng xinh đẹp như cô bé Tiểu Phượng của giấc mơ tôi… nó cũng có một khóe lúm đồng tiền bên má trái như cô bạn học ngày xưa. Phải chăng tôi đã dần dần tìm lại được những gì đã mất?

Nhiều năm sau ở Mỹ,tôi mua một căn nhà nhỏ ở miền Nam California, người phụ nữ đang thuê căn nhà tôi định mua đã nói:
– ” Không ai dám ở đây đâu chị vì nhà bên cạnh có một con ma!”
– ” Vậy sao cô dám ở?”
– ” Vì em là một cô đồng, mấy con ma sợ em thì có! và em được cho ở không tiền”
– ” Tôi không sợ con ma nhà bên cạnh, giá rẻ thì tôi mua thôi!”
Nhà bên cạnh bỏ hoang mấy năm nay vì người chủ ở một mình đã chết. Tôi nhắm mắt mua đại để có một chỗ yên thân và không dám nói với ai về con ma nhà bên cạnh. Sửa sang nhà mình xong tôi qua quét dọn sân vườn bên ấy, trồng mấy luống hoa Mười Giờ, Ngũ Sắc rực rỡ đủ màu… Tôi nói thầm:”Mặc dù ông là người Mỹ nhưng đã chết rồi thì ông sẽ hiểu ngôn ngữ chung của tâm linh phải không? Ông cũng biết tôi muốn gì chứ! Với tôi thì không sao, ông có thể về đứng bên hiên nhà ông ngắm hoa ngắm lá! hút thuốc cũng được luôn(không hiểu sao tôi hình dung con- ma- nhà- bên- cạnh là một người đàn ông nhân hậu, tóc bạc trắng, bụng phệ và lúc nào cũng ngậm chiếc tẩu thuốc nghi ngút khói …) Nhưng còn mấy đứa nhỏ, thấy ông chắc tụi nó tản hồn tản vía… Vậy thì ông đừng xuất hiện trước mắt tụi nó nhen!” Tôi có cảm giác ai đó đang cười thanh thản. Thỉnh thoảng giữa khuya, tôi lén mở cửa sổ nhìn qua, không thấy gì hết, ngọn đèn bên sân này hiu hắt chiếu qua sân hàng xóm, lạnh lẽo, buồn buồn…

Theo truyền thống gia đình, cứ rằm và mùng một tôi hay ra thắp nhang khấn vái giữa trời cầu bình an cho người thân và thỉnh thoảng cũng xin xỏ vài điều mình muốn… Tôi hay bị la vì cái tội thích ăn gì cúng nấy chứ không áp dụng theo sách vở như Cầu Dừa Đủ Xài hay Mơ Đủ Điều Chôm Cóc Đủ… Thôi kệ đi, những con ma dễ thương vẫn theo tôi suốt cuộc, những lúc hoạn nạn ốm đau, trong giấc ngủ vẫn có những cái nheo mắt rất ma, những nụ cười rất mị đủ sức vực tôi dậy để đi cho hết cuộc đời!
Và sắp đến giờ Giao thừa rồi, tôi – bổn cũ soạn lại- bày biện nhang đèn hoa trái giữa sân , khấn vái mấy con ma quen biết, chẳng cần xin giàu sang phú quý gì cho vướng bận, mà chỉ xin rằng cho tôi muốn gì được nấy, chừng đó là quá đủ với tôi rồi!

Tôn Nữ Thu Dung

Nhớ ‘Chú Bé Đánh Trống’ Mùa Noel

 

1.

Năm nào cũng vậy, không khí mùa Giáng sinh đến sớm nhất với mọi người là qua nhạc Noel. Ngoài đường phố, các nơi còn chưa trang trí, làm đẹp bên trong, bên ngoài thì nhiều quán cà phê, siêu thị, trung tâm thương mại… đã bắt đầu rộn ràng phát dòng nhạc vui tươi ấy. Cả những chiếc xe đẩy, xe ba gác xập xệ bán đĩa nhạc rong, ngày ngày chuyên lặn lội vào những con hẽm xóm lao động, phát toàn nhạc não tình hay điệu bolero ‘lính chiến’, cũng ‘độn’ vào vài bản nhạc Noel lời Việt và phát đi phát lại mãi hai bản mà giới bình dân hay trí thức gì cũng đều thích là ‘Đêm thánh vô cùng’ và ‘Chuông ngân vang’.

Trong dòng nhạc Noel quốc tế phổ biến xưa nay, đã quá quen thuộc là các bản: Silent Night, Jingle Bells, We Wish You A Merry Christmas, Little Drummer Boy, Feliz Navidad,.v.v…. Trong đó, riêng bản Little Drummer Boy tuy hơi ít người biết nhưng vẫn hay tuyệt vời. Xuất hiện từ thập niên 60, nhạc phẩm thuộc dòng nhạc Noel kinh điển này đã từng được trình diễn hòa tấu hoặc hợp ca bởi những tên tuổi lớn trong giới âm nhạc quốc tế, như với dàn nhạc giao hưởng London Symphony Orchestra; với các ca sĩ, nhóm ca thượng thặng một thời như Frank Sinatra, Boney M., ABBA, cả với ca/nhạc sĩ độc đáo bên nhạc country Johnny Cash, hay với các ban hợp xướng acapella danh tiếng như Vienna Boys Choir, Pentatonix… Trong phim hoạt hình hay phim búp-bê, bản nhạc lại được tấu lên với những nhạc khí bằng gỗ thật đơn sơ thời Trung Đông cổ đại xen lẫn câu chuyện kể về đêm Giáng sinh nguyên thủy, về thời khắc Chúa hài đồng ra đời trong hang đá…

Từ thời trẻ trai, đã in đậm trong tâm tưởng tôi là hình ảnh chú bé đánh trống, hình tượng tinh khôi gắn liền với bản Little Drummer Boy cùng điệp khúc “Pa rum pum pum pum ! … Pa rum pum pum pum!”, mang tính chất một sứ điệp háo hức báo Tin Mừng cho trần thế. Tiếng trống của chú bé dõng dạc vang vọng đén mọi chốn gần, xa nhưng vẫn khoan thai, ung dung, như thể chú đang đánh trống trình diễn trước mắt mọi người mà chẳng khác gì chú đang tập trống, vui chơi một mình, cho riêng mình nghe.

2.

Một mùa Noel nào đó cuối thập niên 60 ở Sài Gòn, tình cờ tôi được mấy bạn người Mỹ – nhân viên dân sự, giáo viên Anh ngữ, nhà truyền giáo… – mời dự tiệc đêm Giáng sinh. Hồi đó chưa có trò hát karaoke nhưng một ban nhạc nhạc nhẹ – chỉ hai cây guitar và cái trống caisse claire – của chủ nhà cũng đủ cho mọi người tha hồ chơi nhạc, ca hát thật ‘xôm tụ’. Sau khi tất cả cùng hát bài Silent Night thật trầm lắng, rồi rộn ràng bài Jingle Bells, có người đề nghị hát bài Little Drummer Boy. Tôi lên tiếng rằng mình không biết lời (lyric) bài này thì trên giá nhạc đặt trên bục sân khấu mini, tập thánh ca đã mở ra ngay trang cần tìm cho mỗi mình tôi xem. Được lên bục đứng cạnh anh bạn chơi guitar, tôi có thể vừa góp giọng vừa tiện thể theo dõi toàn ban hợp ca nghiệp dư đề huề Mỹ – Việt đứng bên dưới.

Không hiểu sao người Mỹ – ít nhất là trong thời điểm lễ hội, họp mặt vui vẻ, thong dong như lúc này – họ tỏ ra vô cùng yêu đời, vui sống đến thế?

“Come they told me, pa rum pum pum pum / A new born king to see, pa rum pum pum pum!…”, các người bạn Mỹ – kể cả vài người đã lớn tuổi – ngẩng mặt lên hoặc quay nhìn nhau, cùng say sưa phồng má, bậm môi mà hát, khoan khoái lập đi lập lại ở cuối mỗi chi câu trong lời hát những nốt nhạc thể hiện những tiếng trống rập rình ấy. Có anh còn vừa “búm bum” một cách đả đời, vừa thích thú làm động tác của nhạc công chơi trống, chân dậm nhịp, tay cầm dùi gõ vào khoảng không.

