VẾT THƯƠNG CỦA MỘT HẠT BỤI

 

1.

Em cúi đầu, giọng thấp hẳn xuống:

– Cô ơi, theo em được biết, hồi xưa, một trong những hình phạt vô cùng kinh hãi là tứ mã phanh thây.

– Ừ, chỉ hình dung thôi cũng đủ khiếp sợ.

– Dạ, tay chân của phạm nhân bị cột vào bốn sợi dây nối vào chân bốn con ngựa. Khi hành hình, các nài ngựa sẽ thúc ngựa phi ra bốn hướng; nếu không có nài ngựa, người ta sẽ thét to lên hoặc đánh ngựa để chúng hoảng sợ bỏ chạy. Và bốn sợi dây sẽ kéo tay chân phạm nhân đến khi thân thể của họ bị xé ra.

– Ôi thôi! Nghe sợ quá!  Sao bỗng dưng em lại nói đến chuyện đó?

Em chậm rãi:

– Dạ, em đã tìm đọc nhiều thiệt nhiều những kiểu hành hình đau đớn nhất để coi cái đau của mình cỡ nào. Cô ơi, em đã từng bị hành hình theo cách tứ mã phanh thây!

Tôi kinh hoảng:

– Hả? Cái gì?

Em trầm ngâm.

– Dạ, mà… có thể còn đau hơn đó cô, vì em không phải là phạm nhân, em không làm gì nên tội, em hoàn toàn vô tội, bấy giờ em chỉ là một đứa nhỏ dại khờ chưa đầy tám tuổi.

– Hả?

– Dạ, ba em đã đem em ra cá độ, rồi ba bị thua.

– …

– Dạ, thực ra những chuyện như vậy không xa lạ gì ở xứ em.

Làn gió xuân êm ái thổi qua, giọng em nhẹ tênh:

– Không hiểu sao em nhớ rõ lắm cô à. Cứ như thước phim được quay rất chậm, chậm đến độ không thể nào chậm hơn được nữa. Ðó là buổi xế trưa, nắng quái hắt vào giữa sân, ba em cùng năm người đàn ông đang ngồi nhậu trên bộ vạc tre kê trước hiên nhà. Nhưng thôi, để tuần tới em kể cô nghe tiếp, tới giờ vô lớp rồi.

Em và tôi cùng nhanh chân xuống cầu thang lộ thiên. Những bậc thang rộng bằng xi măng giả đá nâu với những nét vân đen đẹp tuyệt. Gió biển lồng lộng đuổi theo tóc chúng tôi. Cửa phòng lớp học Yoga đang hé mở. Chúng tôi rón rén bước vào. Vài người khác cùng vào. Chúng tôi khe khẽ, nhè nhẹ trải tấm chiếu nhỏ của mình ra. Cô giáo Amy có mái tóc vàng sáng, đôi mắt xanh lá cây, miệng luôn nở nụ cười tươi vui ấm áp, nét mặt an lạc, đang đứng bên cửa đón chào học trò.

Và hôm ấy, suốt buổi tập, tôi không thể nào tập trung được, tôi khó chú tâm vào hơi thở. Ôi! Câu chuyện của em chỉ mới bắt đầu!

2.

Khoảng tám năm trước đây, một sáng Thứ Bảy, tôi đang dạy lớp Tiếng Việt trong  nhà thờ, một người đàn bà Mỹ trắng dẫn em vào lớp. Bà tự giới thiệu đơn giản, bà tên Julie. Rồi bà nói, con gái yêu của bà vừa làm xong bài khảo sát trình độ, thầy hiệu trưởng xếp con gái yêu vào lớp nầy. Trước khi ra về, bà bắt tay tôi, vui vẻ nói, con gái yêu của bà rất thích học tiếng Việt, nhất định bà cũng sẽ học tiếng Việt.

Con gái yêu của bà là em, người Việt, dáng gầy guộc, da hơi ngăm tái, đôi mắt to mênh mang ánh nhìn xa vắng, đôi môi không hề nở nụ cười. Khuôn mặt buồn bã của em được ôm kín bởi mái tóc đen dày xõa ngang vai.

Giờ ra chơi, em không rời khỏi chỗ. Tôi đến bên em. Em đang lần giở những bài học tiếp theo, chăm chú đọc.

– Chào em!

Em hơi giật mình, ngẩng lên, vẻ dè dặt:

– Em chào cô!

– Cô rất vui khi có em trong lớp. Em chăm học như thế nầy chắc vài bữa nữa em sẽ được lên lớp Năm.

– Dạ… em… em muốn học lẹ thiệt lẹ… để đọc sách tiếng Việt dễ dàng hơn.

– Tuyệt lắm. Nếu em có gì cần hỏi, cô sẵn sàng giúp em.

– Dạ… Cám ơn cô.

Em tiến bộ rất nhanh. Những bài tập làm văn tả cảnh tả người của em khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Ẩn chứa trong đôi mắt u buồn xa vắng của em là cả một khoảng trời nồng ấm tình yêu thương đằm thắm dịu dàng.

Rồi mùa học qua nhanh. Sau đó em cũng mau chóng rời trường Tiếng Việt của nhà thờ.

3.

Em nói, giọng buồn hiu:

– Em đã đọc ngốn ngấu sách báo tiếng Việt, như thể người đói được ăn, người khát được uống. Như thể khi lạnh run quơ được tấm mền để đắp. Cô ơi, được đọc sách là một hạnh phúc lớn của em.

Em đọc nhiều loại sách: sách tôn giáo, sách văn chương, sách lịch sử… Hễ rảnh là em đọc. Bởi em muốn biết nguồn cội mình. Em muốn biết tại sao ba em nghiện rượu. Em muốn biết tại sao má em cúi đầu nhẫn nhục chịu đựng khổ đau. Tại sao tại sao tại sao? … Em muốn biết quá nhiều, mà em hiểu thời gian thì trôi quá nhanh nên em không thể phí phạm. Lắm khi nhức đầu quá, em chỉ muốn quên quên quên…, tất cả tất cả… nhưng rồi em không thể nào quên. Cái buổi xế trưa nắng quái hắt vào giữa sân, ba em thua cá độ. Cô ơi, tại sao?

– …

– Ba em cùng năm người đàn ông đã nhậu suốt từ sáng. Họ nhậu tơi bời. Lưỡi họ dường như đã cứng lại nên giọng họ nhừa nhựa. Họ nói năng bậy bạ, hát xướng bậy bạ. Em là người đi mua rượu. Cứ chừng một hồi, ba em kêu em đi mua rượu. Em  không nhớ bao nhiêu lần em đã phải lội bộ vô trong ấp để mua rượu.

– …

– Và lần cuối cùng, khi em, một tay vịn thanh cầu, một tay ôm bình rượu, từng bước chân men trên cây cầu tre dẫn vào nhà, em thấy ba em chỉ tay vào em, lè nhè: “Nó đó”. Rồi ba đổ sụm xuống như cây chuối bị chặt gốc. Sau nầy em mới hiểu “Nó đó” tức là ba em đem em ra cá độ. Họ cá nhau chuyện gì em không biết. Vậy là năm người kia kéo em xuống chiếc xuồng. Lúc đó em vẫn chưa hiểu gì ráo. Em kêu khóc, em giằng co, em giãy giụa. Ba em vẫn gục trên bộ vạc tre.

Em dừng lại như để lấy hơi, rồi tiếp

–  Má em đang nấu cơm chiều, nghe tiếng kêu khóc, má nách bé Út chạy ra, ngơ ngác, líu quíu xà quần quanh sân bởi vướng mấy cái lu, cái khạp đựng nước mưa. Má vấp té mấy lần trước khi chạy men theo bờ sông, mặc cho bé Út đang bò lê khóc thét trên vũng nước. Anh Hai em hơn em ba tuổi, đứng chỗ sàn nước cạnh chân cầu, miệng há hốc, ngơ ngác nhìn. Không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra. Giống như cơn ác mộng.

Em gục đầu lên vai tôi:

–  Cô ơi! Hình bóng má cuối cùng trong trí nhớ em là tóc má xổ tung ra, xấp xải, bước chân trần của má liêu xiêu tuyệt vọng dọc theo bờ. Em nghe rõ tiếng gào khóc của má, của anh Hai, của bé Út đuổi theo, chạy dài dài theo khúc sông một đỗi rất lâu. Chỗ nhà em vắng nên không ai nghe tiếng kêu cứu. Chuyện diễn ra nhanh như một ánh chớp.

Tôi ôm em, rên rỉ:

– Ôi!

Dưới kia không xa, biển đang bình yên vỗ sóng. Biển muôn đời vỗ sóng. Giọng em như bị cắt thành từng lát mỏng dính bay trong thoáng gió biển lướt qua:

– Cô ơi, đó chỉ là bắt đầu. Chỉ là bắt đầu.

Em dừng lại. Không dưng em và tôi cùng nhìn ra bờ Thái Bình Dương vào chiều xanh thăm thẳm. Trời cũng xanh thăm thẳm nên biển và trời như tan hòa vào nhau. Xa xa, những con sóng trắng phau nhấp nhô lấp lóa dưới ánh nắng trông như dát bạc. Xa tít, giữa biển trời xanh ngát, thấp thoáng vài cánh thuyền buồm nhỏ xíu như những chiếc lá, lấp lánh. Gió biển lồng lộng. Gió thổi tung mái tóc em và tôi. Gió như muốn thổi tung hê tất cả những bất hạnh đời em. Giọt nước mắt vẫn cứ trào ra dù tôi cố nén, nhưng gió biển đã kịp thổi khô.

– Cô ơi, giá như ngày đó, họ cầm dao giết em, coi bộ đỡ độc ác hơn là họ đã tứ mã phanh thây em. Giày vò hành hạ tâm hồn em. Em đã mấy lần tìm cái chết, nhưng không thành, cũng qua đó, em hiểu rằng, chết không phải là điều dễ dàng.

– …

– Em đã qua nhiều ngày điều trị tâm lý sau khi được cứu ra khỏi hang ổ bọn buôn người. Ngay cả khi được sang đây, em vẫn tiếp tục được điều trị,  nhưng làm sao em quên được.

Càng về chiều, biển càng sẫm màu, đẹp dịu dàng trong vẻ đẹp vĩnh cửu. Nắng đã nhạt dần. Gió bắt đầu lạnh. Tận chân trời đằng tây, xa tắp, mặt trời màu vàng cam vừa tựa cằm trên đường chân trời, nhuộm đỏ tía một vùng rực rỡ. Em dừng lại, trầm ngâm nhìn biển.

– Mẹ Julie thường đưa em đi tắm biển ở đây. Mỗi lần em ngập người trong biển, em cảm thấy dễ chịu lạ lùng. Nước biển mênh mông. Sóng biển lúc êm ái vỗ về, lúc mạnh mẽ dữ dội dường như muốn xóa sạch mọi vết thương, vết hằn trên thân thể em. Biển bao la dường như nhắc nhở rằng em chỉ là hạt bụi, vết thương của một hạt bụi có nghĩa gì đâu.  Phải không cô? Ngâm mình trong biển, ngửa mặt nhìn trời xanh trên cao, em tự nhắn nhủ rằng em còn nhỏ hơn một hạt bụi, nỗi đau của cái chưa bằng hạt bụi thì có đáng gì.

– …

– Mẹ Julie thương em lắm. Có những đêm khuya, cơn ác mộng ngày xưa hành hạ em, em ú ớ, vùng vẫy, gào khóc, cào cấu. Mẹ Julie chạy qua, ôm em vào lòng, vỗ về em, thì thầm cầu nguyện.

4.

Nhớ hôm đầu tiên vào lớp Yoga, tôi ngỡ ngàng, vui mừng, em đó phải không? Em chạy ùa đến bên tôi, dạ em đây, em chào cô. Lâu quá gặp lại cô, cô khỏe không? Cô khỏe, cám ơn em, còn em? Dạ em cũng khỏe, em đã vào đại học. Ừ, cũng lâu rồi, mà em xinh quá, nhìn mãi cô mới nhận ra em. Cám ơn cô.  Quả thật cô và em có duyên với nhau ha, cuộc gặp lại hiếm có đó em. Dạ.

Từ đó, em và tôi hay đến trường sớm độ vài chục phút, cô trò cùng leo lên tầng hai, ngồi trên chiếc ghế đá chỗ hành lang hướng về biển. Cô trò đều yêu thích nơi nầy. Hành lang thênh thang rộng, thênh thang nắng gió, cấu trúc rất nghệ thuật, đẹp mê hồn. Có bữa biển chuyển mình, gió nhiều, lạnh thấu xương, cô trò vẫn co ro trong chiếc áo khoác, thưởng thức hương gió, thưởng thức vẻ đẹp kỳ vỹ của trời biển, và chuyện trò.

Rồi khi vào lớp, cô trò trải tấm chiếu cạnh nhau. Chúng tôi thở chậm, đều, sâu và nhẹ. Chúng tôi mềm mại trong những động tác căng duỗi người và cân bằng. Rất thú vị khi cô giáo nói rằng stress tự nó không phải là vấn đề. Rồi cô giáo hướng dẫn thực hành chữ “S.T.O.P.” (*)

Phần cuối của buổi học rất dễ chịu. Cả lớp nằm im trên sàn, thả lỏng người. Cô giáo sẽ kéo kín tấm rèm cửa hướng ra biển chiều đang phai nắng, và tắt tất cả các ngọn đèn, để ru mọi người bằng tiếng chuông nhẹ ngân nga cùng lời ru êm ái ngọt ngào.

5.

– Hè năm ngoái, em về Việt Nam. Em đã đi qua gần như suốt chiều dài của đất nước mình. Cô ơi, em đã đi qua nhiều thành phố, nhiều miền nông thôn. Ô thôi! Ðất nước mình thì bé nhỏ mà quán nhậu thì nhiều vô kể, em cứ tự hỏi tại sao tại sao?

Tôi dè dặt:

– Rồi… em đã tìm được gia đình?

– Má em, sau khi em bị người ta mang đi, đã bị điên, rồi mất vì uống nhầm phải chai thuốc trừ sâu. Anh Hai em buồn giận ba em, bỏ nhà đi xa, nghe đâu đi xuất khẩu lao động gì gì đó, không ai biết tin tức. Bé Tư lên Sài Gòn đi làm thuê để kiếm tiền gửi về quê nuôi ba. Rồi ngày nọ, bé bị người ta dụ dỗ đi lấy chồng Ðài Loan… Nghe kể, không bao lâu sau, người ta đưa cái hũ tro cốt của bé về… Bữa đó ba em nhậu xỉn, ôm hũ cốt bé Tư chạy qua cây cầu, trợt chân rớt xuống sông chết đuối. Chuyện gia đình em đó.

– …

– Giờ em vẫn còn đang học, và em đã định hướng cuộc đời mình. Em đã hiểu ra nỗi đau của em. Cô ơi, nỗi đau của em chưa bằng hạt bụi, sá gì với nỗi đau của má, của anh Hai, của bé Tư; thấm tháp gì với nỗi đau của biết bao nhiêu những đứa trẻ, những cô gái đang bị đày đọa trong các chợ buôn người rải rác trên nhiều quốc gia trên thế giới, và còn nhiều nữa… Nỗi đau của em đã dạy em bài học sống. Phải sống như thế nào, phải làm gì? Em không muốn nỗi đau của em trở thành vô ích.

6.

Chúa Nhật rồi, một chị bạn rủ tôi đi nhà thờ Mỹ. Tôi ngỡ ngàng trước cách trang trí thanh nhã và trang trọng của nhà thờ. Tôi lặng im chiêm bái những bức tranh minh họa cuộc đời Ðấng Cứu Thế trên các khung cửa sổ kính màu phỏng theo phong cách Gothic. Tôi rảo mắt tìm kiếm người quen, và bỗng hết sức kinh ngạc. Kìa! Có phải là em? Tôi đeo mắt kính vào, rồi gỡ mắt kính ra, có phải là em? Một cảm xúc rất lạ trào dâng khiến tôi rưng rưng.

Ðúng là em! Em đang đứng trong ban hát dẫn trên bục giảng. Em bé nhỏ giữa các cô gái Mỹ trắng, Mỹ màu cao lớn. Em xinh xắn tinh khôi trong chiếc đầm trắng, giày trắng, dây buộc tóc màu trắng. Em như một đóa huệ trắng nuốt. Em thanh khiết trong sáng như thiên thần. Em hát hết lòng hết dạ. Thỉnh thoảng em nhắm mắt như để lắng sâu tâm hồn vào lời ca thánh.

Kìa là bà Julie, mẹ em. Tôi vừa bắt gặp đôi mắt long lanh hạnh phúc của mẹ Julie đang ngồi dãy ghế cạnh tôi. Tôi biết lát nữa đây, khi nói về em, bà Julie sẽ vô cùng sung sướng “Con gái yêu của tôi, con gái yêu của tôi…”

Em đó ư? Ðứa bé đã từng quằn quại dưới gánh nặng quá khứ đau buồn tủi hờn.

Em đó ư? Ðứa bé mà ngày nọ, trước giờ vào học, thường ngồi ủ rũ trong góc nhỏ chỗ chân cầu thang nhà thờ, đôi mắt vô hồn, vẻ mặt lạnh lẽo, môi không bao giờ nở được nụ cười.

Ừ, đó là Em! Em ngày xưa đã từng bị hành hạ đau đớn như cách tứ mã phanh thây và đã học được rằng đó chỉ là vết thương của một hạt bụi.

TỊNH TÂM

(*) “S.T.O.P.”
S: Stop what you’re doing and thinking… Interrupt the stress response!
T : Take a few deep breaths (as you say to yourself: I breathe in… I breathe out.)
Elicit the relaxation response!
O: Observe and let go of the physical tension and the mental chatter . RELAX!
Know that thoughts are not facts and are not permanent.
Let go of any emotions present and how they’re being expressed in the body.
SMILE… Think: PEACE TITHIN.
P: Proceed with something that will support you in the moment.

(Bài dạy của cô giáo Yoga)

BỐN MƯƠI NĂM VĂN HỌC HẢI NGOẠI – MỘT CUỐN SÁCH ĐÁNG MONG CHỜ

 

 

 

Cuốn Bốn Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại mà Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng là tác giả vừa phát hành tại Mỹ (có thể cũng trên nhiều nước khác nữa) có đáng là hay đúng là một cuốn sách nói về Thơ Việt Nam ở ngoài nước đáp ứng được niềm mong mỏi của nhiều người?  Cứ cho là “đáng là” để mừng, “đúng là” để vui.  Sự xa vắng hay lìa bỏ Quê Hương năm này là năm thứ 43, là đã quá lâu, đã quá buồn.  Cái buồn này khó vơi, chỉ ngày càng đầy thêm thôi, hy vọng vài ngàn năm nữa nó cũng chưa tràn!

 

Xưa, không xưa lắm, Nguyễn Du với tấm lòng hoài Lê, không theo phe Tây Sơn, đành theo phò triều Nguyễn, phải rời bỏ quê nhà vào Kinh (Huế) làm việc rồi lãnh nhiệm vụ đi sứ sang Tàu (Bắc hành), Nguyễn Du buồn khi mỗi bước chân đi.  Nguyễn Du nhớ nhà, nhớ quê nhà lắm lắm.  Nguyễn Du từng than mỗi lần ông có dịp đi ngang quê nhà Hà Tĩnh trên dặm đường Bắc Hành quá Quỷ Môn Quan (mà giới trí thức và sử gia Việt Nam gọi là ải Nam Quan), Nguyễn Du buồn:  Quê nhà cỏ lợt màu sương, đường xa thêm một tấc đường một đau!  Hễ đi là buồn.  Người mình có cái vốn sẵn là Buồn.  Cái vốn này không sinh lời bao giờ, nếu có lời thì toàn là lời than van, lời than thở…Nguyễn Du ở bên Tàu, có làm thơ (tập Bắc Hành Thi Tập), không ai xếp thơ làm ngoài nước là thơ-hải-ngoại vì chữ Hải Ngoại có ba nghĩa: 1, Ngoài Biển, nhan đề tập ký sự của Phan Bội Châu là Hải Ngoại Huyết Thư – sách viết bằng máu, trên biển, sau khi Phan Bội Châu qua Nhật “xem” tình hình thanh niên Việt học tập như thế nào (đầu Thế Kỷ 20).  Chữ Hải Ngoại, Phan Bội Châu dùng có nghĩa Ngoài Biển / Trong Biển / Trên Biển.  2, Hải Ngoại xưa trong Kinh Thư của Tàu không có chữ này, chỉ có chữ Hải Nội, có nghĩa Trong Biển, Trong Cõi Đời Này, có thành ngữ Hải Nội Chư Quân Tử, không bao giờ viết là Hải Ngoại Chư Quân Tử cả dù rằng Tứ Hải vi Gia, Tứ Hải giai Huynh Đệ.  3, Hải Ngoại, theo từ điển Pháp Việt của Đào Đăng Vỹ, Outre Mer, là Thuộc Địa, là xứ chiếm được, từ đế quốc (như Pháp, Anh, Bồ Đào Nha…)muốn đến đó đặt nền cai trị thì phải đi bằng đường biển, có nghĩa là xa lắm.  Tây nó nói Đông Dương (Indochine) là Outre Mer của nó vì nó làm chủ vùng lãnh thổ này, mình dịch ra thành chữ Hải Ngoại.  Việt Nam Cộng Hòa chưa đời nào xâm chiếm nước Mỹ, Canada, Australia, Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản…sao chúng ta lại gọi những nước này Hải Ngoại của chúng ta?  Nước ta có thời tên là Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam, tất cả các sử gia nức tiếng đồn đều không ai hiểu chữ Cồ, Đại Cồ Việt, là gì; họ hiểu rất rõ chữ Đại là gì…nhưng cứ vòng tay thưa với thế giới:  nước chúng em là Quốc Gia Nhược Tiểu, nghe mà xón!

Trong nước là Quốc Nội.  Ngoài nước là Quốc Ngoại.  Người mình ưa nói tiếng Tàu…bốn mươi ba năm nay, không hiểu sao người mình vẫn cứ hoài là dân nô lệ, vẫn cứ ưa nói tiếng Tàu…lai, tiếng Tào…lao!

Nhìn cái bìa sách, tôi thấy xốn mắt.  Bỏ tiền ra mua, chẳng đau lòng đâu bởi buồn trong dạ đã đau nhiều rồi.  Thấy sách mới, bề thế, bắt mắt thì mua.  Hơn nữa, gần trăm năm rồi không thấy có cuốn sách nào nói về thơ đáng đọc hơn cuốn Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh Hoài Chân xuất bản cuối  thập niên 1930 Thế Kỷ 20.  Đáng rồi Đúng, cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại của Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, đối với tôi là sách-đáng-đọc, là sách đúng-với-lòng-chờ-mong!   Nếu mấy chữ đó đồng nghĩa Sách Hay, là điều tôi rất mừng!

*

Về hình thức cuốn sách, tôi đã nói rồi:  bề thế.  Dài dòng thêm:  sách đẹp, dày 660 trang, xuất bản bởi Văn Việt ở Sài Gòn – California 2017 và nơi phát hành khắp thế giới là cơ sở kinh doanh Amazon của Mỹ.

Tôi có đọc trên website trannhuong trong nước, Thư Mời và Thông Báo của tác giả, Nguyễn Đức Tùng, về cuốn sách đó, như sau:

THƯ MỜI VÀ THÔNG BÁO

Nguyễn Đức Tùng

Thứ tư ngày 2 tháng 8 năm 2017 8:33 AM


Về Tuyển Tập Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại

Kính thưa quý độc giả, văn hữu, các nhà thơ có mặt trong tuyển tập:

Chúng tôi vui mừng thông báo đến quý bạn, cuốn sách “Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại” vừa được Văn Việt và Người Việt Books in xong, chuẩn bị ra mắt tại California. Sách hiện nay đã có mặt trên thị trường.

Có 53 nhà thơ có mặt trong tuyển tập:

1. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, 2. Nguyễn Thị Thanh Bình, 3. Nguyễn Thanh Châu, 4. Nguyễn Hàn Chung, 5. Đinh Cường, 6. Nam Dao, 7. Hà Nguyên Du, 8. Thế Dũng, 9. Trần Nguyên Đán, 10. Trần Trung Đạo, 11. Phan Tấn Hải, 12. Pháp Hoan, 13. Luân Hoán, 14. Phạm Cao Hoàng, 15. Trần Nghi Hoàng, 16. Lê Thị Huệ, 17. Khế Iêm, 18. Đỗ Kh., 19. Lê Đình Nhất Lang, 20. Vi Lãng, 21. Du Tử Lê, 22. Trần Vấn Lệ, 23. Đinh Linh, 24. Trần Đình Lương, 25. Chu Vương Miện, 26. Vương Ngọc Minh, 27. Lâm Quang Mỹ, 28. Đỗ Quang Nghĩa, 29. Bắc Phong, 30. Đức Phổ, 31. Thường Quán, 32. Nguyễn Linh Quang, 33. Đỗ Quyên, 34. Lữ Quỳnh, 35. Như Quỳnh de Prelle, 36. Phan Xuân Sinh, 37. Hoàng Xuân Sơn, 38. Cao Tần, 39. Phan Ni Tấn, 40. Nguyễn Xuân Thiệp, 41. Vũ Hoàng Thư, 42. Trịnh Y Thư, 43. Nguyễn Đăng Thường, 44. Trangđài Glassey – Trầnguyễn, 44. Trần Mộng Tú, 46. Nguyễn Đức Tùng, 47. Cung Trầm Tưởng, 48. Huy Tưởng, 49. Lưu Diệu Vân, 50. Thi Vũ, 51. Nguyễn Lương Vỵ, 52. Ngu Yên, 53. Tô Thùy Yên

Một tác phẩm tập hợp tương đối đầy đủ các khuôn mặt thơ Việt hải ngoại trong hơn bốn mươi năm qua. Đây là kết quả của sự hợp tác đẹp đẽ hiếm có giữa những người viết trong nước và những người viết hải ngoại, vượt qua các rào cản về địa lý và lịch sử.

Chúng tôi hết sức cảm kích sự ủng hộ của độc giả, các nhà thơ và thân hữu trong thời gian qua.

Quý thi sĩ tác giả có mặt trong tuyển tập, xin cho chúng tôi biết địa chỉ để gởi tặng sách. Ngoài ra, quý vị có nhã ý ủng hộ hoặc đặt mua thêm sách tặng bạn bè, cũng xin vui lòng liên lạc bằng một trong hai cách sau:

– Nhà xuất bản Người Việt Books: 14771 Moran St, Westminster, CA 92683, USA, Tel: 714-892-9414, Fax:(Tòa Soạn) 714-894-1381, Fax: (Biên Tập) 714-893-7891, email: nguyen.phuong@nguoi-viet.com

– Nhóm chủ trương: ynhi1809@gmail.com hoặc bachnguyen@shaw.ca

Riêng quý độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với nhà xuất bản:

https://www.nguoivietshop.com/products/2843-40-năm-thơ-việt-hải-ngoại/

Ngày 3 tháng 9 năm 2017, từ 2 PM đến 4 PM, chúng tôi sẽ tổ chức buổi:

Ra Mắt Sách Và Đọc Thơ

tại hội trường báo Người Việt, 14771 Moran St, Westminster, CA 92683, USA, Tel: 714-892-9414, Fax: (Tòa Soạn) 714-894-1381

Đặc biệt với sự tham dự của một số nhà thơ tác giả, có mặt trong tuyển tập, đến từ California và từ nhiều nơi khác.

CHÚNG TÔI TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI ĐỘC GIẢ VÀ THÂN HỮU

Văn Việt và Việt Books

*

Nội dung của bản Thông Báo / bức Thư Mời, trên, có mấy dòng, dù chỉ có mấy dòng, nói hết cái nội-dung-của-cuốn-sách:  “Một Tác Phẩm Tập Họp Tương Đối Đầy Đủ các khuôn mặt Thơ Việt Hải Ngoại trong hơn bốn mươi năm qua.  Đây là kết quả của sự hợp tác đẹp đẽ hiếm có giữa những người viết trong nước và những người viết hải ngoại, vượt qua các rào cản về địa lý và lịch sử”.

 

Sự hợp tác đây, theo tác giả, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, về trong nước thì tác giả có biết ơn hai thi sĩ Hoàng Hưng và Ý Nhi, về ngoài nước thì có sự đóng góp bài Tựa của Học Giả Bùi Vĩnh Phúc cũng là một thi sĩ đa năng:  có biệt tài dịch thơ chữ Anh ra chữ Việt, làm thơ Lục Bát, thơ Xuôi và thơ Tân Hình Thức.

Nội dung nói rằng có 53 tác giả, tức 53 nhà thơ, đều ở nước ngoài, đa số ở Mỹ, ít ở Canada, Pháp, Úc, Đức, Ba lan, Tiệp Khắc…Con số 53 này bao gồm cả tác giả cuốn sách đồng thời là tác giả một mục thơ dành cho thi sĩ Nguyễn Đức Tùng.  Nếu Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dám hy sinh mình thì chỉ có 52 tác giả thực thụ và tiêu biểu cho Thơ Việt Ngoài Nước Hơn Bốn Mươi năm nay.  Nhưng…rõ ràng có 53 tác giả thực đó mà vẫn chưa đúng: còn thêm Học Giả Bùi Vĩnh Phúc qua bài Tựa có dẫn chứng ba bài thơ của mình, ba bài đều khá dài, rất xuất sắc, coi như Bùi Vĩnh Phúc cũng là một phần “xương thịt” của cuốn sách Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, thì nên nói cho phải đạo:  Cuốn sách Bốn Mươi Năm Thơ Việt hải Ngoại Có 54 Tác Giả Tất Cả.  Cũng nên để ý:  con số thứ tự tên tác giả ghi trong Thông Báo & Thư Mời kia, không phải là số thứ tự để trong sách.  Chẳng hạn: trên thư mời, Chu Vương Miện được ghi: 25 – Chu Vương Miện, trong sách thì Chu Vương Miện đứng hạng 43.  Các con số này là các con số, không đề cao hay hạ thấp tác giả nào.

Cái bề dày của cuốn sách hơn sáu trăm trang, tác giả của nó, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dành riêng cho mình hết một phần tư hơn để đăng năm bài Tiểu Luận của mình về Thơ, gọi là Thơ Ca (hai chữ Thơ Ca hay Thi Ca thật tình tôi không hiểu, Thơ là Thơ còn Ca là chuyện khác.  Tác giả mấy bài Ca người ta cũng chưa hề gọi là Ca Sĩ, chắc những tác giả bài Ca cũng chưa định danh được cho mình?  Năm bài Tiểu Luận đó, tác giả, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng gọi là Chương.  Chữ Chương có vẻ quan trọng lắm đây và mang tính hàn lâm rõ ràng.  Tôi nhớ Lâm Ngữ Đường có “phán”:  Viết văn là ghép Chữ thành Câu, nối Câu thành Đoạn, kết hợp Đoạn thành Chương và kết hợp các Chương lại thành Sách.  Nhưng đó là viết Văn bình thường, không hay; làm sao mà rút Sách thành Chương, rút Chương thành Đoạn, rút Đoạn thành Câu, rút câu thành Chữ, rút Chữ đến không còn Chữ nào…thì mới đáng là Văn Nhân!  Nguyễn Du, tiên sinh của Lâm Ngữ Đường nói gọn hơn:  Vô Tự Kinh Thị Như Chân Kinh”.  Kinh là Sách.  Điển là Sách.  Sách là xấp giấy được xếp, đóng, làm bìa…bề thế thôi!  Ai cũng biết Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Phật, Kinh Thánh…vì tất cả những cuốn Kinh đó đều là Cuốn Sách.  Còn Điển, bạn nghe hai tiếng Kinh Điển?  Bạn từng xem/tra Từ Điển mà!  Năm Chương Tiểu Luận của Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, tôi đọc và tôi tự rút cho tôi được cũng kha khá cái hay, nhất là ở Chương Năm “Đi Tìm Tiếng Nói Mới”.  Ở Chương này, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dẫn dắt người thưởng thức thơ tới chỗ thưởng thức xác thịt đàn bà…khỏa thân hay ít nhất cũng thấy cái nịt vú.  Thơ Trần Mộng Tú thật hồi hộp, đi từng bước từng bước, sướng rên mé đìu hiu luôn:

Tôi bắt đầu tháo bỏ chàng

Như tháo đôi hoa tai ra khỏi tai

Tháo từng chiếc

Từng chiếc một

Hai tai đã khỏa thân.

 

Ố là là!  Thơ Ca Ca ca ha ha…khoái tỉ tê mê!

Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dẫn một đoạn thơ của Đỗ Lê Anhdao, nhìn mà muốn rớt nước…miếng, mới thấy tiếng Việt của mình tiệt…vời:

 

Người tình nhắc tôi thường xuyên

Phụ nữ Việt Nam tứ đức

Công, Dung, Ngôn, Hạnh

Nhưng riêng anh thì vẫn lui tới mấy “quán cà phê bikini” đều đều

Tự do ngâm mộ những cô gái mặc áo dài may bằng loại vải “tơ mỏng”, lặp đi lặp lại khen khoa học hiện đại biết cách mô cấy vú nhân tạo.

“Em cũng nên đi sửa đi”, anh nói

Cuối cùng thì chúng tôi chia tay

Tôi cũng chẳng cần tìm hiểu coi có phải vì ngực tôi lép hay không.

Tôi không bao giờ tự sửa sang mình cho thích hợp với đòi hỏi của đàn ông.

Đôi khi tôi cũng mặc áo lót,  nhưng tôi không có ý định làm vợ.

 

Tôi lần lần / từ từ / chậm chạp hiểu được thơ ca là cái giống gì rồi, nhất là tới chỗ Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng nói về thi sĩ Đinh Linh viết về sự kiện 9-11:

Hắn có thân hình vạm vỡ

Với cả ngàn cái nứng lên

Làm rực bầu trời về đêm

Nhưng không gì nứng cao hơn

Đôi cặc sinh đôi.

 

Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng “trích dẫn” xong bèn đệm thêm câu tưng tửng:  “đã gây ra xúc cảm mạnh ở một số người đọc.  Có lẽ đối với họ bài thơ của anh là sự xúc phạm.”.  Tôi nói “tưng tửng” vì tôi không hiểu hai chữ “có lẽ” và hai chữ “xúc phạm”.  Có lẽ…là không hề chi?  Xúc phạm…là va chạm nhẹ nhàng?  Theo tôi, Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng đã giới thiệu với độc giả trong cuốn thơ của mình, có một họa sĩ tài ba, là họa sĩ Đinh Linh,  vẽ hình hài một con người quái…kiệt, có tới hai cái dương vật?

Thế là vui!  Đọc một cuốn sách dày không thấy ngán, nhờ thế đó!

