SỬ KÝ CỦA TƯ MÃ DOANH DOANH.

Trường Giang cuồn cuộn về đâu
Sóng xưa vùi hết anh hào mỹ nhân
Được thua thành bại chẳng cần
Thiên thu còn lại chỉ ngần này thôi

( Tư Mã Doanh Doanh)

Tôi, người chấp bút, phải nói đôi điều về Tư Mã Doanh Doanh:
Cô là cháu nhiều đời của nhà sử học Tư Mã Thiên ( dĩ nhiên trước khi bị cung hình, sử gia Tư Mã Thiên đã có con trai nối dõi), có tội với triều đình nên dòng họ này phải lưu lạc vong thân, thay tên đổi họ.
Tư Mã Doanh Doanh, mấy ngàn năm sau, thương cảm cho những nguồn lịch sử bị vo tròn bóp méo, cô ngồi vào bàn phím, gõ gõ hằng đêm, thức cùng cô là con cú mèo lim dim trên ngạch cửa, những khi xao lòng hay mệt mõi, cô nhìn vào bạn mình và tìm kiếm ở nó sự kiên nhẫn và khôn ngoan cần thiết, nó gật gù nhìn cô, mỉm cười xoa dịu: Cố lên nào , bạn ta. Cuộc đời ấy, có bao lâu để đợi chờ…
Nên, những điều cô viết có thể là chính sử hoặc chỉ là ngoại truyện, tâm niệm của cô là làm giảm nhẹ mọi uẩn khúc, mọi tranh chấp, mọi hoài nghi… để lịch sử mãi mãi là một giòng trôi của định mệnh, mà ta tìm ở đó- ngàn năm sau- một tiếng thở dài!

VÀO TRUYỆN:

( kỳ sau tiếp)

Tôn Nữ Thu Dung

Advertisements

GIỮA HAI MIỀN VIỄN XỨ 4

                  

 

Chương ngón giữa dặm trường

 TANG TÓC vương muôn nẻo
Theo người – neo quê hương?       

 

Việt lục trong kho lấy hai khẩu súng M16 vắt vai, mấy thùng đạn và một thùng xăng anh cột phía sau yên xe, trực chỉ quê nhà mà rồ ga chạy.

Việt chạy băng băng. Không chỉ con đường nhỏ anh chạy tắt không qua thị trấn Ninh Hòa mà ra tới Quốc lộ, đường xá chỗ nào cũng vắng ngắt. Tới thành phố Nha Trang cũng vậy, người ra đường rất thưa thớt chứ không sầm uất như trước đây gây khá ngỡ ngàng cho anh, rồi dần vào các thị trấn Cam Ranh, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, thị xã Phan Thiết cũng không khá gì hơn.

Việt cắm đầu chạy miết, chạy miết, cho bánh xe cuốn tròn con đường mỗi lúc càng nhanh hơn, anh bỏ lại sau lưng tất cả, chỉ một hướng hướng tới phía trước. Lâu lâu Việt dừng xe, do gặp phải trạm gác chặn lại xét hỏi giấy tờ, song thì kéo barie cho qua nhanh.

Chạy về tới Bảo Định, cửa ngõ của thị xã Xuân Lộc* (*Thị xã Long Khánh ngày nay), không chỉ bị chặn xét sơ ở bên barie, Việt bị đưa vào thẩm vấn khá lâu trong một căn phòng. Gần hai tiếng đồng hồ sau thì mới xong. Đưa anh ra ngoài, ông Đại úy cười mà trong khoảng thời gian cùng thẩm vấn với mấy người nữa sắc mặt ai cũng rất nghiêm trang, ông vỗ vai anh và nói:

“Xin lỗi cậu! Tình thế đang rất căng thẳng, buộc chúng tôi phải giữ cậu khá lâu để minh xác. Mong cậu không phiền chi.”

Việt đáp lời:

“Dạ thưa Đại úy, không có gì. Em còn có được bài học về tinh thần trách nhiệm.”

Đại úy hỏi:

“Bây giờ khá tối rồi, cậu về luôn hay sao? Hay để tôi thu xếp chỗ nghỉ qua đêm, sáng mai về cho an toàn?”

Việt nóng lòng về nhà, anh trả lời:

“Dạ thưa, em về luôn. Cảm ơn Đại úy!”

Chào Đại úy theo kiểu nhà binh, Việt bước đi. Được mấy bước thì anh suy nghĩ lại, quay lại hỏi:

“Dạ thưa, hồi nãy em nghe Đại úy tình hình rất căng thẳng, Đại úy cho em biết sơ được không?

Đại úy gật đầu:

“Chúng ta thất thủ nhiều nơi. Xuân Lộc bây giờ là chốt chặn, cửa ngõ trấn giữ Đô Thành* (*Đô Thành Sài Gòn), thông tin nay mai Cộng quân sẽ tấn công phá vỡ phòng tuyến này, chúng tôi đang ráo riết chuẩn bị phòng thủ. Cậu đi đường nên cẩn thận, đoạn đèo Mẹ Bồng Con, Trảng bom rất vắng vẻ.”

Việt cảm ơn lần nữa, nhưng rồi anh lưỡng lự không muốn đi, anh hỏi:

“Dạ thưa Đại úy,… em… em có thể… ở lại góp chút sức…”

Đại úy cắt ngang:

“Thôi, thôi, cậu nên về đi, dù gì cũng cảm ơn cậu! Chúc cậu may mắn nhé cậu… trẻ cậu triết.”

Đại úy bước đi. Ông thực sự không muốn một chàng trai trẻ tham gia vào cuộc này, ông không muốn mất đi một chàng còn đầy tương lai phía trước, một anh chàng có thể trở thành một triết gia. Nghe giọng nói cùa ông, Việt hiểu điều đó, nên anh tần ngần một chút, nhưng rồi anh vẫn chạy theo:

“Dạ thưa Đại úy, em không thể đi như thế này, xin Đại úy hiểu cho, em không muốn làm anh hùng, cũng chẳng bao giờ thích chiến trận nhưng tình thế rất nguy cấp, một chút sức mọn cũng có ích, vả lại không thể quá hèn như thế này, xin Đại úy thu nạp, cho em ở lại.”

Bây giờ thì Đại úy lưỡng lự. Việt nói cứng rắn hơn:

“Dạ thưa, đây là quyết định của em, dù ra sao em cũng chấp nhận, không liên quan gì tới Đại úy, xin Đại úy đừng phân vân và đừng khuyên em trở về. Nếu không gia nhập nơi này em cũng sẽ gia nhập nơi khác.”

Đại úy nhìn thẳng vào mắt Việt một hồi, ánh mắt Việt rất dứt khoát trong quyết định, nhưng ông vẫn hỏi lại:

“Cậu chắc chứ?”

Việt gật đầu ngay:

“Dạ, thưa, chắc chắn.”

Đại úy đành gật đầu nhẹ:

“Thôi được. Cậu cứ tạm ở lại, nhưng muốn đi lúc nào thì cứ hãy đi nhé. Để tôi gọi người lo liệu chỗ cho cậu.”

Đại úy đi về phòng mình, rất cảm khái tinh thần của Việt, song ông không hề vui chút nào.

 

***

 

Hai ngày lặng lẽ trôi qua. Thị xã Xuân Lộc không vắng lặng như các nơi trên đường Việt đi qua nhưng cũng không hẳn được bình thường, dân chúng vẫn nghe ngóng tin tức, và có hạn chế ra đường.

Sang ngày thứ ba, trời chưa ửng sáng thì khắp nơi trong thị tứ nhỏ bé yên lành bấy lâu nay đột ngột rung chuyển, rung chuyển kinh hoàng vì bị pháo kích dữ dội của Cộng quân. Đạn pháo hạng nặng bắn rào rào như mưa vào thị. Đạn pháo bất chấp nơi nào, chúng không có mắt, cứ có đường thì chúng đi, đường trên không thì vô lối, và cũng không có gì ngăn cản được đường đi của những quả đại bác, đạn pháo thản nhiên đi vào nhà dân, đi vô chợ búa, trường học, đùa giỡn ở chốn đình thờ, ở chùa chiền, ở nhà thờ, ở công sở,… dĩ nhiên làm sao nó bỏ qua những căn cứ quân sự, đó là những điểm nó nhắm tiến đến đầu tiên. Đạn pháo liên tiếp nổ ầm ầm tưởng chừng không bao giờ dứt.

Việt được Đại úy gọi lên. Ổng nói:

“Chúng ta bị pháo kích tấn công ai cũng biết rồi. Tin tức cấp báo dân chúng bị nạn rất nhiều và đang chạy nạn. Đã có lịnh cho một số đơn vị quân đội giúp dân sơ tán. Cậu có chiếc xe, vậy hãy tham gia vào nhóm Hồng Thập Tự mà đi cứu giúp dân lành nhé.”

Việt lưỡng lự, vì anh muốn ở lại và nghĩ Đại úy trao cho anh cơ hội để tránh cầm súng:

“Dạ thưa Đại úy, em… xin ở lại chiến đấu…”

Đại úy bước tới vỗ vai Việt:

“Tôi hiểu ý cậu, rất xứng  đáng là một quân nhân. Nhưng trong thị xã bây giờ cũng đã là chiến trường rồi đó, không còn là nơi chốn yên tĩnh của dân chúng nữa, sau đợt pháo kích địch chắc chắn sẽ tấn công bộ binh, vào đó có khi phải cầm súng chống giặc chứ không chỉ là cứu thương, giúp dân sơ tán. Vả lại đi cứu nạn không phải là hành động trốn tránh trách nhiệm, là hèn nhát, với tôi còn là việc quan trọng trên hết. Hẳn cậu rất rõ rằng “cứu người như cứu hỏa”, hay “cứu một mạng người còn hơn xây bảy tòa tháp”. Thứ nữa, phải biết thời điển nào, công việc gì là phù hợp nhứt. Ngày xưa, tôi cũng không khác gì cậu, nhưng giáp trận đầu tiên, tôi lính quýnh không biết làm sao nạp đạn, không biết lên đạn thế nào, rồi run cầm cập và phân vân không biết có nên bóp cò, có nên giết người không nữa. Chỉ chắn chắn có một điều, thấy người bị nạn, dù có ghê sợ, dù có ớn óc, nhưng rồi sẽ mau chóng bỏ lại sau lưng để lao tới cứu mà thôi.”

Nghe lời giảng giải từ tốn của vị Đại úy, Việt ngộ ra, anh đưa tay theo điều lịnh:

“Dạ thưa, xin tuân lịnh Đại úy.”

Việt chở theo một quân y y sĩ chạy vào thị xã.

Thị xã hỗn loạn còn hơn bị cơn đại hồng thủy. Tiếng xe rú ga, tiếng bước chưn người rầm rập thi nhau tìm nơi chạy trốn, tiếng la hét thất thanh, tiếng khóc, gào rú tuyệt vọng, những trái pháo dội xuống thì những nóc nhà bị hất tung vào không trung, vật liệu, đất cát, khói lửa bay mịt mùng, đổ nát chồng chất lên đổ nát, xác người chết chồng lên xác người, xác người, xác gia súc tan nát văng tung tóe, người bị thương nằm rên la vất vưởng…

Việt bàng hoàng, đồng đội anh bàng hoàng. Không thể, không thể có một ai đó không bàng hoàng với cảnh tượng này. Việt còn hơn thế nữa, anh thất thần, anh run lẩy bẩy, anh đứng như trời trồng cả buổi lâu không biết làm gì. Một quả đạn pháo dội xuống, nổ một tiếng uỳnh lớn cách vài chục bước chưn trước mặt, người đồng đội kéo anh ngã dúi anh mới bừng tỉnh. Rồi bắt đầu như một cái máy, làm theo hiệu lịnh của đồng đội, anh ẵm bồng những người bị thương vào những nơi còn có chỗ che chắn để băng bó, không ẵm bồng nỗi thì anh cố hết sức kéo vô, sau đó chở đi những nơi tập kết. Người thương nhẹ dìu và vịn vào nhau, người không bị thương lo cho người bị thương nặng…

Suýt soát trên dưới hai tiếng đồng hồ từ lúc khai mào quả đầu tiên thì tiếng pháo ngưng. Cả mấy ngàn trái pháo dội tan tác thị xã. Và đúng như lời đoán của vị Đại úy, Cộng quân tấn công bộ binh ngay sau đó.

Tai của Việt đã khản đặc và đang tập trung hết sức nên anh không nghe được tiếng súng tấn công nữa. Anh chỉ nghe kể lại rằng quân Việt cộng đông như kiến cỏ, xung phong hàng hàng lớp lớp, và cũng hàng hàng những chiến sĩ bị bắn ngã gục xuống trong đó có những người lính trẻ măng, mặt còn bấm ra sữa, có thể không quá mười bảy tuổi, có khi chỉ mười sáu không chừng. Họ ngã xuống như vậy chứ vẫn không ngừng hô xung phong và tiến, hăng máu tiến như vũ bão và lại bị ngã xuống như rạ. Việt không rõ lắm cuộc chiến kéo dài bao lâu. Toàn thị xã bị bao vậy, bị tấn công tứ phía nhưng các phòng tuyến vẫn trụ vững, không để bị chiếm. Duy nhứt tiền đồn Bảo Định, nơi anh đầu quân bị đẩy lui về ngã ba Tân Phong.

Việt cùng đồng đội được ngã lưng dựa vào bức tường loang lỗ ám khói khói thở dốc, nghỉ ngơi chút và gặm nhắm những ổ bánh mì khô cứng trong quang cảnh xung quanh đầy mùi thuốc súng khét lẹt thì mặt trời đã đi quá xế chiều, sau đó tiếp tục kéo về lo cho đồng đội thương vong. Trở về, Việt rất mừng, dĩ nhiên ai cũng mừng, do chuẩn bị hầm trú ẩn khá kỹ nên thương vong không nhiều.

Đêm, bầu không khí tĩnh mịch như đêm ba mươi Tết, là thời khắc chuẩn bị đón giao thừa nên mọi hoạt động thường chững lại, có chăng thì cũng rón rén, nhẹ nhàng. Ở đây, lúc này thì chững lại để trốn để lánh, để nghe ngóng tin tức, để chuẩn bị nghe tiếng dội pháo chứ không phải chuẩn bị nghe tiếng pháo báo hiệu thời khắc giao thời, tiễn năm cũ đi đón năm mới tới. Và cả buổi sáng sớm nghe rền rã đạn bom, bây giờ không có nữa, thì bầu không khí dường như có vẻ yên ắng lạ thường. Nguyên đêm, không một tiếng đạn pháo nào dội xuống. Nhiều lính tráng mệt mỏi vật mình ngủ vùi ngay giao thông hào. Người Việt rã rời như hồi những ngày đầu ở thao trường, mắt anh cứ chực quíu xuống nhưng không tài nào ngủ được, chẳng phải những câu hỏi ập tới trong cái đầu vốn thường suy nghĩ miên man, chẳng hạn như tại sao cứ phải dùng tới súng đạn, tại sao giết chóc, tại sao thế này thế kia… Trạng thái của Việt lúc này là gì cũng khó thể biết, có thể là trạng thái lưng chừng, cơ thể gần như bất động nhưng bộ não chưa mất kiểm soát nên chưa thể là vô thức.

Anh bạn quân y nằm cạnh bên rút gói thuốc lá lắc lắc cho lòi ra chừng một phần ba điếu đưa qua Việt, anh nói:

“Ám ảnh quá hải hông. Mình cũng đã từng bị ở những lần đầu. Bây giờ cũng vẫn còn nhưng đã đỡ hơn, mệt quá thì chìm được vào giấc ngủ.”

Đúng rồi. Nỗi ám ảnh. Ám ảnh kinh hoàng, Việt ngước nhìn lên trời, bầu trời tối đen nhưng vẫn chờn vờn những dòng máu loang, những mảng thịt bầy nhầy, những đường cắt da thịt tới tận xương tủy xé bành ra, lòi những miếng mỡ trắng phếu.

Việt nhấc cánh tay nhức buốt rút một điếu thuốc, anh quân y cũng rút một điếu và châm lửa, anh nói tiếp, có bông lơn để xua tan bớt không khí nặng nề:

“Rít thiệt sâu, sâu hết cỡ thợ mộc, rồi thở ra cũng hết cỡ… hết cỡ thợ  gì ta? Thở ra hết cỡ thợ mộc còn rít sâu phải hết cỡ thợ đào giếng chứ hen. Như vậy có thể làm người đỡ hơn. Không hút thuốc cũng nên hít thở mạnh sẽ nhẹ nhõm người.”

Nói thêm được vài câu thì thào nữa thì anh quân y ngủ, điếu thuốc vẫn còn cháy dở giữa hai ngón tay. Việt thì vẫn không cho dù sau đó anh hút gần nửa gói thuốc. Khoảng bốn giờ sáng, người bắt đầu lơ mơ, có lẽ những làn khói được rít mạnh bay lên tới tận óc, len lõi vào và quần tụ trong đó, đâu có lối thoát nên làm cho nó mụ mị, Việt mới chợp mắt được.

Chợp mắt chưa được bao lâu, chừng một tiếng rưỡi đồng hồ thì Việt giựt mình bừng tỉnh ngay, cũng vào sáng sớm, giấc này như hôm qua, pháo lại ầm ầm đội xuống và tiếp nối các đợt tấn công vũ bão.

Ngày kế tiếp, sáng sớm không có động tĩnh gì. Ngỡ rằng là một ngày ngừng pháo kích để tính toán gì chăng thì khoảng bảy giờ sáng đạn pháo nổ tung tóe. Hơn một tiếng đồng hồ sau thì như hai ngày đầu, pháo ngưng thì bộ binh tiến lên khai hỏa.

Các phòng tuyết vẫn không bị phá vỡ. Các đợt tấn công đều bị đẩy lùi.

Việt và nhóm Hồng Thập Tự vẫn ngược xuôi với công việc của mình. Thương vong đã giảm nhiều, dân chúng còn bám trụ trong thị xã đa số có hầm kiên cố, và sơ tán khi không còn pháo kích. Gần như những người cố bám trụ cuối cùng cũng phải chịu dời đi. Thị xã vắng hoe, không một bóng thường dân, chỉ có hoang tàn, lửa khói đó đây âm ỉ chực chờ bùng lên, bùng lên trong chốc lát rồi trở lại âm ỉ bởi không còn mấy thứ trong đống đổ nát để nó thiêu rụi nữa.

Chiến trận bước sang ngày thứ tư.

Tin vui được báo vể, quân nhảy dù tiếp viện nhảy xuống đánh chiếm lại được Bảo Định, đẩy lui Cộng quân ra xa dần và tiếp tục cả ngày thứ năm.

Ngày thứ sáu, chiến trường yên ắng. Không có những trận tiến quân qui mô. Đó đây chỉ có những trận chiến lẻ tẻ.

Binh tướng bắt đầu tự tin kháo nhau Cộng quân sẽ không thể đánh chiếm được thị xã, và như vậy cửa ngõ sẽ được an toàn.

Nhưng, mọi chuyện không diễn ra như vậy. Cộng quân chuyển hướng tấn công vào Trảng Bom, Biên Hòa.

Trong ba ngày sau, nơi này im bặt tiếng đạn bom, dĩ nhiên đạn bắn lẻ tẻ lúc này đâu còn tính nữa, chỉ còn nghe tiếng rền vang vọng và thấy những ngọn khói bốc cao.

Đến ngày thứ tư thì một số quân được máy bay đón, đưa về lập phòng tuyến mới ở Trảng Bon, Biên Hòa.

Đơn vị của Việt  vẫn đóng tại Tân Phong. Việt tham gia giúp dân ở trại sơ tán lên máy bay di tản. Công việc tất bật, anh cũng không rõ di tản đi đâu, có thể xuống Ô Cấp* (*Vũng Tàu) hoặc đi Sài Gòn.

Chuyến bay cuối cùng cất cánh thì trời đã vào chiều dịu mát. Lý ra Việt đã ở trên chuyến bay này, anh đã lừng khừng, nửa muốn bước lên nửa muốn ở lại, cuối cùng quyết định ở lại. Vẫn còn nhiều người dân chưa sơ tán, chưa đi tản. Hiện tại thì vẫn còn một đơn vị chốt lại cùng địa phương quân và các toán lính dù chưa rút ra hết. Việt quay trở về tuyến phòng thủ.

Đang bon bon chạy với những miên man hỗn loạn trong đầu, những ý nghĩ không rõ ràng cứ chập chờn nhảy múa, chúng xáo trộn, đan xen, ngắt quãng lẫn nhau trong Việt, bỗng anh giựt mình vì tiếng người la ới ới. Việt cho xe chạy chầm chậm và ngoái đầu vào một con đường đất đỏ thông ra đường chánh gần đó, thì anh thấy một người đàng ông hớt hải vừa chạy ra vừa ngoắc tay:

“Chú lính ơi, chú lính ơi…”

Việt ngừng xe, bước xuống đứng đợi. Người đàn ông chạy tới thì muốn đổ gục. Ông gập người thở hổn hểnh. Chờ cho người đàn ông tạm bớt cơn mệt, Việt hỏi:

“Dạ, có gì hông chú?”

“Dạ… dạ… chú lính… chú lính làm ơn giúp với…”

“Chú cứ nói, giúp được gì trong khả năng, con sẽ cố hết sức.”

“Dạ, tôi… vợ chồng tôi và con cái đi di tản, nhưng ở xa quá, bây giờ mới tới được đây, chú cho hỏi tập trung ở đâu vậy?”

“Dạ, tập trung ở cách đây chừng hai cây số. Nhưng…”

“Nhưng sao hả chú?”

“Dạ… nhưng… nhưng chuyến bay cuối cùng đã cất cánh.”

Vừa nghe xong thì người đàn ông ngồi thụp xuống. Cũng vừa lúc ấy vợ ông cùng bốn đứa con nheo nhóc chạy tới, thấy ông rũ rượi, bà hốt hoảng:

“Có chuyện gì hả mình? Có chuyện gì?”

Ông ôm đầu, một chập sau mới lên tiếng:

“Hết đường đi rồi, biết làm sao đây?”

Bà hỏi liền:

“Dạ, hết đường rồi hả chú lính?”

Việt bối rối trả lời:

“Dạ, máy bay cất cánh chuyền cuối rồi.”

“Hông còn xe cộ gì hết hả chú?”

“Dạ, dạ… xe cộ cũng thấy vắng hoe, cũng chạy hết trơn.”

Bà cũng ngồi thụp xuống, còn khóc huhu:

“Trời ơi Trời! sao khổ dữ vậy Trời! giặc giã miết, chạy giặc miết, rồi cũng hết đường chạy. Các con ôi! biết làm sao đây?”

Những đứa trẻ đứng nhìn ngơ ngác, có chút biểu hiện hoang mang. Chợt Việt nảy ra ý:

“Dạ, hay như vầy, chú thím cứ lấy xe con mà đi, ráng chen chúc chở các cháu mà đi, cứ chạy về hướng Ô Cấp. Có lẽ dưới đó chưa bị tấn công.”

Bà sáng mắt lên. Nhưng ông thì xua tay:

“Dạ, đâu được, chúng tôi đâu dám. Thôi, cứ đi bộ, tới đâu hay tới đó.”

Bà tiu nghỉu, nhưng bà cũng đồng tình:

“Dạ, chú còn làm nhiệm vụ.”

Việt bước lại tháo cái ba lô và vài vật dụng cần thiết:

“Dạ, nhiệm vụ sắp tới cũng không còn cần kíp xe lắm nữa rồi. Chú thím cứ lấy đưa gia đình đi cho an toàn.”

Đôi vợ chồng còn tần ngần. Việt lấy tư trang của họ cột vào xe. Anh làm rất dứt khoát, nên đôi vợ chồng khó cản. Nhưng ông vẫn nói:

“Dạ, làm vậy… coi sao được… làm…”

Việt ngắt lời:

“Dạ, không sao hết. Bảo vệ dân, cứu dân cũng là trách nhiệm của tụi con. Chú thím đi từ từ, cẩn thận. Chúc chú thím và các cháu bằng an.”

Ông chồng bắt tay Việt, nói lời cảm ơn trong nấc nghẹn, còn bà vợ thì xá liên hồi mấy xá.

Việt quay đầu bước đi nhanh, bước đi như chạy, một phần anh muốn nhanh về  đơn vị, một phần anh không muốn những câu hỏi về đủ thứ lởn vởn trong đầu.

 

***

 

Việt trở lại chiến hào khoảng 7 giờ tối, chỉ còn hai đại đội đóng quân, đang chờ các tiểu đoàn dù với thông tin chừng hai hoặc ba tiếng đồng hồ nữa sẽ hợp tại đây rồi cùng rút theo đường bộ về Phước Tuy* (*Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay). Đây là toán rút quân cuối cùng, là lực lượng tập hậu. Vẫn còn dân chúng các xóm Đạo, Bảo Định, Bảo Hòa và Bảo Toàn chờ củng đi với Địa phương quân.

Trước đó, vào chập tối, một lượng lớn quân đã âm thầm di chuyển. Dân chúng nghe được tin quân sẽ rút, nên cũng chuẩn bị gói gém hành trang để theo chưn di tản.

Việt ngả lưng, tựa vào những bao cát chất cao làm lô cốt phòng thủ. Người bắt đầu thấm mệt, bắt đầu thấy rệu rã, đôi mắt cứ muốn cụp xuống, Việt cố gắn giữ ở trạng thái lim dim.

Một chiến hữu đem tới cho anh một cà mèn cơm, và nói:

“Ăn đi anh bạn. Ăn xong nhắm mắt được một chút thì tốt, để chuẩn bị sức đi trong đêm.”

Việt cảm ơn. Anh mở hộp cơm ra, vừa định xúc ăn thì chợt trào nghẹn, rồi rùng mình và muốn ói. Trong hộp, Việt vừa thấy những hột cơm trắng muốt, thì vụt đã chuyển sang màu đỏ, những dòng máu đỏ phun xối xả, chảy ào ào trộn lẫn vào cơm, những miếng thịt những mảng da bầy nhầy văng bay tung tóe cũng văng vào đây, và cả những khúc xương nức gãy còn dính những miếng mỡ trắng phếu, chỗ đầu xương bị gãy có những hình như những mũi giáo răng cưa nhọn hoắc lớn nhỏ xen kẻ nhau lỉa chỉa, bên trong ống xương dòng tủy phụt bắn ra ngoài, mùi cơm vừa hít hửi được thơm tho thì cũng chuyển sang mùi tanh tưởi, tanh tưởi kinh người.

Việt không tài nào xúc được muỗng cơm đưa lên miệng. Anh đóng nắp cà mèn, ngồi thở dốc. Chờ một lát sau thì anh cố mở lại. Nhưng lần này cũng không khác gì, vẫn những hình ảnh như vậy chình ình trước mắt. Và tệ hại hơn nữa, anh không kìm được cơn buồn mữa, không kịp chạy đi ra bên ngoài, anh tuông ói ngay tại chỗ, lộn ruột ói ra tới mấy bận. Qua những cơn ói, người Việt run bắn lên, anh cảm thấy lạnh run và thở hổn hển trong khi bên ngoài thì mồ hôi túa ra.

Người chiến hữu thấy vậy, chạy lại đỡ Việt, anh ngoắc thêm một chiến hữu nữa và nói:

“Ông bạn này chắc bị gió má gì rồi, mau đưa vô chỗ kín gió một chút.”

Hai chiến hữu khiêng Việt xuống giao thông hào. Cơ thể Việt càng run bắn, nhưng sờ bên ngoài thì nóng hầm hập. Người chiến hữu nói:

“Chắc bị sốt, lên cơn sốt. Trước mắt anh chạy lấy dùm cái khăn nhúng nước lạnh, đắp lên trán để hạ nhiệt, sau chạy vào kiếm vài viên thuốc.”

Đắp khăn một hồi thì Việt đỡ lại. Người chiến hữu nói tiếp:

“Ráng ăn một chút rồi uống viên thuốc.”

Việt không còn cách nào khác, anh phải mở nắp cà mèn nhưng không dám nhìn vào nó, cứ mò mẫm mà xúc cơm rồi ngấu nghiến. Việt cũng khổng hiểu vì sao những hình ảnh này lại ám vào cà mèn cơm. Anh nghĩ, có lẽ bữa cơm rất nhạy cảm với mùi và hình ảnh ghê rợn. Việt cũng không dám hé môi kể với chiến hữu của mình. Một phần anh sợ tâm lý này sẽ lây lan, một phần cũng vì xấu hổ cho tâm lý dễ bị ám ảnh, không vững của mình.

Uống thuốc một hồi thì Việt thiếp đi hồi nào hông hay. Lúc anh sực tỉnh thì khá ngơ ngác, không hiểu chuyện gì xảy ra khi thấy sự chộn rộn xung quanh, anh còn không nhận biết được đang ở nơi nào. Người chiến hữu chạy lại, hỏi:

“Thức rồi hả? còn mệt lắm hông? Có khỏe tí nào hông?”

Việt vẫn ngơ ngác:

“Mình đang ở đâu? Mấy giờ rồi?”

“Gần 9h rồi. Ông bạn đang ở chiến hào, hổng nhớ gì sao?”

Việt vuốt mặt vuốt mày thì trí nhớ dần trở lại. Anh hỏi:

“À, chuẩn bị rút quân phải hông?”

“Ừ, lính dù đã ra tới, bà con cô bác cũng đã tập hợp hết rồi, chuẩn bị đi đó, đi nổi hông hay chắc phải lên xe rồi. Để tôi dìu ông bạn tới xe, chắc sắp có lịnh xuất phát.”

Người chiến hữu vừa dứt lời thì một tiếng uỳnh thiệt lớn nổ ra cách chừng một trăm thước mà chấn động cảm nhận rõ tại nơi này. Trong ánh sáng mờ mờ, Việt lại thấy mọi thứ bay tứ tung, nghe tiếng la hét thất thanh, tiếng khóc thét vang lên, những bước chân chạy loạn xạ, và tiếng hô: “Đạn cối, đạn cối, núp đi, tìm chỗ núp đi…” nối tiếp nhau. Mọi người chưa định thần thì kế tiếp liền là một tiếng uỳnh nữa, nhưng không cách xa mấy mà ngay chỗ Việt, anh choáng váng bởi đất trời như rung chuyển bần bật trước mặt, dưới chưn mình. Người chiến hữu kéo anh cùng một số người nữa nhảy vào cái hố lớn mà tiếng uỳnh vừa tạo ra. Việt cắm đầu xuống đất, nghe theo lời của các chiến hữu như một cái máy. Mấy tiếng uỳnh uỳnh nữa liên tục dội xuống, Việt nghe văng vẳng trước khi vật ngã nằm ngang bất tỉnh, do người còn thấm mệt mà chấn động lại quá dày đặc: “Pháo kích, chúng pháo kích ngay vào dân thường, chúng giết dân thường không gớm tay, dân chết nhiều quá, quá sức man rợ!”

 

***

 

Việt không thấy thân mình nặng chịch, uể oải như mấy ngày nay, anh thấy mình nhẹ hẫng bay bay trong không trung. Anh rất thích thú, cảm giác như những sợi mây trắng lững thững trôi, lững thững mơ màng, không màng gì tới điều gì khác. Trong không trung rất êm dịu như thế này thì còn gì bằng nữa mà không cảm thích. Lâu lâu chỉ có một chút mùi khen khét làm khó chịu mà thôi.

Nhưng rồi, một bóng dáng chợt bay vụt qua, hai ba bóng dáng nữa bay vụt vụt, mỗi lần như vậy là mỗi lần Việt giựt thót người, không hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Chưa kịp tìm hiểu, chưa kịp hiểu thì một bóng dáng bay ngay tới ngừng ngay trước mặt, và hỏi:

“Thân mình tôi đâu, anh có biết hông?”

Việt nhìn kỹ, thì ra bóng dáng chỉ có mỗi cái đầu, cái đầu mang bộ tóc rũ rượi, cùng đôi mắt mở trừng trừng, dòm thấy hầu như là tròng trắng. Việt ớn lạnh, dĩ nhiên anh không biết, anh đáp:

“Dạ, hông, hông biết.”

Bóng cái đầu buồn rầu bay đi. Việt cũng buồn rầu không kém, nhìn theo bóng dáng chưa khuất thì bóng một cánh tay xoay xoay như chong chóng trước mặt, cùng với câu hỏi đó, có khác là hỏi thêm cái đầu. Việt chưa biết trả lời thế nào cho vơi bớt sự thất vọng cho bóng dáng thì liên tục những câu hỏi tương tự xoay quang anh cùng những bóng dáng thiếu hụt thể xác. Bóng dáng một cẳng chưn xoay tròn như cánh tay, bóng dáng một nửa thân mình phía trên, một nửa thân mình phía dưới, một nửa thân mình theo trục dọc, bóng dáng một cái đầu bị tuốt mất phần da còn như cái đầu lâu, bóng dáng một bộ xương cũng bị tróc gần hết bộ da… Và những bóng dáng khác, cùng với những lời sầu bi không thể nào thê thảm hơn nữa: “Trời ơi! ruột gan của tui, ruột gan của tui sao đổ hết ra ngoài thế này?”, “Con mắt của tui đâu, có ai lượm được con mắt của tui hông?”, “Tui khó thở quá, tui ngột thở rồi, cho tui chút hơi thở đi, Trời ơi!”, “Cứu với, cứu với, Trời ơi! cứu tui…”… Cùng với lời kêu than là hành động của các bóng đáng, hốt ruột gan nhét lại vào trong bụng, cố hả họng để tìm chút ô xy, chút khí trời…

Việt càng ớn lạnh, nãy giờ đã run lẩy bẩy thì càng run bần bật hơn nữa. Anh trả lời lớn, như thể một câu chung:

“Dạ, hông biết, chẳng biết gì cả.”

Việt nhìn kỹ lại mình, anh không bị là sao cả. Anh không hiểu chuyện gì xảy ra hết cả. Anh suy nghĩ được gì để tìm hiểu tại sao. Trong anh bây giờ chỉ có nỗi sợ hãi, hãi hùng trùm hết người mình.

Nỗi sợ càng lúc càng lớn dần, anh sợ sẽ còn nhiều bóng dáng bay tới nữa, Việt muốn bay trốn, muốn trốn thiệt nhanh. Anh tìm những đám mây lớn để ẩn mình vào trong đó, những đám mây đen càng tốt. Nhưng quẩn quanh không có một đám mây nào. Chỉ có bóng đen tăm tối bao phủ. Không có một nơi nào trốn tránh được. Anh cứ xà quần xà quần mãi. Các tiếng thở than, các câu hỏi dần dần vơi bớt. Việt không vui mừng, anh chỉ cầu mong không phải nghe thêm mà thôi.

Cầu mong của Việt không được toại nguyện. Anh không còn nghe tiếng kêu than, nghe những câu hỏi nữa, nhưng thay vào đó là tiếng rên rỉ, rên rỉ hừ hừ từng tràng kéo dài, rên rỉ buốt tới tận óc. Khó chịu đựng quá đỗi, Việt bức bối và nổi nóng bất tử, một cử chỉ hiếm có trong anh, Việt la lớn:

“Thôi đi… im đi… im ngay đi…”

Tiếng rên im đi. Kế tiếp thì có giọng khàn khàn nhưng nghe như tiếng rên:

“Dậy đi ông bạn. Dậy đi, đừng mê man nữa, ráng dậy đi, đừng mê man mà đi luôn, bỏ tui một mình bơ vơ nơi này.”

Nói xong, lại có tiếng rên hừ hừ. Việt cảm giác như có ai đang vịn vào người, lay người mình. Và đúng như vậy, Việt bất tỉnh, gần như chết rồi, anh bay bay là hồn anh đang bay đó thôi. Bay bay, anh gặp những hồn đã lìa khỏi xác bị thương tật kinh hoànhg. Kề bên anh bây giờ là một người chiến hữu bị thương lết được lại đây nằm kề và rên rỉ đã lay lay người anh. Việt tỉnh được, tỉnh khỏi cơn mê man. Người chiến hữu mừng rỡ:

“Ồ! Ông bạn tỉnh được rồi. May quá, không thì một mình tui chết ở đây thiệt sầu quá.”

Việt đã bớt mơ hồ, anh dần dần nhớ lại. Lâu lâu có mùi khét, À đó là mùi thuốc súng, mùi cháy khét của chiến trường đã tan dần đó thôi, anh đã biết mình đang ở chiến hào. Anh bật ngồi dậy:

“Anh bị thương ở đâu, để tui băng bó cho anh. Anh đợi một chút nhé.”

Việt chạy vào các dãy lán trại, lục tìm được hộp cứu thương. Anh quay lại băng bó nhiều vết thương khắp mình mẩy người chiến hữu, nặng nhứt là ở chưn, bị gãy ngang đoạn xương ống quyển. Việt hỏi:

“Mình hình như bất tỉnh ở đây, chẳng biết mô tê gì, chúng ta bị pháo kích thì phải?”

Người chiến hữu đáp trong nghẹn ngào:

“Đúng vậy. Hơn cả chục quả đạn cối dội ầm ầm xuống, không chỉ lính trận mà bà con theo di tản bị chết nhiều lắm, chết đau thương, xác không còn nguyên vẹn, như bị phanh thây. Kinh khủng tận cùng của sự dã man.”

Việt lắc đầu mệt mỏi:

“Anh nằm đây chút nhé, tui đi xem, coi có ai còn sống không.”

Đi một vòng, Việt trở lại:

“Không thấy một dấu hiệu nào của sự sống, kể cả cây cỏ, một bãi tha ma, toàn mộ mùi chết chóc. Có lẽ mọi người nghĩ hai ta cũng đã chết, nên đã nhanh chóng rút đi rồi.”

“Có lẽ vậy.”

Người chiến hữu đã đỡ đau hơn đôi chút nhờ những viên thuốc giảm đau. Việt nói:

“Ta rời khỏi đây thôi. Để tui dìu anh đi.”