Cứ như âm nhạc – đúng hơn là nhạc Giáng sinh – đang bao trùm căn phòng khách, nơi diễn ra bữa tiệc Noel vui vẻ, ấm cúng này. Thời buổi ấy, đêm đêm tiếng đại bác vẫn thường vọng về từ các vùng lân cận Sài Gòn. Đối với chúng tôi – những cư dân sống và làm việc trong đô thành nhìn chung còn an lành, đó là một nỗi ám ảnh không thể nào nguôi quên về thực tế chiến tranh, chết chóc, mất mát…vẫn đang còn tiếp diễn ngày đêm, khốc liệt và tàn nhẫn thời đó.

Vào dịp lễ mừng Chúa ra đời như đêm nay, những người bạn mắt xanh, tóc vàng kia như đã tạm quên lãng cuộc chiến, sống hết mình cho thực tế trước mắt là buổi họp mặt Noel, là tình bạn bè, đồng nghiệp, là đàn hát với nhau cho thật vui, thật nhộn, không khác một đám trẻ thơ hồn nhiên tụ tập, chơi đùa. Hiểu theo tín lý Thiên Chúa giáo, tâm trạng lạc quan này vô hình trung lại thể hiện sinh động cho ý nghĩa cao vời của sự kiện Chúa giáng sinh – điềm báo về sự mở đầu cho Mùa ‘Bình An Dưới Thế’. Đây cũng là niềm hy vọng thiết tha của người trần thế ký thác vào tính thiêng liêng của sự kiện Chúa ra đời. Theo lẽ thường, tình cảnh khó khăn, khổ đau càng kéo dài thì ai cũng cần có hy vọng để sống.

 

3.

Sau 30 – 4, thời ‘ăn độn’ chật vật, thiếu thốn cũng qua đi, thời ‘mở cửa’ đến thì cuộc sống tương đối có phần dễ thở hơn, cho phép vào các dịp cuối năm, dân Sài Gòn – cả tín đồ Thiên Chúa giáo cũng như người đạo khác – có thể tổ chức ăn mừng lễ Giáng sinh đàng hoàng, đầy đủ hơn theo truyền thống đã có từ thời chế độ cũ.

Ở tuổi ngũ tuần của mình, trước lễ Noel tôi cũng thấy vui vui nhè nhẹ trong lòng nhưng không thể nào còn cái háo hức của tuổi thanh niên ngày xưa, là rậm rực lo chuyện quần áo đẹp, xe xịn, cả bạn gái dắt đi chơi Noel nữa. Gọi là ‘chơi Noel’, tối 24 vợ chồng tôi chuẩn bị một chai rượu chát ngon khi nhận lời mời của một anh bạn Công giáo, ngụ ở một con hẻm gần nhà thờ Tân Việt, quận Tân Bình.

Tại bàn tiệc vô vàn thân ái và rất ngon miệng, tôi được anh bạn xếp ngồi bên cạnh bác Nguyệt, cha vợ anh. Bố Nguyệt tuổi đã ngoài 80 nhưng vẫn còn khỏe, còn rất minh mẩn cũng như thường ra giúp công việc lặt vặt cho cha xứ ở nhà thờ gần nhà. Tàn tiệc, chuyển ra salon uống trà hay cà phê, bố Nguyệt kể mình nguyên là lính quân nhạc chế độ cũ, còn vụ học chơi kèn Tây và trống caisse claire thì phải nói là từ thời…Bảo Đại. Tình cờ may mắn gặp được ‘người trong cuộc’, lại vào đúng thời khắc mừng Giáng sinh, tôi không thể nào không đề cập với bố Nguyệt về bản Little Drummer Boy, bản-nhạc-Noel-của-tôi.

Sau 30- 4, đã mấy chục năm trôi qua, người cựu lính quân nhạc già nua ngồi trước mặt tôi hiển nhiên đã trải qua bao nhiêu là khó khăn, thăng trầm trong cuộc sống. Bố Nguyệt im lặng một lát như tâm tưởng chợt quay về thời dĩ vãng, rồi khẽ hỏi lại tôi: “Có phải cái bài tên là Chú bé đánh trống không? Tên tiếng Anh thì bác không rành…”. Tôi lại không thể ngăn mình kềm lại sự láu táu rất trẻ con, cứ vung vẩy hai tay trong không khí khi tìm cách ‘thuyết minh’ thêm cho rõ hơn về chú bé chơi trống – biểu tượng dấu yêu trong lòng mình về bài hát: “Dạ, dạ, đúng rồi, tên tiếng Việt đúng là Chú bé đánh trống. Có nhiều đoạn cứ lập lại pa rum pum pum pum, pa rum pum pum pum bác ạ!” Bố Nguyệt liền đưa nắm tay ra đánh nhịp trong khoảng không và thử xướng âm: “Có phải e nhạc như thế này không cháu? Là là la la la pa rum pum pum pum?” Tôi chỉ còn biết gật đầu lia lịa, như sướng rên vì chợt gặp người đồng điệu, tức người cùng biết, cùng thích bài hát này như mình, mà như những anh bạn người Mỹ ngày xưa, hễ mở miệng hát là không thể không vung tay như đánh trống vào không khí để minh họa cho lời hát.

Hai bác cháu chúng tôi cười hể hả, vui không thể tưởng. Rồi trước khi chia tay, bố Nguyệt đã tâm sự: “Năm nào cũng thế, cứ gần Noel mà nghe bài ấy phát lên rộn ràng ở đâu đó thì lòng bác cứ như lặng đi, nhớ lại một thời mình chơi trống trong ban nhạc, đã từng tham gia trình diễn ở rất nhiều nơi, không biết bao nhiêu lần bài này và các bài Noel khác…”.

Cho đến mùa Noel năm nay, tôi vẫn âm thầm tìm nghe trên net, cũng như rất vui khi tình cờ được nghe bản Little Drummer Boy ngoài đường phố hay bất kỳ là ở đâu. Hơi tiếc là ở cái quán cà phê quen thuộc gần nhà tôi lại không có cái bản nhạc Noel đã kém phổ biến này. Nhưng cũng vui là cậu chủ quán tử tế, tự xưng rất rành nhạc xưa, đã hứa sẽ sớm bổ sung vào liste nhạc Noel tại quán cái bản “cậu bé đánh trống bùm bum bùm bum gì đấy!”.

PHẠM NGA

(Cận Giáng sinh 2019)

 

Người bán linh hồn

 

Người đàn bà ngồi trên chiếc ghế chạm trổ,đẹp lộng lẫy với cái mũi dọc dừa cao quý và đôi lông mày vút lên như hai cánh hạc

