Gió thiên đường

Lần đầu tiên đến lớp khiêu vũ ở nhà tôi, Hiếu còn mảnh dẻ như cây tre non. Khi tôi cầm tay Hiếu chỉ những bước đi đầu tiên, hắn gọi tôi là “Sư Mi”. Tôi bảo: “Vậy thì từ nay Mi là sư phụ của Hiếu đó nghe”. Hiếu cười, khoe chiếc răng mẻ rất dễ thương.

Trong lớp này tôi phải dạy đến năm sáu anh chàng, anh nào cũng dẻo mồm. Đôi khi tôi thầm trách ba. Lẽ ra ba không nên phó mặc mọi chuyện cho tôi như thế, lẽ ra ba phải đứng dạy mấy ông con trai to xác này để đỡ cho con gái mười tám tuổi của ba. Có lúc bực mình tôi bảo: “Ba có nghe mấy chữ “con gái rượu” không? Rượu có đem chôn kín thì mới ngon”. Ba tôi lừng khừng: “Rượu tốt không sợ bay hơi”. Mắt ba tôi như nhìn xa xôi, đượm buồn.

Tự nhiên tôi thương ba. Lại lẳng lặng gánh vác hết mọi điều, để ba lặng thầm trong cõi riêng.
Những băng nhạc để tập trong lớp dều do ba tôi chọn. Nhạc vasle với Le beau Danube bleu của Strauss, Thu vàng của Cung Tiến, behop với Love is blue, tango với Vũ nữ thân gầy, Le Paloma. Hiếu bảo tôi: “Mi biết vì sao lớp nhà em ít người học không? tại nhạc chán quá”. Tôi ức: “Nhạc thế này mà còn chê. Toàn những bài bất tử”. “Nghe cổ lắm”. “Vậy Hiếu tới đây làm chi?”. “Nhạc sầu lắm nhưng cô giáo thì dễ thương”. Tôi mím môi, không thèm đáp. Yêu ai yêu trọn một đời, giọng Khánh Ly dìu dặt vang lên theo tiếng nhạc. Chừng nghe giai điệu quen thuộc, ba tôi ngồi lặng, mắt nhìn như soi vào quá khứ. Hiếu nháy mắt, hát nhại theo: Yêu ai, yêu chỉ vài giờ. Tôi nhăn mặt không nói gì, thừa lúc Hiếu bước sai tôi giả vờ lỡ chân đạp cho hắn một cái đau điếng.

Cả dòng họ tôi, trừ tôi ra, ai cũng có đôi mắt đẹp mà buồn. Mắt ba tôi cũng thế, lúc nào cũng u ẩn đầy kỷ niệm. Ngày xưa, ba tôi cũng từng có một mối tình lớn. Người con gái ấy tên là Lý Thanh Thúy, dân chơi ngày ấy thường gọi là Thanh Thúy Tàu. Đó là bông hoa nổi nhất trong vũ trường Đà Nẵng. Tất nhiên trong mắt ông bà nội tôi, một người con gái như thế không thể nào bước vào một gia đình thế gia vọng tộc tuy đã sa sút về tiền của nhưng chưa hề đánh mất nề nếp gia phong. Đám cưới của ba tôi, cho đến giờ những người bạn thân vẫn còn nhớ. Một đêm trước Giáng sinh, ba tôi và mấy người bạn đến vũ trường, đem theo một bó hoa và một chiếc bánh cưới. Vào cuối đêm, vũ trường vắng người, đôi tình nhân vừa cầm tay đi theo nhạc Oui devant Dieu vừa xuống từng bậc cầu thang dẫn đến phòng riêng. Đèn tắt, từng ngọn, tắt ngấm, tất cả chìm trong bóng đêm. Rồi những ngọn nến được thắp sáng dần, từng ngọn một và Thanh Thúy Tàu thấy người yêu đang nắm tay mình, lồng vào ngón tay một chiếc nhẫn cưới. Nàng bật khóc vì hạnh phúc… Từ đó chàng sĩ quan ở lại với Thanh Thúy Tàu, không về nhà cha mẹ. Thanh Thúy Tàu không tiếp những khách chơi giàu có nữa, và đáp lại, chàng trai hai sáu tuổi nổi tiếng khiêu vũ giỏi cũng tự nguyện không bao giờ nhảy với ai ngoài người vợ yêu của mình.

Thanh Thúy Tàu về sau đã phản bội cha tôi, đúng như lời tiên đoán của bà nội tôi ngày trước. Nàng quá đẹp và quá mong manh, mà những năm tháng dài ba tôi ở trong trại cải tạo là một thử thách quá lớn. Cha tôi trở về vào tuổi ba mươi hai, cảm thấy hụt hẫng từ mọi phía, nhận ra những kỹ năng của nghề lính không giúp ích gì được cuộc sống trước mắt. Ông lấy vợ, sinh con, bị buộc phải nghĩ tới mưu sinh, và không ngờ cái tài khiêu vũ, trước đây là thú vui, nay lại là sinh kế. Cuộc đời nghiệt ngã đã không cho ông giữ đúng lời ước nguyện: không nhảy với ai ngoài Thanh Thúy Tàu. Nhưng từ đó, vũ điệu với ông không còn là niềm say mê nữa, nó chỉ còn là việc kiếm sống nhọc nhằn. Có vẻ như ông đã chờ từ rất lâu ngày tôi mười tám tuổi; để trao lại cho con gái cái gánh nặng vui vẻ này.

*
Hiếu bảo tôi: “Sư Mi ơi, người nhảy như cá bơi trong nước. Mi tập khiêu vũ mấy năm rồi”. Tôi không nhớ nổi đã tập bao lâu. Mới lớn lên, có trí nhớ là đã nắm tay ba đi hết các fan promenade. “Hồi Mi bắt đầu tập với ba, mỗi lần nhảy phải đóng cửa lại. Ba nói hồi đấy uống cà phê buổi sáng còn bị phê bình, nói gì đến khiêu vũ. Các học viên đi học phải gói theo giày, hết giờ lại phải đi dép về nhà”. Hiếu hỏi: “Mười mấy năm ở đây Mi thấy học viên nào ưa ý nhất?”. Tôi cười, lắc đầu. Nếu như thật lòng được nói ý mình, tôi sẽ nói: “Hiếu”. Nhưng mà ngượng lắm, nếu để cho y biết rằng người đầu tiên mà tôi thấy thú vị nhảy cùng, chính là y.

Không phải y nhảy giỏi, nhiều người thuộc và biết nhiều fan hơn y, nhưng y nhảy rất có hồn, y say đắm với vũ điệu, không phải chỉ nhảy bằng hai chân mà còn bằng cả tóc, mắt, miệng cười và niềm vui sôi nổi toát ra từ thân thể. Tôi dạy y phần kỹ thuật, còn chính y bằng năng khiếu trời cho đã dạy tôi rằng động tác vũ chẳng là gì cả nếu không thấm đẫm niềm hạnh phúc, không gợi cho người ta cảm giác về khát vọng sống, khát vọng tình yêu. Vì tự ái nghề nghiệp, tất nhiên không bao giờ tôi chịu thú nhận với y điều đó.

Ba tôi xem chừng không có cảm tình với Hiếu. “Cái đầu rẽ giữa trông khó thương.” Tôi nhìn Hiếu, nhưng lại thấy đầu tóc hai mái rất hợp với vẻ mặt lãng tử. Ba tôi, một thời đã từng bất chấp tất cả, thế mà bây giờ vẫn không thể vượt qua mấy phân xê xích của đường ngôi. Tôi nói với ba: “Con nghĩ cái quan trọng là cái bên trong đầu tóc”. Ba tôi nhún vai: “E rằng trong ấy chẳng có cài gì ngoài những câu tán tỉnh sáo rỗng. Bao giờ cũng thế, khi yêu con gái trở nên bao dạn, còn con trai thì hoá ra nhút nhát. Những thằng miệng tía lia là trong bụng không có gì”. Tôi nao núng. Hôm sau Hiếu tới. Tôi đi slow với y. “Mi có áo mới phải không?”. “Đẹp không?”. “Rực rỡ y như Claudia Schiffer”. Y vừa nhảy vừa nhìn tôi như ngắm một con nhân sư từ Ai Cập tới. Nụ cười răng mẻ thường ngày rất dễ thương, tự nhiên hôm nay làm tôi sợ. Như thể tự vệ, tôi bất giác dí ngón tay vào trán Hiếu: “Dẻo vừa thôi. Cái mặt này đểu lắm nghe chưa”. Nghe chữ đểu, Hiếu khựng lại, đột ngột ngừng nhảy bỏ về ghế ngồi. Tôi biết mình lỡ lời. Từ đó, Hiếu không đến nữa. Thảng hoặc có đến cũng không mời tôi nhảy. Tôi bối rối, ân hận, nhưng sự đã rồi. Mặt mũi nào nói lời xin lỗi. trong nửa tháng, tôi sụt ký, gầy xuống trông thấy. Soi gương, tôi tự an ủi: “Càng hay, gầy càng có dáng”.

Trước Giáng sinh, Hiếu đến gặp tôi: “Vũ trường có gửi vé nhảy cho lớp mình không?”. “Có”. “Cho Hiếu xin một cặp vé”. Tôi lẳng lặng mở hộc đưa cặp vé cho Hiếu. Hiếu cảm ơn rồi về, không chào. Ba tôi bảo: “Giáng sinh năm nay lớp mình đi chơi ở sàn Ngọc Anh, Nguyễn Huệ hay Ngô Quyền?”. Tôi tần ngần nghĩ ngợi. Ba tôi nói: “Ba sẽ nhảy với con một bản valse tuyệt vời, như Giáng sinh mọi năm”. Tôi im lặng. Chút gì đó như chán nản. Chút gì đó như nghẹn ngào. Tôi mười tám tuổi, nóng lòng chờ đợi một điều gì mới, không phải như mọi năm…

Đêm Giáng sinh, ba tôi đi với cả lớp. Tôi ở nhà. Tôi sợ, sợ một điều gì không rõ. Sợ gặp Hiếu đi với ai đó, trên sàn nhảy. Một người nào quan trọng với Hiếu đến thế, khiến Hiếu phải giành vé trước cả mười ngày trời? Y sẽ nhảy với ai đó, bằng cả thân mình, cả tóc, mắt và nụ cười “Sư Mi, ở nhà một mình hả?” Chợt Hiếu hiện ra sau lưng tôi, mảnh dẻ và dễ thương, sạch sẽ hơn hẳn mọi ngày, trông tươm tất y như một gói quà Giáng sinh.

Tôi dụi mắt, tưởng mình đang nằm mơ.

Lúc đó là mười một giờ khuya, chuông nhà thờ đổ. Và Hiếu, và tôi và đêm thánh vô cùng.
“Đi với Hiếu. “Đi đâu?”. Hiếu rút trong túi ra cập vé còn y nguyên. “Sư Mi dở quá, không biết vì sao mà Hiếu xin cặp vé này à?”. Tôi nhìn y, lòng muốn lao vào y mà cấu mà xé, “Đồ mắc dịch, đồ chết toi, đồ đùa dai, đồ mất dạy, làm người ta chết đi được”. Nhưng lẽ nào con gái mà tuôn ra những lời rủa sả như thế Cho nên tôi đành lặng nhìn Hiếu như thể một người con gái dịu hiền và ít lời nhất trên đời này. Hiếu cười cười, nụ cười răng mẻ mà lâu nay tôi quá nhớ. “Sư Mi, muốn chửi rủa gì thì chửi to lên đi, Hiếu sẵn sàng nghe đây”. Tôi ngậm bồ hòn làm ngọt: “Thông minh lắm, chưa nói đã hiểu rồi”. Hiếu chở tôi đi. Bỗng nhiên tôi sợ. “Sợ gì?”. “Sợ người ta thấy Hiếu đi với Mi”. “Mặc kệ thiên hạ”. Tôi không mặc kệ được. Giờ này mà đến vũ trường, ba tôi sẽ nhìn tôi như thế nào đây, bên cạnh chàng trai dẻo mồm mà ông luôn cảnh giác. Hiếu bảo: “Dù sao, đêm Giáng sinh cũng không cho Mi ngồi nhà đâu”. Hai đứa qua cầu Mới, lên dốc Bến Ngự. Quán cà phê Dã Thảo đêm nay lung linh ánh nến và tiếng nhạc, trông như một thế giới huyền thoại. Tôi run chân, như cô bé Lọ lem bước vào lâu đài của hoàng từ. Hiếu dẫn tôi lên lầu. Một bình hoa hồng xanh nằm trên chiếc giá gỗ nơi lưng chừng cầu thang. “Mi thích không?”. Không đợi tôi trả lời, Hiếu nhanh tay nhón ngay một bông hoa lạ. Tôi xanh mắt: “Sợ quá. Người ta nói chết”. Hiếu cười: “Đồ thỏ đế”.

Bên khung cửa sổ rộng mở, trời đen như nhung lác đác sao. Bên dưới là cỏ xanh, lá xanh và những tia nước lấp lánh. Hiếu khuấy cà phê sữa cho tôi. “Sao Mi thừ người ra như thế?”. Tôi không nói đây là lần đầu tiên tôi đi với một người con trai vào quán cà phê. Vừa lo sợ, vừa cảm thấy thích thích, hồi hộp, như thể đi vào một cuộc phiêu lưu, một thế giới khác. Một ngôi sao bay vụt ngang, rơi qua bầu trời. Hiếu kêu: “Mi ơi, nhanh lên, hãy ước một điều gì đi”. Tôi ước thầm một điều nhưng khi Hiếu hỏi, tôi không nói. Một điều ước thầm kín, có thể một ngày kia sẽ nói ra, nhưng không phải bây giờ…

Từ năm ấy, tôi mới hiểu thế nào là đêm Giáng sinh.

Không biết ba tôi sẽ nghĩ sao, nếu biết mỗi tuần tôi vẫn gặp Hiếu vài lần ở quán cà phê Dã Thảo. Cũng trước khung cửa sổ mênh mông đó không có những ngôi sao, nhưng có trời chiều và có những bông Hoàng Hậu lác đác hồng. Hiếu hỏi: “Mi hút thuốc không?”. “Sợ lắm”. “Cái gì cũng sợ. Thử cho biết”. Tôi phải hút thử vì Hiếu đưa điếu Ngựa Trắng tận miệng. Tôi sặc. Không thấy ngon lành gì, nhưng cảm thấy mình ngầu ngầu. Người Hiếu trông cứng cỏi, lấc cấc vậy mà khi ngồi bên tôi lại rất dịu dàng. Từ nhỏ, tôi đã thiếu sự dịu dàng chăm sóc. Anh chị không có, mẹ tôi quá chất phác vô tư. Hiếu thì khác, tế nhị và kiên nhẫn. Có hôm tôi đến trễ gần nửa giờ, Hiếu vẫn chờ trước quán, ngồi trên xe, dưới mưa. Thấy tôi đến, mặt Hiếu sáng lên với nụ cười đến là dễ thương. “Ngồi đồng trước quán thế này, không sợ người ta dòm ngó à?”. “Việc gì đến ai đâu mà sợ. Chỉ sợ Mi không dám đi vào quán một mình”. Gió đông lạnh, Hiếu vẫn đòi mở rộng cửa sổ cho Hiếu nhìn trời. “Hiếu có phải là quỷ sứ không? Chẳng bao giờ nghe Hiếu mệt, Hiếu lạnh, Hiếu bận việc”. Hiếu cười: “Hiếu mê cái quán này vì nó đầy gió. Nhất là từ khi Mi tới đây. Mi đừng dại mặc áo ấm kín mít làm gì. Mỗi năm mình đâu cần có hai mùa hè”. Tôi nghe lời Hiếu, mặc phong phanh ngồi trước cửa sổ mênh mông, nghe mưa. Dần dần tôi hiểu mùa đông, yêu mùa đông, biết thế nào là vẻ đẹp của gió, của giá buốt và hơi ấm khi ở bên nhau.

Hiếu ít tới nhà tôi, đơn giản vì thấy ba tôi không thích. Tôi bảo Hiếu: “Nếu nghĩ tới Mi thì sửa đầu tóc lại”. Hiếu bướng: “Tóc là của Hiếu. Hiếu rẽ ngôi trên đầu Hiếu. Khi nào Hiếu rẽ ngôi trên đầu người khác, người ta mới có quyền có ý kiến”. “Nhưng Mi không thích cái đường ngôi ấy”, tôi vờ bảo thế. “Sao Mi cứ muốn Hiếu trở thành con người khác”.

Trong suốt mùa đông tôi không còn cảm thấy lạnh, không thấy những giờ dạy khiêu vũ là mệt mỏi, không thấy những buổi học luyện thi ban đêm là chán chường, không thấy nỗi lo, nỗi căng thẳng khi mẹ tôi nói tiền hết, em cần mua sách vở, ba cần uống thuốc… Cả cuộc sống đang khó nhọc trở nên nhẹ nhàng. Quán cà phê thành địa chỉ thứ hai của tôi, đến nỗi hễ tôi và Hiếu đến người ta không đợi gọi, dọn ra thức uống quen thuộc: hai ly cà phê và hai điếu Ngựa Trắng.

Một hôm trời mưa, xe Hiếu chạy nhanh văng bùn đầy gấu quần Jean của tôi. Đến quán, Hiếu đòi lau cho tôi nhưng tôi ngượng, chạy vào toilet tự vẫy nước chùi một mình. Tiếng những người phục vụ nói cạnh đó vọng vào, họ nói tự nhiên vì không trông thấy tôi: “Một cà phê đá một sữa tươi phải không”‘. “Không phải. Cu cậu này có hai “mái”, một mái tóc xõa mới uống sữa tươi, con bé này tóc demi chuyên uống cà phê sữa. Coi chừng đưa lầm”. Tôi lạnh gáy. Trở lại bàn, tôi cố nhấm nháp hết ly. Hiếu rất tinh ý, vặn hỏi mãi. Tôi bảo: “Mi mệt. Bắt đầu cảm thấy gió lạnh thật rồi”. “Mi nói dối”. Nói vậy chứ Hiếu cũng mở cái áo Jacket ra ủ lên vai tôi. Tôi cố gắng ngồi nhưng ngồi không vững. Hiếu xốc tôi lên, bế xuống cầu thang. Tôi mệt lả nhưng cũng biết xấu hổ. Hiếu dỗ dành: “Nằm yên cho khỏe, Hiếu đem Mi về nhà. Thương Mi lắm, đội Mi lên đầu đi khắp phố cũng chẳng sao”.

Tối ấy tôi không đứng dậy nổi nữa, đành phó mặc mọi chuyện cho ba tôi. Gọi điện về nhà Hiếu. Không có Hiếu. Tôi đứng dậy mặc áo. Ba tôi lo ngại “Con đi đâu?”. Tôi lắc đầu, đi như người khùng. Tôi là con của ba tôi, cái tính bất chấp nằm sẵn trong máu tôi. Tôi phải nhìn vào sự thực, dù sự thực ấy như thế nào. Xe của Hiếu đang ở trước quán cà phê. Và Hiếu ngồi đó với một cô gái tóc dài trạc tuổi tôi, không phải trước cửa sổ mà khuất sau một cánh cửa. Có lẽ Hiếu không bao giờ nghĩ rằng tôi lại có can đảm một mình đi vào quán. Tôi ngồi vào bàn bên cạnh. Người ta bưng cho tôi cà phê sữa như mọi lần. Sữa ngọt không làm giảm nổi vị đắng. Hiếu sang bàn tôi “Mi đi đâu vậy?”. “Đi để nhìn. Để thấy con người không đơn giản”. Nói rồi tôi đứng dậy, ra về. Ba tôi nói đúng, nhưng khổ thay, chỉ có lời dạy của cuộc đời mới đủ sức thuyết phục đối với đứa con bướng bỉnh như tôi.

 

Cô bé tóc xõa ngồi trước mặt tôi, trông vẻ mặt cô xinh xắn và hiền. Cô từ chối chỗ ngồi trước khung cửa sổ. “Sợ gió lắm. Em thích cái quán này vì nó có những góc ấm”. Chúng tôi ngồi vào một chỗ kín sau chậu thủy trúc. “Em biết chị là Mi, dạy khiêu vũ ở đường Phượng Bay. Nói thực, em không ngờ lâu nay Hiếu vẫn đi nhảy. Em đã bảo Hiếu em biết Hiếu nhảy rất đẹp nhưng Hiếu phải tôn trọng người yêu của Hiếu là một người không biết nhảy”. “Thế Hiếu bảo sao?”. “Hiếu đã hứa với em là không bao giờ khiêu vũ nữa”. Tôi lặng lẽ không nói gì, tự mình gọi một điếu Ngựa Trắng và… hút. Chắc lúc ấy tôi trông giống một con quái vật lắm. Nhưng ít nhất không nói được, thì tôi cũng phải làm một cái gì đó, dù là một điều gì thật quái đản. Cô gái tâm sự: “Chị biết không, em và Hiếu yêu nhau đã ba năm nay. Hồi đầu ba em không cho, bắt em nhốt trong phòng riêng trên lầu. Nhớ em quá, Hiếu dựng xe trèo cột điện mà lên thăm em. Ba em chụp được dong Hiếu xuống tầng dưới mở cửa tống ra. Hiếu về nhà xong lại quay lại, trèo cột lên lần nữa. Lần này ba em không thèm mở cửa mà bảo: “Mày trèo lên đường nào thì cút xuống đường ấy”. Hiếu trèo cột xuống đi xe về. Lại đi bộ đến… sáng mai ba em lên, thấy chúng em vừa cắn hạt dưa vừa nói chuyện ngoài lan can, ba em bảo: “Ba keo mèo cắn cổ, tao thua chúng mày. Mày nói ba mẹ mày đến lo mà rước con gái tao về”. Tôi hỏi: “Rồi sau đó thì sao?’. “Hiếu lui tới nhà em đã hai năm. Ba mẹ em xem như con. Sáng, trưa, chiều Hiếu đều ghé, thường thường ăn cơm ở nhà em. Em không thể đoán là Hiếu có thời gian vớ vẩn đâu khác”.

Ừ, con gái thật khờ, ai cũng thế. Một ngày có đến hai mươi bốn giờ. Dù có ghé sáng, trưa, chiều, cùng lắm chỉ mười tiếng đồng hồ. Chỉ cần một ngày một giờ, chàng trai đủ tạo nên một huyền thoại phiêu lưu mới. Và một trong những huyền thoại phiêu lưu ấy là tôi… Tôi nghẹn như nuốt phải mật đắng. Dã Thảo ơi, ta sẽ không bao giờ còn đến đây. Từ biệt khung cửa sổ mênh mông và gió. Và những bản nhạc mà Hiếu thích. Giờ đây tôi hiểu vì sao Hiếu không thích nghe nhạc tiền chiến. Trong đó không có cách yêu, cách nghĩ của Hiếu. Thôi đừng nghĩ đến Hiếu, đừng nghĩ nữa…

Tôi bước đi, ngang qua góc cầu thang, nơi Hiếu đã lấy trộm bông hồng xanh cho tôi. Bây giờ ở đây chỉ đơn độc một bông cúc tím. Tiếng hát Cẩm Vân mãnh liệt mà nghẹn ngào: Còn trông mong chi cơn mơ phù du theo gió mây bay xa thật xa. Hãy thôi đam mê vấn vương buồn thương, nỗi đau trong đời sẽ qua…

Buổi tối, tôi ra đứng lớp, dạy điệu bebop cho các học viên mới. Một vũ điệu vui nhộn và lả lướt. Tôi nhảy, tôi cười. Chuyện đã qua, xin hãy qua… Tôi cố gắng ăn nhiều. Mẹ tôi bảo rất vô tư: “Con này thất tình mà không ốm, lại mập lên mới quái!”.