Việt loay hoay dìu người chiến hữu, nhưng không tài lên nổi cái hố sâu hoắm, người chiến hữu cố lắm cũng không nhích chưn lên được, Việt xoay qua cõng cũng không thể. Anh đặt chiến hữu nằm ngửa,và nói:

“Xin lỗi anh bạn, không còn cách nào khác, tui phải kéo anh lên, ráng chịu đau một chút.”

Việt kéo từng chút, nhích từng chút, cuối cùng cũng lên được khỏi hố, anh và chiến hữu vật ngửa người nằm thở dốc. Người chiến hữu còn một chưn nguyên vẹn cũng ráng chòi đạp xuống đất nên mệt phờ, quên bớt cơn đau từ những vết thương tứa máu.

Nghỉ ngơi khỏe lại, Việt đỡ chiến hữu lên, dìu anh đi từng bước chầm chậm. Đi được chừng hai cây số, lúc này Việt thấy khỏe lại, anh xoay qua cõng người chiến hữu, ráng cõng chừng một cây số thì cùng ngồi nghỉ, sau đó cùng dìu nhau đi tiếp, khỏe chút thì cõng tiếp, cứ như vậy ráng lê lết dần dần con đường Tỉnh lộ 2* (Quốc lộ 56 ngày nay).

Đã trải qua khoảng ba tiếng đồng hồ, đã qua chừng mười cây số, Việt vừa dìu chiến hữu đi vừa trò chuyện, hỏi han gia cảnh của nhau để vơi bớt nỗi đau. Đường đi vắng vẻ, con đường dường như rất ít được sử dụng nên nhìn rất hoang phế dù đường không đến nỗi xấu, đó đây có những hố bom hố đạn, và rừng cây rậm rạp, nhiều cành cây, cỏ dại phủ ra hai bên đường. Lâu lâu tiếng súng lại rộ lên, vang vọng tới. Rồi từng tràng tiếng súng nghe rất rõ ở phía trước. Ngừng lại nghe ngóng, người chiến hữu nói:

“Phía trước không xa lắm là đồn Long Giao. Có lẽ có chạm trán ở nơi đó.”

Việt tần ngần:

“Bây giờ làm sao đây? hông biết có còn con đường nào nữa hông?”

Anh vửa dứt lời thì có hai người lính ôm súng ở phía ngược hướng hớt hải chạy tới.

Việt hỏi:

“Giao tranh phía trước hả anh?”

Anh đáp:

“Bị phục kích, đoàn rút quân tụi tui bị phục kích. Đồn Long giao cũng đã bị thất thủ.”

Người chiến hữu bị thương nói:

“Khắp nơi đã bị bao vây, bao vây tứ phía rồi quá.”

Việt đồng tình, rồi hỏi:

“Có lẽ vậy. Nhưng hai anh đang định chạy đi đâu?”

Một trong hai người trả lời:

“Bị bất ngờ, bị bắn rát quá, một số thương vong, quân tan đàn xẻ nghé, chạy tán loạn hết, hai tui cắm đầu chạy đại chứ chưa rõ đi đâu. Bây giờ mới định thần, chạy hướng này cũng đâu có được, phía đó ta vừa đi mà. Chắc phải băng rừng mà đi, không đi ngời ngời ngoài đường như thế này được.”

Cả bốn đồng tình, chuyển vào rừng và nhắm hướng đi. Họ di chuyển rất chậm, chậm chạp đến độ dễ sốt ruột nếu trong hoàn cảnh bình thường. Bởi vừa dìu người bị thương vừa khe khẽ vạch đường vạch lối, luồn cuối trong rừng rậm, tìm đường trong rừng nguyên sinh đầy gai góc, đầy nhánh cây tua tủa đan xen và cả những bụi cỏ cao ngất bon chen. Họ không dám gây tiếng động lớn, thậm chí là sợ đánh động những đàn chim, những con thú rừng.

Đã ba ngày trôi qua, trước mặt họ vẫn rừng là rừng. Họ không biết đã đi được bao xa. Đêm không dám đốt lửa, tìm những hốc đá hoặc hốc cây lớn mà trú ngụ. May còn những túi ngủ nên chống chọi được với muỗi mồng dày đặc. Ba người lành lặn thay nhau gác đêm. Thực sự thì cũng chỉ là cẩn thận không thừa, chứ trước mặt chỉ là một màn đen tối như mực. Trong cái tối này và giữa rừng, tưởng chừng như một ánh lửa nhỏ sẽ không tồn tại. Không ai dại gì rọi đèn để soi tìm, đó là cách tự tố giác vị trí của mình mà thôi, hoặc có dùng ánh đèn để đánh lạc hướng cũng không mấy hiệu quả.

Việt ngủ rất lơ mơ, chập chờn, nhưng anh không nghĩ ngợi gì, kể cả lúc thức, nỗi ám ảnh bị phục kích cứ thường trực trong đầu. Và họ rất dè sẻn, dè sẻn từng chút thức ăn, phải tìm lá, tìm trái cây ăn dặm thêm. Phía trước là một bức màn mịt mùng, họ đâu biết hành trình bao giờ kết thúc, bao giờ được thoát ra. Thú rừng nhiều vô kể nhưng họ không dám săn bắt, có bắt được thú một cách không gây náo loạn đi chăng nữa cũng không thể ăn thịt sống. Họ chưa tới mức độ này.

Đi tới gặp một dòng suối nhỏ. Dòng nước mát lạnh xăm xắp ngang mắt cá chưn trong vắt chảy qua những hòn đá cuội, chảy qua những lớp sỏi nằm bên dưới, có những đụn cát rải rác đó đây cũng giống như bên lở bên bồi ở các dòng sông. Đá cuội và sỏi được mài nhẵn, sáng bóng. Những hòn đá lớn nằm cạnh bờ mới có chỗ bị rong rêu bám vào.

Bốn người lính bê bết, tả tơi vốc nước thỏa thuê lên mặt, lên cổ. Họ có được phút giây sảng khoái. Tình cờ, lúc ngước mặt lên để tận hưởng hết sự sảng khoái, Việt thấy được rất nhiều những chùm bông tím trên những cành cây có xen lẫn những lá đã chuyển màu cam cam, vàng vàng. À, anh nhớ ra, đó là những bông bằng lăng đúng mùa nở rộ. Những lá cam cam, vàng vàng làm cho nơi đây giống mùa thu của các xứ lạnh, mùa thu tay lá. Bất chợt, Việt ước cuộc đời phải chi được như ở dòng suối này. Nó tuyệt đẹp, nó trong sáng, nó thanh bình, nó gột rửa và nó được gột rửa. Dòng nước gột rửa, những viên đá cuội, những hòn sỏi được gột rửa. Gột rửa, Việt thấy thêm được một hình thái khai sáng, như anh đã thấy ánh sáng chiếu vào vùng u tối. Ừ, nơi đây có cả những tia sáng chiếu xuyên qua rừng cây tán lá, đúng hơn là những luồng sáng chứ không chỉ là tia, những luồng sáng tới đây thiệt dịu, thiệt nhẹ nhàng. Anh nghĩ, nếu thoát ra được nơi này, rồi sẽ có một ngày anh trở lại khi nơi đây không còn là chiến trường. Ừ, mà phải là tất cả các nơi đều không còn chiến trường.

Việt thấy một người định vốc nước uống. Tìm thức trong anh thức tỉnh, anh vội ngăn lại:

“Ui, khoan, khoan đã, khoan vội uống.”

Cả ba chiến hữu ngạc nhiên:

“Sao vậy?”

“À, trong nước có thể có ký sinh trùng, uống vào có thể gây một số bịnh.”

“Vậy phải làm sao đây? Nước mát quá và chắc là rất ngọt.”

Việt làm cử chỉ trấn an. Anh lấy ra con dao găm, tìm một đụn cát ẩm, rồi đào một cái hố nhỏ. Một lúc sau thì những mạch nước nhỉ ra, nước cũng trong veo và mát lạnh. Anh nói:

“Nước đã được cát lọc bớt, uống an toàn hơn.”

Bốn người họ vốc nước uống ngon lành. Một người nói:

“Đúng là Biệt động quân có khác.”

Việt cười gượng gạo:

“Biệt động quân thiếu chuẩn, Biệt động quân thiếu beret”

Lấy nước đầy các bi đông, chuẩn bị tiếp tục hành trình, thì… nơi ngọt ngào trở thành đắng chát. Ừ. Phải, người ta thường nói nơi nguy hiểm nhứt là nơi an toàn nhứt đó thôi. Việt chợt nhớ, những người đi săn thường phục ở những nơi như thế này để rình rập, để chờ đợi những con thú ra uống nước hoặc tìm thức ăn.

Những một loạt đạn bay tới cùng những tiếng hô lớn:

“Buông súng, bước lên đầu hàng đi, chúng bây đã bị bao vây.”

“Bao vây chúng, tiểu đội chúng ở hết dưới suối.”

Việt chưa kịp phản ứng gì, anh nhảy lại núp sau một tảng đá để quan sát, một chiến hữu theo bên anh, còn một thì tách ra cách một đoạn, nhưng sực nhớ tới chiến hữu bị thương, Việt nói:

“Anh bắn trả đi, để tui lui đỡ anh bạn.”

Việt bước lồm cồm lại kéo chiến hữu bị thương tới chỗ núp trong khi người chiến hữu bên tảng đá lia một loạt đạn dài, anh phía bên kia cũng bắn tới tấp. Việt cũng nghe hai loạt đạn đáp trả. Khi về lại chỗ, anh nhận định:

“Có lẽ họ có hai người hoặc ba thôi. Họ nghĩ ta đông, cả tiểu đội. Chúng ta bắn rát một loạt nữa xem sao.”

Người chiến hữu đồng tình. Việt chẳng thể hiểu nổi tại sao mình bỗng dưng như kẻ dày dạn trận mạc. Có lẽ rằng, không chỉ chiến trường mới biến con người ta trở thành như vậy. Bị dồn vào những thảm cảnh đau thương, những gai góc của cuộc đời nó cũng biến con người ta mau chóng thu nạp kinh nghiệp và nhạy bén nữa.

Cả hai cùng xiếc cò, và ra dấu nên người chiến hữu phía bên kia xiếc cò theo. Tiếp tục có hai loạt đạn đáp trả. Tạm nghỉ để coi thế nào và nạp thêm đạn, song, Việt ra dấu bắn tiếp. Không nghe tiếng đạn bắn trả mà chỉ nghe một tiếng đạn lẻ, và cũng không nghe chiến hữu bên kia bắn tiếp, Việt quay qua thì… hỡi ơi! người chiến hữu bên kia đã đổ gục, nằm bật ngửa dưới dòng suối, máu loang đỏ rồi hòa vào dòng nước nhỏ, nhạt dần trôi đi. Việt lồm cồm chạy lại, người hữu tiếp tục bắn xối xả, anh rờ mạch rồi ôm đầu, rồi bưng mặt, rồi lắc đầu…

Việt quay lại chỗ núp, không còn nghe tiếng súng khá lâu, anh nói:

“Ảnh đi rồi. Và chắc họ ít người thiệt, nên cũng đã rút. Ta tranh thủ đi nhanh thôi.”

Người chiến hữu hỏi:

“Bỏ ảnh nằm đây sao?”

Việt thở ra rất mạnh:

“Trong tình thế này thì không thể khác rồi.”

Người chiến hữu cũng thở dài, tiếng thở dài chầm chậm chạy theo dòng nước nhẹ còn loang máu màu hồng, bịn rịn một tí rồi anh đành gật đâu.

Việt cố tỏ ra cứng rắn, không cứng rắn thì nơi đây không chỉ có một cái xác từ từ mục ruỗng mà sẽ có tới bốn cái xác chứ không đùa được. Anh cố nén cảm xúc vừa chực chờ, đành để chiến hữu nằm cô độc ở đây mà không có nỗi một nấm mồ dù lạnh giá. Hy vọng, nếu may mắn hơn thì anh có được nơi an nghỉ tươm tất.

Người chiến hữu nói:

“Xin lỗi anh bạn, tụi tui đành đi thôi. Đi nhanh thôi.”

Việt vừa xốc chiến hữu bị thương chuẩn bị đưa lên vai thì nghe có tiếng kêu cứu:

“Cứu tôi với, cứu với…”

Việt và chiên hữu khá tần ngần, và anh đặt người chiến hữu bị thương xuống và nói:

“Có lẽ họ cũng bị thương.”

Người chiến hữu nói:

“Coi chừng là cái bẫy.”

Việt gục gật, nhưng rồi anh không can tâm:

“Lỡ họ bị thiệt thì sao? Ta đâu thể bỏ mặc được, họ cũng là con người.”

Người chiến hữu im lăng. Việt nói tiếp:

“Anh ở đây canh chừng, tui dò xét xem sao.”

Việt luồng đi nhanh và rất nhẹ nhàng, đây là sở trường của anh được huấn luyện. Cánh rừng vắng lặng, vắng đến rợn người sau những loạt tiếng đạn kinh động. Rồi Việt nghe tiếng rên rỉ. Bằng trực giác và quan sát thêm Việt chắc rằng kẻ đối đầu vừa rồi đã bị thương. Anh lần tới, quả đúng là như vậy, và đó là địa phương quân, anh ta mặc bộ bà ba đen. Thấy Việt, anh ta có vẻ hốt hoảng, anh ta thều thào:

“Đừng bắn, đừng bắn tôi.”

Việt đưa tay lên môi suỵt sụyt:

“Tui không bắn anh, nhưng anh đã bị thương vẫn còn bẫy tôi sao?”

Anh ta nhúc nhích nhẹ đầu, ý muốn lắc đầu:

“Không. Tôi không bẫy anh đâu. Chúng tôi chỉ có hai người thôi, chúng tôi chỉ là trinh sát, đang ở xa căn cứ nhưng ham lập công, khi tôi bị thương, người đồng chí đã bắn phát đạn ân huệ tưởng rằng tôi đã chết, đã chạy chắc rất xa rồi.”

Việt khá sững sờ. Anh hỏi lại:

“Thiệt chứ?”

“Người sắp chết không thể nói dối.”

Việt bồng anh ta lên, đưa xuống suối, và nói:

“Anh không phải chết. Tụi tui sẽ cứu anh.”

Đến suối, Việt thuật nhanh lại câu chuyện, rồi anh nói người chiến hữu:

“Anh lục lấy dùm hộp cứu cấp.”

Việt tiêm cho anh ta một mũi thuốc. Người chiến hữu lấy bông băng. Bỗng anh ta thều thào cản lại:

“Đừng, đừng… đừng băng bó những… thứ đó cho tôi…”

“Chúng tôi bằng bó cho anh rồi đưa anh ra khỏi đây.”

“Không… không, làm ơn… đừng… tôi sẽ không sống được lâu nữa…”

“Anh sẽ sống…”

“Không… tôi biết sức mình… biết được cái chết đang đến, xin… các anh… có gì ăn thì… cho tôi ăn, tôi không muốn làm… ma đói…”

Người chiến hữu gật đầu ngay:

“Được, được.”

Anh nhanh tay lục lấy hộp cơm sấy trút ra cà mèn, đổ nước từ bi đông vào, cơm nở thì anh nhẹ nhàng bón từng muỗng cho anh ta. Ăn một hồi thì anh ta nói với gương mặt đượm buồn:

“Cảm ơn các anh… Tôi chết không… thành… ma đói nhờ kẻ thù của mình… nhờ cơm của đế quốc Mỹ.”

Việt đáp lại:

“Tất cả là do hoàn cảnh. Chúng ta bị bắt buộc như vậy mà thôi, bây giờ ở đây tụi tui và anh là những con người.”

Anh ta nhích cười có chút mỉa mai:

“Xin các anh một điều nữa, các anh hãy… xé áo của tôi mà băng cho tôi, đừng… lấy bông băng Mỹ – Ngụy, các đồng chí… của tôi tìm được xác thì nguy, tôi trở thành kẻ tội đồ, hèn nhát… đầu hàng giặc…”

Việt và người chiến hữu ngỡ ngàng, không thể hiểu nổi. Người chiến hữu thở dài:

“Trời ơi! tới nước này mà còn như thế này, ngay chính người của mình hạ sát không thương tiếc mình mà còn đồng chí. Họ bị nhồi cái triết lý quái quỷ gì thế này.”

Anh ta ưa ứa nước mắt, nói tiếp:

“Các anh đi đi…”

Việt cản lại:

“Tụi tui sẽ đưa anh cùng đi.”

“Không… tôi chỉ còn vài giây phút nữa thôi.” – Anh ta cố đưa tay lên chỉ: “Các… anh nên đi hướng này, hướng… khá an toàn.”

Việt móc gói thuốc lá:

“Anh làm một điếu được chứ? Đây cũng là thuốc lá Mỹ đó.”

Mắt anh ta sáng lên, anh ta mấp môi, cử chỉ không chỉ đồng ý mà còn mừng rỡ. Việt đốt điếu thuốc đưa lên môi cho anh ta, anh ta rít sảng khoái:

“Cảm ơn… cảm ơn…”

Người chiến hữu hỏi:

“Bao giờ thì đồng đội anh trở lại?

Anh ta đáp:

“Sẽ không trở lại.”

“Chắc chứ?”

“Căn cứ… ở xa lắm, đây… đây… cũng không phải điểm trọng yếu… tôi xin thề… Cảm… cảm… – Nói chưa hết được lời cảm ơn thì anh ta quẹo đầu sang bên.

Bần thần trong giây phút, rồi Việt nhận định:

“Người chết, dù gì đi nữa cũng không nói dối, họ sẽ không trở lại. Ta phải chôn cất đàng hoàng hai thi thể này thôi.”

Tìm được chỗ, Việt và người chiến hữu đào huyệt, rồi đắp mồ. Họ lấy những tảng đá lớn đặt ở đầu mộ thay cho tấm bia. Người chiến hữu nói:

“Trước đây chừng tiếng đồng hồ, họ là kẻ thù của nhau, cố giết nhau, bây giờ lại nằm cạnh bên nhau. Mong cho họ có được sự bằng an ở thế giới bên kia, và là bạn bè, không còn chỉa súng bên nhau.”

Việt và chiến hữu bị thương gật đầu. Cả ba chào theo điều lịnh quân đội. Rồi Việt xốc người chiến hữu bị thương lên vai:

“Đi thôi. Theo hướng anh ta chỉ thôi.”

 

***

 

Người chiến hữu nhảy lên bờ qua dòng suối, phạt và đạp cành cây rào rào, rừng chỗ này thưa hơn một chút, nên có thể chạy chậm được, Việt vác người chiến hữu bị thương băng theo sau mà anh thấy nhẹ tênh, không hề nặng nhọc lắm.

Ý chí con người quả là có sức mạnh hơn sức mạnh thể xác khi cần kíp.

Chạy phải hai cây số thì họ mới ngừng nghỉ, cũng bởi vừa thấy được một hốc đá khá kín kẽ.

Bấy giờ họ mới ngồi thở dốc. Người chiến hữu bị thương thì rũ rượi, máu tươi rướm ra khắp các vết thương, ngồi tựa vào tảng đá mà đầu cuối gục, gần như bất động. Việt lay lay vai anh:

“Ráng lên anh bạn, rồi sẽ tìm được đường ra.”

Chiến hữu bị thương cố ngước đầu lên nói thều thào:

“Hai anh đi đi.”

Người chiến hữu kia nói liền:

“Hông được. Đi cùng đi, ở cùng ở.”

Việt đồng tình. Người chiến bị thương nói tiếp:

“Hai anh nên đi. Ở lại chỉ có chết chung.”

“Ừ, thì chết cùng chết, sống cùng sống.”

“Tại sao phải phí cuộc sống như vậy? Tại sao phải đánh đổi hai mạng sống vì một mạng sắp chết. Hai anh đi vẫn còn hy vọng. Vả lại như lúc chúng ta tâm sự ở dọc đường, anh đã biết rồi đó, tui là đứa trẻ mồ côi, không còn gì để mất, hai anh còn quá nhiều thứ để mất mát. Tấm thịnh tình của các anh  xin ghi tạc, xin cảm ơn các anh đã không rời bỏ đồng đội, dù chúng ta là các không cùng đơn vị. Xin hai anh, hai anh đi để kẻ này nằm lại được nhắm mắt yên lòng.”

Việt và người chiến hữu vẫn nhứt quyết không rời đi. Và chuẩn bị để tiếp tục thì người chiến hữu bị thương nói:

“Hai anh cho xin vài phút riêng tư, chỉ vài phút, vài phút suy nghĩ nhé.”

Việt và Người chiến hữu bước ra bên ngoài, cũng là để dò xét tình hình. Rồi một… tiếng đùng chát chúa vang lên bên tai. Tiếng đùng dội vào vách đá vang vọng, Việt  và người chiến hữu đã giựt thót thì càng rợn người hơn nữa bởi tiếng vọng kéo dài nhiều tiếng, tiếng vọng như thể đi về một nơi nào đó hun hút, đi về một nơi thăm thẳm.

Họ lại chứng kiến cảnh máu loang. Máu đã loang muôn nơi. Máu loang trên đất, máu loang trên cát, máu loang trên đường, máu loang trên thềm, máu loang trên nước, máu loang trên cỏ cây hoa lá, và bây giờ máu loang trên đá.

Họ quỳ phục bên thi thể, bên dòng máu loang của người bạn. Họ gần như bất động. Họ muốn thét lên, nhưng cũng chỉ phát ra được tiếng “Trời ơi!” nho nhỏ, chẳng khác gì tiếng rên. Cả lồng ngực họ đã ngập nỗi ức nghẹn. Mắt họ đỏ hoe và những dòng lệ tự động chảy tuông, không kìm nén được.

Việt cũng muốn bắn vào họng của mình. Anh muốn kết thúc nỗi thống khổ, giải thoát khỏi nỗi thống khổ, anh muốn đi theo tiếng vọng xa thăm thẳm chứ không còn muốn nghe nó nữa, không còn muốn thấy dòng máu loang nữa. Anh kinh sợ dòng máu loang lắm rồi, anh sợ nó không bao giờ kết thúc.

Người chiến hữu vội gạt ngang khẩu súng, ôm chầm lấy anh. Hai con người có lúc mạnh mẽ tưởng chừng như cơn bão, tưởng chừng như không có gì có thể quật ngã họ được rung lên bần bật, nước mắt tuông ra chảy dài…

Họ cứ mặc kệ, cứ để nước mắt chảy dài, họ không nói gì, lặng lẽ đưa xác chiến hữu bị thương đi chôn. Họ ngã người nằm ngửa với đầu gối lên nấm mộ với gương mặt như đứa trẻ nít khóc lớn, nước mắt nước mũi chảy dài và lem luốt bởi cánh tay, bàn tay quẹt ngang. Họ không buồn lau sạch và chẳng nói một lời, không còn lời để thốt ra nữa.

Rồi họ đứng dậy, bá vai dìu nhau đi. Hai thân thể thất thểu bước đi như hai bóng dáng vô hồn.

 

***

 

Hai cái xác vô hồn lẩn quẩn trong rừng thêm bốn ngày. Rồi cũng ra được khỏi rừng mà không bị phục kích lần nào nữa. Ra đến được Quốc lộ 15* (*Quốc lộ 51 ngày nay) ở đoạn phía dưới, qua cả xã Phước Lễ* (Tỉnh lỵ Phước Tuy – thành phố Bà Rịa ngày nay) mà họ cũng không thể biết vì sao ra được đến đó.

Việt và chiến hữu đang lừng khừng, chưa định được nên đi tiếp về hướng Ô Cấp hay đi ngược lại Phước Lễ, thì một chiếc GMC chở một toán lính chừng một tiểu đội chạy tới, xe rề rề lại, những người lính ngoắc và đưa ta kéo họ lên.

Lên xe rồi Việt mới biết Phước Lễ đã về tay Cộng quân.

Xe tiến thẳng về cửa biển Vũng Tàu. Tại đây có những chiếc tàu nhỏ đưa quân nhân ra Dương vận hạm đang neo ngoài khơi. Rất nhiều tàu đánh cá chở dân chúng cũng chạy ra theo xin di tản. Hạm  trưởng đã nhận được lịnh được di tản tự do.

Việt và người chiến hữuđược ăn một bữa no nê. Anh lên bon tàu, kiếm một chỗ khá vắng thả người nằm dài. Bây giờ anh mới cảm nhận được cơn mệt mỏi chất chứa, nhưng không ngủ được, Việt đành trở tư thế ngồi tựa lưng. Anh nhìn biển cả mênh mông, nhìn nước biển trong xanh với cặp mắt không hiểu sao vẫn cứ trơ trơ, không cảm nhận được điều gì. Có lẽ đầu óc trống rỗng, không có chút suy nghĩ nào hiện diện, thay vào đó đã bị trạng thái vô thức lấp đầy được gây ra từ sự mệt mỏi, nên đầu óc không còn điều khiển được điều gì cả. Những hành động lúc này thuộc về bản năng sinh tồn. Anh còn không biết chiếc hạm đang đón thêm dày đặc người ùn ùn kéo tới, còn không biết có cả những chiếc trực thăng chở đầy người đáp xuống, mà tiếng nổ máy của trực thăng đâu phải là nhỏ, cánh quạt của nó xoay khùng khục tạo ra gió rần rật cả một khoảng không gian rộng chứ đâu vừa.

Nếu trong hoàn cảnh bình thường, thì người ta dễ cho rằng đây là một trạng thái vô cảm, một trạng thái trơ trơ gỗ đá của trái tim trong con người này. Ưm, nhưng trạng thái vô thức của Việt cũng không hẳn hết do sự mệt mỏi gây nên, nó còn từ những chấn động tinh thần, chấn động liên tục, liên tục, liên tục đến nỗi tinh thần bị dồn ép thành một khối cứng đờ, tưởng tượng được rằng, giả sử nó nổ tung thì nó nổ không thua gì tiếng đạn cối và nó vang vọng trong không trung không thua gì tiếng súng vang trong vách đá. Nhưng nó không thể nổ, nó đã kết tinh như vật thể kết tinh nằm sâu trong lòng đất, ngay khi được người ta đào đưa ra khỏi nơi kìm nén từ rất lâu nó cũng không thể nổ.

Từ gần trưa, Việt ngồi gần như bất động cho đến tối. Khi ánh đèn  được bật lên, Việt nhìn chằm chằm vào những tia sáng, không phải anh thấy nó giống những tia sáng hừng đông, những tia sáng khai sáng, mà bởi nó có một sức hút kỳ lạ, như những tia sáng thôi miên. Ánh đèn thôi miên Việt không lâu thì anh vô thức hoàn toàn, giấc ngủ kéo tới phủ kín người anh.

Và anh ngủ một mạch cho tới khi Dương vận hạm khởi hành mới thức giấc. Anh nghe người ta kháo nhau, chiếc hạm xuất phát đi Phú Quốc.

Vệ sinh thân thể sạch sẽ, Việt lấy lại được phần nào sự tươi tỉnh. Dương vận hạm lúc này khá đông người. Việt len ra phía sau đuôi tàu. Anh tựa lan can dòm dòng nước trắng xóa mà chiếc hạm rẽ làm đôi như hai luồng nước nổi chạy ngược và thấy lớn dần chứ không nhỏ bởi càng lúc càng xa. Ngoài hai luồng nước, chiếc hạm thiệt lớn cho nên sóng biển trở thành những con sóng lăn tăn. Rồi Việt thấy một đợt sóng lớn hơn cuộn cuộn kéo tới hướng cắt ngang chiếc hạm. Đợt sóng này so với chiếc hạm cũng không là gì nhưng tự dưng trong lòng Việt lại cuộn lên như sóng, làm anh thấy sóng cuồn cuộn tiến lại càng lúc càng lớn, rất lớn. Anh lại thấy mờ mờ, ảo ảnh nhiều thứ phía trước con sóng, thấy những dãy nhà, thấy những làng quê, thấy những cánh đồng rau, thấy những cánh đồng đầy bông hoa, thấy những con người nhộn nhịp đi lại, làm lụng, thấy những ngôi trường với những tà áo trắng, nhứt là những tà áo dài tung bay, và rồi anh vừa thấy tà áo tím thì đợt sóng lao tới cuốn phăng đi tất cả…

Tìm thức lại tỉnh ngủ. Anh chưa nghĩ về quê nhà, về gia đình, về Nàng Nụ Tím Gia Long, về trường lớp… bởi anh chưa biết Dương Vận Hạm sẽ đưa về đâu, sẽ làm gì, nhưng bây giờ anh biết, mỗi phút chiếc hạm rẽ nước lao đi là mỗi phút anh nhòa dần những hình ảnh mà tìm thức khơi dậy, anh sẽ mất chúng.

Vửa lúc này thì có chộn rộn. Chiếc hạm neo lại, đã ở gần Đảo Ngọc* (*Phú Quốc) và đó thêm một số người nữa từ các ghe đánh cà vừa cập mạn. Bất chợt có người nói lớn:

– Thưa Hạm trưởng, tôi cho tôi xuống tàu cá, tôi xin trở về đất liền, tôi không đi nữa, tàu cá lúc này đã bỏ không.

Hạm trưởng lại gần, hỏi lại:

– Anh vừa nói gì vậy?

Anh ta nhắc lại và nói thêm với ánh mắt đỏ hoe:

– Tôi không thể rời xa quê hương. Xin cho tôi trở lại. Xin lỗi Hạm trưởng.

– Anh chắc chứ?

– Dạ thưa, chắc. Tôi cũng không thể rời bỏ vợ con ở quê nhà.

Một số người cũng xin trở về. Người Hạm trưởng cương nghị, nhưng ông cũng đã chớp chớp đôi mắt, ông chớp thêm mấy cái nữa, cố tình che lấp sự xúc động. Ông hội ý với vài sĩ quan, song, ông nói:

– Thôi được, ai muốn rời tàu trở về thì tập hợp lại. Tôi sẽ cho lo liệu nguyên liệu và thức ăn nước uống đủ để trở về.

Dòng người khoảng bốn, băm mươi người, từng người bước tới cảm ơn Hạm trưởng, cảm ơn các sĩ quan và thủy thủ đoàn, và được đưa xuống ghe cá. Việt cũng hòa vào dòng người này. Tự lúc nào không biết, anh đã đưa ngón tay thứ ba lên quyết định – Trở về.

 

***

 

Việt bước tới phía đuôi ghe đánh cá hướng về Dương Vận Hạm. Một người đàn ông bước lại hỏi:

“Thưa sĩ quan, sĩ quan còn phân vân không biết quyết định của mình có đúng không?”

Việt lắc đầu:

“Dạ thưa, hông phải vậy. Em chỉ dò tìm coi có thấy người chiến hữu không mà thôi, bởi lúc nãy quên chào từ biệt.”

Thực ra thì anh không có thời gian để nhớ, không có thời gian để tìm người chiến hữu. Lên trên chiếc hạm Việt cố tình tạm xa lánh để không phải bị ẩn hiện những cảnh vừa trải qua. Lúc này chúng lại xuất hiện. Dòng rẽ nước của ghe cá Việt không thấy màu trắng lại thấy đỏ ối, thấy loang loang và cuộn sóng. Những gương mặt chết đau thương đó đây chờn vờn phía trên dòng máu, nhứt là gương mặt của người chiến hữu bị thương tự sát, anh thấy hiện rõ mồm một, gương mặt đau buồn nhưng được một chút an ủi, chết một cách khí khái chứ không hèn nhát, chết khá thanh thản lương tâm và không biểu hiện oán giận gì ai, oán hờn gì cuộc đời, đó là điều anh lo sợ, điều lo sợ nhứt đã không xảy ra.

“Sĩ quan có lo lắng? Trở về sẽ bị trừng phạt.” – Người đàn ông vẫn còn đứng kề bên hỏi tiếp, đưa Việt về với thực tại. Anh Đáp:

“À, dạ không. Em chưa nghĩ gì tới chuyện này. Trong tâm trí, gia đình, làng quê đã choáng hết chỗ cùng với những ám ảnh của những ngày qua. Khi rời khỏi Dương Vận Hạm bước xuống ghe như có một động lực nào đó dẫn lối. Hổm rày ý thức rất kém. Và đôi khi chuyện này cũng có thoáng qua, nhưng nghe có chánh sách khoang hồng, hòa hợp hòa giải nên chắc chẳng sao, hông có chuyện gì ghê gớm xảy ra đâu.”

Người đàn ông gật đầu và hỏi nữa:

“Sĩ quan thuộc binh chủng nào vậy? Có phải Thủy quân lục chiến?”

Nãy giờ Việt quên đính chánh. Giờ nhìn kỹ mới nhớ người đàn ông là người xin xuống ghe đầu tiên, anh chắc ông không rành về nhà binh, và Việt nghĩ ông đang muốn nhường quyền thuyền trưởng lại cho anh. Việt nói và trả lời:

“Dạ thưa, em không phải là sĩ quan, chưa kịp xong khóa huấn luyện nữa chứ, chỉ buộc phải chiến đấu, sự tàn khốc của cuộc chiến biến thành như những kẻ dày dạn trận mạc vậy. Và em thuộc Biệt động quân. Đây là lần đầu đi xa trên biển nhứt, một vài lần chỉ đi chơi gần bờ, hầu như em hông biết gì về biển cả. Em cũng xin được trú dưới khoang tàu, tránh thấy dòng nước nó dễ gợi tới dòng… máu đổ…”

Người đàn ông hiểu ý, ông tỏ vẻ rất tôn trọng, ông cười:

“Biện động quân thì… đặc biệt nhứt rồi. Thôi, anh nghỉ ngơi dưới khoang nhé.”

Việt thay bộ bồ savin. Anh vứt bộ đồ lính và những gì liên quan xuống biển, anh nghĩ không cần tới nó nữa rồi, hãy để lòng biển sâu chôn vùi nó cũng như những hình ảnh ám ảm rợn người. Việt nhốt mình dưới khoang cho tới lúc ghe cập đất liền.

Trong khoảng không nhỏ bé và có phần mờ tối, Việt để tâm hết vào những hình ảnh gia đìmh, làng quê, ngôi trường, cả những quan cảnh xung quanh ngôi trường Văn Khoa, ngôi trường chắc chắn anh sẽ trở lại trong niên khóa tới, và dĩ nhiên đậm nhứt là hình ảnh nàng Nụ Tím Gia Long.

LÊ ĐẮC ĐỒNG VỌNG

 

 

 

 

 

“LỜI MẸ DẶN”

 

TỪ “LỜI MẸ DẶN’’ ĐẾN “CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ’’, PHÙNG QUÁN, CON NGƯỜI BẤT HẠNH ẤY!

Một chút tiểu sử: Phùng Quán, một hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam Thế Hệ Đầu 1956, sau đó không lâu, khoảng 1958 ông bị khép vào vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” trên đất Bắc rồi bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn Việt Nam. Đến năm 1988, ông được phục hồi hội tịch Hội Nhà văn cùng lúc với Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm.

Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932 tại làng Thanh Thủy Thượng, tổng Dạ Lê, nay là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Ông tham gia vệ quốc đoàn vào tháng 1 năm 1946 tại trung đoàn 101 Trần Cao Vân tỉnh Thừa Thiên, làm liên lạc, trinh sát. Sau đó gia nhập Thiếu Sinh Quân liên khu 4, rồi đoàn văn công liên khu 4, giữ chân kéo màn và đọc thơ diễn tấu cho bộ đội nghe. Năm 1954 được điều về cơ quan sinh hoạt văn nghệ quân đội, thuộc Tổng cục Chính trị, tiền thân của tạp chí văn nghệ quân đội.

Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ông rời Tạp chí Văn nghệ quân đội, đi lao động cải tạo cải các nông và công trường ở Thái Bình, Thanh Hóa, Việt Trì v.v…Ông được trợ cấp 27đ mỗi tháng. Sau khi hoàn thành lao động cải tạo, được chuyển về công tác tại vụ Văn hóa quần chúng thuộc Bộ Văn hóa và nhiều năm ông được phân công đi tăng gia sản xuất tại vùng núi Bắc Thái. Về hưu năm 1985 và mất lúc 16:50 ngày 22 tháng 1 năm 1995 tại Hà Nội thọ 64 tuổi.

– Bối cảnh sinh thành của “Lời Mẹ Dặn” và “Chống Tham Ô Lãng Phí”: Hiệp định Genève năm 1954, chấm dứt chiến tranh kháng chiến chống Pháp tại Việt Nam và vĩ tuyến 17 chia đôi Việt Nam qua hai miền Nam, Bắc. Ở miền Bắc chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa đang đi vào con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện một chế độ xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế chỉ huy, đảng Lao động, (tiền thân của đảng Cộng sản) và chính quyền miền Bắc tiếp tục phát động phong trào cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ và cải tạo công thương nghiệp ở thành thị… Riêng chủ trương “Phóng tay phát động quần chúng, đấu tố địa chủ cường hào và bọn phản động’’ đã trở thành một phong trào khốc liệt, lan tỏa khắp nông thôn miền Bắc và đã gây ra không ít tai họa, không ít thảm khốc kể cả người và của cải vật chất mặc dù sau này Bộ chính trị đã ra lệnh sửa sai….

