TIẾNG ĐÀN ĐÁ TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ

 

 

Phạm Đạt vội vàng xuống núi, anh không thể chờ đợi thời khắc đẹp hơn để chụp cảnh hoàng hôn trên đỉnh Sơn Trà được nữa. Mây đen đã bắt đầu quần tụ kéo tới xám xịt mỗi lúc một dầy thêm trên bầu trời, gió từ phía biển u u thổi càng lúc càng mạnh vào vách núi, anh nghĩ chắc có khi mình không kịp xuống triền núi về phía cây đa ngàn tuổi nơi có con đường nhỏ đưa anh xuống núi nơi có cái quán nước nhỏ của người dân bản địa mà anh thường ghé gởi chiếc xe máy cà tàng mỗi khi cuốc bộ lên núi lần theo theo bước chân của đàn voọc chà vá chân nâu hay các loài hoa, bướm đẹp để chụp ảnh. Mưa bắt đầu trút xuống, anh chạy nhanh đến một lùm cây lấy vội bộ quần áo đi mưa trùm vào người sau khi cẩn thận dùng túi ni-lông bao túi da đựng máy ảnh tác nghiệp. Phạm Đạt không phải là tay săn ảnh chuyên nghiệp cũng không phải là phượt thủ nhà nghề nhưng anh lại có một tình yêu bất tận với Sơn Trà, ngọn núi được mệnh danh là “mắt thần Đông Dương”, lá phổi xanh của Đà Nẵng, yêu quí đàn voọc chà vá chân nâu loài linh trưởng kỳ lạ có một không hai trên bán đảo nầy cũng như trên thế giới, người ta gọi chúng là nữ hoàng linh trưởng vì bộ lông có một không hai tuyệt đẹp của chúng khi anh tham gia dự án bảo tồn Khu dự trữ sinh quyển thế giới Hải Vân – Sơn Trà. Nếu ai đã từng đi núi gặp phải cơn mưa rừng mới thấy hết cái dữ dội hung dữ của nó. Nó đến rất nhanh không kịp trở tay, có thể ào ạt chớp nhoáng rồi nhanh chóng đi qua như người khách lạ, có lúc lại dai dẳng nhiều ngày như một kẻ thù truyền kiếp đeo bám không rời. Tiếng mưa rào rạt đập vào các thân cây cành lá nghiêng ngả tạo nên những cơn dư chấn đomino khiến người lạc trong núi phải khiếp via. Trên độ cao hơn ngàn mét thần gió mặc sức hoàng hành, những đám mây xám từ biển cứ ồ ạt kéo về, nước từ trên đỉnh núi theo các khe suối nhỏ ào ạt trôi băng băng xuống triền dốc như cơn lũ dữ. Ngày thường đó là những con suối nhỏ hiền hòa, nước trong veo tận đáy, có thể thấy cả đàn cá nhiều màu sắc lội nhởn nhơ, tung tăng một cách thong dong tự tại, bây giờ nó như trở thành con sông, đục ngầu sôi réo điên cuồng cuốn theo bao đá sỏi, nhánh cây khô, lá rừng mục rửa. Phạm Đạt chật vật lắm mới leo xuống một triền núi thấp hơn. Trong thời tiết bình thường chàng có thể xuống núi dễ dàng nhờ hướng mặt trời và tàng cây đa ngàn tuổi nhô hẳn lên nền trời xanh nhưng trong đám mưa gió phũ phàng thì đinh hướng đó không giúp ích gì cho anh lúc nầy cả, anh phải vận dụng mọi giác quan để tìm hướng đi, anh thầm nghĩ nếu mưa dai dẳng như thế nầy có lẽ anh ngủ lại rừng mất thôi.
Bóng tối như đồng lõa với cơn mưa rừng dai dẳng nên Đạt rất khó khăn di chuyển, chiếc đèn pin anh mang theo lấp loáng ánh sáng chỉ ở một biên độ rất gần, Đạt chật vật bám vào một nhánh rể cây lộ ra mặt đất lần xuống một chổ thấp lại rơi vào một tình thế khỏ xử. Dòng suối nhỏ thường ngày anh băng qua rất dễ, chỉ cần anh nhón chân qua những phiến đá nhô lên giữa dòng suối là có thể qua khỏi để tìm đường xuống núi thì giờ đây nó nó biến thành dòng sông rộng, nước nguồn đổ ào ạt xuống đục ngầu không làm thế nào qua được, nếu cố tìm cách vượt qua không khéo bị dòng nước dữ cuốn phăng đi thì nguy mất, có lẽ phải tìm một hốc núi hay bụi cây rậm nào đó trú qua đêm thôi. Trong lúc tiến thoái lưỡng nan, Bên tai Đạt hình như nghe có tiếng đàn khi xa khi gần hòa lẫn trong tiếng mưa gió núi rừng hoang dã, âm thanh phát ra từ hướng tay trái thì phải, anh đưa mắt hướng về nơi phát ra cái âm thanh lạ lùng đó. Trong màn mưa Đạt thấy hình như có ánh lửa chập chờn khi ẩn khi hiện. Anh chậc lưỡi, ở lại đây cũng đói rét thôi thì cứ phăng theo ngọn lửa, âm thanh phát ra từ tiếng đàn may ra có người sống ở đó mình cũng có thể tạm yên đêm nay. Vừa nghĩ bước chân của anh cũng lần bước theo. Cây cối rậm rạp, đá núi chập chùng nhưng nhờ có ngọn đèn pin nên anh cũng vượt qua. Càng đến gần nơi phát ra tiếng đàn, anh nhận ra đúng là có một căn nhà gỗ nhỏ lúp xúp được dựng trên một nền đá núi khá bằng phẳng, ánh lửa cũng phát ra từ đó. Mừng quá anh đi nhanh về phía căn nhà.
Ngập ngừng giây lát anh đưa tay gõ cửa. Tiếng đàn im bặt. Có tiếng người con gái giọng ra phía sau liếp cửa:
– Ai ở ngoài đó thế? Đêm hôm khuya khoắc sao có mặt ở nơi rừng núi hoang dã thế nầy?
Câu trả lời của Đạt run run vì lạnh:
– Tôi là người chụp ảnh thiên nhiên trên Sơn Trà, Mưa to chẳng may xuống núi không kịp xin chủ nhân tá túc cho qua cơn mưa.
– Nhà vắng người, chắc không tiện cho khách lưu trú đâu.
Đạt nói khẩn khoản:
– Tôi chỉ là người lỡ đường, xin tạm nghỉ qua đêm không có ý xấu đâu. Xin cô đừng ngại.
Một chút im lặng, Đạt nghe có tiếng chân người rồi liếp cửa hẻ mở, tiếng người con gái nói:
– Ông vào đi, kẻo lạnh.
Chàng trai lách người qua liếp cửa bước vào trong, ánh lửa bập bùng trên sàn bếp làm chàng cảm thấy ấm áp. Cô gái nhìn anh nói:
– Ông bỏ áo mưa ra đi, ngồi sưởi bên bếp lửa kẻo lạnh.
Phạm Đạt ngoan ngoãn nghe lời cô gái như một đứa trẻ. Anh hơ hai bàn tay lên ngọn lửa hồng, chốc chốc xoa vào hai má. Cái ấm áp của ngọn lửa trong căn nhà nhỏ làm anh có cảm giác dễ chịụ. Anh đưa mắt nhìn quanh, dưới ánh sáng bập bùng của ngọn lửa ngôi nhà được bày trí thật đơn sơ, ở một góc nhà có cái gùi dùng để đi rừng, một đống khoai củ, trên giàn treo mấy chùm ngô đã khô vỏ, trước mặt chàng là một cô gái còn rất trẻ khoảng độ mười tám hai mươi thì phải, có mái tóc mượt dài, khuôn mặt trái xoăn xinh xắn, đôi mắt đen lay láy đầy nét liêu trai, Đạt chợt giật mình nghĩ đến chuyện hồ của Bồ Tùng Linh mà anh đã từng đọc. Thấy dáng vẻ không được tự nhiên lắm của Đạt, cô gái nói:
– Hình như ông sợ?
Phạm Đạt giật mình vì cô gái đoán đúng suy nghĩ của mình. Chuyện ma quái kỳ lạ trên ngọn núi thiêng anh từng được nghe qua. Nào là có người ban đêm trên đường xuống núi gặp một tốp trẻ con còn lang thang, anh ta xuống núi rồi mà không an tâm về bọn trẻ nên quay trở lên gặp một đôi thanh niên nam nữ chạy ngược chiều xuống hỏi thăm họ bảo không thấy rồi tình nguyện cùng anh lên núi tìm bọn trẻ, anh ta chạy theo lên lưng chừng núi gần ngã ba có vực sâu họ cũng biến mất nốt làm anh hoảng hốt quay trở lại, sau đó lập một trang miếu nhỏ hương khói nơi đó, rồi những nấm đất nho nhỏ tự nhiên mọc lên trên đường lên núi, người ta đồn doán rằng có những cặp tình nhân vụng trộm lén lút chôn cất thai nhi, những linh hồn nhỏ bé ấy không được siêu thoát nên cứ lẩn khuất ở chốn núi non hoang lạnh nầy mãi làm ai cũng e ngại không ai dám ở lại núi lâu hơn khi màn đêm buông xuống, còn về chuyện ma nữ xuất hiện hại người thì anh chưa từng được nghe kể. Tuy có hơi ngán ngại nhưng anh làm ra vẻ cứng cỏi:
– Sao tôi lại sợ? Sợ gì kia chứ?
– Sợ ma. Sợ hồ ly. Rừng sâu núi thẳm không một người ở, ma cỏ đầy rẩy ông không thấy sợ sao?
– Tôi không làm điều gì ác sao phải sợ?
– Ông không làm điều ác nhưng loài người các ông làm điều ác thì sao?
– Nè cô gái, việc ai làm nấy chịu, liên quan gì nhau đâu?
Cô gái phì cười, đôi môi như đóa hoa hàm tiếu vừa nở:
– Hỏi vui chút xíu cũng giận được nữa sao?
Phạm Đạt lòng cũng dịu lại, đúng là mình giận vô cớ thật, anh chuyển qua chuyện khác:
– Thế cô ở một mình không sợ à?
Cô gái nhìn Phạm Đạt, cái nhìn tinh ranh làm anh chột dạ:
– Sợ gì?
– Sợ thú dữ, sợ ăn cướp.
– Cha con tôi ở trên núi bao nhiêu năm có thấy gì đâu?
– Ồ! Thế cô còn có ông cụ à? Sao tôi không thấy ông ấy đâu cả?
– Tôi chưa nói với ông đó thôi. Cha tôi qua bên kia núi trị bệnh cho người quen, gặp mưa chắc không về kịp.
Phạm Đạt nhìn cô gái, ánh mắt cảm thấy như gặp ở đâu, anh mạnh dạn hỏi:
– Cô có thể cho biết tên được không?
– Em tên Linh Nhi. Còn anh?
– Tên dễ thương và đẹp quá. Còn anh Phạm Đạt.
– Sao gia đình em không xuống chân núi mà ở, sống trên đây chi hiu quạnh vậy?
Cô gái nhìn vào khoảng không:
– Cha em nói con người không ai tốt cả, nên ở xa họ càng xa càng tốt đó thôi.
Phạm Đạt phản đối ý kiến đó:
– Đâu phải người nào cũng xấu hết cả đâu em.
– Em cũng biết thế. Nhưng cha già rồi em phải theo đở đần cho cha chứ bỏ đi đâu được.
Linh Nhi vừa nói vừa lấy cây que cời lửa trên bếp, lôi ra mấy củ khoai còn bám tro bếp, đặt trên tấm lá chuối trước mặt anh:
– Anh Đạt chắc đói rồi, nhà chỉ có khoai thôi.
Phạm Đạt xuýt xoa:
– Được vậy tốt quá. Đêm mưa lạnh mà được Linh Nhi cho ăn khoai nóng thì còn gì bằng.
Phạm Đạt bẻ đôi củ khoai, hơi nóng từ củ khoai tỏa ra thơm phức, anh vừa ăn vừa nhìn xung quanh, chợt nhận ra gần đó có một khung gỗ, trên đặt những thanh đá dài ngắn khác nhau, anh đoán đó là bộ đàn đá mà cô gái vừa đánh ban nảy, anh hỏi Linh Chi:
– Âm thanh tiếng đàn anh nghe ở xa chắc phát ra từ bộ đàn nầy phải không?
Linh Nhi khẻ gật đầu, nàng nói:
– Ở núi buồn lắm, mỗi lần ra suối lấy nước, nghe âm thanh dòng nước dội vào bờ đá nghe vui tai nên em nhặt về gõ thử lâu ngày thành quen.
– Anh nghe hay lắm mà.
– Nếu anh thích em đánh lại cho anh nghe nhé.
Không đợi chàng trai trả lời, Linh Nhi bước tới bộ đàn đá, hai bàn tay nhẹ nhàng uyển chuyển đánh thanh gõ lên từng phiến đá, âm thanh một lần nữa phát ra làm Phạm Đạt như chìm đắm vào âm thanh của núi rừng, có tiếng chim hót vang lên buổi sớm, tiếng lá rì rào xôn xao trong cái nắng ban mai hay khi chiều xuống, có tiếng sóng biển từ xa đưa về, tiếng côn trùng hòa tấu những lúc đêm trăng lên, tiếng gió mưa ào ạt, tiếng bão dông cuồng nộ. tiếng thiết tha gọi tình của chim muông vào mùa sinh sản. tất cả tạo thành một bản trường ca thiên nhiên tuôn trào bất tận. Phạm Đạt khẻ bước lại gần cô gái, nhìn đắm đuối vào gương mặt thanh tú của Linh Nhi. Linh Nhi ngừng gõ, ánh mắt cô dịu dàng nhìn anh chờ đợi. Phạm Đạt cúi xuống hôn lên tóc, má cô, rồi môi tìm môi. Phạm Đạt cảm thấy cả hương núi rừng từ trong người cô gái tỏa ra làm anh ngất ngây.Cả hai thân thể quấn quýt tìm lấy nhau nồng ấm trong đêm mưa rừng ẩm ướt lạnh lẽo. Ngọn lửa chập chờn trong đêm khuya tàn lụi dần, thời gian phút chốc như ngừng lại.
Ngoài kia mưa đã tạnh tự bao giờ, ánh trăng hạ huyền lừng lững treo trên cao đã lâu, một vài tiếng chim ăn đêm bay qua để lại một chút âm thanh xao động của núi rừng.
*
Phạm Đạt tỉnh giấc bởi tiếng gà rừng gáy vang một góc núi và tiếng chim hót trên các cành cây đón chào một ngày mới, anh đưa tay sang bên cạnh để tìm Linh Nhi nhưng tay chỉ đụng phải đám cỏ khô lạo xạo, anh mở mắt nhìn sang không thấy cô gái đâu, đệm cỏ vẫn còn hơi ấm chứng tỏ Linh Nhi rời chổ ngủ không bao lâu. Đưa mắt nhìn xung quanh anh ngạc nhiên: Mình đang nẳm trên một vạt cỏ khô chứ không phải là vạt tre nệm cỏ cao ráo, chỗ mình ngủ đêm qua không phải là gian nhà gỗ mà là một hốc núi nhưng bếp lửa vẫn còn vương vất chút khói bảng lảng bay lên. Đang ngơ ngác tay chàng chạm phải một tờ giấy có mấy lời sau:
Anh Phạm Đạt. Khi anh thức giấc là Linh Nhi đã đi xa rồi, duyên kỳ ngộ của chúng ta chắc chỉ có một đêm thôi. Chắc anh còn nhớ vào mấy tháng trước có lần anh vào rừng săn ảnh nghe tiếng kêu thảm thiết của một con voọc chà vá chân nâu, loài linh trưởng mà các thợ săn luôn truy bắt để mua bán làm thuốc, mắc bẩy của bọn thợ săn, anh đã cứu thoát nó khỏi bàn tay tàn bạo của họ. Con linh trưởng đó làm em. Cảm cái ân tình đó của anh em đã dùng tiếng đàn đá lưu anh lại trong đêm mưa gió trên đỉnh Sơn Trà để trả ơn. Anh đừng tìm em làm gì, em đã cùng cha và nhiều đồng loài khác tiến sâu vào đại ngàn hơn nữa để tránh sự truy bức của loài người. Họ là ai và họ có quyền gì mà sát hại bọn em như thế, phải chăng để thỏa mãn những khát vọng và lòng tham lam không đáy chứ gì? Núi rừng ngày càng thu hẹp, chúng em không còn đất sống phải bỏ chốn tai ương nầy càng xa càng tốt thôi, Có một ngày nào đó ngọn núi thiêng nầy sẽ chỉ còn trơ lại núi đá trọc nham nhở. Rừng khô suối độc sẽ tàn phá tất cả, con người rồi sẽ phải trả giá cho những hành động nông nỗi tham lam của mình mà thôi. Anh đừng tìm em, em đã đi rất xa nơi không có dấu chân người hoặc có thể một ngày nào đó có thể em lại sa vào tay của một tên thợ săn khát máu khác, cuộc đời thật quá buồn.
Hãy xem buổi gặp gỡ đêm qua là một kỷ niệm đẹp trong cuộc đời của anh, anh nhé.
Linh Nhi
Phạm Đạt thẫn thờ một lúc lâu, anh hiểu vì sao đôi mắt của Linh Nhi anh nhìn sao thấy quen quá, đúng là cặp mắt biết ơn của cô voọc chà vá chân nâu, nữ hoàng linh trưởng nhìn anh rất lâu trước khi trở về với đại ngàn khi anh giải thoát khỏi cái bẩy của người thợ săn. Đêm ân ái phải chăng là một giấc mơ thật đẹp của đời anh nhưng biết bao giờ giấc mơ đó mới có trở lại với anh lần nữa hay không thì thật là điều khó xảy ra nữa rồi.
Phạm Đạt buồn bã xuống núi, Cây rừng còn ẩm ướt mưa đêm, khi băng qua suối Đá, bên những cây sim rừng trổ đầy hoa tím, một đàn bướm đủ màu sắc, anh nhận ra có nhiều loài bướm đẹp đặc trưng của Sơn Trà như bướm phượng đuôi kiếm, bướm phượng đốm vàng, bướm phượng đen đuôi vàng… bay hàng đàn theo bước chân anh như tiễn anh xuống núi giống như ngày xưa các nàng tiên nữ tiễn đưa Lưu Thần và Nguyễn Triệu về trần gian vậy.
*
– Anh nhà báo nói người dân mình không đủ chứng cứ tố cáo, phản biện bọn cậy quyền coi thường pháp luật nhằm băm nát ngọn núi thiêng nầy sao? Nhà báo nên nhớ Sơn Trà ngàn đời là báu vật của thiên nhiên ban tặng người dân Đà Nẵng cho đất nước nầy. Thần rừng thần núi hay thần nanh đỏ mỏ sẽ không dung thứ cho những kẻ nào đụng chạm đến ngọn núi thiêng, không vặn cổ bẻ họng bọn chúng thì chúng cũng chết bất đắc kỳ tử hay sa vào vòng tù tội thân bại danh liệt, con cháu đời đời không thể nào ngóc đầu lên được. Còn bằng chứng phản biện xã hội ư? Bằng chứng là 10.000 chữ ký của nhân dân cả nước phản đối việc xây dựng băm nát Sơn Trà, rồi sự phản biện vào cuộc của nhiều nhà khoa học, hiệp hội đoàn thể báo chí. Kẻ ác cũng phải chùng tay nao núng thôi.
– Ổ! Nhà báo đừng nói thế, tôi biết anh là một trong nhiều nhà báo nhiệt tình, có cái tâm có lòng dũng cảm viết bài đấu tranh cho sự tồn vong của Sơn Trà, lá phổi xanh của thành phố chỉ sợ sự đấu tranh đó gặp sự vô cảm, thiếu hiểu biết thậm chí gian tham dùng quyền lực vô hiệu hóa đi thì sự đấu tranh chìm trong quên lãng, hay chỉ còn là một đóm lửa lẻ loi heo hút giữa đại ngàn thì thật đáng buồn biết bao.
– À! Nhà báo không tin làm gì có chuyện liêu trai giữa đời thường sao? Ban đầu tôi cũng nghĩ vậy nhưng đó là một thực thể tôi không thể chứng minh dù cả trong giấc mơ cũng chưa chắc gặp được. Tôi thề với nhà báo là tôi có thể đánh đổi cả ngai vàng và đất nước nếu tôi là vua để đổi lấy một cuộc đời bình dị giữa núi rừng với Linh Nhi, tôi không cần biết nàng là ma nữ hay loài hồ yêu quái gì hiện thân miễn nàng yêu tôi là được. Sao cuộc đời ta cứ mãi chạy theo tiền bạc, tranh quyền đoạt lợi cuối cùng được gì chứ chẳng qua cũng chỉ là nấm cỏ khâu xanh rì? Chi bằng sống những ngày tháng thong dong tự tại bên cạnh người mình yêu là thỏa chí một kiếp nhân sinh rồi phải không?
– Nhà báo hỏi từ đêm gặp gỡ ấy đến nay tôi có gặp lại Linh Nhi lần nào không? Hai mươi năm trôi qua tôi mong gặp lại nàng từng ngày từng giờ nhưng đó chỉ là bọt nước đầu gành cửa biển chiều hôm. Hạnh phúc đời người mong manh quá, mặc dù nhiều lần tôi đã trở lại đỉnh núi xưa, trong những đêm mưa gió bão bùng, căng tai căng mắt mong thấy được ngọn lửa ấm áp chập chờn như ma trơi kia, mong nghe lại tiếng đàn đá năm nào, mong tìm lại dấu chân của nàng nhưng chỉ là bóng chim tăm cá. Có lẽ nàng và đồng loại nàng đã thật sự bỏ chốn cũ rời đi thật xa giữa chốn đại ngàn bao la tìm chốn an bình hơn trước cơn lốc hủy diệt tàn bạo của loài người, môi trường sống càng thu hẹp dần hoặc có thể xảy ra điều gì xấu hơn với nàng một lần nữa, nếu thế lần nầy nàng không thể thoát khỏi tai kiếp của loài linh trưởng khi những bẩy rập của lũ thợ săn giăng sẳn khắp nơi trong từng ngỏ ngách của Sơn Trà. Trong thâm tâm tôi hy vọng nàng luôn an bình, sống tốt lẩn khuất đâu đó trên những ngọn núi cao không có dấu chân người. Hơn hai mươi năm qua hy vọng của tôi ngày một vơi dần với nỗi ngóng trông vô vọng nhưng tôi vẫn chờ.
Người đàn ông trung niên tóc đã bắt đầu nhuốm bạc im lặng không nói gì mắt hướng về ngọn núi xa xa bắt đầu tím đẩm sương chiều khi anh nhà báo từ giả ra về.
*
Ngôi nhà nhỏ dưới chân núi Sơn Trà đóng kín cửa suốt tháng nay.
Khi nhà báo trở lại Sơn Trà tìm Phạm Đạt thì chủ nhân ngôi nhà đã không còn ở đó nữa, cửa đóng kín im lìm, cỏ đã bắt đầu lên xanh trước ngỏ ra vào, bìm bìm leo lên trên mái nhà xanh um, hỏi thăm người lân cận họ nói Phạm Đạt đóng cửa đi khỏi từ hơn tháng trước, không biết đi đâu và không có lời nhắn gởi lại chỉ biết đêm đó mưa rất lớn và trên Sơn Trà hình như có tiếng đàn văng vẳng. Nhà báo có vẻ bâng khuâng vì không thể báo cho anh một tin vui: Sự đấu tranh của nhiều tầng lớp nhân dân và báo chí trong việc bảo vệ ngọn núi thiêng, bảo vệ màu xanh muôn đời của Sơn Trà đã có kết quả bước đầu thắng lợi, tất cả các dự án xẻ thịt Sơn Trà đều buộc phải dừng lại, những kẻ có chức quyền ký những văn bản trái pháp luật và những người có trách nhiệm liên quan đều phải giải trình và có thể sẽ chịu những mức án kỷ luật nặng nhẹ khác nhau. Anh nhà báo nhìn lên Sơn Trà, mây đầu núi vẫn bay, màu xanh của núi rừng muôn đời vẫn huyền ảo và trên dãy núi thiêng đại ngàn đó có một người đang tìm đường về thiên thai. Anh nhà báo hiểu Phạm Đạt chỉ có thể tìm lại được tiếng đàn đá năm xưa khi Sơn Trà không còn nổi sóng hay muôn đời chỉ là một hoài niệm khôn nguôi của một kiếp người như mấy câu thơ trong bài Tống Biệt của Tản Đà ngày trước:
Cửa động, 
Đầu non, 
Đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