*
Lâu lắm, Hiếu mới đến nhà tôi. Trông Hiếu gầy và xanh, giống cây tre non hơn bao giờ hết. Tôi hầu như không nhận ra hắn. Hắn không cười và nói năng dẻo quẹo. Nhưng cũng không nhút nhát. Hiếu im lặng và dữ dội, ngồi một mình trên ghế nhìn tôi. Mắt Hiếu cứ thiêu đốt và tôi cứ cố làm cho lòng mình trở nên băng giá. Không biết trong cuộc chiến tranh im lặng này, ai lì hơn? Lừa trong mắt Hiếu tan trước hay tảng băng trong lòng tôi rã trước? Tôi giấu nỗi đau bằng vẻ điềm nhiên, nhưng làm sao giấu được con mắt sắc sảo của ba tôi. Ba tôi bảo: “Can đảm lên con. Còn đau đớn là còn có thể tha thứ. Mà tha thứ là sẽ tiếp tục đau thêm nữa”. “Con mắt Hiếu nhìn con, không phải là con mắt của kẻ lừa dối”. “Con đừng ảo tưởng. Sự thể đã quá rõ ràng mà con còn ngụy biện cho nó nữa ư? Ngày trước khi từ trại cải tạo trở về biết được Thanh Thúy lừa dối ba, ba nhất định cắt đứt dù cô ấy quỳ xuống đất van lạy hết lời. Với ba, tình yêu là sự chân thành tuyệt đối sự thủy chung như nhất, trước sau không thay đổi”. Tôi nghĩ thầm: “Mẹ con với ba lúc nào cũng chung thủy, nhưng có phải tình yêu không?”.

Hiếu đến đều đặn mỗi tối, không nhảy, không cười. Tôi không trách móc, không nặng lời, không cau mặt, xem như cuộc phiêu lưu vừa qua chỉ là một giấc mơ. Dần dần bỗng tôi thú vị với những cuộc gặp lặng lẽ đó: giống như một bản nhạc không lời, êm dịu và sâu vô tận.

Cuối tháng, cả lớp đi chơi Ngọc Anh, Hiếu cũng có mặt. Hiếu cứ ngồi, không nhảy với ai. Bỗng nhiên như ma xui, tôi bước ra và quay lại vẫy tay: “Hiếu”. Giọng ra vẻ một cô giáo đầy uy quyền, mà thực ra là một kẻ đầu hàng. Hiếu sáng trưng mặt mày, lâu lắm mới nhìn thấy nụ cười răng mẻ. Tôi và Hiếu cùng bước trên sàn nhảy, tôi hạnh phúc từ đầu đến chân, quên cả việc trước đây một giờ Hiếu đi đến đâu, ăn cơm nhà ai, làm gì…

Hiếu chỉ nhìn tôi, bao nhiêu lời lẽ bay đi đâu hết. Mãi sau mới đưa ngón tay cái lên môi tôi: “Mi cắn đi. Cắn một cái cho đau, cho đáng đời Hiếu”. Tôi bất giác ứa nước mắt không cầm được: “Cắn một cái mà đủ sao, Hiếu ơi!”. “Hiếu biết tội rồi. Nhưng ai bảo hồi đó Mi nói Hiếu đểu làm chi. Nói người ta đểu thì người ta đểu cho biết mặt”. Tôi nói: “Ân trả, oán trả. Mi cũng biết tội rồi. Từ nay khỏi nợ nhau”. Bất giác Hiếu đưa tôi xoay tròn như một cơn lốc. “Giờ thì Hiếu không cho Mi hết nợ đâu, Hiếu sẽ đi theo Mi đến cùng trời cuối đất”.

À à, lại còn thế nữa chứ. Tôi đâu còn dễ tin như tôi ngày xưa. “Vậy mấy cái cột điện ai sẽ trèo đây”. Hiếu trừng mắt nhìn tôi: “Đó là quá khứ, một quá khứ đang chờ chấm hết. Lúc đó Hiếu đã sống hết mình, và giờ đây Hiếu cũng sống hết mình”.

Hiếu nói rồi nắm chặt tay tôi, lòng bàn tay Hiếu tỏa hơi ấm như lửa. Bỗng nhiên tôi muốn òa khóc. “Rồi mai đây, Mi cũng sẽ là quá khứ sao?”. “Không ai nói trước được tương lai. Hiếu không nói chuyện tương lai, chỉ biết bây giờ”. Hiếu nói rồi nhẹ nhàng ôm tôi trong tay, và những đốm sáng đèn muôn màu, và nhạc valse, và tôi là cô bé Lọ lem trong vũ hội của hoàng tử…

Khi tôi trở về, ba không nói gì, chỉ nhìn. Đôi mắt đẹp của ông, dù qua bao thời gian, vẫn sâu thẳm và đầy dĩ vãng. “Con biết ba sẽ trách con. Nhưng con…”. Tôi muốn nói: Nhưng con hạnh phúc quá. Con không cầm lòng được. Ba tôi lạnh lùng: “Chỉ vì không chịu nổi đau đớn, nên nạn nhân không đứng vững, phải dựa vào chính tên sát thủ. Có biết đâu như thế là sẽ bị giết chết lần thứ hai”. Tôi nghẹn: “Hiếu không phải người như vậy”. Bỗng ba tôi không giấu được sự phẫn nộ: “Con muốn làm kẻ cướp đoạt sao? Thằng Hiếu đến đây ba sẽ đuổi. Nó phản bội một đứa con gái, nay lại định lừa dối một đứa con gái khác”.

Tôi khóc. Hiếu bảo tôi: “Đồ ngốc nghếch. Không ai sở hữu được ai trên đời này, thì làm gì có chuyện cướp đoạt ở đây”. “Nhưng mọi người bảo thế”. “Mọi người có sống giùm cuộc đời mình không?”. “Mọi người không tin Hiếu”. “Hiếu không cần. Mọi người không hiểu rằng người ta có thể cố gắng học, cố gắng làm, nhưng không ai có thể cố gắng yêu. Người ta chỉ có thể yêu cái người mà nhắm mắt mình vẫn thấy. Hiếu cứ nhắm mắt là thấy Mi. Mi tin không”.

Tôi tin Hiếu. Bởi vì chỉ có lòng tin mới giúp tôi sống. Như câu nói của Krishna Murti: “Đó là ánh chớp loé lên trong khoảnh khắc, ai thấy là thấy, ai không thấy là không thấy, không thể nói cho người khác”. Cuộc đời như dòng sông, ai nói trước được nó sẽ qua những ghềnh thác nào. Nhưng hôm nay, dòng sông đang trôi qua những bờ cỏ mịn màng, đang in bóng trời xanh mây trắng. Lẽ nào sợ thác ghềnh mà sông không dám chảy?

Năm nay, Giáng sinh.

Trời khô lạnh. Tôi nhìn ra cửa sổ phòng mình. Ba tôi bảo: “Đừng buồn, tối nay đi với cả lớp đến Ngọc Anh. Ba sẽ nhảy với con một bản valse tuyệt vời, như ngày trước.” Tôi im lặng, không nói. Nước mắt thập thò trên mi. Thèm đi một bản Blue Christmas trong tay Hiếu. Thèm ngồi cạnh Hiếu sau khung cửa mênh mông trong cà phê của Dã Thảo, chia với Hiếu một cơn gió. Thèm cùng đi một xe với Hiếu trên con đường dài, Hiếu thỉnh thoảng vừa cười vừa ngoái đầu ra sau khiến những sợi tóc cứng đâm vào má tôi…

“Sao ngồi thừ ra thế, mau lên con gái”. Ba tôi nhắc. Biết ba cố tình không cho tôi có thời gian để nghĩ tới chuyện riêng tư, tôi đứng dậy mặc áo, đi giày. Mở cửa, hơi lạnh tạt vào, tôi không cầm lòng được, kêu lên: “Nhớ quá!”. “Nhớ gì?”. Ba tôi hỏi. “Nhớ gió!”. Để tránh cái cau mày của ba, tôi vội soi mình lần chót trước khi ra đi. Bỗng tôi nhìn ra trong gương, đôi mắt tôi giờ này mênh mông và buồn, giống hệt mắt ba tôi…

Và tôi chợt hiểu, mình đã lớn. Đã trở thành một ai đó khác mình năm xưa. Đã biết thế nào là yêu thương và chịu đựng. Đôi mắt này, nỗi buồn này, Hiếu đã để lại cho tôi…

Sàn nhảy đêm Noel tưng bừng rực rỡ với những ngọn nến muôn màu. Từng đôi, từng đôi trai gái bên nhau hân hoan… Ba tôi bảo: “Nào, ra sàn nhảy với ba”. Nhưng tôi ngồi yên, giữa tiếng nhạc valse như những cơn xoáy dịu dàng. Thấy tôi bất động, ba tôi cũng không ép. Giờ lâu, ông bảo: “Thôi, con ạ. Đến tuổi này, ba mới nhận ra: Trong tình yêu hạnh phúc thật ngọt ngào, mà khổ đau cũng đầy thi vị. Chỉ có sự trống rỗng chán chường của kẻ không yêu mới thực sự là khủng khiếp”.

Nói rồi ông dõi mắt nhìn xa xôi về phía trước. Bỗng nhiên tôi se lòng. Thương ba. Thương tôi. Và chợt tôi hiểu vì sao mãi mãi ba tôi không quên được Thanh Thúy Tàu, một con người phản bội.

Trần Thùy Mai

 Symbol_End.gif

Advertisements

MƯA ƯỚT VỊ THÀNH

Cách đây hơn 20 năm, tôi bắt đầu tham dự khá thường xuyên vào các sinh hoạt văn học ở hải ngoại, trong suốt một thời gian khá dài kể cả lúc còn làm việc toàn thời gian ở NASA trước khi về hưu. Hợp tác với Wayne Karlin để thực hiện tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven, hợp tác với giáo sư Huỳnh Sanh Thông của đại học Yale cho tập san Việt Học The Vietnam Review, viết bài và hợp tác với một số tạp chí văn học Việt Nam ở hải ngoại, thuyết trình ở một số hội thảo về văn học, v.v… Sự tham dự tương đối năng động vào những sinh hoạt đó có vẻ như bất bình thường, vì văn học là một lãnh vực tôi không hề được đào tạo ở trình độ cao. Mà, ngay cả ở trung học, bạn bè đều biết tôi là một đứa học trò rất tầm thường về môn văn. Từ bé tới lớn, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ trở thành một nhà văn hay một giáo sư văn chương.

Một hôm, trong một hội thảo hè dành cho các nhà văn trẻ tổ chức ở đại học St. Mary thuộc tiểu bang Maryland, một nhà văn trao đổi với tôi về trường hợp của cô. Cô mê văn chương, viết rất nhiều truyện ngắn, đang vật lộn với đời sống và phấn đấu với chính mình để xem có nên tiếp tục sống toàn phần cho văn chương và bán phần cho sinh kế, hay ngược lại. Cô muốn tôi lấy kinh nghiệm cá nhân để giúp cô ý kiến. Rất tiếc, hôm đó tôi chẳng giúp gì được vì chẳng có kinh nghiệm nào về chuyện này. Câu trả lời của tôi khá mông lung. Văn chương có giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống của tôi thật nhưng không phải để tôi trở thành nhà văn, mặc dầu đôi khi, do những gì đã viết ra, nhiều người trong văn giới gọi tôi là nhà văn. Tuy nhiên, nhân câu chuyện trên, tôi thấy cần viết một bài về đề tài này, về cái vị trí của văn chương trong đời sống của mình, để từ kinh nghiệm riêng chia sẻ được gì với người khác. Đặc biệt, tôi muốn chia sẻ với những bạn trẻ giống như tôi trước đây, không được đào luyện tốt về văn chương ở trường ốc và sống với những ngành nghề gần như trái ngược. Tôi xin viết một cách tản mạn, và tản mạn từ những chuyện rất riêng tư.

Tôi tin mỗi người trong chúng ta đều mang trong tim mình những dấu ấn, những tì vết gây ra từ một biến cố trong đời, một chấn động mạnh hay có thể chỉ là một hình ảnh đến rất nhanh, như một nụ cười, một giọt nước mắt, … Để rồi, sau đó, vào một lúc rất bất chợt, con tim nhói lên, cái cách vui buồn thương ghét trong cuộc đời bỗng thay đổi. Một bài thơ, một cuốn sách đã đọc vào một lúc nào đó cũng có thể làm nên chuyện như vậy.

Tôi xuất thân là một thầy giáo toán, được gọi nhập ngũ khi có lệnh tổng động viên lúc chiến tranh ở miền Nam trở nên tàn khốc. Sau hơn hai năm, được biệt phái trở về dạy học lại. Cách sống của tôi thay đổi hẳn. Đời sống trong quân ngũ có làm tôi thay đổi thật, nhưng ảnh hưởng lớn nhất thật ra là từ một bài thơ, của một nhà thơ sống cách đây hơn ngàn năm ở một nơi xa lắm.

Cách đây gần 50 năm, sau khi tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi đi trình diện đơn vị ở một hải đảo xa. Tôi nhớ, đó là một buổi sáng mưa nhẹ hột. Trên đường đi đến đơn vị, tôi và một người bạn cùng khóa mang ba-lô đi bộ lên một ngọn đồi, trên đó có một quán ăn nhỏ. Chúng tôi vào quán uống cà phê. Ngồi khá lâu vì mưa bắt đầu nặng hột. Đơn vị ở cách đó không xa nhưng qua mưa không nhìn thấy. Cả hai châm thuốc hút, rồi bỗng nhiên, tôi nhớ tới một bài thơ của Vương Duy. Tôi đọc lên. Bạn tôi chỉ mỉm cười, im lặng, phà khói thuốc, rồi lãng đãng nhìn những giọt mưa rơi từ mái tôn xuống bậc thềm. Năm đó, dù đã dạy học một thời gian trước khi động viên, tôi chỉ mới vừa qua tuổi 26. Bạn tôi, cũng cùng tuổi và cả hai đều đã có gia đình. Tôi nhớ rất rõ bản tiếng Hán, Vị Thành Khúc (), của Vương Duy:

Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần

Khách xa thanh thanh liễu sắc tân

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

西Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

Và, cả bản dịch của Ngô Tất Tố:

Trời mai mưa ướt Vị Thành
Xanh xanh trước quán mấy nhành liễu non
Khuyên chàng hãy cạn chén son
Dương Quan đến đó không còn ai quen

Đây chắc không phải là bài thơ hay nhất của Vương Duy và càng không phải là bài thơ hay nhất của Đường Thi. Chắc cũng không có bao nhiêu bạn đọc cảm xúc gì nhiều khi đọc bài này. Nhưng, với tôi, khi đọc lên tôi xúc động. Tôi biết tôi đã đọc nó lần đầu tiên từ cuốn Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, lâu lắm rồi, khi còn ở trung học, trong căn nhà cũ gần bờ biển Nha Trang, nơi tôi đã sống suốt tuổi thơ. Bài thơ đó, thời gian đó, không gian đó, với những xúc cảm của lúc đó, tưởng quên đi, nhưng không. Cũng từ đó, tôi đọc nhiều sáng tác văn học hơn mỗi khi rảnh và nhớ lại nhiều bài thơ đã học và đã quên.

Ở hải đảo có một thời gian tôi làm sĩ quan tuần tra. Tôi nhớ, một buổi tối, mưa tầm tã, khi hết phiên trực, tôi ghé vào lều của một ông thượng sĩ già, xin cà phê uống. Ở đó, người sĩ quan trực kế tiếp, MDT, cũng đang ngồi uống cà phê. MDT trước khi động viên dạy Pháp văn ở Huế. Trong khi trò chuyện, bỗng nhiên T nói về những tiểu thuyết Pháp đang ăn khách như Bonjour Tristesse, Un Certain Sourire,… của Françoise Sagan, rồi quay trở lại nói về những tác phẩm học ở thời trung học, những tác phẩm của Alphonse Daudet hay Anatole France, rồi Nguyễn Du của ngày xưa, rồi Bùi Giáng của ngày nay, rồi quay sang nói về Sartre, về Camus, v.v… Chúng tôi nói say sưa, ông thượng sĩ già châm thêm cà phê, lặng lẽ nghe và thỉnh thoảng nở nụ cười độ lượng. Trước khi chia tay và bắt đầu phiên trực của mình, T nói với tôi: “Tụi mình… à la recherche de la jeunesse perdue!” Tôi cũng thấy mình già đi thật. Bây giờ, mỗi lần nghĩ lại, thấy… tếu tếu. Tuy nhiên, những câu chuyện theo kiểu câu chuyện trong lều của ông thượng sĩ già đó, đã giúp tôi rất nhiều để những ngày tháng nơi hải đảo bớt đi cái nhớ nhà, cái lo sợ, cái nhàm chán. Và, dù hễ mở miệng là thích nói về cái tuổi trẻ đã mất, nhưng chính vào thời gian đó, từ những câu chuyện văn chương đó, tôi thấy cái tuổi trẻ thật sự của mình bắt đầu bừng lên một sức sống mãnh liệt. Tôi nghĩ đến những ngày tháng tới, khi không còn chinh chiến, hay khi được trở về với đời sống thường dân, tôi sẽ sống khác, nhìn cuộc đời cách khác. Và, quả thật, khi về lại, tôi vẫn tiếp tục dạy toán, nhưng tôi có khác.

Trên sách vở, trong nghiên cứu, toán học và văn học có một lằn ranh rõ rệt, nhưng trong mỗi con người, lằn ranh đó có thể rất mờ nhạt. Khi tìm hiểu về cuộc đời các nhà toán học, tôi ấn tượng nhất về một thiên tài mà cuộc đời ngắn ngủi của ông có thể là đối tượng tuyệt vời cho một tác phẩm văn chương. Một thiên tài đã sống tận cùng cho sự đam mê về toán học, về những lý tưởng nhân bản, và về chất lãng mạn trong tình người và tình yêu. Tôi muốn nói về Evariste Galois. Ông sinh ngày 25 tháng 10 năm 1811 ở Bourg-la-Reine, Pháp. Năm 14 tuổi đã bắt đầu có những ý niệm mới và nghiêm chỉnh trong toán học. Đến năm 19 tuổi ông đã công bố những công trình quan trọng làm nền tảng cho “Lý Thuyết Galois” và “Lý Thuyết Nhóm” trong đại số trừu tượng (abstract algebra). Trong lúc chăm chú vào những phát kiến toán học, ông vẫn tham gia vào chính trị Pháp, tranh đấu cho nền cộng hòa Pháp, đi đầu trong cuộc biểu tình chống đối vua Louis Philippe. Bị bắt và bị xử sáu tháng tù. Trong tù, ông ngồi viết tiếp những công trình toán học. Ra khỏi tù tháng 4, 1832. Qua tháng sau, để bênh vực danh dự của người yêu, Stephanie-Felice du Motel, ông chấp nhận tham dự một cuộc đấu súng. Năm ngày trước cuộc đấu, ông viết thư cho một người bạn, tâm sự về mối tình này. Đêm trước khi đấu, biết rằng mình sẽ chết, ông thức suốt đêm để hoàn tất những công trình toán học còn dở dang. Sáng sớm hôm sau, ông bị bắn ở bụng, mọi người bỏ đi, để ông nằm một mình ở đấu trường. Đến 10 giờ, một nông dân nhìn thấy đưa đến bệnh viện gần đó. Chỉ có người em trai, Alfred, được thông báo. Câu cuối cùng ông nói với em: “Đừng khóc, Alfred! Anh cần sự can đảm để chết ở tuổi hai mươi.”

Một trăm bốn mươi năm sau, ở Nha Trang, tôi bắt đầu dạy sinh viên Lý Thuyết Nhóm của Galois. Chương trình trung học Pháp đưa Lý Thuyết Nhóm vào năm cuối của ban toán trước đó vài năm. Chương trình trung học Việt thì chưa.

Tôi không phải là một thiên tài như Galois, dĩ nhiên, nhưng toán học ảnh hưởng vào đời sống tôi rất nhiều, Những hiểu biết cơ bản về toán học cũng đã giúp tôi không ít khi đi vào các chuyên môn khác như vật lý hạt nhân, như kỹ sư điện hay như kỹ thuật không gian mà sau này tôi phải sống với nó một thời gian khá dài. Tuy nhiên, điều tôi muốn chia sẻ ở đây với các bạn trẻ là tinh thần toán học, nhất là, thói quen tìm giải đáp cho những nghi vấn, đã giúp tôi đến với văn chương thi vị hơn. Xin kể một câu chuyện. Thời còn ở trung học, tôi được đọc bản tiếng Việt một tác phẩm của Leo Tolstoi, nhan đề Một Bản Đàn, do nhà văn Trương Bảo Sơn chuyển ngữ, có lẽ từ một bản tiếng Pháp. Tôi đọc say mê. Tác phẩm xây dựng trên thảm kịch của một cặp vợ chồng. Vì nghi ngờ vợ mình có tình ý với một ông thầy dạy nhạc, một nhà quý tộc giàu có nổi cơn ghen giết vợ. Một truyện dài rất hay. Rất thích nhưng tôi luôn tự hỏi tại sao nhà văn TBS lại đặt nhan đề là Một Bản Đàn. Vì, sau này, sau khi được đọc bản dịch tiếng Pháp La Sonate à Kreutzer, tôi ngờ rằng Tolstoi rất có cố ý khi lấy tên một bản sonate của Beethoven, “Bản Sonate cho Kreutzer”, làm nhan đề cho cuốn tiểu thuyết. Nó phải là bản sonate đó chớ không phải một bản đàn nào cũng được. Ý của Tolstoi, theo tôi, là chính bản nhạc đó, bản sonate đó của Beethoven, đã đóng góp vào thảm kịch. Nhưng, tôi không chắc lắm, vì không biết gì về bản sonate này.

Hơn hai mươi năm sau, khi sống ở Philadelphia, một hôm có dịp vào thư viện thành phố. Tình cờ, thấy bản tiếng Anh, The Kreutzer Sonata, tôi nhớ lại cái nghi vấn ngày nào. Tôi vào phòng thính âm, xin được nghe bản sonate này. Bản “Sonate cho Kreutzer” được Beethoven soạn cho dương cầm và vĩ cầm. Bản tôi được nghe do Arthur Rubinstein và Henryk Szeryng trình tấu. Rubinstein phụ trách dương cầm, Szeryng vĩ cầm. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần. Tiếng dương cầm hòa với tiếng vĩ cầm một cách tài tình, réo rắt, tha thiết, làm ruột gan người nghe thắt lại. Tôi hình dung ra buổi hòa nhạc trong ngôi nhà vị quý tộc. Tôi tưởng tượng ra cảnh ông quý tộc ngồi nhìn vợ mình với ông thầy dạy nhạc say sưa trình tấu, như không cần biết có ai xung quanh. Ông quý tộc giàu có nhưng trong người ông không có bao nhiêu chất âm nhạc, chất thi ca. Ông nhìn cảnh vợ ông (chơi dương cầm) với ông thầy (chơi vĩ cầm) để hết tâm hồn vào bản nhạc. Tiếng nhạc quyện lẫn vào nhau da diết mãnh liệt. Ông hình dung ra một cảnh khác. Ruột gan ông bấn lên nhưng ông ghìm lại. Sau buổi trình tấu, ông vẫn giữ cung cách của một quý tộc, cười nói khen ngợi vợ. Một thời gian ngắn sau đó, thảm kịch xảy ra.

Cách đây ba năm, tôi lên Amazon tìm mua CD bản The Kreutzer Sonata cũng do Rubinstein và Szerying trình tấu để nghe lại. Tôi tin rằng tôi hiểu được ý của Tolstoi khi chọn bản sonate này làm nhan đề cho cuốn tiểu thuyết. Tôi tin rằng cái nghi vấn của tôi đúng. Nhưng, thật ra, đúng hay sai không quan trọng. Quan trọng là chính cái nghi vấn đó đã cuối cùng mang đến tôi một niềm vui, một may mắn, được thưởng thức một bản sonate tuyệt vời. Riêng đối với nhà văn Trương Bảo Sơn, dù vẫn không đồng ý với ông về cách đặt tên cho bản dịch cuốn tiếu thuyết, tôi luôn kính trọng ông, và rất cám ơn ông đã đem đến cho lớp trẻ chúng tôi vào thời đó một món ăn tinh thần rất có giá trị của Leo Tolstoi.