 Đó là nữ chủ nhân gallery Kình Dương.Vào 8 giờ tối nay, gallery sẽ mở cửa lần đầu. Chừng hai trăm nhân vật trong thành phố đang chuẩn bị đến dự lễ. Những người giàu tưởng tượng bị hình ảnh con nhân sư trên tấm thiệp thu hút, còn những người thực tế và tò mò thì bị hấp dẫn bởi tin đồn rằng gallery Kình Dương, tọa lạc nơi một tòa nhà bốn tầng đồ sộ, ngay một mặt phố lớn, sẽ là ngã tư của các đường dây buôn bán tranh quốc tế, và sở dĩ nó có được sức mạnh đó chính vì có một thế lực ngầm rất lớn đằng sau nữ chủ nhân xinh đẹp.
Suốt hơn tháng nay, những gì liên quan đến Kình Dương đều trở thành chất men kích thích tính hiếu kỳ của mọi người: sắc đẹp của Tuyết N., lai lịch miếng đất và nguồn tiền xây dựng ngôi nhà, những họa sĩ và nhà thơ thường lui tới đó, những bức tranh sẽ được trưng bày… Tất cả đều khơi nguồn cho những câu chuyện nóng bỏng với nhiều chi tiết thêu dệt chẳng khác nào truyện cổ tích.
Tuyết N. cũng hiểu rõ rất nhiều ánh mắt đang nhìn về phía mình, vì vậy, nàng đốc thúc đàn em phải tổ chức lễ khai trương thực chu đáo, không được để xảy ra một sơ xuất nhỏ nào. Nàng muốn ngày mai, mọi chi tiết của buổi lễ sẽ được trầm trồ trên cửa miệng của mọi người dân thành phố, tạo thành một thanh thế vô giá cho nàng.
Tuyết N. ngồi nhìn, chân đặt lên cái đôn thấp bọc nệm. Bàn chân nàng trắng, nhỏ và nuột nà, làn da ở gót mỏng và ửng hồng, nằm ngay ngắn như một bảo vật trên tấm nệm nhung.
“Hầu hết thời gian của buổi tiệc đứng, chị sẽ ngồi ở đây” viên đạo diễn dặn dò. “Tất cả việc đón tiếp đã có người lo. Chị chỉ có một nhiệm vụ duy nhất, là phải đẹp”. Tuyết N. gật đầu, nàng mỉm cười với đạo diễn, nụ cười cao sang và quyến rũ như một thứ hào quang vụt sáng khiến anh ta cúi đầu thuần phục.
Giữa lúc ấy ngoài cửa có tiếng lao xao, Tuyết N. quay đầu lại, cử chỉ ngoái đầu làm căng lớp áo mỏng khiến một phần bộ ngực tươi tắn như hiện ra đập vào mắt người đàn ông đang cúi xuống. Y không rời mắt khỏi nàng, miệng kêu lớn:
– Hôm nay không tiếp khách nữa đâu nhé, bà chủ và tôi ai cũng bận lắm.
– Cho tôi vào gặp bà chủ đi. Một chút thôi, không mất nhiều thời giờ đâu.
Gã bảo vệ khinh khỉnh nhìn cô gái. Ánh mắt gã đàn ông lướt qua với vẻ bỉ thử như ánh mắt người ta thường ném lên những món hàng thứ phẩm trên sạp chợ hạ giá; cuối cùng thì ánh nhìn anh ta cũng tươi lên đôi chút khi dừng lại nơi đôi mắt to đen với hàng lông mi dày và cong, trông man dã và nồng nàn.
“Này cô em, biết điều thì xéo đi thôi. Ở đây…”
Chỉ mất một giây để tính toán, cô gái quay ngoắt lại, bỏ đi. Con phố lớn trước gallery Kình Dương có nhiều ngõ nhỏ, các ngõ cũng được trải nhựa đường, có thể nói là những con đường nho nhỏ dù chẳng có tên.
Cô gái đi thẳng vào, rồi bước qua cái cửa nhỏ dẫn vào phòng trong.
Trái ngược với gian bên ngoài xinh xắn, căn phòng này tiều tụy và luộm thuộm, đồ đạc chỉ có độc một chiếc giường đôi với mấy cái ghế nhỏ xíu, nhỏ đến nỗi có thể lầm là mấy chiếc đòn. Một cái giá vẽ nằm trong góc, chung quanh là rất nhiều tranh vẽ lở dở, dựng bừa bãi ở chân tường. Một cửa sổ nhỏ phía sau đủ cho một luồng ánh sáng tỏa xuống, soi rõ gian buồng ảm đạm.
Trên cái giường bừa bộn, một người trẻ tuổi ngồi dựa vào vách. Chàng đang nguệch ngoạc những nét phác thảo trên một phiến giấy trắng. Ánh sáng từ cửa sổ đọng lại trên bờm tóc quăn rũ trước trán và sống mũi thanh tú. Cô gái dừng lại trên ngưỡng cửa, ánh mắt cô đầy vẻ yêu thương.
Chàng trai ngước lên, thấy cô, chàng không giấu được vẻ vui sướng. Quẳng cả bút và giấy xuống giường, chàng reo lên và vươn tay ra; cô gái như con mèo nhảy thót vào lòng chàng.
Họ ôm nhau rất lâu, bất động, những cánh tay càng lúc càng riết chặt. Mũi họ hít càng lúc càng sâu vào lồng ngực mùi da thịt của nhau, một nỗi hứng khởi sâu sắc và mãnh liệt làm cả hai như bay lên, bay mãi.
Khi không thể riết chặt hơn nữa, cô gái buông tay ra, ngã vật xuống giường. Cô vùng dậy, lao vào góc phòng, lục lọi trong chiếc tủ cũ và lôi ra một bộ váy màu tím vốn bị nhét trong một góc. Cô vuốt vuốt mớ váy áo, chất thun tốt còn mới nhanh chóng duỗi ra, cho thấy bộ y phục còn khá đẹp và sang trọng.
Đấy là bộ cánh Na sắm từ thuở mới ra trường, đã từ lâu không động đến.
“Em làm gì vậy?” Chàng trai hỏi. Cô gái vắt bộ y phục lên thành ghế, bắt đầu ngồi xuống trước gương, chải tóc, kẹp gọn lên, đôi mắt vốn đã to và sáng càng long lanh hơn.
– Tuấn ơi, sáng nay bà chủ nhà có đến không?
– Có – Vẻ mặt Tuấn đang vui chợt cau lại. Mụ ta thật láo, nhất định chỉ muốn gặp em thôi. Na à, có phải ý mụ ta xem anh là một gã vô tích sự không?
– Không phải thế đâu, chẳng qua là vì em đã dặn mụ ấy không được làm phiền anh về những chuyện tầm thường.
Có người đang muốn dành thuê căn hộ hai người đang ở.
Hai nghìn rưỡi đô cho ba năm, số tiền đó có thể không đáng kể với nhiều người, nhưng với đôi tình nhân họa sĩ này là một thách thức quá lớn. Vì vậy Na đã giấu chàng con số mà nàng cho là quá kếch sù ấy để chàng khỏi khiếp hãi.
Nàng đứng vụt dậy, chạy đến sau lưng Tuấn kéo mạnh bức màn, để lộ một bức tranh sơn dầu cỡ lớn. Trong tranh là một phụ nữ bán khỏa thân: đó là Na, dưới nét cọ tài hoa của người đàn ông yêu nàng. Vẫn mái tóc ấy, đôi mắt ấy, vẫn thân thể mỏng manh ấy nhưng dường như là một Na khác: bất cứ ai đứng trước bức tranh cũng bồi hồi xúc động mà không hiểu vì sao. Họ không biết đã có một ngọn lửa cháy rực từ nỗi say đắm của người họa sĩ, ngọn lửa thần ấy chiếu lên thân thể người đàn bà để soi sáng cho người ta thấy phần linh hồn ẩn sâu đằng sau da thịt. Cả bờ vai mỏng và đôi vú nhỏ – mà những gã đàn ông dung tục vẫn đánh giá như thứ hàng chất lượng kém – ở đây cũng hiện nguyên hình với vẻ đẹp khắc kỷ xót xa mà người ta thường gặp ở những tranh thánh thời Trung Cổ.
Na tiếc đau tiếc đớn khi nghĩ đến chuyện phải rao bán bức tranh, nhưng chẳng còn cách nào khác. Nàng tự an ủi rằng rồi đây nó sẽ được lưu giữ trong sưu tập của một người am hiểu hội họa.Rồi biết đâu đấy, một ngày kia nó sẽ vào nằm ở một bảo tàng,và tình yêu của nàng được ký thác trong đó sẽ còn mãi mãi cùng với giấc mơ bất tử mà nghệ sĩ nào cũng từng ấp ủ.
Na và Tuấn yêu nhau từ năm đầu tiên học chung ở trường nghệ thuật. Tuấn là sinh viên trội bật nhất, còn Na ở trong đám đông những cây cọ trẻ tầm thường làm nền cho lớp học. Nàng luôn khổ tâm vì những ngón tay không quyền năng, chúng bất lực không giúp nàng diễn tả những rung cảm thuần khiết nhất trong lòng nàng. Nàng cũng từng vẽ người mình yêu, nhưng bức chân dung ấy lúc nào nàng cũng giấu kỹ trong một góc tủ. Mỗi lần nhìn thấy nó, nàng lại xấu hổ, bởi cũng là mái tóc rũ trước trán, cũng là gương mặt với vẻ đẹp đàn ông, nhưng chẳng có một tí gì là quyến rũ và sức sống. Gương mặt thiên thần của người mẫu khi bị nhốt vào tranh đã hóa thành một bộ mặt thô thiển, nông cạn và chẳng có tí linh hồn.
Sự kém tài là nguyên nhân khiến nàng dần dần xem người yêu như một thần tượng.Về sau khi đã sống chung, nàng là người yêu, người bạn, người phục vụ và bảo vệ chàng, ngủ cùng giường với chàng ban đêm, nấu ăn cho chàng ban ngày, làm người mẫu thường xuyên cho chàng vẽ, bởi chàng chẳng có tiền thuê mẫu, mà cũng không muốn vẽ ai ngoài nàng.