Năm mươi hai, năm mươi ba (tính luôn Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng), năm mươi bốn (tính luôn học giả Bùi Vĩnh Phúc) tác giả có tác phẩm in trong cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại cho người đọc Một Sự Sảng Khoái Lạ Lùng.  Thơ của ai cũng thuộc loại tuyệt cú mèo, thí dụ thơ của Nam Dao:

TA CHÚC GÌ NHAU TRONG MÙA BẤT AN

(gửi đám ăn mày, không chỉ văn chương)

 

Thần linh bỏ cuộc

Đền thờ hoang

Bầy ngôn sứ nay câm

 

Còn đâu con người?

 

Còn đâu? Đám ngư dân nổ máy

Cắm đầu bỏ chạy

Chẳng phải sợ  quá ngày giúm cá đánh lên ươn

Biển nay cũng vạch đầy biên giới

Tàu tuần tra lạ hoắc đón đường

 

Còn đâu?  Cạnh những mỏ kim cương

Đất đá đào lên lổn nhổn

Đám đanh thuê bản xứ súng ngoại gầm gừ

Canh cho những ông chủ

Đang đợi mở xâm-banh

Hân hoan kết thu một năm lợi nhuận

 

Còn đâu?  Bọn như tôi như anh

Hàng hàng lớp lớp

Chen nhau ngày boxing day

Mắt dán vào những mặt hàng

Bán tháo

 

Lời và lẽ, bát nháo

Bầy ngôn sứ nay câm

Thế giới lửng lơ

Hải hạm khoe răng nanh

Pháo phòng không chỉa lên mặt trời

Cánh chim thép sà vào lòng biển

 

Trong khi bán đảo bên này

Đã lắp giàn tên lửa tầm xa

Trong khi bán đảo bên kia

Tiềm thủy đỉnh gắn đạn đầu nguyên tử

 

Trong khi tôi luồn vô em

Nhưng không cương cứng nổi

 

Còn đâu, con người?

 

Thế thì cho tôi hỏi

Ta chúc gì nhau trong mùa bất an?

 

Đó là bài thơ trong 6 bài thơ của Nam Dao được dẫn ra trong mục nói về thi sĩ Nam Dao, giáo sư Kinh Tế Học tại Đại Học Laval, Québec, Canada, đã có 14 tác phẩm in thành sách bán, trong đó có 4 tập thơ.  Nam Dao là sinh viên VNCH đi học nước ngoài trước 1975, với tư cách là du học sinh (là học sinh đi chơi?) ở lại tị nạn Cộng Sản, sau đó về nước phục vụ cho chế độ mới với vai trò cố vấn kinh tế dưới thời Võ Văn Kiệt, rồi hết hạn giao kèo lại trở về Canada…tị nạn tiếp.  Nam Dao được Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng trang trọng mở lời giới thiệu như thế này:  “Nam Dao là một người viết tiểu thuyết nổi tiếng, nhưng ít người biết anh cũng làm thơ và từ lâu.  Những mối quan tâm của anh nặng về lịch sử, xã hội, cộng đồng, điều này thể hiện rõ trong văn xuôi.  Tuy nhiên, trong thơ, chúng ta nhận ra một Nam Dao khác của tình yêu, của khắc khoải siêu hình, những bày tỏ cá nhân, và vì vậy, những ước vọng thầm kín.”

Đọc mấy lời bình đó, tôi chịu thua.  Một là tôi dốt quá, tôi không hiểu sao Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng viết một câu kỳ cục:  Nam Dao là người viết tiểu thuyết nổi tiếng, nhưng ít người biết…”.  Mấy chữ tiếp theo chỉ là gở gạc?  Phần tiểu sử, Nam Dao viết 10 cuốn văn xuôi, có cả tác phẩm viết bằng chữ Pháp…mà chữ champagne ông lại phiên âm xâm banh, chữ xâm này trật lất, phải là sâm mới đúng, trong khi đó ông viết boxing day thì correct!  Có nên mạ kền bằng thơ Hàn Mạc Tử ngay chỗ này không nhỉ?  Vô tình để gió hôn lên má, bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm!  Thưa ông giời!

Tôi khoái cảm nhất hai câu :  Trong khi tôi luồn vô em  / nhưng không cương cứng nổi!  Hèn chi chính phủ Canada cho Nam Dao tị nạn “quài”.  Về Việt Nam hay đi đâu nữa thì chỉ còn nói tiếng Tàu thôi:  Ngộ mậu hẩu lớ!  Ngộ hết xí quách lớ!  Luồn vô em mà mềm xèo như cái bánh xèo, tội nghiệp lắm!  Hay cắt ra băm làm nhân bánh xèo?

*

Đọc cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, phải nói là vui kể sao cho xiết!  Nó không là một cuốn sách “khảo luận” hay “biên khảo” mà nó là tác phẩm quần chúng, đọc để giải trí.  Chúng ta hãy đọc phần tiểu sử tác giả của từng nhà thơ, chúng ta sẽ khoái cảm làm sao đâu đó!

Đa phần tiểu sử tác giả trình bày gần như một kiểu:  giản dị, đơn sơ mà đầy đủ, có ít tiểu sử tác giả hơi dài và lắm chi tiết nhưng thấy chưa thỏa mãn người đọc tò mò (thí dụ Tiểu Sử của Chu Vương Miện), người đọc, cũng là người dân của một thời binh lửa, thắc mắc tại sao một hạ sĩ quan truyền tin lại phải xuất ngũ.  Binh chủng truyền tin coi có vẻ hiền nhưng nó không chấp nhận sơ xuất.  Ai mà sơ xuất…thì không thể cho xuất ngũ một cách bình thường thế mà Chu Vương Miện ra khỏi đó như ông Thầy Chùa thõng tay vào chợ!  Còn tiểu sử của nhà thơ Ngu Yên thật là độc đáo!  Bạn nghe nè:

“Ngu Yên tên Nguyễn Hiền Tiên.  Quê quán Bình Định gốc miền Kim Châu.  Kể rằng thân thế khởi đầu, 20 tháng 11, sinh vào năm 52.

 

Mặt mày trên mức xấu trai, học hành đại khái, ngày ngày rong chơi.  Nuôi hoài bão nhưng biếng lười, nên thường lấp liếm vài lời cuồng ngông.  Sinh ra tâm tính lông bông, lớn khôn chỉ giỏi bềnh bồng nổi trôi.  Giữa cơn binh loạn đổi đời, xuôi dòng tản lạc thành người lưu vong.  Tháng ngày trồi sụt long đong, vui buồn thơ động tiếng lòng nghêu ngao.”

 

Đọc phần tiểu sử trên, chúng ta nghĩ:  nếu nước mình ai làm thơ cũng có phần tiểu sử đẹp đẽ, truyền cảm như thế nhỉ…cần gì phải có thơ trích dẫn làm chi?  Tiểu sử đã là bài thơ.  Tác giả không biết đàn ông hay đàn bà (vì ảnh chân dung đính kèm để nhận diện có hai người đờn ông và hai người đờn bà, chắc tác giả là đờn bà nên mới có chuyện tháng ngày trồi sụt long đong?).  Cái vụ này là bất ổn nha!  Coi chừng huyết âm nó ầm ầm đấy nhé!

Cũng cái tiểu sử này, chúng ta nghi ngờ cuộc chiến tranh Việt Nam là “binh loạn” thôi, là nhẹ nhàng lắm, là cuộc cãi cọ giằng giai giữa Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu?  Hà cớ gì mà tác giả phải long đong?  Hà cớ gì mà thành người lưu vong để rồi cực lòng làm thơ cho mệt?  Vũ Hoàng Chương còn sống nhất định vỗ đùi ngâm:  “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa, bị Quê Hương ruồng bỏ, giống nòi khinh!”.  May mà Vũ Hoàng Chương đã ra người thiên cổ…

*

Cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, tôi phục Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng ở điểm Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng dám minh xác về Thơ Tự Do:

Những người mới làm thơ có thể có chung một ý tưởng sai lầm rằng làm thơ tự do nghĩa là tự do.  Tự do có nghĩa là không có thể thơ.  Thật ra tự do là một thể, thể thơ tự do.

 

Vâng, cái gì hiện hữu trên cõi đời này cũng có hình thể cả, chỉ có những cái gì không nói ra, không vẽ ra…thì vô hình trung!  Thơ tự do đã được “sáng tác” bởi Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Phạm Công Thiện…từ cuối thập niên 1950 thế kỷ 20 ở Sài Gòn.  Bài nào cũng có hình thể – báo Văn Nghệ Tiền Phong hồi đó hay vẽ cái hũ nút và chua:  thơ Tự Ro.  Chúng ta có thể “tư duy” một đoạn thơ trong bài Ngày Sanh Của Rắn, tác giả là Phạm Công Thiện, nhé:

tôi chấp chới 
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
mặt trời có thai!
sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt 

 

Và đây, trọn vẹn một bài thơ danh giá của thi sĩ nổi tiếng Nguyên Sa:

Nhìn Em, Nhìn Thành Phố, Nhìn Quê Hương

Buổi sáng thức dậy, anh cởi bộ quần áo ban đêm

và cơn ác mộng
em còn ngủ
anh bỗng nhìn thấy em
như mới nhìn thấy em
như trời đất bỗng nhiên mùa xuân
như cánh tay bỗng nhiên rạo rực.

Em ngủ đi
ngủ cho ngoan
thành phố, dưới kia, đã thức giấc
có quan hệ gì
thành phố trống rỗng
thành phố nào đầy chiến xa đại bác
đầy non sắt đầy dây thép đầy mìn chông
mà không trống vắng
đám đông nào buồn bã
mà không cô đơn.

Mặt trời đã mọc
vẫn ở phía đông
nỗi đau xót và tủi nhục
của quê hương
vẫn ở bốn phía
chút nữa thức giấc
em sẽ thấy
tất cả vẫn còn đó
chiếc hẻm đưa tới đường
con đường đưa tới phố
ở đó
dù nắng
dù mưa
nắng như chưa từng có
mưa như chưa từng có
nhơ nhớp vẫn chạy cùng đường
vẫn tanh tưởi
mùi sắt
mùi lừa đảo
mùi xác chết
ở đó
dưới nắng
dưới mưa
em sẽ thấy
anh vẫn đi
vẫn cất lên những lời thô tục
nguyền rủa

Những lời thô tục và nguyền rủa
đập vào mặt cuộc đời
cuộc đời chó đẻ
thế kỷ chó đẻ
chiến tranh chó đẻ
anh đã nói với cuộc đời
theo em có điều gì để nói
có điều gì khác cần nói
nói với ai
nói ở đâu
nói ở phương đông
với loài rắn
nói ở phương tây
với loài quạ
anh đã lên tận miền băng giá
nói với loài gấu mùa đông
chút nữa em nhìn coi
thân hình anh tiều tụy

Đấy là anh đã làm đúng lời em dặn
mỗi ngày
anh mượn của hiệp sĩ thanh gươm
mượn ân sủng của nhà tu hành
mượn của mẹ lòng nhẫn nại
mỗi ngày anh soi gương
những võ khí em cho anh
trên má
trên môi
những hình tượng lạ kỳ
những hình tượng
mang lại sức khỏe vô biên
như tổ tiên anh
xâm hình thủy quái

Đấy là anh đã làm đúng lời thần linh
mỗi đêm trong chiêm bao
anh trở về đó
ai không muốn trở về đó
anh nghe thấy tiếng em hát
cùng với nỉ non của sóng
anh nghe tiếng em cười
với chân bước xôn xao
anh thấy chiếc thuyền đánh cá
có mùi muối mặn
nằm ngủ trong đêm
em nằm trong tay anh
em thấy không
em nhớ không
tiếng em dặn dò
tiếng gió đêm dặn dò
bao giờ trở về quê hương
anh sẽ mua một chiếc thuyền
chở em ra biển đông
và hôn em
cùng với tia mặt trời thứ nhất

Ôi, trái đất có nơi kỳ diệu đó chăng
cao hơn núi cao
sâu hơn biển sâu
lạnh hơn chốn giá băng
nóng hơn vùng nhiệt đới
nơi, lần đầu, nhìn thấy mắt em
cầm được tay em
thở được hơi em
nơi anh tìm ra loài cây kỳ lạ
vừa chạm tới lá
đã rung động tới cành
vừa trở gót ngó lui
quên nhìn hoa
đã mùa đông rã cánh,

Nơi, ngày anh làm thơ
sáng anh làm thơ
chiều anh làm thơ
ban đêm trong chiêm bao
anh thấy những hành tinh
đứng nhìn mắt em
những thảo mộc thơm ngát
đứng nhìn tóc em
những loài thú
run rẩy
lông mượt và dịu hiền
đứng nhìn thân thể em
rồi cám ơn anh
đã làm vinh quang cho vũ trụ

Ngủ đi em
ngủ cho ngoan
cứ ở nơi đó
chút nữa thức giấc
nếu muốn
em sẽ nhìn xuống phố
nhìn anh
đang đi
với những buồn bã
những thô tục và nguyền rủa
có sự thô tục nào không yếu đuối
có sự nguyền rủa nào không đớn đau

Em nhìn coi
mùa xuân đã trôi qua
mùa hạ đã trôi qua
mùa thu đã trôi qua
bây giờ là mùa đông
mùa đông ở trên vai
mùa đông trên thành phố
lá chết ở trên cành
cành chết ở trên cây
cây chết ở trên đường
thành phố
phải thành phố đó
thành phố chiến xa và đại bác
thành phố trống vắng
quê hương trống vắng
con giun xéo đã quằn
anh đi ở đó
mặt trời vẫn mọc ở phương đông
anh vẫn đi ở đó

mà vẫn còn yêu em.

Nguyên Sa

 

*

Bạn “thưởng thức” thơ Phạm Công Thiện rồi, thơ Nguyên Sa rồi, chắc bạn “nhất trí” đó là hai ông Tổ của Thơ Tự Do Việt Nam?  Nếu không là ông Tổ sao hai “quỵ” đó lại được “tấn phong” là Đại Thi Hào?  Hãy tự hào:  đất nước ta, dân tộc ta hơn người ta ở chỗ:  Thơ Tự Do là Thơ Có Hình Thể!

Cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại là một cuốn sách bình thơ rất đáng mong đợi, nó đã ra mắt, sau năm năm ấp ủ có sự chỉ đạo từ hai thi sĩ trong nước là Hoàng Hưng và Ý Nhi.

Trước khi khép lại cuốn sách, tôi cầu Trời khẩn Phật thương nhà thơ Du Tử Lê, phù hộ độ trì cho Du Tử Lê có bệnh hoạn gì cũng qua khỏi, chớ:  Đêm về theo vết xe lăn, tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên, vàng thì thương quá!

Thơ Việt Nam phải vạm vỡ, phải uy nghi, phải đi tới…tới chỗ đoạt quyền của đấng Tạo Hóa, cướp lấy Thời Gian, nói rỗn rảng um sùm như thi sĩ Trần Trung Đạo:  Ví mà tôi đổi thời gian được, đổi cả Thiên Thu tiếng Mẹ cười!  Ngon nha!  Tôi xưa nay chỉ nghe nói Đấng Tạo Hóa là người “sáng tạo” ra Vũ Trụ bao gồm Trái Đất, Chúng Sinh Muôn Loài, Không Gian, Thời Gian, nay có thi sĩ Trần Trung Đạo đại gia hơn Tạo Hóa, còn chi mà không mừng?  Ôi Thời Gian và đồng Dollar khi không mà cùng chung lò đúc tiền!

Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng, tác giả cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại và tác phẩm đó, xứng đáng với lòng chờ mong của những người yêu Thơ, đón tiếp tác giả và tác phẩm trong ngày ra mắt Thơ long trọng.   Nhưng tôi dám đoan chắc:  Khi nào nước Việt Nam không Có Thơ nữa, khi nào dân tộc Việt Nam không thấy Thơ nữa…thì lúc đó giang sơn mới thật là giang sơn cẩm tú vậy!

Mà…bao giờ?  Biết có bao giờ?  Cho nên chúng ta hãy cứ chào đón cuốn Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại của Bác Sĩ Nguyễn Đức Tùng với lòng biết ơn…rộng rãi!  Đừng làm như Tố Hữu:  “Tôi giẫm giày đinh trên phố Huế, lòng dửng dưng không chút cảm tình chi!”.

Trần Trung Tá

Đừng bao giờ là tôi!

 

“ Con thú ăn thịt đồng loại rồi đi ngủ.
Con người làm trái rồi ăn năn. ”

Francois- Réne de Chateaubrian

Tôi nói với con gái:

– Con cho ba ghé chỗ bác Trung vé số nghe. Ba ngồi chơi với Bác, khi nào ba gọi thì ra chở ba về.

Đứa con gài tấp xe vào quán cà phê Tùng, nơi có quầy vé số của anh Trung. Từ ngày vào Sài gòn định cư, tôi thường hay nhờ con chở đến chỗ anh Trung, Tôi quen biết anh ban đầu là một hai lần mua vé số, thấy anh cởi mỡ, tôi thường ghé chơi, có khi mua vài tấm vé, có khi không… chuyện trò cùng anh là chính.

Sáng nay, đi cắt tóc về, tôi nhờ con chở thẳng đến anh Trung ngồi chơi.

Vừa thấy tôi, anh đã đưa tay vẩy chào, miệng hô to vào quán:

– Hai ly cà phê cho hai thằng già này nghe cháu!

Cô bé bàn quán ngững mặt nhìn rồi gật đầu chào tôi, cũng là tỏ cho anh Trung biết là đã nghe thấy, cô bé đi vào quầy…Anh kéo cho tôi cái ghế có chỗ tựa lưng rồi ngồi xuống dán mắt vào tờ báo cũ.

– Có tin gì mới và gay cấn lắm ha anh Trung?

– Không, báo từ đời nao rồi, nhưng có cái này hay hay, chú đợi chút tôi đưa chú xem…

Tôi ngồi xuống ghế, nghiêng người bỏ cặp nạng tựa vào gốc cây, châm điếu thuốc rồi nhìn vu vơ ra đường trong khi anh Trung vẫn chăm chú với tờ bào.

Tôi thích chuyện trò với anh vì anh là người có tâm có tình, ngồi bán vé số, anh gặp nhiều người và biết được nhiều chuyện đời khá thú vị. lại nữa, những hiểu biết của anh rất phù hợp với tôi, tính ra anh chỉ hơn tôi bốn tuổi, học trước tôi vài năm, ngày tôi học lớp 11, thì anh rớt tú tài II, dăng linh, khóa 4 năm 1971 trường Bộ Binh Thủ Đức. Anh không xuất cảnh được vì chỉ cải tạo hai năm, hai lần trọng cấm trong ba năm lính, đến ngày 30/4/75 anh trình diện với cấp bậc thiếu úy ĐPQ. Nghĩa là ra trường chuẩn úy, 18 tháng sau, anh lên Thiếu úy đúng như quy đinh, rồi nằm đó cho đến khi đi cải tao! Bạn bè cùng khóa anh ra tác chiến, phần nhiều lên Trung úy, có người cố Đại úy và cải tạo trên ba năm nên giờ ở hải ngoại rất đông. Lâu lâu anh có tí quà từ bạn bè, bao giờ anh cũng kéo tôi đi làm vài lon đưa  cay với dĩa mồi to tướng.

Nhiều người biết anh là sĩ quan, không được xuất cảnh, khơi lại chuyện cũ, anh cười nói:

– Con người có số cả rồi, xuất ngoại cũng phải có số xuất ngoại chứ.

Hồi mãn khóa, anh nắm trong số tốt nghiệp từ 1 đến 10, được chọn đơn vị, vì có mẹ già nên anh chọn Tiểu khu Biên Hòa, ĐPQ.

Chiến sự năm 1972 rất căng thẳng, bạn bè phần nhiều chọn Dù hoặc Biệt Động Quân.

Khi biết anh về Tiểu Khu, bạn bè đùa, ném cho anh những chiếc mũ đen :

– Cho mày, về “ Rùa” đội, tụi tao có nón khác!

Nóng máu, anh muốn chọn Dù cùng các bạn ra tái chiếm Cổ Thành…nhưng Mẹ và chị anh khóc lóc, không cho.

Khi anh chưa hết phép mãn khóa, bốn thằng bạn cùng Đại Đội anh về Dù, đã nằm xuống nơi ấy. Số còn lại, bây giờ đang ở Mỹ, những lần về Việt Nam, gặp lại nhau, khi tuổi đời đã gần thất thập, ôn chuyện quân trường, chuyện lính tráng sinh tử cận kề, ai cũng cho là mỗi người có một số mệnh riêng…Ngồi bán vé số bên đường như anh Trung chưa chắc đã khổ, sung túc ở hải ngoại làm kiếp lưu dân chưa chắc đã là hạnh phúc…

Chưa cầm súng ngày nào nhưng lại sống trong thời đất nước loạn lạc, bạn bè tôi cũng nhiều người nằm xuống trên chiến trường, nên tối rất đồng cảm với những chuyện anh Trung kể.

oOo

Khi cô bé mang cà phê ra cũng là lúc anh Trung rời mắt khỏi tờ báo:

– Không biết chú có khi nào gặp tâm trạng này chưa?! Đọc đoạn này này…

Tôi nhận tờ báo từ tay anh.

“…Bây giờ, việc thi hành án cho một tử tù bằng hình thức tiêm thuốc độc vô cùng rắc rối. Nếu phạm nhân nằm ở trại giam đã xây dựng “phòng” tiêm thuốc độc thì còn đơn giản, nhưng nếu ở các tỉnh xa thì không đùa được. Cả một đoàn người trong ban tổ chức thi hành án gồm hàng chục cán bộ của công an, tòa án, viện kiểm sát, cảnh sát bảo vệ, pháp y. Cảnh sát dẫn giải phạm nhân phải đi từ nửa đêm gà gáy, vượt quãng đường có khi hàng trăm cây số để đến trung tâm thì mệt mỏi đến mức thế nào.

Nhưng rắc rối nhất, khó khăn nhất lại chưa phải là chuyện đó, mà là từ việc “ai sẽ là người lấy ven, chọc kim vào tay tử tù?”.

Thế mới có chuyện rằng, để một bác sĩ lấy ven tử tù, người ta đã phải làm một văn bản gần như đánh lừa người bác sĩ đó với một cụm từ hết sức mơ hồ là “hỗ trợ”. Tất nhiên, sau lần ấy thì chắc chắn người bác sĩ này sẽ không bao giờ tham gia nữa.

Rồi lại có chuyện ở đơn vị công an nọ, tìm mãi không ra người lấy ven, tiêm thuốc cho tử tù. Cuối cùng, họ tuyển một cô mới học Trung cấp Y kèm theo lời hứa, nếu chịu làm công việc ấy thì cho vào biên chế để cô gái nhận lời. Không hiểu rồi cô gái ấy sẽ làm được công việc này trong bao lâu?

“…Có anh lính mới, láu cá lắm, phải làm nhiệm vụ, anh ta sợ ám ảnh nên cố tình không bắn vào tim tử tù (vị trí có dán cái băng dính để làm “cọc tiêu”), mà anh ta bắn vào chân tay họ, rồi tự nhủ “mình không hề giết người”…

Tôi trả tờ báo:

– Có gì đâu anh?

– Nỗi ám ảnh, lòng hối hận! Không biết bây giờ thế nào. Tôi nghe nói, ngày trước, tiểu dội hành quyết có 12 người, mỗi cây súng chỉ có một viên đạn, lấy từ 12 viên đạn trước mặt, trong 12 viên dạn đó có một viên đạn giả, không gây chết người, vậy là mỗi người trong đội hành quyết ai cũng hy vọng là mình đã chọn đúng và đã bắn viên đạn ấy, yên tâm mình không giết người, không đem cài chết đến cho tử tủ. Trong chiến tranh, giữa trận mạc, bắn búa xua chẳng chủ tâm trúng ai, có khi nhiều người chết vì đạn của mình nhưng mình không hề biết và không ray rứt, nhưng khi dối phương vô tư trong tầm đạn, nâng súng lên ta không dám bắn, không phải vì ta hèn, mà vì ta sợ chính lương tâm mình! Tôi cũng đã có lần như thế !

– Anh kể đi.

– Ừ. Anh Trung nhấp ngụm cà phê, chậm rải: Hồi đó, đang có hiệp định ngưng bắn, tôi đóng quân ở Hố Đá, Biên Hòa. Trung đội tôi nằm bên con suối, án ngữ con đường vào làng. Tiếng thì ngưng bắn nhưng bên kia cứ thấy bên này sơ hở là tấn công, cắm cờ dành đất, vì thế nên luôn luôn phải đặt trong tình trạng báo động, căng thẳng hơn cà lúc không ngưng bắn. Để giữ đất, nên trung đội tôi chia mỏng thành 3 toán. Mỗi toán một tiểu đội trừ! Chiều hôm đó, sau cơm tối xong, tôi ngồi với trung sĩ trung đội phó, bên máy truyền tin. Bất chợt, tôi thấy một chú vi xi trẻ măng, quàng một lá cờ Xanh đỏ quanh cổ đi ngang trước mặt, cách chừng 15 mét, tôi với tay cầm cây M 16 lên, với tầm này thì không cần nhắm nhiếc gì, bóp nguyên băng là nó tiêu. Tay trung sĩ đưa tay ấn nhè nhẹ mũi súng chúc xuống, tôi nhìn hắn, hắn đưa ngón tay lên miệng ra dấu im lặng. Khi tên vi xi khất xa về phía làng, tôi hỏi:

– Sao vậy?

– Thứ nhất là sai chiến thuật, biết đâu đây là thằng cảnh giới đi trước, đàng sau là cả trung đôi, đại đội. Thứ hai là ông liệu có quên được hình ảnh nó chết trước mắt bởi loạt đạn của chính ông trong khi lệnh ngưng bắn vẫn còn hiệu lực không?!

– Khoảng một giờ sau, khi tay trung sĩ xuống suối pha ca phê, tôi đang ngồi nhìn về hướng Biên Hòa thì chính thằng vi xi trẻ kia quay lại, lần này thí hí hửng lơn tơn, là cờ vẫn còn quấn ngang cổ, trên lưng đeo ba lô, trên ba lô còn có mấy đòn bánh tét. Tôi nâng súng lên, hướng về phía cậu ta,  bụng nhủ thầm: “ Hai lần rồi nghe nhóc con, mày mà cắm là cờ trong làng là mai bỏ mẹ tao!”

Đêm đó yên lành và cả ngày mai cũng không có rắc rối nào, tôi nhẹ người! Có nhiều khi ta thở phào như vậy lắm trong đời.  Nhiều năm sau này, tôi cũng một lần nữa thở phào, cảm ơn trên đã không đễ tôi sai phạm…

Tôi nhìn anh hỏi:

– Sao anh ?

Anh Trung lại nhấp ngụm cà phê, tay sửa mấy xấp vé ngay ngắn dưới mấy hàng dây thun…

– Dạo đó, vào những năm 79-80, đói kém lắm, Tôi xót xa đến đứt ruột mỗi khi nhìn đứa con gái tôi nổi ghẻ chốc đầy người vì ăn không có chất, vợ tôi xanh xao, môi thì lỡ loét, rát đau mỗi lần đưa thức ăn vào miệng hay uống nước! Tôi xin vào làm bốc vác cho một nông trường cao su ở Đồng Nai mong kiếm tí tiêu chuẩn Gạo, mắm muối…cải thiên cuộc sống! Tay kế toán công ty, biết tôi là sĩ quan cải tạo về, cho tôi lên phụ cho một cô kế toán Đội. Thằng này ăn bẩn khủng khiếp, Công nhân than trời than đất nhưng hắn vẫn thản nhiên tại chức, Giám đốc cũng ghét hắn nhưng không dám đụng vì hắn là em ruột của tổng giám đốc cao su miền Nam. Hắn hài lòng tôi vì tôi chăm chỉ, từ ngày có tôi, sổ sách ít sai, cô kế toán là bồ của hằn nên hằn quan tâm hơi nhiều…Một buổi chiều, hắn gọi điện tới bảo tôi tối chuẩn bị sẵn, sau cơm tối, hắn sẽ đến đón đi chơi…còn dặn: “ Bí mật nhé”. Tối đến hắn chạy chiếc xe Vespa mới cứng đến chở tôi đi. Chiếc xe này hắn mua lại của một Linh mục trong vùng. Chiếc xe được đem từ Ý về hôi ông ấy đi học bên đó,  Ông Cha nhận giáo xứ xong thì 75 ập đến, nó được đắp chiếu từ khi về đến nay vì không có xăng…Tôi không biết hắn đi đâu mà lại chạy vong vèo trong các lô cao su vắng vẻ. Gần một giờ sau mới tới nơi, đó là căn nhà to như biệt thự, cũng nắm trong lô cao su. Hắn đi đánh bạc với những tay đồng liêu, có lẽ cũng là những tên hạm như hắn. Tôi được hắn chỉ vào nằm trên chiếc võng của trạm bảo vệ. hắn dựng xe ở đó rồi vào trong nhà. Tôi nằm trên võng,  lạnh và muỗi không ngủ được. Thì ra hắn đem tôi đi theo vì đoạn đường dái và vắng, hắn sợ cướp, có tôi ngồi sau xe hắn yên tâm hơn. Tôi kéo cao cài mủ của chiếc áo khoác, kéo sợi dây buộc trùm mật cho đỡ muỗi. Gần sáng, hắn đi ra với cái túi xách căng, chật cứng tiền, hắn thắng bạc vơ sạch sòng đêm đó.

Kể đến đây anh Trung ngừng lại nhấp một ngụm cà phê, nhấp thêm ngụm nữa. Hỏi tôi:

– Chú hồi trước có hay đọc truyện trinh thám không?

– Có, Thích lắm anh.

– Chú có khi nào đọc cách giết người không bằng dao, bằng súng mà bằng dây cước hay dây dù không?

– Có nhiều…mà sao anh?

Anh kể tiếp:

– Ngồi sau lưng tay kế toán gian ác, tôi nảy ra ý định giết hắn đễ cướp cái túi tiền. Tôi rút cái dây nơi áo khoác một cách nhẹ nhàng, vo lại, cầm trong tay. Trong khi đó hắn vô tư chở tôi đi vòng vèo trong đường cao su vắng, lạnh và tối. Ánh đèn pha của xe Vespa rất sáng, rọi khá xa… nên hắn có lẽ cũng bớt sợ. Tim tôi thì đập thình thịch liên hồi, muốn ngộp thở. Khi hắn dừng xe trước phòng kế toán đội cho tôi xuống, tôi thở phào bắt tay hắn rồi đi nhanh vào chiếc giường của tôi nơi cuối phòng, nằm vật xuống. Ban đầu tôi trách mình nhát, bỏ qua một cơ hội có thể đổi đởi, hay ít ra cũng có một cuộc sống khá hơn, hết đói khát… nơi một tỉnh nào đò ở miền Tây xa xôi…Tôi thiếp đi trong chập chờn những mưu toan, sáng ra tỉnh dậy, tôi nằm im và ý thức là vẫn không có chuyện gì, nỗi sợ qua đi, tôi thở phào nhẹ người vì đã không có chuyện gì!!!

Tôi nhìn anh cười cười, nói:

– Sao không tận dụng cơ hội loại bỏ một con sâu?!

– Sâu sia gì, những tử tù cũng đều là những tên gian ác, đáng tội chết tòa mới kêu án tử. nhưng nó chết vì ai đó, sao đó… chứ không phải là mình. Còn nếu là mình thì không tránh được ray rứt trong tâm trí! Chú không đọc đoạn bài báo nói không ai dám nhận công việc tìm tỉnh mạch đễ chích mũi thuốc độc vào tay kẻ lãnh án  tử à?

Tôi nhìn bâng quơ ra đường rồi nhìn lại anh Trung…Lâu sau mới trả lời anh:

– Có !

Sài gòn, 17 tháng VIII năm 2917.

Trạch An-Trần Hữu Hội

Bạch Cung Bát Nháo

 

Sáu tháng đầu chấp chánh của TT Trump quả là 6 tháng rối loạn chính trị chưa từng thấy trong lịch sử 300 năm văn hiến Cờ Hoa. Chưa nói tới màn đảng DC và TTDC bề hội đồng tổng thống, chỉ trong nội bộ phe TT Trump thôi cũng thấy chóng mặt. Nhóm phụ tá cao cấp nhất từ Bạch Cung đến các bộ, đi ra đi vào như mấy bà đi thử quần áo. Bộ áo nào mới mặc vào cũng thấy đẹp, được ca ngợi, nhưng hai phút sau đã đổi bộ mới, còn cảm thấy thích hơn nữa.

Trong bài “Bầu Hay Không Bầu Cho Trump?” viết một tuần trước ngày bầu cử, 30/10/2016, kẻ này đã nêu rõ điểm yếu lớn của ông Trump như sau:

“… Điều hành một công ty kinh doanh do một mình mình sở hữu, phục vụ cho quyền lợi của mình, khác xa quản trị cả nước của tất cả thiên hạ, với hàng hà sa số quyền lợi khác biệt. Ông Trump sẽ không có khả năng cân nhắc, đáp ứng hay dung hòa những quyền lợi trái ngược này của các khối quần chúng. Ông Trump không hiểu gì về dân chủ, chưa hề được bầu vào một chức vụ nào, mà chỉ làm tổng giám đốc những công ty do ông sở hữu, với quyền sinh sát tuyệt đối, không quen với hình thức lãnh đạo dân chủ tập thể, chung quanh toàn là đám con cái và người làm mà ông toàn quyền sa thải bất cứ lúc nào vì bất cứ lý do nào;…”

Có thể nói TT Trump lần đầu tiên lái xe hơi, chưa chi đã nhấn ga, phóng bạt mạng, đâm hết gốc cây này đến cột đèn nọ. Nhưng không phải chỉ bây giờ mới vậy, mà ngay từ những ngày đầu tranh cử, ông cũng đã đâm đụng te tua như vậy rồi.

Cái điều quái lạ nhất về ông thần này là cái kiểu đâm đụng này, bất cứ người nào khác đều sẽ tiêu đời, không chết cũng… bại tướng cụt chân, nhưng ông Trump thì lại chẳng sao. Lui khui chui ra khỏi xe, lái tiếp, đụng tiếp, cứ vậy từ hơn cả năm nay. Những người thù ghét ông Trump, cả chục lần khui rượu ăn mừng đều hố, chỉ tổ tốn tiền rượu. Bằng chứng lớn nhất? Hãy nhìn vào kết quả bầu cử ngày 8/11/2016 đi.

Những vị này, trong thâm tâm thù ghét ông Trump tận xương tủy, mỗi lần thấy tin xấu về ông này là mừng như thể dò sổ xố thấy mình trúng được năm số đầu, nhẩy tưng tưng, cho đến khi coi lại số chót trật bét, tiu ngiủ, buồn năm phút lại. Chờ kỳ sổ xố tới để hy vọng tiếp.