NGUYỄN AN BÌNH

Advertisements

Bài thơ gửi về từ trại cải tạo Ái Tử

 

Ở làng Cổ Lũy có nhiều người làm thơ, nhưng người viết truyện ngắn thật hiếm hoi. May mắn có Nguyễn Đặng Mừng, anh mê viết văn, làm thơ từ thời học sinh. Năm lớp 11 đã có truyện ngắn được chọn đăng trong tập san Hội mùa xuân, của trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Thời quân trường sĩ quan Thủ Đức, anh có nhiều bài thơ hay trên đồi Tăng Nhơn Phú. Sự nghiệp thơ văn của NĐM khá dày dặn kể cả số lượng và chất lượng. Điều đó không phải ngẫu nhiên mà có, mà do được hun đúc từ nhỏ, mê thơ văn, ca dao, tục ngữ, tiếng hò tao nôi của mẹ, đời sống dân dã của làng quê, cuộc chinh chiến dai dẳng nghiệt ngã của vùng ven giới tuyến tạo nên một diện mạo NĐM.

Rời quân trường SQ Thủ Đức, Mừng chọn Pleiku, nơi anh từng bị mê hoặc bởi ‘Má đỏ môi hồng’, ‘trời thấp thật gần’ nhưng không biết rằng thực tế thật là ác liệt, chiến trường đang ngấm ngầm sôi động chuẩn bị cho cuộc chiến lớn. Bài thơ dưới đây là tâm sự thật lòng của 1 sĩ quan Địa Phương Quân mới rời khỏi quân trường, bỏ lại những giọt mồ hôi pha chút lãng mạn nơi quân trường và cả những giấc mơ đẹp của tuổi học trò hoa bướm, tham gia vào cuộc chiến không lối thoát, báo hiệu cho một kết thúc buồn của người trong cuộc. Ví mình như con muỗi vo ve quay trong mùng là hình ảnh độc đáo và đầy tâm trạng.

Mùa mưa ở Pleiku

Mùa mưa về dài thêm những khúc quanh
Bong bóng mưa – ảo ảnh chuyện tình
Ngày – những mùa sương xanh lá núi
Đêm – những mùa trăng vỡ quanh mình

Mùa mưa về dài thêm bóng đêm
Đêm hoang mang đêm gọi em về
Đêm bịt bùng làm sao anh chạy trốn
Quay trong mùng như con muỗi vo ve

Ở tuổi 20, chưa được cầm tay con gái, đã vào quân trường rồi ra lính; nên gặp người em nào là cứ vận vào mình, tạm cho là thương nhớ mình, để mình có cớ thương nhớ lại, để có cớ làm thơ. Nhưng nhờ vậy có những câu thơ hay: Nhớ em không chừng tôi khóc/ Phố quen trống trải thế này.

Hương đã về xuôi!

Sáng nay Hương về dưới ấy
Mùa thu ở lại trên này
Lá vàng rơi theo lối cũ
Buồn nghiêng vàng phía chân mây

Hương về làm chi cho vội
Để chiều Pleiku heo may
Nhớ em không chừng tôi khóc
Phố quen trống trải thế này

Đã tới đèo Mang Giang chưa?
Mà sương mù trong cõi nhớ
Ai bảo sương tan rồi hợp
Để tôi khấp khởi mong chờ

Hay là Hương không trở lại?
Mà lòng tôi chẳng hề hay
Rằng xứ sương mù ẩn hiện
Những giấc mơ buồn lắt lay

Pleiku 1974
Viết về Pleiku rất thật như nó hiện hữu khiến một người chưa tới Pleiku như tôi tưởng như phố buồn u uất pha chút lãng mạn hiển hiện ngay trước mắt mình thời 1974, bên cạnh cái thèm thuồng thương nhớ của lứa tuổi 20. Buồn, u uất, mà sao vẫn thương, vẫn nhớ vẫn cuốn hút. Đơn giản vì cách viết tự nhiên, tả đúng hiện thực, ẩn hiện trong đó là mơ màng, ao ước hẹn hò yêu đương của tuổi trẻ, điều mà ai cũng có một thời trải qua.

Cuộc đời NĐM nhiều mơ màng, nhiều nông nổi, thơ văn NĐM có lúc cũng chạy theo mốt thời thượng, tuy nhiên những bài hay và ghi dấu ấn đều chảy ra từ giọt mồ hôi và những dòng nước mắt. Khi đời sống khấm khá, đầy đủ chúc tụng, thơ văn từ anh cũng được viết ra nhưng đi vào quên lãng; khi cuộc sống khốn khó, tưởng chừng như tuyệt vọng, thì thơ hiện ra cứu chuộc anh, bù đắp cho anh qua những ngày gian khó.
Làng Cổ Lũy có chiếc cầu bắc qua làng Đa Nghi qua con khe nhỏ, mùa hè đỏ lửa năm 1972 cầu bị đánh sập, quân đội miền Nam thay bằng chiếc cầu nhôm dã chiến. Sau 1975, cả nước đói khổ, nhờ chiếc cầu này trai làng có nơi tụ họp, đọc những bài thơ hào sảng của Quang Dũng, thơ Giang Nam và thơ Lê Văn Ngăn…, Công an xã thì ở xa, vả lại may mắn họ cũng không đến nỗi khắt khe lắm nên cũng chưa bị nhắc nhở lần nào.
Đa số những bài thơ tôi được nghe các anh đọc hồi đó là những bài thơ về tình yêu đất nước, cuộc kháng chiến chống Pháp, và những bài về tình yêu.
Trên chiếc cầu này, tôi đã được nghe anh Đẵng đọc “Những bài thơ cũ”, do NĐM gửi về từ trại cải tạo. Trong đêm tối mịt mùng đó, tôi sửng sờ khi nghe bài thơ này, khác với giọng thơ tôi đang học ở trường.
Những hình ảnh như “Tay em xưa vuốt ánh trăng mềm”, “Xưa hoang vu tóc lộng buông rèm”, “Hoàng hôn vàng chờ cúi hôn đêm” trước đó được thay bằng “Tiếng giun tiếng dế”, “đom đóm chập chờn” hay “tiếng lá vông đồng” của phiên chợ nghèo ngày xưa. Đó mới là đích thị Nguyễn Đặng Mừng.