*

Khi nàng bước vào đại sảnh, đoàn thiếu nữ tiếp tân đã xong phần luyện tập của mình, đang ngồi nơi hai dãy tràng kỷ dài dọc theo vách. Nữ chủ nhân Tuyết N. đang bước từng bước uyển chuyển trên tấm thảm nhung màu huyết dụ, tiến về phía chiếc ghế lớn với dáng dấp như một nữ hoàng đang tiến đến chiếc ngai của mình. Theo sau Tuyết N., gã đạo diễn không rời mắt khỏi từng cử động.
Giữa lúc đó người nữ khách xộc vào. Tuyết N. cau mày lại:
“Tôi đã bảo với cô rồi. Tranh trưng bày đã chọn xong từ hơn mười ngày. Giờ này tôi không tiếp các họa sĩ nữa”.
Từ lúc vào, Na đã cố đè nén cho trái tim mình đừng đập rộn lên dưới cái vỏ lạnh lùng kiêu ngạo; giờ đây lồng ngực nàng lại loạn xạ lên với nhịp tim thon thót. Nàng cố giữ bình tĩnh:
– Thưa bà, nghe nói mới lúc nãy họa sĩ B.D, họa sĩ T.Đ.N vẫn còn cho người đưa tranh đến.
Tuyết N. cười, tiếng cười nàng nghe như tiếng thủy tinh và sứ chạm nhau, sang trọng nhưng rất lạnh lẽo. “Họa sĩ B.D, họa sĩ T.Đ.N? Cô là ai mà dám so với những tên tuổi ấy? Gallery của tôi chỉ nhận giới thiệu những tranh thật xịn, tác phẩm lớn của các danh họa”.
– Thưa bà, tôi đến đây không phải vì tôi, mà vì một người khác. Một thiên tài, thưa bà. Nếu bà nhìn thấy… Bà sẽ không thể ngoảnh mặt đi. Người ta đồn rằng bà là tri âm của các họa sĩ, bà phát hiện và khơi dậy những tài năng.
Nói rồi nàng quả quyết rút trong ngực áo ra một tấm ảnh. Đấy là ảnh chụp bức tranh lớn mà Tuấn đã vẽ, bức tranh mà chàng trai tâm đắc và yêu quý nhất trong suốt quãng đời từ khi cầm cọ đến giờ. Na cầm nó bằng hai tay, run run đưa cho người đàn bà.
Tuyết N. đã ngồi trên cái ngai lộng lẫy, bà ta liếc qua phiến ảnh trên tay cô gái. “Thiên tài của cô đâu, sao hắn ta không đích thân đến đây?”
Na ngắc ngứ không nói ra lời. Nàng sợ làm phật lòng người đàn bà nếu nói ra sự thật, rằng Tuấn không bao giờ chịu cúi mình cầu lụy các gallery; rằng anh cảm thấy phải đặt tài năng mình dưới sự mặc cả của những đầu nậu là nhục nhã; rằng nàng muốn gánh lấy cái phần tục lụy của nghệ thuật để cho tâm hồn anh khỏi bị tổn thương. Làm sao giải thích chuyện này với Tuyết N.? Na lúng túng và lặng im. Dù sao bà chủ Tuyết N. đã chịu bắt lời nói chuyện với mình, đấy đã là điều đáng mừng rồi.
Tuyết N. nhìn tấm phóng ảnh một lúc, rồi trả lại cho Na.
– “Thưa bà …?”
– “Cô bảo tác giả là một thiên tài. Nhưng tôi chưa nghe tới tên y bao giờ cả”.
– “Thưa bà, thiên tài nào khi đầu cũng đã từng là người vô danh… Nhưng nếu bức tranh này được treo ở gallery trong đêm khai mạc, thì nó có rất nhiều cơ may lọt vào mắt xanh của những nhà buôn tranh có cỡ; có thể họ sẽ mua nó với một giá lớn, lúc đó Kình Dương sẽ có cả lợi nhuận lẫn tiếng tăm, vì người ta sẽ hiểu rằng đây là nơi giới thiệu với họ những giá trị mới”.
Những mơ ước nóng bỏng trong lòng khiến cả lời lẽ lẫn vẻ mặt Na nhuộm một vẻ say sưa đầy thuyết phục. Ngồi trên bệ, dưới chân bà chủ, gã đạo diễn lặng lẽ quan sát cô, vẻ chán chường dần tan biến trên khuôn mặt y.
Tuyết N. đáp lời cô gái bằng một cái nhún vai:
– Cô nói đúng, nếu một gã vô danh tiểu tốt được treo tranh ở đây, ngày mai người ta sẽ nhìn y kính nể như nhìn một bậc thầy.
– Thưa bà, bà có thể giúp được một tài năng trong cơn khốn khó, xin bà đừng tiếc công. Nếu bán được tranh, chúng tôi sẽ nhớ ơn bà mãi mãi.
Người đàn bà quay đi. “Tôi không biết ai có tài mà lại phải chịu khốn khó. Tôi làm nghệ thuật, không phải lập trại tế bần”. Dứt lời, bà ta ném một cái nhìn sắc sảo về phía gã đạo diễn; thế là gã này chồm dậy, chụp lấy cườm tay Na, kéo ngược nàng ra khỏi đại sảnh.
– Với bọn người này, cô phải mua sự đồng ý của chúng. Không đủ sức mua thì thôi, đừng van xin. Phải nói thách giá của mình để chúng khiếp hãi, đừng gợi lòng thương của chúng, vô ích.
“Tôi chịu thôi. Tôi không thể…” Na nghẹn ngào. Người đàn ông lắc đầu:
– Cô có đem theo sổ tay không? Không có thì một mẩu giấy cũng được. À, phía sau bức ảnh ấy, được rồi. Tôi đọc cho cô ghi cái này. Có thể đó là một cơ hội cuối cùng…
Gã đọc cho Na ghi một địa chỉ Email trước khi hai người ra đến cánh cửa lớn, nơi gã buông tay cho Na một mình bước ra, như một con bọ rơi ra khỏi chiếc hộp vàng.