Trong cái không khí đấu tố địa chủ, bọn phản động (mà ở đây là Quốc Dân Đảng) một không khí đầy sắt máu, uy quyền và thủ đoạn, kích động, căm thù, gieo oan giáng họa, chụp mũ và vu khống….. Do một đám cán bộ vô học hoặc kém văn hóa, hoặc quan liêu mệnh lệnh, hủ hóa, dối gian, đứng ra làm mưa làm gió: “Trưởng thôn Cối làm tổ trưởng tịch, trưng mua, nhưng lại là mù chữ, lúc đội sục sạo đến báo cáo, tôi phải ghi ngoáy con số vào sổ tay”… (Tô Hoài “Ba người khác” nhà xuất bản Đà Nẵng trang 148). Còn có những mẫu người cán bộ đầy quyền uy như: “…. một người dáng như tổ trưởng, xách cây gậy, lảng vảng đến. Đây không phải cái chợ. Ai xì xào nữa người ta cắt lưỡi đấy”…

Phong trào cải cách ruộng đất ngày một lan rộng, ngày một cuốn cuồng như thác lũ: “Giải phóng Nhân dân lao động khỏi ách địa chủ phong kiến, mọi người đều có nhiệm vụ tham gia…” (Tô Hoài, sđd trang 19). “Bấy giờ phóng tay phát động quần chúng công tác cải cách ruộng đất là quan trọng nhất. Mọi người công tác ở cơ quan, từ cấp dưỡng đến cán bộ chuyên, có biết đồng ruộng hay không, nhất loạt đều phải đi làm “thổ cải” (Tô Hoài, sđd trang 18). Hồi này từ người già đến trẻ con, tối đến phải đóng cửa đi tập trung để ôn nghèo kể khổ, đấu tố địa chủ, phát giác các hoạt động của bọn Quốc Dân Đảng.Và đây là lời dặn dò của Cự, đội trưởng đội cải cách: “…Các đồng chí xem bản đồ, rồi tự tìm đường về xóm. Không được hỏi han lung tung. Coi chừng tay sai địa chủ và tổ chức cũ sẽ đưa người nó bố trí sẵn. Kể từ bây giờ các đồng chí về vị trí chiến đấu dưới thôn cẩn thận, cảnh giác, không được liên lạc với tổ chức cũ, cứ chọn nhà thăm nghèo, hỏi khổ, bắt rê xâu chuỗi.” (Tô Hoài “Ba người khác” trang 21)

Họ lý luận rằng: “Ở đâu có nông dân, là ở đấy có địa chủ. Chỗ nào có nông dân, có ruộng đât, tất có bóc lột”. Còn cán bộ cải cách ruộng đất là những mẫu người như đội trưởng Cự vừa nói trên, hoặc như Nguyễn Vạn chẳng hạn: “Nguyễn Vạn xốc lại ba lô, phanh ngực áo, đứng trên con đê nhìn về làng Đông. Cây quéo trước cửa đình tàn lá xanh thẩm cao lừng lững giữa khoảng trời chiều. Người của làng Đông không còn nhận ra Nguyễn Vạn. Thằng Vạn mắt toét bỏ làng đi, bây giờ về đây, đố ai còn coi thường Nguyễn Vạn: Hãy cứ nhìn những tấm Huân chương rung rinh lấp lánh trên ngực Vạn”. (Dương Hướng “Bến không chồng” NXB Hội Nhà Văn, trang 5).

Những mẫu người như Cự, Vạn, họ làm việc như những lãnh đạo, với kỷ luật là ba cùng (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm) với bà con nông dân ở thôn xóm: “Vẻ mặt người nào cũng ra chiều đăm chiêu, quan trọng. Chúng tôi đang làm thay đổi cái làng, cái xã này. Cả nước đứng lên, các tổ chức sẽ bị đánh đổ, bao nhiêu địa chủ và bọn bóc lột phải đạp xuống đất đen, chúng tôi phóng tay đưa bần cố nông lên vị trí và địa vị người chủ thực sự của đồng ruộng. Tôi đương làm thế, tôi đã làm thế, tôi đương làm từng ngày, từng ngày theo kế hoạch” (Tô Hoài, sđd trang 50 – 51). Họ nói rất hay, tuyên bố rất lý tưởng, nhưng việc làm của họ thì đầy tội lỗi, đầy uy quyền và thiếu sáng suốt, công minh, nên việc gây ra oan khiên là không tránh khỏi, chưa kể đến cái hủ hóa của họ nữa. Chẳng hạn như việc Nguyễn Vạn đã vu oan cho ông Xung, người cùng họ với Vạn:

“Dưới ánh trăng Nguyễn Vạn nhận ra có bóng người ngoài vườn chuối, Vạn định quay vào nhà lấy súng, nhưng sợ mất thời cơ. Chắc là tay chân lão Hào định giở trò gì đó…. Thoắt cái, Vạn đã bám sát theo cái bóng đang tìm kiếm gì ngoài vườn chuối. Nhanh như sóc, Vạn dùng hết sức lực, lao vào siết chặt hai tay kẻ gian.

– Thằng Vạn đấy à?
Thì ra ông Xung
– Ông làm gì ở đây vậy?
– À, chả…. Chả là. Lão Xung ẫm ờ…..Sáng mai tao đi chợ Quầy sớm, kiếm mấy tàu chuối, dây chuối về trói lợn – mày biết thừa tao là Xung lái lợn.
– Mời ông lên Ủy ban Xã – Vạn nghiêm giọng, tôi thấy ông đào bới gì đó.
Ông đã bị bắt quả tang về hành động lén lút giấu giếm chính quyền. Lẽ ra hôm qua, ông phải tố giác khai báo, biết đâu lão địa chủ Hào còn có vàng giấu ở đó.
– Hử? Tao có biết nó giấu con mẹ nó ở chỗ nào mà tao khai báo, tao chỉ nghi nghi.
– Ông phải báo cả những gì ông nghi.
– Đấy là tội thứ nhất, Vạn tiếp; tội thứ hai ông đã vi phạm lệnh giời nghiêm. Đúng giờ, ai không nhiệm vụ, không được thắp đèn, không được đi lại tụ vạ trong làng, Nhân danh đội trưởng, tôi mời ông đi lên xã” – Khi nghe ông Xung nhấn mạnh tiếng “Nguyễn” để nhắc Vạn nhớ đến ông và Vạn cùng bà con, tộc họ với nhau: “Mày quên cả lời răn của tổ là người trong họ phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau?”
– “Tôi không quên lời răn của tổ! Vạn gắt, tôi còn nhớ cả lời thề danh dự của người chiến sĩ cách mạng, phải tuyệt đối trung thành với Đảng – Ông nên nhớ, bố Nguyễn Vạn còn sống, nếu có tội, Nguyễn Vạn cũng không dung thứ – Mời ông đi!”
(Dương Hướng “Bến không chồng” NXB Hội Nhà văn, trang 36 -37).

– Với giọng điệu khoát lác như thế, sau này tên Nguyễn Vạn đã làm nhiều điều tội ác vì cố tình vu khống, gieo oan, giáng họa cho bao người trong đó có ông Xung, chú Hinh, chú Xình, chú Xèng và cả mấy người của làng Hội nữa. Vạn nói: “…..Tay Xình, tay Xèng thì dân quân bắt quả tang đặt mìn phá hoại cống Linh” (sđd, trang 38). Nhưng đó chỉ là sự vu khống cho hai người này, khi họ dùng mìn để đánh cá trong cống Linh và cống không hề hấn gì, ngoài ra còn trường hợp như Hinh, Vạn cho rằng :…. “ Theo điều tra cho biết, bọn Quốc Dân đảng hoạt động từ nhà thờ Thượng. Chúng có đường dây bí mật liên lạc với cơ sở quanh vùng này. Cuộc họp xóm ba tối qua bắt quả tang tay Hinh thổi kèn phát tín hiệu báo cho bọn Quốc Dân đảng.
– Khiếp thật! Chị Nhân thốt lên, thế mà từ trước đến này ai cũng bảo anh ta hiền lành! Thế mới biết bụng dạ con người….
– Những kẻ thâm ngầm đều gớm thế đấy – Vạn nói – Tay Hinh bao biện khôn ranh – Hắn bảo: do sợ muộn họp nên trước khi đi không kịp hút thuốc lào. Trên đường đi hắn tiện tay xé miếng lá chuối làm điếu theo kiểu loa kèn. Vừa đến cổng nhà xóm trưởng, hắn vô tình đưa cái điếu lên miệng thổi. Chẳng may cái điếu nó lại kêu đánh toe một tiếng – Thế là dân quân đứng gác ập đến tóm cổ hắn luôn. Chị thấy hắn ta bao biện giỏi không?” (Dương Hướng, sđd, trang 38).

Thế là những con người vô tội, bị oan uổng kia bị trói vào những chiếc cột chôn dựng đứng thành một hàng ngang.

– Đả đảo bọn địa chủ cường hào gian ác!
– Đảo đảo, đả đảo!
– Đả đảo bọn Việt gian Quốc Dân Đảng!
– Đả đảo, đả đảo!
– Bịt mắt – một mệnh lệnh từ đâu đó phát ra.
Một loạt súng nổ dậy lên
(Dương Hướng, Sđd _ trang 53)

Và còn nữa, còn nhiều vụ ra đấu trường thảm khốc và chết chóc như thế. Cả xóm làng miền Bắc vào những năm phát động phong trào đấu tố từ năm 1955 đến 1958, người ta không thể ghi hết những vụ oan khiên! Rõ ràng là: “Mọi nhà hoảng hốt ngẩn ngơ. Tiếng oan dậy đất, án ngờ loà mây!” (Kiều). Tuy nhiên, bọn cán bộ đi đấu tố thì tha hồ dối gian, mà hủ hóa:

….“Mãi để ý những người đang bị trói, lúc này cái Hạnh mới nhìn lên những người ngồi oai nghiêm trên đài cao ngất, còn có cả cô tý Hin, em gái chủ tịch Đột. Ôi! Sao lúc này cô Hin đẹp thế, đôi má cô cứ đỏ hồng hồng.
– Cô Hin trông oách nhỉ, cái Hạnh thốt lên – Oách đéo gì – Cậu trưởng nam buộc miệng.
– Sao anh nói bậy thế? Cái Hạnh sững sờ nhìn Nghĩa.
– Tao bắt quả tang cô ấy ngủ lang với tay đội trưởng đội cải cách sau từ đường.
– Chết! Anh nói thế mà không sợ cố ấy bắt à!”
(Dương Hướng, Sđd trang 46) – Và đây nữa, một cán bộ hủ hóa khác:

“…Trong đợt 4, đồng chí Bốn đã phạm lỗi nghiêm trọng: Vì hủ hóa mà phải đổi đi 4 xóm. Đến xóm nào cũng lại hủ hóa ở xóm đó, hủ hóa với vợ bộ đội, vợ tử sĩ… Điên cuồng hơn nữa, ngay trong Đại hội nông dân, đồng chí Bốn đã công nhiên cắn vào vú, vào mặt một chị chuỗi tích cực – Tổng cộng trong đợt 4, đồng chí Bốn đã thông dâm với 8 người và có hoạt động chọc ghẹo nhiều người khác….. Về xã Đào Khê mới 3 ngày, đồng chí Bốn đã liên lạc với con Ái, con địa chỉ cường hào gian ác. Cho con Ái vào dân quân, đêm đến nấu chè đậu đen cho nó ăn rồi hủ hóa với nó. Lại cho mẹ nó đi họp nông dân khiến không ai dám tố bố nó là địa chủ cường hào gian ác.

Đồng chí Bốn lại đưa con Hạnh thành phần công thương vào dân quân, đem con Hạnh về hủ hóa ở nhà rễ. Bố Thị Hạnh có tội đánh chết người, đã bị quần chúng tố, nhưng đồng chí Bốn che giấu không báo cáo với đội. Đồng chí Bốn lại hủ hoa với chị Chắt, thiếu nhi trong xóm đã bắt được bốn lần trong bụi cây.

Chồng chị ấy đi dân công vắng, mẹ chồng bị lòa, tối nào đồng chí Bổn cũng vào nhà chị ấy để hủ hóa…”
(Tô Hoài “Ba người khác” trang 82, 83).

Thế mà người ta vẫn say sưa đấu tố: “Hoan hô giai cấp nông dân, kiên quyết tử hình Việt gian và đả đảo bọn địa chủ cường hào gian ác…” Bài hát “Nông dân là quân chủ lực” vẫn vang vang…

Tô Hoài viết: “Ấy là quang cảnh những hôm các thôn rộn rịch lần lượt mitting tuyên bố xóa giai cấp địa chủ. Công tác lại tuần tự chiều gọi loa, hô khẩu hiệu, tối họp xóm xong, từng nhà còn mạm đàm trao đổi, ngày mai là ngày sung sướng nhất của nông dân, ngày mai giai cấp địa chủ bị tiêu diệt hoàn toàn ở xã ta và trên cả nước nữa.” (Tô Hoài, sđd trang 145)

Người ta đã thổi phồng cuộc đời rằng “Ngày mai là ngày sung sướng nhất của nông dân, ngày mai giai cấp địa chủ bị tiêu diệt hoàn toàn …” Cũng giống như khi đấu tố, người ta đã thổi phồng: “Ba đời cùng đinh, mà nó đấu nâng lên ba đời Cai tổng, ba đời Mật Thám toàn những bố láo bố láo tất.” (Tô Hoài, sđd trang 113)

Nhưng thực tế thì bức tranh của cuộc sống bây giờ ra sao? Đây ta hãy nghe Tô Hoài tả: “nhớ lại quang cảnh thôn chợ huyện. Chúng tôi húc đầu vào hàng bánh đúc, thì xung quanh mênh mông đói khát. Trong chợ những cánh tay cẳng chân đi lại như những cảnh que. Một người đàn bà ở đâu đến ngồi xập xuống, bồng đứa con gái nhỏ trên tay, thằng con trai khoảng bốn năm tuổi, mặt già cấc, bò bên chân. Mỗi lần người mẹ giơ đứa bé cho người hỏi mua, đứa anh lại oà khóc. Người mẹ mếu máo: “Nó khóc quá tôi không dám cho” chốc lại nói lại câu ấy. Một bà nói: “Để tôi đi mua cái kẹo nhử thằng bé thì nó mới nhãng em nó được” Người đàn bà vỗ vỗ lưng con, lặng im. Xung quanh đổ đến mỗi lúc mỗi đông, cái người tần ngần đứng hỏi mua trẻ con, người ấy cụt một tay. Có người đòi xem thẻ Thương Binh của anh ta. Tiếng ai kêu lên: “ối giời ơi! cái lúc lung tung này thằng Ngô Đình Diệm ở trong Nam cho người đi mua trẻ con rồi ném vào bụi cây, đổ cho ta giết. Đã tìm ra đã tìm ra khói đấy, phải cẩn thận cái thằng địch đồng bào ạ!” (Tô Hoài, sđd trang 124,125) Cuộc sống đã cơ cực đến thế, nhưng người ta vẫn luôn luôn gắn chặt nó vào một ý thức hệ chính trị, một thứ chủ nghĩa tuyên truyền vẫn quanh co, lắc léo, đổ lỗi đổ vạ cho kẻ khác, mà chẳng bao giờ những con người ấy dám chân thật với mình và dám nhìn thẳng vào mình. Phải chăng trong cái bối cảnh dối gian, rách nát và đầy oan khiên ấy nên Phùng Quán đã động lòng cảm xúc thành “Lời mẹ dặn” và ông cũng đã không chịu được cái cảnh tham ô, lãng phí và nhức nhối trước đói nghèo, nên ông đã lớn tiếng tố cáo “tham ô lãng phí”.

Đó là hai bài thơ độc đáo nhất của Phùng Quán và cũng là “những bài thơ đầu tiên trong lịch sử văn học cách mạng chống tệ nạn tham nhũng, lãng phí” như có người đã nói thế.

PHÙNG QUÁN VỚI NÉT HIỆN THỰC CỦA LỜI MẸ DẶN VÀ CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ

Tôi mồ côi cha năm 2 tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu nuôi tằm dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn

Đó là những lời tự sự của chính tác giả, một cậu bé “mồ côi cha từ năm 2 tuổi”. Tuy nhiên thân phận của cậu bé mồ côi ấy vẫn còn được cái diễm phúc là được tình thương của người mẹ, một người Mẹ tần tảo “trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải” để nuôi tác giả đến ngày lớn khôn. Người Mẹ ấy không những chỉ biết nuôi con, trái lại còn có công dạy bảo con của mình nữa

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lớn lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi, hôn lên mái tóc
– Con ơi!
Trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật

Thật tuyệt vời trước những cử chỉ điềm đạm, ân cần âu yếm của người mẹ khi thấy con mình có lỗi, không phải giận dữ và trừng phạt con bằng “đòn roi” mà chỉ lộ nét buồn trên mặt, rồi âu yếm con mình “ôm con”, “hôn lên mái tóc”. Nét buồn hòa với sự im lặng đã trở thành một mối truyền thông giữa hai tâm hồn mẹ con, và lời dạy bảo của người mẹ tiếp theo đó, đã là một làn sóng của âm vang rung động vào tận tâm hồn của người con ấy;

Mẹ ơi chân thật là gì?
Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu

“Hôn lên mái tóc” rồi lại “Hôn lên đôi mắt”. Một nụ hôn vào hai vị trí khác nhau, nhưng bản chất của nụ hôn vẫn là một, vẫn là sự biểu tỏ tình cảm đơn sơ và dịu dàng của người mẹ đối với đứa con thơ dại. Tuy nhiên, xuyên qua nụ hôn ấy vẫn là sự thẩm thụ từ một tâm hồn đến một tâm hồn, từ một trái tim bao dung nồng thắm đến một trái tim non dại thơ ngây, nhưng không kém dạt dào thương mến. Đó là tình mẹ con, tình yêu thương bao la như biển rộng, sông dài, một thứ tình thiêng liêng và hằng cửu, tưởng rằng con người không bao giờ thiếu thứ tình ấy được! Nhưng tình ấy dù bao la nhưng vẫn đơn giản, dù mênh mông nhưng vẫn tinh tế. Tinh tế và đơn giản như lời mẹ dặn: “Thấy vui muốn cười cứ cười, thấy buồn muốn khóc là khóc” …. Nói thế, chứ đâu phải dễ làm! V ì trong cuộc đời đã có bao nhiêu chuyện vui chuyện buồn, mà con người đã không được cười khi vui, và cũng không được khóc khi buồn! Chẳng hạn như trong những trường hợp “phóng tay phát động quần chúng” đấu tố địa chủ … có bao nhiêu chuyện khóc cười mà con người vẫn không được cười được khóc thật sự….! Ngược lại, có lúc “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười” nói như cụ Nguyễn Công Trứ đã nói. Lời giáo huấn của người mẹ tưởng chừng giản dị và tự nhiên như ta đang hít thở không khí hàng ngày “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét, dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu”. Sự giản dị và chân phương ấy, không thể làm cho đứa con phải suy nghĩ khi nó đi vào đời, một cuộc đời thường “đổi trắng thay đen”, một cuộc đời có lắm “khẩu phật mà tâm xà” và hơn thế nữa, một cuộc đời có lắm quyền uy, áp đặt độc đoán với một xã hội, chẳng có gì gọi là “công bằng dân chủ và văn minh”… Xã hội như thế, nên đã có kẻ “vào đời bằng hai đầu gối” bằng uốn ba tấc lưỡi: “ngon ngọt nuông chiều” để chạy theo quyền chức, danh vọng, bổng lộc, sang giàu. Cuộc đời “nhầy nhụa” và “âm u” như thế, nếu ai thực hiện được sự chân thật trong cuộc đời, dù phải quyết liệt đấu tranh chống bọn cường quyền đang “cầm dao dọa giết” để bảo vệ chân lý bảo vệ sinh mệnh cho chính mình và cho mọi người, thì người ấy quả là kẻ có nhân cách lớn! Ở đây, Phùng Quán hẳn đã nghe theo lời mẹ dặn và chắc chắn rằng ông không thể không suy nghĩ sâu sắc về việc thực thi “lời mẹ dặn” khi ông đi vào đời:

Từ đấy người lớn hỏi tôi:
Bé ơi, bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ, tôi trả lời
Bé yêu những người chân thật
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không, những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời
In lên vết son đỏ chói
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

Phùng Quán đã thẩm thụ được “lời mẹ dặn” ông đã biến giáo đều thành tín điều!…. Nói đến tín điều là nói đến lòng tin.

Nhưng khi nói đến có lòng tin vào thánh thần hay một đấng vô hình nào đó, thì con người của niềm tin sẽ gặp phải một trở lực của con người không có niềm tin. Chẳng hạn khi ta nói đến hữu thần, thì cũng có kẻ nói đến vô thần. Hữu và Vô chỉ là hai mặt của một vấn đề, hay cũng có thể là một biện chứng phản diện…

Vì vậy cho nên khi Phùng Quán bảo: “bé yêu những người chân thật” thì đã bị người lớn “nhìn tôi không tin cho tôi là con vẹt nhỏ”. “Con vẹt” chỉ là một loài chim, loài chim chỉ biết nhại theo tiếng nói con người, chứ tự nó không có ý thức gì về lời nói của nó.

Nhưng ở đây tác giả đã phủ nhận vai trò con vẹt, và tự xác nhận rằng: “những lời dặn đó, in vào trí óc tác giả như vết son đỏ chói in lên trang giấy trắng tuyệt vời!” Thế là đã có sự tranh chấp xảy ra trong tâm thức của tác giả. Mà nói đến tranh chấp là nói đến sự chọn lựa và ý thức về sự chọn lựa. Qua đó ta thấy, Phùng Quán đã ý thức về sự chọn lựa “yêu những gì chân thật”. Trong bất cứ một sự tranh chấp nào, cũng luôn xảy ra những hiện tượng thắng thua, sai đúng, phải trái, vui buồn, v.v… Thái độ của sự tranh chấp là thái độ của sự lựa chọn, của dấn thân.

Ở đây ta thấy Phùng Quán đã lựa chọn một dấn thân “Đi trọn đời trên con đường chân thật” với sứ mệnh của một nhà văn, một sứ mệnh của nhà văn đi trên con đường chân thật. Con đường ấy rất khó “khó hơn người làm xiếc đi trên dây”.

Người làm xiếc đi trên dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét anh cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu, không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá

Đấy đến đây ta thấy tác giả của bài thơ đã trở thành một tín đồ trung thành với Đạo. Đạo ở đây là Đạo chân thật. Phùng Quán muốn làm nhà văn chân thật trọn đời, như một con chiên trọn đời dâng mình cho Chúa, như một tín đồ hiến trọn cuộc đời cho một lý tưởng thánh thiện, cao xa. Phùng Quán, cũng như họ, không là những kẻ mê tín, mà là những kẻ được mặc khải hoặc là được thăng hoa bởi những ý thức cao đẹp của chân, thiện, mỹ. Phùng Quán đã quyết tâm như một tín đồ chân chính, không chịu nghe theo lời cám dỗ của quỷ Satăng , ông quyết không để cho lưỡi mình bị làm ngọt bởi “đường mật công danh”, ông quả cảm đi trọn đời trên con đường chân thật, suốt đời nhớ mãi lời mẹ dặn, dù “sét nổ trên đầu” vẫn không xô ngã ông , dù gian nguy vất vả đến đâu vẫn không làm sờn lòng ông. Con người ấy phải chăng đã tìm ra được ánh chân lý và quyết lòng tử sinh với nó, dù cho:

“Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá”

Có thể nói: Trọn cuộc đời Phùng Quán đã vác cây Thánh giá của chân thật “lời mẹ dặn” đi khắp nẻo đường chông gai và hóc hiểm của con đường hay của lòng người, của xã hội, của chế độ hay của cả lịch sử đã đổ xuống cuộc đời ông, là kẻ vác Thánh giá của chân thật, vinh danh cho một nhà văn chân thật trọn đời.

Bài thơ “Lời mẹ dặn” trên đây vào cuối năm 1957 có tên Trúc Chi (tức Hoàng Văn Hoan) làm bài thơ “Chân thật” đăng trên báo Nhân Dân và lên tiếng lập trường chính trị để đã kích Phùng Quán và chửi rủa Quán với cái “giọng hạ cấp” (1). Đó là một trong hiện tượng mở đầu cho việc Phùng Quán đã bị ghép vào tội “Nhân văn giai phẩm” rồi đi tù cải tạo sau này. Dù sao, bài thơ “Nhớ lời mẹ dặn” của Phùng Quán cũng như một số bài thơ khác của ông ngày nay vẫn có nhiều người nhắc nhớ và có kẻ đã nghĩ rằng… “Thơ Phùng Quán là một chuỗi tình ca lớn về cuộc đời. Dù chỉ là hình bóng thoáng qua, hoặc chỉ cho mà không nhận, tất cả trong thơ Phùng Quán đều là hình ảnh của cuộc đời úp mặt, và tất cả cũng là trái tim tươi đỏ của ông trước một kiếp người bị đời phụ. Tình ca của Phùng Quán bao giờ cũng là tiếng kêu đoạn trường của một con người tự cảm thấy bị xúc phạm và kêu đòi quyền được sống có nhân phẩm của nó” (H. P. N. T, Huế 22-6-2002)

Sống trong một thời đại chuyên chế, (Totalitaire), hơn bao giờ hết người văn nghệ sĩ cảm thấy sâu sắc về nỗi cô đơn của mỗi cá nhân, đồng thời cũng cảm thấy mãnh liệt tính cách liên đới về thân phận làm người. Do đó, ở thời đại này, quan niệm đi tìm hạnh phúc bằng một lối sống lẩn trốn cuộc đời, ẩn dật, nhàn hạ, sung sướng, suy niệm thảnh thơi như các cụ ngày xưa…. Điều đó, bây giờ chỉ còn là kỉ niệm đẹp, một hình ảnh xa mờ… Ngày nay, mọi văn nghệ sĩ đều bị đẩy xuống cái thuyền thời đại của họ. “Họ phải bấm bụng mà chịu vậy, dù họ có cho rằng con thuyền ấy tanh ngòm mùi cá, rằng bọn cai tù trên thuyền quá nhiều, và tệ hơn nữa, con thuyền bị lạc hướng”. (A. Camus, “Sứ mệnh văn nghệ hiện đại”, bản dịch của Trần Phong Giao, trang 28). Trong hoàn cảnh hiện đại, nhà thơ không còn là một thi sĩ chỉ biết: “Ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” hoặc là cái hình ảnh của “một chàng trai hiền hậu và say mê, tóc như mây vương dài trên trán thơ ngây…. Chàng đi trên đường thơ hái những bông hoa…” như Thế Lữ đã giới thiệu Xuân Diệu trong tập “Thơ Thơ” trước đây. Đã xa rồi cái hình ảnh mộng mơ của thời Xuân Diệu trước! Bây giờ, làm sao còn cái hình ảnh thoát ly hiện tại ấy nữa! Nhà thơ hôm nay, khó thoát khỏi cái thực tế cuộc đời phải chui rúc trong ngõ hẻm sình lầy, khi phải đi giữa gió mưa lạnh lẽo, khi phải chứng kiến những cảnh cơ hàn, phải nghe những tiếng khóc than của kẻ đói cơm, thiếu thuốc, phải nhìn những hình ảnh cơ cực của người nông dân lao động nhọc nhằn, vất vả mà vẫn thiếu áo, đói cơm, những “bà mẹ già thân quấn giẻ rách”, những “Em thơ đói khát” v.v… Nếu hiểu nghệ thuật thi văn như một thứ mơ màng, nhớ nhung vẩn vơ, một thứ tình cảm ủy mị và lãng mạn, mơ hồ và hờ hững, vô tình trước thực tế đắng cay chua xót của cuộc đời, thì làm sao cái xã hội đau khổ kia không căm thù thứ nghệ thuật xa cách thoát ly đó? Quần chúng không thể chịu đựng được thứ nghệ thuật lãnh đạm trước số phận của họ nhất là thứ nghệ thuật ngồi trên sự đau khổ của quần chúng để ca hát cho mình và giai cấp thống trị của mình. Nghệ thuật văn chương của lớp người ấy quả thật xa hoa, hơn nữa còn là một thù địch của lớp người thống khổ. A Camus đã nhận định qua một văn ảnh như sau:

“Khi được ngồi trên vọng lâu của những chiếc cổ thuyền thì bất cứ ở đâu và lúc nào, người ta cũng có thể ca ngợi các vì sao, trong khi đó thì dưới hầm thuyền, bọn tù tội vẫn còng lưng ra sức mà chèo, chèo cho đến kiệt lực.” (Sứ mệnh văn nghệ hiện đại trang 33-34). Do đó, ngày nay nhà văn, nhà thơ không được quyền sống lẻ loi với những mộng mơ riêng của mình mà họ phải hòa mình vào cuộc sống thực tế chung cho cả mọi người. Nhà thơ, nhà văn ở giữa lòng cuộc đời tha thiết tham dự vào sự tranh đấu chống áp bức, bạo tàn và chống bất công đang đè nặng trên lớp người bị áp bức, bị chà đạp và khổ nghèo. Nhà văn, nhà thơ quyết tâm dùng ngòi bút c ủa mình để phản ánh những khát vọng của quần chúng cùng tố cáo cường quyền bạo lực, tham tàn. Đó là sứ mệnh của nhà văn trong cộng đồng xã hội và đó cũng là ngòi bút của Phùng Quán trong bài “Chống tham ô lãng phí”

Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ già quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai, tay máu chảy ròng
Bới đồn giặc trồng ngô tỉa lúa
Những cô gái trồng bông
Hai mươi? Ba mươi?
Tôi không nhìn ra nữa
Mồ hôi sôi trên lưng
Mặt trời như mỏ hàn xì lửa
Đốt đôi vai cháy hồng
Tôi đã đi qua
Nhiều xóm làng vùng Kiến An, Hồng Quảng
Nước biển dâng cao, ướp muối các cánh đồng
Hai mùa rồi lúa không có một bông
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ
Tôi đã gặp
Những em thơ còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám và rau
Mới tháng ba đã ngóng mong đến Tết!
Để được ăn cơm no có thịt
Một bữa một ngày
Tôi đã đi giữa Hà Nội
Giữa Hà Nội những đêm mưa lất phất
Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm
Tôi đã gặp những chị em công nhân đổ thùng
Yếm rách, chân trần, quần xăng quá gối
Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
Vác những thùng phân
Ta thuê một vạn thùng
Mấy ai dám vác?
Chị em suốt ngày đêm quần quật
Sáng ngày chỉ vừa đủ nuôi con…

Trên dây là những hình ảnh của một bức tranh sống thực mà Phùng Quai đã thực hiện dưới ngòi bút của ông. Không là một địa ngục trần gian mà là một cảnh đời thực tế. Cuộc sống đã được dàn trải trước mắt, một cuộc sống cơ cực của những con người cơ cực! Họ đã sống như thế, con người Việt Nam đã sống như thế sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Chiến tranh đã gieo bao nhiêu tang tóc và còn để lại bao đau thương và cuộc sống vẫn phải diễn ra từ hình ảnh: “Những bà mẹ già mặc giẻ rách, da đen như củi cháy, đang lao động” kéo dây thép gai “Tay chảy máu ròng” – “Bới đồn giặc để trồng ngô tỉa lúa”. Đến những hình ảnh cô gái trồng bông, kham khổ, nhọc nhằn và ruộng đồng thì không canh tác được, sự đói ăn đang đe dọa trầm trọng và những bé thơ còm cõi thiếu cơm, “ăn độn rau và cám”. Đó không là hình ảnh thơ mộng nữa, mà là một thực tế, một thực tế của con người bằng xương bằng thịt, đang sống trong một thảm trạng của xã hội đói nghèo! Nhìn vào cuộc sống ấy, không ai không ray rứt, không xót xa cho cảnh đời lao động của những hình ảnh con người lao động từ nông thôn đến thành thị, từ ngày nắng như: “mỏ hàn xì lửa” cho đến đêm đông “mưa lất phất nước nhọn tựa dao găm”! Ở Hà Nội có những chị em công nhân đổ thùng: “yếm rách, chân trần, quần xăng qúa gối, run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối, vác những thùng phân,…” thế mà công lao động của chị em “suốt đêm quần quật, sáng ngày chỉ vừa đủ nuôi con”. Lời thơ của Phùng Quán đây, chẳng khác nào những lời tâm huyết trong cái nhìn chia sẻ đau thương, làm cho ta không khỏi liên tưởng đến Cao Bá Quát ngày xưa, con người đất Thăng Long ấy, đã có lần đi giữa đường gặp một người đói, ông lân la hỏi chuyện rồi mời người ấy vào nhà ông ăn cơm và tìm cách an ủi “Ôi thôi! Bác ngừng lệ – Cùng ta dùng bữa chơi – Trăm năm, đời người ấy – Như Quán Trọ mà thôi. Ung dung nào mấy kẻ -Được sung sướng trọn đời – Bác hãy ăn thông thả. Đừng nuốt vội làm gì. No vội dễ hại người.” Qua những vần thơ của Phùng Quán cũng như của Cao Chu Thuần (Bá Quát) như đã nhìn thấy những vấn đề của xã hội đang hiện thấp thoáng đằng sau tấn bi kịch của con người khốn cùng:

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của quần chúng anh hùng lao động
Phải buộc bụng, thắt lưng để sống
Để xây dựng kiến thiết nước nhà
Để thương yêu nuôi nấng chúng ta….
Vì lẽ đó
Tôi quyết tâm rời bỏ
Những vần thơ đầy bướm hoa
Những vần thơ trang kim vàng mã
Dán lên quân trang đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng
Như công nhân
Tôi quyết đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Vào lũ người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả.

Đó là thái độ dấn thân của Phùng Quán. Thái độ ấy xuất phát từ một nhận thức trước thực tế cuộc sống, trướ c tấn bi kịch của những con người khốn cùng và tác giả đã lớn tiếng tố cáo:

“Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của quần chúng anh hùng lao động
Phải buộc bụng thắt lưng để sống”….

Thái độ trước tiên của tác giả là quyết tâm rời bỏ những gì gọi là hào nhoáng của cuộc đời, những gì mà thứ văn nghệ thoát ly cuộc đời đã ru ngủ, đã tô vẽ đầy bướm hoa với “Những vần thơ trang kim vàng mã” hay đúng hơn là cái sống sung sướng xa hoa trên đau thương, chết chóc của mọi người “Đẫm mồ hôi và máu tươi của cách mạng”. Đó là nét tương phản trỗi bậc nhất của Phùng Quán đã thấy được, để rồi có một thái độ chọn lựa đứng hẳn về phía người cùng khổ để tuyên chiến với bạo quyền: “Những kẻ làm càn” với lũ quan liêu, tham ô, lãng phí: “Tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả” Và Phùng Quán lần lượt tố cáo:

Các đồng chí ơi,
Tôi không nói quá
Về Nam Định mà xem
“Đài xem lễ” họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!
Thật là tai hại cho “cao hứng” của những ai sống theo bản năng nhiều hơn là sống theo lí trí. Bản năng ấy vùng lên “cao hứng” lên, để rồi đem lại những hậu quả tai hại cho mọi người! Phùng Quán đã ray rứt đã đau xót trước những gì gọi là “mồ hôi, máu đỏ, mốc rêu” ấy và ông đã không nén được bầu nhiệt huyết, lòng căm thù sẵn có của người chiến sĩ trong ông. Ông như gầm thét:

“Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng”
Thế rồi ông thao thức bồi hồi và xót xa:
Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng
Nhớ “Đài xem lễ” tôi xót bao nhiêu
Đất nước đêm nay không đếm hết người nghèo
Thiếu cơm thiếu áo…”

Nói đến đây, ta không thể không nghĩ đến những câu thơ của Trần Dần trong bài “Nhất định thắng” Trần Dần viết:

Tôi đã sống rã rời cân não.
Quảng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam.
Những cơn mưa rơi mãi tối sầm.
Họ lếch thếch, ôm nhau đi từng mảng…
Họ kêu những thiếu tiền, thiếu gạo, thiếu cha thiếu chúa v.v…
Có cả anh nam chị nữ kêu buồn
– Ở đây: khát gió thèm mây…
Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc
Dẫn đi đâu mà họ khóc mãi thôi.
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió.
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi.
Tôi cúi xuống, quì xin mưa bão
– Chớ đổ thêm lên đầu họ
– Khổ nhiều rồi!
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót.
Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà.
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”.
(Trần Dần – Nhất Định Thắng )

Hai bài thơ (của Phùng Quán và Trần Dần) trong hai bối cảnh khác nhau, nhưng ta thấy có một cái gì vương vấn bi thương trong đó.

Trở về với Phùng Quán, ta vẫn thấy ông băn khoăn ray rứt:

Bọn tham ô lãng phí quan liêu
Đảng đã phê bình trên báo
Còn bao nhiêu tên chưa ai biết ai hay
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy…
Chúng nảy nòi sinh sôi như dòi bọ
Khắp đất nước, đâu đâu chẳng có!
Đến một ngày Đảng muốn phê bình tất cả
E phải vạn nghìn số báo Nhân Dân!
Tôi đã đến thăm nhiều hố xí cầu tiêu
Giấy trắng nữa mặt sẽ toan chùi đít
Những người này không bao giờ biết
làng quê con cái nhân dân ta
Rọc lá chuối non, đóng vở học i tờ
Tôi đã dự những phiên tòa
Họp suốt ngày luận bàn xử tội
Những con chuột mặc áo quần bộ đội
Đục cơm, khoác áo chúng ta
Ăn cắp máu dân,
Đổi chác đồng hồ
Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói
Những mẹ già, em trai, chị gái…
Còng lưng, rỏ máu, lấn vành đai!
Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt
Có tôi
Trong hàng ngũ Tiên phong
(Phùng Quán)

Bài thơ trên đây như một bản cáo trạng hùng hồn, như những lời tuyên chiến gắt gao với bọn tham ô lãng phí. Phùng Quán đã đi vào một cảnh đời rất thực, một cảnh đời rất tương phản giữa lớp người lao động khổ đau và lớp người quan liêu tham ô lãng phí. Nét bi đát nhất là sự đói khổ, nghèo nàn của quần chúng nhân dân lao động, phải đổ ra cả mồ hôi và máu, phải đói khổ “Để xây dựng kiến thiết nước nhà’’… Thế mà lại có một “Lũ người” “Tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả” – Bài thơ thật sâu sắc thật nồng nàn tính nhân văn và tình yêu tổ quốc, yêu nhân dân lao động!