Nhìn vào 6 tháng qua, những nhận định gần một năm trước của kẻ này đúng còn hơn Sấm Trạng Trình. Kẻ này cũng phải “thành thật khai báo”, chẳng phải nhờ thi đậu trạng nguyên gì đâu, mà trái lại, những điểm yếu của ông Trump chẳng có gì là bí mật hết ráo. Tất cả các chuyên gia, bình loạn gia, tiên tri gia, đoán mò gia đều đã thấy rõ từ lâu rồi. Bất kể thích hay ghét ông Trump.

Trong tất cả các chính khách của cả hai đảng, từ xưa đến nay, phải nói là chưa ai trong suốt như thủy tinh, bị nhìn thấu rõ mồn một như ông Trump. Mỹ gọi là “WYSIWYG”, tức là “What You See Is What You Get”. Nôm na ra là… quý vị nhìn thấy cái gì thì đúng là nó đấy! Không có cái gì giả tạo, hỏa mù, miệng lưỡi, mặt nạ,…

Nếu quý vị quên rồi, thì kẻ này xin nhắc lại: đó là lý do chính khiến dân Mỹ bỏ phiếu cho ông Trump thay vì cho bà Hillary. Họ có thể liều mạng bỏ phiếu cho ông thần Trump, chứ không thể nào giao phó mạng cùi cho bà Hillary được. Ông Trump có thể thiếu kinh nghiệm, làm việc cực luộm thuộm, sẽ vấp ngã tứ tung, nhưng ít ra, cử tri tin ông được, biết rõ ông muốn làm gì, đi về hướng nào, cho dù chẳng ai biết ông sẽ làm kiểu gì cụ thể và thành công tới đâu. Còn hơn là bầu cho một bà Hillary sáng nói vầy, tối nói khác, gặp đại gia Wall Street thì lo tạ ơn sau khi bỏ túi bạc triệu, gặp cử tri nghèo thì sỉ vả đảng cướp tài phiệt.

Không ai chối cãi 6 tháng qua là 6 tháng mưa to gió lớn. Nhưng nhìn kỹ lại, có phải là loại giông bão lớn có thể đánh chìm con tàu Trump không? Ta coi lại thử.

Ngay từ những ngày đầu tranh cử, TTDC đã thổi phồng cả trăm chuyện, ai cũng đều biết, khỏi cần nhắc lại. Chỉ biết theo như phán quyết của TTDC, dường như cơn bão nào cũng sẽ chôn vùi tên tuổi, nếu không muốn nói đến thân xác bất cứ ứng viên nào khác. Riêng với ông Trump, bất kể tất cả những cơn bão cuối cùng, giọt nước làm tràn ly trên, ông vẫn đắc cử tổng thống. Rồi sau khi đắc cử, lại hàng loạt “cơn bão cuối cùng tiêu diệt đời Trump” khác xếp hàng tiến tới.

Bỏ qua những chuyện biểu tình đốt phá, “Not My President”,… là những hành động chống phá từ phiá đối lập, đang cố tìm phao để khỏi chết chìm, khỏi cần bàn, ta xem lại những cái mà TTDC gọi là đại họa do chính ông Trump tạo ra.

Nào là tweet nhảm nhí toàn chuyện lắt nhắt, cãi nhau tay đôi với các nhà báo, bị ám ảnh bởi máu me phụ nữ, đe dọa tính mạng nhà báo, thiếu tư cách,… Nhưng tất cả đều như bọt biển, xùi lên rồi tan ngay.

TTDC và phe DC ý thức được cái cây cổ thụ Trump này khó đánh ngã thật, mấy cơn bão trong bình trà này chẳng làm tróc một mảnh da nào. Phải khuấy động những cơn bão lớn mới hy vọng.

Quay qua quậy cơn gió… Nga La Tư.

Cấu kết với Putin. Nga giúp kiểu này cách nọ. Nay phụ tá này gặp đại sứ Nga, mai cố vấn kia nói chuyện với luật sư Nga, mốt chính tổng thống xì tin bí mật an ninh quốc gia cho ngoại trưởng Nga. Hàng ngàn tin lớn nhỏ được đám quan chức Obama nằm vùng xì ra, bất kể quyền lợi đất nước. Chẳng ai thắc mắc lo kiểm chứng, cứ có là tung ra ngay. Không ai phủ nhận được thì quá tốt, hy vọng sẽ chấm dứt chế độ Trump. Lỡ có tin nào bị vạch trần là tin vịt thì có sao đâu, xin lỗi một tiếng là xong, đi lùng tin vịt khác. Cứ điều chi vài ngày lại một fake news rồi xin lỗi. CNN xin lỗi vài ba lần. ABC xin lỗi. CBS xin lỗi. MSNBC xin lỗi. New York Times xin lỗi. Hết nhà báo này đến ký giả nọ xin lỗi. Hết dân biểu này đến nghị sĩ nọ xin lỗi.

Hấp tấp lo chửi ngay khi vừa ba chớp ba nháng thấy có chuyện có thể chửi, đó là mô thức hành động mới của TTDC.

Như cột báo này đã viết, tung tin phịa, hay chuyện bé xé ra to, để có dịp sỉ vả Trump cho đỡ ấm ức, rồi xin lỗi, đó là cái mánh mới của phe chống Trump. Có sao đâu, dù gì thì những tin xấu đã được thiên hạ đọc rồi, in vào đầu họ rồi. Ba cái xin lỗi, chẳng ai đọc, có đọc cũng chẳng để ý.

Ít ra thì mấy ông bà Mỹ còn xin lỗi, chứ mấy ông bà tỵ nạn, có loan tin phiạ bị lộ thì cũng xù, chứ chưa thấy vị nào xin lỗi hết. Cái bệnh không biết “cám ơn” hay “xin lỗi” mà thiên hạ chửi VC, hình như cũng đã lan qua Mỹ rồi.

Chuyện con ma Nga thì nói mãi phát nhàm, có bấy nhiêu bàn đi tán lại giống như nhai cục kẹo cao su đã hết vị ngọt từ ba hôm trước rồi. Lâu lâu có tin mới thì mừng rêm. Tin ông Mueller thành lập bồi thẩm đoàn được tung ra như ngày mai ông Trump sẽ vác chiếu hầu tòa, tuần tới sẽ bị nhốt tại Guantanamo vậy. Làm kẻ này nhớ lại một bài du ca trước 75: “Hy vọng đã vươn lên…”!

Cái may mắn lớn cho “phe ta” là chính ông thần Trump là người có cái bệnh khá độc đáo, chuyên tạo ra chuyện để phe đối lập có dịp đánh mình chơi. Mỹ gọi là bệnh … ma-sô-xít! Chuyện ma Nga vừa lắng dịu được vài tiếng đồng hồ thì TT Trump đã cảm thấy buồn chán quá, bèn chế ra chuyện cho TTDC đánh chơi: đánh bài ba lá với đám phụ tá: nay ông này biến, mai ông nọ hiện, đố biết ông nào là ai, đang ở đâu, làm gì?

Ông xếp thông tin nhẩy vào, ông phát ngôn viên ra đi, ông chánh văn phòng nhẩy vô, ông thông tin nhẩy ra. Dường như màn ảo thuật ẩn hiện này chỉ mới bắt đầu và trong những ngày tới, sẽ còn nhiều đào kép hiện rồi biến.

Cái ông xếp thông tin Scaramucci mới là lạ.

Trước đây, người ta nghe tên ông Scaramucci qua một tin chấn động do CNN chế ra. Theo CNN, ông bạn thân này của TT Trump là tay trong, liên lạc viên giữa Trump và Putin, để khuynh đảo bầu cử. CNN được tin mật này ra, mừng như đã dò vé số trúng đủ sáu số, tung ra ngay. Một ngày hôm sau, khám phá ra là fake news do một anh ma gà nào đó đút cho ăn, không bằng chứng gì. Anh Scaramucci là chỗ quen biết lâu năm của TT Trump thật, nhưng chẳng có liên hệ gì đến Nga, mà lại còn là đảng viên đảng DC, trước đây ủng hộ bà Hillary, đã từng tweet nhục mạ ông Trump ngay từ những ngày đầu. Rốt cuộc phải thu hồi tin lại, xin lỗi độc giả, sa thải 3 anh nhà báo làm chốt thí. Thiên hạ chẳng ai biết anh Scaramucci là ai, cũng chẳng để ý. Đi vào quên lãng.

Bất ngờ, TT Trump loan tin bổ nhiệm đúng anh này làm giám đốc thông tin, Director of Communications. Anh này nhẩy ngay lên mặt báo và TV với thái độ hung hãn hơn bọ xít, chửi bới tất cả mọi phụ tá, cố vấn của TT Trump, bằng ngôn ngữ mà mấy thằng nhóc đánh giầy ở Hà Nội chưa dám sử dụng. Hăm doạ sa thải tất cả nhân viên Toà Bạch Ốc ngoại trừ… TT Trump!

Chẳng ai hiểu tại sao TT Trump lại chọn anh này làm xếp thông tin. Ma-sô-xít?

Tay này đi quá xa, TT Trump phải ra lệnh lính mũ xanh đổ bộ sông Potomac, quét dọn Hoa Thịnh Đốn. Tướng TQLC John Kelly đang làm giám đốc An Ninh Lãnh Thổ được chuyển qua làm Chánh Văn Phòng. Một ngày trước khi nhận chức, ông ra điều kiện với TT Trump: sa thải ngay cái anh điên Scaramucci. Anh điên làm giám đốc đúng 250 tiếng đồng hồ.

Rồi TT Trump lấy lý do đi nghỉ hè 17 ngày, tránh qua một bên cho ông tướng mới ra tay quét dọn, cùng lúc với bộ trưởng Tư Pháp Sessions được trao toàn quyền truy lùng địch nằm vùng đang xì tin mật. Ta chờ xem kết quả ra sao.

“Phe ta” thấy tình trạng loạn xà ngầu, nhẩy tưng tưng: phen này thì TT Trump mất job là cái chắc. Khiến kẻ này thắc mắc: Ủa, sao vậy? Tưởng tổng thống chỉ có thể mất job nếu phạm tội phản quốc tầy trời nào đó, phải qua thủ tục đàn hặc cực kỳ rắc rối. Chứ đâu biết bây giờ, TT Trump cũng có thể mất job vì đổi phụ tá? Vẫn chuyện bọt biển?

Thật ra, chẳng có chuyện TT Trump mất job gì ráo. Xin lỗi quý vị thù ghét Trump một cách mù quáng, nhưng sự thật cho đến nay chưa ai thấy có lý do nào TT Trump có thể bị lột chức hay bị áp lực phải tự ý từ chức hết. Lý cớ duy nhất có thể đưa đến đàn hặc mất job là việc cấu kết với Nga, nhưng cho đến nay, cuộc điều tra vẫn chưa ai biết đi đến đâu. Theo ý kiến cá nhân của kẻ mù mờ này, cuộc điều tra cuối cùng sẽ chẳng đụng gì đến TT Trump, tuy có nhiều triển vọng tìm ra được vài con nhạn trong đám phụ tá làm vật tế thần cho phe cấp tiến.

Nhìn lại toàn bộ thành tích của TT Trump trong nửa năm đầu, khó ai có thể chối cãi tình trạng bát nháo do quá nhiều khó khăn. Tất cả thăm dò dư luận đều cho thấy hậu thuẫn của TT Trump đang rớt như sung rụng. Cũng đáng lo cho TT Trump, dù biết rằng nếu các thăm dò là chính xác thì giờ này bà Hillary đang làm tổng thống chứ không phải ông Trump.

Một số lớn khó khăn do địch tạo ra, tức là do TTDC và đảng DC chế ra để đánh phá và cản trở việc thông qua các cải tổ mới. Những khó khăn này sẽ cản trở bước tiến của chính quyền Trump không ít, nhưng đó là chuyện đấu tranh chính trị bình thường, chẳng có lý do gì để đi đến chuyện đàn hặc hay từ chức. Người ta còn nhớ TT Obama sau khi ra được Obamacare, bị chống đối mạnh, mất cả Hạ Viện lẫn Thường Viện, để rồi 6 năm sau đó, chẳng ra được bất cứ luật lớn nào, chỉ ngồi chơi xơi nước cho đến hết nhiệm kỳ.

Một số khó khăn khác lại do chính TT Trump tạo ra. Điển hình là những tweet tranh cãi với TTDC hay những thay đổi nhân sự trong chính quyền. Hậu quả của thiếu kinh nghiệm cũng như cái… khẩu nghiệp nói nhảm, coi trời bằng vung của TT Trump, và nhất là việc hầu hết nội các và phụ tá của TT Trump đều là những người ông mới biết, mới làm việc chung sau này, không phải tâm phúc lâu năm, nên chuyện không hợp, phải thay đổi chỉ là dĩ nhiên. Nhưng tất cả những chuyện đó chỉ là những luộm thuộm kỹ thuật, chẳng ai có thể nói đó là những tội đầy đình phải bị đàn hặc hay ép ông từ chức.

Mọi lao xao đều chỉ là “diện”, không phải “điểm” của vấn đề.

Quan trọng là những vấn đề lớn của đất nước mà ứng viên Trump đã hứa và người dân đang mong chờ. Nói trắng ra là các vấn đề Obamacare, thuế má, công ăn việc làm, nan đề di dân lậu, và nhất là gia tài Nhà Nước vú em Obama.

Phần lớn, TT Trump chưa có thời giờ hay cơ hội làm gì nhiều. Ta cứ chờ đó trước khi lạm bàn. Ta thử nhìn qua vài việc đã làm.

Obamacare đang là cái nhức đầu lớn của TT Trump. Dĩ nhiên tất cả phe DC không chừa một người, đã quyết tâm chống mọi ý kiến phe CH đưa ra. Cái khó khăn là trong chính hàng ngũ CH đã không tìm ra được một đồng thuận tối thiểu nào. Mỗi lần biểu quyết một giải pháp là lại có vài ba nghị sĩ chống đối vì nhu cầu bảo vệ ghế của mình, hay vì lý do riêng nào khác. Dù sao thì cuộc chiến Obamacare vẫn đang tiếp diễn, chưa kết thúc.

Công ăn việc làm chính là thành quả lớn nhất của chính quyền Trump mà TTDC đã cố tình khỏa lấp, dấu kín như bưng, không bàn tới.

Hàng loạt các đại công ty Mỹ cũng như ngoại quốc đã vẽ lại kế hoạch đầu tư lâu dài, bỏ bạc tỷ vào kinh tế Mỹ lại, như GM, Apple, WalMart, Amazon, Toyota, Mazda,… sẽ tạo cả triệu job cho lao động Mỹ. Các mỏ than vùng kỹ nghệ Đại Hồ bắt đầu sống lại, mang công ăn việc làm cho hàng vạn gia đình. Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục giảm mạnh. Một nhà báo ước tính hơn một triệu jobs đã được tạo ra dưới nửa năm của TT Trump.

Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa của Mỹ sống lại nhờ hàng ngàn luật lệ lắt nhắt thời Obama bị chính quyền Trump lẳng lặng thu hồi. Những ai không tin chỉ cần nhìn vào chỉ số chứng khoán Dow Jones, tăng 20% trong nửa năm, thể hiện niềm tin vào chính sách kinh tế mới.

Nhưng quan trọng hơn cả là những việc làm lặng lẽ đằng sau những ồn ào của những đấu đá với TTDC, những việc mà báo cấp tiến The Atlantic hoảng sợ đang cố rung chuông báo động, nhưng ít người biết vì TTDC dấu nhẹm:

– Hàng trăm quan tòa liên bang khuynh hướng bảo thủ đang và tiếp tục được âm thầm bổ nhiệm với nhiệm kỳ vĩnh viễn, nghiã là ít nhất 20-30 năm vì phần lớn các quan tòa TT Trump bổ nhiệm đều trẻ, trên dưới 50 tuổi. Chưa kể việc TT Trump có triển vọng bổ nhiệm 2 hay 3 thẩm phán Tối Cao Pháp Viện. Thay đổi vĩnh viễn hướng đi của Tư Pháp Mỹ về hướng bảo thủ. Một đại họa cho khối cấp tiến. Đây là lý do chính khiến TT Trump không sa thải ông Sessions cho dù bực mình về chuyện điều tra Nga.

– Luật gia cư, trợ cấp an sinh, phiếu thực phẩm, tiền thất nghiệp,… đang được sửa đổi mạnh để chặn đứng những gian trá, lạm dụng, tiết kiệm bạc tỷ tiền thuế của dân trung lưu. Những vị nào khai man thuế, có nhà cho thuê trong khi lãnh medicaid,… nên cẩn thận những ngày tới, đừng đùa với lửa Trump rồi than oan.

– Dù luật di trú mới chưa có, nhưng di dân lậu đã nhận được thông điệp rõ rệt của chính quyền mới. Số di dân tràn lậu qua tự động giảm gần hai phần ba. Bức tường chưa xây nhưng coi như đã có rồi. Hình như binh thư Tôn Tử đã nói chưa ra quân mà đã thắng thì mới đúng là thắng lớn nhất.

– Theo thống kê chính thức, chính quyền Trump đã thu hồi hay sửa đổi gần 400 luật lệ và thủ tục hành chánh của thời Obama, nhất là liên quan đến giới kinh doanh nhỏ.

– Luật bình đảng màu da trong các đại học đang được cứu xét lại, dựa trên vụ các sinh viên gốc Á Châu đang kiện Harvard vì đã nhận sinh viên da đen dù điểm đậu thấp hơn sinh viên Á Châu, trong đó có sinh viên gốc Việt. Các cụ tỵ nạn có con cháu đang xin vào đại học Mỹ nên uốn lưỡi bẩy lần trước khi chửi Trump kỳ thị nhé.

Ông bác sĩ Ben Carson, bộ trưởng Gia Cư đã cười lớn: “tôi rất mừng TT Trump đã lãnh đủ mọi đòn ồn ào để tôi có thể lẳng lặng lo việc của tôi”.

Nói chung, gia tài cấp tiến của TT Obama đang bị xóa hết. Đó chính là thành quả lớn nhất và lâu dài nhất của TT Trump. Chỉ việc này không cũng đủ làm khối bảo thủ vui vẻ sổ chấp việc TTDC cuồng điên chống Trump. Những người thù ghét Trump dường như vẫn không thể ra khỏi cái bong bóng cấp tiến -liberal bubble- hoàn toàn cô lập không nhìn thấy thực trạng nước Mỹ. Vẫn loay hoay đi tìm tin vặt bất lợi cho Trump để… tự sướng. Cho dù hầu hết đều là fake news cũng vẫn sướng.

Thực tình mà nói, kẻ này trước đây và ngay cả bây giờ, đã và đang có nhiều câu hỏi lớn về ứng viên Trump, đặc biệt về kinh nghiệm cũng như về cá tính. Những bài viết của kẻ này trên Việt Báo trước ngày bầu cử còn đầy đủ, ai cũng có thể kiểm chứng được.

Nhưng ta sống trong chế độ dân chủ, phải coi trọng tiếng nói của người dân. Người dân đã quyết định trao trách nhiệm cho ông Trump. Dù muốn dù không, thích hay ghét ông Trump, cũng cần phải cho ông ta một cơ hội để làm những gì ông đã hứa. Sau đó 4 năm, nếu không vừa ý, tha hồ chửi, vẫn có quyền bầu người khác, cho ông Trump về vườn. Thái độ nhắm mắt nhắm mũi chống đến cùng, chống tất cả mọi việc bất kể tốt xấu, chống ngay khi ông chưa kịp làm gì, tất cả chỉ là thành kiến phe đảng mù quáng, nhỏ mọn, và ấu trĩ.

Vũ Linh

SAN JOSE CÓ GÌ LẠ KHÔNG, EM?

 

Có lẽ trong số dân trung niên, tầm tầm, rất ít người không biết đến câu: “Paris có gì lạ không, em?” Hồi ấy, nghe câu thơ này, tự dưng trong hồn thấy cơn lãng mạn dâng trào, con trai thì phải làm ngay một ly cà phê cho đã, hoặc “rít” một hơi thuốc lá cho tới tận cuống, rồi bâng khuâng nhả khói chầm chậm, nhẹ nhàng để làn khói bay lảng vảng trong không một lúc rồi mới tan đi. Còn con gái? Nho nhỏ thì  ôm lấy cuốn “Lưu bút ngày xanh” vào lòng, mắt lơ đãng nhìn vào những tấm hình bạn bè và những dòng chữ thân thương, để nhớ đến cánh bướm vàng khô ép trong cuốn vở trắng tinh, những lời gán ghép đỏ mặt,và những giây phút vui đùa rũ rượi bên nhau. Nhớn nhớn một chút thì cắn môi, tay vân vê những sợi tóc dài buông thả trên bờ vai, nhìn qua cửa sổ, hướng về phía cánh cửa nhà của “chàng” cách đấy không xa, lắng nghe tiếng đàn ghi-ta chập chững của chàng mà tơ tưởng đến một thành phố diệu vợi bên trời Tây biền biệt kia, có dòng sông Seine lờ lững uốn quanh phố thị như cánh tay của nàng Venus đa tình đang vươn ra, mời mọc.

Nhưng rồi, thời gian qua, có dịp đến Paris, để thấy Paris chẳng có gì lạ cả! Y hệt như trong những tấm “carte postal” ngày xưa. Dù hai, ba chục năm trôi qua, Paris vẫn thế, vẫn nóc thánh đường cổ kính, vẫn tháp Eiffel xương xẩu, và những con đường chật hẹp chỉ đủ lọt một chiếc xe hơi và một chiếc xe đạp. Dân Paris đi làm, ăn mặc chững chạc, “complê, cravát”, nhưng tay lại cắp một ổ bánh mì dài thòng không  nhân, cuộn trong một tờ giấy vàng ố. Ðường xá nhiều xe, nhưng đa số là xe tàn và tắc xi, những anh tắc xi “chém” bạo hơn máy chém thời Robespiere, vừa bước lên xe đã thấy đồng hồ nhẩy vài đôla rồi; hỏi tài xế thì cho biết đó là tiền “baga”, nghĩa là tiền chở đồ! Vào tiệm uống cà phê thì coi chừng cà phê Paris làm loãng máu, vì giá dành riêng cho du khách được tính đặc biệt, uống xong một ly thì xây xẩm mặt mày, máu tan ra như nước. Nếu đói bụng mà muốn thưởng thức cơm Tầu, Paris đãi khách bằng loại hủ tiếu không thịt, chỉ toàn bánh và nước. Muốn có thịt, phải kêu riêng một tô thịt riêng, giá tương đương với tô bánh.  Paris chật hẹp, Paris không có nước xài thả giàn như ở Mỹ, dân Paris hai, ba ngày tắm một lần, nên nước hoa Paris bán đầy phố. Khách sạn Paris có hai loại: loại quyền quý, loại trung bình. Loại quyền quý thì không dám bước chân vào, sợ khi trả buồng, bước ra thì cụt cẳng. Loại trung bình thì chán phè, buồng chật, thang máy hẹp, phòng tắm bé tẻo tèo teo, nhìn khăn trải giường không dám nằm úp mặt xuống. Bởi vậy, Paris chẳng có gì lạ cả. Chắc thêm ba chục năm nữa, Parisvẫn là một vũ nữ về chiều, ngồi trên ghế đá, lắc lư đầu nhìn khách vội vã bước qua.

Trong khi đó, thì tại Tiểu Bang miền viễn Tây này, có một thành phố mà lúc nào lên chơi cũng thấy lạ: San Jose!

Từ  Orange lên miền Bắc, xe vượt qua những con đèo ngoằn ngoèo, rồi tới một khoảng dài xa lộ mà chỉ có một “lane”, đi ban đêm, tim đập thình thịch, chỉ sợ vừa quẹo ra là thấy lù lù một chiếc xe tải khổng lồ đâm sầm tới. Và những khúc xa lộ chạy trong thành phố, những vườn nho lẩn giữa những trang trại kiểu xưa đột ngột biến hiện trong những tòa nhà đang xây cất hiện đại. Rồi thung lũng hoa vàng từ từ hiện ra, rất sương khói, rất mờ nhạt, và rất lạ. Xa lộ cũng từng ấy “lane” mà hình như khác với xa lộ Orange, không diễn tả được. Cũng kẹt xe, cũng xe cộ nối đuôi nhau, nhưng một khi vào tới xa lộ San Jose rồi, thì cảm giác lâng lâng sao đó, không còn cảm thấy sự căng thẳng của lái xe lâu giờ, không thấy “road rage” làm muốn chửi thề liên tục, không thích bấm còi dầu người bên cạnh lái ẩu, mà chỉ muốn tha thứ, muốn mỉm cười với người không quen. Sao vậy, nhỉ? San Jose có chi lạ mà mỗi lần lên, lại như trẻ hẳn ra? Quán ăn San Jose cũng bàn, cũng ghế, cũng phở, cũng bún bò Huế, cũng hủ tiếu, cơm tấm, nhưng hình như bà chủ San Jose dễ thương hơn, tươi mát hơn, nên thức ăn có vị đậm đà hơn.

Quán cà phê San Jose buổi sáng vắng hoe, không ồn ào như Orange, nên thưởng thức một ly nong nóng vào lúc sương còn lảng vảng trong hồn, thấy như cà phê San Jose độc nhất vô nhị. Trong cà phê có pha sương, trong sữa đậu nành có chút gió, trong tô phở có nụ cười. Giá sống ở đây trắng nuốt như nàng sơn nữ Phà Ca, rau răm ở đây nhấp nháy như cặp mắt ai Quan Họ. Ăn uống ở đây, tình tứ và lãng mạn hơn Paris  nhiều.

Buổi tối, lái xe đi vòng vòng thành phố, thấy San Jose như cô thiếu nữ kiều diễm, nửa Tây Phương, nửa Châu Á, thay đổi mầu áo từng giờ, từng phút. Những quán sách, dĩ nhiên ít sách hơn ở Orange, nhưng lại cám dỗ vô cùng. Những chợ, những quán “to go”, dĩ nhiên nhỏ hơn Orange, nhưng lại đầm ấm hơn, thân thiết hơn, bước vào chỉ muốn mua một chút gì đó, rồi tần ngần bước ra, muốn để một chân lại trong cửa. Hình như khí hậu ẩm ẩm, lành lạnh làm cho San Jose có một không khí lúc nào cũng lạ.

Như thế, đến San Jose rồi là không muốn về, dù San Jose đất chật, người đông. Nhất là một hôm, San Jose tặng cho một kỷ niệm đẹp, mãi mãi không quên. Chiều Chủ Nhật ấy, San Jose mưa như mưa tháng Bẩy, người Orange đi lễ tại một ngôi nhà thờ cổ kính nằm giữa lòng thành phố. Orange đậu xe lại, giương dù định bước ra, chợt thấy ngay bên cạnh, San Jose cũng vừa đậu xe, mà ngập ngừng nhìn lên trời, đếm những hột mưa ào ào rơi xuống như những sợi chỉ thủy tinh trắng trong. San Jose quên dù ở nhà mất rồi! Orange suy nghĩ trong một giây, rồi bước đến cạnh xe San Jose, gõ cửa nhè nhẹ, rồi lấy tay chỉ chỉ vào cây dù. Cặp mắt nai San Jose mở to, ngần ngại trong giây lát rồi khép nhẹ. Cánh tay nhẹ nhàng đưa xuống mở cửa. Cây dù của Orange nghiêng vào, che mái tóc, rồi che cho cả chiếc váy đen dài của San Jose. Từ ấy, dưới mái dù ấy, chân Orange và San Jose đi cạnh nhau, tránh vũng nước này, nhẩy lên viên gạch nọ, lách qua bụi cây, bước lên thềm giáo đường. Tới dưới mái hiên, dù gấp lại, và nghe rõ tiếng cây dù thở dài. Sao mưa không tạt vào ướt cả thánh đường để dù được giương lên mãi? Dù bâng khuâng, và ráng mỉm miệng cười khi nghe tiếng “thanks” nhỏ nhẹ, ngân vang trong lòng dù.

Thánh lễ hôm ấy hình như dài hơn mọi hôm. Cha giảng hình như hơi nhiều, người ta chịu lễ hơi đông. Và rồi, chờ mãi thì cũng thấy lễ tất. Bước ra khỏi cửa, gặp ngay cặp mắt San Jose đang đứng chờ. Vẫn lặng lẽ, không một lời chào, không một gật đầu, dù giương cao, che cho mái tóc San Jose khỏi ướt, và lại trở lại con đường cũ. Không, không phải, đường này sai rồi, tại cây dù lúng túng nên đi lạc rồi, không thấy xe đâu. Hay Orange cố tình đi lạc? Không phải đâu, Orange đang cố dõi mắt tìm xe chứ! Ðây, đây rồi. Xe San Jose đậu cạnh xe Orange đây. Cánh cửa mở ra, San Jose bước vào và ngước lên nhìn. Mắt San Jose mở lớn đến nỗi Orange thấy cả mình trong đó. “Thanks.” Tiếng nói thứ hai và là tiếng cuối cùng. Xe San Jose từ từ chuyển bánh. Orange bỗng tự nhiên thấy mình già hẳn. Mới phút trước là chàng thanh niên trung niên, hùng tráng, mạnh bạo; chỉ phút sau, chân đã lập cập kiểu ông già tám mươi, tay rung rung cắm chìa khóa mãi mà không vào, đóng cửa mãi mà không kín, “đề” mãi mà xe không nổ máy làm nước mưa tung tóe vào, ướt cả tóc tai… Tự dưng, Orange muốn ngâm câu thơ cuối của một bài thơ xưa: “Orange ơi! Hồn ở đâu bây giờ?” nhưng thấy một câu thơ không đủ, người Orange bèn phải viết nguyên một bài thơ tặng cho San Jose như sau:

 

San Jose có gì lạ không, em?

San Jose có gì lạ không, em?
Hình như, ở đó, tóc em rất mềm
Hình như gió núi làm em mỏng
Ðêm lạnh, thở dài, bỗng lạnh thêm.

 San Jose có gì lạ không, em?
Cà phê buổi sáng chưa đã cơn thèm
Nhìn qua cửa sổ, như chim sâu nhỏ
Nửa muốn nằm vùi, nửa muốn bay lên

 San Jose có gì lạ không, em?
Quán xá về khuya, khách ngồi như thiền
Thinh lặng ngó hồn theo dòng nhạc
Thơ thẩn về nơi rất thân quen

 San Jose có gì lạ không, em?
Chủ Nhật, mưa bay, đi dù rất hiền
Chân “ma sơ” chạm chân trần thế
Anh bỗng thèm một vòng lưng êm

 San Jose có gì lạ không, em?
Giữa ban ngày mà lòng như đêm
Giọt mưa hôm ấy còn lành lạnh
Cánh cửa nào đã khép lại hồn em?