*

Tên vệ sĩ ngồi trên bậc thềm, bộ quần áo của hắn dày, lùng thùng và có vô số túi; những đường xếp và túi lớn trên y phục giúp hắn giấu kín những vũ khí nho nhỏ làm bằng thép quý. Hắn chỉ giấu nhẹm chúng vì yêu cầu mỹ quan thôi, chứ ai cũng biết Hùng Rô không bao giờ đi đến đâu với hai bàn tay không.
Gian phòng hắn đang ngồi rộng và sâu hút, ở cuối phòng là một giàn cửa kính lớn nhưng những tấm màn dày đã ngăn hết ánh sáng bên ngoài, thành thử mọi thứ chỉ còn được chiếu sáng bởi bốn ngọn đèn mắt cáo nhỏ xíu gắn lút vào bên trong trần nhà. Giữa phòng, trên chiếc ghế bành lớn, một người đàn ông mảnh dẻ ngả mình; Mái tóc và cái mũi đổ bóng xuống che hầu hết những đường nét khác của khuôn mặt. Lúc này đây, người đàn ông đang cầm hờ hững trong tay một điếu xì gà lớn gắn vào cái tẩu bằng ngà, vốn là một cổ vật. Y rít thuốc bằng vẻ đủng đỉnh của một con mèo già đang thu mình. Mỗi lần điếu thuốc cháy đỏ, chút ánh sáng bừng lên hắt ánh lửa vào đôi mắt lim dim trên khuôn mặt gầy. Màu xanh lờ mờ nơi những gốc ria trên mép sát cạnh màu hồng sậm của đôi môi mỏng.
Một người đàn ông vào trạc tuổi đã gần sáu mươi mà còn có màu môi như vậy, kể cũng kỳ lạ. Gã vệ sĩ ngồi dưới chân y, mắt cũng lim dim, gã đang khoan khoái và thèm thuồng vì hít phải mùi thơm tỏa ra từ điếu thuốc kia: mùi thơm của một vườn nhãn chín.
Một màn hình vi tính đặt cạnh chiếc ghế bành giúp người đàn ông có thể nhìn thấy cảnh tượng ngoài đại sảnh từ trong căn phòng kín. Trên màn hình, Tuyết N. đang cười mãn nguyện. Người đàn ông nhìn nụ cười ấy với khuôn mặt bất động, nhìn vẻ mặt ấy chẳng ai có thể hiểu y đang nghĩ gì.
Rút chiếc điện thoại di động trong túi ra, y mở đọc các email đang được gửi tới, cũng với vẻ mặt đóng kín.
Bỗng y dừng lại, đôi mắt lim dim hơi mở to ra nhìn vào màn hình nhỏ xíu của điện thoại. “Hùng Rô!” Nghe tiếng gọi, gã vệ sĩ to lớn đứng phắt dậy. Thấy chủ chỉ về phía màn hình máy vi tính, y hiểu ý ngay, tắt mạch phím đang truyền dẫn từ đại sảnh, mở sang mục check mail. Chốc lát, bức tranh người thiếu nữ đã hiện ra. Qua ánh sáng của màn hình tinh thể lỏng, những đường nét của người trong tranh như tỏa hào quang làm chói mắt người nhìn.
“Hùng Rô!” Người đàn ông lại gọi. Tiếng gọi khàn khàn phát ra từ thân hình lép kẹp đó lại có sức mạnh khiến cái thân thể to lớn dềnh dàng của Hùng Rô phải tuân theo răm rắp.
Hùng Rô đi ra cửa.
Mấy phút sau, có tiếng giày cao gót hấp tấp gõ lách cách ngoài hành lang. Rồi cánh cửa mở, Tuyết N. lách qua tấm màn nhung tiến vào.
Nàng đến bên chiếc ghế bành, ngồi dựa vào lòng người đàn ông:
– Anh muốn xem bức tranh đó sao? Em đã từ chối rồi. Một bức tranh tầm thường. Em không chịu nổi những gì tầm thường, trong gallery của em, tất cả phải là tranh của những tên tuổi lớn.
Tuyết N. ép sát mình vào thân người đàn ông, chiếc soirée cổ rộng xếp nếp hững hờ, thân thể nàng tươi mát và gợi mở như mâm cỗ hoan lạc. Người đàn ông đưa một tay lên ngực Tuyết N., tay kia vẫn tiếp tục cầm điếu xì gà. Tuyết N. khép nhẹ mắt , nàng mơn trớn y bằng cả thân thể, vẻ mặt và giọng nói rủ rỉ như những giọt mật. “Em chọn đủ số tranh, con số này phù hợp với cung số của anh trong năm nay, thầy chiêm tinh đã dặn lui dặn tới không được làm sai, nguy hiểm lắm anh à”. Người đàn ông gật đầu, vẻ mặt không lộ vẻ tán thành hay phản đối. Tuyết N. lay nhẹ vai y,nũng nịu:
– Vậy em gọi Hùng Rô quay lại nhé?
Người đàn ông lắc đầu. Tuyết N. hất mạnh bàn tay y ra, đứng phắt dậy, ngồi dịch ra khỏi lòng y. Nàng kêu lên như xé tai:
– Vậy mà anh nói tôi là chủ gallery này!
Người đàn ông vẫn điềm đạm hút thuốc. “Anh không hiểu em muốn gì. Coi chừng, khi giận dữ trông em xấu hẳn đi”.
– Em muốn một là anh tôn trọng quyền làm chủ của em ở đây, hai là đừng nhìn mặt em nữa.
– Thực sao? Anh cứ nghĩ em thích ở vị trí hiện nay hơn là quay về cái quán karaoké nơi anh gặp em lần đầu.
Người đàn bà im lặng quay lưng. Khi nàng ra tới đại sảnh, da mặt nàng xám ngoét kỳ dị đến nỗi gã đạo diễn sững sờ khi nhìn thấy nhân vật chính của mình.

*

“Tại sao cô không đưa tranh đến đây?”. Người đàn ông hỏi. Khi ngồi ngay ngắn, trông gã đầy uy lực. Dù thân hình gầy guộc và khuôn mặt xanh xao, giọng nói gã lớn, mạnh và âm vang.
Cô nàng họa sĩ nghèo không thể không cảm thấy xao xuyến trước sự tráng lệ của gian phòng, trông như một u cung. Ở đây, tất cả toát ra cái vẻ lấn át lạnh lùng, như một con thú khổng lồ đang chực há mồm nuốt chửng lấy nàng.
Na cảm thấy vướng ở cổ họng, nàng không nén được mấy tiếng ho khúc khắc. “Tôi chờ một lời thỏa thuận. Người của ông bảo rằng chẳng những nhận trưng bày, ông còn muốn mua đứt bức tranh”.
Người đàn ông nhếch mép. “Cô muốn bao nhiêu?”
Trái tim Na lồng lên, đập rộn rã trong lồng ngực. Cố giữ vẻ mặt lạnh lùng, cô thốt lên với vẻ khinh khỉnh:
– Hai nghìn rưỡi đô, thưa ông.
Người đàn ông ngả lưng vào thành ghế, y bắt đầu bẻ các đốt ngón tay khiến chúng kêu lên lốp bốp. Mặt y không đổi sắc, ánh mắt đảo từ đầu đến chân người phụ nữ trước mặt.
– Cô tưởng đây là Hồng Kông hoặc Singapore sao? Hai nghìn rưỡi đô cho tác phẩm của một họa sĩ chưa hề tiếng tăm?
Na không chuẩn bị cho mình một thái độ nào tiếp theo, nên nàng khựng lại. Rồi đôi mắt nàng đột ngột sáng lên, lần này là ánh sáng của một niềm tin mạnh mẽ thực sự:
– Hôm nay nếu ông mua nó, ngày mai Kình Dương sẽ sánh vai với những nơi ông vừa nhắc.
Người đàn ông cười hoài nghi, mắt không rời ánh chớp trên mặt cô gái. Y buông sõng:
– Được rồi. Tôi mua. Tôi trả cho cô ba nghìn, không kém một xu.
Na bất ngờ quá, cô không kìm chế được nỗi vui sướng, hai tay ôm lấy mặt.
Chờ cho cô ngửng lên, gã đàn ông nói tiếp:
– Với một điều kiện. Cô là người mẫu của bức tranh phải không? Tôi muốn cả bức tranh và cả cô. Ba ngàn đô, cả hai. Cô hiểu chứ?
Bên tai Na như có một thanh sắt đang nung đỏ chợt bị dụi và nước lạnh.
Cô lùi lại một bước, vẻ như muốn tát mạnh vào mặt gã đàn ông, nhưng gã đang ở ngoài tầm tay cô.
– Ông nói gì thế? Ông có điên không?
Người đàn ông mỉm cười không đáp .
Na hụt hẫng, quay ngoắt lại, bỏ đi với vẻ mặt hầm hầm ghê tởm.
Người đàn ông điềm tĩnh nhìn theo.
Bước chân Na chếnh choáng như người ngủ mơ vừa tỉnh. Trước mắt cô hiện ra hình ảnh Tuấn, giờ này đang miệt mài vẽ trong căn phòng nhỏ.
Ngày mai, một người giàu có sẽ đến chồng tiền thuê nơi ấy.
Lúc sắp bước ra khỏi phòng, bỗng nhiên Na òa lên khóc thảm thiết, rồi nàng quay lại, những giọt lệ căm hờn ứa ra từ đôi mắt lửa cháy.
Người đàn ông khẽ gật đầu.Lặng lẽ,y ngắm nghía vẻ đau khổ của cô gái với vẻ khoái trá,như người ta nhấm nháp một cốc rượu vang khai vị. “Lại đây, em bé – Y quay sang nói với tên vệ sĩ – “Lúc nào ta cũng khâm phục phụ nữ ngày nay, họ quyết định trong vài giây những gì mà ngày xưa phải đắn đo nhiều tháng trời”.
Na lắc đầu. “Tôi đồng ý, nhưng không phải bây giờ. Hai giờ sau tôi sẽ quay lại.”
Dù trí óc mê mụ và đau buốt, Na vẫn còn nhớ bây giờ là năm giờ chiều. Như lệ thường giờ ấy dù đang đi đâu họ cũng quay về bên nhau. Nàng pha cà phê và hai người ngồi nhìn ra khoảng trời xanh trên cửa sổ. Họ nói với nhau về những niềm hy vọng, những bức tranh đang ấp ủ, những chuyến đi xa trong tương lai……
Giờ đây nàng phải về. Nàng muốn gặp Tuấn, bởi nàng biết lát nữa đây khi đã bán mình, sẽ không có gì như trước nữa, không bao giờ có lại một giờ ngọt ngào như thế.
Trên ghế bành, gã đàn ông không tỏ vẻ gì nôn nóng. Y bảo:
– Được thôi. Hai giờ sau cô sẽ trở lại, mà này, đừng mặc bộ váy ngớ ngẩn này, hãy mặc cái gì khác. Luộm thuộm cũng được, rách rưới cũng được, tôi rất thích cái vẻ thiên thần vô lại của cô, chớ có tìm cách tỉa tót nó.
Na đi rồi, Hùng Rô nhìn chủ:
– Biết đâu cô ả sẽ chuồn thẳng.
Gã chủ lắc đầu:
– Con bé cần tiền đến cháy da. Món tiền của ta là sợi dây đã buộc vào cổ nó.
Hùng Rô cười hềnh hệch:
– Giá quá cao. Một đứa con gái lép kẹp, có gì là hấp dẫn? Tệ hơn những con mái bèo nhất.
– Chú lầm. Người phàm ăn không thể hiểu cái thú ẩm thực của người sành. Chú có thấy cái eo của con bé không? Ta chưa thấy đứa con gái nào có cái eo nhỏ như thế.
– Eo nhỏ thì sao?
Trong lúc hai thầy trò nói chuyện thì bên ngoài, Tuyết N. đang đi đi lại lại. Giờ đây, dáng vẻ nàng là dáng vẻ của con hổ cái bị thương.
Một cô giúp việc trẻ tay bưng khay rượu đến nói thầm vào tai nàng. Tuyết N. chăm chú nghe rồi cười gằn:
-Đồ điếm!
Mắt Tuyết N. phát ra những tia sáng hung hãn. Rồi như chợt nghĩ ra, nàng bỗng dịu vẻ mặt, nhoẻn một nụ cười đắc ý. Thấy nụ cười ấy,cô bé giúp việc sợ hãi nhìn quanh, rồi bưng khay đi.
Tuyết N. gọi với theo:
-Gọi Hùng Rô, bảo ta có việc cần gặp y.