Người ta tưởng chừng như tác giả của bài thơ là kẻ có công hàng đầu, nào ai ngờ lại là kẻ có tội, cái tội dám tố cáo sự thật dám chống tham ô chăng? Phùng Quán đã bị khép vào nhóm “Nhân văn giai phẩm” và phải đi “Lao cải” (lao động cải tạo) ngót 30 năm.

Và đây, ta hãy nghe nhà văn Tô Hoài kể lại một trong vô vàn mẫu chuyện mà Phùng Quán đã làm trong lúc đi lao cải.

…”Các đường ngoắt ngoéo trong xóm trổ ra cổng đồng còn tối đất. Những con trâu, con bò ra ruộng làm sớm, thói quen tự nhiên tới vệ cỏ bên hào nước thì dừng lại ỉa. Đến khi sáng hẳn, thì trẻ con trong xóm mắt nhắm mắt mở, lốc nhốc kéo ra, ngồi bĩnh đấy. Hai thanh tre của Quán mở ra gấp lên sọt tuốt cả phân trâu, phân người” (Tô Hoài, Hồi ký Chiều chiều, NXB Hà Nội năm 1999)

Khi nhận xét về bài “Chống tham ô lãng phí”, sau này có người đã viết: “Bài thơ đã cảnh báo một tai họa của đất nước thế mà tiếc thay, đến đầu thế kỷ 21 này, 45 năm sau Đảng Cộng Sản trong cuộc chỉnh đốn Đảng, lại phải ráo riết kêu gọi “chống tham nhũng lãng phí”. Tham nhũng còn nặng hơn tham ô! năm 1958 tôi còn dạy học ở Vĩnh Phúc ngày dạy ở trường phổ thông, một tuần 4 tối dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ các cơ quan tỉnh. Năm ấy, Quán bị… rồi. Một hôm phấn khích một cách dại dột tôi đọc hùng hồn bài thơ “Chống tham ô lãng phí” cho học viên nghe, im phăng phắc không khí trong lớp ngột ngạt như trước bão. Tôi nhìn rõ cả nét giật trên mặt một ông Trưởng Ty ngồi bàn đầu. Từ bàn thứ 3, một học viên mặt mũi phương phi, tóc hoa râm đứng dậy: – “Tôi hỏi thầy giáo: Phùng Quán lấy tư cách gì mà phê phán xã hội như thế?”. Tôi điềm tĩnh: “Thưa anh trước hết tác giả lấy tư cách công dân, rồi mới lấy tư cách nhà thơ. Phùng Quán không phê phán xã hội mà phê phán tệ nạn xã hội: Đó là tệ nạn tham ô lãng phí” (Nguyễn Bùi Vợi – Đọc thơ Phùng Quán).

Cuộc đời rồi cũng qua đi, thời gian không bao giờ quay trở lại, con người ngày một mỏi mòn, và có ai đó đã bảo rằng: “Đời như giấy mỏng hồn người như cờ lau” mong manh và dễ tan biến: “Đi đâu về đâu? Đò em đò lỡ nghiên cầu. Bờ mi trĩu nặng vương màu trầm luân”. Ta xin nhớ về Phùng Quán bằng những câu thơ của Nguyễn Đỗ Lưu ấy… “Bờ mi trĩu nặng” với bao nhiêu khổ đau đã trút xuống cuộc đời “trầm luân” của bao nhiêu thân phận người dân khốn cùng , bao nhiêu thân phận bị đọa đày của những con người văn nghệ sĩ, trí thức miền Bắc, những con người như Thụy An, Phùng Quán, Lê Đạt, Trần Dần, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, v. v… và v. v… Cái cuộc đời “trầm luân’’ ấy, đã đổ xuống những kiếp người muốn sống cho ra con người, nhưng đã không muốn được! Ngày nay, tham ô lãng phí vẫn còn hoành hành, “màu trầm luân” vẫn chưa xóa hết … Một thời mà nhóm Nhân văn giai phẩm đã từng trầm luân vì nói lên khát vọng đích thực của con người: “Bao giờ nghe được bản tình ca. Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật … – Bao giờ, bao giờ ….” (Văn Cao – Anh nghe thấy gì không) Và cuộc sống vẫn còn ngột ngạt vì chung quanh còn những người khôn ngoan, không có mồm, mắt không bao giờ nhìn thẳng: “Những kiếp người sống lâu trăm tuổi, y như một chiếc bình vôi. Càng sống, càng tồi. Càng sống càng bé lại.’’ (Lê Đạt). Một kiếp sống hèn nhát, chỉ biết ngậm miệng cúi đầu, hoặc chỉ biết a dua theo danh lợi, quyền chức … Do vậy, đã không tránh khỏi những ý thức phản kháng của lớp người trẻ trung tiến bộ, vì họ không thể chịu được “bao cuộc đời mệt mỏi” và cuộc sống cứng nhắc như một công thức…: “Tôi mới 25 tuổi. Chung quanh tôi bao cuộc đời mệt mỏi Thất bại cúi đầu. Công thức xỏ giày vào mũi.” (Lê Đạt.). Cuộc sống ấy, mỗi ngày bao nhiêu bụi bặm rơi xuống đầu người, bao nhiêu gông xiềng, tập quán … cột lấy bước chân! “Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm bại. Khôn ngoan, không dám làm người. Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi. Tim chết cứng trong lề thói.’’ Một cuộc sống bị áp đặt, bị khép vào khuôn kh ổ toàn trị và đói nghèo, họ kêu: “Thiếu tiền, thiếu gạo, thiếu cha, thiếu Chúa. Thiếu v. v… Họ cảm thấy: Ở đây khát gió, thèm mây. Thiếu cả quả tim, bộ óc” (Trần Dần) … Và có kẻ đã kêu lên:

“Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm bại. Khôn ngoan không dám làm người. Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi. Tim chết cứng trong lề thói… Bao nhiêu khao khát làm người. Nhưng lại đẩy tôi về bến cũ. Những ao ước trong đầu ấp ủ. Chết dần như những chiếc thai non. Tôi ngập chân đi trong những lối mòn. Mong đổi lấy một cuộc đời yên ổn. Nếp cũ cay chua và trắng trợn. Đè trên vận mênh con người. Đời đời nối đời đời …Trao lại cho nhau một lời nóng hổi …’’ Những vần thơ ấy của Lê Đạt, của Trần Dần đã ghi từ thời Nhân văn giai phẩm của thế kỷ; nhưng hôm nay đọc lại, ta vẫn thấy như đâu đấy còn bao nhiêu khao khát làm người … và người ta vẫn không khỏi lo ngại: “Những ao ước trong đầu ấp ủ. Chết dần như những chiếc thai non.’’ … Hôm nay Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Phùng Quán …đã đi vào cõi vĩnh hằng, dù rằng tham ô lãng phí đã trở thành quốc nạn và “Lời mẹ dặn’’ đã trở thành tiếng vọng trùng dương… Nhưng những vần thơ của Phùng Quán và các văn nghệ sĩ ấy, vẫn không bao giờ chết sau khi nó đã sống. Nó được tạo nên, chính là để sống và trở thành mãi mãi cái mà nó vừa trở thành.

Hồ Sĩ Duy

Một cuộc chiến khác

Dành riêng để tặng những người lính VNCH vô danh

Tôi ra đời vào một ngày mùa hè năm 1975, thời điểm cuộc chiến Việt Nam vừa kết thúc. Khi đó ba tôi đang bị “cải tạo” ở Tiên Lãnh – một xã vùng núi thuộc huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nghe mẹ tôi kể lại, đó là thời điểm mà mọi người đều tâm thần bấn loạn, đặc biệt là những gia đình có người tham gia chế độ cũ, chẳng ai còn đủ bĩnh tĩnh để nhận biết đầy đủ những náo loạn đang diến ra và cái gì sẽ tới. Tất cả đều đảo lộn, rối tung rối mù. Mẹ nói chỉ biết có chạy và chạy. Gần như mọi sự đều phó mặc cho số phận.

Giữa lúc khốn khó ấy, mẹ lại đang mang bầu tôi nên chỉ còn biết về quê. Trong tâm thức của người Việt, quê cha đất tổ là một cái gì đó, ngoài sự thiêng liêng, còn mang cả nỗi niềm tin tưởng, là nơi nương cậy lúc cùng đường. Quả vậy, mẹ, tay dẫn anh chị tôi, bụng mang dạ chửa, chân bước nặng nhọc trở về quê, tá túc trong ngôi nhà cũ của ông bà nội trong khu vườn được phủ kín tre xanh.

Chỉ hơn một tháng sau khi về quê, vào một đêm đầu tháng trời tối như mực, mẹ trở dạ…

Tôi ra đời trong tay một bà lang vườn. Mẹ tròn con vuông. Sau này mẹ thường nói: “hú hồn, nếu lúc đó xảy ra chuyện gì…chắc chỉ còn biết chết! Ơn Trời Phật!”.

Dĩ nhiên tôi không có bất kỳ ký ức nào về quảng thời gian đó. Đầu óc trẻ thơ là trạng thái nguyên sơ nhất của ý thức con người. Nó giống như một hồ nước tĩnh lặng trong veo mà hình ảnh những đám mây lần lượt in bóng rồi lần lượt trôi qua không để lại một chút dấu vết. Tôi lớn lên vì phải lớn lên, đó là xu hướng nguyên uỷ của một cơ thể sinh học.

Nhưng ký ức trẻ thơ cũng thật lạ lùng, nó không hoàn toàn vô cảm với tất cả những thứ diễn ra quanh nó. Đôi lúc, như một sự tình cờ, nó ghi lại một vài hình ảnh mà sau này, nhờ có nó, một người có thể nhớ lại một vài câu chuyện nào đó đã xảy ra trong một bối cảnh xưa cũ mà bây giờ đã hoàn toàn mờ nhạt.

Đó là hình ảnh ba tôi ngày trở về sầu não. Và những ngày sau đó là hình ảnh ông uống rượu triền miên rồi say nằm la mắng vang cả xóm… Rồi thỉnh thoảng, những lúc ngồi bên mâm cơm, câu chuyện của ba tôi luôn nói về những ký ức của một thời đã qua. Giọng ông lúc trầm lúc lắng, nhưng luôn đau đớn khi kể đến những thứ… mà nay đã không còn, hay như cách quả quyết của ba tôi, là mọi thứ đã bị tước đoạt, và kinh khủng hơn, đã bị chôn vùi vĩnh viễn vào đêm tối của căn bệnh chóng quên của người đời…

Sau này, khi đã đủ trí khôn, tôi cũng không thể hình dung ra nổi những bối cảnh trong các câu chuyện mà ba tôi đã kể. Tôi không biết một quả mìn bên vệ đường phát nổ là như thế nào? Hình ảnh một chiếc xe khách bị lật nhào cháy đen ra sao? Quá khó để tưởng tượng ra những thảm cảnh đã diễn ra hàng ngày trên con đường chỉ dài vài chục cây số mà giờ đây tôi hay đi đi về về…

Như một bằng chứng, vào ngày giẩy mả đầu xuân, ba tôi đã chỉ cho tôi ngôi mộ của một người xa lạ đã chết trẻ. Đó là anh chàng học trò trường Trần Cao Vân Tam Kỳ về nghỉ hè và đã chết trên một chiếc xe bị mìn ở vệ đường. Ba tôi nói anh ta chết vào tầm tuổi tôi bây giờ…

Nhưng quả thật, khi nói về cái chết cho một người trẻ tuổi cũng giống như việc phết một lớp sơn lên một bề mặt trơn bóng không ăn màu. Nó sẽ mau chóng phai đi và trả lại lớp trơn bóng cố hữu bên dưới một cách nguyên vẹn như chưa từng có gì xảy ra. Thậm chí cho đến lúc tôi chứng kiến cái hố chôn tập thể lên đến hàng ngàn bộ hài cốt mà người ta tình cờ phát hiện khi đào móng xây nhà, nó vẫn hoàn toàn không gây nên một niềm xúc động nào trong tôi. Khi thấy ba tôi xót xa nói đó có lẽ là hố chôn đồng bào tản cư bị chết trong trận chiến mậu thân 1968, tôi cũng muốn tỏ ra chút đồng cảm nhưng tuyệt nhiên trong tôi vẫn phẳng lặng như tờ.

Tôi biết mình gần như vô cảm với những thứ ấy, những thứ giống như đã xảy ra từ một thời xa lơ nào đó trong tiền kiếp mà bây giờ thỉnh thoảng người ta kể lại như những câu chuyện dân gian. Tôi chưa bao giờ hình dung ra ba mẹ tôi cũng là những nhân vật đã ở trong những câu chuyện ấy. Tôi có cảm giác đó là những câu chuyện chỉ dành để nói về những kẻ xa lạ mà chẳng mảy may liên hệ gì đến tôi.

Có vẻ khi Đấng Tạo Hoá ban cho con người khả năng ghi nhớ, Người cũng đã thiết lập một luật lệ rằng, mỗi người phải tự chịu trách nhiệm về ký ức của mình mà không thể san sẻ cho ai khác. Phải chăng vì vậy mà cho dù rất thương ba mẹ, nhưng đầu óc tôi vẫn mãi trơ lì với những ký ức thân thiết của họ. Những bóng hình vẫn còn đó, nhưng đồng cảm thì hoàn toàn vắng bóng…

Tôi rời quê vào Sài Gòn học đại học. Đây là lần đầu tiên tôi xa nhà và đi xa đến vậy – cả ngàn cây số. Đối với những gã trẻ tuổi quê mùa như tôi, Sài Gòn gần như là thiên đường, là nơi chất chứa hy vọng thay đổi số mệnh. Trước khi tôi đi, ba tôi đã kể rất nhiều về Sài Gòn cho tôi nghe. Thực ra, ông chỉ ở đó được khoảng một hai tháng trong một chuyến tập huấn ngày trước. Ba tôi nói rất nhiều, tất cả những gì ông còn nhớ được về Sài Gòn. Sau này, khi đã ở Sài Gòn lâu ngày, tôi nhận ra là những ký ức của ba tôi về Sài Gòn cũng hoàn toàn xa lạ. Có lẽ, Sài Gòn bây giờ đã khác xa cái thời trước, cái thời mà chỉ còn trong ký ức của những người “muôn năm cũ”…

Trường tôi học nằm ở quận nhứt, nhưng tôi lại ở nhà một người quen ở khu Bảy Hiền. Đây là khu xóm dệt do những người Quảng Nam di cư lập nên từ thời năm 1954. Những ngày đầu vào ở đây, không có cách nào để chịu đựng nổi tiếng ầm ầm vang như sấm động suốt ngày từ những khung dệt vải. Nhưng dần dà mọi thứ lại trở nên dễ chịu. Tôi quen dần với những tiếng động ấy đến mức, nếu không có nó, tôi sẽ chẳng ngủ được. Những tiếng đập ầm ầm theo nhịp khung cửi không ngờ lại có tác động như một lời ru dị kỳ.

Những buổi chiều rảnh rỗi tôi thường tản bộ ra uống cà phê ở khu Bàu Cát. Đây là một khu rất mới mà nếu vào thời có trong ký ức của ba tôi, nó chỉ là những ao rau muống lầy lội chạy dài ngút ngàn. Khoảng đầu thập niên chín mươi, một tay lanh lẹ đã xây dựng nó thành những khu phố khang trang như bây giờ. Khu phố này rất đẹp và nhiều cây xanh, rất thuận tiện để mở quán cà phê. Vì vậy mà quán cà phê ở đây nhiều vô kể, cái này nối tiếp cái kia, san sát bên đường.

Nhưng số phận của kẻ đã xây dựng nên nó lại không được may mắn như vậy. Anh ta là một trong số những tay nổi đình nổi đám vào thời mới mở cửa. Đó là cái thời mà những kẻ quản trị nhà băng còn kém xa những bà chủ tiệm cầm đồ. Họ cho vay vô tội vạ bất chấp các nguyên tắc an toàn tài chính miễn có “lại quả” cho họ là được. Còn những công ty ma lanh thì được phép huy động tín dụng với lãi suất rất cao rồi dùng tiền để chơi bời xả láng hay hoang phí vào những thứ xa xỉ mới được du nhập vào. Và tay ấy, cái kẻ đã xây dựng Bầu Cát, là một trong số những tay chơi khét tiếng. Cuối cùng, với số nợ khổng lồ không có khả năng trả được, gã đã bị tử hình.

Bây giờ, chẳng còn mấy ai nhớ đến gã…

Tôi thường ngồi ở một quán cà phê có nhiều cây xanh trong sân. Đây xưa kia có lẽ là một khu vườn trồng cây ăn trái nhưng người chủ của nó đã nhìn xa trông rộng mà không bán đi vào thời mở cửa. Để giờ đây nó là một mặt tiền rộng rãi, với nhiều cây xanh còn giữ lại, che bóng mát rượi. Tôi thích ngồi ở đây vì chủ quán cũng là người Quảng. Những cô con gái của ông cũng nói giọng Quảng, tuy thỉnh thoảng có pha vài phát âm kiểu Sài Gòn. Ngồi ở đây tôi cảm thấy có gì đó gần gũi và đáng tin cậy. Người Quảng vốn nói năng nặng trịch và ít cảm tình, nhưng khi xa quê lại thường gắn bó với nhau hơn người ở những vùng khác.

Và vào một buổi chiều ở đó, tôi đã gặp một người lạ lùng…

Thực ra ban đầu tôi chẳng để ý gì đến ông, một người bán vé số như vô số những người bán vé số khác. Thường tôi sẽ khước từ những lời mời mua vé số. Tôi chẳng bao giờ tin vào vé số, vả lại nó cũng không rẻ. Theo cách tính kiểu sinh viên như tôi, một tờ vé số tương đương một bữa trưa, thường là một dĩa cơm đậu hủ. Chẳng gã nghèo túng nào lại mạo hiểm đánh đổi một bữa cơm trưa để mua lấy một niềm hy vọng có xác suất nhỏ đến một phần trăm ngàn cả.

Nhưng trái với những người bán vé khác, thường sẽ bỏ đi ngay sau cái phẩy tay, ông ấy hình như vẫn còn ở đó. Cho đến lúc tôi quay lại nhìn, thì đó là một ông trung niên bị cụt cả hai chân lên đến tận háng. Ông di chuyển bằng hai cái đòn gỗ trơn bóng vì bị bào mòn lâu ngày. Đôi mắt ông nhìn tôi lạ lùng và có phần sửng sốt. Và ông cứ nhìn chăm chăm như vậy một hồi lâu. Tôi không biết là bao lâu, vì chính tôi cũng sửng sốt không kém ông. Bởi tôi chưa từng gặp phải một tình huống lạ thường như vậy bao giờ. Một gã trai trẻ quê mùa như tôi chưa bao giờ học được thói quen phản ứng mau lẹ với xung quanh.

Rồi cuối cùng ông cũng giật mình tỉnh lại. Gương mặt ông lộ rõ vẻ bối rối như một đứa trẻ vừa phạm một lỗi nặng. Ông nhìn tôi vừa đau khổ, vừa như muốn xin lỗi về sự bất nhã vừa rồi. Nhưng tôi nhớ mình đã mỉm cười với ông, một nụ cười tự nhiên chẳng thoáng chút kỳ thị. Rồi như được cởi bỏ một gánh nặng, ông cũng mỉm cười theo. Cuối cùng ông cũng lên tiếng giải thích cho cái nhìn kỳ lạ của mình:

“Cậu giống như đúc một người bạn cũ của tui”

Rồi ông nhanh chóng trở lại với gương mặt rầu rĩ cố hữu.

Tôi lên tiếng:

“Chắc là một người bạn thời trẻ của chú?”

Ông gật đầu.

“Vậy chắc anh ta đã đi Mỹ rồi?” Tôi nói đùa.

“Anh ấy chết rồi”

Câu trả lời của ông làm tôi thoáng chút gợn. Tôi hơi sợ khi nghe từ chết, đặc biệt là một cái chết trẻ. Có lẽ, câu chuyện về cái chết của anh chàng học trò trường Trần Cao Vân đã ám ảnh tôi ít nhiều.

Tôi hỏi ông:

“Chắc là chết thời còn đi học chung với chú?”

“Không, anh ấy là lính Cộng Hoà chết trận.”

Nói đến đó, gương mặt của ông trở nên như vô hồn, nhưng trên mí mắt thâm quầng đang chảy xuống một giòng nước mắt. Lúc đó tôi không hiểu ông đang nghĩ gì. Một cái chết xa xôi như vậy của một người bạn cũ đâu thể gây nên một sự đau buồn lâu dài đến vài chục năm. Thực tế, con người là những động vật rất dễ thích nghi, kể cả với nỗi đau. Thường với một cái chết nào đó, nó chỉ gây ra tổn thương trong một thời gian nhất định mà thôi, tuỳ thuộc vào mối quan hệ của người sống với người đã chết, nhưng ít khi nó kéo dài quá vài năm. Có thể trong phút chốc một niềm xúc động đột ngột dâng lên từ một sự kiện đã gợi lại những kỷ niệm đau buồn trong quá khứ và khiến ông đau lòng. Nhưng nhiều lắm nó cũng chỉ đủ loé lên như một ánh lửa rồi lại chìm ngay vào trong đêm tối của ký ức xa xăm.

Nhưng lạ lùng thay, những dòng nước mắt của ông vẫn không ngưng chảy. Ông đang khóc như một cơn mưa dầm. Gương mặt già nua của ông trông đau khổ đến tột bực…

Tôi nói dối với ông rằng ba tôi cũng là lính cộng hoà. Thực ra, ba tôi làm bên chính quyền. Nhưng dù sao như vậy cũng đủ để tạo nên một chút đồng cảm hiếm hoi và làm lắng lại cõi lòng sâu kín nào đó trong ông.

Bởi vậy, tôi trông ông có vẻ hoạt bát hẳn lên. Rồi ông kể cho tôi nghe đôi chút về những ký ức đau buồn đó…

Ông và người bạn ấy – người đã chết, người mà ông nói có khuôn mặt giống tôi như đúc – là hai anh lính trẻ trong một đơn vị tác chiến đóng quân ở Tây Ninh. Trong thời chiến tranh Việt Nam, Tây Ninh là vùng tranh chấp ác liệt, bởi nó gần Sài Gòn lại gần biên giới Miên. Tây Ninh cũng là cửa ngõ để những cánh quân Bắc Việt thâm nhập xuống Sài Gòn.

Trong một trận đánh khốc liệt vào năm 1974, người bạn của ông đã bị chết mất xác do pháo kích. Còn ông thì bị mảnh đạn phạt mất hai chân.

Ông được đưa về quân y viện dưỡng thương. Cho đến tháng 4 năm 1975, khi những cánh quân CS Bắc Việt tiến chiếm quân y viện, ông bị đuổi ra khỏi nơi ấy. Và sau đó là những tháng ngày nhọc nhằn của cuộc đời ông…

Với tấm thân tàn phế, ông đồng ý chia tay với người vợ trẻ, mà như lời ông, là để giải thoát cho một số mệnh. Ông sống thui thủi một mình với cuộc mưu sinh nhọc nhằn bằng đủ mọi cách. Để rồi cuối cùng ông chọn cách lên Sài Gòn bán vé số cho đến bây giờ…

Đó là một buổi chiều buồn man mác trong thời hoa niên ít nghĩ suy của tôi. Nhưng câu chuyện của ông làm tôi nhớ đến một bức ảnh nổi tiếng của Nick Ut – một phóng viên ảnh của hãng thông tấn AP. Câu chuyện trong bức ảnh ấy cũng xảy ra ở Tây Ninh. Đó là hình ảnh một bé gái trần truồng, bị phỏng bởi bom napal, đang chạy hốt hoảng trên đường trong một buổi chiều đầy khói lửa. Một bức ảnh đã gây xúc động trên toàn thế giới về thảm cảnh của chiến tranh Việt Nam.

Cách đây vài năm, tôi lại được thấy trên báo chí hình ảnh của cô bé Kim Phúc năm nào mà giờ đây là một quý bà công dân Canada và là đại sứ hoà bình của UNESCO. Có lẽ cô ấy đã vượt qua được số phận đau thương nhờ tình nhân ái.

Thế còn số mệnh của những người lính, như người lính già tàn phế ấy, ai sẽ cứu vớt cuộc đời họ? Thậm chí, có bao nhiêu người còn nhớ đến họ không, những kẻ đã phải hy sinh một phần hay tất cả thể xác, để bảo vệ cho Tự Do, mà nay không còn nữa? Phải chăng họ chỉ là những kẻ bạc mệnh và vô phước, được sinh ra và lớn lên trong một thời cuộc không mong đợi?

Câu chuyện của ông rồi cũng mau chóng phai mờ trong tôi. Nhưng hình ảnh của ông lại có một sức sống kỳ lạ. Cứ mỗi khi đến quán cà phê ấy, tôi lại thấy bóng dáng của ông thấp thoáng đâu đó, đang lê lết trên hai đòn tay bằng gỗ, từ bàn nọ qua bàn kia để mời mua vé số. Hình bóng của ông như một thứ gì đó đã sắp tàn nhưng chưa chịu mất, nó vẫn còn bám víu vào cõi đời này như một sự khắc khoải kỳ bí của hiện hữu.

Rồi một buổi chiều khác, tôi lại được gặp ông. Lần này ông đến bên tôi rất nhẹ nhàng. Khi tôi thấy ông, cũng là lúc ông nở một nụ cười rất tươi đáp chào. Tôi thấy ông có ý muốn nói gì đó nhưng vẫn chưa mở lời được. Rồi sau một hồi ông cũng lên tiếng:

“Có chuyện này, nhờ cậu giúp cho không biết có được không?”

Tôi suy nghĩ mình thì có thể giúp được gì cho ông ấy. Trong khi cái ông cần tôi lại không có. Trông tôi có vẻ bảnh bao, nhưng độ nghèo chắc cũng chẳng thua kém ông. Tôi hỏi ông:

“Cháu thì có thể giúp được gì cho chú?”

Ông ngần ngừ giây lát rồi nói:

“Cậu có thể cho tui mượn một tấm hình được không?”

Tôi trố mắt ngạc nhiên nhìn ông:

“Chú cần hình của cháu để làm gì?”

Ông tỏ ra e ngại rồi phân minh: ông cần một cái hình để làm ảnh thờ cho người bạn đã chết mất xác năm xưa. Vì sau bảy lăm đồ đạc thất lạc hết nên ông chẳng còn giữ được tấm hình nào. Vì vậy trên bàn thờ anh ấy ông chỉ để cái bài vị. Ông sợ nếu không có cái hình, sau này sẽ chẳng còn ai hình dung ra gương mặt anh ấy nữa. Rồi ông kể anh ấy chỉ có một bà mẹ già, mà có lần về phép hai anh em xuống thăm, bà đã yếu lắm rồi. Sau bảy lăm ông không có điều kiện xuống lại quê anh ấy, nhưng chắc bà cụ đã chết rồi. Nên ông nghĩ, ngoài ông ra, chẳng còn ai thờ anh ấy nữa…

Tôi hốt hoảng thật sự:

“Kỳ lắm, cháu chưa chết mà đưa lên bàn thờ thì sợ lắm.”

Ông vội xua tay phân bua:

“Không, tui chỉ mượn tấm hình của cậu để vẽ truyền thần cho anh ấy một tấm hình thôi. Vì cậu rất giống, nên chỉ cần sửa đổi đôi chút là được.”

Tôi thở phào nhẹ cả người.

Khoảng vài tuần sau tôi lại gặp ông. Ông nói đã chờ tôi mấy hôm nay mà không thấy. Ông khoe đã vẽ xong và trả lại tôi tấm hình với lời cám ơn. Ông nói mấy hôm nữa là ngày giỗ anh ấy và ông mời tôi ghé nhà ông chơi. Tôi đồng ý.

Mấy hôm sau, tôi cọc cạch đạp xe xuống Thủ Đức mất cả tiếng đồng hồ. Ông đã ngồi đợi ở đầu con hẻm lớn để đưa tôi vào. Nhà ông là một túp lều mái tôn, vách được che bằng những tấm ny lon lớn. Nó được dựng dựa vào bức tường của một cái đình cổ. Trong lều, ngay chính giữa, có một cái bàn thờ Phật trên cao, bên dưới là tấm hình mà ông đã nhờ vẽ truyền thần. Nhìn hình, tôi cố không hình dung ra đó là mình. Dù sao thì môi trên hơi dày hơn và đặc biệt, có một nốt ruồi ngay dưới mí mắt phải. Đó là những chi tiết khác biệt rất dễ nhận thấy. Có thể còn những điểm khác nữa mà tôi chưa kịp nhận ra.

Ông mỉm cười nói với tôi:

“Hồi đó, tụi tui cũng tuổi như cậu bây giờ. Mà thật kỳ lạ, trông cậu chẳng khác gì anh ấy. Hôm đầu tiên trông thấy cậu, tui không tin vào mắt mình nữa. Trên đời sao lại có người giống nhau đến vậy…”

Ông ấy nói đúng. Sao tôi lại đi giống một người xa lạ mà tôi chưa từng gặp đến vậy. Đây chỉ là một sự ngẫu nhiên, một tình cờ của Tạo Hoá, hay là một bí hiểm nào đó mà tôi chưa ngộ ra?

Tôi không biết.

Đêm đó, trong giấc ngủ, tôi đã mơ một giấc mơ kỳ lạ. Tôi thấy mình đang băng qua một khu rừng trong bộ đồ chiến binh bết đầy bùn đất. Tiếng trực thăng quần thảo điên loạn trên đầu, rồi từng tràng đạn rít chói tai qua những khóm cây, làm những chiếc lá xanh rụng xuống lả tả như mưa. Và cứ thế, tôi miệt mài bước đi như bị thôi miên. Cuối cùng, tôi rơi vào một vùng sáng chói loà, rồi mất hút…

Trà Đoá

Giữa Hai Miền Viễn Xứ 3

 

 

Chương ngón trỏ phù vân

Mang VẾT THƯƠNG trở về
Hay mây khói sơn khê ?        

   Việt đã tạm xếp bút nghiêng, giã từ ngôi trường Văn Khoa yêu mến, giã từ ngôi nhà ở Làng hoa thân thương, giã từ bạn bè, giã từ người yêu dấu để gia nhập binh nghiệp. Ô! không, không thể là binh nghiệp, Việt chưa bao giờ muốn đi theo hết con đường này, chỉ là tạm thời khi cần tới “binh” mà thôi, một khi đã bình yên anh sẽ trở lại con đường với ánh sáng, đó mới là “nghiệp”, Việt mãi đinh ninh như vậy.

Nơi đầu tiên trong cuộc hành trình bất đắc dĩ, Việt đặt chân đến là Dục Mỹ – Trung tâm huấn luyện Biệt động quân.

Một tuần đầu, Việt muốn đổ bịnh, muốn phát sốt, ngày Chúa Nhựt cuối tuần anh nằm dính chặt trên giường, ngủ li bì gần như mê man. Hẳn nhiên sẽ xảy ra điều này cho những tân binh “mài mực”, một sự thay đổi đột ngột quá thể, từ một anh chàng cầm bút nay phải suốt ngày giang mình giữa trời, giữa thao trường rất ư là xa lạ. Hơn nữa còn là sự khác biệt quá thể từ vùng đất tưởng chừng bình thường như mọi nơi, thời tiết là sự khác biệt qua thể. Thao trường được ví như “lò luyện thép” một mặt cho thấy sẽ đào luyện ra những chiến sĩ can trường, dũng mãnh, một mặt còn cho nghĩa bóng rằng nơi này là một chảo lửa, nắng nóng khủng khiếp và rất hanh từ những cơn gió Lào, nhiệt kế có khi chạy lên tới 40 độ C. Trái ngược với ban ngày, ban đêm thì lạnh buốt kéo về.

Tuần thứ hai Việt muốn đổ gục, mệt mỏi càng thấm hơn mà anh ngỡ rằng sẽ quen từ từ.

Những buổi sáng, Việt không thức dậy nổi, thân thể cứ bất động, Việt muốn nằm yên ngủ mãi mãi, không cần thức dậy nữa. Chỉ có các bạn bè đỡ dậy, đúng hơn là lôi kéo, thúc vào người anh mới tỉnh được.

Những lúc được ngồi nghỉ, tựa người bên những bao cát thường được chồng lên nhau để làm lô cốt dã chiến, Việt cũng không nhấc người lên nổi khi phải trở lại tập luyện.

Những lúc như thế này, ý nghĩ trốn đi, đào thoát khỏi “chảo lửa” chập chờn xuất hiện, anh muốn thực hiện nó lắm, sẵn sàng lên kế hoạch cho cuộc đào thoát, may sao sự sỉ nhục cũng vừa lúc ùa tới, sỉ nhục thức tỉnh bằng suy nghĩ sẽ là lừa phỉnh, bội bạc mà ngày ra đi Việt rất dứt khoát, dứt khoát với gia đình, với bạn bè và với người yêu. Nhớ tới người yêu, trong cái nắng gay gắt, Việt tưởng tượng, “Nắng Dục Mỹ anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặt áo tím Gia Long…”.  Việt thầm cảm ơn thi sĩ Nguyên Sa đã sáng tác bài thơ và nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã phổ nhạc để có bài Áo Lụa Hà Đông, để anh xin thay đổi lời, để anh có động lực mà đứng lên… Việt cũng thầm so sánh vui vui, nắng Sài Gòn không là gì cả so với nơi đây, áo lụa Hà Đông cũng chẳng là gì so với áo tím Gia Long của anh. Một sự so sánh thiên vị quá đỗi, nhưng chắc chắn không ai bắt lỗi, sự thông cảm là một món quà tưởng thưởng ngay cả đối với những người khó tánh nhứt.

Tuần thứ ba, ta sẽ không đào thoát, nhưng sẽ gục ngã, sẽ im lìm nằm mãi và im lìm luôn hơi thở, Việt nghĩ vậy khi tối thứ Bảy tuần thứ hai anh đã gắn chặt với cái giường mà gần như không nhúc nhích.

Đó là anh nghĩ mà thôi. Anh không nhúc nhích? Sai bét nhè. Anh cựa quậy hung tợn mà chẳng biết, cựa quậy có khi muốn lọt xuống khỏi giường, thân thể gần một nửa không còn trên giường, bạn bè anh lại một phen khó khăn đẩy, khó khăn hất anh lên. Anh lăn lộn rên hừ hừ, hơi thở khào khào, thều thào mệt nhọc phát ra hừ hừ, và đôi khi anh hát, hát dĩ nhiên nghe không rõ, đó là bài “Áo tím Gia Long”. Việt lăn lộn, cựa quậy một đêm, sang một ngày, cho tới chiều Chúa Nhựt. Chiều Chúa Nhựt anh lù lù ngồi dậy, ngồi dậy khá dễ dàng, khá thoải mái. Bắt đầu tuần thứ ba thì mệt mỏi tan dần, cơ thể quen dần trong khi cường độ tập luyện cũng tăng dần. Vậy là Việt chắc chắn mình sẽ trụ lại được nơi này, sẽ không từ bỏ như một vài người đã thực sự ngã gục, đã quá ngưỡng chịu đựng phải rời đi dù không muốn chút nào.

Giữa tuần thứ tư Việt gần như trở lại bình thường. Nói gần như là bởi vẫn còn có mệt mỏi chứ, nhưng cơn mệt sẽ nhanh chóng qua mau lẹ, không thấm và nằm yên trong cơ thể. Anh bắt đầu cảm nhận vùng đất mới này. Cảm nhận những điểm độc đáo riêng biệt, những điểm hay ho chứ đâu chỉ khác biệt thời tiết đến khó chịu.

Và điều gây ấn tượng sâu đậm trong Việt là bầu trời đêm. Vẫn tựa người trên những dãy bao cát ban ngày tỏa nhiệt góp sức làm chảy mồ hôi, ban đêm thì se se lạnh, Việt dòm được bầu trời trong vắt, không một chút gợn gì dù nhỏ nhoi nằm trong bầu trời này, bầu trời trong cho tầm nhìn xa thiệt là xa.

Trên biển, tầm nhìn trên mưới cây số là bầu trời đẹp thì ở đây có lẽ trên cả trăm cây số, Việt không nhớ được khoảng cách của những ánh sao đến trái đất, anh nhớ mang máng áng chừng hơn như vậy. Ở đây anh thấy rõ cả sự nhấp nháy của những vì sao lung linh, đôi khi anh đếm được số lần nhấp nháy của vì sao mà anh tập trung nhìn. Nhưng khó mà tập trung lắm, bởi không phải một vài vì sao, có hàng triệu vì sao không đếm xuể, hàng triệu vì sao đua nhau tỏa sáng, có những chòm sao Việt có cảm giác đó là những tấm gương nhỏ ai đó chấm vào những chấm đen để giảm bớt đi sự phản chiếu, hoặc giả có thêm chút ít vì sao nữa thôi thì đây là một tấm gương hình vòm khổng lồ chứ không phải là bầu trời. Việt tựa người khá lâu đến nỗi bao cát ấm lên nhưng chẳng thấy buồn ngủ, đôi mắt anh len lõi giữa những “con hẻm” chằng chịt trên bầu trời, ừ đó, giữa các vì sao chỉ là những con hẻm như những con hẻm ở phố xá đông đúc của Sài Gòn, anh len lõi để tìm những vì sao lạ mà từ trước tới giờ chỉ nghe nói tới trong sách vở.