Những bài thơ cũ

Trăm lốí mòn về với ngày xưa
Cho gió mùa thu lật trang sách nhỏ
Em thấy gì không những bài thơ cũ?
Khiến nỗi buồn ta thức dậy thì thầm

 

Ôi con tim đập lại nhịp xưa
Một ngọn gió heo may cũng đủ run nhè nhẹ
Lay hồn ta trầm tiếng giun tiếng dế
Và tiếng lá vông đồng rụng giữa đêm khuya

 

Hay con bướm con chim chập chờn dạ khúc
Hát tiễn anh qua những chặng cuối cùng
Sao em cười mắt liếc bao dung
Hãy cắn tóc mím môi đưa nhau về chặng cuối

 

Những bài thơ xưa chừ như tóc rối
Xui khiến anh ngồi gỡ lại đường tơ
Bóng dáng tình nương đi về ngại lối
Lòng lại dặn lòng hãy chối cơn mơ

 

Những bài thơ là những giấc mơ
Mà bóng tình nương là bóng sương mờ
Đêm nay ngập ngừng như con đom đóm
Bay lại vườn xưa chẳng thấy ai chờ…

Trại cải tạo Ái tử 1975

 

Nguyễn Đặng Trí Tín

MƯA ĐỜI SAU

 

 

Những chiều đầu hè tôi thường ngồi một mình trong sân vắng. Lúc hoàng hôn xuống tiếng ễnh ương ran lên như giàn hợp xướng của ao hồ. Chu thường về muộn, buổi chiều anh đi uống với bạn. Từ lúc Nhím đi, chỉ còn tôi với những khóm tầm xuân đầy hoa tím mà ngày nào con bé đã trồng. Đã đi xa mấy năm, mỗi lần email về cho tôi, nó luôn nhắc: Mẹ ơi, nhớ tưới giùm con những cây tầm xuân.

Từ năm 40 tuổi, những lúc ngồi dựa vào gốc cây bạch mai nhìn ra hồ, tôi thường thấy những ảnh ảo hiện ra, lôi kéo tâm trí tôi. Tôi lại thấy Nhím khi còn nhỏ, đi học về dưới mưa phùn mùa xuân. Tôi mắng con: “Sao con không mặc áo mưa”. Nhím nũng nịu: “Con thích cho tóc ướt”. Và, mười lần như một, con bé ào vào, thấm khuôn mặt lấm tấm nước vào áo tôi. Hai mẹ con cười rúc rích…

Rồi trí nhớ tôi lùi xa hơn, tôi thấy lại Tuấn dưới những tàn cây muối. Tôi đi học về trong chiếc áo dài trắng, tóc và má lấm tấm mưa. Tuấn hỏi: “Em quên đem áo à? Anh đã dặn trăm lần”. Tôi vịn vai Tuấn, nhón chân vênh mặt gần mũi anh: “Anh không thấy mưa thơm sao?” Tuấn cười, anh dúi mặt tôi vào vai áo, vai anh thấm hết những giọt mưa. Cả hai đứa, bao giờ cũng thế, chẳng ai có lấy một mẩu mùi soa nhỏ…

Sau này khi Nhím lớn lên, có lần tôi kể về Tuấn. Nhím hỏi: “Về sau tại sao me lại gặp ba?” Tôi cố nhớ lại: “Có lẽ là do cái óc khoa bảng của người Huế. Cái nghiệp âm nhạc của chú Tuấn nó bấp bênh, ông ngoại con không yên lòng”. Năm đó Nhím mới mười sáu tuổi, vậy mà nó nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ: “Sao thế, mẹ không có ý kiến riêng à?” “Ông bà đã sinh ra mẹ”. “Nhưng chính mẹ mới sống cuộc đời của mẹ chứ”.

Bây giờ thì có lẽ con gái tôi cũng định nói như thế, “Chính con sẽ sống cuộc đời con”. Cuộc điện của Nhím từ Schiltigheim làm tôi choáng váng. Rồi sẽ nói thế nào với Chu? Mới tuần trước, khi nghe con gái đã tốt nghiệp sắp về nước, anh vui sướng, mãn nguyện bàn với tôi: “Dịp này vợ chồng ta sẽ tổ chức lễ bạc”. “Lễ bạc?”, tôi ngạc nhiên. Có bao giờ Chu nhớ ngày kỷ niệm cưới đâu. Vả ngày ấy qua đã lâu, từ tháng 2 âm lịch. Chu bảo: “Cần gì đúng ngày”. “Thế thì tổ chức để làm gì?”, “Đi dự bao nhiêu lễ vàng lễ bạc của người ta, nay phải có cái gì đáp lại chứ. Mình lấy nhau hai mươi lăm năm, sống yên ổn, con cái thành đạt. Không đáng cho thiên hạ trông vào à?” Tôi ngần ngừ, thoáng mỏi mệt. Ngày xưa, hồi mới cưới, thầy bói bảo số chúng tôi khắc khẩu. Hai mươi lăm năm chung sống, chưa bao giờ Chu và tôi cãi nhau quá hai câu. Thực ra lời tiên đoán không sai, chúng tôi khắc khẩu trong lặng lẽ.

“Con nhớ hầu như ba mẹ chỉ cãi nhau một lần, lúc con sắp đi”. Năm ấy là năm cuộc sống của tôi hoàn toàn đảo lộn. Trong một đêm văn nghệ sinh viên, Nhím gặp Kim, nhân viên của một hội nghiên cứu châu Á ở Pháp. Kim bảo: “Cô là một tay piano đầy triển vọng. Cô muốn sang Pháp học nhạc không? Tôi sẽ giúp cô”. “Với điều kiện?” “Tôi đang tìm hiểu về nhạc Việt. Cô sẽ ký một hợp đồng với Archipel Adigo, theo đó cô phụ tá cho tôi. Bằng cách đó cô sẽ có tiền, có chỗ ăn ở và… “. Nhím nhăn mặt: “Sợ không đủ khả năng”. “Xưa nay tôi chưa đánh giá sai bao giờ. Vả lại… “. Kim nói một câu làm Nhím quyết định: “Vả lại, khả năng đến sau, cơ hội đến trước”.

Chỉ vì may mắn mà sóng dữ đã không đến. Giờ đây tôi đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, được thời gian đóng dấu son chứng nhận. Nhưng chỉ mình tôi biết, thật ra con thuyền của tôi chưa cập bến bao giờ.
Chu bứt tóc: “Tốn bao nhiêu công sức nó mới thi đậu vào trường Y. Sao bây giờ thả mồi bắt bóng?” Anh giận điên khi thấy tôi năn nỉ cho Nhím. “Bà cứ tưởng đi Tây là sướng sao? Phiêu lưu!”. Chu nguyền rủa Kim như người ta nguyền rủa quỷ sứ. “Bao giờ dân xứ này mới bỏ được hội chứng mê Việt kiều? Mới nghe hú một tiếng, thế là bỏ tất cả chạy theo nó”. Tôi không biết làm sao giải thích cho anh hiểu, không phải vì Kim mà Nhím ra đi. Tiếng gọi mà Nhím nghe thấy không phải từ một người đàn ông, nó đã bắt nguồn từ những chiều yên tĩnh xa xưa, khi Nhím còn rất nhỏ, học bấm những gam đầu tiên trong hiên vắng, có tôi luôn ngồi bên, lắng nghe. Chu bảo: “Học chơi cho biết thôi, đừng nên đam mê. Cái gien đàn ca này, con giống ai?” Tôi biết. Nhím cao dong dỏng, đến mười chín tuổi mà thân hình còn dài ngoằng chưa nẩy nở, nhưng con bé có đôi mắt to mơ mộng và cái nhìn như lửa cháy. Thân thể, thịt da nó là của Chu, nhưng đôi mắt và tâm hồn con bé là của tôi, nó khao khát những gì tôi khao khát.

Khi Nhím ra sân bay, Chu không đi tiễn. Một giờ trước khi lên đường, con bé bỗng ngã lòng: “Mẹ ơi, con không đi nữa”. Một giờ đồng hồ sau Nhím đã nín khóc: “Con nhớ lại rồi, không có ai dễ thuyết phục như ba. Mẹ nhớ giúp con, bảo rằng con rất yêu ba, con sẽ về”. Con bé bắt đầu tươi lên: “Bao giờ cũng thế, con sợ ba nhưng ba thì sợ mẹ”. Tôi lườm con và tiếp lời: “Còn mẹ thì lại sợ con”.

Khi tôi từ sân bay về, Chu đang khóc. Anh cảm thấy bất lực, hụt hẫng, anh nuôi nấng một con sơn ca mà chưa bao giờ kịp nghĩ đến ngày nó sẽ vuột bay đi. Tôi dỗ dành anh: “Nhím rất yêu anh, nó sẽ về”. Chu lắc đầu: “Nếu nó yêu tôi thì đã nghe lời tôi”.

Nhím đi rồi, khoảng trống giữa tôi và Chu bỗng như vô tận. Anh luôn nói: “Mình đã mất đứa con”. Tôi không cảm thấy mất con, mà thấy mình đã mất mình…

Nhím lên Paris, nạp đơn thi vào nhạc viện. Con bé viết thư về: “Con mới đàn thử cho thầy nghe lần đầu, thầy lắng nghe rất kỹ rồi khen “Joli”. Mẹ đừng ngạc nhiên, đó là thầy khen tiếng đàn, chứ không phải khen con”. Tôi khấp khởi mừng, trong khi Chu vẫn hy vọng con sẽ bỏ cuộc. Anh bảo: “Từ nhỏ nó đã bao giờ có đến một ngày chịu cực đâu”. Nhưng rồi Nhím thi đậu, được học bổng của nhạc viện. Chu tuyệt vọng. Con gái sẽ không về.

Người quen đến thăm, ai nghe Nhím bỏ trường Y cũng chắt lưỡi tiếc rẻ. Chu càng đau hơn. Nhưng rồi những lời tiếc rẻ cũng thưa dần đi, nhất là khi phong trào du học rần rần nổi lên. Cuối cùng Chu cũng đã bị thuyết phục. Giờ đây đi đâu anh cũng khoe con gái anh tháo vát, can đảm. Anh thay đổi cả cách nhìn về Kim. “Nhím có nói gì với em về thằng Kim? Sao không thấy nó xin cưới?”. Tôi bật cười: “Anh đào đâu ra cái ý nghĩ ấy? Giữa chúng nó chỉ có công việc”. “Hừ, anh không tin”. Lần này, Chu có lý. Cuối năm Nhím thư cho tôi: “Anh Kim ngỏ lời với con. Con bảo con không yêu, anh ấy trả lời y chang hồi nào: “Tình yêu đến sau, cơ hội đến trước”. Con dị ứng, bảo: “Không giống như chuyện công việc. Bốn năm qua, tình yêu đã không đến thì mãi mãi sẽ không đến”.