*

Quãng đường từ gallery tuy không xa, nhưng đôi chân lẫn lộn khiến Na loanh quanh mãi giữa những con đường nhỏ. Nàng vừa đi vừa khóc rồi cuối cùng câm nín, lặng lẽ, mắt ánh lên nỗi đau đớn gan lỳ .
Khi Na về đến trước nhà, chẳng còn giọt nắng nào trước hiên, và trên da mặt nàng cũng chẳng còn một giọt máu.
Có tiếng động ở phòng trong. Na giật mình,theo thói quen, nàng lo lắng, có thể Tuấn sẽ nổi cơn giận khi thấy nàng đã lén đi với bộ váy đỏm dáng này, chắc chắn là đến những nơi chàng không thích.
Trong phòng, chàng trai đang cắm cúi vẽ, lưng quay về phía cửa sổ.
“Na! Na ơi!” Chàng kêu to khi nghe tiếng chân nàng, mắt vẫn không rời bức vẽ. “Anh đã gặp vận đỏ rồi. Anh đã nói mà. Thần may mắn đã đến!”’
“Anh nói sao?” Na kêu lên, tưởng chừng tim vỡ ra. Có thể nào? Nàng phấp phỏng ….
“Một người đàn bà, em ạ, một người đàn bà tuyệt đẹp, bà ta bảo rằng gallery của bà ấy sẽ rất vinh dự giới thiệu bức tranh của anh. Bà ta đến bằng xe hơi! Anh chưa bao giờ nhìn thấy ai đẹp và lịch lãm như bà ấy! Gã vệ sĩ dẫn đường cho bà ta còn bảnh hơn một ông chủ!”
Tuấn không ngừng tay dập những tảng màu lên khung vải. Na chạy tới, nhìn vào bức tranh lớn chàng đang tô sửa. Chợt nàng hét lên, chết điếng.
Đó là bức tranh về nàng, giờ đây Tuấn đang vội vã trét những đường nét mới lên. Vẫn màu nền đó, vẫn dáng người đó, nhưng thay vì mái tóc xõa rối là mái tóc búi cao quý phái, và bộ ngực nữ tu giờ đây đã hóa thành bộ ngực đồ sộ mỡ màng của nữ chủ nhân gallery Kình Dương.

*

Đúng tám giờ tối gallery Kình Dương được cắt băng khánh thành. Tháp sâm banh tuôn trào, những khách mời nâng ly, lót tay bằng những chiếc khăn lụa trắng nõn.
Trước cổng gallery, xe hơi đậu bóng loáng dọc vệ đường. Trong buổi tiếp tân, nữ chủ nhân Tuyết N. tươi tắn và sung mãn, xuất hiện như một bông hoa bằng pha lê rực rỡ dưới ánh đèn chùm muôn màu chiếu sáng. Bên cạnh nàng là một gương mặt mới, một họa sĩ còn trẻ nhưng được lưu ý nhiều nhất vì vẻ hào hoa lãng mạn và cả vì bức tranh đang được trưng bày ở chỗ sáng nhất, quan trọng nhất trong đại sảnh. Đó là bức vẽ về nữ chủ nhân gallery, kết quả của sự chắp nối dị dạng vô hồn, trông giống như một thứ côn trùng đang biến thái dở dang. Mặc dù vậy, nhiều người đã tấm tắc khen ngợi nó, một số nhà phê bình hội họa còn phát hiện ra nơi đây một bút pháp mới đầy sáng tạo, pha trộn giữa hư và thực.
Hai giờ khuya, Tuấn mới về đến nhà. Thứ men quyến rũ của vinh quang lần đầu thấm vào hồn anh, khiến chân anh cứ lâng lâng như đang đi trên mây khói.
Ngả lưng một lúc lâu Tuấn mới nhận ra Na không có trong căn hộ, những xống áo của nàng treo trên vách cũng biến mất. Tuấn nhổm dậy, nhìn kỹ lại quanh phòng. Chiếc lược, chiếc bút chì tô môi, chiếc mũ vải gai màu beige của nàng cũng không còn nữa.
Tuấn bồn chồn, muốn đi tìm Na nhưng đã quá khuya. Đi lui đi tới một lúc, anh chợt kéo tấm màn trước kia vẫn che bức tranh lớn…
Nơi khoảng trống mà bức tranh để lại, Na đã đặt một cái bàn nhỏ, trên bàn là bức chân dung của anh mà trước đây nàng đã vẽ: một bộ mặt thô thiển, nông cạn và chẳng có tí linh hồn.
Trước bức tranh là một bát nhang mới, trên đó cắm cây nhang đang còn cháy dở.
Kể từ hôm đó, người trong phố chẳng ai còn thấy Na ở đâu nữa.
Còn Tuấn thì càng ngày càng nổi tiếng. Sự nghiệp của chàng không phải chỉ ngừng ở gallery Kình Dương.

Trần Thùy Mai

CHÚ VÀ ANH

Năm ấy tôi hai mươi lăm tuổi, lần đầu tham dự một trại viết dành cho những cây bút trẻ. Đến trại, tôi mang theo trong ba lô mười lăm bài thơ, một cái truyện ngắn dở dang, và rất nhiều mong đợi về sự nghiệp văn chương sau này. Chỉ có một điều tôi không mong, mà đã tới…

Nhật vào làng viết lách trước tôi. Đọc thơ tôi, Nhật không khen, không chê, chỉ nói lừng khừng: “Thơ con gái, đọc nghe cũng dễ thương”. Cách khen ấy làm tôi tự ái. Nhật lại đọc truyện ngắn của tôi, rồi phán: “Cũng được. Nhân vật nam của em sao mà đa cảm vậy? Ngoài đời không có đâu. Chưa biết gì về đàn ông”. Tôi sừng sừng nét mặt: “Xin lỗi nghe, không dám nói là không biết đâu”. Nhật cười ngạo nghễ: “Nhìn mặt biết ngay chưa có mảnh tình nào vắt vai”. Tôi hỉnh mũi: “Lẽ nào phải nhảy vào chảo dầu mới mô tả được cảm giác của con cá rán?”.