Rồi Việt bắt gặp không phải một mà là một cặp sao long lanh chứ không phải là lung linh, sao chớp chớp liên hồi, hai vì sao này chắc chắn có sự sống vì trong sao có nước, ở đâu có nước là ở đó có sự sống mà, và hơn nữa sẽ là sự sống động bởi sao tràn đầy nước. Một lúc sau thì hai ngôi sao biến mất, Việt lại lần trong các ngõ hẻm để đi tìm, bây giờ thì anh đã xóa khoảng cách tầm nhìn, bầu trời không gần như tay với của bầu trời vùng Cao Nguyên đất đỏ, nhón chân hái được sao trời thì anh đã bay lên, bay lên hòa trong nó để chơi trò chơi trốn tìm, hai vì sao ẩn ẩn hiện là “ai trồng khoai” đất này nữa mà không phải là đôi mắt cô nàng Nụ Tím Gia Long.

Với Việt, bầu trời này chính là biểu tượng nơi đây. Và anh lại ước ao, Việt chưa bao giờ ngưng khao khát ước ao, anh ước ao cả đất nước có bầu trời biều tượng, rồi rộng ra hơn nữa là toàn cầu, một bầu trời bình yên, lấp lánh.

Sáng Chúa Nhựt, Việt dắt con chiến mã ra thì một anh bạn hỏi:

“Việt có về thị trấn hông, cho mình quá giang với? mình về thăm người bà con.”

Việt đáp lời:

“À, hông, mình đi…” – Việt tần ngần chút rồi tiếp: “A, nhưng cần về dưới thì mình chở đi.”

Anh bạn lắc đầu:

“Đâu dám làm phiền quá vậy. Để mình tự đón xe thôi.”

Việt phẩy tay:

“Phiền phức gì chứ. Đây xuống dưới có bao xa, chừng mười lăm cây số chứ mấy, chạy cái vèo là tới. Vả lại mình cũng chỉ đi dạo mà thời gian còn cả ngày. Ra mình chở đi, mau lên, không gì dượng gì hết.”

Anh bạn cười xòa bước ra lên xe để Việt chở đi. Chạy một đoạn, anh bạn hỏi:

“Việt định đi dạo ở đâu, quanh quanh các xã hả?”

Việt trả lời:

“À hông, mình đi ngược hướng này, chạy lên trên đèo Phượng Hoàng á, xem trên đó ra sao? Minh không dám rủ ai hết, sợ cười mình khùng điên cán cuốc.” – Anh cười hi hi. Lúc ngắm trời đêm, Việt không nhón hái sao được như ở Đà Lạt hay Pleicu, anh nghĩ đứng trên ngọn núi phía trên gần đây có lẽ được thì sực nhớ trên đó có con đèo Phượng Hoàng. Bữa nay anh muốn du hí tới nó.

Anh bạn cười:

“Đúng là khùng thiệt. Ui, giỡn chơi thôi nghen, chỉ là khác người một chút. Bữa nào cho mình theo khùng điên một bữa với.”

Việt nhún vai:

“Gì thì được chứ đừng khùng khùng theo.”

Đôi bạn chuyện trò thiệt vui cho tới nhà người bà con của anh bạn ở thị trấn. Việt quay đầu xe, nói với lại khi anh bạn nhắc cẩn thận vì trên đèo hoang vắng lắm:

“Cảm ơn nhé! Chiều mình xuống đón, nhơn tiện uống dùm ly cà phê Ninh Hòa xem ra sao luôn hén.”

Việt chạy tà tà, ngắm nghía làng quê với nhà cửa khá thưa thớt hai bên đường, chừng hai mươi phút sau thì anh trở lại Trung tâm huấn luyện, tiếp tục hạy qua luôn, anh chạy chừng vài cây số nữa thì hết đường bằng, đường bắt đầu lên dốc, chân núi khá cao xuất hiện, rồi dốc ngày một cao hơn và đường ngày càng quanh co, uốn qua lượn lại trông rất đẹp mắt.

Việt ngừng lại ở lưng chừng dốc. Từ dây dòm xuống phía dưới thấy  nguyên cả Trung tâm huấn luyện nằm trọn trong một thung lũng. À, không chỉ có “Lò luyện thép” mà còn các Trung tâm khác, Trung Tâm huấn luyện Lam Sơn, huấn luyện tân binh quân dịch *(* binh lính bắt buộc) và Hạ sĩ quan bộ binh, cùng với Trường Pháo binh nữa. Các Trung tâm vào ngày Chúa Nhựt không nhộn nhịp như thường ngày bởi vắng sự luyện tập của binh sĩ. Việt tưởng chừng như đây là khu dân cư yên ả. Nếu được là một khu dân cư thì quá đỗi tuyệt vời.

Một mình một ngựa Việt tiếp tục chạy lên nữa. Dĩ nhiên con đường Quốc lộ 21* (*nay là 26) chạy lên Ban Mê Thuộc này ngày càng dốc và càng khúc khuỷu. Và không khí càng trong lành. Một màu diệp lục đậm chiếm hầu hết các nơi bởi những cánh rừng nguyên sinh trên đồi núi. Chạy án chừng gần hai chục cây số tính từ Trung tâm của mình thì Việt lên tới đỉnh đèo. Anh tìm một chỗ khá bằng phẳng, rộng rãi với bãi cỏ mềm, một tảng đá lớn ven đường mà tựa người, thả hồn trong bầu không khí thoáng đãng, lạnh nhè nhẹ. Lâu thiệt là lâu mới có một vài người chạy xe Honda, và xe hơi chạy xuống lên. Những người trên xe thiệt là ngạc nhiên khi nhìn thấy Việt ở nơi này. Không ngạc nhiên sao được, ngạc nhiên như chú nai vàng ngơ ngác ấy chứ.

Việt thả hồn cho thoải mái chứ không nghĩ ngợi gì nhiều. Anh muốn tận hưởng từng khoảng khắc tuyệt vời này. Có chăng là Việt nghĩ tới những án thơ, anh sẽ làm những án thơ lãng mạn làm quà tặng cho Nụ Tím Gia Long khi mùa Xuân sắp sửa đến. Còn không bao lâu nữa, mười ngày nữa thôi là năm mới sẽ đến với mọi nhà.

Nghĩ tới điều này, Việt chợt nhớ ra phía dưới chưn đèo có con suối, không những một mà tới hai con suối chảy quanh, bao bọc lấy các Trung tâm huấn luyện, bao bọc lấy Dục Mỹ. Một con suối có một nhánh bắt nguồn là nước nóng được đặt tên suối Đá hay suối Trầu và một con suối với tên gọi suối Cầu Treo là con suối bắt nguồi từ núi Vọng Phu danh tiếng.

Ngồi chơi ở đây cũng khá lâu, hồn anh với không gian, với không khí nơi này khá hòa quyện. Tuy quyến luyến nhưng cũng đã gần tới trưa, Việt muốn xuống suối xem sao, may ra sẽ tìm được một sản vật nho nhỏ gì đó, một hòn đá đẹp, một nhành phong lan hay gì đó để đính kèm cùng bài thơ thì còn gì bằng. Anh đứng dậy quay đầu xe trở xuống.

Việt rón rén để nhẹ thử bàn chưn xuống con suối, suối mát rượi, có lẽ nhánh suối nước nóng ở khá xa phía trên không còn ảnh hưởng gì. Lội một lúc nữa thì suối lành lạnh chứ không chỉ là mát. Rồi Việt cảm nhận như bầu không khí xung quanh tỏa màu vàng vàng rất là mùa thu chứ không phải mùa đông, cũng không sắp vào mùa Xuân. Thấy khá lạ nên anh quan sát kỹ. Và xa xa, từ một bụi cây lý giải cho điều đó, bụi cây mang một màu vàng. Việt đi lại gần hơn, thì hóa ra đó là một cây mai nở bông sớm vàng rực. Cây sum xuê nhiều nhánh, gốc to phía bên dưới nên chẳng khác gì một lùm bụi. Mai vàng phương Nam là nét đặc trưng không gì sánh được nhưng không thấy ai gọi Xuân vàng, có lẽ Xuân Hồng thì may mắn hơn, và cũng có lẽ đã có thu vàng, Xuân tươi nhiều nụ nhiều màu nên nhường vàng cho thu. Việt nghĩ vẩn vơ một chút cho vui, anh dạo quanh bắt gặp thêm một số mai nở sớm nữa. Vậy là rừng nơi đây mai khá nhiều.

Việt dò tìm xem có cây nào chưa nở, anh sẽ cắt vài nhành đem về. Tìm không lâu Việt gặp một cây gốc rất bự, bự hơn bắp chưn anh, một cây rất là già, phải gọi là cội. Cội mai có nhiều nhánh ra ngay dưới gốc u nần rất đẹp và ra nụ xanh rất nhiều. Việt suy tính một hồi rồi rút con dao bấm ra, dao tuy nhỏ nhưng bén ngót, anh có thể cắt gọt, khía khịa lâu lâu một chút cũng sẽ đứt. Miệt mài hơn một tiếng đống hồ, Việt cắt được ba nhánh, một nhánh cao nhưng gốc không lớn anh sẽ vô chậu bằng cái thùng đạn rỗng anh vửa nghĩ ra để tại Thao trường, hai nhánh sẽ theo mình về phép. Dù nhà trồng mai khá nhiều nhưng mai rừng vẫn rất khác mai nhà, mai nhà hiếm có gốc u nần sần sùi cho hình thù đẹp mắt.

Việt về phép trước Tết được năm ngày.

Buổi sáng về tới nhà, chừng hai tiếng đồng hồ sau là anh đi tiếp. Nơi thứ hai Việt muốn ghé dĩ nhiên là ngôi trường của Nụ Tím Gia Long, nhưng lúc này thì hãy còn giờ học, Việt đành ghé lại quán cà phê. Ngôi trường của mình anh chạy ngang đầu tiên rồi.

Việt vận nguyên bộ quân phục, anh đội chiếc bê rê nâu* (* mũ nồi nâu) nhái thôi vì chưa nhận được chiếc chánh hiệu. Không phải vì Việt muốn làm dáng khoe khoang, lấy le với thiên hạ, dĩ nhiên có một chút hãnh diện nhưng cốt yếu anh muốn gặp lại chàng mắt kiếng để tỏ rằng mình không hèn nhát. Việt dựng xe, vài đứa trẻ ở gần chạy lăng xăng lại xung quanh như anh thuở bé, một đứa la lớn:

“A, ông Tây đen còn lang thang ở đây kìa tụi bây.”

Việt bật cười. Mới một tháng mà anh đã biến đổi màu da từ châu Á tới tận châu Phi. Một đứa nữa nói:

“Ông lính Tây mà cũng biết chơi mai nữa hén.”

Rồi một đứa chào:

“Hé lô (Hello).”

Mấy đứa nữa hùa theo hé lô, hé lô. Việt dựng xe xong, anh đưa tay chào lại:

“Chào các em.”

Mấy chú nhóc chưng hửng. Một chú cười hi hi:

“Ổng người Việt mình tụi bây ơi, Tây đâu mà Tây hả mầy.”

Mấy đứa cười theo. Chú nhóc nghĩ là Tây gãi đầu:

“Ông này bự tổ chảng, da đen thùi, tao tưởng Tây thiệt chớ.”

Việt ngoắc mấy đứa lại:

“Lại đây mấy em. Lại đây đi, anh hông có cắn đâu.”

Sau một hồi tần ngần thì mấy nhóc tiếng sát lại. Việt móc trong túi quần ra mấy thỏi socola phát cho mấy nhóc, anh tiếp:

“Mấy đứa chia nhau ăn chơi cho vui, và ngoan ngoãn nhé.”

Mấy chú nhóc ríu rít cảm ơn và dạ đều tăm. Việt nhớ những ngày nhỏ cũng thường được mấy ông lính Tây cho socola mỗi lần gặp. Cả đám nhóc lẫn ông Tây đều rất vui như anh cùng tụi nhỏ lúc này.

Việt bước vô quán. Vài người đã đứng tuổi vẫn dở nón ra chào, người không đội nón thì nghiêng mình, gật đầu, vài chàng thanh niên thì chào theo lối nhà binh. Việt cảm thấy lâng lâng người, những người lính thiệt là được kính trọng dù ở cấp bậc nào. Anh vui vẻ cuối người, gật đầu đáp trả lại hết và kèm cùng lời cảm ơn. Việt hơi tiếc một chút, quán không có mặt chàng mắt kiếng, có lẽ giờ này chàng ta đang “gạo” ráo riết trong lớp học.

Rồi Việt rời quán, xuất hiện trước cổng trường. Bất ngờ quá đỗi, Nụ Tím Gia Long đứng như trời trồng. Sau đó, cặp đôi lững thững bộ hành như ngày chàng ta lẽo đẽo theo sau. Không khí lúc này chưa Tết lắm nhưng với nhành mai ôm trước ngực, Nụ Tím Gia Long đã kéo Xuân về sớm hơn, còn chàng lính mang đến cho mọi người một bầu không khí được bảo vệ an bình.

Tiếng pháo nổ, tiếng pháo nổ giòn tan khắp thôn xóm, khắp phố phường những ngày giáp Tết. Lai rai hổm rày pháo đã nổ đì đùng, pháo nổ ở những nhà cúng Tổ thợ nghề, cúng ông Táo, cúng Tất Niên sớm, cúng rước Ông Bà sớm. Đêm Giao Thừa và sáng mùng Một thì ôi thôi, pháo nổ liên hồi, xác pháo rợp trời. Đêm Ba mươi, Việt cũng vận bộ quân phụ cùng Nụ Tím Gia Long cũng với tà áo dài tím thẫm dạo chợ bông Nguyên Huệ. Đôi trai tài gái sắc và hàng ngàn, hàng ngàn lượt người ăn bận đẹp với chợ hoa như tương tác với nhau, bên này làm cho bên kia rực rỡ lên, bên kia tôn vinh cho bên này thêm sắc thái. Tết, chỉ có Tết, không còn mấy nỗi lo gì khác, không còn mấy nỗi lo chiến tranh, chiến trận.

Và, tiếng pháo nổ đì đùng cũng là tiếng đưa tiễn Việt trở lại với thao trường sau mấy ngày Xuân nồng.

Đã bước sang đầu tháng Tư Dương lịch, tức đã hai tháng sau Tết Nguyên Đán. Một buổi sáng Chúa Nhựt, Việt chạy ra sân bay khá sớm, đón chiếc không vận C 133A to lớn hạ cánh chở kèm theo khá nhiều người đi thăm. Lần lượt đoàn người bước xuống hết, tuy nhiên, người mà Việt chờ đợi lại không thấy, anh thất vọng lắm lắm.

Ông sĩ quan xuống cuối cùng đi vào Trung tâm, Việt đưa tay ngang trán chào ông tuy lúc này anh bận đồ savin, thấy Việt và một vài người nữa đứng có vẻ thẩn thờ ông hỏi:

“Các cậu đón người thân phải không?”

Việt đáp:

“Dạ, thưa Thiếu tá.”

Thiếu tá cười:

“Phiền các cậu đợi chút nữa nhé. Còn chuyến sau, chuyến này đông quá, chở không hết.”

“Dạ, không phiền chi hết, thưa Thiếu tá.” – Việt quay sang nhóm cùng chờ: “Thì ra là vậy.” – Cà nhóm tươi vui trở lại.

Chừng một tiếng đồng hồ sau thì một chiếc trực thăng đáp tiếp. Nụ Tím Gia Long bước xuống thì cuối người chạy ào tới chỗ Việt, mái tóc mượt của cô nàng bay bay gần như xoay vòng trong gió nhưng không thấy rối chút nào. Cô nàng liếng thoắng:

“Em tưởng đến sớm chứ. Máy bay cất cánh trước cả chuyến kia thiệt lâu, nhưng phải ghé lại sân bay Căn tại Phan Thiết để làm việc gì đó. Anh đợi có lâu hông?”

Việt vuốt sửa lại mái tóc cô nàng:

“Lâu, lâu lắc hà. Đợi chờ hình bóng của em, mỗi giây mỗi phút mà như cả thế kỷ á.”

Nụ Tím Gia Long hứ dài:

“Thiệt hông đó. Hay nói gió như mấy ông văn chương.”

“Anh có văn chương đâu.”

“Anh thì có khác gì.”

Việt cười hì hì:

“Thôi ta đi ăn sáng đã cái nhé.”

“Anh đãi em món gì nè.”

“Anh sẽ đãi em món lạ nơi đây.”

“Em biết rồi. Nem nướng Ninh Hòa nổi tiếng chứ gì?”

“Ưm, Nem nướng thì ai cũng biết rồi. Chỉ để đem về làm quà thôi. Anh sẽ đãi món khác.”

Đưa nàng tới quán ăn. Việt gọi cho hai tô. Đó là hai tô… phở. Nụ Tím Gia Long dĩ nhiên tròn xoe đôi mắt nai. Thế rồi từ từ mới nhận ra điều lạ. Phở nơi này là phở heo chứ không phải phở bò như thường lệ ở các nơi, rau sống ăn kèm cũng rất lạ chứ không là những cọng húng quế, ngò gai, ngổ, thay vào đó là rau tựa như rau ăn mì Quảng trên xứ sở hoa anh đào, những vòng bắp chuối tròn tròn, bắp cải được xắt sợi mỏng, và vài lá rau thơm* (*húng lủi),… Nụ Tím vừa thưởng thức vừa gục gật:

“Đúng là lạ thiệt á anh, nhìn đã thấy lạ rồi, ăn thì càng lạ về mùi vị hén, ngon thiệt là ngon. Cảm ơn anh hen!”

Việt chở cô nàng đi… Hiển nhiên là đi chơi, nhưng đi đâu đây ta? Xuống thị trấn Ninh Hòa chắc? Không. Giống bé cái lầm như anh bạn của Việt, Việt chở cô nàng ngược hướng, lên đèo Phượng Hoàng.

Trên đường đi, Nụ Tím Gia Long cũng đoán:

“Mình đi suối Đá đó đa?”

Việt có đôi chút ngạc nhiên:

“Sao biết có suối Đá ở đây?”

“Ưm… em nghe ngóng được thôi.”

“Nghe ngóng cũng khá ha. Nhưng bữa nay mình hông đi suồi Đá.”

“Đi ra ngoải sợ chứ gì?”

“Sợ gì?”

“Sợ gặp người ta ở điểm hẹn hò, đã từng hẹn hò ở đây chứ gì. Rồi người ta nghĩ bữa nay Chúa Nhựt cũng sẽ vậy. Ôi! sợ có nhiều người ta nữa đó chứ. Ở đây nổi tiếng có các cô gái đẹp mà.”

Việt không nín được cười, anh cười khục khục:

“Nghe ngóng không những khá mà phải nói là giỏi dữ. Đúng là ở đây tiếng tăm về các cô gái đẹp. Nhiều chàng lính chết mê chết mệt luôn. Nhưng anh thì cần gì, anh chỉ yêu mỗi sắc tím mà thôi.”

Nụ Tím Gia Long nghe mà sướng rên mé đìu hiu, nhưng cô nàng giả bộ giả lả:

“Thiệt hông đó. Hay lại nói gió nữa đây.”

“Thề giữa đèo Phượng Hoàng này luôn.”

“Í, í, thôi đi, thôi đi, khỏi thề gì hết, em biết rồi. À, vậy mình đi chơi đèo Phượng Hoàng hả anh.”

Việt gật đầu:

“Đèo đẹp lắm!”

Đến đỉnh đèo, tiếp tục ở chỗ thoáng đãng Việt hay ngồi để ngắm toàn cảnh. Rồi Việt đưa cô nàng đến một chỗ mà anh mới phát hiện phía dưới đèo một chút và men men phía sườn đồi một chút.

Đến nơi, rải rát đây đó có những cây sim, mùa sim bắt đầu nở bông, lát đát vài bông hoa nở tím màu, thiệt là trùng hợp, tím rừng hòa lẫn tím Gia Long. Nhờ tím này mà một khoảng thời gian xa vắng Việt đỡ nhớ tím kia biết chừng nào, bởi nó cho thấy hình bóng cô nàng trước mặt.

Ở chỗ nào cũng lạ lẫm với cô nàng Nụ Tím Gia Long, chỗ nào cũng hút hồn cô nàng. Mùa sim nở rộ thì chắc chắn còn hút hồn nhiều nữa. Chọn một cội sim già, đôi trai gái trẻ ngồi thủ thỉ tâm tình. Và dĩ nhiên không thể thiếu một bông sim cài trên mái tóc óng mượt. Nụ Tím Gia Long mơ ước:

“Ước gì mình được ở nơi tuyệt vời này há anh.”

Việt gật đầu:

“Ừ. Những biết đâu được, có thể một lúc nào đó mình sẽ tới đây, sẽ cất ngôi nhà nhỏ bên cạnh gốc sim già này, sẽ trồng rau và nuôi một đàn cừu, một đàn dê, sẽ có một mảnh vườn đầy bông hoa mà ở  đó những đứa con nhỏ thân yêu thỏa thích chơi đùa, thỏa thích hưởng thụ bầu không khí trong lành, bình yên, thỏa thích ngắm sao trời về đêm.”

Việt tả lại bầu trời đêm làm cô nàng Nụ Tím Gia Long càng thích mê mệt. Nàng không thể thôi mơ ước:

“Ngôi nhà nhỏ trên sườn đồi nhỏ thôi, không cần trên thảo nguyên mênh mông, và chúng ta sẽ bình yên mãi mãi ở nơi tuyệt diệu này.”

Gốc sim già lay động, chứng nhân cho đôi lứa thủy chung. Và Việt hẹn trở lại, không phải là lần đem vật liệu để xây tổ ấm, sẽ sớm thôi, một tháng sau thôi, đó là ngày cuối anh ở thao trường, sau đó sẽ chánh thức trở thành người lính. Hẳn chắc chắn Nụ Tím Gia Long phải có mặt ở buổi lễ này.

 

***

 

Nhưng không có buổi lễ diễn ra, không bao giờ có, Việt không nhận được cái bê rê nâu chánh thức, không bao giờ.

Trước ngày tốt nghiệp một tuần, một tin chấn động được báo đến, chấn động như cơn địa chấn với mức báo động đỏ ở nơi chưa bao giờ có rung chấn dù nhỏ nhoi, quân đội Quốc gia đã thất thủ, từng vùng đất dần dần rơi vào tay quân Bắc Việt, và quân Bắc Việt hăng máu càng say máu tiến nhanh, tiến đã gần đến nơi này, sắp sửa nuốt trọn, nuốt chửng  miền Nam.

Nhận được tin, ai nấy đều bàng hoàng. Song, gạt bàng hoàng sang một bên, tất cả đều một lòng xin nhận súng nhận đạn để góp công sức cùng chống trả, chặn đứng đường tiến quân để không bị thôn tính. Rồi, một lần nữa lại nhận được lịnh mà thất thần, lịnh không chống trả, Trung  tâm sẽ giải tán và chuẩn bị đi tản.

Còn nỗi đau đớn nào hơn?

Cho tới lúc này thì với Việt, không có nỗi đau đớn nào lớn hơn nữa. Buồn rầu, thất vọng, anh xách xe ra đạp nổ máy chạy đi.

Anh chạy bất định, chạy trong vô thức, chay theo kiều của con ngựa quen đường cũ. Mọi hoạt động kể cả của người dân sở tại dường như chững hết lại, dường như thời gian không còn chạy nữa, không gian cũng chững lại thành không gian tĩnh. Việt anh đang băng băng chạy trong một mô hình mà điêu khắc gia mô tả các trạng thái hoạt động của con người, của cảnh vật bị dừng lại một cách gây ngạc nhiên, giống như người ta đang biều diễn thì cho ngừng các con rối.

Và rồi Việt rùng mình, với một bầu không gian lặng im như tờ thì càng làm lộ rõ tiếng đại liên nổ giòn. Anh rồ ga mạnh, cắm đầu chạy, chạy và chạy, lỗ tai anh khản đặc tiếng súng liên thanh đang càng lúc càng ré lên, tiếng súng chát chúa rượt đuổi ngay sau lưng mình. Càng lúc thì Việt càng lạnh gáy, anh ngoái nhìn lại phía sau, tiếng súng rất gần, gần sát bên tai nhưng tuyệt nhiên không thấy một bóng người, không thấy một họng súng nào cả. Ngay lúc đó thì mấy tiếng “quạt, quạt, oác oác” gì đó phát ra xen ngang, có thể là tiếng của con quạ, có thể là tiếng của con diều hâu, cũng có thể là tiếng của con kền kền chuyên rình mò ăn xác chết, Việt không rõ lắm là tiếng gì, ở đây anh chưa thấy kền kền bao giờ, nhưng những tiếng này đã đánh thức tâm trí Việt, làm gì có ai truy đuổi anh với đạn bay cheo chéo bên mang tai, đó là tiếng nổ cùa ngay chính chiếc xe của anh mà thôi.

Định thần được phần nào thì Việt cũng vừa chạy tới đỉnh đèo. Những con ngựa cũng quen thuộc với bến bãi. Anh dừng xe như mọi khi ở nơi này.

Đêm xuống. Bầu trời có đầy ánh sao hay không? hình như là có, có cả ánh trăng sáng tỏ hay một nửa vầng trăng sáng gì đó. Việt chẳng màng, chẳng thiết bầu trời đẹp hay là không, anh cũng chẳng thiết tới thời gian, chỉ thấy màn đêm thì biết nó là đêm. Bầu trời lúc này vô tác dụng với anh cũng như trong suy nghĩ của mình anh là một người vô dụng.

Phiến đá mọi lần là điểm tựa cho Việt thì nay lạnh lẽo, chẳng khác nào một khối băng vĩnh hằng. Thân thể của Việt cũng đâu có khác gì mấy, người anh ngồi đó gần như bất động và cứng đờ, xụi lơ. Anh lim dim anh nhắm mắt, anh nhắm mắt anh lim dim, anh ngước đầu lên bầu trời, vũ trụ đẹp đẽ ngày nào để anh thả hồn len lõi tìm ánh sáng, tìm con đường chân lý của ánh sáng thì nay đã biến thành một vòm hầm tối tăm, tối tăm bịt bùng bao phủ, anh cuối đầu, không có những hàng sim, không có gốc sim già, không có những dãy đồi tiếp nối những dãy đồi nhấp nhô với những bãi cỏ non xanh mướt, cũng chỉ có một màu đen chiếm hết mọi chỗ, chỉ có một con đường hầm tăm tối, ngày một tăm tối dẫn xuống vực sâu đen ngòm…

“Sự đau khổ tận cùng có thể dẫn đến một trong hai phản ứng trái ngược nhau: Một là nó làm cho người ta trở thành cay đắng, chua chát và thù hận với mọi người; hai là nó làm cho người ta trải đời, từ đó, độ lượng và nhạy cảm hơn trước những nỗi đau của người khác.” (Nhà thơ Phan Quỳnh Trâm)

Trạng thái thứ nhứt đã vận vào người Việt. Anh tức tối, còn hơn là tức tối, anh điên tiết lên, anh gồng mình hét lớn: “Hèn nhát, những kẻ hèn nhát.” – Đó là anh nói tới những người chỉ huy ở Trung tâm. Tại sao phải giải tán, tại sao phải bỏ chạy, tại sao không chống trả tới hơi thở cuối cùng? Tại sao cũng chính những người chỉ huy này, trong các bài tập, các bài giảng luôn luôn hò hét, luôn luôn ủy lạo để vực dậy tinh thần cho các tân binh thụ huấn? Có những lúc Việt té sấp mặt xuống vũng sình, người không nhúc nhích nổi, anh muốn nằm chết lịm luôn cho rồi, nhưng anh vẫn phải cố gượng người dậy để vượt qua. Và được chính những vị chỉ huy này khen ngợi: “Phải như thế chứ, phải đi đến cùng…” – Cớ sao bây giờ lại như vậy? Cớ sao bỏ mất lời thề : “Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm.” – Cớ sao không hãy cứ chiến đấu, dù có chiến bại, dù có chết cũng phải chết một cách hiên ngang, một cách xứng đáng chứ.

Việt vùng đứng dậy, anh bặm môi muốn bật máu: “Ta sẽ bắn hết các ông, một lũ hèn nhát. Ta sẽ bắt các người cùng chiến đấu, ta sẽ bắn hết sạch những kẻ bỏ chạy”

Bầu máu nóng hừng hực như lửa chảy trong người Việt, chưa bao giờ tình cảnh này diễn ra, đây là lần đầu tiên trong đời anh không tự chủ được mình, không chờ suy xét mà hành động ngay, Việt nhào đến chiếc xe, nhảy ào lên vừa lấy chưn hất cho xe chạy vừa đạp máy và rồ ga hết cỡ…

Trở về tới Trung tâm, Trung tâm ngổn ngang như một bãi chiến trường, chỉ không có mùi khét của lửa cháy, của thuốc súng, và không một bóng người. Máu của Việt dịu xuống thì anh trở thành một chú bé ngơ ngác nhìn chim bay, một chú bé ngơ ngác lạc vào khu đất vừa bị địa chấn làm cho mọi thứ ngổng ngang mà không hiểu vì sao. Vừa chiều qua chỉ mới có thông báo chung chứ chưa có báo động khẩn cấp, vậy mà chưa hết một đêm, mọi người đã đi hết cả, không còn lại một ai dù bây giờ trời còn chưa ửng sáng.

Việt mệt mỏi lê bước về lán trại của mình. Vừa đi anh lại muốn quay đầu chạy đuổi theo để nã đạn vào những người chỉ huy, nã đạn vào những kẻ nào anh thấy sự hèn nhát, nhưng ngọn lửa máu đã không còn ngùn ngụt, người thì mệt mỏi rã rời nên Việt thả người cái ình, bệt người dựa vách trong lán.

Rồi Việt bật khóc ngon lành, khóc như một đứa con nít, một đứa con nít bị đem bỏ bơ vơ giữa chợ, giữa đường, anh khóc không kìm nén được, khóc như thể sự tổn thương là sự hồn nhiên. Có chuyện quái dị này nữa sao? Đã khóc mà hồn nhiên? Có chứ. Có lắm chứ. Có bật cười hồn nhiên vì một sự việc nào đó làm cho bật cười thì khóc cũng vậy thôi, một cách của trạng thái vô thức vậy, chẳng hạn đứa bé bật khóc huhu vì té đau rồi nó sẽ nín bặc ngay khi hết đau, nó ngay lập tức trở lại bình thường, thậm chí là cười ngay sau đó mà chẳng cần truy căn nguyên, chẳng cần nhớ sự việc vừa trải qua ra sao hay lưu trữ điều gì. Việt không có được điều này, cũng như không có sự hỏi han ân cần của nhiều người khi bắt gặp một đứa con nít đứng khóc bơ vơ, xung quanh anh chỉ là những đống ngổng ngang, anh không ngưng bặc được tiếng khóc, khóc bây giờ chuyển dạng thành rưng rức, rưng rức…

Khóc òa òa, rồi sau đó thôi ngay, để cho sự việc gây nên khóc bay theo một cơn gió, trôi theo một dòng nước đi mất tiêu thì sẽ rất dễ chịu, dễ trở lại bình thường như chưa từng có việc gì xả ra. Rưng rức thì không, rưng rức rất khó chịu. Rưng rức nó làm cho thân thể Việt cứ cách một khoảng thời gian ngắn lại rung hoặc giựt giựt, rung giựt nhẹ bên ngoài nhưng bên trong thì tựa hồ có một con dao được mài sắc lẹm, bén ngót cứa thành những vết thương lòng nhức nhói, nhức nhói tàn canh.

Lần đầu tiên Việt bị mang những vết thương lòng vượt giới hạn. Là người mẫn cảm và sự việc lại xảy ra lần đầu nên anh cảm thấy chắc chắn rằng không thể vượt qua được. Tâm hồn Việt chất chứa không phải là sự kiêu hãnh mà chất chứa nỗi niềm tự trọng, quá đỗi dễ tổn thương khi gặp phải biến cố.

Việt lắc đầu quầy quẩy rồi lầm bầm, tự hỏi và tự trả lời cũng với giọng rưng rức: “Không thể được, không thể nào chịu đựng nổi. Vậy thì phải làm sao? Làm sao thoát ra tình cảnh này? Thoát ra bằng cách nào ?… Ừ, thoát ra bằng một… viên đạn là gọn gẽ nhứt, là mau lẹ nhứt. Ừ, hãy chết quách đi cho rồi, gì gì đi chăng nữa cũng là một kẻ bại trận dù chưa một lần ra chiến trường, chưa hề bắn được một viên đạn gọi là chiến đấu. Trở về để làm gì khi trong người mang vết thương. Vết thương lòng nặng trĩu sẽ gặm nhấm tâm hồn như lũ dòi bọ chui rúc lúc nhúc gặm nhắm xác chết chứ chẳng thể khác được đâu…”

Việt lê bước xiêu vẹo đến kho Quân tiếp vụ. Đồ Quân tiếp liệu vương vãi khắp kho. Lục tìm một hồi thì anh cũng tìm được khẩu súng lục và hộp đạn. Việt run run mở hộp đạn, anh muốn sự vụ kết thúc càng nhanh càng tốt nên nạp đạn thiệt lẹ, nhưng càng muốn nhanh thì càng run, run lật bật làm viên đạn cứ trật lên trật xuống và có viên rơi rớt xuống đất. Việt cũng không nghĩ ngợi nhiều về sự lo sợ để đến nỗi phải run run, anh nghĩ nó nhẹ nhàng như sợi lông hồng, nhưng không hiểu sao lại xảy ra như vậy, có lẽ cũng là rơi vào trạng thái vô thức, hay là một trạng thái tiềm thức lo âu trong trí não bị đánh thức mà anh không làm chủ được. Việt nạp được vài viên cho khẩu rulo, anh muốn nạp cho đủ sáu viên, vẫn với dáng dấp xiêu vẹo, vừa bước đi vừa nạp đạn, anh va vào một vật gì đó làm vang lên tiếng rổn rảng, ngoái đầu dòm thì ra đó là những két la de* (bia, bia Quân tiếp vụ dành cho quân nhân, một loại với bia Con Cọp của hãng BGI) chất chồng ở đây. Chợt Việt nảy ra ý nghĩ rằng, có chết, cái chết của kẻ thua cuộc chăng nữa cũng cần phải có cái chết đẹp đẽ một chút, một cái chết lãng đãng một chút, anh hếch mép cười khảy, chết với một chút men trong người như người ta biểu diễn túy quyền trước khi giáp trận cho nó có một chút oai phong, bớt đi sầu thảm và biết đâu chừng linh hồn còn được là đà sương khói. Ý nghĩ này đến làm Việt nạp đạn dễ dàng. Đút khẩu súng vào đai lưng quần, Việt rút một chai la de bật nắp tu ừng ực, anh rút tiếp chai nữa đút vào túi quần bên, tay cầm thêm hai chai nữa đi ra khỏi kho. Trên đoạn đường đi anh với tay lấy mấy tờ tạp chí anh nghĩ sẽ có thơ trong đó, đọc một vài bài thơ và vài bài của mình nếu nhớ hết thì càng có cái chết đẹp đẽ. Và không đâu đẹp bằng nơi đỉnh đèo quen thuộc của anh để nằm xuống.

Việt tựa một hiệp khách giang hồ, anh cầm chai la de dốc ngược tu ừng ực, rồi đưa hai cánh tay dang ngang, bước tới bước lui như đảo qua đảo lại, đảo qua đảo lại thì một cánh tay co một cánh vẫn để thẳng và đổi tay cho nhau, đào bên này thì co bên kia, đầu cổ cũng nghiêng qua nghiêng lại theo, anh giống như đang hòa mình vào không gian, bay bay vào không gian, mà cũng giống người ngà ngà say, chưn nam đá chưn chiêu… Song, Việt ngừng lại, ngửa đầu lên trời đọc thơ. Anh rất khoái những bài thơ cùa thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn, dĩ nhiên anh không thích tâm trạng buông xuôi vì ghét chiến tranh trong thơ của ông, nhưng có những điều rất hợp với tâm trạng anh lúc này:

Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi vì xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí

Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón nơi rừng hoang.

                     (Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi)

 

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu

 

Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui

 

Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoắt đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ thành mây bay

 

Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vấn trong rừng động Thái An
Miền Bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những đám xương tàn.

                (Mật Khu Lê Hồng Phong)

 

Trời bắt đầu ửng sáng. Đứng nơi này nhìn thấy được cảnh mặt trời lên, có thể là rất đẹp nữa, nhưng Việt không chờ đón nó, anh không nhìn về hướng đó, bầu trời hừng sáng, những tia sáng vô giá trị với anh vào lúc này. Việt cũng không nhìn về hướng Tây như lời trong bài thơ.

Và, có điều lạ lùng, có phải chăng cám cảnh của anh mà trời bỗng dưng có sương mù? Không biết nữa, không biết có phải vậy không nữa, nhưng sương mù xuất hiện ngay trước mặt Việt, sương mù là đà như mây khói giữa sơn khê.

Việt nhẹ nhàng đưa bàn tay lướt qua lại trong sương và thấy sao nó mong manh quá, sợ màn sương lơ lửng tan nhanh, tan biến mất liền tay như kiểu cách nó bất chợt xuất hiện,  anh liền đưa ngón tay trỏ lên quyết định tức thì, Việt muốn dòng máu cùa mình, linh hồn của mình hòa quyện trong nó, hòa quyện cùng với sơn khê trong cảnh này là tuyệt đẹp.

Lại có điều lạ lùng hơn, Việt không thấy ngón tay mình, thay vào đó, anh thấy mây khói kết lại thành hình hài, thành hình ngôi nhà của anh, gia đình anh, ngôi làng của anh, những ngôi trường của anh hằng yêu mến, và hơn hết là hình bóng của nàng Nụ Tím Gia Long trong tà áo dài phất phơ, uyển chuyển chẳng khác gì trong mơ…

Tự nãy giờ, tự trong tiềm thức bắt anh hướng nhìn về phương Nam mà anh không hề hay biết, nỗi buồn mụ mị trong anh làm anh quên bẵng tất cả.