Leo Tolstoi và Fyodor Dostoyevsky là những tên tuổi lớn của văn học cổ điển Nga, và của cả nhân loại. Ngoài hai nhà văn này, sự hiểu biết của tôi về văn học Nga vào thời còn đi học rất giới hạn. Về sau, do tình cờ, tôi đọc Anton Chekhov qua các bản dịch tiếng Anh và thích tác giả này, đặc biệt các kịch phẩm của ông như Three Sisters (Ba Chị Em), The Cherry Orchard (Vườn Anh Đào)… Do thích vở Three Sisters nên khi biết vở này được trình diễn tại một kịch viện nhỏ, The Studio Theatre, tôi đến xem. Nhân vật chính trong kịch là một gia đình có ba chị em và một em trai. Thời trẻ họ sống ở Moscow khi ông cha chỉ huy một lữ đoàn ở đó, cho đến khi ông về hưu cách đó mười một năm. Sau đó họ mất cả cha lẫn mẹ. Giấc mơ của ba chị em là một ngày nào đó họ sẽ về lại Moscow. Nhiều tình tiết và bi kịch được dựng lên từ đó. Lời lẽ trong vở kịch trình diễn ở The Studio Theatre hơi khác trong bản dịch tiếng Anh trong sách một chút. Tối hôm đó, sau khi dự vở kịch xong, về lại nhà, nghĩ lại vở kịch, tôi nhớ nhất câu nói và cách nói của người đóng vai Irina (cô em út) nói với Olga (cô chị cả): “Chị Olga, em sẽ lấy Nam Tước, em sẽ về Moscow. Tụi mình sẽ về Moscow.” Và rồi, tôi nghĩ đến một buổi tối ở giảng đường của trường Đại Học Duyên Hải trên đường Yersin, Nha Trang. Tối hôm đó, bạn tôi, giáo sư Bửu Ý, thuyết trình một đề tài đặc biệt: “Văn Chương Trên Giấy, Văn Chương Trên Sàn Gỗ.” Trong phần thuyết trình, một sinh viên Việt Hán, Dương Đề, được Bửu Ý chọn lên trình bày vài diễn xuất ngắn. Những câu nói trong phần diễn xuất của Dương Đề luôn chấm dứt bằng câu “Ngày mai tôi sẽ về Sài Gòn.” Bao nhiêu năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ khá rõ dáng điệu của Dương Đề khi vừa đi vừa nói câu đó trên sân khấu. Bửu Ý là một hoc giả nổi tiếng, dạy văn chương Pháp ở Đại Học Huế, và cũng là một kịch tác gia. Kịch phẩm Sương Hồng và Tuyệt Địa của Bửu Ý đã được xuất bản và trình diễn ở Sài Gòn trước 1975. Bửu Ý được mời phụ trách tín chỉ nhiệm ý về kịch nghệ cho sinh viên Duyên Hải và cùng với thầy Bửu Phi giúp sinh viên thực hiện một vở kịch cho đại học. Sau 1975, Bửu Ý có thời gian làm chủ nhiệm ban Văn Chương Pháp ở Đại Học Huế, nhiều lần được mời sang giảng dạy ở Pháp. Anh cũng được tưởng thưởng một huy chương cao quý của Pháp do chính đại sứ Pháp tại Việt Nam đích thân trao tặng. Tuy nhiên, không thấy Bửu Ý còn dính dấp gì đến kịch nghệ. Vở kịch năm xưa chắc chắn không thế nào được tái bản. “Văn chương trên sàn gỗ” cùng với trường Đại Học Duyên Hải đã hoàn toàn đi vào quá khứ.

Nhiều thứ đã đi vào quá khứ nhưng vẫn để lại những dấu vết sâu đậm trong tim mình. Tôi muốn nói về một câu chuyện thật, được kể lại để làm nền cho tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu trên sông Drina) của nhà văn Nam Tư (Yugoslavia) Ivo Andrić, giải thưởng văn chương Nobel 1961. Tác phẩm lấy bối cảnh của thành phố Visegrad của Bosnia từ thế kỷ 16 trở về sau. Đây là nơi thường xuyên chứng kiến những tranh chấp tàn bạo giữa hai đế chế Thổ và Áo-Hung, và cũng là tranh chấp giữa Hồi Giáo với Thiên Chúa Giáo (gồm Công Giáo và Chính Thống Giáo) liên tục suốt 400 năm. Để ngăn chận sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, người Thổ tổ chức bắt cóc những đứa con nít thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, thường là những gia đình nghèo, đưa sang vùng cai trị của Thổ, bên kia sông Drina. Những đứa bé này được cải sang đạo Hồi và lớn lên như người Thổ. Rất nhiều bà mẹ đưa con đi chợ với mình, quay nhìn lại không thấy con đâu, rượt theo kẻ cướp cho đến bờ sông Drina, dừng lại, ngơ ngác nhìn theo chiếc phà chở con qua sông. Lúc đó, phà là phương tiện duy nhất để qua sông. Bên kia là vùng cai trị của đế quốc Thổ.

Thời gian đầu ở Mỹ, cả gia đình tôi còn lại Việt Nam. Hình ảnh những bà mẹ đứng ngơ ngác bên này sông Drina luôn ám ảnh. Có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy dẫn các con đi chơi, đang ngồi ăn uống vui vẻ, chợt nhìn lại không thấy con mình đâu. Tôi thức dậy, tim còn nhói. Mãi sau này, bao nhiêu năm sau khi đã đoàn tụ đầy đủ với gia đình, những giấc chiêm bao như vậy thỉnh thoảng vẫn hiện ra. Tôi đồng cảm với cái nhói tim của ông Tể Tướng Thổ, Mehmed-paša Sokolović. Một trong những đứa bé bị bắt qua sông Drina như đã nói trên đây được một gia đình quyền quí Thổ nhận làm con nuôi, đổi đạo, đổi tên. Lớn lên, nhờ tài năng, thăng lần lên đến bậc thang cuối cùng của danh vọng, giúp đế quốc Thổ bành trướng tận Trung Âu, giữ chức Tể Tướng (First Grand Vizier) cho Thổ. Với ông Tể Tướng Thổ, chuyện đứa bé bị bắt đưa qua sông ngày nào tưởng đã hoàn toàn đi vào quá khứ. Nhưng không, có người nói là ông thường bị những cơn nhói tim. Vào một lúc như vậy, có lẽ, ông làm một quyết định lớn là cho xây một chiếc cầu qua sông Drina. Xây từ năm 1566 nhưng mãi đến 5 năm sau mới hoàn tất. Và, từ đó, cây cầu cũng như con sông tiếp tục chứng kiến bao đổi thay, bao bi hài kịch của cuộc đời, và cả bao tàn phá lẫn xây dựng.

Ở trên, tôi có nói về buổi thuyết trình của Bửu Ý trong một giảng đường của Đại Học Duyên Hải. Cũng chính trong giảng đường đó, một người bạn khác, nhà thơ Huy Tưởng, đã trình bày một đề tài về Thi Ca. Tôi xin kể lại đây câu chuyện mở đầu của Huy Tưởng. Có một ông thần, một buổi tối đẹp trời ông bay qua một con sông, nhìn xuống thấy một người con gái đang tắm dưới ánh trăng. Ông đoán đó là một hình ảnh đẹp và ông muốn biết nó thực sự đẹp như thế nào, ông muốn tận hưởng nó. Ông phải đến gần. Sợ gây tiếng động mạnh làm cô gái hoảng sợ, ông biến thành một con chuột, nhẹ nhàng đến gần cô gái. Tuy nhiên, là chuột thì cái ham thích chỉ là những rác rưới trên bờ sông, nó không màng gì đến cô gái, nó không thấy cô gái đẹp chỗ nào. Thất bại. Ông biến ra nhiều hóa thân khác. Có hóa thân là một vị hoàng đế trẻ đẹp, quyền uy. Nhưng, khi thấy cô gái, vị hoàng đế chỉ muốn ra lệnh đưa nạp cô vào cung. Thất bại. Và, nhiều thất bại tiếp theo. Cuối cùng, ông quyết định biến thành một thi sĩ. Người thi sĩ thấy được cái hồn nhiên, thanh thoát của cô gái, và cái đẹp tuyệt vời của sự quyện lẫn giữa thân xác mịn màng với trăng vàng long lanh trên mặt nước. Ông thành công.

Huy Tưởng! Bạn đang ngồi đâu đó, nếu có đọc những dòng chữ này xin đừng cười. Dĩ nhiên là tôi… cương. Bao nhiêu năm tháng đã qua rồi, làm sao tôi nhớ cho đúng hết những gì bạn nói. Nhưng, tôi tin là tôi không sai ý. Dầu sao, tôi cũng chỉ muốn mượn câu chuyện này để nói đôi lời với các bạn trẻ. Hãy đem văn chương vào đời sống. Dù có làm thơ hay viết văn hay không, hãy đến với cuộc đời bằng tâm hồn của một thi sĩ. Bạn sẽ thấy cuộc đời đẹp hơn. Bạn sẽ thấy con người đẹp hơn. Dĩ nhiên, bạn vẫn có thể làm thơ hay viết văn mà lại không đến với cuộc đời bằng tâm hồn một thi sĩ. Nhưng, đây là câu chuyện khác.

Khi nhắc đến thành phố Visegrad, nơi có cây cầu được xây qua sông Drina, tôi nhớ đến cái thành phố tôi đã sống suốt tuổi thơ. Như nhiều người, tôi thỉnh thoảng vẫn có một ước mơ biết là không thể có, là có lại cái tuổi trẻ của mình. Của những ngày mà ba má tôi còn, tất cả anh chị em tôi còn, và cái hồn nhiên của tôi còn. Chỉ là mơ ước, dĩ nhiên! May mắn là bên cạnh những cái không còn đó, có những cái vẫn còn. Những con sông chảy qua thành phố, và biển. Từ một con sông chảy ra biển, một sớm nào tôi đã theo đó mà ra khơi. Tôi đã hò hẹn với con sông, với biển, và với bao nhiêu người là tôi sẽ trở lại. Và, tôi đã gặp lại rất nhiều trong số đó. Tôi nhớ mấy câu thơ của một người bạn Nha Trang của tôi, nhà thơ Hải Phương:

Cám ơn biển

biển trùng khơi con sóng vỗ

trăm nhánh sông hò hẹn chuyến đò qua

……..

Trương Vũ

Maryland, cuối tháng 7 năm 2017

HỒI CÒN MA

Cây sung nằm ở đầu một bức tường chia đôi đoạn đầu xóm Bà Ba. Từ nhà tôi ra đầu đường Nguyễn Minh Chiếu phải đi ngang cây sung. Những buổi tối ra tiệm thuốc gác khi nhà có người cảm sốt, từ xa thấy cây sung tôi đã cảm thấy ngần ngại. Không thấy có người đàn ông nào ngồi trên cành cây hút thuốc và rít đỏ tàn thuốc trong bóng tối như lời đồn đãi, cũng không có tay hay chân ai rớt xuống nhưng trong buổi tối cuối năm lạnh, lưng tôi lạnh nhưng đầu tôi bừng bừng. Chạy!

Khổ nỗi, đó mới chỉ là chuyện đầu ngỏ bên kia. Nếu không thích đi con ngõ đó, tôi ra con ngõ phía đường Trương Tấn Bửu thì lại gặp cây keo. Nói đúng ra, từ khi tôi lên mười tuổi, ở đó chẳng còn cái cây nào hết mà chỉ còn nơi đã từng có cây keo với khoảnh đất trống tối mò vì không có đèn đường. Ai đó đã đồn cây keo có ma? Phải chăng từ chuyện một người lái taxi trong xóm? Do công việc, ông thường lái xe về khuya. Một lần, ông về tới xóm với mặt tái mét, kể với mọi người là khi lái xe về tới cây keo đầu ngỏ thì thấy có một cái mặt to chần vần hiện ra trước đầu xe khiến ông lái lọang choạng. Dì tôi lúc đó đang học trường Gia Long, có tính dạn dĩ nên bảo với ông là không tin trên đời có ma. Dì dặn là khi nào ông thấy nữa thì bảo cho biết, dì sẽ chạy ra. Lần khác, ông lại thấy “ma” xuất hiện lần nữa trước mũi xe. Ông chạy về nhà dừng xe kêu cái “két”, kêu dì cùng ra cây keo xem sao có chuyện lạ vậy. Không hiểu do sợ hay vì sao mà dì không chịu ra xem ma. Sau câu chuyện của ông lái taxi, cả xóm đồn cây keo đầu ngỏ có ma khiến phụ nữ và con nít đi ngang qua đó luôn thấy chờn chờn.

Nhưng có lần dì bị “ma” nhát thiệt. Sát vách nhà thờ Nam phía ngoài mặt tiền đường Trương Tấn Bửu, nay là Trần Huy Liệu, có một con mương sâu lộ thiên, nước luôn chảy róc rách. Một buổi đi học về trễ khi trời đã chạng vạng, dì thấy một bóng đen dưới mương ngoi lên, miệng ngậm cây nhang đỏ lè trong bóng tối. Giật thót cả mình nhưng dì gan góc định thần nhìn kỹ chính là chú Trọng, một thanh niên trong xóm. Như vậy, dì có sợ ma nhưng lần này lại do ma giả nhát.

Dọc đường tuổi thơ tôi không hề thiếu vắng những câu chuyện ma. Cách nay nửa thế kỷ, đèn đóm trong nhà khu ngoại ô còn tù mù nói chi đến đèn ngoài đường nên chiều xuống bóng tối dần chiếm không gian, các ngỏ hẻm tối thui. Cây mọc sân nhà, cây mọc ngoài rào, ban ngày lung lay cành lá và ban đêm biến thành ma lắc lư quơ tay quơ chân tùy theo trí tưởng tượng từng người. Ngoài phía đường rầy đã có người bị xe lửa cán và xe cam nhông 18 bánh của Mỹ cũng làm chết vài người gần đó. Trong xóm có người chết trận, có người thắt cổ vì chồng Mỹ bỏ về nước. Ai chết oan, chết ức đều thành ma quỷ từ những lời đồn. Mua xác nhà cũ, giở ra xây lại thấy treo trên cột nhà cuốn sách chữ Hán Tam Tự Kinh cũng nghĩ bùa thợ mộc ếm. Tuổi thơ tôi sống chung với những câu chuyện huyền hoặc đáng sợ và kích thích trí tưởng tượng như vậy.

Các bà chị trong xóm là nguồn phát tán chuyện ma và là hình thành đường dây loan đi xa. Những buổi tối cúp điện trời nóng và khi người già con nít, thanh niên trai gái ra ngồi hóng mát trong bóng tối của khoảng sân trước nhà là các thể loại ma bắt đầu xuất hiện. Chị tôi khẳng định đã có lần thấy một ngón tay ló ra lỗ khoá vào ban đêm, khi chị đi ngang cái cửa hông thông ra con hẻm bên nhà để ra sau nhà vệ sinh vào nửa đêm. Một chị khác kể khá nhiều chuyện ma nhà thương thí vì chị đã từng nuôi bệnh cho mẹ suốt mấy tháng trong nhà thương Sài Gòn. Một anh trong xóm kể có lần anh đi Thủ Đức trên xe ngựa vào buổi sáng sớm trời còn tối. Xe ngựa đang lọc cọc chạy trên đường, hai bên là ruộng và trời còn tối thui thì có từ phía sau xe ngựa, anh thấy có hai bóng đen từ hai phía bờ ruộng nhảy lên. Có điều lạ là mỗi người chỉ có một giò ở chân phía gần tim đường. Cả hai nhanh chóng nắm tay nhau nhảy lò cò rượt theo cái xe. Ngựa lồng lên, hí to. Ông phu xe quay lại nhìn rồi hốt hoảng quất ngựa chạy thật nhanh nhưng nhanh tới cỡ nào, hai bóng đen lò cò này vẫn rượt kịp. Trong xe, mấy bà đi chợ sớm đọc kinh lâm râm trong miệng. Hai bóng đen, tức là hai con ma một giò, chạy theo riết cho đến khi xe ngựa chạy gần tới đường xe lửa và có tiếng còi tàu hú cùng đèn sáng thì chúng mới biến mất. Nghe xong, các chị gái hít hà còn tôi thì ngờ vực: “Chuyện này em đã đọc rồi, trên báo !”Anh kia tỉnh bơ còn mấy bà chị còn lừ mắt bảo tôi im lặng. Sau này, tôi đọc lại câu chuyện đó trên một tờ báo thiếu nhi và nghiệm rằng đối với người nghe, quan trọng là mức hấp dẫn và hồi hộp của chuyện từ một giọng kể khéo léo, không ai quan tâm nó từ đâu ra.

Hầu như địa phương nào cũng có những chuyện ma gắn với cuộc sống ở đó. Đi ngang cầu Ông Tạ, tôi nhớ lời đứa bạn sống ở đó kể về bóng ma nó thấy (?) chạy từ công-xy heo, lò sát sinh hàng chục con heo mỗi ngày, nháo nhào ra cầu và nhảy ùm xuống rạch Nhiêu Lộc vào một buổi sáng sớm khi nó đi lễ nhà thờ. Đến khu Bà Chiểu, câu chuyện cô Ba Trâm thắt cổ sau trường Vẽ Gia Định vì bị hãm hiếp được nghe kể dài dài từ khu cầu Băng Ky đến Ngả tư Bình Hòa rồi vòng ra đường Vạn Kiếp. Những lời thì thầm như không dám kinh động quỷ thần của các bà trong ngày giỗ, về chuyện những người đi xe bò xe ngựa được quá giang bởi một cô gái tóc xõa và trả tiền bằng lá cây. Đó là những ngày xa xưa, đường xá vùng Gia Định buổi trưa thường vắng hoe vì đang giờ Ngọ nhiều âm khí và ma đang đi. Câu chuyện cô gái bị xe điện chạy trên cầu sắt Đa Kao tông đến nỗi đầu của cô bay lên tới vọng gác của lính Tây gây ấn tượng mạnh đến nỗi sau 1975, con nít lớn lên đường Bùi Hữu Nghĩa dưới dốc cầu vẫn được người lớn khuyến cáo là không được ra cầu sắt chơi ban đêm nếu không muốn hồn ma cô gái ra nhát.

Trong đợt du lịch xứ xa, những câu chuyện huyền hoặc được kể giúp chuyến đi đậm màu sắc văn hoá và đáng nhớ hơn những cuộc mua sắm vội vàng. Thành phố nào cũng có những chuyện ma, tất nhiên. Nói cách khác, ở đâu có người sinh sống là có chuyện kể về những con ma. Năm 2000, tôi đến Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh và nghe A Xủn, hướng dẫn viên du lịch, một người Việt gốc Hoa Móng Cái và sau năm 1979 là người Hoa, kể một câu chuyện ma xa xưa. Thế kỷ 15, hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh đã ra lệnh giết gần ba ngàn cung nữ chỉ vì ông nghĩ rằng một người vợ yêu dấu đã bị ai trong số đó đầu độc. A Xủn bảo đến giờ thỉnh thoảng vẫn có những người lính gác ban đêm ở đó nhìn thấy một người phụ nữ với mái tóc đen chạy vụt ra và có những âm thanh la hét, khóc lóc và tiếng gươm khua như đang đánh nhau. Tử Cấm Thành chỉ mở vào ban ngày, đóng cửa trước khi màn đêm buông xuống. Rời thành lúc chiều tà để đến một nhà hàng trước khi đóng cửa, khách du lịch nghĩ về thân phận con người, nhất là phụ nữ thời vua chúa phương Đông, được nâng niu và sử dụng như một bông hoa hay con thú cưng và có thể vứt bỏ không thương tiếc. Một vài lần khác, khách sang Nhật du lịch được hướng dẫn viên đùa rằng hãy cẩn thận đi xuống phố vào đêm khuya, khi đến cửa hàng tiện lợi tranh thủ mua quà. Có thể khách sẽ gặp một phụ nữ tên là Kushisake Onna, tên có nghĩa là “Người phụ nữ bị rách miệng “. Cô ta xuất hiện khi mang một chiếc khẩu trang trong phòng phẫu thuật và một chiếc áo khoác. Cô ta sẽ hỏi: “Tôi có đẹp không?”. Nếu nói không, cô ấy sẽ cắt đầu khách bằng một chiếc kéo lớn mà cô ấy mang theo. Nếu nói có, cô ta sẽ tháo mặt nạ ra, để lộ cái miệng bị rách từ tai này sang tai kia. Một câu chuyện khác là đừng bao giờ ngồi trong nhà vệ sinh khi không có giấy vệ sinh. Sẽ có Aka Manto (có nghĩa là “áo choàng đỏ”) có thể đang chờ bạn. Đây là một hồn ma ám nhà vệ sinh ở Nhật. Nếu ta ngồi trong nhà vệ sinh và không có giấy, con ma này sẽ hỏi: “Bạn muốn giấy đỏ hoặc giấy màu xanh?”. Nếu bạn chọn màu đỏ, bạn sẽ được cắt thành từng miếng. Nếu bạn chọn màu xanh, bạn sẽ bị bóp nghẹt đến chết.

Ma, âm hồn, người khuất mày khuất mặt… ám ảnh cả thời niên thiếu của rất nhiều người. Những cơn rùng mình khi đi ngang một nhà có người mới chết, những sợ hãi trong căn phòng tối khi trời mưa sầm sập và sấm chớp đì đùng bên ngoài, khi tiếng cú kêu ngoài cây chùm ruột trước nhà, những lần cùng anh em vừa sợ hãi vừa phấn khích trùm vội tấm mền khi cả nhà cúp điện… đó là những cảm xúc mạnh mẽ và tuyệt vời đã xa biền biệt, kể từ khi ta bước vào cuộc đời đầy tranh giành và gặp nhiều người còn đáng sợ hơn những con ma mơ hồ không bao giờ thấy đụng chạm đến ai trong thuở thiếu thời.

Phạm Công Luận

(Trích sách NHỮNG BỨC TRANH PHÙ THẾ. Xuất bản tháng 1 – 2019)

ĐỌC THỦY TINH TAN VỠ CỦA TÔN NỮ THU DUNG

 

 

Thời chinh chiến mặc dù tôi đã qua tuổi vị thành niên từ lâu nhưng thói quen thời học trò không thay đổi. Trong ba lô của mỗi lần hành quân thế nào tôi cũng lận theo vài ba quyển Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc loại hoa tím để mỗi lúc dừng quân ven con suối nào đó lấy ra đọc. Tôi biết cô nhà văn Tôn Nữ Thu Dung từ đó qua những câu chuyện tình hay những bài thơ đăng trên những tập san kia. Biết để mà ngưỡng mộ vì không quen. Cho mãi sau này khi đã qua tuổi xuân thì lâu thật lâu chúng tôi lại gặp nhau trên Facebook và lần này tuy chưa có cơ duyên gặp mặt nhưng hai anh em chúng tôi thân nhau hơn.