Tôi mỉm cười. Sao tôi lại đặt tên con là Nhím nhỉ? Nó luôn luôn xù lông. Ai có thể vuốt ve con Nhím ấy mà không bị thương? Ngày xưa, người chấm tử vi đã báo trước: cô bé này cao số. Tôi lo sợ e nó không lấy được chồng.

Nhưng bây giờ, Nhím đã gọi điện cho tôi để xin kết hôn. Chú rể không phải là Kim, mà là một người đàn ông bốn mươi bảy tuổi…

Giờ đây con người ấy đang ngồi trước mắt tôi. Theo lời Nhím, ông ta lớn hơn tôi hai tuổi.

Tại sao Nhím lại không có mặt ở nhà khi ông ta đến? Con bé không muốn nhìn thấy sự lúng túng của cả tôi và cả ông ta? Cả Chu cũng không có mặt. “Anh mệt mỏi lắm rồi, vả lại chiều nay, anh có cuộc họp quan trọng”. Anh thắt cà vạt và đi. “Nói con bé chọn đi, hoặc là cha mẹ hoặc là con người đó”.

Tôi biết tính Nhím. Nó không phải là người không dám chọn lựa. Nhưng nó sẽ không chọn lựa, bởi với Nhím, thật điên rồ khi bi kịch hóa mọi chuyện. “Con yêu ba mẹ và con cũng yêu ông Lãm, hai điều đó không loại trừ nhau”. Tôi giận dỗi hỏi con: “Trên đời hết đàn ông rồi sao?” Nhím mở to mắt như muốn soi thấu cả tim can tôi: “Mẹ đã biết, nhân loại rất đông nhưng chẳng có ai thay thế được ai”.

Bây giờ, dưới gốc cây bạch mai hoa trắng, tôi ngồi đối diện với người khách lạ. Lặng yên một lúc, cuối cùng tôi đành thú nhận sự lúng túng: “Không biết gọi anh bằng gì”. Người đàn ông không bối rối như tôi, anh ta mỉm cười chững chạc: “Chị đừng băn khoăn. Tiếng xưng hô chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài quan hệ”. Anh ta tiếp lời: “Qua Thể Tú, tôi biết chị là người nhạy cảm. Thật đáng tiếc vì tôi đã làm chị buồn lo, nhưng không thể khác”.

Thực kỳ lạ, ông ta lại là người an ủi tôi. Lớn hơn tôi hai tuổi nhưng trông ông trẻ hơn, vẻ đi đứng nói năng cũng nhanh nhẹn hơn. Tuy vậy cũng chỉ là một người đàn ông rất bình thường. Một người như thế mà con tôi phải đi hàng ngàn dặm mới gặp được sao? Tôi thấy xót.

“Tôi là thầy dạy của Thể Tú. Tôi sống ổn định nhưng không giàu có. Con người tôi, ngoài âm nhạc, chẳng có gì đáng nói. Cả đời tôi chưa hề quan tâm đến hôn nhân, rồi khi gặp Thể Tú, tất cả đều khác đi”.

“Nhưng nó còn nhỏ quá”. Tôi chỉ thốt ra được có thế và không cầm được nước mắt.

“Tôi đã nói với Thể Tú rồi, rằng tôi sẽ chết trước cô ấy rất lâu, không thể sống trăm năm cùng già như mong muốn của người Việt Nam mình… Nhưng chị là người sinh ra Thể Tú, chị cũng biết tính cô ấy”.

“Tôi biết. Con tôi rất khác tôi. Nó sẽ lập lại mãi cái điều nó đã nói: Nếu phải chọn giữa một hạnh phúc mong manh và một bất hạnh vững bền, nên chọn cái gì hơn?

Trời âm u, chuyển mưa. Vài hạt nước rơi từ cao, làm rụng xuống giữa chúng tôi những cánh bạch mai trắng nõn. Vài giọt rơi xuống khu vườn, rồi cơn mưa sa xuống trên cây cỏ. Tôi đứng dậy đi vào hiên, ông Lãm đi sau tôi. Cả hai chúng tôi ngồi yên lặng.

“Mẹ ơi!”. Nhím đã về, con bé đi vào, gọi tôi. Tóc và áo Nhím lấm tấm ướt, chắc trên đường về nó đã chạy đua với cơn mưa bóng mây.

Tôi vội lau nước mắt, sợ con nhìn thấy. Bất giác tôi đưa mắt nhìn ông Lãm như cầu cứu, ông ta hiểu ngay, tiến đến trước Nhím, vóc dáng vững chãi của ông che khuất tôi. Ôâng ta lau tóc và áo cho con tôi, như tôi vẫn làm cho nó ngày xưa. “Em không bao giờ biết phòng xa” – giọng người đàn ông trầm và âu yếm. Nhím cười hồn nhiên: “Mưa mùa này rất hiền. Anh không thấy mưa thơm mùi cỏ cây sao?”. Ngược với ảnh ảo về một Nhím trẻ thơ trong tôi, Nhím bên cạnh người đàn ông trông cao lớn, mảnh mai với gương mặt ửng hồng rạng rỡ. Con gái tôi đang sống trong mùa đẹp nhất của một đời, lúc mọi cảm xúc được khơi dậy với những khả năng kỳ lạ, khiến cơn mưa chợt có mùi thơm và màu trời buổi chiều cũng có độ sâu như tiếng nhạc.

Trời vẫn mưa, rất nhẹ. Tôi rùng mình. Cơn mưa vẫn muôn đời bao dung. Cơn mưa uyên ương một đời tôi đã quên, mong manh mà vĩnh cửu.

Đêm xuống, khi chỉ còn mình Nhím với tôi, tôi lưỡng lự bảo con: “Nhím này, mẹ nghĩ rằng có lẽ… khi nói với ba, con nên nói giảm tuổi của ông Lãm xuống chừng mười tuổi. Ông ấy trẻ hơn tuổi nhiều mà”. Nhím ôm lấy cổ tôi, reo lên: “Nghĩa là mẹ đã bằng lòng? Mẹ ơi, mẹ có tin con sẽ hạnh phúc không?”. Tôi ngập ngừng không nói. “Thế tại sao mẹ chấp nhận?”

Tôi không biết. Có một lực hút mãnh liệt cứ kéo tôi về phía Nhím.

Đêm ấy, khi tôi vào phòng, Chu nằm khoanh trên giường với đôi mắt đỏ. Tôi bỗng thương anh. Anh luôn hụt hẫng trong mọi chuyện. “Thằng cha ấy bằng tuổi anh. Lố bịch quá, anh không thể nào chịu nổi”. Tôi lạnh người. Nhím đã không nghe tôi, nó đã không nói dối. Vậy là gánh nặng trên vai tôi không hề giảm nhẹ. Nhím đã tin, cũng như mọi lần, tôi sẽ thuyết phục được Chu.

Chu quay quắt trông tội nghiệp. Tôi nhẹ nhàng xoa trán và lưng anh để anh dịu lại. Tôi đang phải thuyết phục anh, vì Nhím. Bỗng nhiên tôi thấy một cảm giác chán nản vu vơ. Cảm giác ấy, gần hai mươi lăm năm nay vẫn hiện ra trong tôi, mỗi khi chiều xuống, nhất là khi trời chuyển mưa, cơn mưa thơm nồng mùi cỏ cây.

Giờ đây, cũng với cảm giác ấy trong tim, tôi dự tính những gì mình sẽ nói. Tôi biết mình sẽ phải gợi cho Chu tiếp tục nghĩ đến dự định tổ chức lễ bạc, rồi việc thừa nhận Lãm trong ngày đó với tư cách chồng chưa cưới của Nhím. Một việc lố bịch mà Chu sợ hãi. Nhưng tôi phải vì Nhím. Phải vì Nhím mà vội vàng. Lãm bảo tôi: “Nếu Nhím ở lại Việt Nam sáu tháng nghĩa là tôi cũng sẽ thu xếp để về Việt Nam sáu tháng. Tôi biết có thể chúng tôi sẽ không ở bên nhau lâu dài, nên bao lâu còn có nhau chúng tôi sẽ không rời nhau”.

Tôi đứng dậy vào góc phòng, lấy chiếc giá đèn bằng bạc. Chiếc giá đèn này là của Tuấn để lại cho tôi trước khi ra đi.

Tuấn là người không bao giờ đổi ý. Sau khi tôi nói lời tạm biệt, anh không hề quay lại. Bao nhiêu năm nay, tôi không rõ anh ở đâu, chỉ biết rằng anh đã để tôi sống bình yên với sự lựa chọn của mình. Hàng năm, chiếc giá nến này vẫn nằm trong góc, chỉ được cắm nến và thắp một lần vào đêm đầu năm dương lịch.

Đây là lần ngoại lệ đầu tiên. Giữa đêm mưa, tôi cắm hai ngọn nến. Một ngọn để cầu cho niềm tin của Nhím và một ngọn cho sự bình yên cuối đời của tôi. Hình như những ngọn nến cũng có số phận, ngọn lửa của Nhím cháy bùng lên rực rỡ mà sao ngọn của tôi cứ leo lét bập bùng. Hơn hai mươi năm qua, tôi luôn mơ hồ nỗi sợ của người vượt trùng khơi trên chiếc tàu rệu rã, luôn nơm nớp lo một đợt sóng lớn ập tới, đập vỡ con tàu thành từng mảnh nát tan.

Chỉ vì may mắn mà sóng dữ đã không đến. Giờ đây tôi đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, được thời gian đóng dấu son chứng nhận. Nhưng chỉ mình tôi biết, thật ra con thuyền của tôi chưa cập bến bao giờ.

Tôi nằm xuống bên Chu, cố hình dung ra bữa tiệc vui tươi của ngày lễ bạc.

Trần Thùy Mai

Má Tôi

 

Viết tặng má thân yêu của con nhân ngày giỗ má .