 Và San Jose lúc nào cũng lạ
Người tình lúc nào cũng lãng đãng xa
Ðến hoài mà vẫn như tờ giấy trắng
Chưa nụ hôn nào nóng bỏng môi ta…

CHU TẤT TIẾN    

 

 

CHÍNH SÁCH “BẾ MÔN TỎA CẢNG” THỜI CỘNG SẢN

Tôi đang sống ở Boston. Không biết vì lý do gì, lịch sử của thành phố này lại có rất nhiều liên hệ, có khi gắn bó và cũng có lúc oan khiên với lịch sử Việt Nam. Và biểu tượng lâu đời nhất của mối quan hệ Việt Mỹ đầy biến cố là USS Constitution, chiếc hạm được ủy nhiệm đầu tiên của hải quân Mỹ, bây giờ là một viện bảo tàng nổi nằm ở góc vịnh Boston.
Hơn hai trăm năm, trước khi có USS Nimitz, USS George Washington, USS Constitution, hạ thủy 1798 và được trang bị 54 khẩu đại bác, là niềm kiêu hãnh của hải quân Mỹ. Và cũng chính chiến hạm này đã bắn vào Đà Nẵng năm 1845.
Câu chuyện bắt đầu vào tháng 5-1845, USS Constitution trên chuyến hải hành thiện chí, đã ghé Đà Nẵng để xin cung cấp thức ăn, nước uống và xin phép chôn cất một thủy thủ vừa qua đời. Tuy nhiên, khi biết Việt Nam đang giam giữ Giám mục Dominique LeFevre, một nhà truyền giáo Pháp đang bị cầm tù, Đại Úy Hạm Trưởng John Percival yêu cầu Việt Nam trao trả tự do cho giám mục. Phía Việt Nam từ chối. Hạm trưởng Percival tức giận và chỉ huy một đội quân võ trang đổ bộ xuống Ðà Nẵng. Ông tống đạt thư đòi Việt Nam phải trao trả tự do cho Giám Mục LeFevre, đồng thời, cũng để chứng tỏ quyết tâm của mình, hạm trưởng đã hạ lệnh bắt ba viên quan Việt Nam trú phòng Ðà Nẵng làm tù binh. Phía Việt Nam cũng nhất định không trả tự do cho giám mục. Không làm gì được, cuối cùng, Hạm trưởng Percival đành thả tù binh và ra đi. Trước khi nhổ neo, ông ra lịnh cho giàn trọng pháo của USS Constitution nã vào biển Đà Nẵng một loạt để bày tỏ thái độ bất bình.
Không chỉ mỗi Việt Nam bị hiếp đáp, thị uy, nhưng cùng một khoảng thời gian đó, 1852, Hạm trưởng Matthew Perry, trên những chiến hạm tương tự như USS Constitution bây giờ, cũng đã đe dọa chủ quyền nước Nhật. Hạm trưởng Matthew Perry chưa bắn viên đạn nào, chỉ phô trương lực lượng thôi nhưng đã làm nước Nhật suy nghĩ.
Trong khi đó, các vua triều Nguyễn vẫn an nhiên. Những viên đại bác từ USS Constitution bắn vào Đà Nẵng không làm lung lay bức tường thành hủ nho, phong kiến, lạc hậu trong ý thức của các vua nhà Nguyễn.
“Bế môn tỏa cảng” chưa hẳn là một sai lầm. Nếu đóng cửa để suy nghĩ, để gặm nhắm cái nhục, để uống cái đau của một nước yếu, để trau giồi, học hỏi, canh tân và rồi vươn lên thì cũng không đáng trách. Các vua triều Nguyễn không được như thế. Chính sách “bế môn tỏa cảng” thời nhà Nguyễn là bản sao chính sách “bế môn tỏa cảng” của nhà Thanh dẫn đến việc Trung Hoa bị ngoại bang chia năm xẻ bảy sau đó.
Mặc cho dông bão phương tây đang ùn ùn kéo tới, vua tôi nhà Nguyễn vẫn cứ tiếp tục miệt mài đèn sách trong kho kinh sử Trung Hoa, vẫn Tứ Thư Ngũ Kinh, vẫn trọng đạo Thánh Hiền, vẫn hãnh diện vì Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường.”
Học ngày đó là học để ra làm quan, để làm thơ chứ không phải để giúp dân, cứu nước. Trong Việt Nam Sử Lược sử gia Trần Trọng Kim viết về giáo dục dưới triều Nguyễn: “Bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu.”
Và ông kết luận: “Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩ mình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước. Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh”.
Câu “Việc đời thì tối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coi mình như thần thánh” đọc lên nghe cay đắng nhưng thực tế làm sao.
Trần Trọng Kim viết câu này cách đây gần một trăm năm nhưng nếu ai chỉ mới đọc lần đầu có thể hiểu lầm vừa được viết từ Hà Nội tối hôm qua.
Phong trào giải thể chế độ thực dân được phát động sau thế chiến thứ nhất và trở thành một cao trào bùng nổ khắp các quốc gia Á Phi cùng với việc ra đời của Liên Hiệp Quốc sau thế chiến thứ hai.
Phần lớn các quốc gia bị trị lần lượt giành được tự do. Dọc bờ sông Nile cho đến vùng Địa Trung Hải, các dân tộc Phi châu từng bước xây dựng lại đất nước họ. Tại Á Châu, các quốc gia thuộc địa như Ấn Độ, Mã Lai, Singapore, Nam Dương, hay vừa hình thành sau thế chiến thứ hai như Đài Loan, Nam Hàn tập trung nỗ lực vào việc tái thiết và canh tân đất nước để đuổi kịp đà tiến nhân loại. Hành trình dân chủ hóa tại các quốc gia này gặp rất nhiều hy sinh, thử thách, có khi phải nhuộm bằng máu, nhưng đó cũng là một mục tiêu đích thực và không thể nào thay thế mà đất nước họ phải đạt đến.
Giống như các nước Phi châu xa xôi và Á châu gần gũi, lẽ ra Việt Nam cũng có cơ hội giành độc lập và bắt tay xây dựng đất nước. Việt Nam, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, một lực lượng lao động cần cù, một dân số không quá đông hay quá ít, một ý chí quật cường hun đúc từ lịch sử bốn ngàn năm, nếu không phải là con rồng, con phượng của Á Châu thì cũng không đến nỗi thua kém Thái Lan, Philippines, Ấn Độ, Mã Lai, Singapore, Nam Dương.
Không.
Trong lúc những quốc gia cùng số phận đã vượt qua, đã vươn lên, Việt Nam vẫn máu đổ thịt rơi, hàng triệu người dân Việt Nam vô tội vẫn tiếp tục ngã xuống mỗi ngày trên đồng ruộng Việt Nam.
Tại sao?
Bởi vì khác với các phong trào giành độc lập tại các nước Á Phi, Việt Nam có đảng Cộng Sản.
Toàn bộ chính sách của Mỹ từ 1946 đến thời kỳ Liên Xô sụp đổ đều hướng đến một mục tiêu duy nhất là ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản (containment). Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, quân sự của mỗi quốc gia, việc áp dụng chính sách ngăn chặn diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau.
Đối với Việt Nam, để đương đầu với một đội quân hùng mạnh của đảng Cộng Sản Việt Nam đang “thừa thắng xông lên” sau trận Điện Biên Phủ, với sự yểm trợ vũ khí dồi dào của các quốc gia khối Cộng Sản đứng đầu là Liên Xô và Trung Cộng, trong lúc tại miền Nam một quân đội quốc gia non trẻ đang mới hình thành, Mỹ đã chọn giải pháp trực tiếp can thiệp bằng quân sự.
Một trăm hai mươi năm, sau khi USS Constitution đến Đà Nẵng, mùa hè 1965, các chiến hạm Mỹ từng đoàn cập bến. Những đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ. Ngày đó, người Mỹ chưa biết nhiều về con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam. Thật ra họ cũng không cần biết. Việt Nam chỉ là điểm nhỏ trên bản đồ chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Và để thực hiện chính sách ngăn chặn Cộng Sản, Mỹ mang máy móc sang Đức, mang sách vở sang Nhật trong khi mang bom đạn sang Việt Nam.
Thế nhưng, cuộc chiến chưa tàn mà người Mỹ đã bỏ đi khi chính sách toàn cầu thay đổi. Họ ra đi vội vàng như đã đến lúc mặc cho cây dân chủ ở miền Nam phải chết non khi vừa bén rễ, mặc cho hàng triệu người lính miền Nam hết súng, hết đạn, đưa lưng trần chịu pháo, mặc cho hàng triệu đồng bào miền Trung, miền Tây Nguyên phải tay bồng bế con thơ, lưng cõng cha mẹ già, bỏ làng mạc ruộng vườn chạy trốn trong lúc T54, T76 đang rượt đuổi theo sau.
Trong ly rượu chúc mừng chiến thắng ở Moscova, ở Trung Nam Hải, có nước mắt của những đứa bé Việt Nam không cha, có máu của những bà mẹ Việt Nam bất hạnh nhỏ xuống khắp ba miền.
Mỗi khi nhìn USS Constitution tôi lại nghĩ đến những quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Trong suốt hơn mười năm làm việc ở trung tâm thành phố Boston, tôi đi ngang qua đó nhiều lần và thậm chí có dịch một bài báo của tờ Boston Globe về chuyện người lính hải quân Mỹ đầu tiên thuộc USS Constitution được mai táng tại Đà Nẵng, nhưng chưa bao giờ đặt chân lên chiếc tàu chiến đó.
Ghét Mỹ chăng? Không. “Quốc gia chỉ có quyền lợi chứ không có kẻ thù”, câu nói quen thuộc đó đã được Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton lập lại khi bắt tay lãnh tụ độc tài Moammar Gaddafi tháng 9, 2009. Và hôm nay cũng chính bà Hillary Clinton tuyên bố Moammar Gaddafi phải chịu trách nhiệm cho những vi phạm nhân quyền tại Libya mặc dù nhân quyền tại Libya bị chà đạp hơn 40 năm chứ không phải chỉ vài tuần qua.
Nhìn số phận của các dân tộc Libya, Ai Cập, không thể không nghĩ đến số phận hẩm hiu suốt mấy trăm năm của dân tộc mình.
Thật vậy. Nếu có một dân tộc phải được xếp vào danh sách những dân tộc chịu đựng dưới chính sách đô hộ hà khắc, đồng hóa bất nhân và diệt vong tàn bạo nhất trong bàn tay của các đế quốc ngoại bang xâm lược thì bên cạnh một Do Thái với hai ngàn năm lưu vong và những lò thiêu sống của Hitler, một Armenia bị diệt chủng dưới gót giày của đế quốc Ottoman, phải có một Việt Nam trong một ngàn năm nô lệ dưới các triều đại Tần, Hán, Ngô, Tấn, Tùy, Đường, Minh.
Thật vậy. Nếu có một dân tộc là nạn nhân của chế độ thực dân tàn bạo với tất cả cực hình tàn khốc, thì bên cạnh một Congo trước những thanh gươm bén của vua Bỉ Leopold, một Triều Tiên dưới chính sách đồng hóa của Nhật, phải có một Việt Nạm dướt gót giày Thực Dân Pháp gần suốt một trăm năm. Thực dân đến Việt Nam không phải để gieo rắc tinh thần tự do được dấy lên từ cách mạng 1789 mà để cướp đoạt tài nguyên và bóc lột tận cùng sức lao động của nhân dân Việt Nam.
Phải chi ông bà chúng ta ngày đó biết thức thời mở cửa, tiếp nhận nhiều nguồn khác nhau để hóa giải ngoại lực, từng bước hiện đại hóa đất nước để tăng cường nội lực thì có thể đã thoát nạn thực dân, Cộng Sản và Việt Nam đâu đến nỗi này.
Dù sao, lịch sử là một dòng sông không ngừng chảy. Có lúc phải vượt qua những mỏm đá cheo leo nhưng cũng có khi êm đềm phẳng lặng. Không ai có thể thay đổi quá khứ nhưng có thể học từ những sai lầm, những thiếu sót để làm đẹp tương lai.
Nhân loại chỉ mới qua khỏi thập niên đầu của thế kỷ nhưng đã bước một bước thật dài trong khoa học kỹ thuật và đời sống xã hội. Thời đại hôm nay là thời đại dân chủ. Từ anh chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ cho đến người thợ mỏ Phi châu đều đã có quyền chọn lựa người lãnh đạo của mình.
Hành trình phát triển của loài người có tính quy luật, từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh, từ thu hẹp đến rộng mở. Trong quá trình đó, nhân loại đã trải qua nhiều thảm họa nhưng cũng đã chứng minh khả năng của con người có thể vượt qua thảm họa bằng con đường dân chủ.
Năm 1974, chỉ có 41 nước trong số 150 quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Năm 1990, ba phần năm tổng số quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Và hôm nay, dân chủ, tuy mức độ còn khác nhau nhưng đang là thực tế tại hầu hết quốc gia, ngoại trừ một rất số nhỏ, trong đó có Việt Nam.
Người Việt có quyền tin rằng tuổi trẻ Việt Nam chứ không ai khác sẽ là những người mang giọt nước tự do trong lành tưới lên cánh đồng khô cháy Việt Nam. Những thế hệ trẻ của Việt Nam thế hệ đầu thiên niên kỷ đang đứng trước nhiều thử thách nhưng cũng nhiều triển vọng. Nhưng không. Tuy có nhiều tiếng nói bất đồng vang lên và nhiều nhóm trẻ đang hoạt động trên khắp các nẻo đường đất nước cũng như trong internet, Việt Nam vẫn chưa có một phong trào tầm vóc đủ lớn như Tunisia hay Ai Cập. Sức đẩy từ phía dân tộc vẫn chưa đủ mạnh để đưa cuộc cách mạng dân chủ đến nhanh hơn và tiết kiệm được nhiều hơn những hy sinh chịu đựng của đồng bào.
Tại sao? Có nhiều lý do, nhưng trong bài này, tôi muốn nói đến một lý do tư tưởng, rằng suốt bao năm qua giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đã áp dụng một chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy tinh vi và hệ thống.
Đọc bài báo Kết nạp Đảng tại Harvard đăng trên hầu hết các báo trong nước để thấy cái tác hại của chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy trong nhận thức của hai trí thức trẻ Trần Phương Ngọc Thảo và Lê Anh Vinh.
Vua quan thời nhà Nguyễn miệt mài trong Tứ Thư Ngũ Kinh nho giáo thì giới trí thức trẻ ngày nay bị đầu độc bằng chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng Hồ Chính Minh phản văn minh, phản khoa khọc và phản tiến bộ.
Chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy đã làm các em tin một cách chân thành rằng khác với các đảng Cộng Sản Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, đảng Cộng Sản Việt Nam do dân mà ra, từ dân mà có, đảng Cộng Sản Việt Nam là dân tộc Việt Nam là một, và do đó, đảng lãnh đạo dân tộc Việt Nam là chuyện tự nhiên như thời tiết.
Đảng Cộng Sản và dân tộc Việt Nam chẳng những chưa bao giờ là một mà từ trong bản chất đã có tính mâu thuẫn triệt tiêu nhau.
Như lịch sử đã chứng minh, chính sách của đảng, dù có lúc cực kỳ chuyên chính và cũng có khi tương đối nới lỏng để làm nhẹ áp lực quần chúng, mục tiêu cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam và đặt dân tộc Việt Nam dưới quyền cai trị tuyệt đối của đảng luôn nhất quán sau 11 kỳ đại hội và 13 lượt tổng bí thư.
Có người cho rằng, đảng Cộng Sản ngày nay không còn là một đảng theo quan điểm Mác Lê đúng nghĩa nữa mà thực tế chỉ là một đảng cướp. Đừng quên, đảng cướp cũng cần phải có một cơ sở lý luận, bởi vì khác với con vật, con người có ý thức và sống bằng một niềm tin. Kim Nhật Thành có Chủ Nghĩa Độc Lập Tự Cường (Juche), Moammar Gadhafi có Chủ Nghĩa Xã Hội Hồi Giáo (Green book), ngay cả nhà độc tài tàn ác nhất Phi châu là Thượng sĩ Mobutu Sese Seko cũng dựng nên một lý tưởng quốc gia mà ông ta gọi là Nhận Thức Đúng (Authentication).
Dưới thời nhà Nguyễn, từ vua quan đến dân chúng, nói cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của một nhận thức bảo thủ sai lầm kế thừa suốt thời kỳ phong kiến, chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy của đảng ngày nay là một chủ trương, một chính sách nhằm che đậy mọi ánh sáng văn minh từ bên ngoài rọi vào cùng lúc xây dựng một thiên đường hoang tưởng bên trong.
Những lãnh đạo đảng đang hô hào lý tưởng Cộng Sản tại Việt Nam hôm nay, thật ra, đã từ lâu không còn tin vào miệng lưỡi của chính mình, nhưng những thuốc độc bọc đường đó đã tàn phá bao nhiêu thế hệ trẻ Việt Nam.
Các em Trần Phương Ngọc Thảo và Lê Anh Vinh như được nhắc trong bài báo, là tài nguyên của đất nước chứ không phải của đảng Cộng Sản.
Như những trí thức trẻ, các em chắc đang mơ một ngày không xa Việt Nam sẽ thành một Singapore hay một Nam Hàn. Tuy nhiên, khi trở về sống, làm việc và va chạm với thực tế chính trị tại Việt Nam, các em sẽ hiểu ra, ngày nào Việt Nam còn bị cai trị dưới một chế độ độc tài toàn trị, ngày đó giấc mơ ra biển lớn của các em sẽ không bao giờ thành hiện thực.
Không ai có thể lấy tay che mặt trời. Chính sách “bế môn tỏa cảng” tư duy tinh vi nhưng không thể bưng bít sự thật mãi mãi và bưng bít được mọi người. Vẫn có rất nhiều tuổi trẻ Việt Nam đang dấn thân trên nhiều ngã đường đất nước. Họ đang bị trấn áp, đe dọa, tù đày nhưng không bỏ cuộc. Từ trong những nhọc nhằn mà họ đang chịu đựng có một niềm hãnh diện dâng lên vì được sống trong thời đại mà những nỗ lực của họ sẽ mở ra trang sử mới cho dân tộc.
Lật đổ một nhà độc tài khác với thay đổi một cơ chế độc tài. Đảng Cộng Sản bám sâu vào đất nước mấy mươi năm, tác hại không chỉ về kinh tế chính trị mà trầm trọng hơn về nhận thức, tư tưởng và văn hóa. Trường Chinh đã viết trong Luận cương văn hóa 1943: “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”.Cách mạng dân chủ hôm nay, do đó, phải bắt đầu từ việc tháo gỡ các nhận thức sai lầm về lịch sử, xóa bỏ văn hóa Cộng Sản để mở đường cho cách mạng dân tộc dân chủ toàn diện và triệt để.
Đường cách mạng dân chủ Việt Nam có thể còn nhiều chông gai, sỏi đá, đòi hỏi nhiều thời gian và kiên nhẫn trong mỗi chúng ta, nhưng là một con đường vinh quang, đích thực, một bước phát triển không thể nào đảo ngược của dân tộc và loài người.
Trần Trung Đạo
Trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo

Ngày về không nắng

 

Cơm nước xong, không khí trong nhà đột nhiên căng thẳng khác thường. Mọi người đều thấy bứt rứt, tuy ai ai cũng cố gắng chứng tỏ mình bình tĩnh, hơn thế nữa, thản nhiên, bất cần. Bà mẹ ngồi bệt trên mặt nền đã bóc mất lớp gạch hoa, bỏm bẻm nhai trầu như mọi bữa. Cô em gái rửa chén ở dưới bếp mải suy nghĩ làm vỡ mất cái dĩa sứ độc nhất còn lại. Đứa cháu lẻn ra sân trước chơi không ngủ trưa mà không bị bà nội la rầy. Còn chàng thì dụi hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, cổ khô, uống liên tiếp nhiều ngụm nước trà vẫn không dằn được cơn ho. Mẹ chàng lo lắng hỏi:

– Con không bị đau phổi đấy chứ? Có mỏi ở hai bả vai không?

Chàng vội đáp:

– Không đâu, mẹ yên tâm. Thuốc điếu bây giờ tệ quá. Hút đắng cả cổ.

Mẹ chàng trách móc:

– Biết thế mà còn hút. Mẹ nghe nói toàn là lá đu đủ.

Rồi sợ không còn cơ hội nào để xóa tan nỗi lo canh cánh, mẹ chàng hỏi đột ngột:

– Con đã viết sẵn đơn xin tạm trú chưa?

Chàng liếc nhìn mẹ. Mẹ chàng chăm chú têm tràu, làm như chưa bao giờ đặt câu hỏi, hoặc nếu có, thì cũng hỏi qua loa cho có chuyện vậy thôi, một câu hỏi không đáng quan tâm.

Chàng cố làm ra vẻ ơ hờ, đáp:

– Con đã viết rồi. Gớm, mọi bữa có nóng như hôm nay không hả mẹ? Bữa nay ăn cơm muộn. Chắc hơn một giờ chiều rồi!

Mẹ chàng nói:

– Ờ, khoảng đó.

Hai mẹ con im lặng. Chàng vừa ho vừa hút thuốc. Mẹ chàng nhìn quanh như định tìm cái lon nhổ bã trầu, rồi se sẽ bước ra sân. Chàng đoán thằng bé bỏ ngủ trưa sắp bị bà nội mắng cho một trận. Nhưng chờ mãi chàng không nghe thấy gì. Đứa con chàng mở cửa ngõ chạy đi đâu mất. Một lúc sau, có tiếng thằng bé nói lớn:

– Chưa tới hai giờ, bà nội.

Chàng giật mình hồi hộp. Theo thói quen từ hơn sáu năm về trước, chàng ngước lên nhìn chiếc đồng hồ Odo. Ở chỗ vách vẫn treo chiếc đồng hồ quả lắc có chuông báo giờ chỉ còn dấu vết một khoảng vôi mới hình tròn chập trên hình chữ nhật đứng. Chàng chợt hiểu vì sao con chàng phải chạy đi hỏi giờ hàng xóm. Hơi thuốc lá đắng chát trong cổ chàng. Cơn ho lại kéo đến, lần này dữ dội hơn lúc nãy. Nhưng mẹ chàng không vào trách móc con. Ngược lại, đằng sau bếp, dường như có tiếng trách mắng và tiếng phân bua. Lắng tai chăm chú hơn, chàng nghe em gái đang nói :

– …mẹ dặn nên con bỏ thư bảo đảm. Trong thành phố, nhất định phải tới tay rồi. Thư thường hai ngày. Thư bảo đảm có chậm cũng không thể quá một tuần. Không. Con nhớ rõ địa chỉ. Vả lại…

Em gái chàng phân bua đến đó rồi im. Chàng nghe mẹ chàng thảng thốt hỏi :

– Vả lại thế nào ? Hay mày có viết thêm cái gì trong thư, nó giận không tới ?

Em gái chàng đáp, giọng pha chút bực bội :

– Thì con đã đọc lại thư cho mẹ nghe trước khi ra bưu điện, mẹ không nhớ sao ? Vả1ại… vả lại… hôm qua con gặp chị ấy, con có nhắc…

Chàng đứng bật dậy lúc nào không hay. Có lẽ mẹ chàng cũng kinh ngạc như chàng. Mẹ chàng hỏi vội :

– Mày gặp nó ở đâu?

– Dạ ở trường thằng Vinh.

– Mày gây chuyện với nó phải không ? Nó đến đó làm gì ?

– Lúc con đến đón cháu thì đã thấy chị ấy đến trước rồi. Chị ấy bồng thằng Vinh từ trong sân trường đi ra. Con định đến nạt bảo thằng Vinh bước xuống đi, nhưng… nhưng thấy mắt chị ấy đỏ hoe, con không nói gì. Con chỉ nhắc buổi hẹn chiều nay.

Mẹ chàng hạ thấp giọng rất khó nghe, gần như thì thào :

– Nó… nó đến một mình hay với…với…

Em gái chàng đáp nhỏ :

– Không đi một mình. Cái thằng cô hồn lắm! Người với ngợm! Mặt mày đăm đăm. Chị ấy vừa ghé ngồi lên yên sau nó đã rú ga phóng đi, làm chị ấy suýt té. Thằng Vinh sợ quá kêu Má! Má!.

Chàng không thể chịu đựng thêm nữa. Chàng ngồi xuống ghế, đưa hai tay bịt tai lại. Tiếng lùng bùng âm u cùng với sức ép lên thái dương phần nào lấn át nỗi đau của chàng. Lúc tĩnh tâm trở lại, chàng nếm thấy vị nước mắt mằn mặn ở đầu lưỡi, và thằng Vinh con chàng đang kêu khóc : “Của Má cho Vinh mà! Trả lại đây. Trả lại đây!”.

Em gái chàng quát lớn :

– Từ đây về sau, cấm không được nhận gì của nó nghe chưa! Nó không xứng là má mày nữa! Không được kêu Má.

Con chàng nín khóc. Có lẽ nét mặt cô nó dữ dằn quá, thằng bé đâm sợ hãi. Lạ một điều là mẹ chàng không nói gì để an ủi cháu. Sau bếp hoàn toàn im lặng. Chàng lắng tai chờ. Chờ. Chờ. Chàng giật thót cả người khi có tiếng xe Honda ngừng nổ ngay trước cổng.

***

Đôi mắt mờ yếu sau sáu năm học tập cải tạo, cộng với nắng loá bên ngoài khiến chàng hoang mang không nhận ra ai. Nhíu mày nhìn kỹ hơn, chàng yên1òng, nhờ bám vào hai điều: thứ nhất, khách mới đến không phải đàn bà, và dù khuôn mặt khách có nhoè đi, chàng vẫn ghi nhận được vệt trắng của một hàm răng cười. Chàng nghĩ nhanh : “Nhất định không phải thằng đó rồi! Nó không dám cười với mình”.

Chàng nghe tiếng cười rổn rảng thật đặc biệt, mang máng nhớ giọng cười của một người bạn thân. Cùng lúc đó, khách hỏi lớn :

– Quên cả bạn bè sao cậu ?

Chàng không lầm được nữa. Đúng là Vui bạn chàng. Chàng mừng rỡ hơn cả nỗi mừng được gặp một người bạn cũ. Như vừa thoát khỏi một tai nạn chết người vào phút chót. Vui, bạn chàng cười hô hố, nhắc :

– Thì mở cửa cho người ta vào! Có phải công an khu vực đâu mà sợ!

Chàng rộn rã cả lòng, lật bật mở cánh cửa sắt mãi không được. Khi đứng qua một bên nhường chỗ cho bạn dắt xe vào sân, chàng hớn hở nói :

– Nghe giọng cười của cậu từ xa một cây số đã nhận ra cậu rồi. Nghe tin mình về hồi nào ? Ai cho biết? Cứ để đó, không cần khoá đâu !

Vui vẫn tiếp tục khoá xe bằng cái xích loại lớn, ngửng lên nói :

– Cậu chỉ cần nói một câu đó thôi, công an cũng đủ biết cậu là dân mới nhập cư trái phép. Ở đây lúc nào cũng phải kè kè theo bên mình một cái khoá. Bài học đầu tiên đấy !

Chàng mỉm cưởi không nói gì, quá quen thuộc với lối phóng đại khôi hài của người bạn cũ. Vui khoá xe xong, hỏi liền :

– Bà xã đâu rồi ?

Chàng giật mình, nhìn bạn ngờ vực. Chàng chuẩn bị để thủ thế. Nhưng hình như Vui chỉ hỏi để mà hỏi, nên không chờ chàng trả lời, bước trước một cách tự nhiên vào phòng khách. Gặp mẹ chàng, Vui liến thoắng ngay :

– Chào bác ạ ! Chắc bác không nhớ cháu ! Cháu là Vui, bạn học cùng lớp với Tịnh hồi còn ở Chu văn An. Một lần cháu có đến xin phép bác cho Tịnh đi học thêm toán, thực ra hai đứa hẹn ra nhà thờ Đức Bà ngắm các cô đi lễ. Bác thấy cháu hiền hậu ít nói, bác tin ngay. Bác còn nhớ không ?

Mẹ chàng biết ông khách chỉ muốn tếu cho vui, nên cười dễ dãi, đáp lại :

– Vâng, tôi nhớ.

Chàng vẫn khâm phục đức tính lạc quan và khả năng có thể biến mọi chỗ mình đến thành nơi ấm cúng, thân mật, cởi mở, ngay từ lúc ban đầu ngỡ ngàng của Vui. Ngồi chưa ấm ghế, Vui lại hỏi :

– Bà xã đâu ? Đem trình diện coi. Mày thật tệ. Cưới vợ mà không thèm gửi cho tao lấy tấm cạt báo hỉ. Hồi 74 tao ở Tổng tham mưu, mày hay về Sài gòn họp chẳng lẽ không nghe ai nhắc đến tên tao ?

Một lần nữa, chàng bỏ thế thủ. Lối chuyển sang xưng hô mày tao chứng tỏ vui hỏi thành thực, không có hậu ý. Chàng liếc nhìn mẹ trước khi đáp :

– Bà xã mình vừa đi đâu đó. Chắc ra chợ.

Vui cười lớn, hỏi liền :

– Lại chợ trời chứ gì ? Đúng là cái nghề thời đại. Hay nói theo cách bây giờ, cái nghề mang tính quần chúng. A ha! Đàn bà lăn lóc ở chợ trời, còn đàn ông thì lui cui nội trợ.

Mẹ chàng thấy vui, chen vào hỏi :

– Cậu có phải đi học tập không ?

– Thưa có chứ ạ.

– Về lúc nào ?

– Cháu may mắn hơn Tịnh. Về từ 78.

– Thế từ đó đến nay làm gì ? Có chỗ nào kiếm đủ tiền mua gạo, cậu rủ thằng Tịnh theo với !

Vui đáp liền :

– Thưa cũng có đấy. Chỉ sợ bác không thích thôi !

Mẹ chàng vui mừng hỏi :

– Nghề gì vậy ?

– Nghề chà đồ nhôm, bác ạ.

– Ờ ! Nghe nói hiện nay ngành làm đồ nhôm khá lắm. Cháu làm ở tổ hợp hay xí nghiệp quốc doanh ?

Vui cười lớn :

– Xin lỗi bác,cháu chỉ đùa thôi. “Chà đồ nhôm ” là “chôm đồ nhà ” . Nghề của cháu là mỗi sáng chờ vợ đi làm xong, đi ra đi vô tính lui tính tới xem nên lén vợ lấy thứ đồ đạc nào bán được giá, mau mắn, mà vợ không dễ nhận ra. Phải có tí tiền còm hút thuốc và uống tách cà phê dỏm chứ bác !

Cả nhà cùng cười. Mẹ chàng yên tâm, bỏ đi ra phía sau. Có lẽ bà nhận thấy khỏi cần phải ở lại để giúp chàng đương đầu với những nỗi khó khăn. Chỉ còn hai người trên phòng khách. Vui thôi đùa cợt, nhìn quanh phòng nói :

– Căn phòng này cũng mang tính thời đại. Trống trơn, đúng là chỗ dành cho những khách qua đường. Nơi tạm trú!

Chàng thấy đau nhói ở tim. Chàng trầm ngâm một lúc, rồi hỏi bạn :

– Hồi cậu về, việc xin giấy tờ có rắc rối như bây giờ không ?

– Giấy tờ gì ?

– Chắc vẫn bấy nhiêu giấy. Như đơn xin tạm trú.

– Tạm trú ở đâu? Hồi 78, tụi này có được về Sài gòn đâu!

– Thế cậu về chỗ nào ?

– Đi thẳng khu kinh tế mới.

– Cậu có đi không ?

– Cậu hỏi gì kỳ ! Người ta lũ lượt kéo nhau về nằm đầy trên sân ga, vỉa hè, mình điên hay sao mà lên.

– Cậu dám ở lì ở Sài gòn à ?

– Còn cách nào khác đâu ! Mình tự cấp giấy phép. Thuộc loại thường trú ? Không. Thuộc loại tạm trú ? Không. Mình thuộc loại đặc biệt: Loại tự trú. Bây giờ hình như khá hơn thì phải.

– Hình như thế. Đầu tiên cho tạm trú ba tháng để tìm việc làm ở ngoài thành phố. Phải làm đơn xin, nộp cho “cơ quan quản lý người đi học tập cải tạo về” ở đường Phan Thanh Giản. Đơn phải có chữ ký chấp thuận của chủ hộ. Thật oái oăm! Phải xin tạm trú ngay trong căn nhà của mình !

– Thế ai đứng tên chủ hộ?

Chàng do dự trước khi đáp :

– Vợ mình !

Vui tưởng chàng giả vờ do dự để khôi hài, phá lên cười :

– Vậy là phải xin phép bà xã cho tạm trú. Phái nữ lên chân quá lắm ! Chuyến cậu có ai quen được về cùng không ?

– Tất cả 78 người, ở rải rác từ Huế trở vào. Đến ga Bình Triệu chỉ còn 9 mạng. Toàn lạ cả. Có thằng Sửu không biết cậu có quen không ?

– Sửu nào ?

– Chắc cậu không biết đâu ! Bên hải quân. Chính nó hôm 2 tháng 5 còn lái tầu từ Singapore đem về nộp cho nhà nước. Tiếp đón linh đình lắm, sau đó…

Vui chợt nhớ, cắt lời chàng :

– À, nghe nói thằng Hiển Gà Tồ cùng học một chỗ với cậu, đã về chưa ?

Chàng ngửng lên nhìn bạn, hơi ngờ vực. “Vui chưa biết tin sao ?”. Chàng e dè trước khi hỏi :

– Cậu không biết gì à ?

– Chuyện gì thế ?

– Nó chết rồi !

– Thật sao ? Không nghe gia đình nó nói gì cả. Hôm kia còn gặp con em gái nó ra chợ Tân Định mua cốm dẹp, mì khô, thuốc lào… để gửi đồ thăm nuôi…

Chàng xác nhận ngay cho Vui khỏi dài dòng :

– Nó ở cùng chỗ với mình. Treo cổ tự vận cách đây một tháng.Vui kinh ngạc kêu lên :

– Việc gì phải thế ?

– Bạn bè cũng nghĩ vậy. Nhưng về sau thấy nó biến đổi khác thường. Nói xuống tinh thần thì không đúng hẳn, hình như đột nhiên nó tìm ra được một chân lý nào đó. Nó ăn, ngủ, nói, cười bình thường, tinh ý lắm mới thấy nó hay bàn về cách chết. Nó chê cách ngậm nòng súng lấy chân đạp cò của Hemingway là yếu. Nó cũng chê cách đứng lên chồng sách đưa đầu vào thòng lọng của Tam Ích là quá “sách vở”. Cả hai còn yếu đuối, sợ sệt, phải tự đặt mình trước sự đã rồi. Đạp vào cò súng hay đu người đẩy ngã chồng sách, chỉ cần tí xíu can đảm trong cái tích tắc. Anh em chán, chê nó lập dị. Không ngờ nó đang dự tính cách chết mạnh cho mình.

Vui hấp tấp hỏi :

– Nó chết cách nào ?

Chàng cố dằn xúc động bằng cách kể thật chậm :

– Nó chọn cách thắt cổ. Nó lén xé quần đùi bện thành dây thòng lọng. Cậu biết đấy, mái láng trong trại thấp lắm. Nó lại phải tự vận ở ngoài láng, nên cột được dây vào đầu kèo, nút thòng lọng thấp đến ngực là cùng. Thế mà nó vẫn tự vận được. Cậu thử tưởng tượng, muốn chết, nó phải dùng bao nhiêu sức mạnh ý chí để co hai chân lên ! Và làm sao sức mạnh ấy, ở chỗ giáp ranh sống chết, có thể thắng được phản xạ tự nhiên của bản năng sinh tồn .

Vui lặng người bần thần, một lúc lâu mới hỏi :

– Chắc họ chửi bới tùm lum ?

– Có, nhưng không nặng nề như các vụ đào thoát. Sau khi chôn Hiển, cả trại nặng trĩu như một nhà mồ. Không khí đột nhiên thê lương u ám hẳn, tuy khoảng đó trời rất đẹp. Ban giám thị cũng nhận ra điều khác thường , nên tập trung toàn trại thuyết cho một hồi. Vẫn bấy nhiêu. Hèn nhát. Trốn trách nhiệm. Kỳ cục nhất là cái tội “tự vẫn để trốn học tập cải tạo ” !

– Thật thế à ? Rồi tụi mình phản ứng ra sao ?

– Nghe đến câu “hèn nhát tự vẫn để trốn học tập cải tạo”, anh em cười ồ. Rừng dội tiếng cười vang xa, giữa đêm tối. Thật vừa bi tráng vừa khôi hài !

Vui lắc đầu, như không muốn dây dưa đến chuyện đau lòng.

Bạn chàng hỏi :

– Sao giọng cậu kể chán chường như của một người cùng cảnh ngộ ? Cậu có chuyện gì không vui? Ban đầu mới về, ai cũng thế. Ở trong đó, mình yên tâm hơn, thế mới ngược đời. Biết gia đình khổ, nhưng chữ KHỔ chung chung, trừu tượng. Về nhà, chữ KHỔ hiện ra cụ thể, chi li, ngay trong mắt vợ con, anh em… Mình cảm thấy hụt hẫng, hơi tiêng tiếc. Cảm thấy hoang mang không biết làm gì với cái tự do mình chờ đợi bao nhiêu năm. Có phải cậu đang ở trong tâm trạng đó không ?

Chàng cảm động, biết Vui có thiện chí an ủi chàng, đem những kinh nghiệm của ba năm được tự do trước chàng ra để ngừa giúp bạn những thất vọng, những tiếc nuối… Đi xa hơn, Vui còn muốn tìm cách hướng câu chuyện sang phía có tiếng cười. Vui nhìn quanh, tìm đề tài. Bắt gặp hình đôi chim vành khuyên rỉa lông cho nhau trên tấm sáo trúc ở cửa ngăn, Vui hớn hở nói :

– Hơn nữa vợ chồng có nhau thì mọi sự êm đẹp hết. Lấy kinh nghiệm vợ chồng mình, mình biết. Có thể nói là ba năm nay, tụi này rất hạnh phúc. Luật bù trừ chăng ? Có thể lắm ! Cậu còn có… nhưng ơ kìa, sao lâu quá bà xã cậu chưa về? Này, hình như cậu có khách thì phải! Hồi mình mới về cũng thế, khách khứa lu bù. Hình như bà ta muốn hỏi thăm gì đấy, vì lúc nãy thấy lấp ló một lúc, ngập ngừng định gõ cửa, rồi lại bỏ đi. Bây giờ bà ta trở lại. Thôi, cho mình về.

Chàng hốt hoảng kéo áo Vui:

– Không, cậu cứ ngồi chơi.

Chàng đoán không sai! Vợ chàng đã đến.