Thân nhau hơn cũng vì cùng đi chung trên chiếc cầu thơ văn và cũng vì hai anh em cùng đồng hương chung thành phố biển Nha Trang. Văn Tôn Nữ Thu Dung mà tôi rất mến mộ của đâu chừng  50 năm về trước cho mãi đến bây giờ vẫn êm ả như mặt nước hồ cho dù chừng ấy năm giòng đời không hề êm ả sau khi mảnh đất miền Nam rơi vào tay của những người thắng trận miền Bắc.  Số phận tuổi trẻ của chúng tôi là số phận của những thanh niên sanh nhằm cuộc chiến.  Nam hay nữ không là ngoại lệ.  Tôn Nữ Thu Dung là một trong số đó. Cô sinh viên đang chạm cửa giảng đường đại học đầy phơi phới tương lai đành gác lại để tập tễnh bước vào đời bằng chiếc cuốc cầm tay với những ngày lao động ở những nông trường và những vùng đất khô cằn mà bom đạn của chiến tranh vẫn còn. Cho dù trong muôn vàn khốn khó như thế nhưng câu thơ của Herman Hesse ” dù đau đớn quằn quại tôi vẫn yêu thiết tha trần gian điên dại này ” vẫn theo nhân vật Diệp của Tôn Nữ Thu Dung trong Thủy Tinh Tan Vỡ. Đó cũng là câu thơ mà tôi chép trong quyển nhật ký hành quân cách đây gần 50 của thời còn trẻ. Năm 75 sau khi thua trận phải đun đẩy số phần vào trong các trại lao cải, câu thơ của Herman Hesse vẫn theo tôi trong mỗi khi tuyệt vọng. Nay gặp lại trong Thủy Tinh Tan Vỡ của Tôn Nữ Thu Dung khiến cho tôi xúc động vì đồng bệnh tương lân.  Tôi liền đọc một lèo bản thảo do Tôn Nữ gửi.  Sau đó tôi tắt computer rồi đi đâu đó để cho hồn mình lắng đọng.  Mãi hai ngày sau tôi ngồi đọc lại. Lần này thì đọc từ từ chậm rãi từng chương một

Thủy Tinh Tan Vỡ là số phận của cô sinh viên tên Diệp sau năm 75 bị cuốn theo lịch sử bi thương của đất nước. Một gia đình êm ấm trong phút chốc đổ nhào giữa tiếng reo vang của những kẻ thắng trận. Người cha cột trụ trong gia đình bị tập trung lên rừng khổ sai để rồi chết âm thầm bỏ lại gia đình cùng những trách nhiệm chưa tròn. Từ một cô sinh viên ăn chưa no lo chưa tới Diệp bị cuốn hút vào khát vọng tự do và phải đánh đổi muôn vàn khốn khổ trong những lần vượt biên và tổ chức vượt biên. Càng khốn khó cô sinh viên Diệp càng ngẩng cao, càng cứng cỏi

Tôi chưa hề là một nhà văn cũng chưa hề là một nhà thơ, tôi chỉ là độc giả của Tôn Nữ Thu Dung của 50 năm trước và bây giờ vẫn thế. Do đó những gì tôi viết xuống đây không phải là những lời phê bình văn học mà là những gì tôi cảm nhận được của một người đọc dành cho một tác phẩm. Tác phẩm Thuỷ Tinh Tan Vỡ được viết từ ký ức

Ký ức là nhiên liệu mà cuộc đời là những chiếc xe. Những chiếc xe chạy cần nhiên liệu. Thủy Tinh Tan Vỡ là nhiên liệu đổ vào bình chiếc xe đời. Những chiếc xe chạy trong những cơn bão cuồng nộ của lịch sử. Chạy trong vùng kinh khủng và đau buồn. Đó là “… anh Quang chết trong một trận lũ khi bơi thuyền qua sông cứu mấy đứa học trò “. Đó là ” …được gọi đến Bệnh Viện Tỉnh để ký giấy mang ba về nhà chôn cất“. Đó là “…Cao lăn xuống đồi trước khi tôi nghe tiếng súng hay gần như tôi không hề nghe tiếng súng

Để đau buồn dành cho người còn lại. Cám ơn người còn ở lại đã đi qua hết cuộc đời và cảm ơn cuộc đời đã vì Diệp mà đau buồn. Trong một đất nước khi lịch sử đã chọn kẻ ác làm người chiến thắng, biết bao biến cố tang thương dồn dập đổ ập xuống khiến những người bị trị chỉ muốn trở thành vô tri cho nên Diệp rất may mắn khi vẫn còn cảm xúc để được đau buồn. Nhờ những đau buồn đó mà trong văn học Việt Nam mới có hồi niệm Thủy Tinh Tan Vỡ

Trong chương ba khi cô sinh viên Diệp vào thăm nuôi cha ở trại lao động khổ sai tác giả tả lại hình ảnh người cha của mình như sau …. “Ông quay lưng đi, anh Thiện cúi xuống lượm chiếc rựa ông quên nhặt … Bóng hai người dềnh dàng đi trong chiều âm u … những sợi nắng quái rơi rớt trên từng đám cây rừng đe dọa một đêm mưa tầm tả … Ước chi ba tôi quay lại một lần, nhưng ông không hề quay lại… tôi ngồi xuống, khóc nức nở”

“Tôi không thể tưởng tượng nỗi là ba tôi đã ra đi, vĩnh viễn ra đi… Không một tin tức nào cho đến khi tôi được gọi đến Bệnh Viện Tỉnh để ký giấy mang ba về nhà chôn cất ….  “

Tôn Nữ Thu Dung đã khơi động lại trong tôi những hình ảnh mà tôi đã từng trải qua, cứ những tưởng thời gian lâu quá rồi đã làm cho nhạt nhoà. Hình ảnh ba của Diệp dềnh dàng đi trong chiều âm u của trại lao động khổ sai cũng chính là hình ảnh của tôi trong những năm tháng đó.

Nên tôi hiểu được tâm trạng của người thua trận. Chỉ những muốn chết đi để khỏi di luỵ đến gia đình cùng những người thân yêu nhưng lại không đủ can đảm. Cái chết không đáng sợ bằng sợ cái chết nên đành phải chấp nhận tù tội chia ly và đau cắt. Sau 75 tôi cũng từng đi ở tù sáu năm và trong khoảng thời gian đó đứa con đầu lòng của tôi sanh năm 75 bị mất khi lên bốn tuổi. Con tôi mất không có tôi bên cạnh cũng như ba của Diệp mất không có ai bên cạnh

Nên tôi hiểu được cái cảm giác mà Diệp tưởng rằng chai cứng. Thật ra đó là những vết sẹo không bao giờ lành da chỉ cần một cơn chuyển gió trở trời là vết sẹo đó lại mưng mủ

Thuỷ Tinh Tan Vỡ cũng ghi lại mối tình của hai kẻ cứng đầu giữa Diệp và Cao. Nếu như đất nước không có cái ngày 30/04 oan nghiệt thì đây là một mối tình có hậu. Nhưng bởi vì đất nước có cái ngày đó nên hai anh chị thay vì hẹn hò nhau thơ mộng lại mỗi lần gặp nhau là toàn bàn chuyện vượt biển tìm tự do. Tuy thế bản chất nhân bản của những người được lớn lên phía Nam vẫn không tránh khỏi nên hai anh chị cũng có những giờ phút đắm chìm trong lãng mạn

…. ” Giữa những công việc bận rộn của Cao, anh thường tìm đến tôi như một chốn nghỉ ngơi êm ả nhất… những buổi tối ngồi trên xích đu dưới giàn Huỳnh Anh chờ trăng lên bên kia cư xá nghe thoảng hương Dạ Lý từ khu vườn bên cạnh… Đêm thơm như một dòng sữa… đêm yên tĩnh lạ lùng như những đêm xưa…  “

Tôi thấy thơ phảng phất trong khung cảnh này. Được biết Thuỷ Tinh Tan Vỡ được in chung một số thơ cùng tác giả do đó không lấy gì làm ngạc nhiên khi bắt gặp ở đâu đó trong những đoạn văn có thơ

Đêm rơi vỡ những vì sao mê hoặc
Hứng trên tay buốt lạnh hạt sương buồn
Người cũng thế… chia cùng tôi ngọt đắng
Bên kia bờ còn đau đáu vết thương
(Ký Ức Tháng Tư /TNTD)

Thủy Tinh Tan Vỡ gồm 19 chương. Mỗi chương là mỗi đoạn khúc tự sinh tồn của lớp tuổi thanh niên miền Nam cuối thập niên 70 sau khi quân lính Bắc phương dùng vũ lưc chiếm đóng thành công. Tác giả đã kết thúc những đoạn khúc đó ở chương thứ 19 đầy bi thương sau khi chuyến đi cuối của Cao lại thêm một lần thất bại và đánh đổi bằng sinh mạng của mình

Nhưng không còn một nguy hiểm nào đe dọa tôi được nữa… Tôi đã chia chung với anh những giờ hạnh phúc và tôi phải chịu chung cùng anh cả những phút nguy nan… Tôi không để ý đến hai chân không vấp vào những cạnh đá xanh rướm máu, Tôi không còn sức để chạy nên lết đến bên anh, một tên du kích quay lại khóa chặt tay tôi

Trong cuộc sống của mỗi một chúng ta, ngoài tình yêu nam nữ ra còn có nhiều thứ tình bao dung hơn mà nếu chữ tình đó đem thả xuống dòng nước thì sẽ bị nước cuốn trôi đi. Nếu khắc trên trời xanh thì một ngày nào đó sẽ có những chòm mây bay ngang qua che khuất. Nếu khắc lên hy vọng thì sẽ bị chông gai gập ghềnh trong cuộc sống cản ngăn trắc trở. Chỉ có khắc lên trái tim thì chữ tình kia mới sẽ cùng ta vĩnh cửu. Tôi tin rằng trong trái tim của Diệp hình bóng người con trai tên Cao đã hằn chung cùng với những tháng ngày sẻ chia hoạn nạn. Hai người đó vừa là bạn, vừa là anh em, vừa là tri kỷ, vừa là tri âm và cũng vừa là được hiện hữu để dành cho nhau hai trái tim cùng chung nhịp đập.

Và tôi suốt đời chẳng lẽ
Làm con ốc nhỏ chơi rong
Mà ôm trong lòng tiếng sóng
Ôm trong lòng cả đại dương…
(Tự Tình Với Biển /TNTD)

Hy vọng là một viên thần dược mà trên căn bản nó không hề tồn tại, nhưng điều thần kỳ là mọi người đều tin vào nó.  Tôi cũng tin vào nó. Bạn biết sao không? Tại vì mọi người đều muốn có một khát khao mãnh liệt tin vào một điều gì cho dù không thay đổi được lịch sử nhưng ít nhất cũng không để kẻ ác lợi dụng sự sai lầm của lịch sử thay đổi mình. Tôi tin Tôn Nữ Thu Dung cũng như tôi tin vào viên thần dược diệu kỳ kia cho dù không tồn tại. Bởi có niềm tin nên Thuỷ Tinh Tan Vỡ đã ra đời.  Tôi cũng tin rằng lớp thế hệ sau cuộc chiến hiểu được những điều mà tác giả gửi trong tác phẩm vì đó là sự thật trong một giai đoạn lịch sử. Lịch sử có thể sai nhưng sự thật không ai có quyền che đậy. Bởi đó là khát vọng

Và cuối cùng tôi xin dùng một đoạn văn và một đoạn thơ của chính tác giả để nói về Thuỷ Tinh Tan Vỡ mà Tôn Nữ Thu Dung, cô nhà văn nhà thơ chung thành phố biển Nha Trang đã ưu ái dành cho tôi đọc khi còn trong bản thảo

…Tôi vuột khỏi tay Sư bà, chạy vội theo anh, tôi sẽ ngã vào tay anh, tôi sẽ úp mặt vào ngực anh thơm mùi khói thuốc, tôi sẽ nói: Cao ơi, cho Diệp theo anh, cho Diệp đi với mà anh!

 

Khi không thể chia cùng nhau khổ nạn
Thắp cho người ngọn nến cháy rưng rưng
Từng giọt nến rơi vào đêm tan nát
Mái hiên khuya- gió tạt…
buốt căn phần
(Vọng Âm Buồn /TNTD)

New Orleans tháng 5/2019

Quan Dương

TÔ THÙY YÊN, CHIA SẺ CHÚT TÌNH CAY MẶN CŨ 

 

Trong thời kỳ hai mươi năm của thơ miền Nam, và giai đoạn kéo dài của nó, Tô Thùy Yên giữ một vị trí rất đặc biệt (*).

Đó là người khởi đi từ giai đoạn khai phóng đầu tiên, những năm 60, với sự nổi loạn chống ảnh hưởng của văn học tiền chiến. Nhà thơ của chiến tranh Việt Nam, của những suy nghiệm triết học, nhà thơ của những ngày tù tội cải tạo, và cuối cùng của giai đoạn lưu vong. Đời sống của ông đầy biến động. Tô Thùy Yên lúc nào cũng chăm chú sống cuộc đời mình, để tâm hồn rung lên theo nhịp điệu của thời thế. Nhưng đó không phải là thơ thời sự hay thơ trữ tình thế sự. Đó là một loại thơ trữ tình thực sự, tuy vậy mang dấu ấn lịch sử.
Trong khi tuân thủ nghiêm ngặt một số quy ước về vần điệu, sở trường nghiêng về thơ có vần hơn là về thơ tự do, Tô Thùy Yên vẫn sở hữu một ngôn ngữ vừa truyền thống vừa mới lạ. Sự chọn chữ, cách thiết lập câu thơ, âm điệu và từ vựng trong từng bài thơ, tạo nên phong cách riêng, một phong cách của tài hoa dụng ngữ.

Thơ Tô Thùy Yên có ba giai đoạn: trước năm 1975, sau năm 1975 ở trong nước và trong tù, và sau này khi ra hải ngoại. Giai đoạn thứ ba, thể hiện những cố gắng làm mới ngôn ngữ ở nhà thơ này, tuy vậy xét về thành tựu nghệ thuật, không thể nào sánh được với giai đoạn thứ nhất và thứ hai.
Là một tác giả được nhiều người biết tới và tìm đọc, có những bài thơ được phổ nhạc, nhưng Tô Thùy Yên vẫn là thi sĩ của giới trí thức, với bút pháp tinh lọc và sang trọng. Ông không thiết lập nên một thi pháp mới, và hầu hết thơ đều dựa trên những âm luật cũ, nhưng Tô Thùy Yên đẩy nghệ thuật dùng chữ đến mức tuyệt hảo. Sống trong thời binh lửa, ông mặc áo lính, đến các trận tiền, viết về cuộc chiến đấu bi thảm của một quân đội, đời sống thực của người lính, nỗi đau thương của quê hương bị tàn phá, sự nghĩ ngợi đầy tính triết học, nỗi u hoài Đông phương, tình yêu, sự lạc lối của tuổi trẻ, một thiên nhiên mù lòa cay đắng, những cây cỏ hiền hòa, tình yêu thuần hậu và bạo liệt.

Thơ Tô Thùy Yên là thơ nhân chứng. Bằng chính cuộc đời mình, ông sống qua những giai đoạn khác nhau của lịch sử. Bài thơ của ông, với tất cả hình ảnh và chất liệu của chúng bao giờ cũng tạo nên một lực đẩy hướng tới sự kết thúc, tạo ra một phức hợp tình cảm ở người đọc. Trong khi người đọc chia sẻ cùng nhà thơ gánh nặng của lịch sử, của số phận, thì cũng hạnh phúc được sống trong nguồn suối ngọt ngào của tiếng mẹ đẻ, vui thú với nhạc điệu, thưởng thức khả năng nắm bắt ý nghĩa của tồn tại. Ẩn dụ trong thơ Tô Thùy Yên giàu có, chúng chứa đầy khả năng mới mẻ: giá trị tiên đoán.
Thơ Tô Thùy Yên là loại thơ không những để đọc bằng mắt mà còn để đọc lớn lên, ngâm lên, giữa những người khác. Gần đây, sau tập thơ cuối cùng, không thấy Tô Thùy Yên viết nữa. Có lẽ công việc của ông đã xong. Sự thưởng thức và đánh giá là dành cho dư luận. Bất chấp khuynh hướng trừu tượng và khuynh hướng trí thức, sự dùng chữ tinh tế, khác thường, đó vẫn là một loại thơ mở lớn cánh cửa, tìm đến với người đọc, kêu gọi người đọc.

Một thứ thơ của ý thức tự do, của bi kịch lịch sử, của nhân phẩm, của lòng tin vào các giá trị căn bản của dân tộc. Thơ ông tạo nên một ảo ảnh nghệ thuật bằng chất liệu có thực của đời sống, một đời sống đã kinh qua hạnh phúc và bất hạnh, những vàng son và khổ nhục. Một loại thơ đôi khi siêu hình, đôi khi mênh mang kỳ bí, nhưng vẫn dung chứa xúc động chân thật. Đó có lẽ là một trong những bí ẩn sâu xa của thơ Tô Thùy Yên.
Nguyễn Đức Tùng

(*) Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, là cựu học sinh Petrus Ký và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông dạy học, làm báo tại Sài Gòn và mang cấp bậc Thiếu tá trong quân đội VNCH trước 1975. Sau 1975 ông bị giam gần 13 năm, từ 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ theo diện cựu tù nhân chính trị.
Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các hoạ sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng Tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ tự do” trên văn đàn miền Nam vào thập niên 60.

Tác phẩm: Thơ tuyển (1995), Thắp tạ (2004).
(trích từ tác phẩm Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, Văn Việt và Nguời Việt phối hợp xuất bản, 2017)

Tàu Đêm

Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi.
Lúc đó, sao trời đã ngủ mê.
Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy,
Long lanh muôn mắt tiễn tàu đi.

Thức dậy, những ai còn sống đó,
Nhìn ra nhớ lấy phút giây này.
Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay.

Cảnh vật mơ hồ trong bóng đêm
Dàn ra một ảo tượng im lìm.
Ủ ê những ngọn đèn thưa thớt,
Sáng ít làm đêm tối tối thêm.

Bến cảng, nhà kho, những dạng cây…
Chưa quen mà đã giã từ ngay.
Dẫu sao cũng một lần tan hợp,
Chớ tiếc nhau vài cái vẫy tay.

Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc,
Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai.
Ta gọi rụng rời ta thất lạc.
Ta còn chẳng đủ nửa ta đây.

Người bạn đường kia chắc chẳng ngủ.
Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?
Mai này xô giạt về đâu nữa?
Đất lạ ơi, đừng hắt hủi ta!

Đất lạ, người ta sống thế nào?
Trong lòng có sáng những trăng sao,
Có buồn bã lúc mùa trăn trở,
Có xót thương người qua biển dâu?

Tàu đi như một cơn điên đảo,
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau.
Ta tưởng chừng nghe thời đại động
Xô đi ầm ĩ một cơn đau.

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển dời xung xát bạo tàn,
Ta trở thành than, thành súc vật.
Tiếng người e cũng đã quên ngang.

Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc,
Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau.
Nghe cả hồn ta bị cán nghiến
Trên đường lịch sử sắt tuôn mau.

Dường như ta chợt khóc đau đớn.
Lệ nóng cường toan cháy ruột gan.
Lệ chảy không ra ngoài khóe mắt.
Nghẹn ngào đến cả tiếng than van.

Giá ta có được một hơi thuốc,
Dẫu chỉ là hơi thuốc mốc thôi.
Để phả cho hồn ấm tỉnh lại,
Để nghe còn sự sống trên môi.

Ta nhớ dăm ba hình ảnh cũ,
Lờ mờ như nhớ lại tiền thân.
Đời ta khi trước vui vầy thế
Bỗng thảm thương nghìn nỗi ngói tan.

Đem thân làm gã tù lưu xứ,
Xí xóa đời ta với đất trời,
Ngàn dặm lìa tan tình cố cựu,
Bàng hoàng thân thế cụm mây trôi.

Đã mấy năm nay quằn quại đói,
Thèm ăn như đứa trẻ con nghèo.
Mẹ ơi, con nhớ thời thơ dại,
Nhớ miếng ăn mà mẹ chắt chiu.

Liệu còn một bữa cơm đầm ấm
Bên ánh đèn đoàn tụ vợ con,
Chia xẻ chút tình cay mặn cũ,
Miếng không ngon cũng lấy làm ngon.

Tàu đi khoan xoáy sâu đêm thép,
Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa.
Lịch sử dường như rất vội vã.
Tàu không đỗ lại các ga qua.

Ô, những nhà ga rất cổ xưa,
Dường như ta đã thấy bao giờ.
Đến nay, người giữ ga còn đứng,
Đèn bão đong đưa chút sáng mờ.

Tàu qua những ruộng đồng châu thổ.
Hiu hắt làng xa mấy chấm đèn.
Đêm ở nơi đây buồn lặng lặng.
Cái buồn trải nặng mặt bằng đen.

Hỡi cô con gái trăng mười bốn,
Đêm có nằm mơ những hội xuân,
Đời có chăng lần cam dối mẹ,
Nhớ thương nào giấu thấm vành khăn?

Có lúc tàu qua những chiếc cầu
Sầm sầm những nhịp động đều nhau.
Dưới kia con nước còn thao thức
Bát ngát dềnh lên bãi sậy sầu.

Có lúc tàu qua những thị trấn
Mà đêm đã gói lại im lìm.
Tàu qua, âu cũng là thông lệ,
Nên chẳng ai buồn hé cửa xem.

Ôi những nỗi sầu vô dạng ấy
Gọi ta về với những đêm vui…
Ở đâu đèn sáng như châu ngọc,
Đường phố người chen chúc nói cười.

Ở đâu mộng ảo vườn sao tụ,
Yến tiệc bày trong những khóm cây.
Ta rót mừng em ly rượu đỏ…
Mà thôi, chớ nhớ nữa, lòng ơi.

Mà thôi, hãy nuốt lệ còn nghẹn,
Tỉnh thức, lòng ơi, nhìn tận tường
Thời đại đang đi từng mảng lớn,
Rào rào những cụm khói miên man.

Người bạn đường kia chắc vẫn thức,
Mong tàu đi đến chỗ đêm tan,
Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời đã rỉ han.

Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu,
Lay động những tầng mê sảng tối…
Loài người, hãy thức, thức cùng nhau.