Ngồi nhìn ánh nắng nhảy múa lung linh ngoài cửa sổ, tôi chợt nhớ lại những kỷ niệm êm đềm thuở còn nhỏ, khi còn sống bên má trong một thành phố nhỏ ven biển Qui Nhơn. Má tôi giờ đã không còn nữa, các con của má giờ tóc đã muối tiêu, nhưng mỗi lần nghĩ lại là tôi còn có cảm giác như mình còn bé bỏng lắm, như ngày nào còn thơ dại, nắm áo lẩm đẩm bước theo má. “Cái đuôi của tôi!” như má ngày xưa thường bảo với mấy bà hàng xóm. Gần đến cuối đời, tôi mới cảm nhận hết được niềm hạnh phúc cho những ai được sống trong tình thương yêu của cả cha lẫn má từ thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành.
Vào thập niên 1960, quê hương tôi còn quê mùa lắm, dầu là ở thành phố nhưng nhà cửa thưa thớt, xóm nhà nầy cách xóm nhà kia là một bãi cát trắng dài hoang vu. Lúc đó, tôi đang học lớp hai trường Mai Xuân Thưởng. Tôi nhớ mang máng là tôi đã học qua cô Mai, cô Cầm và thầy Bút, thầy Đính làm hiệu trưởng. Nhà trường lúc ấy phát động phong trào: Mỗi em một cây xanh, hoa hay cây trái nhỏ trồng trước cửa lớp. Cuối ngày xếp hàng ra về tôi cố ý xếp hàng cuối cùng và đi thục lùi, lén ở lại trường, chờ thầy cô leo lên xe đạp ra khỏi cổng là tôi bứng vội cây hoa mà mình ngắm nghía suốt cả ngày đem về nhà. Sáng mai, tôi đi học sớm thế vào đó là những cây hoa khác mà tôi đã trồng rất nhiều ở nhà. Vào những buổi sáng mùa đông, trên đường từ nhà đến trường, tôi thường bị các bà nội trợ kéo vào nhà, săm soi chiếc áo len đan hay móc, màu sắc pha trộn rất đẹp của tôi rồi hỏi :
– Ai móc cho con cái áo len này vậy ?
Tôi hãnh diện trả lời :
– Má con móc cho đó !
Tôi còn muốn khoe với bà ta là má còn biết làm bánh mứt, biết cắt hoa đu đủ pha màu chưng trong ba ngày Tết giống y như hoa thược dược thật.
Đời sống ở tỉnh lẻ rất nhẹ nhàng và bình yên. Dưới thời ông Diệm, đất nước được thanh bình và êm ả. Tầng lớp được mọi người kính trọng lúc bấy giờ là công chức, làm việc hay đi dạy cho chính phủ. Tầng lớp thứ hai còn sướng hơn mấy ông công chức, khỏi đi làm mà vẫn được hàng xóm, láng giềng nể trọng. Đó là mấy bà vợ mấy ông công chức. Má tôi thuộc thành phần này. Bà sống rất phong lưu mặc dù lương dạy học của ba tôi không được bao nhiêu. Ở phía trước nhà, má tôi bán phụ thêm sách báo, sách giáo khoa, bút mực và văn phòng phẩm. Bà giao tiệm cho người cháu gái trông nom. Sáu đứa con giao cho người làm săn sóc. Bà dành hết thì giờ để tới nhà bạn bè, bà con chuyện vãn. Đi chơi cũng có lịch trình: ngày thứ hai nhà bà Quảng, ngày thứ ba nhà bà Trang, ngày thứ tư nhà bà Định, ngày thứ năm nhà dì Tâm, thứ sáu nhà dì Dung, thứ bảy và chủ nhật là nhà cậu Cả, lúc nào cũng có tổ chức ăn uống hay đánh bài tứ sắc. Tôi lúc nào cũng là cái đuôi của bà, má tôi đi đâu là tôi theo đó. Bởi vậy, chuyện dâu con bà Tâm, bà Trang, chuyện con bà Định… chuyện thiên hạ làm sao là tôi biết hết tỏng.
Hòa bình kéo dài được dăm ba năm. Năm 1963 ông Diệm bị lật đổ, phe đảo chính lên nắm chính quyền, quân miền Bắc tràn vào ở nông thôn, Mỹ đổ bộ dồn dập xuống cảng Đà Nẵng, Qui Nhơn và Cam Ranh. Qui Nhơn biến thành một cái chợ trời hàng Mỹ Nhật cho cả nước, Bar bảy mọc lên khắp nơi, nhiều gương mặt lạ, nhiều giọng nói khó nghe, tiếng nhạc ồn ào kích động át tiếng sóng biển. Thế lực kim tiền bắt đầu xuất hiện. Người ta nói đến những người mới giàu nổi: mấy bà chủ khách sạn, mấy ông nhà thầu rác, mấy vị chủ quán Bar nổi lên như nấm sau cơn mưa. Bar nào Bar nấy sơn phết loè loẹt, đèn đuốc sáng trưng, lưới B40 rào kín phía trước chung quanh, nhạc sống nhạc chết kích động rập rình thâu đêm suốt sáng, chị em ta ở Sài Gòn ra dập diều trên đường phố, ong ỏng mời gọi khách vào Bar của mình. Nhà tôi nằm ngay trung tâm của vùng Tam Giác Vàng của chị em ta, cái địa điểm lý tưởng để hái ra tiền, nhiều người thèm thuồng đề nghị xin thuê hoặc hợp tác làm ăn nhưng ba tôi đều một mực lắc đầu giận dữ: Đói cho sạch, rách cho thơm, tuyệt đối không chạy theo đồng đô la, không cho thuê phía trước nhà, không Bar bảy.
Má tôi không chịu thua, cờ tới tay phải phất. Bà dắt đứa con gái, cái đuôi của bà, ra phố Gia Long mua sỉ những gì mà lính Mỹ thích: rượu, thuốc lá, bánh kẹo, bong bóng, áo Kimono, rương gỗ, móc áo … đem về tiệm mình bán, biến tiệm sách thành tiệm tạp hóa hầm bà lằng. Má tôi thôi không đi chuyện vãn nữa mà dành hết thì giờ của mình để kiếm tiền đô. Buôn bán rất phát đạt, tôi lúc đó mới mười tuổi, ngoài giờ học tôi xách xe đạp lên phố cất hàng và chở hàng về bằng xích lô. Một ngày tiền lời bằng tháng lương ba tôi đi dạy lúc ấy. Không ham sao được! Nhưng dù sao đồng tiền má tôi kiếm được là đồng tiền trong sạch, mua đi bán lại kiếm lời.
Má tôi còn bươn chải tìm cách kiếm thêm tiền như một người trụ cột trong gia đình. Nhà cửa lúc ấy cho thuê đắt như tôm tươi. Gia đình tôi có miếng đất ở gần biển nhưng không có tiền để xây cất, bà làm một lúc 10 cái hụi, mượn vàng người bạn trên quê gom lại để xây cất căn nhà thứ hai cho nhân viên RMK làm đường sá, cầu cống của Mỹ thuê. Sau năm năm, bà trả hết nợ nần.
Dân Qui Nhơn làm ăn khấm khá được vài năm cho đến ngày Mỹ rút về nước. Những ngôi nhà đúc bê tông cốt sắt hai, ba tầng ra đời, nhà nầy nối tiếp nhà kia, san sát với nhau làm thay đổi bộ mặt của thành phố. Đến mùa hè đỏ lửa năm 1972, má tôi lo âu, thấp thỏm sợ rằng đất nước sẽ bị chia cắt thêm một lần nữa. Bà cho tôi cùng với chị dâu và các cháu nội còn nhỏ đi trước cho nhẹ gánh, lỡ bề có chuyện gì xảy ra, ba má tôi với đứa con trai còn lại dễ tìm đường đi hơn nếu có chuyện gì bất trắc xảy ra. Ba tôi mất năm 1973 vì bệnh ung thư, bỏ lại mình bà phải lo lắng cho sáu đứa con trong thời buổi nhiễu nhương.
Mặc dù đất nước không bị cắt chia lần thứ hai, nhưng ba năm sau đó là ba năm đầy biến động. Chiến sự xảy ra khắp nơi, từ thôn quê lên đến cao nguyên rồi lan tràn xuống thành thị. Người ta bồng bế nhau chạy trốn trong khốn cùng tuyệt vọng và khi điểm cuối cùng là thủ đô Sài Gòn bị thất thủ, không còn đường để chạy, người ta lại bồng bế nhau chạy ngược trở về. Lần về nầy, mọi người lại tìm đủ mọi phương tiện để trở lại chốn cũ cho thật nhanh. Phải nhanh hơn kẻ gian có thì giờ ra tay hôi của, phải nhanh hơn bàn tay dán tờ giấy niêm phong của chế độ mới lên.
Sau tháng tư năm 1975, gia đình tôi được “công nhận” là gia đình ngụy quân ngụy quyền. Ngôi trường tư thục mà gia đình có nhiều cổ phần trong đó bị tịch biên, biến thành trường trung học của nhà nước. Ngôi trường mà ba tôi và những người bạn đã bỏ ra bao nhiêu tâm huyết lẫn ước mơ, bao nhiêu niềm vui và nỗi buồn. Má tôi trở thành trắng tay, bà cầm hai lượng vàng còn sót lại khi di tản vào Nam, tần ngần tự hỏi không biết ngày mai sẽ ra sao?
Thấu hiểu nỗi khổ tâm của bà, chúng tôi chia nhau đi kiếm tiền để mua gạo. Chị tôi ra chợ trời chạy mánh, tôi xuống chợ bán khoai mì. Vì không quen buôn bán ở chợ, mua thì bị cân non, bán thì bị cân già. Suốt buổi chợ, cuối ngày tôi huề vốn chỉ còn sót lại vài củ mì eo ỏng. Chị tôi lanh hơn tôi, ra chợ trời ngày thứ hai đã đem được tiền về để má tôi đi chợ và đong gạo.
Đứa em trai lên Bảo Lộc làm cho nông trường trà của nhà nước. Anh Hai làm mì sợi ở Sài Gòn, một ông anh không quân bị học cải tạo ở Phan Rang, có vợ anh ấy lo thăm nuôi. Một ông anh hải quân độc thân bị học tập cải tạo ở Kim Sơn, má tôi phải lo tiếp tế lương thực, thăm nuôi anh ấy. Phần tôi ba tháng sau được sở giáo dục gọi cho đi dạy trở lại, được nâng cấp từ giáo sinh đào tạo cho cấp một trở thành giáo viên ngoại ngữ cấp hai môn Anh Văn, không được ở thành phố mà phải về nông thôn để dạy vì thành phần gia đình không tốt, cần phải phấn đấu nhiều hơn nữa.