Việt lại bị kéo ngồi xuống trong dáng phủ phục. Rưng rức lại kéo tới. Rưng rức dồn dập biến thành thổn thức. “Tội lỗi, ta thiệt là tội lỗi, ta chọn cách êm ái ra đi mà không thèm đoái hoài chi hết đến đấng sanh thành, đoài hoài đến ai hết cả…” – Việt liên tục thổn thức.

Cuồi cùng, dĩ nhiên, cũng với ngón tay trỏ, anh quyết định trở về dù mang trong lòng vết thương loang máu. Và làm bạn với thời gian phía trước, chờ đợi cho những quyết định tiếp theo, cũng hãy chưa có gì là muộn màng.

Lê Đắc Đồng Vọng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÊN LỀ CHUYỆN NHỚ VỀ THÁNG TƯ ĐEN (4.1975)

Kết thúc chiến tranh Việt Nam, sau 30/4/1975, cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt nói “có hàng triệu người vui nhưng cũng có hàng triệu người buồn”. Lời tuyên bố của một quan chức cao cấp cứ tưởng sẽ góp phần định hướng tương lai đất nước, đảng CSVN sẽ hoạch định chính sách từ nền tảng hòa hợp hòa giải dân tộc, hàn gắn vết thương chiến tranh để có hơn “hàng triệu người vui” và không còn “hàng triệu người buồn” nhưng không phải thế!

Bốn mươi ba năm qua, những gì diễn ra trên đất nước này đã làm lộ rõ bản chất gian manh và bịp bợm của những người cộng sản. Hận thù dân tộc ngày càng bị khơi sâu, những người quốc gia và viên chức, sĩ quan chế độ VNCH cùng gia đình họ bị trả thù tàn khốc từ các vùng kinh tế mới đến những nhà tù trá hình mang tên “trại cải tạo”. Điều này dẫn đến việc hàng triệu người bỏ nước ra đi, một số không ít trong số họ chết trên biển, số còn lại, rất may, nhập vào hàng ngũ “hàng triệu người vui” dù cuộc sống quê người không phải là thiên đường.

Càng về sau, kinh tế hoạch định ngày càng thất bại, của cải cướp được từ miền Nam sau 1975, tiền bạc kiếm chác từ thân nhân những người Việt ở ngoại quốc gửi về tập thói quen hưởng thụ cho những quan chức cộng sản. Khi kinh tế suy sụp, họ phải chuyển đổi sang kinh tế thị trường nhưng kèm cái đuôi xã hội chủ nghĩa để bảo đảm sự lãnh đạo của nhà nước.

Càng về sau, niềm tin của đảng viên và dân chúng càng suy sụp, họ bán cả Hồ Chí Minh để bảo vệ đảng. Khi internet vào tận các hang cùng ngỏ hẽm Việt Nam, bản chất gian manh và bịp bợm của họ càng rõ hơn, nguy cơ mất đảng ngày càng cao, họ bán nước cho Trung cộng, Việt Nam lệ thuộc vào phương Bắc ngày càng nhiều nhưng vẫn rêu rao trên các phương tiện truyền thông “mười sáu chữ vàng”. Nhờ internet, dân chúng biết rõ vụ Trường Sa 1988 Hải quân không được nổ súng trước quân xâm lăng Tàu cộng, nhờ internet, dân chúng biết rõ ngư dân bị tấn công, bị cướp nhưng không được quân đội và nhà nước bảo vệ khi chính họ không dám nói thẳng mà gọi là “tàu lạ”. Cũng không lạ gì khi dân chúng truyền tụng nhau câu “Ngư dân bám biển, hải quân bám bờ”.

Chưa hết, chưa có thời nào trong sử Việt đen tối như thời gian cộng sản cầm quyền, khi, để đàn áp tôn giáo, đàn áp phong trào đấu tranh cho dân chủ nhân quyền, họ đã dùng một lực lượng đông đảo quân đội, công an và cả bọn “xã hội đen” là những phường lưu manh, cặn bả xã hội! Chưa có thời nào mà công dân bị bắt vào đồn công an bị giết chết rồi vu cáo là tự tử.

Chưa có thời nào mọi nền tảng giá trị suy đồi một cách nghiệm trọng, con người đối xử nhau tệ hơn cả loài thú, bọn ăn cướp là đảng viên gộc, là sĩ quan cao cấp của công an và quân đội, nếu không cũng được chúng đỡ đầu, bảo kê, từ cướp đất đai đến việc làm ăn, kinh doanh, buôn bán.

Cũng chưa có thời nào mà thị trưởng một thành phố lớn là thủ đô lại muối mặt nuốt lời hứa trên giấy trằng mực đen (có cả lăn tay điềm chỉ) với hàng vạn dân làng Sềnh và trở mặt đàn áp.

Không có thời nào mà Bộ trưởng Giáo dục xào nấu kiến thức cũ, ăn cắp kiến thức người khác viết luận án để kiếm học hàm học vị cũng là chủ tịch Hội đồng xét duyệt công nhận danh hiệu Giáo sư, phó Giáo sư.

Những ngày cuối tháng tư này, lãnh tụ hai miền Nam Bắc bán đảo Triều Tiên đã gặp nhau tay bắt mặt mừng để ngồi lại với nhau. Chuyện thống nhất đất nước chưa biết có thực hiện được và lúc nào sẽ có kết quả nhưng hy vọng việc phi hạt nhân hóa đảo quốc này có hy vọng đang đến gần. Chúng ta mừng cho họ nhưng cũng những ngày này, các tầng lớp nhân dân Việt Nam hy vọng gì?

Dĩ nhiên, câu trả lời tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, địa vị xã hội, trình độ nhận thức mỗi người nhưng chắc chắn có một mẫu số chung không chối cãi được là, đông đảo mọi người mơ một cuộc sống khá hơn, môi trường, thực phẩm được bảo vệ an toàn, thiên tai (bão lũ, hạn hán), mất mùa được khống chế và giảm đáng kể thiệt hại. Quan trọng hơn là: chính quyền, công an thôi sách nhiễu dân chúng bằng thuế má, cướp đất làm dự án để chia nhau bán kiếm lời cho gia đình, phe nhóm.

Một bộ phận không nhỏ nhân dân thấy chuyện chống tham nhũng của ông Nguyễn Phú Trọng lại nhìn thấy đây là cuộc chiến phe nhóm, xa hơn là cuộc chiến giữa phe miền Bắc và phe miền Nam trong đảng cộng sản mơ rằng chúng nó càng giết nhau thì lực lượng ngày càng suy yếu để mở ra một tương lai mới cho dân tộc. Có vậy, khuynh hướng thoát khỏi sự lệ thuộc Tàu ngày càng dễ thực hiện hơn.

Bốn mươi ba năm từ ngày Mỹ phản bội VNCH để Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, những thanh niên ngày ấy đã trở thành những ông già. Những đứa trẻ sinh ra từ ngày ấy thành những trung niên, bị nhồi sọ, lừa gạt một thời gian quá dài, khi nhận ra đã trễ vì có một gánh gia đình nặng để chăm lo và nhiệt tình nhẹ để không còn quan tâm đến vận mệnh đất nước. Thế hệ kế thừa có lý tưởng, có trình độ nhưng không thể ngồi chung với nhau và mặc khác, chuyện áo cơm, chuyện an nguy của người thân là điều cộng sản dùng để dập tắt ý chí đấu tranh của họ.

Tháng tư, cầu mong cho đất nước thái bình, nhân dân an lạc, những kẻ gieo gió phải gặt bão. Luật nhân quả thể hiện ngay trên những con người đã và đang gây ra đau thương, mất mát cho đất nước này, dân tộc này. Cầu mong cho những cá nhân, những tổ chức đã, đang và sẽ đấu tranh cho một ngày mai tươi sáng của đất nước vượt qua khó khăn gian khổ, vượt qua những đàn áp của chính quyền, chân cứng đá mềm để mau đến thắng lợi.

Nguyễn Nhật Huy

Tượng Nữ Thần Tự Do

 

Hình ảnh một ngọn đèn hải đăng, lấp lánh trong đêm tối mù sương trên đại dương sóng dữ, qua bao tháng ngày lênh đênh, luôn làm bừng lên nỗi vui mừng tột độ của người di dân hay tị nạn. Đó là ánh sáng cuối đường hầm tuyệt vọng, đó là bình minh hứa hẹn rực rỡ của một phận đời lưu vong. Di dân tin chắc sẽ đến được bến bờ an lành và qua rồi cơn mộng dữ. Nhất là ngọn hải đăng đó ở bến đỗ của một đất nước hứa hẹn đầy tự do, “miền đất của sữa và mật ong.” Đó là Tượng Nữ Thần Tự Do ở cửa biển New York. 

tuong-nu-than-tu-do2

Vị nữ thần này nay đã hơn 132 tuổi, chào đời trong một thành phố nhỏ ở Paris. Khởi đầu từ Edouard de Laboulaye, một chính khách chống chế độ nô lệ người Pháp. Sau chiến thắng của quân Union kết thúc nội chiến năm 1865, nước Mỹ trở thành biểu tượng cho tự do và dân chủ; ý tưởng xây một pho tượng tặng cho nước Mỹ kỷ niệm 100 năm giành độc lập từ Anh và tình hữu nghị với nước Pháp sẽ được thắt chặt hơn, Ðiêu khắc gia Auguste Bartholdi bắt tay làm tượng từ năm 1870, đặt tên là Nữ thần Tự do soi sáng thế giới. Một pho tượng bằng đồng khổng lồ cao 46m, nặng 204 tấn. Khuôn mặt của nữ thần tựa như mẹ của điêu khắc gia, cơ thể thì dựa theo người tình của ông. Ðầu đội mũ hình vương miện có 7 tia như tỏa ra từ mặt trời, 7 tia như 7 lục địa, 7 đại dương. Nữ thần choàng chiếc áo vải dài như các vị thần Hy Lạp cổ, tay phải nâng cao ngọn đuốc sáng, tay trái cầm tablet có khắc ngày 4 tháng 7, 1776, ngày Quốc khánh nước Mỹ. Thoạt đầu Bartholdi dự định cho nữ thần cầm sợi xích gãy đôi, tượng trưng cho sự giải thoát gông cùm nô lệ. Nhưng sau đó lại sợ biểu tượng còn gây chia rẽ sau khi nước Mỹ vừa kết thúc nội chiến. Vì thế sợi xích gãy được đặt dưới gót chân của nữ thần, phủ che bởi tấm áo dài. Ðầu bức tượng được Bartholdi bắt đầu từ Pháp năm 1877 để trưng bày trong Hội Chợ Thế Giới ở Paris 1878 nhằm quyên góp nguồn tài trợ, còn cánh tay phải cầm đuốc, trưng bày ở Hội chợ Hoàn vũ ở Philadelphia năm 1876 nhằm quyên tiền xây dựng bệ tượng. Kiến trúc sư tài ba Gustave Eiffel (người xây dựng tháp Eiffel) đã góp phần làm bộ khung sườn bên trong bức tượng.

Auguste Bartholdi

Ngày 17 tháng 6, 1885, hơn 200 ngàn người dân New York đổ xô đến dọc bến cảng Manhattan để chào đón chiếc tàu hơi nước Isére từ Pháp. Tượng được chở từ 350 miếng đồng mỏng đóng trong 214 thùng hàng. Người Pháp tặng tượng nhưng phần bệ thì do nước Mỹ đảm nhận. Và thế là một chiến dịch vận động quyên tiền xây dựng bệ tượng đài với giá 250 ngàn đô (tương đương 6 triệu đô ngày nay.) nhưng chỉ góp được 2/3. Thống đốc New York từ chối dùng ngân sách của thành phố, Quốc hội cũng không ủng hộ chi tiền. Baltimore, Boston, San Francisco và Philadelphia đồng ý chi tiền xây bệ với điều kiện phải dời tượng về địa điểm của thành phố của tiểu bang mình. Mọi chuyện chừng như đình trệ nếu không có sáng kiến và sự góp công của Joseph Pulitzer, ông đã dùng tờ báo The New York World của mình để vinh danh những người ủng hộ quyên góp tiền cho bệ tượng. Tất cả những ai dù ủng hộ vài xu đến vài trăm đều được đăng trên trang nhất của báo. Chiến dịch thành công với hơn 160 ngàn người đóng góp, trong đó bao gồm mọi thành phần, từ thương gia, đến chính khách, trẻ em và dân lao động. Trong vòng 5 tháng quyên được 101,091 đô. Ba phần tư trong số tiền đó từ những người lao động góp ít hơn 1 đô la.

Năm 1886, bệ tượng như một tòa tháp được xây xong và tượng Nữ Thần được lắp ráp dựng lên với độ chính xác và nhanh chóng đến ngạc nhiên trong mắt của cư dân. Tất cả đều do nhóm xây dựng gan dạ và cần mẫn của các di dân vừa định cư. Những lá đồng mỏng được uốn dập lắp ráp vào khung sườn thép làm cốt của Gustave Eiffel. Bức tượng được khánh thành trong đại lễ hoành tráng khắp New York. Ngày 28 tháng 10, 1886, mặc sương mù và ẩm ướt, chừng triệu người đổ xô đến New York tham dự cuộc diễn hành vĩ đại qua Manhattan và qua tòa nhà Stock Exchange, các tay buôn bán cổ phiếu hân hoan chào đón từ các khung cửa sổ trên tòa nhà, họ xé các ticket ghi cổ phiếu và tung xuống đường, trông như giấy vụn confetti bay lấp lánh khắp trời, (truyền thống tung giấy confetti được bắt đầu từ đấy!). Pháo bông, súng chào mừng và tiếng hò reo vang khắp trời vào tối ngày 1 tháng 11, 1866.

Đầu tượng trưng bày tại Hội Chợ Thế Giới ở Paris 1878

Cần phải kể thêm câu chuyện về bài thơ ngắn rất hay được khắc vào bệ tượng. Emma Lazarus là nhà thơ nữ trẻ 34 tuổi khi cùng các nhà thơ, nhà văn của New York cùng nhau góp tác phẩm để quyên tiền xây dựng bệ tượng đài Nữ Thần Tự Do. Một bài thơ ngắn sonnet sẽ được bán đấu giá, cùng với các tác phẩm khác của Mark Twain và Walt Whitman. Bà là một nhà thơ nữ trẻ và hiếm hoi trong thời kỳ xã hội còn trọng nam khinh nữ. Bà lại là con cháu của một gia đình di cư gốc Do Thái, nên hình ảnh của tự do luôn đầy ắp trong tâm khảm. Những ký ức của cha mẹ và người Do Thái phải tị nạn do phân biệt chủng tộc và tàn sát ở Nga những năm 1880 chừng như không phai mờ. Và bà viết bài sonnet tựa là Người Khổng Lồ Mới:

Không như tên khổng lồ hống hách tiếng tăm của Hy Lạp,
bước chân chinh phục nối liền hai vùng đất;
Ðứng đây, lúc hoàng hôn, trước những cổng vào tràn sóng biển.
Một phụ nữ oai hùng cầm cây đuốc, mà ngọn lửa giam hãm sấm chớp,
và tên gọi là Mẹ Của Những Kiếp Lưu Vong.
Từ bàn tay hải đăng sáng lên lời đón chào toàn thế giới;
đôi mắt hiền từ bao quát hải cảng với chiếc cầu mây, đóng khung bởi đôi thành phố song sinh.
“Hỡi các miền đất xưa, hãy giữ lại những chuyện cũ phù hoa”,
Bà kêu lên. Bằng đôi môi lặng yên.
“Hãy trao cho ta những đám đông co ro khao khát thở khí trời tự do.
Những kẻ khốn cùng rác rưởi của vùng đất các người chen chúc.
Gởi cho ta những thứ đó, những kẻ không nhà, lao đao trong bão tố,
Có ta nâng ngọn đèn sáng đứng cạnh cánh cửa vàng!”

Bài thơ ngắn được các bạn đồng nghiệp tán thưởng và cho rằng sẽ giúp bức tượng Nữ Thần Tự Do một luồng sinh khí và nâng cao tinh thần tự do sáng ngời như ngọn hải đăng trên đại dương tù ngục mù tối. Thế nhưng bài thơ chừng như bị quên lãng cũng như số phận của bà và các phụ nữ trong thời kỳ bất bình đẳng ấy. Bức tượng được khánh thành trong đại lễ lớn lao nhưng người ta cũng không nhớ đến bài thơ. Ngay cả một năm sau khi bà mất ở tuổi 38 vì ung thư, những dòng phân ưu trên New York Times cũng không hề nhắc đến bài thơ ấy. Cho đến 1903, hai năm sau khi người bạn của bà tìm thấy bài thơ ở trong một tiệm sách và gần 20 năm sau khi bà mất, bài thơ mới được khắc ghi vào bảng đồng đặt dưới chân tượng nữ thần.

Năm 1984, Tượng Nữ thần Tự do được UNESCO công bố là di sản thế giới. Bức tượng như một “kiệt tác tinh thần của nhân loại”, cho những lý tưởng tự do, hòa bình, nhân quyền, bãi nô, dân chủ và cơ hội. Bức tượng là tuyệt phẩm của nhân loại bởi sự hài hòa giữa nghệ thuật và kỹ thuật của thế kỷ 19, của tinh thần hữu nghị giữa nước Pháp và Mỹ, với sự đóng góp của mọi thường dân và các nhân tài, với các giá trị biểu tượng cao quý và vô giá như Tuyên ngôn Ðộc lập của Mỹ cũng như sợi dây xích bị gãy dưới gót chân. Và trên hết là biểu tượng tự do cho người di dân khốn khổ khắp năm châu khi đến xứ sở này. “Những đám đông co ro khao khát thở khí trời tự do. Những kẻ khốn cùng rác rưởi của vùng đất các người chen chúc… những kẻ không nhà, lao đao trong bão tố.”

 

Một phiên bản của tượng Nữ Thần Tự Do cao 2.85m được người Pháp đưa sang triển lãm tại Hội chợ Ðấu xảo Hà Nội năm 1887. Người dân gọi là tượng Bà Ðầm Xòe. Lúc đầu tượng được đặt ở vườn hoa trung tâm gần Tòa Công Sứ (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ). Sau đó, vào năm 1891 đến 1896 tượng được đặt trên nóc Tháp Rùa. Cuối cùng “Bà Ðầm xòe” được chuyển đến vườn hoa Neyret phía tây hồ Hoàn Kiếm – tức là Vườn hoa Cửa Nam gần Thư viện Quốc gia. Sau năm 1945 tượng đồng này bị kéo đổ và bán thành đồng vụn. (Duy nhất những kiến trúc của Gustave Eiffel vẫn còn lại ngày nay là Cầu Trường Tiền trên sông Hương ở Huế và Cầu Long Biên ở Hà Nội.)

Ngày nay tượng Nữ Thần Tự Do luôn là biểu tượng của di dân, của khát vọng mưu cầu hạnh phúc trên miền đất hứa. Những biến động an ninh toàn thế giới làm ảnh hưởng đến luật lệ nhập cư khó khăn vào Mỹ. Nhưng nơi cửa biển New York vẫn mãi còn đó hình ảnh vị Nữ Thần Tự Do luôn chào đón các di dân khốn khổ. Những dòng chữ khắc chạm dưới chân bệ tượng vẫn mãi hoài thử thách những giá trị nhân bản và đẹp ngời của tình người, của nước Mỹ tự do.

Sean Bảo

Có một cái “30 tháng 4” thu nhỏ

 

1.

Ủy ban phường vừa mời một số hộ trong khu phố lên họp để nghe ngành đường sắt công bố lịch cắm mốc giới tuyến đường sắt Trảng Bom – Hòa Hưng. Đúng hơn đây là buổi thông báo gián tiếp về tình hình giải tỏa nhà đất ở phường, sẽ thực hiện nhằm phục vụ dự án làm đường hành lang an toàn song song đoạn đường sắt chạy ngang đất phường mà việc cắm mốc nay mai là để xác định trước vùng cần giải tỏa.

Theo dự án, từ tâm đường sắt tùy chỗ sẽ lấy vô 15 hay 20 mét, nghĩa là hàng trăm căn nhà xưa nay nằm cạnh đường ray gần ga Xóm Thơm sẽ mất mặt tiền hay phần nhà phía trước hoặc bên hông. Riêng nhà ông Hòa cùng mấy chục nhà hàng xóm phải chịu giải tỏa trọn lọn – tức mất trắng, do lọt vào một khu vực dự định cất nhà ga, trạm khách cho tuyến metro trong tương lai, nên từ tâm đường sắt sẽ lấy vô sâu tới 50 mét. Oái ăm nhà ông Hòa nằm cách đường sắt chỉ khoảng 30 mét.

Anh đại diện ngành đường sắt cho biết lịnh giải tỏa và mức đền bù nhà đất sẽ được công bố vào khoảng năm 2020 nhưng chắc sẽ trễ hơn, do chưa có dấu hiệu gì cho thấy ngành đường sắt đã tìm được chỗ vay vốn làm dự án. Lập tức anh đại diện UB phường lên tiếng an ủi: “Còn lâu mà, vậy bà con cứ về an tâm cư trú, làm ăn. Nhà nước sẽ đền bồi thích đáng, sát với giá đất trên thị trường”.

Như thường lệ, ngay trên đường về, nhiều người cùng dự buổi họp đã thản nhiên bàn tán, như “Ối còn lâu mà!”, “Mấy ổng nói vậy chớ Tết công gô mới làm!”, hay ít thản nhiên hơn thì “Chà, hổng biết chừng nào chớ từ bây giờ, đất đã quy hoạch giải tỏa rồi thì mình không được phép sửa nhà, nới rộng, cất lầu gì được. Muốn bán nhà cũng khó có ai mua!”.

Thói thường bấy lâu nay trong bất cứ vụ giải tỏa nhà đất nào cũng đều có người vui kẻ buồn. Có người vui, phấn khởi ra mặt vì tự nhiên nhờ ông nhà nước mở đường mà cái nhà thúc thủ trong hẻm lâu nay của mình được ra mặt tiền đường cái. Hay, nhà mình chỉ bị thụt vô vài mét nhưng lại có cái con đường lớn, công trình lớn như chung cư, trung tâm thương mại, nhà ga metro… mọc lên sát bên, lập tức nhà mình có giá trị hẳn lên, giá đất cũng nóng lên ngay. Ngược lại, nhà nào bị giải tỏa toàn bộ thì chủ nó không khỏi buồn phiền, khổ đau… Như trường hợp nhà ông Hòa, ông đau khổ, tiếc đến quặn đau cõi lòng khi nhận ra rằng bản đồ quy hoạch chỉ cần khác đi một chút, mấy ổng chỉ cần vẽ đường ranh ngắn lại là chừng 20 mét, hoặc lệch sang trái hay sang phải độ 30 mét thì nhà ông đã không dính giải tỏa hay chỉ bị mất vài mét ở đuôi nhà. Và hơn thế, ông sẽ còn như trúng số cá cặp: khúc hẻm không còn nữa, căn nhà dấu mặt của ông sẽ rỡ ràng nhìn ra một khu công trình hoành tráng, nguy nga – đó là nhà ga metro tương lai.

Nhưng đó là “nếu như…”, còn hiện nay – nói theo kiểu bác sĩ chữa ung thư, tiên lượng căn nhà thương yêu sẽ mất trong vòng 2 – 3 năm nữa!

 

2.

Những ngày sau đó, vợ chồng ông Hòa buồn xo, biếng ăn biếng ngủ. Có muốn bán nhà ngay lúc này như một cách đào thoát khỏi cái tương lai 99% mất nhà kia thì cũng không kịp nữa rồi. Có ai khờ đến nổi đi mua nhà, dù rẻ mắc gì mà không tìm cách tìm hiểu, dò hỏi cho được tình trạng căn nhà mình tính mua có bị dính quy hoạch, rằng sẽ bị giải tỏa, mất một phần, mất trắng hay không? Hơn thế, dù trong tương lai, giá đền bù đất có “thích đáng, gần bằng giá đất thị trường’ như ông phường an ủi, kể cả suất tái định cư – được mua căn hộ chung cư giá rẻ ở vùng nào đó, thì dân đi mua nhà cũng vẫn thấy bấp bênh, không có gì là chắc chắn, thà bỏ tiền ra mua loại nhà có tương lai sở hữu ổn định vẫn hơn.

Không còn nhà nữa rồi! Ông Hòa thường lẩm bẩm. Đâu phải chỉ có câu “bị mất nhà” mới đau, trong cách nói “không còn nhà” có chữ “không” nghe như đất sụp dưới chân, như Hư Vô tràn đến phủ ngập cuộc đời con người.

Thấm thoát đã 30 năm trôi qua kể từ dạo vợ chồng ông nhờ làm lụng vất vả, chắt mót dành dụm mới có thể mua được căn nhà cấp 4 này, để ra riêng từ căn nhà cũ mèm của bố mẹ ông. Hiện nhà của ông đã xuống cấp, đã vài lần sửa chữa nhỏ nhưng vẫn còn nhiều chỗ tường nứt hay tróc vôi, mái tôn đã có chỗ nát, dột. Nhưng dù sao mặc lòng, căn nhà nhỏ đơn sơ này đã chất chứa, ghi khắc không biết bao nhiêu là thăng trầm, vui buồn trong cuộc sống, vốn là nơi ông bà chia sẻ nhau từ hạt muối đến hạt đường, là nơi chớm bệnh đau lưng thẩn kinh tọa với huyết áp cao, là nơi dựng vợ gã chồng cho con cái, cũng là nơi đón tin người già mất đi hay trẻ con ra đời… Đối với ông Hòa, căn nhà nhỏ sớm tối đi về này chính là cả khung trời bao dung của đất Sài Gòn quê hương thứ hai của ông, chính là nơi nuôi dưỡng nghiệp viết lách không-thể-nào-khác-đi của ông, nhất là đang ở cái tuổi 70 xế bóng cuộc đời…

Ông Hòa buồn lắm, mới hiểu tại sao y học đã ghi một trong những thủ phạm gây stress, gây chứng trầm cảm chính là biến cố mất nhà, phải dọn nhà hay thay đổi chỗ ở.

Khoảng 15 năm trước, lúc đường Phạm Văn Đồng gần nhà bắt đầu được thi công, vợ chồng ông Hòa rất vui vì chẳng bao lâu nữa con hẻm nhà mình, thay vì dẫn ra con đường Lê Lợi 6 mét chật hẹp và đã xuống cấp, sẽ dẫn ra một đại lộ mới, rộng đến 60 mét thật hiện đại, được cho là đẹp nhất thành phố. Nhưng, hình như đã có một điềm gở gì đó…

Ông Hòa nhớ rất rõ là thời ấy, ngày ngày đi ngang một dãy nhà đã bị đập phá và bỏ hoang, tình cờ ông thấy một chú chim chích chòe bay lượn một mình hay nhập vào đám chim sẻ kiếm ăn. Hỏi bà con gần đó mới biết đây là chú chim được một gia đình nọ nuôi theo kiểu thả tự do cho chim bay nhảy ngoài lồng. Rồi không rõ lý do gì, khi đập nhà rồi dọn đi, gia đình này không mang chú chim theo qua chỗ ở mới của họ. Do quen bay nhảy ở khu vực có cỏ cây vắng vẻ, chú chích chòe cứ lẩn quẩn ở đây mãi. Lúc ấy, ông Hòa bâng khuâng mãi về tình cảnh lạc loài của chú chim, tự hỏi nếu giờ không có ai đưa nó về nhà nuôi thì không biết số phận nó sẽ ra sao khi các ngôi nhà mới được xây xong, không còn khung cảnh nhiều cây xanh, bụi cỏ, vốn thích hợp cho loài chim sinh sống.

Ông Hòa còn nghĩ, khi các công trình đô thị hóa được thực hiện, tức giải tỏa đất đai, xây nhà phố mới, thường người bị mất nhà, mất đất chỉ nhận lấy một cục tiền đền bù rồi sau đó phải vất vả tự lo liệu nơi ăn chốn ở mới, nhiều khi họ không biết đi ở đâu và làm gì tiếp tục để sinh nhai… Có nghĩa là người ta còn chưa giải quyết được chu đáo cho cuộc sống của nhiều người, nhất là người nghèo khi họ phải xa lìa chỗ ở cố cựu của họ, nói gì đến số phận của những vật nuôi bị bỏ lại ở khu xóm giải tỏa trắng, ví dụ như một con chim chích chòe nhỏ bé, lạc loài kia?

Thấy thương con chim, ông Hòa viết một bài tạp bút về chuyện bắt gặp chú chim chích chòe bị chủ nuôi bỏ lại trong cảnh gạch ngói hoang tàn khi gia đình họ phải chuyển đi nơi khác bởi nhà họ bị giải tỏa trắng, nghĩa là chú chim đã bị mất chỗ ở quen thuộc bên chủ nó… Nào ngờ gần 15 năm sau, đến lượt ông Hòa cũng rơi vào tình trạng sắp mất chỗ ở, không biết đi đâu…

 

3.

Đã 43 năm về trước, đối với nhiều số phận người dân Sài Gòn cùng gia đình họ – như ông Hòa, gốc sĩ quan chế độ cũ, khách quan hay chủ quan gì cũng thế, ngày 30 tháng 4 đã là một biến cố khó có thể gọi là vui, phấn khởi được. Mất nhà, mất chỗ làm, mất tài sản, mất địa vị xã hội, mất người thân và bạn bè, bị tập trung học tập cải tạo, bị chỉ định cư trú khu kinh tế mới… Đã dù ít dù nhiều đều bị mất mát, chia lìa, thua thiệt như thế, cuộc sống xuống cấp thấy rõ, đổi đời kiểu này thì làm sao bảo họ là “vui” được? Dù sao, hơn 40 năm trôi qua, cũng giống như bao người Sài Gòn khác, sau những mất mát này khác thì ông Hòa đã cố gắng tìm cách hòa nhập với thời thế, lao động một cách lương thiện để kiếm sống cho gia đình mình cho đến tuổi về hưu.

Vừa rổi, cũng chính vào thời điểm tháng 4, thời tiết đang rất oi bức này, ông Hòa lại được thông báo nhà mình ở sẽ bị giải tỏa, nói đơn giản là sẽ mất nhà, thì đối với ông, biến cố ấy có khác gì một cái “30 tháng 4” thu nhỏ lại và trớ trêu xảy đến lần nữa trên số phận hẩm hiu của gia đình ông cùng cả trăm bà con hàng xóm.

Đêm nay, thêm một đêm ông Hòa chập chờn nửa ngủ nửa thức. Đến gần sáng, ông nghe văng vẳng từ đầu hẻm tiếng kèn đám ma, tình cờ là bản Một cõi đi về của TCS. Về ở căn nhà cấp 4 này từ thuở trung niên còn khương cường để cày kiếm sống, đã bao sớm hôm đi về con ngõ hẹp, nay đã thuộc lứa thất thập cổ lai hy mỏi mòn, ông Hòa chợt ngậm ngùi, không thể nào nhớ nổi đã bao đêm về sáng mình đã thao thức nghe tiếng kèn đám ma, đưa người quá cố vĩnh viễn rời khỏi căn nhà họ từng cư ngụ, rời xóm phố họ từng sống lúc sinh tiền…

 

PHẠM NGA

(Trong oi nồng tháng 4-2018)

            Heo tai xanh

 

Bẩy tuổi mới biết mặt ba. Thời chiến tranh nó vậy. Ba lên Xanh dẫn theo chú và anh biền biệt cho đến ngày thống nhất. Về, ba lại tiếp tục công việc đâu đó trên phố lớn. Tuy con quan, cháu quan, em quan nhưng mà quan cách mạng, vô sản gộc nên Hạnh – đi học về – cũng ống cao ống thấp phụ mẹ từ đồng áng, bếp núc… mác con quan chỉ giúp Hạnh được thầy cô ưu ái khoản trường lớp, nghĩa là học lực dù trung bình yêu yếu vẫn được cất nhắc lên hàng tiên tiến. Thời bao cấp và cấm vận quan cho chí dân ai cũng thắt lưng buộc bụng nên Hạnh mảnh như giấy là tất yếu. Mẹ còn mảnh hơn vì chồng năm thì mười một hoạ mới tạt qua nhà, dạo dạo đôi vòng là lên xe đi tiếp. Cả ông chú cũng nằm riệt đâu đó. Lâu lâu anh Tâm về. Chỉ lúc ấy Hạnh mới cảm nhận được mình có anh. Lúc đầu Hạnh có thắc mắc về ba, nhưng câu trả lời của mẹ muôn đời là ba bận việc cơ quan, bận lắm. Về sau Hạnh không hỏi, ba về cũng không quấn, ba đi Hạnh cũng ừ thì đi. Hạnh biết rõ vì sao ba không về nhà, vì sao ba nhạt.

Nếu không về giữa chừng buổi học vì cô giáo bệnh, Hạnh đã không hề biết. Vậy ra Hạnh là con của trưởng ấp Tám Phát. Nghe qua là cô bé chín tuổi lạnh sống lưng. Cứ đứng bên ngoài cửa nghe cho bằng hết chuyện người lớn. Bằng một giọng lạnh tanh có cả tiếng “hức” của một cái cười khẩy:

– Thằng Tám Phát hiếp hay bà cho chỉ bà và nó biết.

– Đã không tin thì ông đừng về làm chi. Loạn lạc, ông còn phải đi để giữ cái thân, tôi một mình làm sao giữ? Mà thôi ông đã khinh tôi thì nên bỏ chuyện đó đi. Và đã như vầy thì không nên gặp nhau để làm gì.

– …

–  Sao không bỏ nó đi hả? Thằng Tâm mới mười tuổi đã theo ông lên Xanh không một tin tức. Tôi phải giữ để có cái mà sống. Ông không hiểu sao? Và huỷ giọt máu trong bụng mình là điều tôi không thể làm. Không có nó chắc gì ông đã ở với tôi… Mà thôi, đã không thể là vợ chồng, cũng không là bạn thì xin để cho tôi yên, đừng để cho con Hạnh biết chuyện nầy, tội nghiệp nó.

Một tiếng hừ khô vang lên, cửa nhà bật thô bạo bởi cú đá. Ba bước ra, tất nhiên là cả hai nhìn thấy cô bé nhỏ nhắn. Sựng một giây, người mà Hạnh gọi ba bước ra xe. Ù ù, xe nổ máy và mất dạng.

Má ôm Hạnh vào lòng. Vậy là Hạnh biết hết rồi nghe, rằng cái ông mà toàn thể cư dân nơi Hạnh cư ngụ kính trọng không phải ba ruột. Thì cũng có sao đâu, từ nhỏ cho đến giờ Hạnh vẫn ở với má mà. Có  hay không có ba cũng chả sao trăng gì. Mà Tám Phát là cái ông bên ấp Bốn mới cãi tạo về phải không? Gì thì không chứ chuyện nầy Hạnh phải tìm cho ra lẽ mới được. Ra cái cha nội đen đen xám xám, mặt mày khắc khổ là người đã đẩy má và Hạnh vào sự ghẻ lạnh đây. Hạnh là con riêng của má nên chi, ba và cả ông chú nhạt tình với Hạnh là phải lắm.

***

Ấp Bốn của Hạnh và Ấp Một – nơi ngụ cư của nguỵ quyền cấp ấp Tám Phát – cách nhau bốn mét đường be, đủ cho hai xe bò tránh nhau. Nhà Tám Phát là nhà đúc. Nhà nầy có đâu từ thời cố lũy cô lai  rồi. Nó bề thế và rêu phong lắm, tường cao và cổng kín nên có vẻ bí ẩn. Đồn rằng cho đến đời Tám làm trưởng ấp thì dòng họ nầy là tổ sư chống cộng. Tám là trưởng ban dân vệ thời nhà Ngô, thiên hạ  kể rằng Tám ta đội mũ đen rộng vành vai khoác súng cạc-bin, tay cầm cái loa phát thanh hết làng trên đến xóm dưới, nhà nào có thân nhân nhảy núi là chết bà với Tám. Đến kì các Nguyễn từ Khánh Râu đến Tông tông Thiệu Tám là Ấp trưởng, lại tiếp tục lôi nhân dân tự vệ với Ar15 lục tìm vixi. Bà mẹ nó – Thiên hạ chửi – Việt cộng ở trong rừng chứ đâu ở nhà mẹ goá con mồ côi mà mò vô.

Lúc đầu thiên hạ tin Việt cộng không dám về cái xóm bị rào bởi kẽm xẹctinai đâu. Trên dưới ngang dọc đâu đâu cũng lính cộng hoà mò về để ngủm sao? Đùng một cái, con Hậu vợ thằng Huy lớn bụng. Thằng nầy dẫn con lên xanh đâu hồi xa lắc. Vậy là cái tin Việt cộng đã về nằm vùng đâu trong lòng… đất được thổi lên. Và Hạnh đã ra đời mà không có cha là vậy đó. Và tất nhiên sau thống nhất hùng bá một thời như Tám đi cãi tạo cũng phải thôi. Có cha, chú và anh từng nằm gai nếm mật cả mười năm trên cao xanh thì Hạnh là con, cháu và là em cách mạng gộc. Tưởng bảnh ngờ đâu không hề vậy.

Quá rõ về mình. Hanh vờ đi chơi qua ấp một, ngang qua cổng nhà Tám Phát, Hạnh thấy y đang ngồi ở xích đu. Cô bé đứng lại nhìn vào, mấy con chó nghe mùi lạ xồ ra inh ỏi. Cao cao, đen và xám pha nhau, má hóp nên gò má nhô cao, Tám Phát đi ra cổng:

– Cháu tìm ai?

– Có bạn Phương ở nhà không chú? – Hạnh nhìn vào mặt Tám Phát hỏi.

– Ai kêu con nè Phương ơi.

Từ trong nhà chạy ra Phương mở cửa và nắm tay Hạnh:

– Hạnh bạn con đó ba. Con cô Hậu bên ấp Một.

Tám Phát chăm chú nhìn. Hạnh biết cái nhìn ấy bao hàm điều gì.