Tô Thùy Yên 1980

Nguyễn Đức Tùng

 

Gạo trắng nước trong

Hùng Trần. Tưởng hắn họ Trần tên Hùng nên vỉa hè gọi vậy. Mới hay rằng đời sống rất nhiều điều thấy vậy mà không phải vậy. Trần ở đây là trần trụi theo đúng nghĩa đen của nó. Không có con nhưng Hùng có một cháu ngoại. Còn vợ? Tất nhiên phải có mới ra cháu ngoại chớ. Đúng không? Và cái chuyện có vợ rồi mất vợ của Hùng Trần rất ly kỳ mà ba cái phim võ hiệp kỳ tình của Hồng Kông phải ngã mũ kính chào.
Thiệt đó. Nói láo cho bà bắn. Không tin cứ về ngã tư sáu làn xe là biết liền. Đích thân chủ nhân xe bánh mì Hùng Trần sẽ kể cho nghe cuộc đời của hắn. Nhân đây xin kể sơ về xe bánh mì của Hùng. Cũng bình thường nhưng đặc biệt ở chỗ hai bên hông xe có gắn hai cây guitar thùng. Nhìn qua cứ tưởng chủ nhân chơi nhạc dạng sành điệu. Ngờ đâu Hùng Trần chỉ sơ sơ ba cái lá cải. Bù lại hắn có giọng ca – chao ôi – là sầu thảm. Mấy thằng lâm cảnh vợ đẻ con đau nhà hết gạo sầu một chứ Hùng Trần sầu cả trăm. Thiệt đó.
Từ từ để đây kể cho nghe. Đời một con người đâu phải ba cái tiếu lâm mà rẹt rẹt ba mươi giây là xong một chuyện. Đúng rồi. Cái lô đất có cái vỉa hè mà Hùng Trần đang đặt xe bánh mì và bên trong cái cổng đang ngự trị tòa biệt thự to đùng trước đây là của Hùng. Ngậm ngùi chưa? Chua chát chưa? Lô đất nầy bây giờ một chục tỷ đừng có mà mơ. Thương thay vì cứu mạng một con người Hùng đành phải bán với suy nghĩ rằng người còn thì của hãy còn. Với lại thời thế thế thời khó nói lắm. Đang đất thó hóa vàng khối thánh còn không lường được nói chi Hùng Trần. Nếu mà ruộng dâu không hóa biển xanh và lòng người không trí trá Hùng đâu có trần trụi như hôm nay. Nguyên nhân hả? Theo tha nhân ở ngã tư sáu làn xe thì do cái si tình của Hùng mà ra cả.
Hùng tha thiết lắm với một nhan sắc tên Thu. Cái dòng con gái đẹp một xíu đã chảnh mèo nói chi quá xá đẹp. Vây vo quanh Thu tuy ruộng đồng sông nước nhưng sống bằng con tôm con cá và hạt lúa như Hùng thì chớ có hòng xách dép cho nàng. Trai theo Thu toàn bọn con nhà giàu đẹp trai học dỡ. Hùng đau khổ thiếu điều nhảy sông tự tử khi Thu đem lòng say đắm một anh trai tên Hậu. May mà mối tình của trai tài gái sắc kết thúc nhanh gọn và đẹp trong vòng có ba tháng, lâu thêm chừng tháng nữa Hùng không chết vì xe tông cũng chết vì ung thư gan bởi ma men. Và nếu tờ mờ sáng hôm ấy Hùng say khướt như mọi hôm thì Thu theo hà bá rồi. Ùm một tiếng là biết có người nhảy cầu, đang trên xuồng con rái cá Hùng tức tốc lao theo. Chả phải Hùng làm phúc để lấy cái đức cho con cháu về sau. Tất cả vì tiền mà ra cả. Nhà ai đó có thất tình thua bạc nhảy cầu tự vận được cứu không cho vài đồng thì đúng là không biết sống biết chơi. Kẻ nhảy cầu hôm đó là Thu. Cô yêu thiệt thà và thiệt thà cho hết người yêu. Thằng họ Sở sau khi tỏ đường đi lối về nó quất ngựa về bến khác. Đưa kẻ chán sống lên xuồng và sau khi tỉnh lại nhờ hô hấp nhân tạo nàng đã không biết ơn thì chớ lại trách rằng ông cứu tui làm chi. Tui muốn chết. Hãy để tui chết. Hùng mới hơn thiệt đem Kiều ra khuyên rằng người còn thì của hãy còn, tìm nơi xứng đáng là con cái nhà. Xứ này dân tình mười đúng mười thuộc lòng Lục Vân Tiên và Kim Vân Kiều truyện. Không chữ nghĩa như Hùng cũng thuộc luôn mới là ác chiến.
Nàng mới vắn dài: Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa. Rằng thì là khi biết nàng lớn bụng thằng bồ liền bỏ chạy. Nàng là con gái rượu, hay tin con gái không chồng mà chửa, cả cha cả mẹ cả gia đình xúm vô mà Kiều: “ Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao” Ông cha thì trần trụi:
– Đồ hư thúi. Mày làm nhục nhã gia đình. Đi khỏi nhà tao ngay tức khắc…
Vậy nên nàng mới nhảy cầu.
Chao ôi nghe qua đá còn chảy nước nói chi Hùng. Hắn ta mới khuyên rằng đời đẹp lắm em ơi. Phải sống để nhìn đời, để thấy kẻ bạc tình nhận hậu quả thảm thê. Hắn bỏ em vì vớ được con khác đẹp hơn và giàu có hơn. Hắn sẽ lấy cô ta làm vợ và sẽ không có một mụn con để làm thuốc. Vậy mới đúng quy luật của cái gọi là quả báo. Còn em. Em sẽ hạ sinh một thằng cu đẹp như hoàng tử. Thằng khốn sẽ quay lại và khấu đầu đến đổ máu để tạ tội. Thu nghe qua liền hồi tâm chuyển ý. Hùng tuy xấu trai đen đúa nhưng ông trời cho hắn cái miệng ngọt như mía lùi, thêm giọng hát như mật ong. Hắn hát rằng: đời ta chỉ sống có một lần thôi. Cho nên sự sống quý giá vô ngần…
Vậy là trong căn chòi rách, trên mảnh đất một sào tây cha mẹ để lại Hùng và Thu nên một cặp trời sinh. Trong căn chòi ấy một bé gái ra đời. Mười tám năm sau cô bé tên Hồng con gái của Thu đẻ thêm đứa nữa. Nó cũng nhẹ dạ như mẹ, khổ đau như mẹ. Cũng yêu cũng cho và bị đá bổng đá bỏ. Lạ thay ăn ở với nhau qua hết thì tuổi trẻ mà Hùng Thu chả có lấy một đứa con.
Đó là lý do vì sao Hùng không có con nhưng vẫn là ông ngoại.
***
Nghe đến đây thì cũng nên ghé Hùng Trần làm ổ bánh mì cho đỡ buồn miệng. Ôm đàn làm vài bài lá cải cho vui tí tha nhân ơi. Nhân tiện ta nghe đích thân Hùng Trần tâm sự đời tôi khỏi cần ai kể lại chi cho tam sao thất bổn.
Ngồi ghế xúp hai khách ra dáng rất giang hồ mỗi người một guitar. Rất nhanh chóng họ hòa tấu bài Bésame-Mucho… nghe đây em đời đâu có nghĩa chi. Yêu nhau, ta trao nhau đôi môi tươi với những nét cười… Ái chà… sành điệu dữ đa nghe. Khách qua đường sang cho chí hèn đứng lại thưởng thức ngay. Xứ nầy mới lên đời nên dễ chi có âm nhạc đường phố sang cả như ri. Chơi cả dăm bài họ phải dừng, thêm nữa dám bị trật tự đô thị mè nheo về tội gây rối nơi công cộng. Và khách qua đường thì mỗi em cũng mỗi ổ bánh mì đi cho rồi. Vừa đi họ vừa nói: “ bà mẹ nó… hai thằng nầy chơi nhạc hay ghê…”
Hùng Trần hỏi một trong hai khách:
– Bạn mày hả Trung?
– Dạ… bạn em trên Sài Gòn mới xuống. Em rủ đi ăn bánh mì của anh cho biết vậy mà.
Cũng xá xíu bơ biếc chả thịt dưa leo hành lá nước tương và ớt trái như bao nhiêu cái gọi là bánh mì thịt trên đất nước nầy. Nhưng thấy vậy mà không phải vậy đâu nghe. Sản phẩm của Hùng tuy vỉa hè nhưng dạng bất bình thường. Khách xong một ổ thêm ổ nữa là thường ngày ở huyện. Cái câu “thà điểm tâm hai ổ bánh mì của Hùng Trần hơn chơi tô phở bò ở bất kỳ quán nào trên xứ sở này” là thiệt. Nó ngon một cái cực kỳ. Để có được món ngon hè phố là không dễ đâu nghe:
– Tôi tên Hoàng – khách nói – bà mẹ ơi… bánh mì của ông nhai đã thiệt ông Hùng.
– Làm một chút Gò Đen hông bạn?
– Tôi có mang theo chai Martell nè… chơi không?
– Mạc với ít ô ra cái ôn gì… Gò Đen trứ danh hơn bạn ơi.
Rượu vào lời ra. Ra luôn cái vụ Hùng Trần ủ tờ:
– Cũng tại tao… – Hùng nói.
– Sao vậy? Kể em út nghe với.
Hùng yêu Thu lắm. Lắm lắm. Anh chăm sóc hai mẹ con hơn cả báu vật mặc cho tha nhân: Tò vò mà nuôi con nhện. Ngày sau nó lớn nó quên nhau đi. Tò vò ngồi khóc tỉ ti. Nhện ơi nhện hỡi mày đi đằng nào. Sông nước xứ nầy ai cũng biết rồi đó, nhiều tôm cá quá cho nên rẻ như cho. Để bà xã và con gái luôn có nụ cười trên môi – chả là Thu ít cười lắm, nếu có thì chỉ gượng – Hùng theo bè bạn đi làm đá chẻ. Thuở mà có nghề có vốn liếng còn bán sức thì vô nghiệp như Hùng biết bán chi? Và cái nghiệp đục đá chẻ – trời ạ – nó khổ gấp chục lần chặt củi đốt than và nguy hiểm không thua chi mấy thằng… cưa bom. Nầy nhé… nắng mưa chi ta cũng mình trần thân trãi. Tay búa tay mũi ve cóc cách suốt cả ngày. Không dễ đâu tha nhân hỡi. Đục đá là một cái nghề nên phải có bí quyết riêng. Một tảng đá to như ông Bồ xả cho ra những viên có kích thước mười, hai mươi ngang dọc và dày mười phân đâu phải chuyện chơi. Mắt phải tinh tường để nhận ra tảng đá ấy sớ của nó chạy ra sao. Để khui một tảng ta dùng mũi ve nhọn đầu đục cho ra hàng chục lỗ bằng ngón chân cái. Lỗ nầy cách lỗ kia ba mươi phân trên một mặt phẳng nằm ngang. Sau đó bịt mũi ve phá đá bằng vải ka ky hoặc vải quần Jean. Cuối cùng sử búa tạ mười lăm cân anh đánh xuống những mũi ve ấy. Bụp. Tảng đá nứt ra một đường. Cứ thế ta làm thêm đường nữa và đường nữa – sao cho – tảng đá nứt ra từ dăm đến bảy đường. Đến lúc ấy mới sử xà beng làm đòn để bẩy ra từng tảng một. Và ta cho ra thành phẩm từ những tảng nhỏ ấy. Nắng hay mưa chi cũng bằng nhau khi làm nghiệp nầy. Mưa thì không chừng ngon hơn bởi mát mẻ. Cái nguy hiểm của nghề đục đá nhiều lắm. Dăm đá bay vù xé rách thịt là chuyện nhỏ. Đã hơn chục thằng hóa độc nhãn vì bị văng vô mắt. Vài thằng hóa độc cước bởi đá đè:
– Bà mẹ nó – Hùng nói – kiếm cái ăn sao mà khó quá mày ơi.
Có rượu nên mày mi tau tớ cho nó thân mật:
– Lúc đó ai cũng vậy. Mà sao mày bị tù? – Hoàng hỏi.
– Mày sao gấp quá… để kể cho nghe vì sao tao bán miếng đất nầy trước đã.
Bé Hồng được một tuổi thì Thu oằn người vì đau bụng. Đau gấp chục lần lúc vượt cạn. Ở bệnh viện người ta phán rằng cô bị u nang buồng trứng cần phải cắt bỏ:
– Vậy là xong cái vụ sanh đẻ hả bác sĩ?
– Vợ anh chỉ bị u bên phải, vẫn còn bên trái. Yên tâm đi,
Nhưng ông trời quyết chơi Hùng sát ván. Chơi cho trụi luôn. Thu lại đau bụng tiếp sau một tháng cắt bỏ bên phải. Lần nầy là bên trái.
Đó là lý do vì sao ở với nhau suốt mười mấy năm cả hai không có mụn nào và có cần phải giải thích vì sao Hùng bán đất không?
– Nhưng bả đâu rồi anh?
– Sai lầm của tao đã khiến cô ấy ra đi.
Ở bãi đá Hùng nghe ta bà nói họ thấy Hậu đến chòi rách thăm con. Chuyện bé Hồng không phải con anh chả dấu được ai ở thành phố nầy. Bé Hồng cũng biết nó con ai, nay cha đến thăm… Miếng đất tuy bán nhưng Hùng còn để lại trăm mét vuông ở để có mà chui ra chui vô… Lời ong tiếng ve bay đến tai rằng thương con thì ít nhớ má nó thì nhiều. Tình cũ thì không rủ cũng tới Hùng ơi.
Cũng dám lắm – Hùng nghĩ.
***
Ghen tuông khiến con người ta điên loạn. Điên tình khác với điên tiền. Thiếu và tham nên thiên hạ lao vào đời để truy cho ra đồng bạc và càng nhiều luôn càng ít. Điên tình thì muôn hình vạn trạng. Khi biết mình bị phản bội – cánh tóc dài thường – xách kéo chận tình địch lại và – a lê hấp – tao cạo đầu mày. Người khác thuê giang hồ hoặc rạch mặt bằng lưỡi lam hoặc cho ăn acid, thậm chí đổ cả keo dán sắt vào chỗ kín như trong “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư… cánh đàn ông thì nham hiểm hơn. Cựu Ước viết vua David đã cướp vợ của bầy tôi dưới trướng rồi mưu đồ tống kẻ bị cắm sừng ra trận để phơi thây ngoài chiến địa. Dân gian rằng có anh lính kia đi trận, về phép hay tin vợ có tình ngoài biên chế và, dâm phụ thường xuyên đưa gian phu về nhà để gió đưa trăng trăng đưa gió. Lính ta bèn rình rập lúc nửa đêm gà gáy, ở ngoài hè anh tận tai nghe họ nói lời yêu. Canh me người đàn bà đi ngoài anh lẽn vào phòng rút lưỡi lê cho gian phu một nhát thấu tim… sau đó trong bóng tối lính ta nhìn dâm phụ xử lý cái xác.
Hùng thì sao?
Đến cái nước nầy mới rõ cái phi lý đến tăm tối bởi ghen tuông của con người. Ừ… Hùng chua chát nghĩ – chả phải Thu đã từng yêu chết bỏ Hậu và vì hắn mà nhảy cầu đó sao? Suốt mươi lăm năm mình chăm con của cô ấy và hắn. Mình có chi nào? Chao ôi! Nếu Hùng đừng tin lời thiên hạ thì hay xiết bao. Điên loạn vì nghĩ mình bị bội phản đã khiến tâm hồn Hùng chất ngất một hờn căm cao tuýt trời xanh. Hừ… mười lăm năm, phải, mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình. Nếu không có anh giờ đây em là thứ thiếp của hà bá, nếu không có anh em làm sao vượt cạn và tiền đâu để giải quyết cơn đau của khối u ác nghiệt? Ai bảo thằng đàn ông từng giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha như Hùng không nhỏ nhoi ti tiện và kể lể như Tào Tháo qua Huê Dung Đạo. Có câu rằng đồng tiền nối liền khúc ruột vậy tình nối với gì? Không biết. Nhưng khi bị mất thì tình nối liền với nhỏ nhoi ti tiện và căm hờn.
Tao giết mày. Tao phải giết mày. Hùng tự nhủ với lòng. Mày phải chết thì cô ấy và bé Hồng mới không còn chi để tơ tưởng. Nghĩ đến con bé anh quý như ngọc mà đau lòng. Chao ôi má nó sanh anh chăm từng tí một, anh giặt đồ cử cho Thu. Bé Hồng quấy anh à ơi để nàng yên giấc… anh đạp xe đưa con bé đến trường… Đúng là khi yêu ngươi ta cao thượng và thánh thiện biết bao. Không giải quyết cho thấu đáo vụ nầy Hùng mất hết. Mất sạch. Vừa cúi đầu đục đá Hùng vừa suy mưu tính kế để loại tình địch ra khỏi cuộc chơi tình ái.
Ai đó nói suy nghĩ dẫn đến hành động quả không ngoa. Nửa đêm hôm ấy Hùng rời bãi đá khi anh em còn trong giấc điệp. Cái nghiệp nầy tàn hại sức khỏe con người ta dữ lắm. Chiều đến họ sương sương vài sợi là ngủ say sưa, ngủ đã đời, ngủ như chết. Bảy giờ sáng mới oằn oài thức dậy chào ngày mới. Ba giờ sáng Hùng đã có mặt ở bãi sau khi xong một thủ đoạn tàn độc. Chả có chi khó cả. Can ke Hậu về đến đầu hẻm nhà hắn sau một trận nhậu với bè bạn Hùng vung một cây ba phân vuông hết lực vào đầu. Không chết ắt kẻ thọ nạn cũng chấn thương sọ não. Nếu còn sống không hôn mê sâu cũng xách bao đi nhặt rác vì điên.
Hùng ngủ lúc chín giờ, thức cùng chúng bạn lúc bảy giờ. Ngoại phạm rõ ràng ràng. Ra tay vào lúc ấy thì ma không biết quỷ không hay. Công an cấp tỉnh lên tận bãi đá mời lên làm việc rồi thả về. Sao mời lên hả? Chả là thiên hạ bóng gió chứ vợ ruột của Hậu thì toạc móng heo rằng con quỷ cái quyến rủ chồng tao và bị chồng nó cho ăn cây. Hùng được thả ngoại trừ ngoại phạm còn có những cái khác đứng về phía anh. Hậu là thằng trai lơ, hắn dụ dỗ gái góa và chồng bỏ chồng chê đếm không xuể. Kẻ thù của Hậu ư? Nhiều lắm.
Vậy mà Hùng đầu thú để ra thân tù mới là đại ngu.
***
– Sao đầu thú vậy? – Hoàng hỏi sau một tợp Gò Đen
– Mày biết thế nào là cô đơn không? – Hùng hỏi lại.
– Cô đơn khỉ mẹ gì khi ta đang sống trong thế giới loài người. Tao đang ngồi bên mày và thằng Trung, chung quanh người là người và xe cộ và đủ thứ… thoát sao nỗi biến động mà cô đơn hay cô độc?
– Mày chưa hề bị mất nên nói vậy.
– Tao cũng trải dăm ba cái tình. Bị bổng bỏ không thua chi mày. Tù vài năm vì ngu. Nói chung… bị mất cái gì tao tìm lại cái đó. Tình cũng như tiền. Vui tao nhậu, buồn cũng nhậu luôn. Bận rộn nên tao không có thời gian để cô đơn.
Hùng trầm ngâm:
– Sự từng trải của mày chỉ gần tới chứ chưa tới. Tình của mày chỉ hình như là tình yêu chứ không phải là yêu. Yêu của mày chỉ để thỏa mãn nhau chuyện chiếu giường… tao chắc mày chưa biết thế nào là tình yêu.
Hùng được trả tự do bởi anh không có tội. Nhưng khi bước vào nhà nơi có người anh rất yêu Hùng hụt hẩng khi bắt gặp sự xa vắng từ đôi mắt của Thu. Đôi mắt ấy họa chăng chỉ đến chết Hùng mới kết thúc sự ám ảnh. Đôi mắt nói “em biết, biết hết… anh có thể qua mặt cả thiên hạ chứ em thì…” Một chút u ẩn hiện lên: “ Sao anh không tin em? Không có anh em chết lâu rồi… Sao anh nỡ nghi ngờ em quay lại với kẻ đã phản bội mình… Vì sao vậy anh? Sao mà ăn ở những mười lăm năm mà anh không tin em? Tại sao?
Hùng lặng lẽ bước ra cửa. Anh nhận ra sai lầm quá lớn của mình. Con gái đang chăm sóc cha ruột. Nó nghĩ gì nếu biết anh là thủ phạm? Hùng nghe tâm hồn mình rỗng không. Không chua chát, không cay đắng cũng không còn một chút hận thù nào vương vất. Niềm hãi sợ sau khi vung tay hạ thủ không dung tình với Hậu cũng mất. Hùng cảm nhận được thế nào là cô đơn. Phải. Cô đơn đến khi linh hồn ta bị mất. Một chút loạn cuồng đã khiến Hùng lâm vào mê hồn trận của niềm đơn độc. Anh mất hết rồi.
Anh thọc tay vào túi quần lang thang. Ghé vào nơi dấu cái gọi ba phân vuông dài sáu tấc tây. Thanh gỗ đã khiến một con người đang nguy cơ chết rất lớn. Hùng đến công an – nơi mà – vừa mới trả tự do bởi anh không có tội. Hùng khai rằng mười hai giờ đêm anh rời bãi đá. Sau một tiếng đi bộ anh đến chỗ phục kích. Ba giờ sáng anh lại có mặt ở bãi đá và ngủ tiếp… Lý do? Hùng yên lặng không trả lời.
– Quê hương là khi một người thân nằm lại ở miền đất nào đó trên bước phiêu lưu của một giang hồ vặt. Cô đơn là khi tâm hồn bị mất. Hiểu không?
– Sau đó thì sao?
– Tao bị kêu án năm năm vì đánh người không duyên cớ. May là thằng Hậu không chết. Người ta cưa hộp sọ rồi rút máu bầm tụ trong não. Thằng đó mạng to thiệt. Không chết thì chớ lại không điên. Con người ta chết hay điên cũng có số mày ơi…
– Ly kỳ quá. Rồi vợ mày đâu?
– Tù về hôm trước hôm sau cô ấy đi mất. Đi biệt.
– Bà ấy thăm nuôi khi mày ngồi tù chớ hả?
– Ừ…
– Vậy sao không đi tìm cha nội?
– Khi mày không thích tao thì làm cách chi cũng không thể thân tình. Nhưng thích hay không chỉ là chuyện nhỏ. Không tin nhau là một xúc phạm rất lớn trong nghĩa vợ chồng mày hiểu không?
Sau cơn địa chấn Hậu hóa thành một con người khác. Thiên hạ bất ngờ khi một trai lơ đàng điếm đa tình mặc áo nâu cạo đầu trọc vào chùa làm từ thiện. Và Hồng – con gái ruột của hắn và là đứa con Hùng chăm từ thuở lọt lòng – có lẽ vì cha ăn mặn con khát nước nên cô cũng dang dỡ một tình yêu.
– Ba trông thằng Hiếu để con đi tìm má nghe.
– Ừ… để đó ba.
Hùng gửi thằng cu vào nhà trẻ rồi tậu xe bánh mì đi bán dạo. Con bé tìm không ra mẹ nhưng vớ được một anh trai không đẹp cùng không xấu nhưng thiệt thà. Anh cũng dỡ dang một lần và cũng có một con trai. Hồng tính đưa con theo chàng nhưng Hùng nói:
– Thôi… để tao nuôi cháu… sống với bây ba bữa mắc công phát sinh cái vụ “anh ơi con em với con anh nó đánh con mình” thì tội nghiệp bây lắm.
Hùng chua chát cười. Anh nâng cây đàn và hát một bô lê rô nhưng không hề lá cải: Đường thương đau đầy ải nhân gian. Ai chưa qua chưa phải là người. Trông thói đời cười ra nước mắt…