***

Chàng vét hết sức mạnh của ý chí, thu được có thể không thua sức mạnh co đôi chân lên ở biên giới sống chết của Hiển, để trấn tĩnh. Giờ phút nghiêm trọng đã đến ! Chàng nấn ná, không dám ra mở cửa. Em gái chàng, nặng nề, chặm rãi đi từ sau bếp ra cổng trước để mở cửa cho chị dâu.

Vợ chàng vào sân xong, em gái chàng dập thật mạnh cánh cổng sắt. Hình như vợ chàng có nói cảm ơn, nhưng chỉ có tiếng chân bước thình thịch của Bích ở hẻm phụ đáp lại. Không thể trốn tránh được nữa, chàng đứng dậy. Tiếng guốc ngập ngừng, rồi dừng lại ở cửa lớn. Chàng tiến thêm hai bước. Vợ chàng gầy ốm hơn chàng tưởng. Đôi vai so trong chiếc áo dài mầu hoa cà có in hoa trắng trang nhã, quà chàng tặng vợ sau một chuyến đi xa. Da mặt nàng tái xanh, hai bên má phơn phớt hồng. Vợ chàng có thói quen dùng sáp môi xoa một lớp mỏng lên hai bên má thay cho phấn, và ngay từ ban đầu, chàng nhận thấy nàng vẫn còn giữ thói quen cũ.

Có lẽ trước khi đến gặp chàng, nàng điểm trang vội nên một vệt son còn rõ ở má phía trái. Chàng chú ý nhất đến đôi mắt vợ. Đôi mắt hớt hải, ngượng ngùng, chới với, giống y đôi mắt Sonia trong tranh bìa cuốn tiểu thuyết Crime et Chatiment của nhà xuất bản Marabout nàng mua tặng chàng hồi còn học ở Văn khoa. Chàng cảm thấy thương hại, chứ không thù hận nàng, như chàng đã chuẩn bị để thù hận từ buổi sáng.

Vợ chàng dừng lại ở chỗ ngạch cửa, chờ chàng tiến đến. Chàng bước thêm hai bước nữa, chỉ còn cách nàng không đầy một thước. Nàng liếc nhanh nhìn chàng, rồi cúi xuống nhìn chiếc guốc phải đang di di trên nền xi măng loang lở, nói nhỏ trong hơi thở :

– Em xin đến thăm con !

Chàng xúc động đến ngộp thở. Bắt gặp cái nhìn đầy ngỡ ngàng tra hỏi của Vui, chàng vội nói :

– Em vào chào anh Vui đi ! Bạn cũ của anh hồi cùng học ở Chu văn An. Nhà tôi đấy, Vui ạ!

Vui reo lên mừng rỡ :

– Thế à! Té ra chị. Nãy giờ tôi cứ tưởng một cô dâu mới về nhà chồng. Chị tưởng tôi là công an khu vực đến “làm việc” với thằng Tịnh hay sao mà đi thẳng một lúc mới quay lại? Giá cả chợ búa hôm nay ra sao hở chị ?

Vợ chàng ngợ đi một lúc, nhưng ngay sau đó, hiểu rằng người bạn chưa biết cảnh ngộ éo le của hai người. Có thể trước lúc nàng đến, Tịnh đã phải nói dối nhiều điều về mình. Câu chuyện bịa đặt có liên quan đến chợ búa, giá cả. Nhanh trí, nàng lấy giọng tự nhiên đáp :

– Chán lắm, anh ạ. Giá cả cứ lên vùn vụt. Một nải chuối tuần trước 50 đồng, nay lên 80. Nghe nói xăng dầu khan hiếm không có xe chở về. Trên Long Khánh chuối để chín ối mà dưới này đắt như vàng .

Vui tự nhiên như chủ nhà, lên tiếng mời :

– Chị ngồi xuống đây đã. Không. Ngồi bên thằng Tịnh cho bõ những ngày xa cách. Gần hơn nữa. Đấy đấy. Được rồi! Chị có thấy nó được “cách mạng ” cưng chìu quá đáng không? Chỉ lo ăn rồi học tập, nó chậm hiểu, học mãi hơn sáu năm mới thuộc bài! Tệ quá!

Nàng bật cười, quên cả ngại ngùng. Mẹ chàng, có lẽ kinh ngạc vì sự vui nhộn không hợp cảnh, vén tấm sáo nhìn ra phòng khách. Vui không bỏ lỡ cơ hội, nói ngay :

– Cháu vừa bảo Tịnh học bài lâu thuộc quá, một bài ngắn học những hơn sáu năm. Về đây bù khú vợ con, sợ lại quên. Công an khu vực, công an quận, công an sở sẽ đến khảo bài đều đều. Phải thế không bác ?

Thêm một người nữa bị buộc phải đóng kịch! Mẹ chàng cười, hỏi nàng dâu :

– Con mua thứ đó có được không ?

Nàng lễ phép đáp :

– Thưa mẹ, họ đòi giá cao quá. Con hẹn chiều mới trả lời mình có lấy hay không.

Mẹ chàng trề môi :

– Hàng ôi hàng thôi mà cũng làm giá! Đã ngã giá rồi, hẹn hai giờ chiều tới lấy, bây giờ còn nói hàng hai.

Vừa lúc đó, con chàng chạy về. Nó trố mắt nhìn mẹ, rồi phóng đến ôm chầm lấy nàng. Giọng thằng bé thảng thốt :

– Má, má ! Má về luôn hở má ?

Mẹ chàng mắng át :

– Vinh, nhà có khách không được hỗn. Đã vòng tay thưa bác chưa ?

Thằng bé tuân theo lời bà nội như cái máy, rồi lại sà vào lòng mẹ. Nó hỏi dồn:

– Má ở với con luôn nha má ! Cô Bích lấy mất con khỉ nhựa má cho con rồi. Đòi lại cho con nha má !

Vui vuốt má con chàng, nhận xét:

– Cháu nó làm nũng với má quá nhỉ. Gớm, má mới đi một chút đã sướt mướt thế kia.

Chàng liếc nhìn mẹ, e ngại. Vợ chàng tận dụng cơ hội, ôm lấy con hôn lấy hôn để. Vừa hôn, nàng vừa khóc :

– Con tôi hư quá. Để mũi chảy thò lò thế này! Khăn của con đâu? Mất rồi à? Má sẽ mua cho con cái khác. Nhưng con phải nhớ lấy kim băng ghim vào ngực áo nghe chưa. Ừ, làm như lũ bạn con đó. Lúc cần, đưa lên lau mũi như thế này, tiện biết mấy. Chiều về đưa cho má, à quên, đưa cho nội hay cô Bích giặt giùm cho. Nào, hỉ mạnh đi, mạnh nữa. Đấy, được rồi, chùi nhẹ thôi, mạnh quá đỏ cả mũi.

Giọng mẹ chàng nghiêm khắc, dứt khoát hơn :

– Vinh, đứng dậy ra sau bếp rửa mặt mũi cho sạch đi. Đã bảo đứng dậy. Không được mếu! Con thả tay cho nó đi, cưng riết nó hư lắm. Nghe nội nói đây: Con rửa mặt sạch sẽ, rồi nói cô Bích đưa tiền qua bà Tám mua cho nội gói thuốc Hoa Mai. Nhớ thưa gửi đàng hoàng. Thưa bà Tám nhà con có khách, bà Tám bán cho nội con một bao Hoa Mai thứ thiệt.

Con chàng líu ríu vâng lời. Thằng bé đi rồi, vợ chàng chới với không biết phải làm gì, như vừa mất chỗ tựa cuối cùng khiến cuộc đời trở nên chênh vênh. Vui lại nhận xét :

– Trông chị khổ sở quá !

Mẹ chàng vội nói :

– Trời ơi, thật vô ý vô tứ quá chừng! Khách đến từ lâu mà thằng Tịnh không bảo đi pha nước.

Vui can :

– Bác cứ để cháu tự nhiên. Cháu không khát đâu.

Mẹ chàng không trả lời Vui, nghiêm mặt bảo vợ chàng :

– Con xuống xem nước đã sôi chưa. Lấy trà Tam Thai ở trong cái hộp thiếc vuông ấy.

Nàng hiểu ý mẹ chồng, đứng dậy đi xuống bếp. Tấm sáo kêu lách cách một lúc rồi im.

Vui bắt đầu cảm thấy có cái gì không được tự nhiên xảy ra trong gia đình này. Trong cách liếc dò chừng của Tịnh, cách săn đón thái quá hay cứng rắn thái quá của bà nội che giấu một điều bất thường. Vui cảm thấy thừa thãi. Bạn chàng đưa tay nhìn đồng hồ. Ba giờ kém năm. Đoán được ý Vui, chàng khẩn khoản :

– Hãy nán lại ít lâu nữa. Chờ uống nước đã.

Thấy bạn vẫn chưa lấy lại được vẻ thoải mái ban đầu, chàng cố tìm cách phân bua:

– Thằng bé được má nuông chìu, đâm ra yếu đuối. Kể cũng tội. Lúc mình đi trình diện, nó còn nằm trong bụng mẹ. Hôm mình về, nó không cho bồng. Nội đẩy mãi, ép phải hôn ba. Nó sợ hãi, mắt hớt hải như mình là ông kẹ không bằng. Nội khuyến khích “Ba con đấy. Hôn ba đi. Ngoan lên, ngoan nào!’. Nó tiến vài bước, lại dừng. Mình phải tiến gần hơn, ngồi xuống, giơ sẵn má để chờ. Cậu biết không, nó đến sát mình, run lẩy bẩy thật tội nghiệp. Và vào lúc bất ngờ nhất, nó tát cho mình một cái, rồi khóc oà. Dỗ thế nào cũng không nín, kêu mãi “Má ơi, má ơi !”.

Chàng bị chính lời chàng kể cuốn hút. Chàng xúc động, cảm thấy vừa thương hại mình, vừa ghen tức vợ. Khi nàng bưng khay nước trà bốc khói lên mời Vui:

– Anh xơi nước ạ.

rồi bưng tách nước thứ hai đến đưa cho chàng, chàng không đưa tay nhận.

Nàng yên lặng, kiên nhẫn chờ. Chàng ngước lên, và lần đầu tiên, thấy trong cách nàng mỉm cười, trong ánh nhìn mời mọc âu yếm, có cái gì đĩ thõa tráo trở. Lòng chàng sôi lên hận thù. Phải, nàng đã nhìn hắn hằng trăm lần, hằng nghìn lần một cách mơn trớn vuốt ve như thế, có thể còn mơn trớn vuốt ve hơn lúc này nữa. Bây giờ, chàng thấy lối trang điểm vội vàng qua loa là dấu hiệu sự chểnh mảng, xem thường. Đi với hắn, nàng có dám trang điểm cẩu thả thế đâu! Nàng còn cả gan mặc chiếc áo tím hoa cà ngày xưa ! Thêm thái độ tự tung tự tác của người chủ nhà nữa chứ! Không, nói đúng hơn là chủ hộ. Nàng nắm đằng cán. Nắm vận mệnh của đời ta. Không có chữ ký chấp thuận của nàng, chàng thành kẻ vô sở trú, không nhà cửa, không nghề nghiệp, lang thang đầu đường xó chợ. Càng nghĩ, hận thù càng dâng trào.

Bàn tay bưng tách nước của nàng bắt đầu run. Mọi người, kể cả Vui, đều chăm chú quan sát thái độ chàng. Đã đến giờ phút của sự thật. Chàng ngồi im không nhúc nhích. Vợ chàng mất kiên nhẫn, nhưng cố bình tĩnh đặt tách nước xuống bàn, ngay trước mặt chồng. Vui vội đứng dậy nói :

– Mình quên có cái hẹn lúc ba giờ. Bây giờ đã 3 giờ 15 rồi. Thôi xin phép bác cháu về. Hôm nào rảnh đến chơi, nhé Tịnh. Vẫn ở chỗ cũ. Xin phép chị.

Không ai lưu khách lại. Và khi cửa cổng khép, căn nhà chàng trở thành tầng đầu của địa ngục.

***

Chỉ còn hai vợ chồng ở căn trước. Bích đã dẫn cháu đi mua thuốc lá, và theo lời mẹ dặn, cố ý nấn ná đâu đó chờ chị dâu đi ra khỏi mới được trở về. Mẹ chàng lui ra sau bếp sau khi đặt trước mặt hai vợ chồng tờ đơn xin tạm trú viết sẵn và cây bút bi mở nắp. Cả hai hiểu ý nghĩa của hành động đơn giản ấy. Mẹ chàng muốn nói gọn : “Ký vào đây, rồi cút đi cho khuất mắt”.

Ban đầu, chàng cũng mong ước như mẹ, nhưng khi thấy vợ chàng nhìn theo mẹ chồng nước mắt doanh tròng, chàng bùi ngùi thương hại. Chàng không nỡ. Chàng biết đằng sau tấm sáo in hình đôi vành khuyên rỉa lông cho nhau, mẹ chàng không bỏ sót một lời thì thào, một cử chỉ nhỏ nhặt nào của hai người. Nhưng chàng không thể tàn nhẫn. Hận thù lại tan dần, thay thế bằng lòng thương hại. Chàng đẩy tách nước về phía vợ, mời nho nhỏ bằng câu hỏi :

– Em có khát không ?

Nàng ngước lên bỡ ngỡ, và khi nhận ra nét mặt dịu dàng của chàng, nàng vui mừng nói:

– Em không khát.

Nàng trầm thêm giọng :

– Em không dám oán trách ai cả. Em đáng kiếp. Anh hiểu cho em được chút nào, em cảm ơn anh chút ấy. Anh ghét bỏ, hay từ chối như lúc nãy, em cam chịu.

Nàng thút thít khóc. Chàng thấy khó xử, không biết phải làm gì. Nếu bình thường, chàng đã choàng tay ôm lấy vai nàng, ấp cái đầu nhỏ tóc thơm mùi chanh vào ngực và tìm ngay một câu khôi hài. Bây giờ thì… làm thế nào đây? Chàng đâm bực bội, giọng hỏi hơi xẳng:

– Nhưng tại sao các người lại giấu tôi cho tới phút chót? Làm như vậy có ích gì ? Thà cho tôi biết ngay từ hai năm trước, để hôm về, trời không đổ sập lên đầu tôi. Làm như vậy là lừa dối tôi tới hai lần. Phải thương hại tôi một chút chứ!

– Em có định tâm dối anh đâu!

– Thế sao mỗi lần gửi đồ thăm nuôi đều có thư của cô ?

– Em thương con quá. Xa con, em đứt cả ruột.

– Chuyện đó ăn nhập gì đến chuyện này? Nếu nghĩ đến con từ đầu, nếu thương con, cô đã… cô đã…

Chàng nghẹn lời, không dám nhắc đến điều đau lòng. Nàng cũng sợ, vội nói:

– Mẹ cấm em không được gặp con. Về sau, phải đi với cô Bích gửi quà ra cho anh, viết cho anh vài dòng, em mới được dẫn nó đi chơi sở thú vài giờ.

Chàng chua chát :

– Hoá ra những lời lẽ trong thư – tôi còn giữ đủ đem về đây – đều do mẹ tôi cưỡng ép cô viết cả. Tội nghiệp tôi cả tin.

– Không phải thế. Em muốn viết cho anh nhiều hơn, muốn anh mắng chửi em, chà đạp em…

– Không dám.

Nàng khựng lại, nhìn chàng dò dẫm. Thấy khuôn mặt chàng không có gì khác thường, nàng tiếp :

– Em van anh, cho em được đến đây thăm con. Cho em…

Chàng cắt lời nàng :

– Chỉ sợ đến một lúc nó không chịu gặp cô nữa thôi!

Nàng lịm người vì sợ hãi bất chợt. Lần đầu tiên nàng nghĩ đến cảnh huống đau xót ấy. Tưởng nàng không tin vì quá tự tín, chàng nói dỗi :

– Vả lại, cần gì cô phải xin. Cô là chủ hộ. Cô muốn làm gì trong nhà này chẳng được.

Nàng mím môi lại. Không nói năng, nàng chụp lấy cây bút bi, ký vào phần ý kiến của chủ hộ. Cây bút bi để lâu ngày không ra mực, nàng phải di di đầu bút lên lòng bàn tay nhiều lần. Chữ ký của nàng run rẩy. Nét gạch bên dưới không được ngay, trông giống như một chữ ký giả mạo.

Chàng lấy giọng khách sáo :

– Nhờ cô mà tôi được tạm trú trong nhà mình. Cảm ơn cô.

Phần nàng, nàng trở lại van lơn :

– Em van anh, cho em được ở tạm đây với con đến sáng mai. Em ao ước được ôm con ngủ trọn một đêm. Em van anh!

Giọng nàng rạn đi, pha lẫn nước mắt. Chàng cảm động, nhưng vẫn cố cứng cỏi :

– Tại sao lại xin tôi? Xin một người tạm trú để được tạm trú? Có ai xin phép một khách qua đường để ngủ tạm trong cái quán trọ?

Nàng tưởng đó là lời từ chối khéo léo nhưng dứt khoát. Nàng khóc nức nở. Chàng đâm hối hận, muốn ôm lấy vai nàng, muốn nói điều gì đấy để an ủi. Nhưng cổ họng chàng nghẹn. Rụt rè do dự mãi, đến lúc không thể dằn được, chàng run run đưa lưng bàn tay lên gạt nước mắt trên má nàng. Ban đầu, hình như nàng chìm đắm trong nỗi thống khổ da diết, không hay biết gì. Về sau, nàng hiểu thiện chí của chàng. Nàng càng nghẹn ngào hơn, đưa hai bàn tay ôm bàn tay chàng, gượng nhẹ, như e sợ nắm phải một điều gì không thực.

Có tiếng tằng hắng đằng sau tấm sáo. Rồi tiếng trúc va vào nhau lách cách. Mẹ chàng ngơ ngác nhìn hai người. Tấm sáo trúc bị rẽ đôi, đôi vành khuyên đang rỉa lông cho nhau xao động biến dạng không còn hình thù gì nữa…

Nguyễn Mộng Giác

Một chuyến lãng du

Sau hai tuần du ngoạn bằng thuyền qua Bắc Hải, chúng tôi bắt đầu chuyến đi riêng của mình: xuyên Âu Châu bằng xe lửa để đến địa điểm cuối là Paris trước khi về Mỹ.

Từ thuở nhỏ, mộng tang bồng bị gieo vào trí óc do cha tôi và những cuốn sách du ký, các cuốn báo”Thế giới tự do” ông mang về nhà cho con cái đọc. Vì thế, bây giờ có ai trách rằng tại sao tôi đi chu du thế giới mãi thì tôi đổ lỗi cho ông già. Lúc còn trẻ tuổi, tôi mơ ước một ngày nào đó, mình được đeo ba lô, nhảy xe lửa nhẩn nha trôi qua những con đường làng, những thành phố nhỏ của Châu Âu, tự do như một đám mây. Lần này, tuy không còn trẻ nữa, thế nhưng tôi cũng như một đám mây, lại phiêu bồng trong mùa xuân mới của Châu Âu.

Tallinn old town Estonia

Từ Copenhagen, tôi và Tuấn đáp xe lửa Deutsche Bahn Intercity Express về Hamburg. Xe lửa Âu Châu thoạt đầu thì có vẻ phức tạp vì trạm xe lửa tại các thành phố chính rất rộng lớn, chia ra nhiều tầng nhiều nhánh, có tầng toàn là tiệm ăn, tầng khác là các tiệm bán áo quần, mỹ phẩm, giày dép, đủ mọi thứ cho các bà ưa thích mua sắm. Ngoài những tầng khác còn dùng để đậu xe; đường rầy cũng nằm nhiều tầng khác nhau. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn vào những chi tiết trên vé hoặc ghé lại các quầy chỉ dẫn là bạn sẽ tìm được chuyến xe của mình, toa nào mình sẽ lên và cả số ghế nếu có đặt chỗ trước. Trong trạm xe có nhiều bảng điện tử liệt kê giờ giấc khởi hành, xe chạy đúng giờ nên hành khách không phải chờ lâu. Chỉ có những du khách như chúng tôi, khi nào cũng ráng đến sớm cho chắc ăn vì dù sao mình cũng đang đi thám hiểm xứ lạ quê người. Hành khách tại vùng Bắc Âu rất lịch sự, không dành nhau hoặc chen lấn, đàn ông tôn trọng phụ nữ nên hay nhường bước cho các nàng. Trái lại, thấy ông xã tôi hai tay kéo hai cái hành lý lớn, anh lúng túng khi phải bước xuống thang cuốn; một cô gái trẻ, da nâu, tóc vàng thật xinh đã khiêng hộ anh một valise. Dễ thương quá chừng!

Trên đường qua Hamburg, cảnh đồng quê thật xanh tươi vì đang mùa xuân, những cánh đồng vàng hoa Colza (hạt dùng ép ra dầu Canola) nở rộ xen lẫn giữa màu xanh của lúa mì hoặc các loại cây xanh đang đơm chồi nẩy lộc. Những cánh đồng Canola là phong cảnh của Bắc Âu và Đức xưa nay, ai cũng thích màu vàng tươi thắm này và nhiều du khách hay chọn mùa xuân để đi thăm cảnh đồng quê Châu Âu khi hoa rộ nở, cùng lần với các loại hoa xuân khác như hoa Uất Kim Hương, hoa Anh Túc, hoa Đỗ Quyên, Hoa Sơn lựu (Rhododendron), …

Cánh đồng xuân

Vì phải xuyên qua biển, tàu lửa chui vào một chiếc phà khổng lồ, trên phà có đường rầy, ngay bên cạnh những xe hàng lớn đã đậu sẵn. Vì sự an toàn, hành khách buộc phải lên tầng trên của phà 45 phút để hóng gió, ăn uống hoặc mua sắm nếu muốn. Tới giờ, họ sẽ báo hiệu cho khách trở xuống xe lửa để chạy tiếp. Tôi vác một cái ghế xếp, ngồi ôm máy ảnh, gác chân lên lan can phà, tha hồ chụp ảnh bến tầu lúc phà khởi hành rồi ung dung nhàn hạ chụp ảnh mấy con chim biển sà thật thấp trên đầu mong kiếm thức ăn. Chả mấy chốc, tàu lửa lại chạy ngang qua các cánh đồng rực rỡ, các thành phố nhỏ có từng khu nhà xinh xắn vây quanh một tháp nhà thờ cao vun vút. Chúng tôi ghé và ở lại Hamburg 3 ngày, sau đó lại ghé Cologne chơi 2 ngày. Đó cũng là những ngày rất thích thú mà tôi phải để dành cho một bài viết khác.

Từ Cologne, chúng tôi lên tàu Thalys để về Paris, xe chạy rất nhanh 300km giờ nên chỉ ba giờ mười lăm phút là tới Gare du Nord. Ngồi trên xe tôi cố gắng chụp ảnh những làng quê, các ga nhỏ và nhất là những graffiti đầy màu sắc trên các vách đá ven theo đường rầy, chỉ khi nào xe chạy thật chậm vào ga hoặc ngừng lại vài phút đón khách tôi mới có vài tấm hình rõ ràng, ngoài ra vì xe chạy quá nhanh, dù có để tốc độ máy thật cao tôi cũng bấm máy không kịp, mà có kịp chăng nữa thì hình ảnh cũng mờ nhạt, run rẩy!!!

Sau hơn ba tuần không được đi xe hơi riêng, chỉ thong dong như chim cánh cụt, hôm nay chúng tôi được chị Bích và anh Hóa ra tận ga đón về nhà. Ngồi trên xe cảm thấy thoải mái thật sự khi anh chạy ra khỏi trung tâm thành phố Paris. Khu vực quanh ga thật là hỗn tạp; người và xe cộ lúc nhúc ồn ào. Nghĩ tới chuyện bị phá hoại, tấn công, gài mìn lại càng bi quan nhiều về tình hình chính trị và người tỵ nạn tại xứ này. Trước ngày chúng tôi đi, con gái tôi lo lắng bắt viết xuống cả lịch trình của cha mẹ cho cháu cất giữ, có rủi ro gì còn biết ngã đi tìm. Chưa khi nào lũ con lại lo lắng như vậy khi chúng tôi lặn lội bốn phương trước những năm thế giới bị khủng bố, nhất là những biến động gần đây tại Âu Châu. Tôi và Tuấn thường hay biện luận rằng: nếu mình tới số thì ở nơi nào cũng chết cả, chi bằng được chết trong lúc mình đang sung sướng vui chơi.

Anh Hóa chở chúng tôi về nhà anh chị tại Torcy,nhà anh là chốn nương thân của chúng tôi trong 5 ngày tới. Torcy là một làng nhỏ về phía đông của Paris, cách trung tâm Paris 22km. Làng này có ngôi nhà thờ nhỏ rất xinh ngay giữa phố, bên kia đường là các tiệm cà phê, bánh mì, tiệm hoa… Trong làng có ba chợ Á Đông và tiệm ăn Việt. Tuy vậy, thức ăn ngoài tiệm không ngon bằng thức ăn Việt của chị Bích nấu ở nhà.

Nhà anh chị trồng rất nhiều hoa hồng, hoa tường vi và nhiều loại hoa đẹp. Hoa xuân nở rộ khắp vườn, có những cây hoa hồng đầy cả hoa, cao hơn hiên nhà, thơm ngát hương gió. Tôi cầm máy ảnh, len lỏi ngoài vườn tìm hoa để chụp; nào là mẫu đơn, uất kim hương, hoa chuông, tử la lan, hoa lồng đèn, hoa ti gôn, hoa quỳnh, hoa giấy, hoa cẩm tú cầu và hoa diên vĩ, hoa đổ quyên, hoa lưu ly tím và còn nhiều loại hoa đẹp không kể xiết, mọc len lỏi trong vách, khe đá, bậc thềm. Phía trước nhà có cây hạt dẽ và cây anh đào, trái anh đào còn nhỏ xíu, xanh bóng như viên ngọc bích.

 

Căn nhà tại thành phố Torcy

Vì chúng tôi đã thăm nhiều danh lam thắng cảnh của nước Pháp và thành phố Paris trong những chuyến đi trước, chuyến này anh Tuấn muốn dành thời giờ để thăm viếng các anh chị họ và tiệc tùng yến ẩm với nhau để ôn chuyện ngày xưa. Tôi thì muốn đi thăm các làng của mấy ông họa sĩ lừng danh nên chúng tôi lập một thời khóa biểu cho cả hai mục đích.

Buổi chiều thứ nhất, anh chị dẫn chúng tôi đi bộ ra phố uống cà phê. Tôi xách theo vài máy ảnh, trong túi có thêm cái điện thoại di động để chụp hình gửi liền cho lũ con. Ai cũng phải chờ tôi vì tôi vừa đi vừa mê mải chụp ảnh các con đường cây xanh chạy song song thật xinh, công viên mát mẻ có các vòm hoa tuyết cầu dễ thương và ngôi nhà thờ cổ kính. Chị Bích thích chụp ảnh nên không nề hà, chỉ có anh Tuấn là hay nhăn nhó vì sợ mụ vợ mình làm phiền mọi người… như thường lệ vì tánh đam mê chụp ảnh. Dùng giải khát xong, chúng tôi đi bộ về, vì thấy tôi mệt, anh Hóa và Tuấn thương tình đi nhanh về trước, lấy xe ra đón hai bà vợ.

Mấy hôm nay thời tiết ở đây trở nên nóng ấm, buổi tối chúng tôi phải mở cửa sổ vì cần hơi gió, may mà không có muỗi nên không bị cắn. Sáng dậy vừa mở mắt tôi nghe tiếng ong bay vù vù, thì ra có một chú ong vừa mập vừa đen xâm nhập vào từ cửa sổ, sợ quá tôi vớ tấm khăn trãi giường trùm kín lên đầu. Sau khi bay mấy vòng do thám, chú ong thấy không có gì hấp dẫn nên bay trở ra ngoài. Mừng quá, tôi vội nhỏm dậy đi đóng cửa sổ, nhanh nhẩu quá nên lăn tòm xuống nền nhà, may mà cái giường chỉ cách mặt đất nửa thước nên tôi hạ cánh an toàn và nguyên vẹn. Đóng được cửa sổ rồi mới ngồi xuống ôm bụng cười khì.

Dùng điểm tâm bằng cà phê, bánh mì baguette, fromage, pâté và bánh ngọt chị Bích mới mua từ tiệm bánh đầu đường. Thật ra thì bên nhà tại California chúng tôi cũng thường ăn như vậy nhưng có một điểm khác là phải lái xe đi xa mới có bánh mì nóng mới ra lò, còn không thì nướng lại bánh mì đông lạnh. Cái thú khác biệt là ở Pháp hoặc Đức, mình chỉ cần tản bộ chút xíu ra phố là được ăn sướng như …Tây!

Van Gogh ngày tháng cuối

Hôm nay chúng tôi đi Auvers sur Oise (làng Auvers trên sông Oise), cách Torcy 65 cây số. Làng Auvers hướng Tây Bắc, ngoại ô Paris, cách Paris chỉ 35 cây số. Địa danh này liên hệ với một số họa sĩ nổi tiếng. Người được nổi danh và nhắc đến nhiều nhất là Vincent Van Gogh. Một họa sĩ tôi rất ngưỡng mộ , tranh ông vẽ chưng bày tại nhiều Bảo Tàng Viện khắp thế giới và có nhiều tấm giá có thể từ 80 đến 150 triệu US dollars.

Thời gian ông sống tại Auvers Sur Oise chỉ 3 tháng cuối đời, trước khi ông tự sát vì bệnh tâm thần ở tuổi 37. Trong thời gian này, ông đã vẽ 77 bức tranh.Tôi muốn tới đây để nhìn ngắm tận mắt những quang cảnh Van Gogh đã nhìn thấy quanh làng trong tháng 5 cho tới tháng 8 năm 1890. Khoảng thời gian ông đã vẽ những bức tranh linh động và màu sắc rực rỡ nhất, khi ông đang ở trong trạng thái xuất thần tột độ trước khi kết liễu cuộc đời mình bằng các viên đạn bắn vào ngực, trên cánh đồng lúa mì. Hai ngày sau ông lìa đời tại phòng trọ của mình tại Auberge Ravoux , căn nhà số 8 Rue de la Sansonne. Trước nhà trọ là tòa thị chính của Auvers, cơ sở này đã được Van Gogh vẽ lại trong một bức tranh, đến bây giờ là 127 năm vẫn không thay đổi.


Bờ Tường Vi

Từ đường Sansonne, chúng tôi rẽ vào con lộ nhỏ thoai thoải dẫn lên đồi. Tôi sung sướng ngất ngây vì cảnh đẹp, mê mải chụp hình các vách tường rêu mốc cũ xưa, dọc theo chân tường. Hoa diên vĩ tím nở hoa màu tím đậm, tím nhạt hay ngả sắc hồng; gợi nhớ bức tranh Irises (Paul Getty Museum). Tôi hình dung người họa sĩ với mái tóc đỏ hoe, ngồi sau giá vẽ, vạch lên khung vải những lằn sơn mạnh mẽ thắm tươi để lưu lại cho đời một mùa xuân miên viễn. Tôi cũng đi trên con đường theo bước chân ông, nhìn ngàn hoa đua nở trong tháng năm, nhìn những bức tường loang lỗ phủ đầy hoa hồng để nhớ luôn cả câu “bờ tường vi…” trong bài ca “Hà Nội ngày tháng cũ” của Song Ngọc. Quá khứ bao giờ cũng tuyệt diệu, thế nhưng Van Gogh càng tuyệt diệu hơn khi ghi lại được những hình ảnh của quá khứ bằng màu sắc hiện thực với tâm tư sôi động của mình. Ngợi khen nước Pháp đã bảo tồn Auvers như trăm năm trước để ngày hôm nay tôi được chiêm ngưỡng những cảnh thật trong tranh.

Nhà thờ Notre Dame tại Auvers

Nhà thờ Notre Dame của làng Auvers ngự trị trên ngọn đồi thấp, tuy vậy đứng trong sân nhà thờ có thể nhìn ra xa quang cảnh phố, mái ngói cổ kính và dòng sông Oise nước trong xanh phản chiếu màu lá cây hai bên bờ. Căn nhà thờ này cũng hiện diện trong một bức tranh, màu sắc cũng tương tự như cảnh thật. Phía bên phải của nhà thờ, tôi thấy một vạt hoa Oải Hương màu tím nhạt, thơm nhẹ trong gió, mấy con ong bay nhảy trong đám hoa, tuy sợ ong chích, tôi cũng cố gắng chụp cận cảnh ong hút mật hoa. Sau khi bước lui ra xa, tôi chợt thấy có một khung cửa gỗ bạc màu sương gió, giữa bức tường loang lổ, vôi tróc khá hoang tàn, cạnh đó là một gốc hoa hồng xum xuê những đóa hồng nhạt và một vạt oải hương tím. Tôi vội vàng chụp vài tấm, vừa dùng máy chuyên nghiệp vừa dùng máy điện thoại di động. Tấm hình trong điện thoại là tấm tôi ngắm nhìn hoài, dù vui dù buồn, đớn đau hay giận dữ, khi nhìn vào tấm ảnh ấy, lòng tôi thường dịu lại ngay tức khắc, có lẽ nhờ màu sắc nhu hòa hay sự cô quạnh và đơn giản của tấm ảnh có khả năng xoa dịu tâm hồn mình. Họa sĩ Van Gogh ngày xưa dùng sơn và cọ, bây giờ tôi dùng máy ảnh, cùng ghi lại những bức tranh hoài cảm. Nếu Van Gogh sống trong hiện tại, có thể ông cũng vác máy hình đi lang thang khắp bốn phương trời như chúng tôi.

Ra khỏi khuôn viên nhà thờ, tôi rẽ qua phía trái. Trời bắt đầu mưa lâm râm, tôi ôm máy hình che trước ngực, rảo bước trên con đường nhỏ, hai bên là rặng cây xanh. Góc đường có tấm bảng chỉ dẫn hướng đi về phía mộ của Vincent và Theo Van Gogh (Theo là em trai của Vincent, người đã cận kề săn sóc anh mình nhiều năm cho đến ngày Vincent tạ thế – Theo cũng chết trẻ vì bệnh, mới 33 tuổi, sáu tháng sau Vincent Van Gogh). Theo con đường trước mặt, chúng tôi đi bộ trong mưa, lúc mưa nặng hạt, chúng tôi kiếm được một băng đá dưới tàng cây rậm ngồi lại trú mưa, lúc bớt mưa lại chụp ảnh cho nhau trên con đường mòn, hai bên là cánh đồng lúa mì còn xanh nhưng trĩu hạt. Vào thời điểm tháng 5 , 1889, Vincent Van Gogh đã vẽ bức tranh “Green wheat Field” và “ Wheat Field with Rising Sun”  tại St. Remy. Tháng bảy, khi lúa chín vàng, lũ quạ đen kéo về kiếm ăn tại cánh đồng lúa mì của Auvers là lúc Vincent Van Gogh vẽ bức tranh “Wheatfield with crows”. Trong tranh, đường mòn uốn cong giữa hai cánh đồng, trên đường cỏ còn xanh nhưng lúa mì đã chín vàng trong bầu trời mùa hạ xanh đậm, vần vũ vài đám mây trắng, bầy quạ đen từ chân trời bay đến như hồ hởi, vồ vập trên mâm cổ, chúng dang đôi cánh, lượn lờ như đám mây đen trên cánh đồng vàng thắm. Tôi đã ngừng tại con đường mòn phía trái của bức tranh, để chụp tấm ảnh hoang tàn đầy cỏ dại trên con đường đất ấy, một con đường ngày xưa tôi thoáng thấy trong tranh.