Trong 6 anh chị em, chị tôi là người buôn bán khá nhất nhờ lanh lợi, thức thời hợp với xã hội bấy giờ. Mỗi cuối tuần tôi về thăm nhà nhìn người má hiền gầy còm, tóc bạc phơ, áo rách vai ngồi dện bánh in bằng bột ngũ cốc cho anh Năm trong trại cải tạo mà nước mắt rưng rưng. Chị ở chợ trời về bảo :
– Suốt ngày má cứ rảnh giờ nào là làm đồ tiếp tế cho anh Năm. Tao mua miếng thịt bò về, trước khi nấu nướng cũng chừa một miếng bỏ vào lò nướng làm thịt bò khô, thịt heo thì làm sả ruốc. Tối thì ngồi dện bánh đến mỏi lưng mới đi ngủ.
Má của con! Má không quản thân gầy, ngày một ngày hai lo lắng cho đàn con đã lớn khôn. Tôi bị thuyên chuyển đi dạy ở Vĩnh Thạnh, vì cơ thể bị dị ứng với miền rừng núi, chân tôi bị lở lói, huyết thanh ra liên tục, ngứa ngáy, khó chịu vô cùng. Bà tưởng rằng hiệu trưởng có quyền điều người đi hay ở, má tôi cùng với tôi lên Vĩnh Thạnh để xin thuyên chuyển về đồng bằng. Muốn qua trường học, phía tả ngạn sông Côn, phải lội ngang qua sông chỗ cạn nhất là nước đến đầu gối, đá to lởm chởm dưới lòng sông. Má con tôi chờ mãi chẳng thấy có chiếc thuyền độc mộc hay chiếc sõng nào đi ngang qua để xin quá giang. Bà ái ngại nhìn chân băng bó của tôi :
– Để má cõng con qua sông.
– Không được đâu! Con nặng hơn má.
Má tôi cứ khăng khăng đòi cõng tôi, tôi đành phải leo lên lưng má, hai tay quàng cổ má, bọc hành lý đội trên đầu. Đến giữa sông, má trượt phải cục đá dưới lòng sông, hai má con té lăn nhào xuống nước. Qua tới bờ bên kia, hai má con tôi ướt loi ngoi, lóp ngóp, tôi không bao giờ quên được hình ảnh má thương yêu của tôi lúc ấy.
Rồi phong trào người Việt gốc Hoa rời nước chính thức bằng tàu lớn chạy máy. Thế là một số người giàu có dùng vàng đút lót để trở thành thân nhân của người Hoa và có tên trong danh sách lên tàu. Rồi phong trào người Việt gốc Việt rời nước lén lút bằng tàu nhỏ chạy máy cũng ra đời. Người ta lén lút chôn dầu, góp vàng, đóng ghe, mua bãi để đi vượt biên. Má tôi cũng nôn nóng muốn cho các con đi ra, bà quyết định bán căn nhà lớn và dọn về căn nhà trống, đang để bảng cho thuê để tìm đường cho chúng tôi. Chúng tôi dọn nhà mà nước mắt lưng tròng, quyến luyến nơi chốn chúng tôi sống từ bé thơ và lớn lên từ căn nhà này.
Bây giờ tôi còn hình dung được tiếng nói cười rạng rỡ của đám cháu của cả bên nội lẫn bên ngoại từ quê xuống trọ học, những đêm tối nhát ma, tiếng la hét rân vang trong căn nhà. Những bữa ăn rào rào như tầm ăn dâu. Tới mùa thi, mỗi người một góc, người trên sân thượng, người thu lu bên hồ nước, người cắm trại trên nóc nhà để ôn bài. Chúng tôi sắp sửa mất tất cả những kỷ niệm êm đẹp nhất thời ấu thơ của mình. Nhìn lại má, mắt bà cũng đỏ hoe. Không biết bao nhiêu là kỷ niệm từ thời mới tiếp thu, chân ướt chân ráo từ quê mới ra tỉnh cùng ba tôi, ấp ủ không biết bao nhiêu là câu chuyện vui buồn trong đời sống vợ chồng cũng bắt nguồn từ căn nhà nầy. Căn nhà trị giá ba trăm cây vàng bây giờ, lúc đó bán vỏn vẹn chỉ có mười hai cây, vừa đủ cho sáu anh em tôi đi tìm đường vượt thoát.
Bốn anh em tôi đi trót lọt, tới phiên tôi thì trầy trật. Nhóm tổ chức bị động ổ, sẵn cơ hội lường gạt chúng tôi để lấy vàng. Ở khe núi Phương Mai, ban tổ chức chia người làm hai nhóm: một nhóm gồm thân nhân của chủ ghe quay trở về Qui Nhơn, nhóm khách cho ghe nhỏ bỏ chúng tôi lên một ghe lớn đã thủng đáy. May vừa lúc đó, có một con sóng thật lớn đánh ụp xuống, kéo chiếc ghe lớn vào bờ. Chúng tôi thoát chết nhưng bị công an tóm gọn. Trên đường giải nhóm vượt biên về Qui Nhơn, tôi trà trộn vào đám người đi chợ chạy trốn về nhà. Má tôi tất ta tất tưởi xách nón lên nhà người bà con, nhờ họ giúp đỡ chở tôi ra ngã ba Phú Tài, đón xe chạy trốn vào Sài Gòn.
Mấy tháng sau, má tôi cho người đem vào hai cây vàng cuối cùng của bà cho tôi để tìm đường vượt thoát lần thứ hai với anh Hai. Lần này, chuyến đi thành công nhờ phước đức của má tôi, một người mà lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ những người bà con nghèo khó ở quê xuống, một bà chủ hụi đã đứng ra trả giúp cho bốn năm người hụi chết quỵt nợ mà không một lời than van, mắng nhiếc.
Mười mấy năm sau quay trở về quê nhà. Má tôi giờ lưng đã còng, tóc đã bạc phơ. Bà ngồi một chỗ trên ghế xếp, hầu như là không thấy tôi bước vào. Tôi chạy lại ôm má, bà đưa tay sờ vào mặt tôi, tóc tôi, tay tôi rồi ôm tôi khóc. Hai má con nước mắt đầm đìa, ôm nhau khóc ròng cho bỏ những ngày thương tiếc, nhớ nhung. Tôi kể cho má nghe những khó khăn, khổ cực, gian nan trong những ngày đầu tiên đến Mỹ, những lo âu, chán chường khi nhìn hai đứa con được sinh ra ở Mỹ và khôn lớn không giống như mình mong ước. Kể cho má nghe những việc tôi đã làm và những dự định ở tương lai.
Mắt má tôi lúc ấy đã chập chờn, không trông thấy rõ lắm nhưng bà giả vờ như một người bình thường để cho tôi được yên tâm trong những ngày về thăm bà. Tôi đứng lặng nhìn bà bóp ống kem đánh răng lên tay thay vì lên bàn chải đánh răng. Lần thứ hai về VN, tôi thức dậy nửa đêm, đưa má đi tiểu, trên đường trở về giường, tự động phân rơi vãi mỗi bước chân đi, bà ngồi xuống, cố gắng thu nhặt không để cho tôi biết, bà càng thu vén càng làm cho chỗ ấy dơ thêm. Tôi khóc :
– Má để con dọn! Con biết má không thấy đường nữa rồi. Má đừng giả vờ nữa, con biết từ khi nhận được lá thư cuối cùng của má, chữ càng lúc càng lớn, chữ nọ chồng lên chữ kia, má không giấu được con đâu. Má than thở :
– Má đâu có muốn như vậy! Bây giờ cơ thể của má nó không chịu nghe lời má. Bây giờ không nhìn thấy được con, má sợ có ngày không nói chuyện được với con, không nghe được con nói.
Tôi an ủi bà: Sinh Lão Bệnh Tử, ai cũng phải qua cầu, mình phải chấp nhận số mệnh. Nếu thể xác quá đau đớn thì chết là con đường giải thoát sớm nhất của má. Chết là bắt đầu một sự sống khác, cứ nghĩ tới một ngày nào đó, má sẽ gặp được ba, gặp được hai đứa con gái bạc mệnh của má ở Thiên Quốc thì má sẽ an bình, không còn lo lắng nữa. Chúng con sau nầy cũng sẽ giống như má ngày hôm nay. Thân thể của má đang bắt đầu suy yếu, hư hao theo tuổi đời chồng chất. Má cứ tự tại, vui vẻ mà sống, cái gì đến sẽ đến. Ai trong chúng ta cũng sẽ bị luật Vô Thường chi phối, đó là quy luật tự nhiên của tạo hóa Sinh Trụ Hoại Diệt, mình không thể cải lại được. Sống được một ngày là hãy vui đi một ngày nghe má.
Lần thứ ba tôi về thăm má, bà đã nằm một chỗ, thiêm thiếp, da bọc xương. Cho dù trí não còn minh mẫn nhưng bà không còn nói được. Một lần bà nắm lấy tay tôi, siết chặt, mặt đỏ lên, miệng mấp máy, muốn nói gì đó nhưng nói không ra lời. Lúc đó, tôi không biết tìm cách nào để nói chuyện cùng với bà trong những ngày cuối đời, chỉ còn biết nắm tay má vỗ về, an ủi: Má! Con đây! Má còn sống ngày nào là con sẽ thường xuyên về thăm má.
Má tôi mất vài năm sau đó, hưởng thọ được 93 tuổi. Chắc bà ra đi cũng mãn nguyện vì đàn con của bà lúc nào cũng ân cần lo lắng và lúc nào cũng có người săn sóc cho bà chu đáo đến cuối đời. Niềm an ủi lớn nhất của má tôi ở tuổi tri thiên mệnh là anh Năm, đứa con mà bà thương nhất trong khi bị cải tạo, đã quanh quẩn ở bên bà cho đến giây phút cuối cùng. Tôi bây giờ giống như má tôi ngày xưa, không nghe, không nói, không cười, không đi đứng được ở lứa tuổi 57, nhưng tôi biết dùng hai ngón tay gõ trên bàn phím để cho mọi người hiểu mình, biết biến ước mơ thành sự thật, biết biến những ngày ảm đạm, nỗi cô đơn buồn rầu thành bồng lai tiên cảnh với những người đẹp như tranh vẽ. Đáng tiếc chỉ có ba người ở bên cạnh tôi lại không bao giờ hiểu tôi là chồng và các con tôi vì họ không bao giờ đọc truyện của tôi viết.