Nguyễn Trí

NHÀ XƯA CÓ HOA MIMOSA VÀNG

Tôi gọi số điện thoại mới của chị mà cháu Thơ Thơ cho, báo tin bạn chị, họa sĩ Đinh Cường, vừa mất. Chị nhấc máy, im lặng. Tôi gác máy, gọi nữa, chị lại bắt máy. Tôi hỏi mấy câu Thơ Thơ dặn, chú phải nói rứa nói rứa mẹ cháu mới hiểu chú ạ. Chị vẫn không nói. Đầu kia, có tiếng u u như gió thổi qua đồng cỏ lạnh giá. Tôi cầm điện thoại, giữ lâu, giữa hai chị em chỉ có tiếng gió rì rào.
Thế mà mấy năm trước, tôi cùng anh Tường, anh rể tôi, ghé thăm nhà chị ở gần Seattle, khi về chị còn chạy theo ra hiên. Khớp gối bên phải sưng đau, sờ thấy nóng, đi cà nhắc, bảo: em cho chị hôn em. Rồi vói người hôn lên má tôi đánh chụt một cái.
Tôi hiểu, đó là nụ hôn dành cho mẹ tôi. Anh Phan Văn Tốn chồng chị là con của cậu ruột tôi. Mẹ mất sớm, từ nhỏ anh về ở với mẹ tôi, bà cô út, gọi là o. Những bà o chưa chồng thương cháu như con. Anh đem người bạn vong niên cùng đi kháng chiến về giới thiệu. Mẹ tôi lập gia đình với ba tôi lúc người đã ngoài ba mươi, thời đó muộn. Khi tôi sáu tuổi, cha mẹ tôi dựng nhà trong vườn mới mua, kề bên vườn hương hỏa của ông bà ngoại. Vì đất ấy không ai trông nên mẹ tôi vào ra coi sóc, hai vườn thông nhau như một. Tan trường, tôi cho sách vở vào một xó, thoắt cái đã nhảy chuyền cành trên những cây ổi, cây bưởi rậm rạp, cành lá giao nhau. Một buổi chiều đi học về muộn, nhà vắng khác thường. Tôi tò mò đi qua hàng rào tre trúc ngăn giữa hai vườn thì gặp mẹ tôi đi ngược lại. Dáng bà kín đáo, im lặng. Có lẽ bà chưa kịp thấy tôi. Từ phía khác, sau bụi tre, tôi nghe tiếng người nói khẽ. Giọng gắt. Anh Tấn.
Anh là em trai kế của anh Tốn, là người chăm lo nhang khói dòng họ. Trong nhà anh có bức ảnh lớn của anh Tốn và chị Thanh Sâm, bồng các cháu Thi Thi, Ti Ti, Thơ Thơ, Lam Điền. Anh Tốn để râu mép, mặt vuông, đẹp, hiền, nghiêm nghị. Chị áo dài tha thướt. Lúc ấy anh Tấn là chỉ huy nghĩa quân của xã, gồm hai đơn vị, một bảo vệ cầu Ái Tử, một bảo vệ khu lân cận như trường tiểu học, vườn ươm của tổ chức lương nông quốc tế. Anh mang khẩu súng trường dài, loại M1 Garand, nổ đanh, bán tiểu liên tự động. Sống thời chiến tranh, không lạ gì trò chơi chết chóc, tôi nhận ra dễ dàng các loại súng, tiếng nổ của chúng, tiếng đại bác, moọc chê. Tôi lắng nghe câu chuyện giữa mẹ tôi và người cháu gọi bằng o ruột. Những năm sáu mươi, chiến tranh mới lẻ tẻ thôn xóm, chưa lan rộng như sau này, nhưng cái chết hai bên gây ra cho nhau thật tàn khốc. Mỗi lần có vụ du kích giật cầu, đánh lô cốt, bắn pháo bừa bãi vào chợ búa thì có một cuộc bố ráp sau đó, càn quét cơ sở bí mật người kháng chiến cũ. Mỗi lần có một du kích bị bắn hạ khi vượt qua đường tàu thì vài hôm sau liền có cuộc trả thù nhắm vào các viên chức chính quyền cấp thôn xã hay người thân của họ. Đặc điểm quan trọng nhất của chiến tranh du kích Việt Nam là tính chất trả thù.
Nhưng lúc ấy, tôi chỉ biết sợ hãi, không biết thù hận. Tôi sợ hãi khi nghe tiếng đại bác bắn qua đầu, tiếng nổ khi xa khi gần, nghe tiếng mõ cầm canh, tiếng phèng la đầu làng của người dân đang sống an toàn yên ấm bên trong hàng rào Ấp chiến lược, báo động cho chính quyền biết du kích về làng. Tiếng gõ cửa ban đêm. Tôi sợ cuộc chiến tranh này. Tôi căm ghét nó. Những người dân ở miền Nam đều căm ghét nó. Thế người dân miền Bắc? Tôi không biết.
Tôi tin rằng cũng có người căm ghét chiến tranh, như nhà thơ Lưu Quang Vũ, nhưng phần nhiều đều tự an ủi rằng dù sao hy sinh ấy là cần thiết. Dù niềm tin ấy sau này được những người trong cuộc nhận định lại là đúng hay sai thì lúc ấy nó vẫn là liều thuốc kỳ diệu giúp chữa lành các vết thương. Tuy thế, dù ở đâu, chưa bao giờ chiến tranh vui vẻ. Người ta có thể sẵn sàng ra trận, đổ máu cho một lý tưởng, nhưng không khí chiến tranh có bao giờ vui? Để sống sót qua thời ấu thơ binh lửa, tôi phải có một niềm tin, dù với những hiểu biết không đầy đủ, phải được trang bị bằng một tư tưởng thích hợp, cũng như tôi phải tập ngửi mùi thuốc súng. Tôi mang sự hiểu biết không đầy đủ ấy vào Đà Lạt, mùa xuân năm 1976. Tôi đến nhà số 33 Thi Sách của chị Thanh Sâm, ngôi nhà trên đỉnh đồi lộng gió. Trước đó, năm 1972, người chị thứ hai của tôi, cùng tên, vừa tốt nghiệp khóa nữ hộ sinh quốc gia, sage femme d’ etat, lên làm việc ở Đà Lạt, ở nhà ấy. Để phân biệt hai người, trong gia đình tôi mọi người vẫn gọi chị Thanh Sâm là chị Thanh. Ở ngôi nhà Thi Sách này, chị tôi đã quen và phải lòng một sinh viên sĩ quan Đà lạt, tên Tường, từ đó chị còn có tên là Tường Sâm. Sau khi anh ra trường, họ kết hôn, và chàng trai mê sách vở văn chương nhưng có tài thiện xạ này trở thành sĩ quan trinh sát sư đoàn. Anh hay kể chuyện nhảy trực thăng vào hậu cứ đối phương ở Quảng Nam.
Khi tôi đến Đà Lạt, nhà đổi chủ. Sau cái chết của anh Tốn, chị Thanh bỏ cao nguyên về Sài Gòn, khoảng 1972, giao nhà cho chị Sâm tôi ở, giữ căn biệt thự hai tầng như kỷ niệm gia đình. Bây giờ nhà bị chính quyền mới trưng dụng. Bảng hiệu nhà giữ trẻ. Tôi đứng tần ngần trước dãy rào tường vi trắng. Xa xa phía sau là nhà thờ Domaine de Marie màu hồng đậm ấm áp, mái nhà dốc tựa nhà rông Tây nguyên. Trước hiên một giàn dây leo trổ hoa pháo, vàng rực, vắt qua hai cây cột lớn, uy nghi. Tôi bước lên tam cấp cao vào nhà, hai cánh cửa chỉ khép hờ. Trong nhà nửa tối nửa sáng, chạy ngang tường khẩu hiệu quen thuộc sống chiến đấu sơn đỏ, mới. Phòng khách rộng mênh mông kê lộn xộn bàn ghế. Gần cửa, trên chiếc giường nhỏ, một đứa bé gái gầy còm nằm thiêm thiếp, lên cơn sốt, tóc thái dương ướt đẫm. Nhìn kỹ trên mặt và hai cánh tay nó, những nốt ban, cái hồng cái đỏ sẫm. Thời ấy ở miền Nam sốt xuất huyết hoành hành. Một thằng bé khoảng ba tuổi đứng tè ngay trước lò sưởi cuối phòng, lò nguội lạnh, cô giữ trẻ túm lấy tóc nó lôi đi. Thằng bé không khóc, cưỡng lại hung dữ. Trong một động tác bất ngờ, điêu luyện, người phụ nữ buông tóc nó ra, chụm hay bàn tay lại, dùng cả hai cánh tay kẹp cổ thằng bé, nhấc bổng lên.
Tôi đứng ngẩn người, không biết làm gì. Qua cửa sổ, tôi nhìn thấy hai cây hoa lớn, ở góc bên phải của khoảng sân rộng trước nhà. Tôi bước ra, thở khí trời trong mát, hít mùi nhựa thông ngập không gian. Gần cuối mùa mimosa, trên cỏ những bông vàng tươi xếp lớp như thân xác của hạnh phúc. Đường phố vắng, lác đác xe hơi chạy vụt qua, trên xe những khuôn mặt mới, xe ngựa lọc cọc gõ nhịp đều, những con ngựa gầy trơ xương với da, lông xù ra. Người Đà lạt trí thức và tiêu biểu cho văn minh một thời, đã tan tác, bỏ đi hết. Nhưng loài hoa vàng óng ả thì phân vân ở lại. Ngày ấy, mimosa không còn là cái đẹp hiền hòa, mặc dù vẫn đẹp, có lẽ đẹp hơn, chúng rơi như sương như khói, rơi như tóc như tơ, rơi để chết trong đất trời mù mịt.
Đây chính là ngôi nhà mà ngày xưa nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn đã nhắc đến trong truyện ngắn Nhà có hoa mimosa vàng. Tôi bần thần đi ra cổng, đứng trên đỉnh dốc, nhìn xuống thành phố Đà lạt dưới kia sương mù xa xăm như thuộc cõi nào, nghĩ đến các anh chị, đã ra đi để lại phố phường xao xác. Giây phút ấy, bỗng hiện lên trong trí tôi hình ảnh bàn tay đầy gân xanh, tì lên báng súng Garand run run của anh Tấn. Cái báng súng bằng gỗ đỏ nâu ánh lên dưới mặt trời chiều, có vệt đất cày ải, có mùi mồ hôi, mùi hành tỏi, mùi hoa huệ cúng bàn thờ. Tôi nghe vẳng câu hỏi nhát gừng hướng về mẹ tôi. Tôi nghe tiếng mẹ tôi thì thầm, kể lể, dịu dàng nhưng cương quyết. Khuất sau bụi tre là con đường dẫn sâu vào khu vườn thứ hai, tôi thuộc từng ngọn cây ngọn cỏ biết nó sẽ dẫn tới những giao thông hào đào quanh hàng tre ngăn không cho rễ tre mọc. Ở cuối dãy giao thông hào ấy, trước rạng đông, trời còn mù sương, đã bò lê tới một người lính lạ mặt, một khúc ruột lòi ra, máu chảy từ bụng không ngớt, thoi thóp thở.
Một người lính trẻ mười bảy, mười tám, nói giọng Hà Nội, nửa nằm nửa ngồi gần gốc tre, mặt trắng trẻo như thư sinh, thỉnh thoảng ngất đi vì mất nhiều máu. Bị trúng đạn, lạc đơn vị khi vượt qua quốc lộ Một gần sông Thạch hãn. Tôi nghe câu chuyện của hai người càng lúc càng nhỏ cho đến khi tiếng của anh Tấn vang lên lần nữa bên tai. Thôi được, con chịu thua o lần này. Nhưng đừng làm quá, không ai bênh vực được. Nội một ngày họ phải dời đi, vì đây là lãnh vực phụ trách không thể làm ngơ. Mặt mẹ tôi phảng phất nụ cười, bà gật đầu ra dấu biết ơn. Những người lính nông dân của anh Tấn, bắn nhau với du kích phần nhiều cũng là nông dân phía bên kia, đã chết bờ chết bụi cho bầu khí quyển dân chủ đầu tiên của cả dân tộc này được một lần sinh ra. Trạng thái cân bằng của đất nước bị phân chia giữa hai hệ thống giá trị, sự cân bằng ấy tất nhiên tạm thời, đã phải trả giá đắt, nhưng có lẽ xứng đáng. Không có hai mươi năm ấy, để những giá trị văn hóa được gìn vàng giữ ngọc, tâm hồn Việt Nam ngày nay chỉ còn là sa mạc, tuổi trẻ chẳng biết đến văn học tiền chiến. Nhầm lẫn lịch sử tồi tệ đã xảy ra, hệt như trong thế giới động vật, mạnh được yếu thua; và đứng lên từ gạch đá đổ nát, người Việt hai miền đến nay vẫn ngơ ngác như kẻ mất trí nhớ.
Trí nhớ là kẻ thù số một của thuật cai trị. Những thế hệ sau lớn lên trong sợ hãi và ký ức giả dối, trong một lịch sử bịa đặt, bởi chính các nhà văn, cần phải được mang trở lại nền nhà cũ, cháy rụi, giữa những cột nhà cháy đen như kỵ sĩ không đầu. Lòng hoài niệm của người Việt khác với hoài niệm của các dân tộc khác. Lòng hoài niệm ấy không phải là sự tưởng nhớ thụ động, mà là cố gắng cần nhiều năng lượng, như bơi ngược dòng, để khơi mở sự hiểu biết đối với những lầm lạc, từ nhiều phía, thiết lập căn tính của cái sắp tới. Trong ba ngày tôi đi khắp phố phường, một thành phố nửa ngủ nửa thức với vẻ đẹp mơ màng của đồi xanh thông reo, từ đường Yersin ngang qua trường sư phạm, tu viện Dòng chúa cứu thế, trường Sacré Coeur, nhà thờ Con Gà, những kiến trúc cổ kính, dịu dàng. Như thế là trong những ngày buồn tôi đã khám phá ra Đà Lạt theo kiểu của mình, đi theo gót chân của bác sĩ Yersin, đứng trước Grand Lycée hình cánh cung, xây năm 1927. Tôi gặp một người đánh xe ngựa rộng lòng bác ái đã cho tôi đi nhờ nhiều đoạn đường, chỉ phải trả một ít tiền tượng trưng, vét hết túi cũng chỉ còn chừng ấy. Chúng tôi đi dọc đường Huyền Trân Công Chúa. Tới gần thác Cam Ly, vượt qua trường Couvent des Oiseaux cũ. Khi trở về, tôi dừng lại thật lâu trước Ga hỏa xa. Ba mái chóp nhọn tiêu biểu cho ba đỉnh núi Langbiang huyền bí. Nhà ga được xây dựng từ năm 1948, thời kỳ chiến tranh Việt Pháp ác liệt mà các kiến trúc sư vẫn còn đủ kiên nhẫn để thiết kế một trong những tòa nhà đẹp nhất. Tôi nghe nói ở đó có một đường ray răng cưa vượt đèo Ngoạn mục nhưng không thấy đâu nữa. Tôi muốn đi thăm trường Võ bị quốc gia lừng lẫy, hỏi một ông già bản xứ, ông ta trợn mắt, nhìn trước nhìn sau, sợ hãi.
Đến Đà Lạt, xứ sở của khách từ phương xa, có người đến và đi luôn, có kẻ đến và ở lại, tôi có dịp nghĩ về cái chết của anh Tốn, về cuộc chiến đấu dũng cảm, đơn độc của anh, về những bất hạnh của chúng ta trong ngọn lửa cách mạng bạo động. Nhưng tôi cũng có dịp lần đầu thưởng thức vẻ đẹp không những của núi đồi Đà Lạt mà còn của kiến trúc do con người tạo ra. Người Pháp để lại trên đất nước này những công trình mỹ lệ. Lòng yêu mến, sự quan tâm của họ thật đáng ngạc nhiên. Tôi lặng lẽ quan sát những bậc thềm nhà, những cánh cửa gỗ, những vòm mái cao, những nắm cửa bằng đồng. Tôi đứng ngắm sắc màu đậm nhạt, những bức tranh, những đường vòng cung quý phái của các bức tường trắng. Các tảng đá nghiêm lạnh bên hồ nước cũng dạy tôi nhiều về huy hoàng tráng lệ, về cô đơn lẫm liệt, chúng đòi hỏi tôi tự mở lòng ra để đón nhận ngoại cảnh. Kiến trúc ở đây gợi ý về hạnh phúc lâu bền, tồn tại trăm năm, ngàn năm, không những bởi chất liệu kiên cố mà còn vì vẻ đẹp của chúng. Người Pháp là bậc thầy của kiến trúc. Kỹ thuật và công nghệ bê tông, gạch đá, cửa kính, mái ngói, kỹ thuật và công nghệ kim loại, sắt thép và chất dẻo. Nhưng ở đây còn một điều gì khác nữa, như thể trong khí trời mát dịu, giữa sắc hương hoa, chủ nghĩa thực dân của thế kỷ mười chín, hai mươi, đã đi một đường vòng rất xa đạt tới đỉnh cao huyền thoại của nó trong việc tạo dựng vẻ đẹp nhân bản ở nhiều xứ sở, không những mang văn minh Pháp đến các xứ sở ấy như cái cách mà họ làm lan truyền Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, mà còn phát hiện được, xây dựng lại, bồi đắp nên vẻ đẹp của chính dân cư và vùng đất mà họ đến. Những kiến trúc ấy gợi ý cho tôi rằng giải pháp hay nhất của các dân tộc bị trị vào thời ấy không nằm ở các biện pháp vũ lực, ở sự sợ hãi, ở việc hủy hoại, nói dối, cướp chính quyền, vì trong khi chúng phá hủy những thiết chế xã hội của người Pháp thì chúng sẽ tàn phá lập tức cái đẹp mà truyền thống và đất đai xứ sở này sáng tạo nên. Đó là những suy nghĩ của tôi trong một ngày mùa xuân bên đường phố vắng, khí trời trong sạch.
Có lần trong ngôi nhà của chị Thanh ở Mỹ gần Seattle, nơi chị sống chung với con trai, cháu Lam Điền, lúc ấy chưa vợ, chị kéo tôi vào một căn phòng kín, như cái thư viện nhỏ. Chị cố tìm một cô bé trong một bức ảnh nào đó mà chị quảng cáo là đẹp, hiền, biết nấu ăn, vì muốn giới thiệu cho tôi, hồi đó độc thân. Do sự hào hứng bất ngờ, chị đành phải lục tung những giấy tờ kỷ niệm và hàng chục cuốn album tranh ảnh của gia đình. Nhưng khi lật những bức ảnh chị không thể cưỡng lại ý muốn giải thích cho tôi về những nhân vật trong ấy, và ý nghĩa của chúng.
Đây là hình Đinh Cường đứng trước kệ sách. Đây là Phạm Công Thiện và Hoài Khanh ngồi trên bậc tam cấp, ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng. Hoàng Ngọc Tuấn, cao, hiền lành, cười nửa miệng. Trịnh Công Sơn gần như ngồi bệt xuống sàn nhà, chân co chân duỗi, cây đàn guitare để gác lên cái ghế thấp bên cạnh. Không hiểu vì sao trong nhiều bức ảnh, Trịnh Công Sơn thường ở trung tâm. Đám trẻ trước đây, và cả bây giờ, gọi họ là Thiện, và Sơn, vì đối với họ, Phạm Công Thiện là tuổi trẻ lạc loài, Trịnh Công Sơn là tình yêu hư ảo. Và Hà Thanh, áo dài, tay áo xắn lên gần khuỷu tay, cầm ly nước như sirop trái cây. Và Khánh Ly, nhiều bức đẹp tôi chưa từng thấy trên báo chí. Trong tất cả, bức mà tôi chú ý nhất là của Vũ Khắc Khoan chụp chung với chị, hai người đứng bên cửa sổ, phía sau lưng họ ánh mặt trời rọi xuống, và đứng chéo góc xa hơn, một người phụ nữ với khuôn mặt nhìn nghiêng, chị ngắm lui ngắm tới mãi, rồi bảo, Phùng Thăng. Người dịch Kẻ lạ ở thiên đường đó sao, đời sống của nàng là một bản thánh ca viết bằng đau khổ và thương yêu.
Nhìn trong ảnh, trí thức thời ấy lãng mạn nhưng đăm chiêu. Khí chất ấy có lẽ toát ra từ nhân phẩm riêng hoặc từ vị trí quý tộc mà xã hội ban tặng. So với họ, trí thức bây giờ trông nhốn nháo hơn. Xúc động trước hàng trăm ảnh đẹp, tôi quên mất hỏi chị chi tiết. Quên hỏi chị bức ảnh rất lạ của Bùi Giáng ở đâu, nhà chị hay nơi khác, vì có hình của chị Nhung, em gái của chị, hậu cảnh lại mờ. Khi xa rồi nhớ lại câu hỏi, chị không trả lời. Chị không thể trả lời. Chị đã thuộc về một thế giới khác, không quê hương, không ký ức. Con người trần thế không lưu giữ ký ức thiên đàng. Một lần trên điện thoại, sau nhiều phút im lặng chị bỗng nói mấy chữ tôi không nghe được. Chị phải lặp lại, phát âm rõ hơn. Ngàn Sâu. Ngàn Phố. Nhưng chị Thanh một người Đà Lạt, rồi Sài Gòn, rồi nước ngoài, nhưng anh Tốn, một trung tá, phó tỉnh trưởng phụ trách quân sự những năm sáu mươi, thì có mối liên quan ra sao đến Ngàn Sâu, Ngàn Phố? Sau này đọc lại cuốn tiểu thuyết Cõi đá vàng của chị (*), tôi hình dung đó là ký ức thời kháng chiến. Hạnh phúc đôi khi là quên lãng. Nhưng chị không muốn quên, chị muốn nhớ lại. Không phải chị muốn, mà những tế bào thần kinh sắp tê liệt của chị, những ốc đảo cuối cùng giữa hoang mạc, thỉnh thoảng lại phóng điện, như tia chớp. Chúng muốn.
Tài liệu viết, sông Ngàn Phố, còn gọi sông Phố, bắt nguồn từ núi Giăng Màn thuộc huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, gần biên giới Việt Lào. Sông Phố chảy từ Tây sang Đông tới nơi giáp ranh huyện Hương Sơn với huyện Đức Thọ. Tại ngã ba Tam Soa nó nhập với sông Ngàn Sâu, tức sông Sâu, từ các huyện Hương Khê, Vụ Quang chảy từ phía Nam lên để tạo thành sông La. Đến lượt sông La chảy vào sông lớn hơn là sông Lam. Thời kháng chiến chống Pháp thượng nguồn sông Sâu và sông Phố là những chiến khu nổi tiếng. Khi nhắc đến chữ ấy, giọng chị xa vắng. Như một người đang đi bỗng mất phương hướng, nhìn quanh, không còn ai. Cùng với những người khác, cuộc đời họ, câu chuyện của họ, những cái chết bí mật, tra tấn, tù đày, mất tích, những đầu mối không tồn tại, những biên giới xóa. Bạn không thể trở về, không những cha mẹ không còn mà căn nhà cũ không còn, không những căn nhà cũ không còn mà ký ức về nó cũng không còn. Đó là yếu tính của hoài niệm của người Việt hôm nay, dù Bắc hay Nam. Câu thơ quốc phá sơn hà tại không đúng. Sơn hà không còn. Chỉ còn con người mờ nhạt như những cái bóng của nền văn hóa xa lạ. Nostos trong tiếng Hy lạp là trở về, algos là đau đớn, nostalgia là đau khổ khi trở về, là hoài niệm.
Hậu quả xấu nhất của các cuộc xâm lăng là xóa sạch văn hóa của vùng đất bị chiếm đóng. Cuộc chiến tranh chấm dứt năm 1975 không phải là cuộc xâm lăng theo nghĩa thông thường, kiểu một nước này chiếm một nước khác, nhưng về mặt văn hóa đó là cuộc xâm lăng vì hai tính chất: xóa sạch lịch sử và tạo dựng cái mới. Vì vậy trên nền nhà cũ đã cháy, không còn tro tàn. Không còn nhà. Ký ức của những người như chị Thanh là tài sản tinh thần của thế hệ sau. Có lẽ đối với chị có hai quãng đời đẹp, những ngày ở Đà Lạt bên gia đình, những người bạn dưới bóng hoa vàng, tích niên kim nhật. Chị còn có những ngày cũng đẹp như thế, bên chàng trai mới lớn, khẩu súng với cây đàn guitare, hai kẻ si tình, chị và anh Tốn của tôi, trốn cha mẹ bỏ nhà ra đi, hớn hở bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Như những kẻ sẽ bị phản bội, như những kẻ sẽ phải bỏ trốn. Một thế hệ lúc nào cũng lạc đường, bị vây khổn. Ký ức là mặt hồ im lặng. Bạn đã ném một thứ gì vào đó. Bạn đi vòng quanh, dáo dác tìm, chẳng tăm hơi.
Thân sinh của anh Tốn và anh Tấn, tức cậu tôi, gia cảnh nghèo, sinh bất phùng thời chữ Hán không được dùng, trở thành nông dân bất đắc dĩ, nhà lại đông con. Bà ngoại tôi có một người em gái ở Huế, thương cháu, gọi cậu tôi về cho không một con bò để cày cấy và làm phương tiện sinh sống. Khi cậu tôi cầm sợi dây thừng dài dẫn con bò từ phố qua đò Thạch hãn về làng, cũng là lúc bản án dành cho cậu được viết xong. Bọn du kích bắt cậu lên rú tra khảo. Đến ngày thứ ba, cậu không chịu nổi nữa, đành ký giấy tình nguyện hiến con bò cho kháng chiến, với điều kiện cho phép em gái của cậu, tức mẹ tôi, và đứa con gái đầu lòng của cậu, chị Sim, chị của anh Tốn, được lên thăm. Chúng cho phép.
Khi em và con đến, cậu tôi bí mật dặn họ: phải về mau, vì là con gái, chúng chưa có ý định thủ tiêu, đem hết cả nhà tản cư về tỉnh, đêm nay hay đêm mai thôi chúng sẽ giết anh, giết cha. Chúng đánh gãy hết các xương sườn của ông, nên ông biết bản án tử hình đã được ký. Tối hôm đó bọn du kích gọi cậu tôi đi thẩm vấn như thường lệ. Chị Sim khóc lóc nhứt quyết đòi đi theo. Chúng cho chị đi. Người cha bị dẫn sâu vào truông cát, sau cánh đồng bắp bạt ngàn, ven khúc sông uốn cong về thị xã, khủy tay trói ngoặt lại. Đứa con gái lẽo đẽo theo sau. Chúng bất ngờ dùng báng súng đánh vào đầu cậu tôi đến vọt óc ra, trước cặp mắt kinh hoàng của chị Sim. Rồi đào hố lấp xuống. Đứa con gái khóc thét, lăn xả vào ôm lấy cha. Thuận tay, chúng lấp huyệt chôn sống luôn chị Sim trên đồi cát. Mẹ tôi tất tưởi chạy về nhà mang theo lời dặn của anh trai. Từ đó vang vọng mãi trong con cháu gia tộc lời dặn: phải chạy cho xa. Anh Tốn lúc ấy là cán bộ đại đội của Việt Minh, nghe tin cha bị giết, bỏ ngũ về thành. Anh Tấn, thoát chết trong một trận ruồng bố của Tây, tha phương cầu thực, mãi khi hòa bình lập lại sau hiệp định Genève, nhớ làng nhớ nước, trở về quê cũ cày cấy, lo mồ mả kỵ giỗ. Để khỏi đi lính xa nhà, anh tham gia lực lượng dân vệ, nghĩa quân. Đó là lực lượng bán quân sự, đồng lương chết đói, nhưng được cái gần nhà. Nghĩa quân là người lính vô danh, chân lấm tay bùn, nhưng là lực lượng đẩy lui các cuộc tập kích dữ dội của du kích, vì họ thông thuộc đường lối, chiến đấu gan dạ. Hôm ấy, anh Tấn hỏi đi hỏi lại chỉ một câu, o còn nhớ không. Mẹ tôi làm sao quên. Nhưng có một người mẹ Việt Nam nào, khi nhìn thấy một thanh niên mặt non nớt như con mình, một người lính máu chảy ướt đầm vạt áo, ruột lòi ra ngoài, mặt tái ngắt, sắp ngất đi vì đau đớn, có người mẹ nào có thể đứng yên mà nhìn?
Kahlil Gibran bảo: quên là hình thức của tự do. Nhờ quên chúng ta mới sống được. Quên không phải là tha thứ, nhưng trong tha thứ có quên lãng. Buổi trưa ngắm bụi hoa mimosa vàng, rào tường vi trắng, nhìn ngược trở lại mái nhà chưa chi đã phong rêu, tôi nhìn thấy tác động của nhà cửa, kiến trúc, đường sá đối với không gian tinh thần của xã hội. Ngôi nhà được xây kiên cố, đường nét uy nghi dịu dàng. Nơi chốn xứng hợp của một salon văn nghệ. Kiến trúc, trong sự hòa hợp với thiên nhiên, tạo ra khung cảnh sống nâng đỡ tinh thần một thế hệ. Nhà cửa, đường nét kiến trúc tạo ra sự cân bằng giữa cái đẹp và cái thiện. Con người sinh sống trong một khung cảnh như thế, hay từ xa đến trước một khung cảnh như thế, là tự đem mình đến gần cái trang nhã. Sự trang nhã là anh em song sinh của lương tri. Những kiến trúc kỳ quái, bất ngờ, hay ảm đạm, buồn tẻ ít gặp ở Đà Lạt, những kiến trúc phô trương màu mè, mà sau này hình như ngày càng nhiều ở Hà nội, Sài gòn, cũng ít thấy ở đó. Sự cân bằng khác với sự đơn điệu. Sự cân bằng đạt được giữa một bên là những đường nét phức tạp, sang trọng, các trang trí đắt tiền, và một bên là sự giản dị, thanh khiết, thậm chí nghiêm khắc. Sự phối hợp các mặt đối lập giữa đường nét kiến trúc lớn, cứng, thẳng và đường cong uốn lượn, mềm mại, thon thả thể hiện tính cách khác biệt trong cùng một người: mạnh mẽ, dữ dội và linh động, khoan dung. Như thế không phải chỉ vẻ đẹp kiến trúc làm tôi đến gần mà còn sự tốt lành của chúng, tạo ra hấp dẫn. Đó là cân bằng giữa thiên nhiên và vật thể do con người tạo ra, sự cân bằng giữa nội tâm và ngoại cảnh, giữa đời sống tâm hồn một cá nhân và các thiết chế xã hội, không những các thiết chế văn hóa mà còn là, và đặc biệt là, những thiết chế chính trị. Một nền chính trị xấu không sinh ra một nền kiến trúc đẹp. Ngược lại, một kiến trúc đẹp chỉ xuất hiện trong điều kiện chính trị thuận lợi, có khả năng kích thích cái đẹp, lòng vô tư, sự bền vững.
Tôi sẽ còn trở lại Đà lạt một lần nữa, với Hoàng, mối tình đầu, người thiếu nữ sẽ ở lại lâu dài giữa ngàn thông reo, bên kia thung lũng có hồ nước biếc. Sẽ ở lại tiếng cười trong veo của nàng trong bụi dâu tím, ngọt ngọt chua chua, ở lại với mùi cà phê thơm thoảng bay trong tóc. Nhưng đó là những năm về sau. Sigmund Freud, trong một bài tiểu luận năm 1915, về sự vô thường, kể lại cuộc tản bộ trên núi với Rainer Maria Rilke, tác giả của Thư gởi người thi sĩ trẻ tuổi, Phạm Công thiện dịch. Mùa hè rực rỡ, bướm bay, hoa nở trên cỏ. Ông thấy hạnh phúc khi đi dạo ngoài trời, nhưng lấy làm ngạc nhiên, nhà thơ trẻ tuổi bạn ông tỏ ra buồn bã, đăm chiêu, đầu cúi xuống đất. Ông nhớ lại không phải vì nhà thơ bận suy nghĩ một đề tài nào khác mà quên vẻ đẹp của thiên nhiên. Mà chính vì vẻ đẹp ấy của thiên nhiên làm nhà thơ nghĩ đến ngày tàn của chúng. Nghĩ đến cái chết, Rilke không thể vô tư thưởng thức giờ phút hiện tại. Sự bất lực của con người trong việc bảo vệ cái đẹp, bảo vệ nền tự do, sự yếu đuối thậm chí a dua của họ trước sức mạnh bạo động, gợi lên ở nhà thơ cảm giác về cái mong manh của một nền văn hóa, một kiếp người. Vẻ lãng mạn đăm chiêu của trí thức ngày trước mà tôi nhận ra trong các bức hình của chị Thanh Sâm có phải cùng lý do ấy không?
Ngày tôi đến Đà Lạt, ngoài cảnh gian khó sau chiến tranh, ở tỉnh Lâm Đồng và Tây nguyên, đang lan tràn dịch sốt xuất huyết. Trong các bệnh viện, trẻ con nằm la liệt. Bệnh do siêu vi trùng Dengue gây ra nhưng từ loại muỗi Aedes aegypti truyền đi. Bây giờ căn bệnh ấy đã giảm, vì thời tiết thay đổi, vì việc thành thị hóa như điên như cuồng bất chấp mọi giá đã tàn phá xong tính hoang dại của các cánh rừng, các hang động, các thác đèo, thung lũng. Nhưng một lúc nào đó, khi ký ức nhân loại về chứng bệnh ấy đã phai lạt, ở một góc phố tối sau hẻm vắng sình lầy, sau khi tất cả dọn dẹp đã xong, cành khô bụi dại đã đốt, khi chúng ta đã quên, trong một vũng nước đọng lâu ngày sau mưa, những cái trứng nhỏ li ti của loài muỗi nguy hiểm chết người kia sẽ được mang trở lại. Sẽ được gieo xuống, sẽ sinh nở, và bắt đầu lớn lên.