Đó là lần duy nhất suốt bốn mươi năm Hạnh đối diện cùng Tám Phát.

Về muộn nên má hỏi:

– Sao về muộn vậy con?

– Con qua nhà nhỏ bạn bên ấp một.

– Nhà ai vậy?

– Nhỏ Phương con Tám Phát.

Má nhìn Hạnh. Hạnh cũng nhìn má.

Rồi thôi.

Mọi chuyện trôi như dòng suối sau nhà Hạnh vẫn chảy. Về sau suối chậm lại vì một con đập được chận lại thành hồ chứa nước. Hồ chứa nầy đưa nước phân bổ cho hai cánh đồng của hai xã liền kề. Tuy dòng chảy có chậm nhưng nó không ảnh hưởng chi đến việc chăn nuôi của những hộ sống bên con suối. Như nhà Hạnh chẳng hạn. Một năm má cô xuất chuồng đôi ba lứa heo đủ tiền sách vở và áo quần cho Hạnh hết cấp một cấp hai rồi cấp ba. Cuối mười hai Hạnh chia tay trường lớp vì cô yêu.

Chàng của Hạnh tên Hùng. Để được Hạnh, Hùng phải qua mặt cả mươi anh con nhà gia thế. Thực vậy,  gò gẩm một em con cháu nhà quan lại xinh mơ đâu phải đùa. Cỡ Hùng đừng có mà mộng hão. Đã nghèo thì chớ anh còn chẳng có tí quyền lợi chính trị chi, ngoại trừ cái xuất ngũ sau ba năm bốn tháng trong quân đội. Còn trong quân Hùng cũng chỉ là một anh hoả đầu tầm thường, thường đến độ chẳng được nấu ăn mà ở vị trí chăn nuôi và trồng trọt để cãi thiện bữa ăn cho chiến sĩ. Thuở Hùng đi lính thì chiến tranh đã tàn, Pôn pốt và Bành trường đều đã được dẹp yên. Hùng chỉ vác súng mà chơi còn chích heo là chính. Về đời thường anh sống với nghề thú y.

Cã xã duy nhất Hùng sành điệu nghiệp này, ai có heo gà chi trái gió là kêu anh. Hùng đến nhà Hạnh theo lời mời của bà Hậu. Anh chả dám mơ chi con gái nhà quan, kẹt cái mới gặp Hùng, Hạnh đã đem tâm tình con gái mới lớn mà đắm cái đẹp trai, phong thái của chàng. Vậy là cô quăng cục lơ với tất cả các anh đang đeo đuổi. Hùng đúng mèo mù vớ cá rán. Người ta yêu mình tội chi không yêu lại. Vậy là cả hai tần tấn nên duyên. Thời thắt lưng buộc bụng, con em cán bộ bự thì phải thắt đến siết để làm gương cho quần chúng. Đám cưới cả hai chỉ tiệc trà đơn sơ, thậm chí ông cha và chú vợ chỉ tạt qua dăm phút rồi lên xe dông tuốt. Kệ đi, thời nào cũng vậy đời ai nấy lo, có câu đời cua thì cua máy, đúng không?

Nhà Hùng những sáu anh chị em nên anh làm rể nhà Hạnh là phải quá. Vậy là ung dung trở thành ông chủ của lô đất tròm trèm hecta. Gia đình Hùng chuyên sản xuất giống cây trồng. Vậy là Hùng chuyển đổi ba cái màu mè hoa lá cành của nhà vợ thành khu ươm cây. Trong nghiệp chăn nuôi, Hùng chiến nhất vì văn minh hơn bà con cô bác xứ ruộng. Thêm cái thương khó của kẻ xuất thân là nông dân Hùng xây thêm chuồng, đào ao chăn cá thả vịt. Với tay nghề thú y kèm thợ hồ, Hùng cho tất cả chất thải của heo qué xuống một hầm chứa, còn gọi bao tử. Ở đó chất thải sẽ tự huỷ rồi cho ra cái gọi Bioga. Thuở mà chưa có thức ăn gia súc, bao nhiêu thừa thải của thực khách ở những quán ăn của thị trấn kề bên Hùng thầu tất và chúng được sôi lên bởi bioga… Nhìn Hùng nên và ra thiên hạ  cũng muốn lắm nhưng để làm được như anh thì còn khuya. Rất phóng khoáng, các hộ liền bên ai cần bioga Hùng sẵn sàng phân bổ mà chả cần một xu, hộ nào bi quá Hùng cho không luôn ống dẫn, xóm giềng giúp nhau vậy là quá quý.

Thiên hạ cho phân xuống suối. Hùng thì không, bao nhiêu được tống xuống hầm ngầm để tạo bioga, còn dư Hùng tập trung lại cho hoai mà chăm cho cây giống. Dư nữa anh bán cho mấy tay trồng rau… về sau bà con cũng ủ phân lại và nhờ Hùng bán giúp. Ai cũng cám ơn vợ chồng Hùng, không phải ba cái vặt vảnh đó đâu nghe, họ còn cám ơn cái khác lớn hơn nhiều.

Cái khác đó là nguồn cá ở hồ chứa nước. Hùng đã thắng trọn gói thầu toàn quyền sử dụng mặt nước  cho việc nuôi cá. Dân trong ấp ai muốn cứ việc câu. Câu thôi đừng có tung chài nghe mấy bạn, để cho em có cái thu hoạch. Lổ lã tội nghiệp lắm. Hùng nói với bà con vậy. Trời ơi, đâu có ai bỏ tiền ra thầu, bỏ cá xuống nuôi rồi mình câu mà ăn? Vậy nên ai cũng có bổn phận trông coi giúp cho Hùng. Trộm đạo nào lèng phèng vác chài lang thang trên mặt đập là có người đạp xuồng ra hỏi thăm sức khoẻ liền. Xóm giềng bảo vệ nhau cỡ vầy là hết phép.

Chỉ có cái hơi phiền một tí, một tí thôi. Đó là cái mùi đặc trưng của phân heo và ruồi. Nhưng rồi tất cả cũng quen, thời chiến người ta còn sống chung với bom đạn và kẻ thù, những thứ mùi khác, ghê gớm hơn còn chịu được nói chi ăm-mô-nhắc. Còn ruồi thì đâu mà chả có, người ta giải quyết cái sự bực bằng cách chui vô mùng ăn cơm. Biết làm sao bây giờ? Ở đây ai chả nuôi heo? Phàn nàn ai?

Đời cứ vậy mà tới cho đến kì của nền chăn nuôi công nghiệp.

***

Hùng bỏ vốn ra để tiếp cận văn minh chăn nuôi. Trước tiên là phải có giấy phép chuyển đổi hình thức sản xuất. Chuyện đó đối với một con, cháu, em rể quan thì có chi lớn? Có cả kiến trúc dạng sư tư vấn cho Hùng mô hình mới. Phải hội đủ mọi điều kiện thì mới được sự quan tâm hổ trợ vốn của nhà nước. Nghĩa là anh có quyền đưa chủ quyền đất đai để vay vốn. Vợ chồng Hùng chả cần vay ai. Nhiều năm sau thu hoạch cá từ hồ chứa nước, thêm heo xuất một năm đôi ba lứa… Cặp đôi rất ư hoàn hảo nầy dư sức làm mọi việc.

Hecta đất được vây bọc một tường gạch cao hai mét, bên trên cắm miểng chai phòng trộm đạo. Chuồng trại phân bổ cực kì khoa học. Heo được nuôi trong môi trường sạch đến không ngờ. Chất thải  được dồn về hầm chứa tạo bioga. Phân sau hoai sẽ chảy về một ao chứa khác cách xa khu vực chăn nuôi cả trăm mét. Từ ao chứa nầy những công nhân loại vai u thịt bắp sẽ kéo phân lên bằng cuốc, dồn đống, phơi khô, đóng bao để cung cấp cho các nông gia chuyên trồng rau củ quả. Nước trong hầm chứa sẽ đi vào một cống ngầm và tuôn ra suối. Nước trong dòng chảy sẽ bò ra đập, tràn vào các con mương rồi lững lờ ra cánh đồng. Chắc chắn là mầu xanh của lúa nhờ rất nhiều vào chất thải của trại chăn nuôi mà Hùng là chủ nhân.

Không phải sao? Đợt đầu tiên Hùng thả một trăm con heo giống. Mẹ ơi. Chăm chúng còn hơn chăm con mới đẻ. Công nhân phải đồng phục. Bước vào khu vực chăn phải mang giày ống đi qua một bể chứa thuốc sát trùng. Chả nấu nướng chi để phục vụ cho con cháu lão Trư. Cám gia súc được kéo về hàng xe tải, trút vào thùng, nước uống cũng vào thùng. Bầy được gọi ngu như lợn khôn trời sợ, chúng biết dùng mõm hất nắp thùng chứa để ăn và uống, lại biết thải xuống mương, phe ta chỉ việc cầm vòi xịt cho  xuống hầm. Nói thì nghe nhanh gọn và yên ả lắm, nhưng để lo cho một trăm chú trư thì năm người là bở hơi tai. Chúng còn ăn khuya nữa đó nghe. Lợn mà, chỉ biết ăn và ngủ, và đó là mục đích của bất kì kẻ chăn nuôi nào từ sơ đến cao cấp. Có vậy mới hai tháng rưởi là xuất chuồng. Vậy anh mới có lãi, bằng ba tháng heo mới đạt một tạ một em thì anh chết chắc. Đã nói ra biển lớn thì thuyền to chừng nào sóng to theo chừng đó. Thuyền trưởng không khéo là chết chìm, đã biết bao anh hùng thò tay chơi với nghiệp nầy đã bị công quyền đến thanh lý đất đai, nhà cửa bán đấu giá để trừ cái nợ đã vay. Hùng thì khác, dân thú y sành đến độ chỉ nhìn qua là biết bệnh. Hùng ung dung lái thuyền qua các cửa. Từ một trăm chú ỉn lứa đầu, lên hai trăm rồi ba trăm và hơn nữa… Rõ ràng, với kẻ có tài, biết nắm bắt thời cơ thì  thành công buộc phải đến. Hùng có tất cả. Vợ đẹp, con ngoan. Hai đứa con Hùng rất tuyệt, một trai đầu, một gái út. Chúng được ăn học ngon lành, chả phải nhờ vào uy iếc chi của ai. Giống lợn mà nuôi trong môi trường tốt còn đẹp như mơ nói chi con người. Được học với trường lớp tốt và thầy giỏi, học trò phải giỏi đó là tất yếu. Hùng dư tất cả mọi thứ. Hạnh còn sành điệu cả xế hộp, cô lái chiếc bốn bánh đưa con đi học, đi giao dịch, vợ chồng cùng đi nhà hàng vân vân và vân vân. Sự dư thừa luôn làm con người thoải mái và hạnh phúc.

Thật vậy không?

Không. Cũng có cái dư làm người ta âu lo và mệt mỏi.

Cái gì vậy?

Xin thưa, đó là phân heo.

***

Chả có cái hầm chứa nào nuốt nổi lượng chất thải lúc cao điểm. Heo mà bắt đầu từ năm mươi kí đi lên, chúng ăn, ngủ và vệ sinh thôi thì khỏi nói. Cái bao tử tạo bioga không thể nào tiếp nhận được, và cũng đừng nghĩ mở rộng nó cho tốn tiền. Phải tìm cách khác. Hùng tậu năm chiếc xe đẩy cầm tay, lượng dư thừa được tập trung vào một góc của thửa đất. Nhân công sẽ đóng vào bao khi đã được nắng làm cho khô, những mối lái rau củ quả sẽ cho chúng làm mầu mỡ đất đai của họ.

Điều kiện nầy cũng chỉ giúp vào những tháng mặt trời làm chủ. Mùa mưa đến, bên phân tươi, bên tuôn ra từ bờ tràn hầm bioga. Vấn nạn nầy khiến ông chủ phải giảm lượng heo nuôi. Từ năm trăm cho mùa nắng gió còn lại một trăm cho bão bùng. Hùng phải mở cống cho tất cả từ tươi đến hoai tuôn ra suối. Tất nhiên nước sẽ cuốn, dù chậm nhưng vẫn trôi. Nhìn phân heo lờ đờ chảy cư dân sống nhờ vào con suối mệt mỏi gấp tám lần Hùng. Cái mà ai cũng hãi không phải phân đâu nghe, nó sẽ trôi, chắc chắn vậy, nhưng có cái đứng lại, đó là ruồi và cái mùi đặc trưng của nó.

Khi hồ chứa hình thành, nước tích lại tạo một cảnh quan tạm gọi là. Mấy tay có đất kề bên hồ lợi dụng thời cơ dựng nên những quán cà phê sân vườn đẹp không thể chê. Thử hỏi ngồi trong một cái phum lợp lá, ngắm người đẹp đạp xuồng trên hồ hái rau muống thì còn chi thơ mộng hơn hỡi trời đất? Khách đến thôi thì nườm nượp, để lôi kéo, quý ông bà chủ liền trí trang cho quán mình những hòn giả sơn có róc rách nước chảy, có tiên ông chơi cờ, lại thêm vài chậu chiếu thuỷ, mai vàng cho thêm phần thanh nhã. Có vậy mới lột tiền của khách tham quan.

Đặc sản của miền hồ nước nầy là bánh tráng me.  Ngoại trừ chăn nuôi và đồng áng, nông nhàn người ta còn tráng bánh  bỏ mối kiếm thêm. Mấy cái quán bên bờ hồ còn sáng chế ra nước mắm me chua ngọt tuyệt hảo. Nam thanh nữ tú và tụi trẻ trẻ vừa nhai bánh vừa đấu láo cũng thú vị lắm. Nhưng những cái quán ấy đã không một phương kế nào kéo được khách bởi ruồi và trìu trịu mùi ămmôniắc. Tất cả đều phá sản, đành phải cho mái lá lụi tàn theo năm tháng. Và ai cũng bực bội vì cái trang trại heo công nghiệp của vợ chồng Hùng Hạnh. Bực thì bực vậy chứ ai làm gì được ai? Bởi một lẽ rất giản đơn tôi chăn nuôi thì có tội chi? Còn ruồi hay cái mùi của nó thì phải chấp nhận. Đúng không? Đúng hay không thì trại heo đã yên vị rồi, và ông chủ của nó đang nên và ra nhờ nghiệp nầy. Có ai đang hưng thịnh mà chuyển đổi sang hình thức khác không? Chắn chắn không.

 

Hùng có nghe những ta thán của xung quanh về mình không? Sinh hoạt của gia đình anh có bị ảnh hưởng như bọn dân đen không? Sao lại không. Nhưng phải biết khắc phục chứ. Ông nhà nước kéo điện cho ta làm chi vậy kìa? Hùng xây dựng căn nhà hai tấm bê tông của mình kín bưng, muốn ấm lạnh đã có máy điều hoà. Và ai cũng biết rằng những căn phòng có máy lạnh chả một mùi vị nào xen vô được nói chi ruồi. Còn thiên hạ ta thán ư? Kệ họ chứ, nói thì chả làm ai chết cả.

Và ngữ dân đen thấp cổ bé họng nghèo mướt vài mươi hộ liền kề bên trại heo chả ai không dính dấp ân oán nghĩa nhân với Hùng, không cá thì heo, mười thì hết chín đã nấu ăn bằng bioga. Thì họ cũng có ong ve đôi câu trong những quán cà phê, cũng bàn về ô nhiễm. Có thằng phê ba xi đế vô cũng văng tục chửi thề rằng:

– Nó ỷ thế cha chú anh trai là cán bộ bự… Bà cha nó…

– Thôi mày ơi… Cả cái uỷ ban xã nầy còn điếc không nghe, đui không thấy bọn mình nghĩa địa gì?

– Mấy ông xã tuốt ngoài nầy làm chi biết ruồi hay mùi kít heo?

– Mẹ… mày không biết những lúc gió mạnh hay xả chuồng, mùi của nó bay tuốt ra tận đây luôn đó con… thúi cự kì. Tao cũng không hiểu vậy rồi vợ chồng thằng Hùng có bị ảnh hưởng không? Hay là ngửi riết rồi ghiền luôn.

– Vợ chồng con cái nó trong phòng lạnh thì biết cái khỉ khô gì?

Vậy là thôi. Vậy là hết. Và tất cả cứ theo cái guồng đã có mà chạy, việc của Hùng Hùng làm, ai nói chi cứ nói. Dân đây kể cũng hiền, gặp xứ khác họ kiến nghị lên trên chứ không chơi. Đâu có thể vì quyền lợi cá nhân mà anh làm ảnh hưởng đến môi trường sống của kẻ khác được. Đúng không?

Thực ra đời chả ai hiền hậu hay dữ dằn chi. Cái gì phải thì thôi, không phải dễ gì yên. Sao lại không đơn từ và kiến nghị. Mấy tay già từng thụ ơn Hùng, không ra mặt nhưng cũng xúi bầy trẻ. Kẹt cái đơn lên tới xã là đứng lại. Bực quá đơn vượt cấp bay lên huyện, huyện đưa về cho xã giải quyết. Ba cái vặt vảnh heo qué thì có gì mà mấy anh không làm được? Xã cũng cho người vào tận trại chăn nuôi, vào rồi ra… Riết rồi mệt quá xá vụ đơn từ. Người ta con quan, cháu quan, em quan. Lại quan bự tuốt ở trển. Dân đen gật gù và cười rằng con kiến kiện củ khoai, không phải khùng mà là ngu. Ngu tợn.

Nhưng sự đời đâu đơn giản. Nếu ông cha vì nể nang ân ngãi và kém hiểu biết mà cho qua. Bầy trẻ lớn lên thì khác. Cái thời mong cơm no áo ấm qua rồi. Bây giờ ăn ngon mặc đẹp, đẹp phải thơm. Em yêu anh thiệt mà về nhà anh nghe mùi cứt heo là em ói. Ói anh luôn. Bầy trẻ có học cùng bầy ăn nên làm ra ở những công ty thời hội nhập, sành lắm văn minh tin học. Chúng lên gu gồ và biết mình phải làm chi. Vậy là đơn từ có quy cũ được ký bởi gần trăm chủ hộ được tống lên trên chỉ một yêu cầu duy nhất làm trong sạch môi trường. Cái đơn ấy – như bao lần đã qua – cũng quay về xã cũng lọt vào tay vợ chồng Hùng Hạnh, nhưng lần nầy nghiêm trọng hơn. Nếu Hùng không khắc phục thì chả một bàn tay nào che được. Khắc phục ư? Cũng có chi đâu khó. Một là Hùng phải dời trại vào thâm sơn, tách biệt hẳn với dân cư. Nhưng sơn đâu nữa mà thâm với sâu. Hai là dẹp trại.

Dẹp ư?

Hạnh đọc lá đơn rồi lên chiếc Liberty chạy đến nhà thằng chủ xị lá đơn.

Thằng kể cũng yêng hùng, nó kí và ghi rõ họ tên: Nguyễn Văn Tài.

***

Nguyễn Văn Tài là con trai út của Tám Phát. Gia đình nầy chỉ duy Tài tạm gọi có chút đỉnh hiểu biết. Nguyên nhân là cả chục năm sau thống nhất hắn mới ra đời. Tài không hề bị cái phốt cha nguỵ quyền mà ảnh hưởng. Kẹt cái học hành dỡ ẹc, kiểu lên lớp do chỉ tiêu nên đâu có tốt nghiệp nổi mười hai. Tuy nhiên với đời Tài nhanh như tép. Nếu thiên hạ lấy câu nhất thân nhì thế để lên hương thì Tài có hai chữ mánh mung để xài. Thoắt ẩn thoắt hiện như ma, Tài dư sức nuôi cha già ăn ngon mặc đẹp. Tài yêu cha lắm. Sau bẩy năm cãi tạo, thêm một năm mới lại hồn người, phải chi thôi thì bà Tám đâu có mất mạng. Sanh Tài thì bà má bị băng huyết nên đi luôn. Tám Phát và bầy con gái xúm vô cho Tài bú thép. Vậy nên Tài quý cha lắm. Ranh ma đâu với đời chứ về nhà thì Tài đúng là đệ nhất hiếu tử.

Lúc Hạnh đến. Cổng mở nên cô cho Liberty chạy một mạch vô sân. Tài cùng với một trai trẻ khác đang chén bạn bè bên một bàn trà. Thấy Hạnh, Tài hơi ngạc nhiên:

– A… Chào chị Hạnh… Ô… đúng là rồng đến nhà tôm. Mời chị ngồi.

Hạnh hỏi sau khi yên vị:

– Có chú Tám ở nhà không em?

– Có chị ạ. Ba tôi đang sau vườn. Để em gọi. Chị uống nước… Giới thiệu với chị đây là Hoàng, bạn tôi, anh ấy là phóng viên của báo X.

Tài nhấn mạnh hai từ phóng viên ra cái vẻ liệu đấy mà đối phó:

– Có chi chị nói với tôi cũng được vậy.

– Chị có chuyện riêng muốn gặp chú Tám.

Có chi khó chuyện gặp. Vậy là Hạnh được mời vào nhà. Tám Phát đích thân tiếp khách, cả hai trò chuyện đâu chừng nửa tiếng rồi với một gương mặt lành lạnh bà chủ trại heo ra về.

Việc Hạnh đến nhà Tài, đâu thoát mắt dân tình. Họ thầm thì trong cà phê cóc rằng:

– Tao biết mà… Thằng Tài mánh mung ghê lắm, nó đi thu thập chữ kí của bọn mình chẳng qua để làm tiền vợ chồng Hùng Hạnh thôi. Chắc chắn là mụ Hạnh sẽ nhét tiền vào họng cha con Tám Phát, nếu không sao lá đơn đã hai tháng mà không tăm dạng, đúng không?

Nghe qua cũng có lý lắm nghe. Nếu không tại sao mọi chuyện lại đi vào yên lặng? Rõ ràng nén bạc ném toạc tờ giấy. Xưa nay ai chẳng lấy tiền làm trọng và cha con Tám Phát đâu phải thánh mà không cần tiền. Có tiền Tám cũng chơi phòng máy lạnh xịt nước hoa chứ sợ gì ai. Và cái thằng đó – thiên hạ nói – bộ tưởng sau bảy năm cãi tạo là xong hả? Không dám đâu nó còn phải học bài dài dài. Còn dân đen như mình hả? Ráng chịu đi con, chừng nào… chết là hết thôi.

Và rồi thiên hạ thở dài khi thầy trại heo vẫn bình chân như vại.

***

Nhưng Hùng cũng thở dài không kém dân đen. Như bao lần khác anh thả vào mùa mưa lũ một trăm chú. Nhưng dịch tụ huyết trùng đã chén sạch bầy heo. Để giải quyết hàng trăm con heo một lần không phải chuyện đơn giãn, Không một loại thuốc nào ngăn chận sự lây lan của bệnh.  Hùng phải thuê một xáng cạp móc một hố sâu như địa ngục thả bọn tử vì tụ huyết rồi lấp lại sau khi đã đổ cả tấn vôi bột để sát trùng và phòng lây lan.

Mùa nắng lên Hùng lại thả cả năm trăm chú sau năm tháng cho chuồng ngơi nghĩ. Sau một tháng rưởi bầy lợn bình yên, tròn lẵn, mỗi chú tròm trèm năm mươi cân chứ không ít. Vậy mà trời không dung Hùng nữa rồi, cái đại hoạ tai xanh cũng cấp kì không kém tụ huyệt trùng. Cả bầy lây lan đến chóng mặt. Chúng ngã ra mà chết hằng loạt. Lần nầy buộc phải đốt. Đốt ở đâu?  Hùng phải vào tận trong sâu, nơi khu vự khai thác đá xây dựng, thuê một địa điểm thật xa rồi thả xuống mà đốt. Xong phải thuê máy cày lấp đất lại, và đất để lấp cũng phải mua mới có.

Hùng hoảng hốt thật sự.

Dân đen bất chiến tự nhiên thành. Ở cà phê cóc lại tiếp tục đấu láo: Cám ơn cái tụ huyết trùng và heo tai xanh, không có nó bọn mình xanh cỏ sớm.

      Nguyễn Trí

 

 

 

 

 

 

 

GIỮA HAI MIỀN VIỄN XỨ 2

 

 

Tiểu thuyết
Từ những câu chuyện có thực

Nắm bàn tay năm ngón
Đếm từng ngón tay buồn
Những quyết định đau thương
Từng chương của cuộc đời

 

Chương ngón cái mạnh mẽ

Ra đi, ra đi

Tiếng lòng SÔNG NÚI        

 

    Việt mang một cảm giác rạo rực khó tả, đã ba giờ sáng mà vẫn chưa chợp mắt được, dù tự ru mình bằng Triết Lý An Vi từ giữa khuya. Cuốn sách Chữ Thời (Triết Lý An Vi) của thầy Kim Định* bấy lâu nay anh gối đầu giường cùng với những cuốn Các Cuộc Hoại Thoại Của Socrates**, The Republic của Platon***; Chính Trị Luận của Aristotle****… (*Lương Kim Định (1915 – 1997) – Giáo sư, Linh mục, Triết gia miền Nam Việt Nam, sau 1975 ông định cư tại Hoa Kỳ; **Socrates (469 TCN – 399 TCN), ***Platon (427 TCN – 347 TCN), ****Aristotle (384 TCN – 322 TCN): 3 Triết gia lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại). Thực chất thì anh chưa đọc kỹ, chưa hiểu sâu được An Vi của Thầy cũng như các cuốn khác, chỉ để đó mà nâng niu, mà lật dở từng trang giấy thơm tho rồi mộng tưởng và dành cho mai sau. Trong Việt tồn tại vùng mộng mơ như sương khói lãng đãng bao phủ rất rộng, sương khói hiển hiện thực tại chứ không hư vô, vô tác dụng trong cuộc sống, nó phù hợp với ý tưởng kết nối triết học hàn lâm với cuộc đời, một cách nhìn triết học không gì là quá cao siêu, không vượt quá sự hiều biết bình thường, những con người bình dị chứ không cần phải có một bộ óc thông thái cũng có thể hiều rõ và vận dụng. Đây cũng là những ý dễ hiều hơn ở cuốn Nhân Bản cũng thầy Kim Định.

Xét theo khía cạnh cảm xúc, trong Việt mang một thái độ hiện sinh thì đúng hơn. Chỉ là một thái độ chứ chủ nghĩa thì không, Việt không thích những điều to tát, chủ nghĩa nghe lớn lao vô cùng. Cũng như anh thích sự tự do nhưng chưa bao giờ gán ghép từ chủ nghĩa vào từ này. Chủ nghĩa, người ta đem gán ghép vào nhiều ý niệm khác dễ dàng lừa mị nhau, dễ dàng đồng hóa những cá thể riêng biệt.

Nửa giờ sau thì Việt cũng chìm được vào giấc ngủ mơ mơ màng màng. Cũng chẳng lâu lắm thì anh thức giấc. Việt chợp mắt được một tiếng rưỡi đồng hồ. Song, anh chẳng thấy mệt mỏi vì sự thiếu ngủ thường hay gặp, vẫn sảng khoái như vừa thức dậy với cơn ngủ thiệt sâu.

Việt bước ra trước ban công, bầu không khí yên bình và trong lành càng làm anh sảng khoái hơn nữa. Ngôi nhà của Việt ở đầu khu phố, chính xác hơn là đầu ngôi làng, có hẳn tên là làng hoa hoặc làng rau Cây Trâm* mà. (*Làng Cây Trâm thuộc Gò Vấp, Gia Định xưa). Ngôi làng nhà còn thưa thớt và phần nhiều là nhà trệt lợp ngói vảy cá, một số xưa hơn thì lợp ngói âm dương, hầu hết các nhà đều có vườn tượt, những ngôi nhà lấp ló phía sau hàng rào cây dâm bụt tươi tốt, xanh rì với những bông hoa đỏ chót đó đây tô điềm và một khoảng sân rộng cùng các loại cây trái trồng xung quanh như nhãn, khế, vú sữa, xoài, chuối, lồng mứt, nhiều hơn hết là những cây bông mai… Đất trồng bông, trồng rau thì bạt ngàn.

Việt hít thở thiệt sâu, hương hoa, hương cỏ lá lấp đầy lồng ngực thì làm sao mà không lâng lâng cho được. Và trời bắt đầu hừng sáng. Ở trên cao anh nhìn được bao quát, nhìn thấy phía xa xa một vùng ửng màu cam cùng những tia sáng chiếu lên nơi chỗ mặt trời sắp mọc. Bầu không khí càng trong hơn và có màu vàng vàng tựa mùa thu mặc dù nơi đây những mùa màng đều không rõ rệt, chỉ rõ về hai mùa mưa nắng. Việt đang tìm từ ngữ để đặt tên cho bầu trời, anh nảy ra được ý và rất tâm đắc với nó, đó là bầu trời khai sáng, bầu trời khai sáng buổi nguyên thủy khi đã bị màn đêm chế ngự bằng một màu tăm tối.

Lý ra, với buổi bình minh tuyệt vời như thế này thì Việt sẽ chế một ly cà phê, vừa nhấm nháp vừa tận hưởng. Nhưng bữa nay anh có lý do khác nên dễ bề bứt ra được sức quyến rũ khai sáng, có lý do quan trọng hơn nhiều, lý do anh chờ đợi đã từ lâu lắm rồi.

Việt bước xuống gian nhà bếp, gặp mẹ anh đang lui cui nơi này. Bà hỏi:

“Bữa nay con ăn sáng ở nhà hay ở ngoài. Ở nhà thì ăn gì nè?”

Việt bóp bóp vai mẹ:

“Dạ, con ăn ở nhà, nhưng để con tự làm, Má khỏi phải lo.”

Bà nói kiều hờn dỗi nhưng thực tình là mắng yêu:

“Cha bây chớ, giỏi rồi hen, đâu cần cái thân già này nữa.”

Việt tựa đầu vào vai bà:

“Má cũng phải để cho tụi con lớn lên chớ, biết tự lập một chút, chớ Ba Má bảo bọc riết thì biết làm gì mà ăn.”

Bà nói vẫn với giọng cũ:

“Ờ, bây lớn lên đủ lông đủ cánh rồi thì bay mất, mất tiêu luôn thôi.”

Việt cười khì:

“Dạ, bay cao luôn, bay mất tiêu… thẳng vô cái ổ của Má luôn.”

Bà đứng dậy:

“Giỏi nịnh lắm. Thôi, muốn tự làm thì làm đi. Má ra ngoài vườn đây.”

Việt lục lạo và lào xào trong bếp một chặp thì có chảo cơm nguội chiên cùng với trứng và một ít cá khô ăn ngon lành, bữa nay anh khoái mặn mòi hơn nên không xài cá hộp. Món cơm nguội là bạn đường của các chàng học sĩ qua từng năm tháng. Nhứt là với những anh chàng sẵn sàng ga lăng hết cỡ với bạn bè, dĩ nhiên đặc biệt là với các bạn gái nên túi tiền rất dễ ư là vô thiên… lủng, lủng túi theo nghĩa bóng chứ không phải là nghĩa đen của vô thiên là rất nhiều.

Lấp đầy cái bao tử, Việt dắt con “chiến mã” láng mượt nhờ anh lau chùi hàng ngày ra nổ máy chạy đi. Con chiến mã của Ba tặng mừng nỗ lực học tập của chàng Tú Tài I* cách đây một năm, chiếc Honda 67 mơ ước của những ước mơ. (*Gọi là Tú Tài Một hoặc Tú Tài Bán Phần: chứng chỉ được cấp sau khi thi đậu cuối năm lớp Đệ Nhị tức lớp11; Tú Tài II là Tú Tài Hai hoặc Tú Tài Đôi hay Tú Tài Toàn Phần: chứng chỉ được cấp sau khi thi đậu cuối năm lớp Đệ Nhứt tức lớp 12)

Việt chạy đều đều, chầm chậm, phố xá bữa nay bỗng sáng hơn, đẹp hơn, người người vui hơn, mọi khi anh vẫn dòm ngó phố xá nhưng không thấy đặc biệt như hôm nay. Anh không dám chạy nhanh, trong người cảm giác đang bay bay với con chiến mã, đang bay bỗng giữa những đám mây… phố phường, đang bay bay về phía chưn trời, bay về phía khai sáng có màu cam ửng đỏ tuyệt đẹp còn đọng trong tâm trí.

Rồi Việt cũng tới được nơi cần tới, đây là đường chưn trời, nơi khai sáng trong đời thực của anh. Cánh cổng trường đại học chính là nó, là đường chân trời, cánh cổng đã mở toang chào đón sự cần khai sáng, chào đón phía trong là một bầu trời đầy ánh sáng hân hoan. Việt dắt xe qua cánh cổng cũng chẳng khác gì tâm trạng lúc đang chạy xe, còn hơn thế nữa, anh đang bước đi trong mây bồng bềnh, những thiên thần ẩn hiện đó đây trước mắt Việt.

Trường còn rất vắng. Còn lâu mới tới giờ làm việc mà. Chẳng sao cả, chẳng hề gì cả, anh còn có thêm thời gian chiêm ngưỡng nơi truyền cho mình dâng trào niềm háo hức. Việt lang thang trong sân trường, thang thang qua từng dãy nhà, qua từng phòng học. Nơi nào cũng lạ lẫm, lạ lẫm vô cùng từ ngay ngoài cánh cổng.

Một điều rất là kỳ lạ, rằng tại sao anh lại có cảm giác lạ lẫm này? lạ lùng vô cùng, lạ đến là khó hiểu. Nơi đây đâu có gì là lạ với đôi mắt của Việt. Đã hai năm trời nay, từ ngày hướng tới nơi chưn trời này, anh yêu mến nó, nhớ nhung nó, chí ít một lần trong tuần Việt chạy qua rồi chạy lại ngang cánh cổng. Anh chẳng hề nề hà sự xa xôi, chẳng nề hà sự mất thời gian. Từ ngôi trường cùa mình, ngôi trường Petrus Ký* (*Trường Lê Hồng Phong ngày nay) ngôi trường mang tên nhà thông thái, nhà bác học Trương Vĩnh Ký mà anh rất thần tượng, anh có thể chạy một vèo về ngay nhà mình rất nhanh theo cạnh huyền của tam giác vuông, chứ lý nào lại thích đi xa xôi hơn trong cả lúc nắng gay gắt, lúc mưa dầm lê thê, đi bằng hai cạnh góc vuông, một cạnh là con đường từ trường đi thằng xuống, đó là con đường Hồng Thập Tự* (đường Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay), con đường vuông góc, con đường Cường Để* (đường Đinh Tiên Hoàng ngày nay) là cạnh vuông góc còn lại. Ngay góc vuông Việt quẹo phải, một đoạn thôi, chỉ chừng một trăm thước thôi, đối diện bên kia đường là đường chưn trời của anh, Việt thỏa tích nhìn ngắm nó rồi anh chạy thẳng tiếp một đoạn đường với mấy hàng cây dầu to cao vút, mấy hàng cây tỏa bóng râm kín cả con đường mà miên man một chút, song, quay ngược xe trở về chạy ngang nhìn lại thêm một lần nữa. Có bữa Việt ngừng hẳn xe ngay trước đường chưn trời để nhìn một hồi thật lâu vào bên trong. Hai con đường và ngôi trường trở thành quen thuộc với Việt mà có lúc anh ngỡ đã là ngôi trường của mình, có lúc anh tính đi con đường khác, khi đi lại chạy trùng lặp hai con đường này.

Bây giờ thì lại lạ lẫm. Ngôi trường một chút nữa đây thôi sẽ chính thức là của Việt. Có lẽ rằng trong sự háo hức, sự hân hoan vẫn còn một nỗi lo lắng ẩn náu. Sự hòa quyện những trạng thái làm Việt lơ lửng.

Rồi cánh cửa phòng đăng ký mở ra. Việt chạy tới ngay, là một trong những người tới đầu tiên. Những gương mặt của những anh chàng những cô nàng làm cho căn phòng bay bỗng, làm cho căn phòng lơ lửng, căn phòng mới trước ít phút có vẻ đìu hiu, buồn một nỗi buồn cô đơn thì nay rạng rỡ, một đóa cúc vàng nở bừng lên với ánh sáng ùa nhanh vào. Việt đăng ký ngay tức thì, trong phút chốc anh đã có tên trong sổ. Việt sẽ là tân sinh viên của khóa tới, của ngôi trường Văn Khoa tiếng tăm lắm chứ* (*trường Đại học Văn Khoa, ngày nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn). Nỗi lo âu ẩn nấp bây giờ đã lặn mất tăm hơi về một cõi nào đó thiệt sâu thẳm, nhường hẳn chỗ cho niềm vui sướng tột đỉnh trong anh.

Việt đăng ký vào ban Triết không một chút đắn đo.

Trước đây thì Việt có sự đắn đo. Anh đắn đo giữa sự lựa chọn vào ban Văn chương hay ban Triết. Một miền đam mê văn chương mãnh liệt trong Việt thì không có gì bàn cãi. Nhưng hơn thế nữa, Việt cũng không đến nỗi tệ trong lãnh vực này, những bài thơ của anh chẳng được chuyền tay nhau và được tán thưởng đó sao, chẳng được đứng vào hàng đầu bảng của trường đó sao, bạn bè anh chẳng kỳ vọng anh rồi sẽ thành những Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Sơn… đó sao?! Những người mà Việt mê mẩn, những nhà thơ xuất thân ngay từ ngôi trường này, cùng những những nhà văn nữa, đó là Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng… Những nhạc sĩ, ca sĩ nữa chứ, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, nhạc Sĩ Đức Huy, Ca sĩ Hoành Oanh, ca sĩ Thanh Lan… Ngay cả Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, tuy không mang đời sinh viên ở ngôi trường “thần thánh” của anh, nhưng cũng đã chọn nơi đây làm sân khấu biểu diễn nhiều lần.