Bức tranh Wheatfield with Crows được cho rằng đó là bức tranh cuối cùng Van Gogh vẽ, trước khi tự kết liễu đời mình.

Đi được nửa cánh đồng, gió bỗng thổi mạnh , mưa ào ạt đổ xuống, ướt nhưng không lạnh. Chúng tôi chạy như ma đuổi về phía cổng nghĩa địa vì thấy có chỗ trú mưa, không phải lo cho mình mà sợ mấy cái máy ảnh bị ướt. Ha ha, ông Vincent ơi, nếu mưa làm loãng sơn thì làm sao ông vẽ được những tấm tranh với sắc màu tuyệt diệu? Ông cũng phải chạy đi tìm chỗ trú mà thôi!

 

Mưa dứt, tôi rảo quanh tìm ngôi mộ Van Gogh. Thấy hai ngôi mộ của hai anh em nằm bên nhau; mộ được phủ kín bằng dây Ivy, hai tấm bia đá giản dị có khắc tên năm sinh và năm mất. Tuy mộ không bề thế xa hoa như các ngôi mộ trong khu nghĩa địa nhỏ này, nhưng đó là địa điểm được viếng thăm nhiều nhất.Tôi đi quanh quẩn chụp hình những ngôi mộ khác, nhiều ngôi mộ phủ đầy hoa, cả giả lẫn thật, có nhiều cành hoa bằng sứ thật xinh. Có ngôi mộ thật xưa, rêu mốc đen sì nhưng lại có cây hoa hồng rũ bóng thật đẹp, những đóa hoa hồng tươi đậm làm tấm hình tôi chụp có một sự tương phản đặc biệt giữa đời sống và sự chết, giữa quá khứ và hiện tại.

Đi bộ về phố, ba người đồng hành bương bả đi kiếm tiệm ăn, tôi thủng thẳng đi sau, ngó trời ngó đất, bỗng dưng khi nhìn xuống chân, tôi thấy một cái nắp kim loại tròn, màu bạc, đường kính khoảng 1 tấc. trên có khắc chữ Vincent. Tôi bèn rút điện thoại di động, chụp cái hình để sau này tìm hiểu tại sao lại có dấu hiệu này trên đường mình đi. Khi tôi nhìn lại tấm hình thì thấy nửa bàn chân mình đang bước tới, tính xóa đi để chụp tấm khác, không hiểu sao tôi lại ngần ngừ, tấm hình cũng lạ, có cái bàn chân đi tìm dấu tích của Vincent Van Gogh. Tôi bèn chụp thêm vài tấm nữa; vì ống kính của điện thoại rất rộng nên tôi phải né ra xa mới không thấy bàn chân mình trong ấy. Sau này nhìn lại, tấm ảnh với nửa bàn chân có nhiều ý nghĩa hơn là tấm hình kỷ niệm tên ông Vincent. Chỉ có nửa bàn chân thôi, tấm ảnh kỷ niệm đơn giản ấy đã biến thành một tấm ảnh nghệ thuật.

Thăm thêm vài di tích và chụp thêm mấy tấm ảnh căn nhà trọ Ravoux Inn, tòa thị sảnh và các quán cà phê lộ thiên chúng tôi giã từ Auvers. Nài nỉ tài xế cho xuống bờ sông Oise, tôi hí hửng chạy một mạch ra tận bờ, chụp ảnh dòng sông xanh như ngọc thạch. Hai bên bờ sông, rặng cây mùa xuân mượt mà rũ tóc xanh non, trên chiếc bè gỗ, bọn trẻ con chơi đùa, nhảy bơi trong dòng nước mát. Ôi tuổi xuân trong mùa xuân, sao mà sung sướng quá! Aurevoir Mr. Van Gogh!

Dòng sông Oise

Vườn hoa mùa xuân của Monet

Hôm nay trời có mây mù, ánh sáng thiên nhiên cũng trung dung giữa hai thái cực trong thế giới ánh sáng của bình minh và hoàng hôn mà họa sĩ Monet đã tận dụng trong kỹ thuật vẽ. Vì đường đang bị sửa chữa nên chúng tôi phải đi vòng vo tam quốc một chút khi du hành tới Giverny, nơi họa sĩ Monet sống, xây dựng vườn hoa, hồ sen để vẽ tranh trong nhiều năm. Đi vòng vo thì khổ cho tài xế nhưng tôi thích lắm. Trước hết là phải đi qua một cái làng xưa cổ, có nhà thờ (dĩ nhiên) rất xinh xắn ngay giữa làng, sau đó là con đường ngoằn ngoèo xuyên qua làng, nhà trong làng phần lớn bằng đá, vách tường cũng bằng đá; hoa leo trèo khắp nơi rất duyên dáng và tôi may mắn được xuống xe 5 phút để chụp hình; lực sĩ chạy bộ trong thế vận hội chắc cũng chào thua khi thấy vận tốc vừa chạy vừa chụp của tôi. Trong lúc tôi đang chờ phút tái sinh thì xe lại chạy qua những làng xóm khác, cũng yên lặng, cây cối cũng xanh tươi nhưng không có đặc tính, tôi không còn hứng thú chụp hình nữa nên lăn quay ra ngủ.

Đến Giverny, xe đậu ngay dưới một cây hoa hồng trắng khổng lồ, tôi hớn hở nhảy ra khỏi xe ngắm nghía loại hoa đặc biệt này, hoa trồng thật nhiều và cao nên chỗ đậu xe khá im mát. Ra khỏi khu xe đậu, sau hàng rào hoa là bảo tàng viện, những sườn đồi thoai thoải quanh viện phủ đầy hoa Anh Túc màu đỏ. Trong một tấm tranh của Monet, ông vẽ đồi hoa Anh Túc có cô gái cầm dù, đi bộ với một cô bé gái chỉ cao hơn thân hoa chút xíu, đội mũ lát có dây ruban cùng màu với hoa. Ẩn hiện sau rặng cây xanh là tòa biệt thự, có lẽ hai tiểu thơ này là người trú ngụ tại căn biệt thự nọ và đang đi dạo trong cánh đồng hoa dưới bầu trời xuân xanh biếc có những cụm mây trắng lững lờ bay. Xa xa trên đồi, có hai người khác cũng đang đi ngắm hoa, quang cảnh trong tranh thật an bình (Coquelicots, La promenade). Bây giờ, tại Giverny, khu vực bảo tàng viện cũng có cánh đồng hoa poppy gần giống đồng hoa tại Argenteuil, du khách lũ lượt thay nhau chụp ảnh, kêu réo chí chóe tiếng Tiều, tiếng Quảng. Thấy vậy chúng tôi chỉ nhìn xem chút xíu qua hàng rào rồi theo bảng chỉ dẫn đi kiếm nhà cụ Monet (Monet thọ đến 86 tuổi).

Vườn hoa của họa sĩ Monet

Monet sống tại Giverny từ năm 1883, ông mua nhà và bắt đầu xây dựng một vườn hoa cùng với hồ hoa súng (Nympheas). Năm 1899 ông bắt đầu vẽ loạt tranh hoa súng và chiếc cầu Nhật Bản ông xây trên ao. Trong vòng 20 năm, ông đã vẽ rất nhiều bức tranh hoa súng trên hồ, và trở thành lừng danh vì ngày nay ai cũng nhớ tới tên ông qua những bức tranh này. Tranh ông vẽ treo khắp thế giới trong các viện bảo tàng hoặc các bộ sưu tập tư nhân, giá cả thì cũng mấy mươi triệu đô la một tấm. Ngày nay, toàn khu vực được  Foundation Monet quản trị vì cả khuôn viên được hiến cho Academie Des Beaux-Art từ năm 1966 do con trai của Monet là Michael Monet.

Nhà của họa sĩ Monet

Căn nhà được trùng tu lại rất đẹp, tường màu hồng và cửa màu xanh lá cây, trên lối đi bộ quanh nhà, có các thân dây leo, lá xanh rậm quấn quít duyên dáng trên hàng cột bên hiên. Trong nhà bạn có thể thấy phòng ông dùng để vẽ tranh, phòng ngủ của ông và thân nhân, phòng ăn, phòng bếp v.v. phòng nào cũng trang hoàng thanh nhã, màu sắc hài hòa. Trong bếp có dụng cụ nấu ăn sáng loáng treo trên tường đủ làm các nội trợ mê hồn.

Bếp nhà Monet

Toàn thể khuôn viên chia làm hai phần: vườn hoa trước nhà gọi là Clos Norman và khu vườn Nhật phía bên kia đường, xuyên qua một địa đạo để tránh con đường bên trên.

Chúng tôi tha thẩn trong khu Clos Norman chụp hình hoa đã đời, vị trí nào cũng xinh tươi đáng chụp cả nên không rời bước được. Thế nhưng khi qua bên khu vườn Nhật thì quang cảnh lại càng thích thú muôn phần. Bên này là vị trí họa sĩ Monet vẽ cảnh chiếc cầu Nhật Bản, hồ hoa súng và các bức tranh khổ lớn đang được luân phiên triển lãm tại những viện bảo tàng danh tiếng khắp thế giới. Tôi đã được ngắm ba bức tranh hoa súng khổ lớn tại MOMA (Museum of Modern Art in New York) năm 2008 và tấm ảnh chiếc cầu Nhật Bản trên hồ hoa súng tại Metropolitan Musewm of Art trong cùng thời điểm.


cầu Nhật Bản

Trong khu vực này, bạn có thể dạo quanh  hồ, lạch nước và những chiếc cầu nho nhỏ rất xinh xắn bắt qua dòng nước quanh co, bóng phản chiếu trên mặt nước, khi phẳng lặng, khi lăn tăn nhăn nhúm theo cơn gió nhẹ . Trên đường đi, có rặng tre xanh mướt, đủ loài hoa khoe sắc thắm trang điểm lối đi, có hoa Tử Đằng rủ bóng trên cầu, tha hồ mà chụp ảnh. Trên hồ, hoa súng đang nở rộ, có màu hồng đậm, nhạt, vàng hay trắng trên chùm lá tròn xanh tía trải mong manh trên nước, vài người làm vườn đứng trên thuyền nan nhỏ, dùng lưới vớt rong quanh quẩn trong hồ.

Dạo chơi mãi lâu, thấy gần giờ đóng cửa, chúng tôi ra về, trên đường ra khu đậu xe, chị Bích ngồi chờ chúng tôi trong quán cà phê xinh xắn, chúng tôi sà xuống bàn, thở dốc, gọi thức uống và ăn mấy cái bánh beignet nhỏ xíu nhưng ngon tuyệt. Trên đường về, ba hành khách ngủ gà gật để một mình tài xế là anh Hóa lái xe chạy bon bon trên xa lộ; đôi khi tôi chợt tỉnh, nhìn ra cảnh đồng quê, nóc nhà xưa của các làng mạc nho nhỏ thật thơ mộng lướt qua nhanh như thời gian tôi lang bạt tại Âu Châu. Chuyến đi nào tôi cũng luyến tiếc, không muốn về nhà.

Có người nói chuyến đi này của tôi là một chuyến hành hương để tìm thăm các họa sĩ nổi tiếng, nhưng tôi thì cho rằng đây là một chuyến đi cho thỏa mộng giang hồ lãng tử của mình và dù có ráng đi tìm lại hồn mình thì tôi cũng chỉ tìm ra được cái hồn lãng tử mà thôi. Vì thế, tôi còn phải ra đi nhiều lần nữa!

Tôn Nữ Thu Nga    

California- San Dimas, July 21, 2017.

Chú Thích:Tài liệu từ Wikipedia and museum brochures. Ảnh tư liệu Nhiếp Ảnh Gia Tôn Nữ Thu Nga

CON MA DỄ THƯƠNG

 

Bà Trí giật mình, ngồi dậy thật nhanh, người bà toát mồ hôi lạnh, bà ngồi trên giường nhìn sững vào cái máy điều hoà không khí trong góc phòng đang chạy vù vù. Bà nhìn đồng hồ, bảy giờ rưỡi sáng, mặt trời tháng tư đang nhẹ nhàng ửng hồng qua khe cửa sổ, có tiếng xe chạy rầm rộ ngoài đường, có tiếng khóc của thằng bé con nhà bên cạnh mỗi sáng khi mẹ nó đi làm, và âm thanh vỗ về quen thuộc bằng tiếng Mễ của bà ngoại nó. Bà Trí lẩm bẩm… mình nghe rõ ràng mà.

Như thường lệ, bà Trí thức giậy từ sáu giờ sáng nhưng thích nằm chập chờn trên giường, sáng nay chợt bà nghe tiếng than khóc của một người đàn bà vọng ra từ cái máy lạnh làm bà sợ hãi tỉnh cả người. Đầu óc bà chênh vênh với ý nghĩ lạ lùng về một người đàn bà Mỹ lúc trước ở đây và đã chết trong phòng này. Bà Trí nói thầm, có lẽ tại tối qua bà kho nồi mắm sặc hôi qúa nên bà Mỹ này chịu không nổi phải lên tiếng cằn nhằn bà chăng?

Nghĩ thế bà rón rén bước xuống giường, can đảm bước đến góc phòng và vặn tất cả những ngọn đèn trong phòng lên. Cái máy lạnh điều hoà không khí vẫn tiếp tục chạy đều đều. Bà Trí cảm thấy rợn người, bà bất chợt tông cửa, mặc kệ là bà đang mặc bộ đồ ngủ mỏng tanh, bà chạy thẳng xuống văn phòng của người quản lý trong khu chung cư này, với vốn liếng anh ngữ ít ỏi, bà thảng thốt nói với cô ta về tiếng khóc mà bà đã nghe từ cái máy lạnh.

Cô Brenda, người quản lý da đen, vóc dáng to lớn, nghe bà Trí nói xong thì có vẻ không tin, nhưng nhìn nét mặt hoảng hốt của bà Trí nên đề nghị bà đưa lên phòng để cô ta xem xét tình hình như thế nào. Khi trở về phòng, cô Brenda cũng ngồi ngay chỗ giường của bà Trí và cũng nhìn chăm chăm vào cái máy lạnh, không có gì lạ xảy ra cả, chừng năm phút sau cô vỗ vai bà Trí và trấn an:

– Tối qua gió lớn nên tôi nghĩ cái máy lạnh nó chạy nhanh hơn. Bà đã nghe hơi gió đó mà.

Bà Trí đưa tay vặn đài truyền hình số 7 lên, qủa thật trên đài khí tượng đang nói về cơn gió lớn thổi qua từ miền bắc tối qua làm một số cây cối ngã khắp trên đường. Bà thở phào nhẹ nhỏm, nhìn cô Brenda thẹn thùng cám ơn. Trước khi ra về, cô Brenda ghi số điện thoại của văn phòng vào cái điện thoại cầm tay của bà Trí và dặn dò là nếu cần thì bà có thể gọi bất cứ lúc nào. Bà Trí cười thầm về sự ngớ ngẩn của mình, bà tự bảo chắc tại mấy hôm nay bà mê xem cuốn băng Thúy Nga Paris, trong đó ông Nguyễn Ngọc Ngạn kể về những chuyện ma trong khi đi trình diễn ở mấy rạp hát lớn cho nên có lẽ bà bị nhập tâm. Sau khi nghe lại đài khí tượng và nhìn cái máy lạnh vô tri vô giác một lần nữa, bà Trí yên tâm bắt đầu công việc hằng ngày của mình.

Một ngày của bà Trí bắt đầu từ lúc sáu giờ rưỡi sáng, việc đầu tiên là bà thử máu đường của mình và lo uống viên thuốc trị bệnh tiểu đường, rồi bà nấu một gói instant oatmeal ăn lót lòng, bà nghe nói oatmeal sẽ làm giảm bớt lượng mỡ trong máu. Sau đó bà thay áo quần và đi bộ thể thao trong xóm chừng một tiếng đồng hồ. Phần còn lại của ngày là nấu ăn cho bữa cơm trưa và tối, buổi chiều đón xe bus đi đến hội Cao Niên gặp bạn bè. Đời sống của bà Trí với những diễn tiến đều đặn đó đã kéo dài từ sáu năm nay.

Từ ngày chồng mất, bà Trí xin dọn qua ở căn nhà một phòng cho đỡ thấy trống trãi, cũng ở trong khu chung cư cho người nghèo này. Cũng may, khu chung cư có rất nhiều người Việt mà phần lớn là giới trí thức của một “thời xa xưa”. Ngày ông Trí còn sống, mỗi tối hai vợ chồng bà vẫn thường tụ tập uống trà hoặc đánh mạt chược với những người hàng xóm chung cảnh ngộ. Những người mà ngày xưa tiếng tăm một thuở, họ là những người từng cầm binh khiển tướng trong tay và đã bị tù đày một thời gian dài, dài vừa đủ để thân thể họ cưu mang những bệnh tật kinh niên và tâm trí họ rối loạn. Những lần ngồi lại với nhau cả nhóm tìm nguồn vui trong nỗi buồn khi nhắc nhở đến một quãng đời từ hơn ba mươi năm trước. Ngày đó những người chiến sĩ như họ mang trên vai hai chử tổ quốc với trọng trách nặng nề bao nhiêu thì bây giờ nỗi tủi hổ của người di dân càng đè nén hơi thở của họ từng ngày. Sau tháng Tư 75, khi ở tù về, những người như ông Trí phải đành đoạn ra đi vì ở lại sẽ không có một lối thoát ngoài sự nhục nhã và sự tàn phế tâm thần khi sống dưới chế độ mới.

Chiều nay từ hội Cao Niên về, bà Trí cảm thấy đầu óc căng thẳng vì còn bị ám ảnh từ tiếng khóc bà nghe từ ban sáng. Hôm nay, cả hội lại bàn chuyện tổ chức ngày tưởng niệm ba mươi tháng tư vào tuần tới. Cũng như mọi năm, bà cùng những bà bạn lãnh nhiệm vụ nấu ăn cho ngày lễ long trọng đó. Năm nào hội Cao Niên cũng cung kính tổ chức một đêm không ngủ để cầu nguyện cho những người đã hy sinh vì tổ quốc, và để cùng ngồi lại với nhau bên tách trà, bên ly café xót xa ôn lại một lịch sử thật gần trong tâm tưởng.

Vì qúa mệt nên bà Trí đi ngủ sớm. Trong cơn mơ bà Trí thấy mình đang trở về quê hương vùng miền Tây ruộng đất phì nhiêu, cây trái đơm hoa quanh năm, nơi đời sống rất hiền hoà trong căn nhà rộng lớn của ba má bà. Bà nhớ đến mùa gặt lúa, tiếng hò dòn dã của những tá điền vang vọng trong không gian nghe đượm tình quê hương trìu mến. Họ gặt lúa, rồi giã gạo trong đêm thâu bên bếp lửa hồng, bên nồi cháo trắng ăn với cá lòng tong kho mặn mòi. Ôi, một thuở thanh bình! Rồi súng nổ khắp nơi, bom đạn rơi khắp lối, ruộng đồng đổ nát tơi bời. Thời thanh bình qua đi,cuộc sống thu gọn trong ngôi nhà gạch thừa tự trong khu vườn nhiều cây lá bên cạnh con lạch nhỏ. Ông Trí ở trong quân đội nay đây mai đó, bà ở nhà với đứa con gái duy nhất của hai người. Bỗng dưng tháng Tư 75 đến một cách kinh hoàng, căn nhà gia phả của bà bị chiếm trọn, bà đành dọn ra ở căn lều nhỏ nhoi nằm trong góc vườn mà mỗi đêm khi nằm đơn côi một mình bà như còn nghe văng vẳng đâu đây tiếng ai gọi nhau ơi ơi từ những chiếc thuyền nhỏ chèo lóc lách ngang qua con lạch sau nhà.

Đang nằm mơ màng, bà Trí bỗng tỉnh giấc vì tiếng gọi “bà ơi thức dậy uống thuốc”, tiếng gọi phát ra từ cái máy lạnh trong góc phòng. Bà tỉnh hẳn người, nhìn trân trối vào cái máy lạnh, không có gì thay đổi, vẫn âm thanh đều đều phát ra hơi mát khắp phòng. Đồng hồ trên chiếc bàn ngủ chỉ đúng bảy giờ rưỡi sáng. Bà Trí cảm thấy toàn thân mình như tê liệt, đúng giờ này hôm qua cũng có tiếng than khóc từ cái máy lạnh đó ra. Bà Trí run rẩy chồm qua bàn lấy cái điện thoại cầm tay và bắt đầu gọi xuống văn phòng.

Chỉ trong vòng vài phút, cô Brenda mở cửa phòng bước vào. Bà Trí oà lên khóc và kể cho cô ta về tiếng kêu vọng ra từ cái máy lạnh. Cô Brenda nghe xong thì nhìn bà Trí e ngại hỏi:

– Bà ngủ có đủ không?

Bà Trí dụt dè đưa tay chỉ vào cái máy lạnh:

– Tối hôm qua tôi mệt nên ngủ rất ngon. Sáng nay …nó đánh thức tôi.

Rồi bà ngập ngừng hỏi:

– Ngày trước có người chết trong phòng này phải không cô?

Cô Brenda lắc đầu:

– Tôi thật sự không biết điều đó, nhưng tôi nghĩ là bà đang suy tâm nhiều qúa nên nhiều tưởng tượng đó thôi.

Thật vậy, hai hôm nay lòng bà bồn chồn, nao núng khi bà nghe lại tin tức về vụ đặt bomb ở Boston Marathon cách đây một năm,vào ngày mười lăm tháng tư. Bà đã khóc khi nhìn thấy hình thằng bé chỉ mới tám tuổi bị chết thảm thương trong khi đứng chờ bố chạy bộ về ngay vòng dây cuối. Ba người chết, hàng trăm người bị thương. Bà chợt nhớ tới sự khủng bố năm xưa ở SàiGòn, hai trái C4 cài vào, nổ một trái, trái thứ hai cho nổ khoảng vài phút sau đó khi xe cứu thương tới và dân chúng đứng xem sẽ chết chùm theo. Sao mà tàn bạo, hãi hùng qúa.

Bây giờ là tháng Tư, tháng Tư trong ký ức đau thương của bà mang hình ảnh của đứa con gái còn rất trẻ của bà, là vợ của một chiến sĩ bấy giờ đang xông pha ngoài chiến tuyến. Con gái bà lúc đó đang mang bầu, bị xuất huyết qúa nhiều phải đưa từ Cần Thơ lên Sài Gòn, ngày hai mươi sáu tháng tư, đường xá ngập đầy bom đạn, xe cộ nghẹt lưu thông, đứa con gái của bà bị đưa trả về nhà thương ở tỉnh và đã chết vì bị sản hậu. Bà đau đớn nhờ người chôn con sau vườn. Ông Trí và thằng con rể của bà may mắn trở về từ những vùng địa danh đã không còn trong lịch sử và không bao lâu thì bị gọi đi tù.

Chiến tranh tàn nhẫn và hậu qủa của chiến tranh là những mất mát oàn oại, những căm hờn mang theo canh cánh trong lòng. Tháng tư, dân miền Nam mất tự do, mất đất nước, riêng bà thì mất một người con, một đứa cháu chưa ra đời, thằng con rể chết trong tù, và chồng bà từ ngục tù về với một thân thể quằn quoại và một tâm hồn hoang tàn. Bà âm thầm săn sóc chồng cho tới khi cả hai được viện HO bảo trợ qua Mỹ. Nhờ thuốc men đầy đủ và sự săn sóc chu đáo của y tế Mỹ, ông Trí cũng sống được mười năm trước khi mất vì bệnh tim.

Cách đây hai ngày, khi vừa cúng giỗ mỗi năm cho con gái, bà Trí nhận được điện thoại của cô em gái từ Việt Nam gọi qua cho hay là căn nhà ngày xưa của bà bây giờ người ta ủi đất san bằng để xây chùa. Cô em còn cho hay là sau khi chùa cất xong, mỗi đêm mấy tăng ni họp nhau tụng niệm liên tục một tháng liền vì tất cả đều qủa quyết là họ nghe có tiếng gõ cửa của một người vào lúc nữa đêm xin vào tá túc trong chùa. Mặc dù không tin dị đoan, nhưng sau khi nghe chuyện cô em kể xong, bà Trí cũng không tránh khỏi ý nghĩ là có phải cô con gái của bà, người đã chết tức tưởi từ một tháng tư dạo nào đang trở về tìm nơi nương náu. Tối đó bà thấy khuôn mặt rất thương yêu của con gái bà hiện về trong giấc mơ.

Với những dự kiện dồn dập làm rối loạn đầu óc trong mấy ngày qua, bà Trí nhìn cô Brenda và thở dài:

– Có lẽ cô nói đúng, chắc tinh thần tôi đang bị giao động quá thôi.

Cô Brenda cầm tay bà an ủi và một lần nữa căn dặn bà nên tịnh dưỡng. Cả ngày hôm đó bà Trí tự trách mình yếu bóng vía rồi đâm ra suy nghĩ vớ vẫn. Bà dành hết thì giờ cặm cụi nấu những món ăn cho ngày ba mươi tháng tư như đã hứa với hội Cao Niên. Tối đó bà lại ngủ thiếp đi trên chiếc ghế sofa trong lúc đang coi cải lương qua đài truyền hình satellite.

Bảy giờ rưỡi sáng, có tiếng gọi thật nhỏ nhẹ “ bà ơi tới giờ đi bộ rồi”. Bà Trí mở mắt, nhìn trừng trừng vào cái máy lạnh, rõ ràng lời kêu vọng ra từ đó, nhưng bây giờ bà chỉ cảm được làn hơi mát đang toả ra từ cái máy như một lời chế giễu đối với bà. Trên đài truyền hình, thấp thoáng những hình ảnh chiếu lại từ biến cố nổ ở Boston. Những hình ảnh đau đớn, tàn khốc mà bà nghe đi nghe lại cả tuần nay. Hình ảnh những người trẻ tuổi với cuộc đời đang đầy nhựa sống đã mất đi một phần thân thể một cách tức tưởi trong biến cố từ năm trước. Bà Trí lặng người, bà không bị nhập tâm đâu, tai bà nghe rõ mồn một về lời nói từ cái máy lạnh đó, bà biết kêu ai bây giờ, gọi cô Brenda thì chỉ để cho cô ta nghĩ là bà bị bệnh tâm thần thôi. Sau vài giây suy nghĩ, Bà Trí bình tỉnh, đứng dậy mở tung cửa phòng, bà lấy một cái ghế chặn cho cửa mở toang ra. Bên nhà hàng xóm tiếng khóc của thằng bé con mỗi sáng nghe như tiếng mi eo của một con mèo nhỏ. Bà Trí sửa soạn ra đón xe bus và đi thẳng đến hội Cao Niên vì bà đang cần gặp một người mà bà nghĩ có thể khi nghe bà nói về chuyện tiếng kêu từ cái máy lạnh sẽ không cười cho là bà điên loạn.

Qủa thật như bà mong muốn, ông bác sĩ Cần chuyên môn về bệnh tâm lý (psychiatrist), là người trẻ nhất hội vì ông chỉ mới sáu mươi lăm, hay đến hội vào sáng sớm để uống café,tán gẫu,và chơi cờ tướng với những cụ già khác. Khi thấy bác sĩ Cần đang ngồi một mình bà Trí mừng qúa, chào hỏi và mời ông qua quán McDonald bên cạnh uống acafé. Sau khi chăm chú nghe bà Trí kể về tiếng than khóc, tiếng kêu từ cái máy lạnh trong mấy ngày qua, bác sĩ Cần gật gù hỏi:

– Chị tin là có ma không?

Bà Trí bối rối:

– Tôi tin là có những vong linh.

Bác sĩ Cần lại hỏi:

– Thế chị có sợ ma không?

Bà Trí ngần ngại không trả lời vì quả thật thì bà có sợ, bằng chứng là mấy ngày qua bà bị ám ảnh hoài về tiếng kêu, tiếng than khóc từ cái máy lạnh đó.

Không đợi bà trả lời, bác sĩ Cần nói tiếp:

– Những bóng ma là những linh hồn đã đi về nơi cát bụi, như những hương linh mất mát

trong cuộc chiến, như những bóng dáng của người thương yêu mà chúng ta thương tiếc, nhớ nhung. Khi nói đến ma thì chúng ta thường nghĩ đến những hình ảnh xấu xí, quái gở, hay phá phách, dữ dằn. Theo lời chị kể thì tôi thấy “con ma” của chị rất dễ thương và tốt bụng vì rằng mỗi sáng nó đánh thức và nhắc nhở chị làm những chuyện rất hữu ích cho sức khoẻ của chính chị.

Bà Trí nhìn bác sĩ Cần, mặc dù ông đang cười nhưng không phải là cái cười chế diễu mà trái lại rất thành thật. Bác sĩ Cần nhỏ nhẹ khuyên:

– Tối nay chị về nhớ uống một viên Benadryl, ngủ thật an lành để sáng mai còn phụ tụi này sắp xếp cho ngày lễ trọng đại nữa.

Bà Trí gật đầu cám ơn, bà cảm thấy đầu óc thanh thản. Chỉ đơn giản thế thôi mà bà nghĩ không ra, bác sĩ Cần nói rất có lý, có ai thật sự quấy rầy bà đâu, nếu bà để ý thì những lời gọi từ cái máy lạnh đó có lẽ là những nhắc nhở rất ân cần, nhẹ nhàng. Buổi trưa từ hội Cao Niên về, bà ghé qua Chùa Linh Sơn, thắp nén nhang khuấn nguyện cho những hương linh yêu dấu của bà được siêu thoát, cho bà vị tha để quên đi nhưng đau đớn, căm hờn mà bà đã cưu mang trong bao năm qua. Tối đó bà Trí ngủ thẳng giấc đến sáng.

Đồng hồ chỉ đúng bảy giờ rưỡi, bà mở mắt, chờ đợi, một lúc sau bà nhìn sang cái máy lạnh và nói lẩm bẩm một mình… ủa sao hôm nay không có ai kêu mình dậy vậy kìa.

Nguyễn Thị Huế Xưa

CHIẾC PHONG CẦM CỦA BỐ TÔI

 

Thay lời tựa:

 Tôi yêu lắm cái linh hồn,
Gọi là tinh thần luân lý giáo khoa thư
Vất vưởng theo bước chân người Việt Nam tị nạn
Tôi luôn tìm chỗ nương náu
Cho cái linh hồn mờ phai ấy
Trong xã hội nhiễu nhương này
Hôm qua, hôm nay, ngày mai, và nhiều ngày sau nữa.
Tôi đã bắt đầu và tiếp tục cuộc hành trình.
Vào nước Mỹ thênh thang
 Tôi đi,
 Nương theo linh hồn luân lí giáo khoa thư của Việt Nam nhỏ bé
 Đi mà nhớ mãi,
 Tiếng đàn của một ông giáo,
 Ôi tiếng Phong Cầm của Bố Tôi.

Tên tôi là Dương Thị Như Hoài An. Ở Mĩ tôi mang tên Ann Dương. Tôi là con gái một ông giáo dạy văn chương, sinh ngữ. Bố tôi là một người tị nạn Việt Nam. Ông dạy học suốt đời. Sang Mĩ từ năm 1975, bố tôi may mắn hơn nhiều bạn hữu của ông: ông được tiếp tục nghề dạy học. Người Mĩ gọi bố tôi là Dr. Dương.

 Tôi không phải là một nhà giáo. Tôi là một chuyên viên kinh tài thị trường chứng khoán. Tôi có tiền bạc sung túc hơn bố tôi, vì tôi không chọn nghề dạy học, dù rằng thời thơ ấu ở Huế, tôi đã từng ôm mộng trở thành giáo sư dạy dương cầm. Năm tôi sáu tuổi, bố tôi để tôi lên yên sau chiếc xe đạp của ông, rồi ông gò người đạp xe đến trường Jeanne d’Arc, Huế. Ông phó thác tôi cho Sơ Thanh Tâm Fred Pierre. Bà là người dạy tôi đặt ngón tay lên phím trắng dương cầm lần đầu tiên.
 Chiếc xe đạp, thân người mảnh khảnh, cặp kính cận của bố tiô, những vòng bánh xe quay trên con đường im vắng của thành phố Huế, và những phím trắng dương cầm, tất cả trở thành những hình ảnh mờ nhạt khi tôi mạnh dạn xách cặp da đi vào trụ sở Goldman Sachs (°) ở Nữu Ước. Từ đó, tôi quên những con đường im vắng của Huế xưa cũ, quên những phím trắng dương cầm, và quên luôn đời sống của bố mẹ tôi, nhất là của bố tôi, một nhà giáo Việt Nam lưu vong tị nạn. Trong những đêm Nữu Ước sáng rực ánh đèn, tôi ngồi trong văn phòng, đối diện cái máy vi tính, thoáng nghĩ đến bố mẹ tôi. Rồi vội vã kết luận: chắc là bố mẹ tôi vẫn bình an, sau đó lại tiếp tục dán mắt vào cái máy vi tính.
Tôi không biết bố mẹ tôi sống như thế nào, nói chi đến việc hiểu được sự mất mát của bố tôi… cho đến ngày tôi từ giã Goldman Sachs để về miền Nam sống bên cạnh bố mẹ. Tôi trở về với bố mẹ vì đã mệt mỏi với nghề nghiệp của mình. Tôi muốn đi tìm phím trắng dương cầm của thời thơ ấụ.
 Và trong khi đi tìm phím trắng dương cầm cho mình, tôi bắt gặp, từ quá khứ im lìm, những mảnh đời của bố mẹ tôi…

°Suốt những năm ở Mĩ, bố tôi làm nghề viết curriculum cho một quận học chánh ở Texas. Viết xong curriculum, ông đem bài vào lớp thực nghiệm cho lũ trẻ con không nói tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, trong những ngôi trường thị tứ (urban) cho con nhà nghèo, rồi ông phải bênh vực bài giảng của mình soạn ra, trước những con mắt phê bình của những nhà giáo dục tiểu bang, đa số là những con người chưa từng bước chân ra khỏi vòng đai tiểu bang Texas, nói giọng eo éo theo cái lối miền Nam. Qua bao nhiêu kiểm điểm, phê bình, bài của bố tôi mới được in ra, trở thành bài học căn bản cho lũ trẻ con nói hai thứ tiếng.