nguyễn đức tùng

(*) Nhà văn Trần Hoài Thư:

“Thưa bà. Thưa nhà văn Nguyễn thị Thanh Sâm. Anh em chúng tôi đã tìm được truyện dài Cõi Đá Vàng của bà rồi. Kẻ đánh máy. Người vẽ bìa. Người dò lỗi chính tả. Kẻ viết tiểu sử… Dự án đã hoàn tất. Giờ là in. Là cắt, đóng. là làm bìa, là ép giấy láng… để mang đứa con tinh thần của bà sau bao năm thất tán về lại mái nhà xưa mà giao lại cho chủ của nó.
Dù mái nhà có hoa mimosa vàng ấy đã không còn hiện hữu nữa sau tháng 4-75 nhưng nó vẫn tồn tại trong cuốn sách 414 trang này. Vẫn có Đinh Cường bên cạnh bà, Trịnh Công Sơn, Khánh Ly…. Vẫn có hình ảnh bà bên cạnh chồng và các con, và vẫn có Hoàng Ngọc Tuấn với đoạn văn viết về hai cây mimosa nở bông vàng trên sân….
Mái nhà ấy không mất. Nó vĩnh cửu.”
(https://tranhoaithux.wordpress.com/)

NHỮNG NGÀY NÀY BỐN MƯƠI BỐN NĂM TRƯỚC.

1. Cô bạn post lên wall FB tấm hình cũ có ba người đứng chung trên một cầu tàu ở ngoại quốc. Ai cũng trẻ trung và xinh đẹp và cô bạn thì nổi bật hơn. Họ phục sức theo phong cách thời trang cuối những năm 70 thế kỷ trước với lời giới thiệu: “One day when we were young”. Không hiểu sao tôi viết ngay một cmt trong ngoặc kép (“…”) “One wonderful morning in May. You told me, you loved me, when we was young one day”. Trong bữa cơm trưa, kể chuyện này với vợ mình, cô ấy nói cô vừa share một bài viết về bản nhạc “One Day” này. Thế là một chuỗi liên tưởng ồ ạt kéo về . . .

Khoảng năm 1973-74, khi đang học ở Huế, tôi gửi nhờ người đi Sài Gòn mua “Cuốn band thứ tư của nhà phát hành nhạc Mây Hồng gồm 24 bản tình ca bất tử trên khắp thế giới do Phạm Duy, Y Vân chọn lọc và viết lời Việt” . Hồi đó là band cassette. Có band nhạc trong tay, tôi và vài người bạn mê nhạc nghe miệt mài, nghe đến độ thuộc lòng lời Việt, nào là La Paloma, Back to Sorriento, Tristesse, Sombre Dimanche, Le beau Danube bleu, Les flots du Danube, Les feuilles morte. . . rồi Cánh đồng xanh, Chiều tà, Dạ khúc . . .

Lúc nghỉ trưa, tôi vào Youtube để nghe lại vài bản trong số này. Bất ngờ lại được nghe thêm Bang Bang, nhạc Pháp, bản nhạc mà trước 1975 có nhạc sĩ viết lời Việt lấy tựa đề là “Khi xưa ta bé”. Bang Bang là bản nhạc mà ngày xưa, khi nói chuyện với tôi NL rất thích. Và nghe bài này, một trời kỷ niệm về em theo về.

2. Khi tôi học năm cuối, em học năm III cùng trường, ban Pháp văn, em có bằng trung học Tây vì theo học trường Tây từ nhỏ. Ở Huế, em ở cư xá Jeane D’Arc cùng một người bạn khác là em gái người bạn của chị tôi và chúng tôi biết nhau trước đó. Qua cô bạn này, tôi biết NL có cảm tình với mình, điều này tôi cũng đọc được trong mắt em mỗi khi vô tình gặp nhau trên hành lang trường VK hay SP. Em thâm trầm, kín đáo và có duyên, hay mặc jube màu xanh biển khi đến trường.

Hồi đó, các trường thường tổ chức đêm văn nghệ cuối năm. Tôi gặp em trong đêm Y khoa, hai đứa cùng coi văn nghệ rồi tôi đưa em về trước khi chương trình kết thúc. Nơi em ở là phía sau Trung tâm Lục huyền cầm đường Mai Thúc Loan bên Thành Nội. Đi bộ qua cầu Mới trong cái lạnh cuối năm của Huế và rì rầm trò chuyện với em thiệt không có gì dễ thương và thú vị bằng. Chỉ một lần duy nhất như vậy, rồi thôi. Tôi ra trường, đi dạy xa, không nói được với em một lời tạm biệt.

Tôi quý và thương em nhưng “rút quân trong lặng lẽ” vì hai gia đình không tương xứng về kinh tế!. Ba em là một doanh nhân tầm cỡ, những thứ ông sở hữu tôi biết qua lời kể của người anh họ em, bạn tôi nay đã qua đời, là khách sạn ở Nha Trang, rạp Ciné ở Huế, nhà máy khí đốt ở Đà Nẵng, có nhà ở Đà Lạt, Nha Trang, Sài Gòn và vài ngân hàng rãi rác ở Huế và các tỉnh. Tôi chỉ là một SV con nhà giàu nhưng gia sản ruộng vườn nhà tôi bỏ lại tất cả trong quê khi chạy giặc.

3. Nhận nhiệm sở ở Sở Học chánh Cam Ranh khi ra trường, anh chủ sự hỏi đích danh tôi là . . . có quen với em khi học ở Huế không? Vợ anh là chị cô cậu với nàng.

Những ngày này 44 năm trước, khi chạy loạn từ Nha Trang về Sài Gòn lúc đó cũng đầy xáo động, tôi tìm đến một biệt thự nhỏ trên đường Cộng Hòa (cũ) để thăm em. Có một chút thờ ơ, xa cách ở em dù đủ phép lịch sự thông thường, tôi biết có chuyện không bình thường, em không là NL của Huế xưa nữa rồi nên từ giả sớm.

Mấy ngày sau, khi đang đi cùng đứa em họ qua cầu Công Lý, thấy em ngồi sau xe Lambretta do một chàng trai ngang lứa chạy phía trước, linh cảm cho tôi biết chuyện gì và lấy giấy bút ghi nhanh số xe rồi nhét vào ví. Rồi thôi. Và bặt tin nhau cho đến . . .

4. Năm 1978, tôi cưới vợ, đó là những năm khó khăn mọi thứ mọi thứ nhưng vẫn lên Đà Lạt in thiệp cưới. Trên chuyến xe đò Minh Tâm, xe Peugeot 403 có 7 chỗ từ Đà Lạt về Cam Ranh mà hành lý quan trọng nhất trong túi xách là . . . thiệp cưới, tôi gặp lại em ngồi cùng ba em phía sau, cách tôi một hàng ghế. Khi xe dừng lại mua ngo dầu, tôi xin phép ông đổi chỗ để chúng tôi được ngồi chung, ông bằng lòng và chúng tôi ngồi với nhau một hành trình hơn trăm cây số. Năm đó tôi 28 tuổi và em cũng vào tuổi 25. Ngồi với nhau, em thể hiện nét buồn thấy rõ, cho tôi coi những tấm hình chụp từng năm (bốn năm sau 1975), tấm nào cũng không tìm thấy nét vui! Và tôi, còn làm gì, nói gì được lúc này khi “thuyền (đã) ra cửa biển”?, khi trong túi xách là thiệp cưới và lễ cưới sẽ tiến hành vài tháng sau đó? Tôi chỉ rút từ ví ra mẫu giấy nhỏ có ghi số xe mấy năm trước và hỏi em có biết số xe này? Em nói nhỏ với giọng buồn: “Khi rời Huế, anh có nói gì với em đâu, và cũng chẳng hề để lại cho em lời hứa hẹn nào! Hãy về Cam Ranh hỏi chị Ch. thì biết”. Tôi không nói gì thêm vì biết nói gì lúc này?

5. Xuống xe, tôi không về nhà mà về ngay nhà chị Ch. Hỏi chuyện, chị kể rằng chính em đã nhờ vợ chồng chị và người em kề chị săn sóc cho tôi. Đó là lý do vì sao anh chủ sự sở Học Chánh khi thấy tên tôi ngày về trình diện đã hỏi. Ba em ở Nha Trang cũng biết chuyện chúng tôi và nói với chị rằng nếu muốn đi xa hơn, bảo tôi ra gặp để ông tính. Chị không làm việc này vì lúc đó nghĩ rằng tôi quen biết nhiều, biết có còn thương và nghĩ đến em mình như xưa. Và như thế, tôi lỡ một chuyến đò! Một “chuyến đò lỡ” mà phần lỗi không thuộc về mình để rồi khi biết chuyện, lòng cứ bâng khuâng ray rức một thời gian khá dài.

Sau này, hỏi thăm chị Ch về NL, nghe chị nói em làm công việc phiên dịch các tài liệu tiếng Anh, Pháp ở Sài Gòn và chờ “đến khi nào gặp được một người dáng dấp và tính cách như” tôi thì “mới lấy làm chồng”. Cám ơn em đã có những ý nghĩ đẹp về anh NL nhé. Xa nhau đã lâu, anh vẫn khó quên em về dáng dấp, tính cách, sự hiền hòa và khiêm tốn mà ít ai có cả nhan sắc, sở học và gia thế như em có thể có được.

Không chắc gì lấy được nhau chúng ta sẽ sống chung hạnh phúc. Cũng không chắc gì người này sẽ như mẫu hình người kia mong muốn và lại càng không gì chắc rằng tình gia đình sẽ đẹp như những rung động thời sinh viên vì cuộc sống dân MNVN sau 1975 không như quan niệm và suy nghĩ thời VNCH nhưng tiếc một “người đi qua đời tôi”, tiếc một chuyện tình vẫn lưu lại trong hồn những ký ức đẹp thì ai nỡ cấm cản mình?.

NGUYỄN HOÀNG QUÝ

Sài Gòn 28.4.2019

MỘT Ý KIẾN NHỎ: ĐI TÌM CÁI DỞ CỦA THƠ HAY.

Xin nói ngay từ đầu để tránh mọi ngộ nhận, tôi chỉ là người chọn lọc những bài thơ hay từ các nhà thơ gởi đến trang mạng của mình. Là một người yêu thơ nên khi chạm vào câu đầu tiên tôi đã biết đó là bài thơ hay hoặc dở! Nhưng cũng có rất nhiều bài thơ tôi cầm lên đặt xuống đầy băn khoăn nghi hoặc. Đó cũng là một trăn trở của rất nhiều nhà phê bình có tâm và có tên (tuổi). May mắn thay, tôi đọc được những lời này của Nguyên Hưng Quốc- một trong hiếm hoi những nhà phê bình tôi chọn đọc- nói thật, tôi vốn không mấy yêu thích những gì khoa học quá, cao xa quá, tiểu tiết quá, hiện đại quá, bề trên quá…nên tôi thường…bỏ qua những nhà phê bình thơ và nghĩ thầm: “giỏi thì viết một bài thơ hay ho nghe thử chớ nói thì ai nói chẳng được!”
Với người làm thơ, chỉ còn trang giấy. Không có gì ngoài trang giấy. Trên trang giấy, không phải chỉ có chữ mà còn có cả những khoảng trống chung quanh các con chữ. Từ đó, thơ có thêm một yếu tố mới: yếu tố phi từ vựng. Chữ, cuối cùng, chỉ là một loại ký hiệu. Mà ký hiệu nào cũng có một mục đích giống nhau: giao tiếp. Ngay cả khi người ta loại trừ chữ, chỉ sử dụng ký hiệu, mục đích ấy vẫn có thể được duy trì. Nghĩa là vẫn có thể có thơ được. (Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói hay hơn, lập luận chặt chẽ hơn nhiều nhưng tôi chỉ nhớ đại khái vậy và lấy làm tâm đắc điều này lắm!)
Nhân đọc bài Bà Chúa Thơ Lục Bát của tác giả NGUYÊN LẠC gởi đến, viết về Phạm Hiền Mây ( cả hai đều là người cộng tác với Tương Tri). Thêm bài phê bình của Trần Trung Thuần- người mà ai cũng biết là nhà thơ Trần Vấn Lệ- cũng liên quan tới nhà thơ Nguyễn Hàn Chung với ” Lục Bát Tản Thần”. (Tóm lại cả bốn đều là những người tôi yêu mến.) nên tôi không thể không lên tiếng, dù tiếng nói của tôi chẳng có kí lô gam trọng lượng nào đối với ai và chắc chắn là …chìm vào hư không, nhưng kệ đi yêu ai cứ bảo là yêu/ ghét ai cứ bảo là ghét…. Còn nếu ghét thì im lặng chớ đừng nói yêu, như vậy là thỏa hiệp xấu xa! Tôi không bao giờ thỏa hiệp.( hết phần …để tránh ngộ nhận…)

1.Trần Trung Thuần:
ông không phải là một nhà phê bình chân chính có học vị học hàm và các loại học này kia như những nhà phê bình khác mà chỉ là một nhà thơ trữ tình, vãi chữ như vãi trấu,thơ ông hay, ngôn ngữ tự nhiên dễ dàng như kể chuyện.Ông thành công vì người đọc nào cũng tưởng ông viết cho mình. Điều này rất khó.Nếu căn cứ vào những lời ông viết để đánh giá Phạm Hiền Mây thì không đúng và thiếu công bằng với cô
2. Phạm Hiền Mây:
Phạm Hiền Mây chưa bao giờ tự xưng và tự hào cho rằng mình là Bà Chúa Thơ Lục Bát. Cô từng là một cô giáo, lỗi của cô là đẹp và làm thơ dễ thương, lỗi của cô là mỗi ngày( hoặc vài ngày) lại đưa thơ và hình của mình lên FB. Cô là một cô giáo, một người làm thơ trẻ mà tôi yêu mến, có một nhà thơ tên tuổi nói với tôi về tính cách của cô:” ở ăn thì nết cũng hay…” Vâng , cô ấy không hề làm mất lòng ai kể cả những người cô không thích!
3.Tôi:
* Không nên đánh người đẹp dù chỉ bằng một cành hoa, nhất là những …người đẹp làm thơ. Các nhà thơ rất dễ bị tổn thương. Khi tổn thương họ làm gì nhỉ? Theo tôi, họ im lặng. Và tùy theo tính cách, họ thể hiện sự im lặng với ngầm ý rằng:
-Với tính cách hiền lành cam chịu họ sẽ im lặng khuất phục và tìm chỗ nhấm nháp xoa dịu vết thương.
-Với những người bản lĩnh họ sẽ phẩy tay bỏ qua không quan tâm đến kẻ làm tổn thương họ.
* Những cách đảo chữ , trùng lặp, mượn chữ cũ chen vào câu thơ mới v.v…chỉ là cách làm mới những gì đã cũ.Thử nghĩ coi , chỉ có 24 chữ cái thôi, các nhà thơ cũ danh tiếng lẫy lừng đã xài đến cạn kiệt rồi còn đâu!
Vậy thì hãy để cho những người trẻ sáng tạo, đôi khi không hay lắm, nhưng lạ. Lạ và sáng tạo là tính cách của các nhà thơ trẻ đang đi vào trường văn trận bút. Họ không muốn và không thể dẫm lên dấu chân người đi trước.Theo thời gian, thơ họ sẽ được chấp nhận hoặc đào thải, nhưng dù sao đi nữa, họ vẫn có một chỗ đứng nhỏ bé hoặc lớn lao trong nền văn học sau 75. Chưa ‘tam bách dư niên hậu” thì chúng ta có nói gì cũng còn là quá vội!
4. Quỳnh Nga:
Cô là một người làm thơ tôi thích đọc, hồn hậu, trong trẻo, tròn vần đúng luật và bát ngát cái tâm Nam Bộ. Nếu có duyên, tôi rất hân hạnh mời cô cộng tác
5. Cuối cùng:
Tôi muốn mình thật công tâm khi nói về những cây bút tôi yêu mến nên trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ để rộng đường dư luận.
Rất biết ơn những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình không ngừng quan tâm, không ngừng phổ biến, không ngừng sáng tạo, không ngừng cùng nhau giữ gìn tiếng Việt.
Rất cảm ơn anh Nguyễn Hưng Quốc, Nguyên Lạc, Phạm Hiền Mây, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung. Thật bất ngờ, những “cái nhà” tôi nêu tên đều từng là nhà giáo dạy Văn nên dù có nói tới nói lui, họ đều cùng một mục đích cuối cùng là…tôi yêu tiếng nước tôi!
Và, tôi cũng vây. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là một trong những tôn chỉ của trang TƯƠNG TRI.