Trại viết đóng trong một khu biệt thự lớn ven biển, nằm trong khuôn viên hơn ba nghìn mét vuông. Ban tổ chức trại ở tòa nhà hai tầng chính giữa, tầng dưới có hội trường và một phòng ăn dài. Mỗi bàn ăn có bốn ghế. Ban tổ chức trại có ba người, trong khi có đến năm nữ. Thành thử, đến bữa ăn thế nào cũng có một cô bị xếp sang bàn của “lãnh đạo”. Ngồi ở mâm này khó đùa giỡn, lại phải vừa ăn vừa trả lời các câu hỏi về ý định sáng tác, quan niệm về chủ nghĩa hiện thực v.v… và v.v… nên kết quả là thường bị đói, nếu no thì cũng rất khó tiêu. Cho nên cứ đến gần giờ ăn là cả mấy chị em không ai bảo ai đều quẳng bút, lo thay sẵn quần áo, hễ nghe kẻng đánh một tiếng là ù té chạy, ai chậm chân thì… ráng ngồi mâm chung với các VIP.

Một lần mải viết nên tôi chậm chân, lúc cắm đầu chạy thục mạng tôi đâm sầm vào chú. Thật nhục. Mình đang tuổi thanh niên mà ngã quay lơ xuống sàn, còn “ông già” thì xuống tấn đứng tỉnh queo. Chú lôi tôi dậy, ấn xuống ghế trước mặt. “Có việc gì mà các cô chạy đua ghê quá vậy?” Tôi lúng túng. Trả lời sao đây? Các bàn bên cạnh bắt đầu ran lên tiếng cười rúc rích, tôi nhìn thấy cặp mắt ngạo mạn của Nhật như muốn chọc quê tôi. Tức ơi là tức. Trước mặt tôi, ba vị chức sắc bắt đầu gắp một cách rất nghiêm trang. Cả ba vị đều là người của Trung ương Hội cử vào. Trung ương Hội là những đâu, đối với tôi lúc ấy nghe có vẻ cao xa vòi vọi, nên trong mắt của cây bút trẻ như tôi thời đó, tôi vẫn nhìn các vị với cái nhìn e dè kính nể như học sinh cấp ba đối với ông thầy. Chú là trại trưởng. “Sao, cô bé, truyện ngắn viết đến đâu rồi?” Chú hỏi, giọng nghiêm nghị. Thường thì dù đang ăn tôi cũng lễ phép trả lời, nhưng hôm ấy trong tâm trạng bực bội tôi cứ ỳ ra, mặt mày quạu cọ. Thật ngạc nhiên, chú không trách, cũng không hỏi nữa, mà lặng lẽ gắp thức ăn bỏ vào bát tôi.

Sau này trong những lần chú góp ý bản thảo, tôi nghe chú kể đời mình. Tập kết năm năm tư, chú để lại miền Nam một vợ hai con. Hai mươi năm trời ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân. Ngày hòa bình, quay về thì vợ đã lấy chồng, người chồng vừa đi cải tạo. Hai con đều đã di tản sang Mỹ. Chú đến trại cải tạo xin bảo lãnh cho ông chồng của vợ cũ, rồi mang ba lô quay về Bắc. Lại ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân, bắt tay vào viết tiểu thuyết bộ ba, lấy đó làm lẽ sống.

Thời ấy, tiểu thuyết dài ba tập kiểu Liên Xô đang là thời thượng, nhà văn nào có một bộ ba như thế là được xem ngay là nhà văn lớn. Chú có đến hai bộ. Một bộ nói về chiến tranh, một bộ nói về cải tạo công thương nghiệp thời hậu chiến. Bộ tiểu thuyết về cải tạo công thương nghiệp, chú mới cho ra đời được có hai tập, tập thứ ba hơn ba năm nay vẫn chưa viết xong. Đó là khoảng thời gian chú vào ban chấp hành hội, họp hành liên tục và đảm đương nhiều việc, ví dụ phải đi tổ chức trại viết cho các cây bút trẻ như tôi chẳng hạn.

Trong căn phòng nhỏ có cửa sổ mở ra phía núi, tôi cặm cụi viết tác phẩm đầu tiên ở trại. Đó là một câu chuyện đã chứng kiến tại trường học mà tôi vừa đến dạy. Hôm ấy vào dịp cuối năm, công đoàn cơ quan có mua được khoảng một chục chiếc chén sứ Hải Dương. Có chục chiếc chén mà đến bốn mươi cán bộ, nên phải bình bầu xem ai xứng đáng hơn, bắt đầu từ hoàn cảnh rồi đến năng lực đến phẩm chất… Kết quả là có hai cô giáo giận nhau đến nỗi không nhìn nhau được và cuối cùng có một người phải xin chuyển đi…

Câu chuyện tôi viết chắc có bút pháp rất non nớt. Vì vậy sau khi kiếm vài ưu điểm râu ria để khen cho tôi đỡ mất tinh thần, chú chê ngay. Em còn trẻ, sao nhìn đời đen tối vậy? Phải tin ở cuộc đời. Tôi ngạc nhiên: “Thưa chú, cháu hầu như viết y chang sự thật mà”. “Thế mới sai lầm. Y chang sự thực, đấy là tự nhiên chủ nghĩa. Cháu phải nhìn sự thực trong xu thế phát triển của nó”. “Nghĩa là vừa có chuyện hai cô giáo giận nhau, vừa có chuyện hai cô giáo làm lành phải không chú?” Chú nhìn tôi, vẻ mặt như đang nuốt thứ gì đắng, chắc chú nghĩ sao lại có một “cây bút” ngớ ngẩn như thế này.

Tôi về thức cả đêm để “rờ tút” lại tác phẩm, nhưng rồi chỉ hôm sau những tờ giấy đáng thương bị thả tung trước gió để lả tả bay đi. Chiều lại, đến giờ cơm, tôi lại bị ngồi vào mâm chức sắc. Chú hỏi tôi truyện viết đến đâu rồi? Tôi định không nói, nhưng cuối cùng đành để lộ lý do: Nhật đã đọc câu chuyện tôi kể với cái đoạn kết về hai cô giáo làm lành, anh ta lăn ra cười và chế nhạo tôi: Đột ngột thế. Chủ nghĩa hiện thực của Lý là chủ nghĩa “đùng một cái”.

Tôi tự ái tràn hông, vò nát bản thảo cho nó bay tung tả. Sau này nghĩ lại, tôi tiếc đã không giữ lại những dòng chữ vụng về của mình. Nhật chế giễu tôi: “Lúc nào cũng xù lông như con nhím”. Chú thì có vẻ bực, có ý xem Nhật là tay phá bĩnh… Tôi thì rối ren giữa hai người, bắt đầu cảm thấy việc sáng tác sao mà khó khăn, không dễ dàng như lâu nay tôi tưởng. Chao ôi có mấy trang truyện ngắn mà đã nhiêu khê như thế, vậy chú đã phải vượt qua bao nhiêu trăn trở mới viết ra được những bộ ba dày tập đồ sộ như vậy? Nói với Nhật, Nhật chỉ cười…

Gần nửa tháng sau đó tôi giận Nhật, những bữa nhanh chân không phải ngồi bên mâm VIP, tôi cũng tránh ngồi chung mâm với anh. Giận dai vậy là vì chị Tố Hoa ở phòng bên cạnh có hôm bảo tôi, thằng Nhật láo, hôm nay tao đi qua chỗ mấy ông ngồi uống cà phê, thấy họ đang bàn tán về chị em mình. Thằng Nhật nói: “Loài người cũng có điểm giống với các sinh vật sống thành bầy, những con cái luôn hướng về con đầu đàn, còn con đầu đàn thì luôn chọn những con cái trẻ nhất”. Tao chắc là nó nói mày. Tôi điếng người. Ừ, tôi hay ngồi mâm VIP nhất, lại còn tỏ ra khâm phục chú nữa…

Chiều chiều, chúng tôi thường xuống biển tắm. Tòa nhà của trại viết nằm ở bãi sau, rất yên tĩnh, vắng lặng. Tôi tránh Nhật, ngồi ở một chỗ xa xa. Chợt có bóng người ngồi xuống bên tôi. Tôi ngạc nhiên: chú.