Nhưng rồi triết làm cho anh bừng tỉnh, như cách triết dân dã đã nói ở trên. Đôi khi Việt cảm thấy mình u mê, đôi khi thấy mình quá mụ mị, triết cho Việt nhặt nhạnh được những tia sáng lia qua sự u mê, mụ mị này.

Một lần Việt thấy ánh trăng chiếu vào một vùng mịt mờ, không chỉ vùng này thơ mộng hẳn ra mà ngay cả ánh trăng cũng sáng hẳn lên. Từ đó Việt ước vọng mình là người cầm những tia sáng quét vào đêm tối. Giống như thầy Kim Định, thầy Nguyễn Duy Cần, thầy Bửu Dưỡng, thầy Lê Tôn Nghiêm… Một điều Việt rất tâm đắc khi nhận ra rằng, trong triết có văn chương và ngược lại, trong văn chương có triết thì văn chương càng lấp lánh. Các thầy của ban Triết nhưng vẫn để văn chương chảy trong máu mình đó thôi chứ đâu phải cứ hễ triết là một sự lạnh lùng, một sự nghiêm nghị, một sự cao đạo… Văn chương còn chảy lênh láng, vượt tràn trong thầy Trần Bích Lan, những bài thơ đặc sắc của ông được ký dưới bút danh Nguyên Sa làm không biết bao người say đắm!

Việt nhảy chân sáo ngay nơi hành làng khi vừa bước ra khỏi nơi đăng ký, không có vẻ gì là ngại ngùng, không có vẻ gì là sợ gièm pha. Đối với Việt, tất cả xung quanh anh bây giờ là một bầy chim đang ríu rít, anh là con chim chiền chiện vút lên hạ xuống, là chim sáo hồn nhiên của những hồn nhiên.

 

***

 

Việt ngồi nhìn xa xăm gần như bất động, nhưng tâm trạng anh không thấy bản thân mình yên lặng, anh cảm thấy xung quanh có những sự chuyển động liên tục, chuyển động xoay vòng rất nhanh của vũ trụ, và anh cũng chuyển động với trạng thái không trọng lực trong đó, trong vũ trụ chuyển dịch liên hồi. Bất biến của vũ trụ chỉ dành cho những bộ óc ù lì, những bộ óc nhìn đường thẳng thì nó sẽ là đường thẳng, nhìn đường cong thì nó sẽ là đường cong, không cần biết phía cuối những con đường mà ta không nhìn thấy được nó ra làm sao, nó như thế nào.

Việt lơ lửng xoay hết phía này rồi phía khác, anh xoay tìm cho mình những tia sáng. Anh muốn sở hữu nó để đi xuyên qua tâm thức của con người, thay đổi nhận thức của con người.

Đôi khi Việt tự hỏi đây có phải là công dã tràng? có thể thay đổi được nhận thức chăng? hay ý thức là một bản chất tồn tại ấn định cho từng cá thể?

Việt không nghĩ vậy nữa khi liên hệ với bản thân và có câu trả lời. Chính anh, anh đã từng hấp thụ được không khí hòa trộn của hừng đông, để rồi anh đã được dạy cho một bài học khai phóng trong mình, đã được dạy cho một bài học nhân bản, những bài học quý giá vô cùng. Anh thay đổi hành động của mình khá nhiều từ đây. Trước đó Việt chăm chú hành động vụ lợi riêng, chăm chú những hàng động rất thực tế, Việt đã từng ghét cay ghét đắng những hành động phi thực tế, mỗi hành động đều phải hướng tới sự hưởng lợi của bản thân, có thể nói những hành động rất là vị kỷ. Những hành động được gọi là Hữu Vi.

Anh đã tìm được hành động An Vi. Một sự dung hòa giữa hành động Hữu Vi và Vô Vi. An Vi cũng hành động sát với thực tế chứ không rời bỏ cuộc sống như Vô Vi. Vô Vi luôn chối bỏ cuộc sống vì cho rằng thực tại vô giá trị, thực tại của cuộc sống chỉ là sự hư ảo, hư vô, Vô Vi không hành động gì cả dù có lợi cho bản thân, có thể nói Vô Vi là sự phó mặc cuộc đời, phó thác cuộc đời cho cuộc đời, không có hành động can dự nào cả.

Nói là một sự dung hòa cũng không đúng hẳn, chỉ là một ít thôi. Một ít hư ảo, hư vô cho những suy nghĩ mộng mơ thuộc Vô Vi, chứ Vô Vi có hành động gì cho cam. Một ít này để cho An Vi nhẹ nhàng cùng hành động, hành động tuy vẫn thực tế của cuộc sống nhưng hướng về một ý nghĩa cao cả, hướng về những kiếp nhân sinh chứ không vị kỷ, những kiếp nhân sinh cần phải có cuộc sống được hưởng thụ hạnh phúc và an lành trọn vẹn.

Việt mới hấp thụ hừng đông chứ chưa đủ khả năng tầm soát. Do đó anh đang cố gắng học hỏi để sở hữu những tia sáng, mong một ngày sẽ phát sáng An Vi.

“Làm gì mà suy tư quá vậy? Một mình trên giảng đường rộng thênh giống như một mình một ngựa băng qua sa mạc mênh mông để đến chiến trường quá hen.” – Một anh chàng vỗ vai Việt làm anh giựt mình. Sau đó thì Việt thực sự ở trong trạng thái yên lặng, bất động luôn ấy chứ. Anh rơi vào một khoảng thời gian vô thức. Người bạn nói tiếp và kéo Việt Đứng dậy:

“Đi, đi ra đây chơi.”

Việt bước đi theo bạn vẫn ở trạng thái vô thức. Ra khỏi cửa giảng đường anh mới sực tỉnh. Anh hỏi:

“Đi đâu đây?”

Bạn đáp:

“Cứ đi đi rồi biết. Chỗ này hay lắm đó.”

Người bạn kéo Việt đi ra con đường bên hông trường. Thì ra ở cuối con đường Thống Nhứt* (*đường Lê Duẫn ngày nay) giáp ngay cổng Sở Thú* này (*Thảo Cầm Viên), quẹo phải theo đường Nguyễn Bỉnh Khiêm* (*xưa nay vẫn là Nguyễn Bỉnh Khiêm) một đoạn thì có trường Nữ Trung học Trưng Vương. Các chàng Văn Khoa và cả các chàng Nông Lâm Súc* (*Tiền thân là trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc, năm 1974 đổi tên trường ĐH Nông Nghiệp Sài Gòn nhưng nhiều người vẫn quen với tên gọi cũ là Nông Lâm Súc), các chàng Dược Khoa*, (*trường Đại học Dược Khoa Sài Gòn, nay là Đại học Y Dược) các chàng ngụ cư ở phía đối diện cũng lãng vãng để mà tìm con đường tình tứ cho mình.

Vậy, trường Trưng Vương có gì đặc biệt ngoài là trường nữ? khi muốn tới được trường này phải qua một trường trung học nữa, đó là Trung Học Võ Trường Toản cũng rất nổi tiếng. Có đấy chứ. Có câu chuyện để các chàng ta ngân nga:

“Này cô em Bắc kỳ nho nhỏ
Này Cô em tóc demi garcon
Chiều hôm nay xuống đường đón gió
Cô có tình cờ
Nhìn thấy anh không?…”
(Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ – thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy)

Câu chuyện rằng, trường vốn được chuyển từ Hà Nội vào đây ngay sau hiệp định Genève – 1954. Những cô bé Bắc kỳ nho nhỏ, xinh xinh vẫn nối tiếp học ở trường đã có tên từ miền ngoài này. Và, tất cả những gì lạ lẫm đều mang đến sự lôi cuốn, mang đến sự quyến rũ lạ kỳ.

Người bạn kéo Việt đi trong một tư tâm thế khá là hãnh diện. Hãy chấp nhận cho điều đó. Bởi, dù có thể hiện ra sao đi nữa, các chàng Nông Lâm Súc, các chàng Dược Khoa cũng làm sao sánh được với các chàng lãng tử hào hoa Văn Khoa. Các chàng đã để lại dấu ấn trên những con đường vốn là nơi thuộc về các nàng thong dong trong bộ áo dài thướt tha, khoan thai với cái cặp táp phía trước ngực:

“…Hỡi người tình Văn Khoa, bóng người trên hè phố
Lá đổ để đưa đường, hỡi người tình Trưng Vương…”
(Con Đường Tình Ta Đi – nhạc Phạm Duy)

Các chàng trai ngân nga, các chàng trai lẽo đẽo bước theo sau các cô gái mà tán hươu tán vượn. Rồi các chàng Văn Khoa trổ tài của mình. Các chàng sáng tác, sáng tác nhạc, sáng tác thơ, sáng tác văn. Các chàng giả đánh rơi đây đó, và các chàng ghim những bài thơ, những câu thơ đủ thể loại trên hàng cây cổ thụ, như thể cây cối là chứng nhân cho họ. Tất cả bắt đầu từ một mối, không thể khác được, phải lừ mối tơ lòng :

Hỡi người em gái Trưng Vương
Nhìn em chưa kịp (đã) vội thương suốt đời!

 Ôi! người em gái Trưng Vương
Vừa ngang giáp mặt đã dường trăm năm!

 Trưng Vương em gái Trưng Vương
Ngày đêm in dấu bóng hường trong ta!

Rồi các chàng ta để lại địa chỉ:

Ơi người em gái Trưng Vương
Anh tên là… bên trường Văn Khoa

 Trưng Vương em gái đẹp xinh
Anh tên là… xóm Đình nghen em

Việt cũng mon men theo con đường tơ. Anh cũng dán hai câu vào thân cây sao:

Hỡi người em gái Trưng Vương
Em là cơn gió vô thường trong ta!

Cơn gió Trưng Vương vô thường mang nghĩa bóng đến với Việt. Cơn gió thoáng qua, cơn gió bay vào vùng quên lãng rất nhanh. Cơn gió đã thành cơn gió Vô Vi. Có một cơn gió khác đã níu chưn anh, trói người anh đã từ hơn một năm trước. Cơn gió bay bay trên con đường thẳng của tam giác vuông. Chính cánh cổng đường chưn trời là cầu nối anh đến với cơn gió. Cơn gió ở ngôi trường mang tên vì vua đã thống nhứt thiên hạ:

“… Hỡi người tình Gia Long*, hỡi người tình cuộc sống
Con đường này xin dâng, cho người bình thường…”
(Con Đường Tình Ta Đi – nhạc Phạm Duy)

(*Trường Nữ Trung học Gia Long, nay là Nguyễn Thị Minh Khai)

Hơn một năm trước, lúc trên đường từ Petrus Ký tới ngắm Văn Khoa, khoảng giữa con đường này anh đã bị một tà áo dài phất phơ trong gió ẩn trong cả mấy trăm tà áo tuyệt đẹp chiếu bí, đúng như những gì mà các chàng thi sĩ vui tánh hay trêu ghẹo:

Hỡi người em gái Gia Long
Nhìn em là thấy tơ… lòng thòng ra

Sợi dây tơ của Việt biến anh thành  cái đuôi của một tà áo. Cái đuôi cả tháng trời, không thể nào tà áo tìm cách dứt ra được. Mọi cách rồi cũng “công cốc La Mã”, mọi con đường đều về La Mã, Việt thuộc lòng câu này như bao chàng trai, bao dũng tướng mang chiêng mang gươm đi chinh phục. Mấy bận liền cái đuôi dắt chứ không cỡi con chiến mã lẽo đẽo theo ngay từ cổng trường về tới tận khu Dakao. Tà áo mấy bận thử thử lòng cứ chầm chậm từng bước từng bước dù trời nắng, dù trời mưa bay lất phất.

‘Đường dài mới biết ngựa hay’. Những con ngựa dai sức, bền bỉ sẽ làm nên chiến tích. Việt đã từng bước từng bước “kìm cương ngựa chiến” đi đến cuối con đường để rồi được cắm lá cờ chiến thắng có điểm đích là cây cầu Sắt hùng vĩ* (*Nay là cầu Bùi Hữu Nghĩa), anh hoàn toàn chinh phục được sự nghi ngờ để đổi lấy lòng tin tuyệt đối, chinh phục niềm kiêu hãnh để có được nụ cười hiền hòa rạng rỡ. Việt đặt tên cho tà áo là Nụ Tím Gia Long. Nụ hoa chuẩn bị bung nở, nụ cười một thời bí hiểm, một thời kênh kiệu bởi mang sự mỹ miều, nay đã rất bao dung, rất hòa nhã. Tím thì thuộc một rừng tà áo tím như một cánh rừng hoa sim* (*Nữ sinh Gia Long ngày xưa bận áo dài tím truyền thống).

***

Bất ngờ là một phần của cuộc sống. Bất ngờ làm bật nảy hoặc đè bẹp cán cân cảm xúc trong con người. Bất ngời đôi khi mang lại thú vị, mang lại niềm vui sướng tột đỉnh, đôi khi mang lại buồn đau, đôi khi mang lại nỗi trằn trọc, hoang mang, sợ hãi…

Tuổi 20 của Việt, chàng sinh viên năm thứ hai Văn Khoa hào hoa  bỗng dưng bị đánh dấu bằng một câu hỏi lớn. Câu hỏi đến một cách bất ngờ, rất bất ngờ. Câu hỏi chắn ngay lối con đường Việt đang đi rất suông sẻ, chưa gặp phải một chướng ngại nào, chưa gặp phải một vật cản, một lực cản nào cả. Câu hỏi mà trong khoảng thời gian này, khoảng thời chỉ chú tâm đi tìm những tia sáng chưa một lần xuất hiện trong anh, chưa một lần dù là mảy may. Sự mảy may, dễ liên tưởng tới những bông cỏ may, những bông cỏ tưởng chừng tượng trưng cho sự yếu mềm lại tựa hồ gai góc, dễ dàng đâm xuyên và dính chặt vô những tấm vải được dệt kín bưng.

Đó là một buổi sáng vừa qua hừng đông, Việt bước vào một quán cà phê khá đông đúc, đang dò tìm chỗ ngồi thì một người trạc tuổi đeo cặp kiếng cận dày cộp dịch ghế xích vào và kéo một ghế khác, anh ta đưa bàn tay chỉ vào ghế:

“Ngồi đây đi ông bạn.”

Việt cảm ơn và ngồi xuống. Anh bạn kiếng cận nhanh nhảu búng tay cái chóc, nói với vô trong quầy rồi mới hỏi mà như nói với Việt:

“Cà phê đi. Chắc chắn là cà phê chứ gì phải không ông bạn?”

Việt gật đầu:

“Ừ, cà phê. Hay lắm, hay lắm ông bạn, đoán như thần.”

Anh bạn kiếng cận cười xòa:

“Không là hai ly về cả ta.”

Lôi gói thuốc lá trong túi ra và kéo lòi nửa điếu, anh bạn kính cận mời:

“OK Salem?”* (*tiếng lóng, ý đồng ý chứ? Salem: một loại thuốc lá của Mỹ)

Thấy Việt còn chần chừ, anh bạn tiếp:

“Cầm đi, hút cho thơm râu. Vài ba điếu thuốc mời nhau nhằm nhò gì ba lẻ tẻ. Ui, thứ gì thì thứ chứ thứ “mấy em làm anh sướng”* này nhà tui có đầy, ba tui là lính Quân tiếp vụ mà (*diễn dịch theo cách viết tắt, theo nghĩa tiếng Việt và đọc ngược từ Salem – melaS).

Việt rít một hơi, mấy sợi khói anh nhả ra bay tỏa xung quanh những chữ o của anh bạn phả lên nhìn rất đẹp. Việt hỏi:

“Ông bạn là…?”

Anh bạn kiếng cận cắt ngang:

“Ui da, đừng hỏi mà tui mang nhục” – chỉ chỉ vào cặp kiếng, anh tiếp: “Ngó vậy chứ chẳng phải vậy, chẳng ra giống ôn gì đâu. Còn ông bạn vừa từ Đà Lạt về hả?”

Việt nhíu mày, phải chăng vì anh có nước da trắng nhưng có phần tai tái? Con trai Đà Lạt đa số là vậy, đâu trắng tươi như các nàng. Việt đáp:

“Ồ, không đâu. Tui dân Sài Gòn chánh hiệu con nai vàng. Dân Triết Văn Khoa.”

Anh bạn kiếng cận có chùng xuống một chút, một chút thất vọng, nhưng rồi anh cũng lấy lại sự hồ hỡi:

“Ồ, xin ngã mũ, ngã mũ với giáo sư tương lai đây. Nhưng thú thiệt tui khoái tướng tá của ông bạn, ước chi tui có được tui đăng lính* ngay (*đăng ký tình nguyện vào quân đội, còn gọi là quân dịch).” – anh cười hihi: “Tui bước chưa tới cửa đã bị đuổi về rồi. Dáng vóc còm cõi, tội nghiệp quá mà. Trong khi đó lại cứ mơ được là một chàng lính dù, chàng lính oai phong như ngự lâm quân.”

À, thì ra anh bạn nghĩ Việt đang học trường Võ Bị Đà Lạt*(*trường chuyên đào tạo sĩ quan quân đội). Anh bạn kiếng cận đứng dậy:

“Thôi, chào giáo sư nhé. Tui đến lớp, ráng gạo* (*học chăm chỉ) thêm may ra năm tới đăng ký được lớp dự bị. Chúc sức khỏe giáo sư.

Việt đưa tay bắt và chào lại:

“Chào ông bạn. Chắc chắn ông bạn sẽ thỏa ước nguyện mà thôi. Không làm việc này thì làm việc khác, việc nào cũng hay hết. Cảm ơn ông bạn rất nhiều!”

Anh bạn mắt kiếng bước đi để lại một niềm vui trong Việt. Một cảm giác là lạ bởi đây là lần đầu anh được nghe nói tới hai từ giáo sư, mình sẽ là giáo sư. Việt chưa hề nghĩ tới điều này. Anh thấy vui vì trong mình phải có ít nhiều tố chất nào đó bộc lộ ra bên ngoài, như vậy anh bạn mới nhận được chân tướng.

Nhưng rồi niềm vui không được bao nhiêu lâu, đã phải nhường chỗ cho nỗi bâng khuâng. Nỗi bâng khuâng kéo ập tới, che phủ lấp niềm vui cũng từ chỗ chân tướng này. Tướng tá anh vượt trội với bạn đồng trang lứa, Việt cao to, vạm vỡ. Ư, mà không chỉ là đồng trang lứa, anh cao to hơn tất thảy người bình thường đã trưởng thành. Ngay cả hàm râu của Việt cũng vượt trội, một hàm râu quai nón sẽ rậm rì nếu Việt để chứ không cạo nhẵn. Cách hai ba bữa thì Việt lại phải đứng trước gương với  đồ nghề cạo râu cùng hộp kem xịt ra thoa chứ không thì cạo thiệt khó đứt những sợi râu cứng như cước. Nếu Việt để râu dài, đầu tóc phủ một chút thì chắc danh xưng giáo sư đã có rồi chứ không cần đến anh bạn mắt kiếng.

Giáo sư Triết học thiệt cao siêu. Nghĩ tới sự thể cao siêu, dĩ nhiên sự cao siêu nào không được được trọng vọng, một sự trọng vọng lớn lao xuất hiện vẫn không làm mất đi sự bâng khuâng, không lấy lại được niềm vui cho Việt. Một câu hỏi liên quan tới sự thể này lởn vởn ngay trước mắt và còn khá lâu nữa trong anh. Câu hỏi rằng: “Tại sao anh không đăng lính?”, tại sao chưa hề nghĩ tới đăng lính? không đăng để trở thành một chàng ngự lâm, một chàng lính dù cũng rất chi là oách? Không những vậy, nó còn thể hiện hết tinh thần, khí khái của một con người khi được ban cho một ân sủng nào đó. Đặc ân của Việt là một hình thể khá tuyệt vời, cao to và rất cân đối.

Vũ trụ vẫn biến chuyển và Việt vẫn chuyển động trong đó. Anh tìm ra được vài tia sáng. Lần này Việt không suy nghĩ sâu xa, không vội tìm cách để tia sáng tỏa ra các nơi, anh xoay hướng chuyển nó quay vào ngay chính mình. Anh muốn nó trước tiên phải xóa đi vùng u tối trong mình. Anh muốn nó phải trả lời được câu hỏi tưởng chừng rất dễ có lời đáp này. Cứ mỗi lần truy lục, truy vấn tâm tưởng thì lại xuất hiện những biện giải. Có sực hài lòng với biện giải lẫn không hài lòng.

Việt ngồi trên chiến mã sắt thấy mình đúng là khá oai vệ. Có được sự trầm trồ khá nhiều, nhưng Việt không thấy được sự ngưỡng mộ. Ngay cả anh chàng mắt kiếng, Việt nhận ra rằng anh sẽ quên ngay mình khi bước ra khỏi quán cà phê. Sự trầm trồ sẽ qua nhanh, hình ảnh đập ngay vào mắt tạo ra sự trầm trồ rồi thoáng qua và biếng mất dễ dàng chứ không đọng lại lâu, không lưu kỹ bằng sự ngưỡng mộ trong ký ức con người, trừ những hình ảnh thiệt sự ấn tượng, có một không hai và xuất hiện hiếm hoi trong một khoảng khắc nào đó. Sự ngưỡng mộ có từ một quá trình phán đoán, dò xét, suy luận,… rồi mới đi đến hồi chốt lại kết quả.

Song, Việt cũng cho rằng mình cũng đâu có quá chú tâm đến vẻ bên ngoài, đâu quan tâm lắm tới sự trầm trồ, anh luôn tự khuyên mình phải đi tìm sự ngưỡng mộ, sự ngưỡng mộ thiệt lòng, nói trắng ra là anh luôn buộc mình đi trên con đường hướng tới thành nhà Hiền Triết. Con đường đi đó đâu phải dễ dàng nếu không muốn nói là rất chông gai, chông chênh bờ thác. Con đường đi không phải ngày một ngày hai để có được kết quả cho sự ngưỡng mộ.

Việt rõ lắm chứ, những nhà Hiền Triết họ để lại đâu phải là sự mô tả về thân thể, mô tả về dáng dấp, có chăng thì cũng sơ lược là với một vẻ khôi ngô, tuấn tú hoặc dị tướng, dị hình, không giống người bình thường để tôn vinh thêm sự thông thái, tôn vinh công việc, sự nghiệp của họ để lại.

Sự biện giải nâng cao hơn một bậc nữa, Việt đã loại bỏ được sự sân si, loại bỏ được tự ái, loại bỏ được những bản tánh cố hữu trong con người rất khó bứt ra. Anh đã âm thầm đi trên con đường chông gai, không chọn sự ân sủng mà sẽ dễ dàng có được sự ngưỡng mộ.

Ấy dà, nhưng đó là sự biện giải khi anh có câu hỏi, chứ trước đó anh có chú tâm gì tới nó đâu, anh bị hút sâu vào con đường anh đi kia mà. Còn có thể bẻ lại sự biện giải, anh đã mang Vô Vi trong mình, vì bị cuốn hút mà anh quên các hoạt động khác. Điều này có thể tha thứ, nó tới tự nhiên chứ không phải cố tình, quá chú tâm một nơi thì sanh vô tâm với nơi khác. Nhưng không trách móc thì không thể.

Việt thử rời bỏ con chiến mã sắt thử xem sao. Dĩ nhiên sự trầm trồ có giảm xuống. Nhưng cốt không phải ở điều này, anh đã liệt sự trầm trồ vào khối Vô Vi, anh chỉ muốn thời gian đi chậm lại. Ôi! thời gian cũng có nhanh chậm và ta tạo ra như vậy được nữa sao? chứ không phải 24 tiếng đồng hồ là một ngày đêm, một tiếng đồng hồ là 60 phút,… được phân định hữu hạn vậy sao? Phân định hữu hạn thì không thay đổi, nhưng Việt đã thử nghiệm riêng cho mình, anh đi thụt lùi thì thấy thời gian đi thụt lùi theo mình, với đôi bánh xe của chiến mã sắt lăn tròn vù vù thì kéo thời gian đi vù vù, lăn tròn chầm chậm của những ngày lẽo đẽo theo sau Nụ Tím Gia Long thì nó dài bất tận… Việt tạo cây thước đo thời gian mới, đó là đôi chưn của anh, đôi chưn mang thân thể đi tới trường, mang thân thể lang thang đây đó… Thời gian dĩ nhiên chậm lại theo thước đo và kéo theo những tia sáng chiếu chậm lại. Những tia sáng có thời gian quét vào vùng u tối, quét vào các ngóc ngách mà bấy lâu nay nó bay vùn vụt.

Bước kế tiếp này không đi đến đâu, thời gian chậm càng làm lê thê thêm, giống như một sự trì hoãn để tìm thêm biện giải. Trớ trêu thay xuất hiện ngay sự so sánh, rằng tựa như sự hoãn binh. Binh nghiệp của anh ở đâu? Lấy tư cách gì để anh sử dụng? Việt chẳng muốn sử dụng nhưng hai chữ cứ lẩn quẩn trong đầu, xua đi không nổi.

Tâm trạng Việt rối bời. Anh đâu hay bị rối bời như vậy. Được một điều, Việt biết kìm chế. Nhưng có dấu cách mấy cũng không thể che được hết, nhứt là đối với phụ nữ, đặc biệt là người gần gũi.

Sọt sọt muỗng cho đá bào tan ra trong ly chè* (*chè đá bào, đá được bào mịn như tuyết), Nụ Tím Gia Long hỏi:

“Có chuyện gì xảy ra hở? chuyện gì mà buồn buồn vậy?”

Việt nhún vai, giả lả:

“Ơ, có gì đâu. Chẳng có gì hết. Chỉ là bài vở không được như ý thôi. Buồn chút thôi mà.”

Nụ Tím Gia Long hồn nhiên:

“Vậy hở. Tưởng gì chớ, vậy thì có nhằm gì với người tài cán ha. Chẳng mấy chốc lấy lại thôi.”

Sự hồn nhiên của nàng làm nỗi buồn hiện bên ngoài Việt tạm đi mất. Việt vui vẻ và anh muốn cuốn vào đây để nó biến mất hẳn, chí ít trong lúc này:

“Ôi! chè ngon quá!”

Nụ Tím gật đầu:

“Chè ở đây nổi tiếng mà.”

Những câu chuyện bắt đầu từ ly chè được kể, chuyện trường chuyện lớp của nàng Nụ Tím mà Việt khưi gợi nên. Anh có một khoảng thời gian hồn nhiên thiệt dài. Cây thước đo thời gian lúc này Việt muốn kéo càng dài để tận hưởng là ngồi, ngồi và ngồi, thời gian cũng rất biết chiều lòng, ngồi lại thiệt lâu với đôi bạn trẻ.

Nhưng, khi rời khỏi thời gian ngồi thì Việt lại buồn. Những buổi chiều Việt càng thấm buồn.

Buổi chiều cũng hay buồn. Buổi chiều buồn là buổi chiều chiều, buổi tiến gần tới hoàng hôn. Ánh nắng buổi này đã nhạt, chuyển màu vàng vàng và man mác.

Buồn của Việt và buổi chiều không có mối liên lạc gì với nhau. Chì có điểm chung là cả hai cùng thấm nên rất là buồn. Khác nhau nhiều là buồn của Việt rất chán chường, buồn của buổi chiều thấy nhẹ tênh, có cảm giác nhiều người khoái cảm với nó nữa ấy chứ! Hổng lẽ có nỗi buồn khoan khoái nữa sao? Với Việt như vậy rất lạ lùng, nhưng anh vẫn thích dù không nói ra với ai.

Việt dự định leo ra ban công phía sau nhà để nhìn về hướng Tây, nhìn buổi chiều buồn, biết đâu buồn này sẽ lấp buồn kia. Ui mà, Việt quên mất, phía sau không có ban công, tiếp nối với căn nhà chánh phía trước là căn nhà trệt mà thôi.

Vậy là anh leo lên cây vú sữa già. Ngồi trên cây vú sữa thấy có vẻ sao sao, giống con thú to bự nào đó rất là kỳ cục, nên Việt bước qua ngồi trên mái nhà. Rất may, phía sau khá vắng vẻ, nhưng nếu có ai dòm thấy thì sẽ cho rằng Việt đang sửa mái nhà chứ có gì ghê gớm đâu. Việt nghĩ vậy thì thấy thoải mái, anh lòm còm bước nhẹ nhàng lại chỗ tiếp giáp giữa mái và chái nhà cho chắc chắn và gần trên đỉnh mái cho cao cao một chút, tấm thân hộ pháp của anh mà ngồi chỗ yếu yếu dễ lủng ngói, gãy cả rui mè.

Nắng vàng bắt đầu nhường chỗ cho buổi hoàng hôn. Buổi hoàng hôn với một mảng ửng sáng gồm nhiều màng màu nhỏ xen lẫn, chồng lên nhau rất đẹp, một chút xanh xanh ngả tím, một chút nâu nâu, nhiều hơn một chút là màu vàng, nhiều hơn hết là màu cam làm cho ta ngỡ cả mảng là màu cam nếu không nhìn kỹ. Mảng màu ửng nhưng không rực rỡ lắm, không bừng sáng như buổi bình minh, không thấy những tia sáng nên có lẽ nó vậy và cũng có lẽ do nó mất dần, lụi tàn dần, bị màn đêm dần dần chiếm trọn chỗ. Những mất mát dễ gây cho ta nỗi buồn, dễ gây nỗi thương nhớ, tiếc rẻ những gì đã bị đánh mất.

Việt nhìn ở một góc độ khác, anh thấy đây là một cuộc chiến tranh. Chiến tranh giữa bầu trời và phía khuất sau đường chưn trời. Chiến tranh giữa ánh sáng và bóng tối. Những kẻ dấu mặt, xài thủ thuật của bóng tối dễ chiến thắng hơn người ở ngoài ánh sáng. Chiến tranh không đại diện cho số đông, tức dân chúng. Chiến tranh chỉ đại diện cho những kẻ hiếu chiến, đại diện cho những kẻ muốn làm bá chủ, muốn xưng hùm xưng bá, những kẻ độc tôn độc tài, những kẻ này lại hay núp trong bóng tối và sẽ nhân danh một điều gì đó, chẳng hạn nhân danh đại diện cho dân chúng để lừa mị, để sử dụng bạo lực mà thực hiện ý đồ của mình.

Chiến tranh thì luôn đem lại sự mất mát, luôn mang đến đau thương. Việt có thêm một biện giải, anh không thích chiến tranh, anh chống lại chiến tranh mãi đó thôi. Ngay con người anh ở đời thường, chưa ai thấy anh động tay động chưn bao giờ, anh là một cục đất hiền khô, luôn nở nụ cưới hiền hòa trong mắt mọi người. Vậy hà cớ gì anh phải đăng lính? Hà cớ gì phải cầm súng để gây đau thương? Hà cớ gì anh không tiếp tục con đường tìm ánh sáng đề triệt tiêu bóng tối?

Việt nguôi ngoai với biện giải này, anh dần tươi tỉnh hơn. Bỗng dưng, một cơn gió mạnh ào qua, gió lay cây vú sữa kêu lào rào, tán lá quạt vào mái ngói làm Việt lạnh người bởi từ nãy giờ trời rất yên tĩnh. Đang nghĩ về chiến tranh, Viêt giựt mình ngỡ chiến tranh đang ập tới, chiếm trọn tất cả. Gió qua đi, trời yên ắng trở lại nhưng câu hỏi khác lại đến: “Trong lúc ngay cả mình còn mù mờ, còn chưa tự khai sáng nỗi, còn đi tìm tia sáng thì chiến tranh nó đã thống lãnh thì sao?” – Con đường đi tìm tia sáng và phát sáng đâu phải ngày một ngày hai, thậm chí phải đánh đổi bằng mạng sống như Triết gia Socrates ngày xưa.

Và Việt nhớ tiếp một câu nói người ta cũng rất thường nói: “Muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh” hay “Muốn kết thúc chiến tranh không gì bằng một cuộc chiến”. Như vậy có mâu thuẫn quá chăng? Không. Chẳng có gì là mâu thuẫn cả. Chuẩn bị một cuộc chiến như là cuộc chiến cuối cùng để dập tắt chiến tranh, một cuộc chiến chống lại   chứ không phải là gây chiến triền miên khói lửa.

Lúc này trong đầu Việt văng vẳng tiếng của các cụ ngày xưa, tiếng văng vẵng nhưng rất dứt khoát: “Đánh. Đánh.” – Dĩ nhiên ai cũng biết đây là tiếng hô đồng lòng của các Bô Lão tại hội nghị Diên Hồng. Tiếng hô dậy núi sông nhưng không hề là tiếng hô của sự hiếu chiến như những kẻ phương Bắc, chuyên đi xâm lấn và hà hiếp nước yếu, nước nhỏ.

Tiếng hô biểu thị cho điều gì? Đó chắc chắn là tinh thần ái quốc đứng đầu. Đó là tinh thần không nhu nhược, không hèn nhát trước kẻ thù bạo tàn, đó là danh dự. Những cụ già còn mang danh dự thì một kẻ thanh niên trai tráng lại yếu hèn hay sao? Câu hỏi này không thể không có trong Việt. Và đó là trách nhiệm với Núi Sông này, không thể phó thác cho ai khác. Phải cùng nhau gách vác. Việt đã thấy khá nhiều lần câu biều ngữ: “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm” đó thôi. Anh cũng đã được dạy và đã thuộc lòng bài hát Nhà Của Ta của nhạc sĩ Phan Quang Nhàn:

Cái nhà là nhà của ta
Công khó Ông Cha lập ra
Cháu con phài gìn giữ lấy
Muôn năm với Nước Non nhà
Xóm làng là làng cùa ta
Xương máu Ông Cha làm ra
Chúng ta phải gìn giữ lấy
Muôn năm với Nước Non nhà
Cánh đồng đơm đầy hương hoa
Công khó Dân ta làm ra
Quyết tâm ta gìn giữ lấy
Nuôi nhau chung sống một nhà
Xóm giềng là tình quê hương
Chung sống vui bên ruộng nương
Có nhau để cùng chung sức
Vươn lên Non Nước hùng cường
Cõi đời là đời của ta
Nuôi dưỡng công lao Mẹ Cha
Lớn khôn để gìn giữ nước
Thay nhau xây đắp Sơn Hà

Việt nhẩm nhẩm hát đi hát lại mấy bận. Người anh bắt đầu thực sự loại bỏ được cơn buồn. Và anh đã có câu trả lời.

Không còn đắn đo, dò hỏi chi nữa, Việt nắm bàn tay, đưa ngón tay cái lên quyết định rất dứt khoát. Lúc này thì người Việt sảng khoái, anh trèo xuống khỏi mái nhà mà tưởng chừng đang bay rất ư là nhẹ nhõm xuống đất.

 

***

 

Vẫn ở quán chè đá quen thuộc, ở “… Nơi chúng ta thường hẹn, rồi bập bềnh buông tâm trí…”* (*Chiều Trên Phá Tam Giang – thơ Tô Thùy Yên, nhạc Trần Thiện Thanh), và cũng có chính lời bài hát này nho nhỏ phát ra từ máy hát dĩa Akai ngay tại quán, nhưng hai ly chè không được Nụ Tím Gia Long sọt sọt hồn nhiên như mọi lần, mà tâm trạng của cô nàng tựa hồ như lời bài hát, “… em dòng lệ bất giác chảy tuôn, nghĩ đến một điều em không rõ, nghĩ đến một người em sợ không dám nghĩ, đến một người đi giữa chiến tranh…”. Hai ly chè đá lạnh băng băng tuyết, người Nụ Tím Gia Long thì nóng hổi, không ngăn được cảm xúc của tuyến lệ, cô nàng cứ để cho hai dòng nước mắt chảy tự nhiên, không quẹt cũng chẳng lau chùi, một lúc sau mới thổn thức:

“Chứ sao nói ghét chiến tranh lắm mà. Ghét súng ống, ghét giết chóc lắm mà.”

“Thì ghét lắm chứ sao!”

Việt đáp lời và nhẹ nhàng giải thích theo cách nghĩ lúc ngồi trên mái nhà ngắm nghía hoàng hôn. Kết thúc anh nói:

“Rồi anh sẽ về, chắc chắn anh sẽ về với em.”

Nụ Tím Gia Long dương đôi mắt to tròn nhìn Việt một lúc rồi gục đầu, áp mặt vào bắp tay, hai bàn tay ghì chặt cánh tay anh, cô nàng thì thào cảm xúc của đọc thơ:

“Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa. Anh trở về trên chiếc băng ca. Trên trực thăng sơn màu tang trắng…  Anh trở về trên đôi nạng gỗ… hở?*

Việt khẽ cười buồn:

“Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân**. Hay chúng ta cứ theo: Anh trở về nhìn nhau xa lạ. Anh trở về dang dở đời em. Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen. Cố quên đi một lời trăn trối, em ơi!***” (*, **, ***Kỷ Vật Cho Em – thơ Linh Phương, nhạc Phạm Duy)

Cô nàng lại ngước đôi mắt long lanh nhìn Việt:

“Bộ dễ rũ bỏ hết lắm sao?”

Nước mắt của Nụ Tím Gia Long thấm vào bắp tay, Việt cảm thấy sự ấm áp lan tỏa khắp cơ thể. Anh xoa mái tóc cô nàng, quả quyết:

“Anh trở về, anh sẽ trở về lành lặng, và anh sẽ bù đắp bằng sự bằng an cho chúng ta.”

Đôi bạn trẻ thủ thỉ khá lâu nữa trong ánh đèn vàng vọt. Bên ngoài, đèn đường cũng vàng vọt, những hàng cây xanh um dưới ánh sáng ban ngày bây giờ thành một khối màu u tối, bóng của nó in xuống mặt đường đen thủi, khung cảnh thiệt là trầm mặc, trầm tư lắm lắm.

Lê Đắc Đồng Vọng