 Bao năm nay bố tôi sinh sống bằng nghề dạy học. Ngày lại ngày, sáng nào bố tôi cũng dậy từ năm giờ. Mẹ tôi dậy theo. Mẹ tôi để vào cái túi giấy dầu một cái bánh mì chả lụa, một trái chuối, và một lon sữa đậu nành. Đó là bữa ăn trưa của bố tôi. Sáu giờ sáng bố tôi ra khỏi nhà, cầm theo cái túi giấy dầu, và tài liệu dạy học nằm trong cái cặp da càng ngày càng cũ. (Tính bố tôi ưa sưu tầm, lưu trữ, không thích vứt bỏ cái gì cả. Ông khư khư giữ tất cả những gì ông đã sắm để rồi…tôi biết một ngày kia tất cả sẽ tan biến đi, như lần di tản 1975).
Mẹ tôi than với tôi: “Cha con chán nghề dạy học rồi. Ông chỉ mong về hưu để sang Cali với bạn bè và học trò cũ. Về hưu rồi thì tha hồ mà tán gẫu ở tòa báo Người Việt với Người Chàm, Thế Hệ Hai Mươi với Thế Kỷ Hai Mốt…”

Trong căn bếp hẹp, mẹ tôi sửa soạn túi giấy ăn trưa cho chồng. Tôi nghĩ, chắc bố tôi chán nghề dạy học thật. Khi cầm cặp với túi thức ăn đi ra cửa, mặt ông chảy dài có vẻ đau khổ, đôi mày ông cau lại. Tôi đi làm cho Goldman Sachs có nhiều lúc cũng chán ngán như thế. Quanh đi quẩn lại, hai mươi năm trôi qua, tôi bàng hoàng nhận ra là mười ngón tay mình đã phụ bạc phím dương cầm. Nên tôi đã từ bỏ tiền lương sáu con số mà “lang thang giữa đời ối a biết đâu nguồn cội.” Tôi đi làm, bước chân vào văn phòng với chiếc ví Chanel, với nước hoa và phấn son thơm ngát, còn bố tôi bước chân ra cửa, trĩu nặng trên vai cái nếp sống đơn bạc của nghề giáo. Với tôi, chiếc ví Chanel, nước hoa và son phấn trở thành niềm an ủi, còn bố tôi lấy gì làm an ủi? Nhìn bố tôi chậm chạp trong bếp, tôi mủi lòng. Đời tôi đã có nhiều ngậm ngùi, từ công danh cho đến tình duyên. Bây giờ, trong tuổi già của bố mẹ tôi, hình như tôi phải cưu mang thêm nỗi ngậm ngùi của họ. Tôi chạy vào phòng tìm cái túi Lancôme cũ đưa cho bố tôi để ông làm túi đựng đồ ăn trưa. Tôi nói: “Cho nó lịch sự, bền bỉ hơn một chút, bố ạ.”

 Từ hôm đó, mỗi sáng bố tôi rời nhà với chiếc cặp da cũ, thêm cái túi Lancôme đựng đồ ăn rất “ốp a” của cô con gái thay thế cái túi giấy dầu. Ông nói với mẹ tôi: “Cái túi Lancôme chắc chắn không bị rách vì lon sữa đậu nành như cái túi giấy dầu.” Mặt ông nom nghiêm trọng như thể đang nói chuyện tương lai nước Việt Nam. Mẹ tôi thì chê cái túi Lancôme nom đàn bà quá.
Bố tôi dễ thương ở chỗ ông lập dị một cách vô tư lự. Thí dụ ông soi gương cắt tóc lấỵ. Có lần, tóc méo một bên không giống ai, ông vẫn tỉnh bơ, tuyên bố, “Hà tiện đồng nào hay đồng ấỵ.” Thế nhưng bố tôi lại rất hồ hởi đi mua tranh của ông họa sĩ Đinh Cường về treo trong nhà làm cảnh.
Khi ông rời nhà, mang theo cái cặp và cái túi, tôi đứng nhìn theo ông, tự hỏi trong cuộc đời nhà giáo, ông lấy gì làm an ủi, thay thế vị trí cái ví Chanel trong cuộc đời Goldman Sachs của tôi?
Nếu bố tôi không thích dạy học nữa, tại sao ông vẫn gương mẫu hơn bất cứ một công dân gương mẫu nào của Mĩ quốc nàỵ Ông phê bình chuyện tôi bỏ việc ở Goldman Sachs: “Nó trả con nhiều tiền thế, sao lại tự dưng xin thôi?” Ông hay nhận định viec các em tôi và dâu rể có tật làm việc đi trễ về sớm theo ngôn ngữ Bắc Kì: “Chúng mày lạ quá, tao chẳng bao giờ đi làm trễ. Mĩ nó đúng giờ giấc lắm, đi trễ về sớm như chúng mày là bậy, bậy, bậy lắm” Em trai tôi cười trừ, nheo mắt, “Yes, Sir.” Em gái tôi thì nhỏ to: “Bố không muốn bê bối vì bố…sợ tụi nó! Bố mặc cảm Việt Nam quá trời!”

Như một cái đồng hồ báo thức, trong mười tám năm, cứ sáu giờ sáng là bố tôi rời nhà với cặp da túi giấỵ. Bảy giờ sáng là bố tôi đã có mặt tại trường. Trừ khi đau ốm, ông không hề nghỉ một ngàỵ. Nếu quả tình dạy học ở Mĩ là khổ thì khả năng chịu đựng của ông thuộc hạng… siêu! Ngày nào cũng như ngày ấy, sách cặp da túi giấy trong mười tám năm!

 Tôi vô tâm không hiểu tại sao bố tôi đi làm với nét mặt đau khổ. Tôi cho là bố tôi đã được voi, còn muốn đòi tiên.
Cho đến một hôm…

Không còn đeo gánh nặng của Goldmans Sachs trên vai, tôi có thì giờ theo bố tôi đến lớp học một ngôi trường thị tứ…Bắt đầu bằng sự tò mò của một đứa con, tôi trở thành nhân chứng một ngày trong đời của bố tôi, để bàng hoàng nhận ra sự mất mát của thế hệ lưu vong đi trước. Bố tôi đứng, cũng phấn trắng bảng đen, ông hò hét không lại lũ trẻ con ngỗ nghịch, đen, trắng, vàng, Mễ có, Việt có, Tầu có. Ông đứng cô độc, già nua, nhỏ bé trong cái lớp học tồi tàn.

Ngày hôm ấy tôi nhận thức được sự đau khổ của một nhà giáo Viêt Nam ở Mĩ! Đây không phải là trường Trần Quý Cáp với những người học trò Quảng Nam tình nghĩa, tự biết cúi đầu khoanh tay, yêu thương thầy cô cho đến 30 năm sau không phai nhạt. Đây không phải là Đại học Vạn Hạnh của một xứ sở Phật giáo mà hình ảnh từ bi của Như Lai hòa nhập với con đường đi tìm kiến thức. Bố tôi không còn là ông giáo mảnh khảnh mang kính cận giảng dậy văn chương Anh cho sinh viên. Từ Merchant of Venice cho đến A Farewell to Arms. Ông không còn say sưa dạy dịch Việt-Anh thế nào cho hay, từ Dọc Đường của Thanh Tâm Tuyền đến Mai Thảo, Những Vì sao của Diệu. Ông đứng trước bảng đen lạc lõng, cầm những tấm bích chương ông viết tay, nắn nót, danh từ, tĩnh từ, theo mấy cái phương pháp lẻ tẻ của giáo dục song ngữ (billingual education). Tóc ông bắt đầu thưa. Mắt ông lờ đờ sau cặp kính. Hai má xệ xuống theo tuổi già. Ông đứng đó, nhưng cũng vẫn phấn trắng bảng đen. Phấn trắng, bảng đen đeo đuổi ông cho đến hết cuộc đời.

 Có một đứa trẻ người Mễ, khoảng 14 tuổi, khi không nổi hứng thổi cái kẹo cao su vào bố tôi, chiếc bong bóng bay ngang không khí, “đậu” lại trên sân bay là cuốn sổ tay của bố tôi. Đứa trẻ la lên:
–“Dr. Dương!”
 Nó ăn kẹo như vậy đâu có nghĩa nó là hiện tượng Bầy Thú Trước Bảng Đen của Duyên Anh! Nó chỉ là đứa trẻ nhà nghèo học trường thị tứ, nó thích gì là làm nấy. Theo bản năng tự nhiên. Trong môi trường thị tứ này, không có cái khuôn khổ nề nếp gọi là văn hóa giáo khoa thư ngày xưa của bố tôi. Của học trò Trần Quý Cáp, Đồng Khánh, Petrus Ký…Cái văn hóa của một lớp người biết chắp tay, “Thưa Thầy, con đi!!!”
 Chắc vì nghĩ như thế nên bố tôi, cương vị của một nhà giáo dục lưu động, không có vẻ gì giận dữ. Ông quay lại cười với đứa nhỏ. Nói theo kiểu nôm na của bà nội tôi, nom ông “lành như Bụt.” Thằng bé chẳng thèm nói xin lỗi. Ông đưa tay vớt cái bong bóng trên cuốn sổ. Tôi lặng người. Bố tôi, người giáo sư nước Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa, của khuôn viên đại học, giờ phút này bị biến thành một nhà giữ trẻ bất đắc dĩ.
 Đến giờ ra chơi, bố tôi đi vào phòng giáo sư, ngồi cạnh những đồng nghiệp nói giọng eo éo miền Nam. Ông ăn miếng bánh mì chả lụa, uống lon sữa đậu nành, nhỏ nhẹ chép miệng theo kiểu Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến. Tôi xin cám ơn cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã đem chả lụa với sữa đậu nành vào nước Mĩ rộng lớn dư thừa chất đạm từ hamburgers cho đến rib eye… Chả lụa với sữa đậu nành cho bữa ăn trưa của bố tôi. Trong mười tám năm, ngày nào cũng một menu đó.

Đêm hôm ấy, tôi, Dương Thị Như Hoài An tức Ann Dương, con gái đầu lòng của một ông giáo Việt Nam, trằn trọc không ngủ được. Tôi nhớ đến một vật sở hữu bố tôi đã có và đã mất. Tôi nhớ đến chiếc phong cầm của bố tôi. Như tôi đã nói, bố tôi có tính quen sưu tầm, lưu trữ, ít khi phế thải một vật sở hữu nào. Bằng chứng là ông vẫn giữ cái cặp da đầu tiên trong công vụ dạy học ông mua tại Sàigòn hồi cuối năm 1955 trước khi lên đường ra miền Trung dạy học, nhất là cái bộ đồ “bốn túi” kiểu “kí giả” ông mang theo từ 1975. Đó là cái “mốt” một thời của bố tôi.. Nhiều lần, lũ con phải la lối đòi tẩy chay bố để ông khỏi lôi bộ đồ cổ lỗ sĩ ra mặc.

 Giữa đêm tối, tôi chợt hiểu rạ Tôi hiểu rồi, hiểu cái mất mát của bố tôi. Cái đau khổ mơ hồ của tôi hôm nay bắt đầu từ hình ảnh chiếc phong cầm thời thơ ấụ CHIẾC PHONG CẦM CỦA BỐ TÔI… Khi tôi bắt đầu có trí nhớ thì bố tôi đã có chiếc phong cầm ấỵ. Bố tôi mất nó vào năm 1964, trong những ngày Huế sôi nổi xuống đường.
 Đầu năm 1963, tôi lên sáu, thì bố tôi từ Pháp về. Ông đi du học từ hồi tôi ba tuổị. Không có bố bên cạnh, tôi sống trong không khí quây quần bên họ ngoại. Ngày ông về nước, ông là một hình ảnh xa lạ. Ông mảnh khảnh, mặt hơi tư lự. Tôi nhìn ông mà hơi sờ sợ. Những ngày ở Pháp về, ông không vui, có lẽ vì thời cuộc. Con bé Hoài An ở tuổi thơ dại đó, bèn bắt đầu một công trình nghiên cứu qui mô. Tôi quyết định nghiên cứu bố tôi. Việc đầu tiên tôi nhận xét là những câu nói của người nhà. Tỉ dụ, bà vú bảo: “Ông Tây quá,” “Tối ngày ông nghe dĩa hát.” Những tiếng hát trong vắt, ngôn ngữ xa lạ. Sau này lớn lên, qua Mĩ, tôi mới biết đó là dĩa hát nhạc kịch My Fair Lady ông mua từ Luân Đôn. Thời gian sinh sống ở Nữu Ước, tôi vẫn luôn tự hỏi biết đâu sự say mê âm nhạc và sân khấu của tôi đã bắt đầu với tiếng ca trong vắt từ cái dĩa hát của bố tôi ngày đó.
 I could have sung all night
 I could have sung all night
 All night
 Và tiếng hát vút lên, ngân dài, cao ngất:
 All night…
 Trong dãy phố Nguyễn Trường Tộ ở xứ Huế êm đềm, chỉ nhà tôi là có cái dĩa hát quay vòng vòng. Bố tôi cầm cái cần nhẹ nhàng đặt lên dĩa hát, rồi cái dĩa quay vòng vòng, và tiếng hát xa lạ trong vắt bay ra từ cái hộp. Tôi nghĩ theo bà vú: “Sao mà nó Tây thế!”
 Ngoài cái máy hát, bà vú còn nói bố tôi mặc “áo tơi” đi trong nhà. Tôi đi theo nhìn bố tôi, thấy bà vú nói đúng. Bố tôi không mặc bà ba trắng có khuy cài như ông ngoại tôi. Bố tôi mặc cái áo thùng thình cột dây ngang lưng, tương tự như cái áo đầm dài đến chân (sau này tôi mới biết đó là cái robe de chambre). Bà vú bảo: “Tây ơi là Tây! Ôn ở lỗ mặc áo tơi đi trong nhà!” Tôi cũng muốn bắt chước bố tôi “mặc áo tơi” đi vòng vòng trong nhà như thế. Bà vú bảo: “Hoài An ơi, dị lắm. Đừng bao giờ bắt chước cha mi!”
 Sau đó bố tôi còn vẽ tranh, ông hay đi vẽ với họa sĩ Hiếu Đệ. Ông này hay xoa đầu tôi rất lâu. Tôi còn nhớ ông ta có cặp mắt kính rất dàỵ.Trong những tranh của bố tôi, có một tấm có cái thuyền treo ngược. Tôi không hiểu tại sao cái thuyền lại treo ngược, làm sao chèo được trong những ngày nước dâng ngập Đập Đá hoặc bão lụt ở miền Trung? Tôi hỏi mẹ tôi. Mẹ tôi cũng không hiểu bố tôi vẽ cái gì? Chỉ có bức tranh Thành Nội có rêu xanh, tường nâu là tôi thấy giống ngoài đời.
 Cứ như vậy, con bé Hoài An, lên sáu, nghếch mắt nhìn người bố xa lạ, quan sát và suy tư.
 Rồi bố tôi đem sách Pháp ra dạy tôi học: “C’est une chaise… C’est le chèvre de Mr. Seguin…” Sao mà chán quá! Thêm cái màn phải dậy sớm, tắm rửa, thay áo, uống sữa (một việc mà tôi rất ghét), rồi leo lên xe đạp cho bố tôi đèo đến trường Jeanne d’Arc tập đàn. Tập đàn thì cũng được đi, nhưng tôi không muốn tập theo Méthode de Rose. Tôi muốn đánh mò bài “Những Đồi Hoa Sim, ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt” theo kiểu Phương Dung, con nhạn trắng Gò Công. Sơ Thanh Tâm mà biết được sẽ khẻ tay tôi đau điếng. Tôi không biết thở than với ai về những cái khó chịu mà bố tôi bắt tôi phải trải qua.
 Tóm lại sự có mặt của bố tôi làm cuộc đời tôi bị xáo trộn. Tôi không còn được ngủ chung giường với mẹ tôi. Tôi phải ngủ giường ngoài, loại giường gỗ dành cho con nít. Tôi van vái Trời Phật cho ông đi du học thêm một lần nữa thì đỡ quá! Van vái xong, tôi rón rén ghé tai vào cửa phòng nghe bố mẹ tôi nói chuyện. Bố tôi hay độc thoại nói “ràm ràm” Mẹ tôi ngoan ngoãn ngồi nghe như tín đồ nghe kinh. Bà vú bảo, “Giống người điên. Ôn học giỏi quá, hóa điên!”
 Sau này khi lớn lên, được yêu và mong mỏi được người yêu thông hiểu, tôi mới cảm nhận được thế nào là nỗi buồn khi phải nói một mình, và khi phải nghe người khác nói vì bổn phận.. Để thương xót cho cuộc tình và hôn nhân của bố mẹ tôi. Một người nói, một người nghe. Phải chi cứ như người từ hành tinh khác đến, truyền thông bằng tư tưởng. Nhìn bằng mắt, hiểu nhau ngay. Thì tình trường đỡ đau buồn, chật vật. Và nhân duyên đỡ cay đắng, đoạn trường vì người ta không hiểu được nhau.
 Thế nhưng tuổi lên sáu bé dại, tôi thấy chuyện bố tôi “đọc kinh” cho mẹ tôi nghe một chiều là điều vừa kỳ quặc, vừa hào hứng.
 Có lần tôi nghe bố tôi đọc một đoạn văn cho mẹ tôi nghe, tôi thấy rất lạ lùng, và kết luận chắc là bố tôi điên đúng như bà vú nói. Tôi kể lại với bà vú, bố tôi nói gì về con lừa, về vũ trụ có đồ đạc lổn ngổn. Bà vú lè lưỡi, khuyên tôi sau lớn lo lấy chồng đừng có học giỏi làm chị. Và nhất là chớ có đi Tây. Sẽ điên giống bố tôi.

Ba mươi bốn năm sau, ngồi ở Nữu Ước, nhìn ra vòm trời đầy ánh điện, tôi đọc lại một đoạn văn của bố tôi viết ở Huế nhân dịp ông xem tranh của họa sĩ Đinh Cường. Một vài năm trước biến cố 1975, ông đem bài bình luận ấy quay ronéo cho sinh viên Văn Khoa Sài Gòn dịch ra tiếng Anh. Thời thơ ấu hiện về, tôi mới nhớ ra đó là đoạn văn tôi đã nghe lóm ngày xưa qua khung cửa phòng của bố mẹ tôi:

 “Trong vũ trụ, súc vật, đồ đạc, người ngợm lổn ngổn, những võ công thức cứng ngắc, rỗng tuếch, đập bửa ra toàn chất liệu chết, ù lì, đặc sệt; những cái đầu gỗ lọc cọc múa nhảy trên đường, những trường thành góc cạnh lì lì chắn lối; những xe cộ, bàn ghế, cây khô tĩnh vật đắp ụ ngõ xóm; đất rác từng đống sát mũi cửa nhà, bịt kín công lộ. Những cái cứng ngắc, lổn ngổn, trì độn ấy làm nghệ sĩ đi một bước là đụng, là đá, là vấp chạm đủ mọi chướng vật. Ấy là cái thế giới hình thể hiện thực bủa kín nghệ sĩ, muốn bò-sát-hóa thân phận nghệ sĩ. Nó bảo: mày làm con lừa kéo gỗ đi. Nó hô: cúi đầu xuống, uốn đuôi lên. Thế giới hình thể hiện thực vong thân nghệ sĩ bằng đủ kiểu phỉnh phờ. Nó chắp cánh gỗ cho nghệ sĩ bay vào thế giới lãng mạn, trăng sao mây nước. Nó gạt nghệ sĩ vào vũ trụ ấn tượng mù, lung linh bàng bạc. Rồi, rất biện chứng, nó đá đít những tâm hồn nghệ sĩ đích thực…
 Tôi không tự hỏi Đinh Cường đã đi vào trừu tượng thế nào? Cái đó chẳng quan hệ gì đến người xem tranh, dĩ nhiên. Sự hiện hữu của trừu tượng Đinh Cường, tôi sẵn nhìn nó trong hình ảnh một bứt phá…”
Đọc đoạn văn của bố tôi viết trên ba thập niên, tôi giật mình sợ hãi. Tôi không nghĩ là bố tôi viết về tranh Đinh Cường. Mà ông viết về chính mình. Về con mắt nhìn tranh. Ông đã thay tôi viết về thân phận con ngườị Cái tính trí thức và nghệ sĩ trong một môi trường tàn bạo đòi hỏi sự bứt phá. Dường như có sự tiên tri. Đoạn văn ngắn này áp dụng được vào khung cảnh của một Sài Gòn nhân mãn quay cuồng trong kinh-tế-thị-trường-xã-hội-chủ-nghĩa ngày nay, vào ngay cả cái thành phố Nữu Ước này trước thế kỉ hai mươi mốt. Cái khoảng cách khác biệt giữa Cộng Sản và Tư Bản, Mĩ, Á, trong kỉ nguyên mới (New Age) biến mất trong đoạn văn của bố tôi. Cả hai bên đều có những con lừa kéo gỗ và sự bứt phá trong của tâm hồn nghệ sĩ đối với môi trường và sức ép chung quanh. Rồi tôi rùng mình tự hỏi, năm 1965, khi viết lên những dòng trên, bố tôi có biết chăng đứa con gái nhỏ đầu lòng của mình, trên ba mươi năm sau, cảm thấy nó là con lừa trong vòng quay tới tấp của xã hội Mĩ. Goldman Sachs đã vô hiệu hóa những ngón tay của tôi, không thả cho ngón tay tôi mềm mại về với phím trắng dương cầm. Ở tuổi gần bốn mươi, tôi mong cầm bút để thay thế phím trắng dương cầm. Tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng trong căn bản bố con tôi giống nhau. Chúng tôi, qua hai bối cảnh, hai thời điểm khác nhau, ở tuổi trung niên đều mang tâm trạng của những con lừa kéo gỗ.
Thế nhưng trong những ngày tháng ở Huế năm 1965 khi bố tôi viết những dòng trên thì bố con tôi không nói chuyện với nhau. Bố mẹ Việt Nam thời đó không đến gần con nít, tối tối phải đọc truyện cho con nghe như bố mẹ ở Mĩ thời nay. Sự tương đồng về tâm trạng con lừa, về thân phận con người và kiếp lưu đày của tâm hồn nghệ sĩ, phải ba mươi bốn năm sau tôi mới nhận thấỵ
 Tuy nhiên, tôi xin tâm sự với độc giả một chi tiết rất quan trọng trong quãng đời thơ ấu của tôi. Khoảng thời gian 1964-65, ở phố Nguyễn Trường Tộ, Huế, bố con tôi có nói chuyện với nhau. Một cuộc nói chuyện thầm lặng qua chiếc phong cầm. Tiếng đàn phong cầm của bố tôi. Công cuộc nghiên cứu về người bố của bé Hoài An có khúc này là thú vị nhất.

*

CHIẾC PHONG CẦM CỦA BỐ TÔI. Tôi còn nhớ rõ mồn một. Nó đẹp vô cùng. Những phím trắng nho nhỏ màu ngà, đục mà lại sáng bóng. Màu ngà còn đẹp hơn những thẻ xâm hường điểm son của bà ngoại tôi. Những phím đen nằm thẳng đều đặn cũng sáng bóng như răng hạt huyền của người đẹp Bắc Ninh xưa. Ở giữa những phím trắng với những phím đen là một khoảng huyền bí. Những nếp xếp kéo đi kéo lại, co vào, giãn rạ, huyền hoặc và lôi cuốn!

 Trong công cuộc nghiên cứu về bố tôi từ ngày ông ở Paris về nước, ngay buổi đầu tôi đã chú ý đến chiếc phong cầm. Buổi chiều khi đi học ở Jeanne d’Arc về, tôi hay bắt gặp bố tôi đứng đánh đàn bên cửa sổ trong trời mưa phùn xứ Huế. Mặt ông chăm chú không giống ai, môi chu lại một cách rất say sưa, vì ông phải tập trung tinh thần mà “thả hồn vào âm điệu.” Những ngón tay nhịp nhàng bấm phím, hai bàn tay kéo ra kéo vô, cái đàn nằm trên ngực bố tôi lắc lư theo âm điệu. Tôi thích bố tôi đánh đàn, lý do giản dị là vì ông ham đánh đàn không bắt buộc tôi học tiếng Pháp, “C’est une chaisẹ…C’est le chèvre de Mr. Seguin,” một điệp khúc vô cùng nhàm chán.

Xin lưu ý độc giả, bố tôi không phải là một nhạc sĩ. Tiếng đàn của ông có lúc rè rè, có lúc êm ái mê ly, tùy theo cái hứng nghệ sĩ của bố tôi. Ông cũng không phải là ca sĩ, dù có lúc ông hát ong ỏng theo tiếng đàn. Thế nhưng tiếng đàn tiếng hát của bố tôi đã tạo dựng nên repertoire những bản nhạc Việt đầu tiên mà tôi ưa thích mãi cho đến bây giờ. (Bài Những Đồi Hoa Sim không kể, đó là kết quả của sự tuyên truyền và tẩy não của bà vú tôi, vốn mang tâm hồn rất bình dân học vụ)

 Thuở ấy, Trịnh Công Sơn, một thanh niên ốm o, đeo kính cận là hàng xóm của chúng tôi. Trịnh Công Sơn vừa làm xong bài Lời Buồn Thánh. Cái da diết, ủ ê của Lời Buồn Thánh cần phải được diễn tả bằng tiếng sắc-xô-phôn. Không có kèn bố tôi xài đỡ chiếc phong cầm. Tôi thuộc lòng Lời Buồn Thánh từ đó.
 “Chiều Chủ Nhật buồn,
 nằm trong căn gác đìu hiu
 Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
 Bạn bè rời xa chăn chiếu
 Ô hay mình vẫn cô liêu….”

Mãi về sau, năm ba mươi hai tuổi, tôi bắt đầu để lại tóc dài thẳng đuột. (Trước đó, tôi uốn quăn theo kiểu Donna Summers cho thiên hạ lầm tôi là người Nam Mỹ. Tôi xin thú thực tôi cũng có tinh thần “vọng ngoại” như vài người cùng xứ sở với tôi, thích ăn bơ hơn nước mắm). Có lần, với mái tóc như thế, tôi mặc áo gypsy dấu mi-crô dưới tóc, gập người lại mà rên rỉ Lời Buồn Thánh theo kiểu jazz, kiểu blue trước đám thực khách Mỹ. Họ mãi ham ăn, không ai để ý xem tôi hát cái tiếng nước non gì. Dưới ánh đèn, trong khói thuốc của một quán ăn nhỏ ở Adams Morgan, Washington, DC, tôi nhớ lại những buổi chiều mưa xứ Huế, bố tôi đứng trầm ngâm bên khung cửa mà đếm tiếng mưa, cái đàn phong cầm đeo ở ngực. Tôi, vừa mới để lại tóc dài thẳng đuột theo kiểu Việt Nam, chợt vứt cái mi-crô đi, mà hát gào cho quá khứ, cho chiếc phong cầm của bố tôi:

 Chiều Chủ Nhật buồn, lặng nghe gió đi về…
 Chiều Chủ Nhật buồn, lặng nghe gió đi về…
 Gió đưa tôi về căn phố Nguyễn Trường Tộ, Huế, nơi mà Trịnh Công Sơn viết Lời Buồn Thánh, và bố tôi đã dùng chiếc phong cầm nói lên Lời Buồn Thánh. Hết Lời Buồn Thánh, chiếc phong cầm của bố tôi lại nỉ non điệu nhạc Phạm Dụy. Và khi khôn lớn tôi mới biết rằng trong ký ức tôi, những âm điệu này đi đôi với cặp mắt Sơn Tây của bố tôi, cặp mắt Sơn Tây của chất thơ Quang Dũng.
 Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
 Mà không nhớ thương người mẹ già
 Chờ con lúc đêm khuya
 Người con đã ra đi vì nước
 Nhớ thương con oán thù loài giặc kia
 Lúc xa nhau mong chờ ngày chiến thắng
 Bóng dáng người hùng anh
 Về ấm lũy tre xanh

Khi khôn lớn, tôi lẩn thẩn suy nghĩ. Làm sao chiếc phong cầm Tây phương đó, xuất thân từ nước Ý, lại có thể đem tôi đến với núi rừng Việt Bắc, với con người Quang Dũng, với tiếng hát hành quân xa, nếu không có tâm hồn rung cảm của bố tôi và sự đồng điệu trong máu huyết giữa bố con tôi. Những năm đó, tôi chẳng biết gì hết, chỉ biết yêu thích cách bố tôi lắc lư, cái đàn kéo ra kéo vào, và âm điệu da diết của tiếng đàn.

 Và đó là cách hai bố con tôi nói chuyện với nhau, qua chiếc phong cầm, trước khi tôi biết thế nào là thân phận con người trở thành con lừa kéo gỗ….
 Chao ơi, tôi thương xót làm sao tiếng phong cầm của bố tôi!

*

Không nói ngoa với độc giả, tôi tự hào mình là con bé “thông minh vốn sẵn tính trời…” Vì là con nhà giáo, tôi biết đọc năm lên bốn. Và ở tuổi lên sáu, tôi đã rất khoa học trong công trình nghiên cứu về bố tôi. Tôi lục lọi trong cái rương cũ, tìm thấy thông tín bạ của ông hồi ông học trường Bưởi, Hà Nội. Trang đầu thông tín bạ có những dòng chữ sau đây:

 Tên họ học sinh: Dương Quốc Ngữ
 Quê quán: Sơn Tây
 Tên cha/hoặc giám hộ: Dương Quốc Nho
 Nghề nghiệp: Làm ruộng
 Bố tôi đó, một thiếu niên, con cụ Tổng Nho, tổ tiên lập thân từ đồng ruộng làng Bún, miền Bắc, phía tây thành Thăng Long của nước Việt Nam hình chữ S. Tổ tiên tôi từ đời Trần đã quen nghề cày ruộng lấy thóc bán nuôi con cái đi học.
 Điển hình là ông nội tôi, cụ Tổng Nho, nuôi đàn con trai ăn học, dâng gạo nuôi quân cho Việt Minh đánh Pháp để rồi trở thành nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất bắt nguồn từ bên Tàu với ông lãnh tụ quái gở Mao Trạch Đông.
 Năm 1993, Goldman Sachs, Merril Lynch, Bank of America, cùng bao nhiêu cơ quan kinh tài quốc tế khác tổ chức một cuộc du hành các nước đang phát triển ở Á Châu để nghiên cứu vấn đề thiết lập thị trường chứng khoán theo kiểu kinh tế thị trường. Tôi cũng xách cặp đi theo. Cuộc viễn du này cho tôi có dịp về thăm Hà Nội. Tôi thuê xe đi về Hà Tây, cùng với hai đồng nghiệp người Anh vì hiếu kỳ mà tình nguyện đi với tôi. Tôi đi về làng Bún, đôi mắt tròn lên, lạ lùng, bỡ ngỡ.
 Tôi đứng bên bờ đê nhìn những mẫu ruộng nho nhỏ, giữa ruộng có những ngôi mộ nằm trong nước. Tôi nhìn con bò, gầy ơi là gầỵ
 Con bò Việt Nam, nó gầy cũng như bố tôi gầy trong tấm hình chụp năm 1954. Rồi tôi nhìn cái xe bò, cái xe bò Việt Nam cộc kệch cuối thế kỷ hai mươi. Và tôi nhìn hai người đàn bà đứng tát nước còn gầy ốm hơn con bò. Tôi tìm ra ngôi mộ của cô tôi, chị ruột bố tôi, chết trẻ trong cuộc chiến tranh Việt Pháp. Ngôi mộ nằm giữa ruộng. Tôi nghĩ thịt xương tổ tiên tôi đã tan vào đất, từ đó mọc lên những hạt gạo “xuất khẩu” của Việt Nam. Khi ăn hạt gạo xuất khẩu, tôi có bao giờ nghĩ là đang ăn thịt xương của tổ tiên tôi? Tôi ngửa mặt lên trời tìm vừng mây trắng. Xa xa kia là sông Đà, núi Tản của Nguyễn Khắc Hiếu. Đâu đây là nét “vời vợi buồn Tây Phương” của Quang Dũng. Tôi mỏi mắt nhìn cho ra một nét quen thuộc nào đó, lắng nghe cho thấy “tiếng hát hành quân xa” và tự hỏi: nơi chốn này có yêu tôi không, hay đang nhìn tôi xoi mói, tôi con người đi về quê cha trên đôi giầy ReBox?..
 Rồi tôi đứng nhìn con đường hẹp đầy ổ gà. Ngồi xe tôi cứ va bên này, chạm bên kia giữa hai đồng nghiệp người Anh to lớn. Tôi nhìn sang bên kia đường là “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Xã Phụng Thượng Trong Cuộc Chiến Tranh Chống Mỹ.” Bên này đường là “Quán Thịt Chó Thơm Ngon.” Đây,Con Đường Cái Quan của Phạm Duy từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, con đường mà bà nội tôi đã đội nón lá đi bộ dưới nắng chang chang trốn ra Hà Nội ngày ông bà nội tôi bỏ làng vô Nam để tránh thảm trạng Đấu Tố Địa Chủ.
 Tôi nhắc đi nhắc lại như người mất hồn với hai đồng nghiệp:
 –“Sao mà nó nhỏ thế, con đường này, đồng ruộng này, đường chân trời này!” (How come everything is so small?)
 –“Ông nội tôi bị kết tôi. địa chủ vì có chút đồng ruộng này sao?” (My grandfather got a death sentence because of these little paddies?)
 Hai người đồng nghiệp nhún vai, không nóị. Tôi không nghe tiếng linh hồn cô tôi đón chào trong gió. Quanh tôi chỉ có hai đồng nghiệp người Anh im lặng đứng nhìn.
 Tất cả không giống như trí tôi tưởng tượng. Khi tôi đã quen nhìn xa lộ thênh thang của nước Mỹ, những vườn táo mênh mông ở Illinois, những vườn cam bát ngát ở Florida. Tôi cứ hỏi đi hỏi lại, ông tôi suýt nữa bị dẫn ra đình làng chịu đấu tố chỉ vì ít mẫu ruộng này ư? Trong bao nhiêu năm nghe ông bà tôi kể chuyện, không hiểu sao tôi cứ tưởng tượng ruộng đất phải bao la cò bay thẳng cánh như tiểu bang Arizona. Phải nhiều lắm, lớn lắm thì mới bị tố địa chủ chứ?
 Bây giờ sau chuyến về thăm đó, tôi mới biết thế nào là sự nho nhỏ, con con, như cái nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, như cái số phận nho nhỏ, con con của con bò, của cái xe bò, của hai người đàn bà tát nước. Ngay cả đến ruộng đất phì nhiêu đã gây nên cái án địa chủ cho ông bà nội tôi cũng nho nhỏ, con con. Cái thảm khốc của nhân loại lại nằm ở trong những gì nho nhỏ, con con?