Chú nói rất nhiều, như thói quen. Nhà văn hay nói, lãnh đạo cũng hay nói, mà chú là cả hai. Bỗng nhiên, chú nắm lấy bàn tay tôi đang chống trên cát. “Lý có bàn tay đẹp quá”. Chú bảo, giọng khàn lại. Tôi ngạc nhiên quá. Đang nói chuyện văn chương, chuyện thời cuộc, sao chú chuyển đề tài đột ngột thế này. Ngỡ ngàng quá nên tôi bật lên cười: Ha ha ha…

Chú ngượng, rụt ngay tay lại. Lại tiếp tục chuyện văn chương, thời cuộc.

Tôi chẳng hiểu gì cả. Lúc ấy tôi chỉ mong chú đi qua nơi khác cho nhanh, kẻo lọt vào mắt Nhật, chắc chắn tôi lại trở thành đề tài mổ xẻ cho quý nhà văn trong trại.

*

Một buổi sáng, khi thức dậy như lệ thường tôi chạy xuống biển. Không phải bãi biển vắng hoang sơ như mọi ngày. Trên bãi lố nhố người. Tôi hét lên kinh sợ: nhiều xác người nằm im lìm trên cát. Lúc đó tôi hai mươi lăm tuổi, lần đầu tiên nhìn thấy người chết, mà nhiều người chết như thế. Bưng mặt, tôi hoảng loạn chạy ngược lại, không dám nhìn. Tôi chạy tấp vào mái hiên gần nhất. Một cánh tay quàng lấy tôi: “Đừng sợ”. Cánh tay giữ chặt cho tôi đứng vững. Tôi vẫn nhắm mắt, run rẩy. Lát sau, mở mắt, tôi thấy Nhật. Mắt anh đỏ, gương mặt không còn chút gì vẻ tếu táo thường ngày.

Đêm qua biển động, một thuyền chài chìm ngoài khơi, thuyền quá cũ không chịu được sóng biển.

Nhật kéo tôi xuống bãi. “Đi, chạy vào xóm chài, chắc chắn mình phải giúp họ được việc gì đó”. Tôi khuỵu chân, vừa khóc vừa bưng mắt: “Không, không, Lý sợ lắm!” Nhưng Nhật dựng thẳng tôi lên, quay mặt tôi ra phía có những xác người: “Nhìn đi! Đã làm nhà văn thì đừng sợ gió!”

Tôi mở mắt. Sau này, cả đời tôi, thỉnh thoảng tôi lại nghe lời nói của Nhật. “Đừng sợ gió!”

Sau những đám tang, tôi và Nhật thường xuống xóm chài. Có lần theo bọn trẻ con đi thuyền câu mực cả đêm. Những con mực thật đáng thương, chúng thường chết đói. Chúng là những sinh vật yêu thích đồ chơi, bọn trẻ câu chúng không cần phải mua mồi, chỉ nhặt những mẩu giấy bạc trong các vỏ thuốc vứt đi, cắt nhỏ rồi gắn vào lưỡi câu. Những con mực thấy lấp lánh xán đến chơi, rồi mắc câu. Nhật thường hăng hái câu giúp bọn trẻ, nhưng tôi thì thấy thương lũ mực. Thế là cãi nhau.

Trên đường về, Nhật bảo: “Em đúng là Nhím con. Ai có thể yêu em mà không bị thương?”

Tôi khuỳnh khuỳnh: “Dù là ai thì cũng không đến phần anh mà”.

Tôi nhớ hôm đó khi về trại, thật bất ngờ, chú đứng ngay trước cổng, thấy chúng tôi chú run lên giận dữ. “Các đồng chí đã vắng mặt hai ngày không có lý do. Vậy là vi phạm nội quy của trại…”. Giọng chú hôm nay nghe như gầm thét, tôi thực sự ngỡ ngàng. Chị Tố Hoa bảo: “Chú Thông đứng ngóng ngoài cổng từ sáng đến giờ, cứ lo là hai đứa bây bị kẻ xấu bắt cóc rồi. Mà đi đâu dữ vậy?” Tôi thật thà: “Đi câu mực”. “Cha, sướng chưa, mà câu mực thiệt không?”.

Thế là họp, kiểm điểm, phê bình. Sau cuộc phê, Nhật cuốn hết áo quần bản thảo, bỏ về thành phố.

Đường từ bãi sau lên bến xe cũng không gần. Tôi mượn xe đạp đuổi theo. Nhật quay lại, vứt cái túi xách xuống đất. Tôi vứt chiếc xe bên đường. Những vách núi làm nhân chứng cho cái ôm hôn đầu tiên trong đời tôi. Có hương vị của nắng, của gió biển, của tiếng phi lao rì rào ngoài kia. Da thịt của trai và gái khi áp vào nhau sao mà êm ái, có muôn ngàn nốt nhạc đang từ Nhật bay sang tôi, có muôn ngàn nốt nhạc bay từ tôi sang Nhật. Khi lấy lại được hơi thở, tôi ngượng ngùng, hí hửng: “Vậy là từ nay có thể mô tả cảnh hôn nhau được rồi”. Nhật bật cười, âu yếm gãi gãi vào mũi tôi: “Muốn trải nghiệm cảm giác của cá rán thì cứ nhảy vào chảo dầu đi, hóa thành cá lóc chiên xù đừng trách à nghen!”.

Anh xoay người cho tôi nhìn ra biển. Biển rộng quá. Anh không thể biết tôi đã nghĩ gì khi cùng anh ngồi thuyền trên mặt biển. Biển mênh mông và không hề gò bó, biển chứa đựng nguồn sống và ẩn tàng cả cái chết, biển gợi nên bao ý tưởng về cuộc đời này, những điều ấy tôi đã cảm nhận khi ở bên anh. Tôi không cần giải thích với chú hay bất cứ ai điều đó. Cả với anh cũng vậy, như anh nói, cuộc đời này là để sống chứ không phải để lay hoay giải thích. Quay lại, tôi choàng ôm lấy anh lần nữa. Anh dịu dàng: “Nhím con, ai có thể yêu em mà không bị thương? Tất nhiên là anh rồi!”.

Hai mươi năm sau tôi mới lấy chồng. Cứ nghĩ sẽ sống một mình với trang viết trọn đời, nhưng năm bốn mươi lăm tuổi tôi gặp nhân duyên trong một lần đi dự hội thảo ở nước ngoài. Không còn nhiều thời gian nên mọi chuyện xảy ra chóng vánh. Trước ngày cưới, tôi vào Sài Gòn làm thủ tục. Có người rủ đi Vũng Tàu chơi. Tôi từ chối. Tối hôm ấy bỗng nhiên trong tôi tái hiện biết bao nhiêu hình ảnh đã quên. Tôi chợt muốn gặp lại anh, gặp lại chú, những người đầu tiên mà tôi gặp trên đường cầm bút.

Chú bây giờ ở Sài Gòn, trong một ngôi nhà tại quận Bình Thạnh, cùng với gia đình đứa con gái từ Mỹ nay đã về định cư ở Việt Nam. Tôi ngồi chờ ở phòng khách. Cô con gái dẫn bố ra, chú nhìn tôi, mắt mở to nhìn rất lâu: “Cô là ai?”.

Tôi lặng người, thầm nghĩ: “Không lẽ mình đã đổi thay nhiều đến thế?”.

Nhưng cô con gái đã giải thích: “Ba em bị chứng Alzheimer ba năm nay rồi, không nhớ gì cả!”.

Trên đường về, tôi vào một quán cà phê, ngồi một góc nghe tiếng dương cầm. Cuộc gặp chú làm tôi thầm cân nhắc, có nên gặp Nhật không?

Nhiều năm qua, Nhật đã thành một nhà văn rất nổi tiếng. Chúng tôi thỉnh thoảng đọc nhau qua sách báo, thỉnh thoảng cũng trao đổi thư từ. Tình yêu đã sôi nổi một thời rồi lắng xuống, nhưng suốt hai mươi năm, tôi không thể phủ nhận rằng rất nhiều khi tôi viết chỉ vì muốn Nhật nhìn thấy tên mình trên mặt báo.

Nhạc rất mềm thấm vào tim tôi. Serenade rồi Plaisir d’Amour rồi Kỷ niệm… Tôi nghĩ: Không phải tìm gặp Nhật nữa. Phần cuộc sống ngoài đời, chúng tôi không thuộc về nhau. Nhưng anh luôn ở đây với tôi, trong tâm thức về biển cả.

Ngay cả khi tôi tưởng đã quên rồi.

Trần Thùy Mai