Tôn Nữ Thu Dung

CẢM NHẬN VÀI BÀI THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

.

BÀI “ĐỌC TẬP THƠ BẤT TƯƠNG PHÙNG, KHÔNG TIN…”

I. NHỮNG TRÍCH ĐOẠN
Tình cờ đọc được bài “Đọc Tập Thơ Bất Tương Phùng, Không Tin Của Phạm Hiền Mây” của nhà bình thơ Trần Trung Thuần thấy hay hay, xin được ghi ra đây vài trích đoạn “ấn tượng” của bài viết ĐỌC TẬP THƠ…[1]
[ … Ý tôi muốn mở bài viết hôm nay về thơ Phạm Hiền Mây, qua tập Bất Tương Phùng Không Tin do nhà Nhân Ảnh ở San Jose, Mỹ, xuất bản năm 2018, tôi vừa nhận được đầu năm mới, 2019, từ một người gửi ở Tiểu Bang Nevada, cũng Mỹ. Phạm Hiền Mây thì ở Việt Nam, ngay tại thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta! Cả tập thơ Bất Tương Phùng Không Tin toàn thơ Lục Bát dày tới 250 trang, tổng thể là 100 bài rất dài hơi.

Cuối năm ngoái và đầu năm nay, tôi có hai cái hạnh phúc: năm ngoái, 2018, nhận tập Lục Bát Tản Thần của Nguyễn Hàn Chung gửi cho từ Texas, Mỹ, năm nay, 2019, nhận tập Bất Tương Phùng Không Tin của Phạm Hiền Mây (do ai) gửi cho từ Nevada. Trước hết là tôi Biết Ơn bạn bè luôn luôn chúc tôi có hạnh phúc, sau là Biết Ơn hai tác giả đều “chuyên khoa” làm thơ Lục Bát, theo cách định nghĩa của Nguyễn Du.
Thơ Lục Bát của Nguyễn Hàn Chung là loại thơ có tư cách Nguyễn Hàn Chung: Nói thẳng, nói thật, nói tuột luốt cái tư duy có trong đầu mình, trong bụng mình, không đụng hàng ai hết…thỉnh thoảng có giống giống chút thôi bởi không dè…người ta (Nguyễn thị Hoàng Bắc, Sơn Núi, Bùi Giáng…) lại có tư duy như Nguyễn Hàn Chung, không khéo mà thành Công Duy…(như chữ Tư Sản đã thành Công Sản vậy). Thơ Nguyễn Hàn Chung: Vui và Tuyệt Cú Mèo (dùng chữ Tuyệt Tác thì lễ phép hơn nhỉ?).
Thơ Lục Bát Phạm Hiền Mây…có thể “trùng thanh” nhiều người (toàn bậc thượng thừa) như Hồ Dzếnh, Trân Huyền Trân, Nguyễn Du, Huy Cận, Cung Trầm Tưởng…, có thể “trùng ý” nhiều người (toàn thể ai…hay yêu và hay buồn). Cái tài của Phạm Hiền Mây là làm thơ Lục Bát hay quá và đều tay quá, không chỉ một tập thơ dày cộm này, Bất Tương Phùng Không Tin! Phạm Hiền Mây có một đứa con thật mà có tới ba đứa con tinh thần, và chắc không ngừng ở số ba!

Bây giờ tới chuyện Phạm Hiền Mây, không khen là tôi đắc tội (không phải Phạm Hiền Mây đẹp). Tôi tin nếu Xuân Diệu còn sống thì Xuân Diệu cũng bái phục Phạm Hiền Mây như Xuân Diệu từng làm điều đó với Hồ Xuân Hương, Bà Chúa Thơ Nôm. Dù tôi “phát biểu”: Phạm Hiền Mây Là Bà Chúa Thơ Lục Bát, hơi hướng Xuân Diệu, nghĩ có sao đâu? Có thể có người bảo tôi “ninh tinh”, thì cứ lý lụn đi nào, coi ai lụn bại, ai thành công. Nếu “kết lụn” thua nghiêng về tôi, tôi sẽ méc Má tôi: tại Má sinh con ở Nam Bộ…phận!

Tôi không có nhận xét nào thêm để dài dòng về một thi tài độc đáo là Nữ Thi Sĩ Phạm Hiền Mây. Chuyện của Phạm Hiền Mây qua thơ (Tôi chỉ biết thơ, thú thật hổng biết Thơ Ca hay Thi Ca nghĩa là làm sao?). Tôi coi Phạm Hiền Mây như một đóa hoa mai. Nhất sinh đê thủ, rồi. Tôi coi Phạm Hiền Mây là Bà Chúa, tôi nghĩ Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn không bắt lỗi tôi
Tôi không còn gì để nói thêm! ](Trần Trung Thuần)

II. VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI ĐỌC TẬP THƠ

1. Đọc lời khen của nhà bình thơ Trần Trung Thuần, tôi chợt nhớ lại bài thơ “Lời mẹ dặn” của Phùng Quán:

Lời mẹ dặn
Phùng Quán

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu…

2. Đây là vài ý nghĩ của các bạn tôi khi đọc bài khen thơ trên:
– Chưa từng thấy có lời khen “tuyệt vời” như vầy
– Quảng cáo tập thơ cô thi sĩ trẻ quá siêu!

THƠ CỦA “BÀ CHÚA THƠ LỤC BÁT”

Theo lời giới thiệu: “Phạm Hiền Mây, nói theo lối của Xuân Diệu, mới đã: đây là Bà Chúa Thơ Lục Bát Nước Ta!”(Trần Trung Thuần), tôi mạo muội ghé qua “vương cung” (Facebook) của “bà chúa” để thưởng thức các bài thơ tuyệt với như lời “quảng cáo”.
Thấy gì?
— Đúng là nơi “vương giả” chỉ dành riêng cho thiểu số tót vời, giới thượng lưu.
Này nhé: – Dầy đặc trong các bài thơ những cụm từ “hàn lâm”: Hư không, vô ngôn, miên khê, miên trường, miên du, uyên nguyên, phiêu bồng, địa đàng, thiên cổ, cát bụi, nguyên sơ, phù vân, cố thổ, tà huy, tà dương và nhiều nhiều nữa.
Gặp ở đây nhiều chữ của Phật giáo, của các triết gia, đặc biệt là của thi sĩ Bùi Giáng những chữ mà ông thường dùng một cách nhuần nhuyễn.

I. Phân tích một số chữ tiêu biểu được dùng trong thơ

Xin tạm phân tích một số chữ của “bà chúa” Phạm Hiền Mây dùng trong các câu thơ. Có gì không đúng xin bà giảng dạy thêm.
– Miên trường
Tiếng Hán Việt (H) giống như tiếng Anh (E) tính từ đứng trước danh từ, ngược với tiếng Việt(V).
Thí dụ: Bạch mã (H) White horse (E) Ngựa trắng (V)
Do đó “miên trường” không phải là giấc ngủ dài, mà là dài rất dài: Trường = dài; miên = dài (miên viễn).
Áp dụng vào các câu thơ:
“thiên lý dặm miên trường mù không” ̣Phạm Hiền Mây (PHM)]
(thiên lý dặm = ngàn dặm đã dài rồi, thêm miên trường = rất dài vào, ôi!)
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”(PHM)
“ừ anh mật ngọt miên trường giọt môi”(PHM)]
tôi thấy chúng sao ấy, nếu không nói là vô nghĩa!
– Tà dương ̣
Tà dương ̣hay tịch dương: Mặt trời lúc sắp lặn, có nghĩa là buổi chiều gần tối.
Câu thơ: “có em chiều xuống tà dương” (PHM) dư chữ “chiều xuống”
– Vô ngôn
Vô ngôn là cụm từ của Phật giáo với nghĩa không lời. Sóng tràn thì phải động mới tràn, nghĩa là có âm thanh: Xem như có lời.
Vậy câu thơ: “sóng tràn vô ngôn” thi sĩ muốn nói về điều gì? Vô ngôn?
– Biển ngâu
Trong “mai đời dẫu khóc biển ngâu” có hai chữ “biển ngâu”
Sự tích Ngưu Lang – Chục Nữ gặp nhau ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, ngày mưa Ngâu (Ngưu) sụt sùi. Bắc cầu “ô thước” qua “sông” Ngâu chứ đâu có “biển” Ngâu: Biển làm sao bắc cầu. Lại nữa, dãi ngân hà giống như dòng sữa, nhìn như dòng sông chứ đâu phải khắp bầu trời mà gọi là biển?
– Miên khê
Miên khê là khe nước đứng yên (ngủ), giang đầu là đầu nguồn sông lớn… vậy câu sau đây có nghĩa là gì?
“giang đầu nguyệt bóng miên khê”
Và “nguyệt bóng” là gì tôi tìm từ điển không thấy, xin bà chúa giải thích cho biết?
Hai chữ “nguyệt bóng” này làm tôi nhớ đến “sự đảo chữ”

II. Bàn sơ lược về đảo chữ

Tôi thấy “bà chúa thơ” rất “sính” đảo chữ. Mời đọc những chữ này: Nắng vạt, hoặc nghi, phai phôi, nguyệt bóng, trùng muôn… nhiều nhiều nữa.
Thí dụ:
“hư không níu trùng muôn bớt dài”
Trùng muôn nghĩa là gì vậy nữ sĩ?

Tôi thấy đa số những cụm từ đảo trên gợi ra nhiều vấn đề. Bà chúa thích “đố chữ”?
Xin có vài ý kiến qua trích đoạn dưới đây:

[…Phép đảo chữ (đảo từ):
Đảo: Ngược, đảo ngược.
— Trong nói đảo người ta thường dùng lối chuyển đổi trật tự, vị trí các chữ trong một nhóm chữ (nhóm từ)
— Ta phận biết được ba trường hợp trong phép đảo chữ:
1. Chữ mới khi được đảo có thể xem như cùng nghĩa với chữ trước khi đảo:
Ngồi ngủ/ ngủ ngồi.
Đứng ăn/ ăn đứng
Khổ đau / đau khổ…
2. Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Chữ mới khi được đảo sẽ “vô nghĩa”, nghĩa là không thể nào đảo được.
Độc đáo / đáo độc: Đáo độc vô nghĩa
Độc lập/ Lập độc: Lập độc vô nghĩa
Tà huy / huy tà: Huy tà vô nghĩa
– Khờ khạo / khạo khờ: Khạo khờ vô nghĩa.
– Vừa vặn / vặn vừa: Vặn vừa vô nghĩa.
Muôn trùng / trùng muôn: Trùng muôn vô nghĩa
câu thơ:
Hư không níu trùng muôn bớt dài (PHM): vô nghĩa.
Các thi sĩ nên xét lại! Nếu có nghĩa xin các thi sĩ cho biết tên từ điển Việt nào?
3. Chữ mới khi được đảo khác nghĩa với chữ trước khi đảo, nghĩa có khi trái nghịch…]
(Đảo Chữ – Nguyên Lạc)

Sẵn dây xin được ghi ra trích đoạn về ngôn ngữ thơ mà tôi tâm đắc của Lê Hữu
[… Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ.
Chữ nghĩa cần có sự phát minh, sáng tạo hơn là lặp lại rập khuôn người đi trước. Những vô thường, vô vi, phù vân, phù ảo, hư ảo, hư không, tà huy, miên trường… mà người làm thơ cố đưa vào bằng được trong thơ mình thường có một vẻ gì khập khiễng, gượng gạo như một kiểu tạo dáng kém tự nhiên, đôi lúc khiến câu thơ tối tăm, khó hiểu.
Thường, thơ khó hiểu thì khó hay; thơ tạo dáng thì khó tạo được cảm xúc.
[Lê Hữu: Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn]

III. Cảm nhận hai bài thơ tiêu biểu của “bà chúa thơ lục bát”

1. Hai bài thơ tiêu biểu
Các bài này đã được phổ nhạc và được rất nhiều thi sĩ “lão thành” có tiếng khen (like), tức nhiên nó phải hay và chắc tôi không cố ý chọn lầm.

VẼ EM…

vẽ em
bằng hết đời
sầu
anh tô lại đẹp từ đầu giấc mơ
từ đầu buổi mắt xanh thơ
còn trong veo nắng màu tơ sợi trời

**
còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương

**
mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy

**
trăng treo cao bóng lên đầy
tiếng khuya lả tả trắng bầy rong rêu
trắng dòng lá mục lêu bêu
vẽ em
anh vẽ vạc kêu sương
tàn

**
vẽ em
bằng nỗi vui
tràn
anh hoàng hoa xuống cội vàng cánh xương
cội hoàng hoa đóa uyên ương
mây hoàng hoa bến mộng thường vân lâu

**
yêu cho bằng hết bể dâu
sông
anh ru cọ ơ ầu
vẽ em… .

VÔ CÙNG TRĂM NĂM… .

yêu anh
cuộc
mộng nghìn trùng
dấu cô lý bến mịt mùng xa xăm
gót chân viễn xứ mù tăm
bâng khuâng bờ vắng em nằm chờ mai

**
bâng khuâng cõi vốn phôi phai
yêu anh
từ độ chia hai mây
trời
đất mơ gặp gỡ nhau đời
tạc câu huyền sử bời bời uyên ương

**
ghi rằng trời đất vấn vương
mới cơn bụi cát miên trường đêm say
yêu anh
yêu
cả gầy tay
hương thơm ngón thắp em ngày ái ân

**
hương xanh đôi thắp phù vân
thắp men tình muộn màng trần gian không
còn gì ngoài gió mùa đông
yêu anh
em
trái tim hồng cánh môi

**
yêu anh
yêu
vĩnh hằng ngôi
chỉ duy nhất một bồi hồi xưa sau
hàng mi khép lúc giọt mau
rót riêng em giấc ngủ màu bao dung

**
như nhiên đã lối về chung
em yêu anh
rất vô cùng
trăm năm…
(Phạm Hiền Mây)

2. Vài nhận xét

a. Vài ý đóng góp:
Đây là vài ý của bạn tôi đóng góp khi chúng tôi trao đổi về 2 bài thơ tiêu biểu trên:
— Người được gọi là ” Bà chúa lục bát” có giọng thơ hơi sáo rỗng:
“mùa đông hoài vắng người thương
hoài thiên lý dặm miên trường mù không
vẽ em
bằng hết chờ
trông
đợi anh tịch lặng mênh mông bóng gầy” (sic)

Các câu khác cũng vướng lỗi gần giống vậy. Ví dụ:
“còn chân gót hát ca lời
vẽ em
anh vẽ mưa rời rợi
đau
tay vời vợi níu tay nhau
mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương” (sic)

— Khổ 2:
“Còn chân gót hát ca lời” là ý gì?
“Mùa đông hoài gạt lệ dàu dàu vương”: Câu này có ăn nhập gì với câu đầu (còn chân gót hát ca lời) của đoạn thơ không? Đã vậy lại vừa thừa vừa thiếu, Thừa cái kể lể, thở than; thiếu mất hình ảnh thương sầu, ly biệt.
— Khổ 3:
Câu đầu rất ổn, nhưng câu kế vừa thừa lại vừa lang bang.
“Thiên lý” là ngàn dặm rồi, vậy “Thiên lý dặm” nghĩa là gì đây?
Lại nữa, “Thiên lý” đã diễn tả được cái cách biệt, cái xa xăm nghìn trùng rồi, lại nối theo hai chữ “miên trường” (thôi thì cứ hiểu theo ý tác giả “miên trường” là đằng đẵng, là vô cùng) vậy thì cái ” thiên lý dặm miên trường” nên hiểu sao đây? (Chữ “hoài” đầu câu là phó từ, 2 chữ “mù không” phía sau là ngữ động từ mình tách ra)
— Hai bài thơ khác nhau, mỗi bài đều có 2 chữ “miên trường”
“hoài thiên lý dặm miên trường mù không”
“mới cơn bụi cát miên trường đêm say”
đúng là đặt ở hai ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên xét kỹ thì hai cụm chữ:
“Miên trường mù không”
“Miên trường đêm say”
Giai địêu lập lại, cách dùng lập lại, ý tưởng không khác. Nghĩa là tác giả tự bị TRÙNG TÁC với chính thi phẩm của mình.
[Đỗ Phú]

b. Ý nghĩ riêng tôi:
— Trước hết xin có ý kiến: Rong rêu và lá mục thường xanh đậm (xanh rêu) hoặc xanh đen chứ không thể nào màu trắng. Làm gì mà “trắng bầy rong rêu”?
— Theo chủ quan của tôi, trong con người cái tôi chia ra hai phía, hay nói một cách đơn giản là có hai cái tôi nhỏ: Cái tôi lý trí và cái tôi cảm xúc:
. Cái tôi lý trí do lý trí chi phối, mang tính hơn thiệt, đúng sai, được thua.v.v.. Trong cái tôi này có chứa cái tôi sợ hãi. Biết rằng mình không thích, biết rằng dối gian… nhưng vẫn phải làm. Cái tôi sợ hãi này thì có nhiều thi sĩ, văn sĩ XHCN đã kinh qua và lên tiếng rồi. (Nếu tôi nhớ không lầm là Tô Hoài)
. Cái tôi cảm xúc: Đây là cái tôi đích thực, cái tôi nhân bản, cái tôi của thương yêu, cái tôi cảm nhận sự thua thiệt, không cần tiền tài,danh tiếng, vân vân và vân vân. Nhà thơ rất cần cái tôi này.
Một bài thơ hay khi nào “cái tôi cảm xúc” lên làm chủ, đè “cái tôi lý trí” xuống. Do đó, người ta thường nói: Tình yêu thường “mù quáng” là vậy. Nghĩa là lý trí “đi chổ khác chơi”: Thơ mà chỉ có lý trí, chỉ sắp xếp chữ, không có cảm xúc thì thơ chắc không gây một hiệu ứng nào đối với người đọc, và chắc sẽ bị quên mau .
Hình như tác giả Phạm Hiền Mây đưa cái tôi lý trí lên “đỉnh”, đè bẹp “cái tôi thực sự, cái tôi cảm xúc”.
Nói như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, đại khái: – Thơ loại này (lý trí làm chủ) “Ào ào lá đổ nhưng chẳng thấy mùa thu đâu!: Thơ thiếu vắng” hồn thơ”
Hai chữ “cảm xúc” cũng xuất hiện trong định nghĩa về thơ của William Wordsworth:
“Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquility”.[3]
“Thơ là sự tuôn trào tự phát của cảm xúc mạnh mẽ, bắt nguồn từ cảm xúc được hồi tưởng trong sự tĩnh lặng”
— Xin được ghi ra đây vài ý về “thơ mở ngõ”
[… Về thơ mở:
Thơ muốn “hay” phải là thơ mở, nghĩa là bài thơ tác giả mở ngõ, mời độc giả dự phần, đưa tâm tư của riêng mình vào. Độc giả bây giờ không còn là người bàng quan và sẽ nghĩ rằng thơ viết cho mình, nên rất thích thú, thấy bài thơ hay thêm.
– Xin giới thiệu bài thơ mở của thi sĩ Trần Phù Thế, thi sĩ mời các bạn gởi tâm sự riêng mình vào:
khóc
tuổi thơ
khóc
kiếp người
từ đâu tiếng khóc gọi mời nỗi đau?
khóc là cười chẳng được sao?
(khóc cười – Trần Phù Thế)…]
[Vài Khái Niệm Về Việc Dùng Chữ Trong Thơ – Nguyên Lạc]

Một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho ta, thấy có cuộc đời riêng của ta trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nếu tất cả đã được nói ra hết rồi thì độc giả bây giờ chỉ là người bàng quan và từ đó nghĩ thơ viết cho ai chứ đâu phải cho mình; do đó thơ sẽ bớt hay.
Trong các bài thơ của Phạm Hiền Mây, hình như thi sĩ đã nói lên “hết tất cả”rồi, không còn gì để độc giả đóng góp thêm được nữa. Không còn “ngõ” nào để vào “lâu đài” thơ “Bà Chúa”, chỉ đứng ngoài cửa nhìn vào. Hay nói chính xác hơn, thi sĩ Phạm Hiền Mây là ông thầy đang “giảng đạo”, độc giả chỉ biết lắng nghe và tuân theo. Hoặc như Trần Trung Thuần đã nói: Phạm Hiền Mây là “Bà Chúa thơ lục bát VN”, nên “Bà Chúa” đang ban “huấn từ” cho người dân, đã đầy đủ rồi phải tuân theo, không được ý kiến. Chữ nghĩa ơi là chữ nghĩa!
Qua trên là những cảm nhận của tôi và bạn tôi về các bài thơ tiêu biểu của “Bà Chúa thơ lục bát VN”, giờ xin thử đọc thơ của “người dân dã”.

THỬ ĐỌC VÀI BÀI LỤC BÁT CỦA “NGƯỜI DÂN DÔ

Xin thử đọc vài bài thơ mà theo tôi “cái tôi đầy cảm xúc” làm chủ: Thơ của “người dân dã”, thi sĩ Quỳnh Nga, người tôi chỉ tình cờ biết qua Facebook.
Đây là vài bài thơ với lời lẽ giản dị, đọc hiểu ngay, không “hàn lâm”, không “đố chữ”, khỏi cần chạy tìm từ điển:

CÁI ĐÊM TRĂNG MỎNG EM TỪ TÔI NGHIÊNG

Cái đêm mưa gió ướt đầm
Cái đêm tôi nhớ điếng bầm ruột đau
Cái đêm ta nợ nần nhau
Cái đêm ân ái mùa sau để dành

Cái đêm phiến nhớ long lanh
Cái đêm tơ lụa mong manh khôn cùng
Cái đêm em chạm ngại ngùng
Cái đêm tôi đợi cháy bừng đêm tôi

Cái đêm hôm ấy phải rồi
Cái đêm cánh gió gọi trời sang thu
Cái đêm em tóc hương nhu
Cái đêm trăng mỏng em từ tôi nghiêng…

GÕ CỬA THÁNG GIÊNG

Tôi về gõ cửa tháng giêng
Hỏi ai giấu tuổi hồn nhiên đâu rồi?
Tháng giêng tôi mở cửa tôi
Tìm mong gặp lại một thời chân quê

Tháng giêng tôi đón tôi về
Áo vàng hoa với đường đê hoa vàng
Nghe hồn quê rộng thênh thang
Nghe tôi về giữa nồng nàn yêu thương!
(Quỳnh Nga)

***
Đó là thơ lục bát của hai người, “bà chúa” và “người dân dã”, tự các bạn cảm nhận và phán đoán.

Nguyên Lạc
…………………
Ghi chú:
[1]. Tôi đồng ý với Trần C. Trí không dùng chữ “từ”, vì nó chính là cội rễ của tất cả những “từ” độc hại khác. Xin xem:
“từ và chữ” – Trần C. Trí
https://damau.org/archives/51321
[2] (William Wordsworth Quotes, Brainy Quote, brainyquote.com)
(https://www.brainyquote.com/quotes/william_wordsworth_390135)