*

Trong công trình nghiên cứu về bố tôi năm lên sáu, tôi bắt gặp tấm ảnh 4 x 6 của một cậu con trai, dán trên thông tín bạ. Cậu có hai con mắt dài, xếch như một nét mực tàu sắc sảo. Khi lớn lên, tôi mới hiểu đó là cặp mắt Sơn Tây đã làm xót xa lòng Quang Dũng. Bên nội tôi, đa số đều có cặp mắt đó. Ngay cả những đứa em họ sinh sau đẻ muộn làm công dân Mỹ, lọt lòng mẹ trong nhà thương Mỹ, cũng mang vào Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cặp mắt Sơn Tây của núi rừng Việt Bắc và hồn thơ Quang Dũng.

 Mẹ tôi kể trong thời gian học trường Bưởi, bố tôi theo học phong cầm với một ông cố đạo. Rồi mua đàn của ông. Đó là tiểu sử chiếc phong cầm của bố tôi. Nó xuất thân từ nước Ý, du nhập vào Hà Nội đầu thập niên 50.
 Khi di cư vào Nam, ông bà tôi đi trước, bố tôi là người cuối cùng rời Hà Nội vào Nam. Bố tôi đáp xe lửa từ Hà Nội xuống Hải Dương, rồi đạp xe đạp từ Hải Dương xuống Hải Phòng. Bố tôi để cây đàn ghi-ta, thêm cái phong cầm lên xe đạp mà đạp. Trên đường đi, ông bán mất cái ghi-ta. Bán luôn đôi giày da. Nhưng không bán chiếc phong cầm. Bố tôi lên tàu bay vào Nam, có chiếc phong cầm mà không có đôi giày che gót. Tôi mường tượng cậu con trai có cặp mắt Sơn Tây đạp xe đạp, đèo theo chiếc phong cầm, những vòng bánh xe cũng giống như những vòng bánh xe bố tôi đạp chở tôi đi học dương cầm ở Huế.
 Chiếc phong cầm theo cậu trai trẻ lên máy bay từ Hải Phòng vào Sài Gòn. Rồi vào trại sinh viên. Bố tôi sống nghèo ở miền Nam mà đi học trong kiếp di cư. Chiếc phong cầm luôn luôn đi theo ông như một tình nhân yêu kiều, chung thủỵ.
 Rồi bố tôi ra Hội An, dạy trường Trần Quý Cáp, vẫn khư khư giữ cái phong cầm. Tôi ra đời trong tình yêu của bố mẹ và được tặng cho cái tên Duong Thị Như Hội An, để đánh dấu thành phố nơi bố mẹ tôi đã gặp nhau. Sau này mẹ tôi đổi thành Duong Thị Như Hoài An để tránh dấu nặng trong tên con gái. Ngày mẹ tôi ẵm tôi từ bệnh viện về nhà, chắc là cái phong cầm đứng nhìn đâu đó, mà tôi thì nhắm tít mắt như mọi trẻ sơ sinh khác.
 Rồi bố tôi đi Pháp. Khư khư đem cái đàn theo. Mẹ tôi phàn nàn: “Ở bên ấy thiếu gì đàn, vậy mà cha con cũng đem nó theo cho được.” Mẹ con chúng tôi ở nhà, chứ cái đàn thì đi Pháp theo bố tôi.

*

Công cuộc nghiên cứu về bố tôi năm tôi lên sáu tuổi vẫn tiếp tục suốt thời gian 1964-65. Tôi kiếm thấy bức hình đen trắng bố tôi ngồi bên lan can căn phòng sinh viên ở đại học xá lầu bốn. Paris trải rộng dưới chân. Bố tôi gầy như cây tăm, ngồi ôm chiếc phong cầm, gác hai chân lên lan can màu đen, nom rất thoải mái và rất “hip.” Tôi nhìn bức hình ấy mà mơ ước sau này mình cũng đi du học Paris và cũng ngồi gác chân lên lan can nhìn xuống thành phố. (Tôi đâu ngờ rằng, sau này lớn lên tôi làm một cuộc du học trường kỳ…).

 Rồi thì cái đàn theo bố tôi về nước. Và tôi gặp nó ở căn phố Nguyễn Trường Tộ, Huế. Lần này thì tôi thôi không nhắm tít mắt như một trẻ sơ sinh nữa.
Tôi nhớ mãi buổi chiều mưa phùn xứ Huế. Tôi trốn bố tôi (tôi thường hay chơi trò “trốn tìm”) sau bức màn cửa phòng khách. Bố tôi đánh đàn xong thì để nó trên ghế. Thế là tôi nhảy tỏn ra. Tôi đứng mân mê, sò mó cái đàn. Tôi bấm thử, sao đàn không ra tiếng? Tôi khệ nệ tìm cách đeo nó vào cổ. Tôi say mê, nâng niu nó. Ôi tiếng hát hành quân xa với những chiều Chủ nhật buồn không nắng trong căn nhà nóng hâm hấp lặng nghe gió đi về! Ai xui khiến cho cái đàn này làm mọc chất nghệ sĩ trong tôi! Để ba mươi bốn năm sau tôi từ bỏ Goldman Sachs? Tôi muốn ẵm nó lên để đu đưa như bố tôi. Nhưng nặng quá. Cứ thế này thì nếu tôi không té, cái đàn cũng sẽ té.
 Bỗng bố tôi bước vào. Tôi sợ muốn khóc vì bị bắt quả tang, tưởng rằng sẽ bị đòn. Nhưng không, nét mặt bố tôi bình thản, đôi mắt Sơn Tây như hai vết mực tàu sắc nét. Đó là lúc ông thấy tôi bé quá không bê nổi chiếc phong cầm. Ông quyết định đem tôi đi gặp Sơ Thanh Tâm để xin học đàn dương cầm.
 Từ hôm đó, sáng nào ông cũng gọi tôi dậy sớm, bắt uống sữa, thay váy đầm. Rồi chở xe đạp đưa tôi đến trường Jeanne d’Arc học đàn…
 Chung qui cũng bởi tại cái phong cầm của bố tôi.

*

Bạn đọc có tin rằng cái chết không kết liễu đời người, vì phần hồn còn đi về đâu đó. Bởi thế mẹ tôi cứ cúng tổ tiên ông bà, bắt tôi thắp nhang mà lạy. Người Việt Nam chúng ta thờ linh hồn những người thân đã chết.

 Năm lên sáu, tôi tự hỏi vật vô tri chết đi có còn phần hồn vất vưởng hay không. Năm 1964, chiếc phong cầm gặp tôi, rồi nó mất đi. Và tôi thắc mắc mãi phần linh hồn của nó đi đâu? Và tôi thắp nhang cúng nó được không?
 Xứ Huế không phải là xứ yên bình. Cái yên bình của Huế chỉ là yên bình giả tạo. Những năm 1963-65, Huế là một ngọn lửa cách mạng hừng hực, sẵn sàng bừng cháỵ Từ chùa Từ Đàm. Đó lần đầu tiên trong đời tôi được nghe danh từ “cách mạng.”
 Tôi phải lớn hơn mới hiểu được căn bản của vấn đề. Nếu có Cách Mạng, thì làm gì có Hoài An? Mà đã có Hoài An thì không có Cách Mạng. Từ năm lên sáu, ở thành phố Huế buồn ngủ ấy, tôi chưa đủ trí tuệ để hiểu thế nào là đấu tranh, nhưng tôi đã mường tượng một điều gì ghê sợ. Rằng tôi sinh ra trong một xứ sở có nhiều vấn đề. Những vấn đề ấy ở ngoài tầm tay tôi, nhưng chúng tạo nên định mệnh của tôi, như lưới giăng, như cơn lốc kéo thốc tôi vào.
 Dấu hiệu bất an đầu tiên là ngày Phật Đản. Một ngày vui mừng tôi và các em tôi mong mỏi để được xem xe hoa. Thế nhưng mẹ tôi cấm không cho chúng tôi đi xem. Xe hoa đi ngang nhà tôi, mẹ tôi không cho chúng tôi ghé đầu ra xem. Bảo nguy hiểm. Chúng tôi vẫn thấy được tượng Phật đứng trên tòa sen trắng nõn, tay chỉ lên trờị. Nom Phật bụ bẫm dễ thương. Em tôi bảo: “Sao Phật giống em bé quá!”
 Chỉ một lúc sau xe hoa vừa đi khuất, bà vú đã chạy vào thì thầm, “Công an giựt sụp xe hoa rồi, Phật đổ.” Tôi cho rằng đó là chuyện kinh khủng. Cái gì đổ thì đổ, chứ Phật làm sao đổ được. Điều ghê sợ khủng khiếp nhất, một sự lật đổ nào đó ngoài tầm tay những người dân bình thường, đã bắt đầu ám ảnh tôi.
 Thường thường mẹ tôi hay cho chúng tôi đi chùa Từ Đàm. Nhưng năm đó, chúng tôi không được lên chùa, mặc dù tôi thích lên chùa để được múạ: “Một hôm, một hôm mồng một đến chùa, cùng me đi lễ Phật, dâng vài hoa sen.” Bà vú thì thầm, “Hoài An ơi, lên chùa thì công an bắt!” Tôi nín bặt vì sợ.
 Bên cạnh những cái điều bất an đó, bố tôi vẫn kéo phong cầm để nói chuyện với tôi qua Tiếng Hát Hành Quân Xa và Lời Buồn Thánh.

*

Thuở ấy, tôi không biết mặt những người bạn văn nghệ của bố tôi, từ họa sĩ Đinh Cường cho đến nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Tôi chỉ nhớ có một ngườị. Đó là chú M., một nhạc sĩ. Tôi rất yêu chú M. Chú ấy vui tính và buồn cười lắm. Cả nhà ai cũng yêu mến chú M. Trừ bà vú:

 –“Ôn nớ là nhóm cách mạng chống Cần Lao đó Hoài An ơi!. Ôn nhà ni mà cứ giao du hoài là ngày cậu Cẩn tới chặt đầu.”
 Bà vú nói chi ghê quá. Tôi hỏi Cần Lao là gì? Bà vú bảo Cần Lao là cậu Cẩn đó. Tôi hỏi cậu Cẩn là ai? Có giống chú M. không? Bà vú nói: “Con ni ngu quá. Nói tầm bậy coi chừng bị chặt đầu. Hay chết kiểu Quách Thị Trang.” Tôi không dám hỏi bà vú Quách Thị Trang là ai, tôi biết đó là một người đã chết. Tôi co người lại vì sợ.
 Trong những ngày tháng đó, bố tôi ít nói, ít kéo phong cầm. Cái đàn nằm cô đơn. Thỉnh thoảng chú M. vẫn ghé chơi. Hai người đóng cửa phòng nói chuyện rì rào.
 Rồi một hôm, chú M. lại ghé thăm. Bố tôi mặc áo đi theo. Ông dặn mẹ tôi ông sang nhà chú M. ở phía bên kia sông Bến Ngự. Dãy phố Nguyễn Trường Tộ nằm bên này sông. Bên kia cầu là nhà thờ Phủ Cam. Bên trái nhà thờ là một dãy nhà kiểu Tây rất đẹp. Một trong những căn nhà đó là nhà chú M. ở. Bố tôi dặn gia đình là ông sẽ đi khá lâu. Ông đi theo chú M. Đã ra đến cửa, ông còn quay lại lấy chiếc phong cầm. Cái đàn đi theo ông qua nhà chú M.
 Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy chiếc đàn. Tôi linh cảm cái gì không hay sẽ xảy ra. Tôi chạy theo nắm áo bố tôi đòi đi theo. Tôi bíu chiếc đàn như muốn giữ nó lại.Chú M. chế giễu tôi con gái hay khóc nhè.

*

Tối đêm đó, tôi đang ngủ say thì có tiếng khóc than, tiếng bà ngoại tôi kêu la. Tiếng người xôn xao ngoài ngõ. Nghe dễ sợ lắm. Tôi chạy ra thảng thốt. (Từ đó lớn lên, tôi rất sợ những khi đang ngủ thì bị thức dậy vì biến cố)

 Tôi vẫn còn nhớ tiếng người nói: “Nhà ai cháy? Công an đốt nhà ai?” Tôi nghe mẹ tôi nức nở, “Trời Phật ơi, phải nhà chú M. không? Mạ ơi, anh con ở bên nhà chú M..Thôi rồi mạ ơi…”
 Tôi thấy mọi người đổ xô ra cửa. Tôi cũng chạy ù ra. Mẹ tôi nắm chặt tay tôi. Bà vẫn kêu khóc.
 Ông ngoại tôi điềm tĩnh hơn. Ông nói, “Đã chắc chi ông Ngữ ở bên đó. Để ba mặc áo lên chùa. Hay qua dinh cha Thục hỏi…” Mẹ tôi vẫn điên cuồng kéo tay tôi và bà ngoại xô ra đường.
 Đám đông đứng đầy dọc bờ sông Bến Ngự bên hông nhà tôi. Chỉ trỏ xôn xao. Tôi nhìn qua bên kia sông. Ngọn lửa ngùn ngụt cháy. Tôi thấy bên kia bờ sông có bóng dáng những người cầm súng. Người đứng quanh tôi nhỏ to, “Công an đốt truyền đơn.” Mẹ tôi ngất xỉu. Bà ngoại tôi vật vã. Tôi kêu khóc không thành tiếng. Phía bên kia sông lửa ngùn ngụt cháy, ở đó có chú M., bố tôi, và chiếc phong cầm. Tôi nhìn thấy lần đầu tiên cái kinh khủng của cách mạng. Nói đúng hơn của bạo lực đã đốt lửa cho cách mạng.
 Đó là lần đầu tiên tôi thấm hiểu trong trí óc non nớt của mình, tôi sinh ra trong một đất nước của những người dân thích làm cách mạng. Của những người dân hay mang kiếp tù đày. Lý do? Tây, Tầu, Nga, Mỹ? Cái nghèo, cái cực, cái nô lệ, cái xâm lăng? Vân vân và vân vân. Trước Chúa bác ái, trước Phật từ bi, chúng ta cầm súng giết nhau đi rồi gọi đó là cách mạng.
 Ông ngoại tôi nói đúng. Một ngày sau bố tôi về. Một cơn ác mộng vừa qua.
 Tôi đứng xớ rớ tìm cách lắng nghe chuyện người lớn. (Tôi là một đứa nhỏ rất thích nghe chuyện người lớn, âu đó cũng là cái nghiệp chướng của tôi. Có khi tôi nghĩ tự mình là mất tuổi thơ vì cái đầu tôi tò mò ưa suy nghĩ.) Tôi nghe ra được chú M. chạy trốn lên chùa. Nhà thì cháy tan nát. Mẹ và bà ngoại tôi đốt nhang khấn bàn thờ tạ ơn tổ tiên trời đất đã cứu bố tôi.
 Tôi đứng trước cửa nhà nhìn qua bên kia sông. Ngọn lửa đã tàn. Cảnh tượng tiêu điều thảm hại. Lần đầu tiên tôi chứng kiến sự u ám của những gì còn lại sau một cuộc tàn phá.
 Chú M. không cháy. Bố tôi không cháy. Còn chiếc phong cầm? Phải chăng nó cháy giùm cho bố và chú M. yêu mến của tôi? Tôi òa khóc chạy vào nhà. Mẹ và bà ngoại tôi còn trong cơn mừng rỡ, còn lo nhang đèn. Không ai nghĩ đến chiếc phong cầm xấu số.
 Tôi nức nở trong lòng bố tôi. Nhưng ông nghiêm mặt cấm không cho tôi khóc. (Những người bố Việt Nam, ai cũng ghét than khóc, cho đến ngày họ già. Bây giờ trong tuổi sáu mươi ngoài, bố tôi mau nước mắt. Thỉnh thoảng là tròng mắt đỏ hoe. Mắt ông hay đỏ hoe khi các con về thăm rồi lại đi, còn lại căn nhà yên vắng với hai vợ chồng thui thủi)

*Bố tôi nói lên điều mà tôi đã biết:

 — Cái đàn cháy trong nhà chú M.
 Tôi vụt khỏi vòng tay của bố tôi. Tôi chạy ra đứng trước cửa nhà nhìn sông Bến Ngự. Tôi nghe có ngọn gió đi về. Chiều chủ nhật buồn lặng nghe gió đi về. Trên ngọn gió đi về, có chăng linh hồn chiếc phong cầm của bố tôi?
 Từ đó, bạn đọc có thể đoán ra, bố tôi chẳng bao giờ kéo phong cầm nữa.

*

Bà vú nói, cách mạng thành công và Phật tử khỏi bị đàn áp. Tôi thôi không học trường Jeanne D’Arc nữa. Tôi đổi về trường Phú Vĩnh. Hình Ngô Tổng thống treo trên tường bị hạ xuống. Đem ra đập lìa. Cách đó không bao lâu, lũ trẻ con chúng tôi vẫn còn hát, “Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng thống…”. Sau cách mạng, Ông ngoại tôi, một công chức dưới triều Ngô, nghỉ việc về hưu sớm.

 Cách mạng thành công, nhưng tương lai công danh bố tôi chẳng sáng sủa gì hơn. Có kẻ không ưa bố tôi, làm nên sự vụ lệnh đổi bố tôi vào dạy ở Quảng Trị, chốn bom đạn chiến trường. Mặt bố tôi càng khó đăm đăm hơn. Mẹ tôi dạy Đồng Khánh. Bố tôi về Quảng Trị, tức là vợ một nơi, chồng một ngả.
Sáng sớm tinh sương, thành phố Huế như có sương mù. Bà ngoại tôi lặn lội về làng đem lên những đòn chả Huế. Bà ngoại tôi, Quế Hương, pháp danh Tịnh Tâm, là người phụ nữ làm chả Huế, chả tôm ngon nhất thế giới. Tôi vẫn nhớ hình ảnh bà xương xương, đội nón bài thơ, mặc áo dài vân nhung (phụ nữ Huế của thời đại tôi biết không bước ra khỏi nhà mà không mặc áo dài.) Trời tờ mờ sáng, bà đã hiện ra ở cửa nhà tôi, tay xách cái giỏ thật lớn, đựng không biết bao nhiêu là đòn chả. Mẹ tôi lặng lẽ gói từng đòn chả để bố tôi đem đi tặng đồng nghiệp mới ở Quảng Trị.
 “Ở Quảng Trị cũng có học trò,” bố tôi nói. Bố tôi đó, con người của giáo khoa thư! Ông tỉnh táo, yên phận, “lành như Bụt” đối với người đời (chỉ khó khăn với người trong nhà mà thôi), ông vui vẻ mà đi Quảng Trị nhận công vụ, không phàn nàn than thở. Theo lời mẹ tôi kể, thì ông đi nhận việc rất đúng giờ. Ông đi cùng với những đòn chả Huế mẹ tôi gói rất cẩn thận đem cho đồng nghiệp. Ông còn đem phòng thêm nhiều đòn chả nữa để cho học trò mới, có đứa nào ngoan, học giỏi thì cho nó đòn chả lấy tình. Ôi tình nghĩa giáo khoa thư!
 Lần này ông đi không có chiếc phong cầm.
 (Mãi về sau khi khôn lớn, tôi mới biết người đã đem bố tôi ra khỏi Quảng Trị (để bố mẹ tôi được trùng phùng) là giáo sư Trần, thời gian ông làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục Đệ Nhị Cộng Hòa. Mẹ tôi nói bà vẫn luôn nhớ ơn bác Trần. Vấn đề nhớ ơn là “tiết mục” văn hóa giáo khoa thư! Chứ ở Mĩ, tôi không rõ trong số đồng nghiệp tôi, ai là kẻ nhớ ơn Goldmand Sachs…)

*

Từ đó, khi chiếc phong cầm đã chết, bố tôi đi Quảng Trị, thì tôi lại trở về làm đứa trẻ con quây quần bên ngoại, đứa trẻ con vắng bố.

 Cuối năm 1963, con bé Hoài An lên sáu như già đi. Đầu óc non nớt đã lờ mờ hiểu thế nào là sự sụp đổ của một chế độ. Khi chế độ sụp đổ, có thể có súng ống, có lửa cháy, có tan cửa tan nhà, có người phải đi trốn chạy như chú M. đi trốn trong chùa, có ảnh, với hình, với tượng đá, với đồ treo bị đem ra đập bỏ, xé tan. Có những sự mất mát tận gốc rễ tâm hồn như cái chết của chiếc phong cầm sau ngày lửa cháy. Và tôi lờ mờ hiểu rằng, ở chế độ nào đi nữa, con người cũng có thể hại nhau…Như việc bố tôi phải từ giã gia đình đi Quảng Trị. Cái mà chúng ta phải xây dựng là một nơi chốn cho chúng ta cơ hội để đi tìm sự công bằng tương đối….

*

Mười hai năm sau, 1975, tất cả những điều mà tôi nhận thấy ngày lên sáu tôi vừa liệt kê cho độc giả trên đây đã xẩy ra, lập lại. Như cái cộng nghiệp của một nơi chốn, một đám đông. Cái định mệnh của tôi. Một cá nhân nhỏ bé bị cuốn trôi vào dòng lịch sử.

 Tôi hiểu thấu đáo. Hiểu nhiều quá đến nỗi mắt tôi ướt và tôi nhói ở tim. Chúng tôi, tất cả chúng ta, cũng như cái phong cầm. Trôi nổi theo bàn tay bố tôi rồi chôn thân ở nhà chú M. theo lửa cháy. Người Mĩ nói là, “be in the wrong place, at the wrong time.” Chiếc phong cầm nằm sai chỗ, ở sai lúc. Đôi khi tôi phân vân tự hỏi, nếu tôi không là người Việt sinh trưởng ở miền Nam, và nếu tôi không là một trong mấy trăm ngàn người Việt di tản đầu tiên đến Mĩ, thì định mệnh của tôi thế nào? Như chiếc phong cầm, tôi là kẻ sinh sai chỗ, ở sai nơi, hay là người may mắn, ở đúng chỗ, nằm đúng nơi?
 Tất cả, trong vòng quay của lịch sử, chỉ là tương đối.

*

Khoảng một tháng trước ngày Saigon sụp đổ, chú M. chạy ở Huế vào, có ghé thăm bố mẹ tôi nhưng ông bà không có nhà. Chú cháu tôi nấu ăn với nhau rất vui vẻ. Có ngờ đó là lúc chia tay.

 Sau khi sang Mĩ, bố tôi vẫn nhắc người bạn cũ. Ông rất ân hận đã không gặp được chú M. trước khi di tản. Bao nhiêu năm ở Mĩ, thỉnh thoảng trong bữa ăn, bố tôi vẫn nhắc đến chú M. Ông không hề nhắc tới chiếc phong cầm.
 Đến năm 1995 thì có tin chú M. qua Mĩ, sau khi đã đi tù cải tạo rồi lập lại cuộc đời. Chú ghé thăm bố mẹ tôi ở Texas, tôi không gặp vì tôi ở xa. Mẹ tôi bảo lúc nào chú cũng tự tin, yêu đời, ở hoàn cảnh nào cũng có thể thành công hết.
 Khi viết những dòng này, tôi vẫn chưa gặp lại chú. Không biết chú có nhớ chuyện chiếc phong cầm của bố tôi?

*

Bây giờ, trong những tháng ngày về già, sắp từ giã nghề dạy học để về hưu, bố tôi có lẽ không có những người bạn như chú M. nữa.

 Ông hay nhắc tới những người học trò cũ trường Trần Quý Cáp. Chắc đó là một khoảng đời đẹp trong nghề dạy học của bố tôi.
 Trong những ngày đã rời Goldman Sachs, có lần tôi mang bố mẹ đi mua sắm. Gặp một thương gia chủ cửa hàng cũng là học trò cũ của bố tôi ở quận học chánh Houston. Vị thương gia tay bắt mặt mừng, bảo rằng khách thường thì lấy giá X., khách đặc biệt sẽ giảm giá tối đa, giá Z. Còn thầy học thì bớt 10 phần trăm, tức là giá Y, giá “ở giữa.” Vì bố tôi là thầy dạy, ông được hưởng giá giảm hạng vừa, hạng “ở giữa.”

Một lần khác nằm trên ghế dài, tôi thấy bố tôi ở trên lầu đi đọc cuốn sách của một nhà văn Việt Nam, ông P.X.Đ., sách viết về Hà Nội. Tôi nhắc đến tên ông. Mắt bố tôi sáng lên: “Anh ấy cũng đi tù cải tạo nhiều năm như chú M. đấỵ.” Tôi thắc mắc mãi về câu bố tôi nói, và ánh mắt sáng của ông. Tại sao mắt bố tôi không sáng lên khi gặp người thương gia Mi~ giàu sụ vì nghĩ đến thầy mà bớt giá 10 phần trăm? Tại sao ánh mắt ấy chỉ sáng lên khi nhắc tới tên một nhà văn Việt Nam? Chẳng lẽ bố tôi hẹp hòi chỉ thương học trò người Việt mà không thương học trò người Mi~? Cũng như tại sao bố tôi chán việc dạy học ở Mi~, mà vẫn làm giáo sư gương mẫu, không bỏ lớp, không trễ nải bao giờ? Ông vẫn cắm cúi soạn bài, tô kẻ chữ làm bảng hiệu cho lũ học sinh non dại. Nói theo kiểu đùa của em gái tôi, bố tôi chăm chỉ vì sợ bị Mi~ nó cười (hay so. mất việc!) Sự việc không thể giản dị như thế. Tôi thắc mắc mà không nghĩ ra được câu trả lời, bên tai vẫn nghe văng vẳng tiếng phong cầm của bố tôi. Chao ơi! Tiếng phong cầm của bố tôi!

*

Tháng ba năm 1996, ông tôi mất. Cụ Tổng Nho Sơn Tây đã nằm xuống. Trước mặt con cháu, bố tôi khóc cha mà than mình không làm được gì cho đất nước. Theo lời bố tôi, ông nội tôi đã làm đường gạch cho làng trong thời kỳ ông làm việc xã. Nhìn bố tôi đứng khóc cha, tôi rùng mình nghĩ đến một ngày nào đó, tôi cũng phải khóc cha mẹ như bố tôi đã khóc thương ông tôi. Tôi tự thôi thúc, giục giã, và biết mình phải làm gì ngay bây giờ.

 Việc đầu tiên, tôi sẽ đi mua tặng bố tôi một chiếc phong cầm, cho dù ông không còn tha thiết với đàn, và bố con tôi không còn nói chuyện với nhau qua tiếng đàn như hồi tôi còn thơ ấụ.
 Việc thứ nhì, tôi sẽ tìm mua cho được cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Tôi sẽ chậm rãi mà đọc. Tôi đã khước từ nghề giáọ. Để giờ phút này, tôi hiểu rõ và tự quay về với bản chất của mình. Tôi với bố tôi trong căn bản như nhạu. Dù muốn hay không muốn, tôi vẫn là sản phẩm của quốc văn giáo khoa thự. Mà đã là quốc văn giáo khoa thư thì tôi không thể là Goldman Sachs.
 Việc thứ ba, tôi ngồi xuống trước máy vi tính. Và tôi bắt đầu viết. Không xây được đường làng, tôi xin xây lòng nhân ái con người qua lời tôi viết. Tôi trí mọn tài hèn nhưng muốn những lời tôi viết làm cho độc giả tôi ngậm ngùi đủ mà nhỏ nước mắt cho nhau. Khi có giọt nước mắt thật sự, là có lòng thương mà có lòng thương là hết khoảng cách. Khi tôi cầm bút mà nhỏ nước mắt, giữa tôi với độc giả sẽ không cón khoảng cách.
 Có lần được đồng bào tôi mời diễn thuyết, tôi đã từng lộng ngôn trước mặt đám đông (có giáo sư Đỗ Quý Toàn làm chứng), tôi tuyên bố rằng thế hệ di dân của tôi giống như những con người cá, nửa người nửa cá. Nghĩ lại, tôi thấy mình rởm ơi là rởm. Chẳng có vật thể nào gọi là người cá. Đó là sự tưởng tượng của những người thủy thủ lênh đênh trên biển cả. Khi mất đầu cá, mọc lên đầu người là có sự mất mát. Khi đôi chân người biến mất đổi dạng thành đuôi cá là có sự mất mát. Phải có sự mất mát, mới nảy mầm cái mới, cho dù cái mới đôi khi chẳng giống ai. Ông tôi nằm xuống, đó là sự mất mát phải có, và thế hệ sau của chúng tôi lớn lên.
 Cho nên tôi đang viết về sự mất mát. Sự thay đổi làm tê tái phần hồn. Đó là đời sống. Sau ba mươi tư năm, tôi hiểu được sự mất mát trong đời bố tôi.
 Và tôi cũng xin các diễn giả đừng đãi bôi về cái gọi là khoảng cách thế hệ. Người Việt già và người Việt trẻ cứ chưởi bới nhau. Rồi đổ vào khoảng cách thế hệ.

Cho nên tôi viết về chiếc phong cầm của bố tôi. Một vật vô tri bị lôi cuốn vào dòng lịch sử. Sau ba mươi tư năm tôi hiểu được sự mất mát trong đời bố tôi, và vì mẹ tôi theo ông như một cái bóng, cho nên khi ông mất mát thì mẹ tôi chịu đựng. Khi tôi thương yêu bố mẹ, thì chẳng có vấn đề khoảng cách thế hệ khỉ khô gì nữa.

 Tôi xin thanh minh với độc giả. Những lời tôi kể đây không phải là lời viết về bố tôi. Vì bố tôi chỉ là một con người, có cái yếu, có cái mạnh, một người đàn ông đào tạo bởi văn hóa và thời đại của mình, với tất cả nghi hoặc, đam mê, sâu xé của một kiếp người, như ông đã viết về con lừa kéo gỗ, về cuộc đập phá khi nghệ sĩ và môi trường cấu xé lẫn nhau. Nếu tôi viết về bố tôi, tôi phải viết về một con người, với đủ bề mặt tốt xấu của người đó.
 Tôi cũng không muốn như Maxine Hong Kingston, khi viết xong cuốn tiểu thuyết là gia đình và cộng đồng từ bỏ. Cái giá của sự thật khi cầm bút có lúc nặng hơn cái chết. Và đi tìm sự thật là một trọng trách khó khăn hơn đi làm lịch sử. (Cái đau khổ của con người trước Thượng đế là đôi khi kẻ vụ lợi, xu thời, đồ tể, buôn thịt, bán xương, đều có thể làm thành lịch sử).
 Tôi không có khả năng hay tham vọng bưng vác trọng trách đi tìm sự thật bằng ngòi viết. Tôi chỉ xin viết về một vật thể vô tri, tượng trưng cho cái đẹp, nếu không có bàn tay nghệ sĩ, chỉ nằm yên như một đồ vật trang sức. Nhưng khi lửa cháy ngùn ngụt, thì vật vô tri cũng quay cuồng theo định mệnh như con người. Để giết một tổng thống, chiếc phong cầm vô tên tuổi, vô tội vạ, phi chính trị của bố tôi cũng bị giết theo chỉ vì nó nằm không đúng chỗ. Tôi chỉ xin viết về cách tôi nhìn vật thể đó.

Tôi viết cho ai, hay viết cho mình, điều đó không quan hệ. Điều ao ước của tôi là ngòi bút của mình luôn luôn đi theo vẻ đẹp và vẻ sáng trong cuộc đời ảm đạm của kiếp lưu đày. Cái trắng trợn văng tục của realism, tôi xin nhường cho những người viết văn tục tĩu và dữ tợn. Sự tàn bạo của họ làm tôi kinh ngạc và kinh sợ. Trên cuộc hành trình văn chương họ đi từ điểm A tới điểm B bằng ngôn ngữ rổn rang cay độc, bằng sự phá sản tâm linh, và. đối vói những kẻ viết khơi khơi vào tình dục chỉ để mà viết cho có tiếng vang, họ dùng cả ngay thân xác phụ nữ như một công cụ câu khách hoặc để làm dáng như thể mình đang làm cách mạng choo nữ quyền, một cuộc cách mạng mà phụ nữ Tây Phương đã làm trước, đã làm cũ, đã làm trâng tráo, và đã làm thất bại và thoái hoá!

Thật tình tôi không có tham vọng đi từ điểm A tới điểm B cái kiểu như vậy, qua trò chơi kiểu cách văn chương. Đồng thời tôi không tin tâm linh có thể phá sản, ngay cả trong ngục tù, cuồng tín, và đói rách. Vì tôi là kẻ hay mơ, tôi tin rằng cái đẹp và vẻ sáng sẽ thay Thượng đế bảo vệ con người. Và tôi cũng không muốn đi đến một nơi chốn nào bằng cái vòng xe đặt trên điển hình xác thân phụ nữ, hay đem cái nhục nhã, hèn mạt của phận người ra làm dụng cụ văn chương.

Tôi viết, vì tôi muốn đi tìm lại cho chính tôi (và cho bố mẹ tôi, những nhà giáo tị nạn dạy văn chương) hình ảnh Chim Hót Trong Lồng, Những Vì Sao Của Diệu, Mối Tình Chân, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Con Sáo Của Em Tôi, vân vân. Những cái đẹp đã mất của một thời đã qua sẽ chìm vào quên lãng.

Tôi viết vì sau khi đã đi nửa cuộc đời, tôi mới biết mình không phải là linh hồn Goldman Sachs. Tôi cũng chẳng có hân hạnh mang linh hồn Karl Marx, Angel, hay của bất cứ một danh nhân nào Tôi chỉ hy vọng mình là một chút gì sót lại của linh hồn văn hóa giáo thư. Tôi sinh ra là Dương Thị Như Hội An, đổi thành Dương Thị Như Hoài An vì bà mẹ nhân từ nhưng mê tín của tôi không muốn con gái mang vào người sự đau khổ vì cái tên có dấu, tôi con gái đầu lòng nhà giáo Dương Quốc Ngữ, và cháu nội cụ Tổng Làng Bún Dương Quốc Nho. Tôi là một người đàn bà vì định mệnh mà nói tiếng Việt chen tiếng Tây Parisien, tiếng Mĩ vu`ng MidWest (như độc giả đã thấy ở đây), đứa con gái nhậy cảm của một nhà giáo vô danh gốc gác làm ruộng, đã từng là chủ nhân một chiếc phong cầm xấu số cũng vô danh nốt.

Tôi viết, vì tôi mãi mãi nhung nhớ, và muốn giữ mãi trong lòng, vẻ đẹp và vẻ sáng, từ chiếc phong cầm của bố tôi.

 Dương Như Nguyện

(°) Goldman Sachs là tên một cơ quan kinh tài thị trường chứng khoán lớn ở Mỹ.