Sương Nguyễn

FORMOSA, MÔI TRƯỜNG VẪN NHIỄM BẨN

 

Sự kiện tập đoàn Formosa xả chất thải nhiễm độc dọc theo bờ biển miền Trung từ năm 2016 đến nay vẫn còn là một sự kiện nóng bỏng. Nó vẫn sôi sục chỉ vì sự đền bù không được rõ ràng. Nó vẫn sùng sục như lò thuốc súng chỉ vì Formosa vẫn trắng trợn xả những chất độc hại ra bờ biển dưới sự bao che của nhà cầm quyền cộng sản. Cá vẫn nằm chết trắng xóa dọc theo chiều dài bờ biển. Những người tranh đấu cho quyền lợi của ngư dân vẫn bị bắt bớ và cầm tù một cách oan ức. Ngay chính những ngư dân chính thức cầm đơn kiện lên các tòa án Huyện, Tỉnh, vẫn bị bắt bớ và trù dập.
Vậy làm thế nào để tìm công lý cho những nạn nhân Formosa đây?
Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa”, (Justice for Formosa Victims, JfFV) tập hợp một nhóm người ưu tư về sự đền bù cho các nạn nhân Formosa chưa được giải quyết thỏa đáng, kể cả vùng biển miền Trung vẫn bị ô nhiễm mà tập đoàn Formosa không hề một lần bàn thảo đúng đắn với nhà cầm quyền cộng sản VN, và những người lên tiếng bênh vực cho những nạn nhân Formosa bị bêu rếu và áp đặt một bản án tù giam vô lý, đã chính thức đứng ra đại diện cho các nạn nhân liên quan đến Formosa và đâm đơn kiện lên các tòa án tại Đài loan, Nữu ước (Hoa kỳ), và tuơng lai tại La Hague (Hòa lan).
Vụ khiếu kiện được tiến hành từng bước với sự tham khảo về pháp lý của nhiều tổ hợp Luật sư tại Canada và Đài loan; trong đó có hai tổ hợp Luật sư là Quỹ Bảo Vệ Quyền Môi Trường (Environmental Rights Foundation – ERF) và Hội Luật Sư Bảo Vệ Môi Trường (Environmental Jurist Association) đặt trụ sở tại Đài Loan.
Vào tháng 4/2016, Công ty Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh tại Việt nam (FHS) bị phát hiện xả thải chất độc hại vào vùng biển dài 250km thuộc 4 tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, và Thừa thiên – Huế thuộc miền Trung. Ngay sau đó, Việt nam chính thức cấm đánh bắt cá dọc theo bờ biển, và vùng biển cách xa bờ 20 hải lý. Số lượng cá chết và phải loại bỏ vì nhiễm độc lên đến 322 tấn trong 3 tháng từ 6/2016 đến 9/2016. Ngư nghiệp chiếm gần 20% tổng sản lượng quốc gia nên một khi hải sản bị loại bỏ từng ấy trọng lượng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế chung của Việt nam. Nhưng quan trọng nhất vẫn là đời sống kinh tế của hàng trăm nghìn ngư dân thuộc 4 tỉnh kể trên bị sa sút nghiêm trọng. Một số ngư phủ phải bỏ nghề đánh bắt cá, kiếm nghề khác – không có một chút tay nghề – để sinh tồn. Một số khác phải mượn nợ để giúp gia đình cầm hơi. Nhiều cảnh thương tâm như gia đình chị Trần thị Hảo, nghề bán cá, hai đứa con phải bỏ học để giúp mẹ kiếm sống, vì cả nhà kiếm không đủ ăn. Gia đình anh Trần đình Thái, chủ hãng nước nắm, đành phải bỏ nghề vì không còn cá để sản xuất nước mắm; chưa kể người dân quanh vùng cũng không dám dùng nước mắm chỉ vì cá bị ngộ độc. Và còn nhiều gia đình lâm vào cảnh túng quẫn chỉ vì thảm họa do nhà máy Formosa gây ra.
Đúng ra, vào ngày 30/6/2016, công ty Formosa đã nhận lỗi xả thải và đền bù 500 triệu Mỹ kim qua nhà cầm quyền cộng sản Việt nam. Cho đến nay, số người được bồi thường quá ít, và số tiền bồi thường chẳng là bao so với tình trạng nợ nần từ vay mượn để nuôi sống gia đình trong những năm qua. Trường hợp điển hình, gia đình anh Paul Nguyễn Dương nhận được tiền bồi thường 50 triệu đồng ($2430 USD) chỉ vừa đủ trả nợ. Số tiền đền bù thật ra còn nhiều uẩn khúc. Uẩn khúc ở chỗ còn rất nhiều bí ẩn về số tiền 500 triệu Mỹ kim vì chưa ai thấy một chứng từ nào, từ tập đoàn Formosa hoặc phía nhà cầm quyền cộng sản, xác nhận số tiền này. Không ai biết tập đoàn Formosa có thật sự đền bù số tiền 500 triệu Mỹ kim, hoặc giả đây chỉ là một thỏa thuận ngầm giữa hai bên để trấn an dư luận, nhất là để xoa dịu sự phẫn nộ từ phía dân chúng.
Theo nghiên cứu độc lập của Giáo sư Tiến sĩ Paul Jobin, người Pháp, thuộc Viện Xã hội học, Sinica Academics (Đài Loan), và Đại học Diderot (Ba-lê) được loan báo vào tháng 3/2018 vừa qua cho biết, một số cá nhỏ (nhẹ ký) đã quay trở lại vùng biển bị ô nhiễm. Một ngư dân cho ông biết tuy có một chút cá nhưng sản lượng đánh bắt giảm hẳn, từ 300-400kg hải sản, nay chỉ còn khoảng 60kg. Bán ra không đủ nuôi sống gia đình. Nhiều nhà phải chấp nhận ăn cá hàng ngày trong phập phồng lo sợ về sức khỏe của con cái về sau, vì lẽ họ không biết mức độ nhiễm độc nặng hay nhẹ, khi tin tức bị nhà cầm quyền bưng bít, hoặc loan tin bất nhất. Họ phải chấp nhận ăn cá độc chỉ vì không còn cách nào khác để cầm cự với cuộc sống ngày càng khó khăn. Riêng về khoản đền bù, giáo sư Jobin tiếp xúc kín đáo với người dân trong vùng và ông xác nhận một số rất ít gia đình nhận được tiền bồi thường. Tình trạng ngày càng bi đát thêm vì nhà máy Formosa vẫn tiếp tục xả thải chất độc vào biển. Khi cuộc sống trở nên vô vọng, và không nhận được sự hổ trợ kinh tế nào từ nhà cầm quyền để sống qua ngày, ngư dân bắt đầu biểu tình đòi hỏi công lý và điều làm giáo sư Jobin ngạc nhiên là nhà cầm quyền thẳng tay đàn áp người dân một cách vô lý và dã man.
Đài BBC loan tin, hôm 10/5/2019 vừa qua, xác cá chết trôi dạt vào bờ biển Nguyễn Tất Thành, TP Đà Nẵng kéo dài tới hơn 1 km, bốc mùi hôi thối, theo báo Người Lao Động. Vào tháng 4/2018, cũng tại bờ biển này, số cá chết lên tới 2 tấn. Hôm 11/5, cá heo trắng đầu đàn cùng cả đàn ngàn con dạt vào bờ biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, nơi gần nhà máy Formosa. Thông tin này được đăng tải trên báo Thanh Niên nhưng sau đó bị gỡ xuống. Vẫn tại Vũng Áng, tháng 4 năm ngoái, hàng trăm kilô cá, mực nằm chết la liệt trên bờ. Một sự thật không thể chối cãi là đến bây giờ, cá vẫn tiếp tục chết tại khu vực xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh và huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Người ta ước lượng chỉ riêng trong năm 2018, tại Quỳnh Lưu, số cá chết lên tới 1,500 tấn. BBC còn lên tiếng cảnh báo về 900,000 tấn chất thải độc hại đang tồn đọng, và chắc chắn dưới sự bao che của nhà cầm quyền cộng sản, Formosa sẽ thải dần dần ra biển. Môi trường biển miền Trung sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn trong một ngày không xa.
Những sự kiện hiển nhiên như thế làm đau lòng những ai còn nghĩ đến tiền đồ của dân tộc và thế hệ con cháu mai sau. Họ là những người có cuộc sống bình thường như mọi người, nhưng có trái tim thật phi thường. Vì thế, họ thay mặt ngư dân và mẹ thiên nhiên lên tiếng báo động giới hữu trách trong và ngoài nước. Họ can đảm đấu tranh đòi hỏi quyền lợi cho ngư dân và đúng như họ dự đoán, nhà cầm quyền cộng sản kết án họ với những bản án nặng nề. Anh Hoàng Đức Bình bị bắt và bị nhốt chung (một cách cố ý) với những tay tội phạm hình sự, và bị chúng đánh đập tàn bạo trước khi nhận một bản án 14 năm tù chỉ vì đứng lên đòi hỏi sự đền bù chính đáng. Anh Nguyễn Nam Phong bị một bản án 2 năm tù vì (dám) khiếu kiện lên tòa án huyện. Blogger Nguyễn văn Hóa bị kết án 7 năm tù vì đơn phương mở cuộc điều tra và tường trình lên trang blog cá nhân về sự xả thải chất độc vô trách nhiệm của nhà máy Formosa. Mẹ Nấm cũng bị kết án 10 năm tù chỉ vì lên tiếng báo động về môi trường biển bị ô nhiễm. Họ lên tiếng dùm các nạn nhân và bị trù dập một cách dã man. Tiếng kêu gào của các nạn nhân Formosa bị bóp nghẽn trong uất ức và bất công. Tiếng than van của mẹ thiên nhiên chìm lẫn trong luồng nước độc hại đang giết dần mòn vùng biển miền Trung.
Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” đang tìm mọi cách để tiếng gào của biển và tiếng than khóc của các nạn nhân Formosa được thế giới lưu tâm. Một trong những người lưu tâm đến hoạt động của Hội là Đức cha Nguyễn thái Hợp, nguyên Giám mục Vinh. Vũng Áng, nơi nhà máy Gang Thép của tập đoàn Formosa đang gieo rắc tai ương kinh hoàng cho hàng trăm nghìn ngư dân, thuộc địa phận ngài cai quản.
Vào đầu tháng 8/2017, Đức cha Nguyễn thái Hợp đã lặn lội đến Đài loan để quan sát và tìm hiểu cách làm ăn của tập đoàn Formosa, cũng như gặp các viên chức quan tâm đến môi trường, kể cả các chức sắc của các quốc gia để kêu cứu thay cho các ngư dân. Ngài ráo riết vận động để thế giới hiểu được sự ô nhiễm trầm trọng đang xảy ra tại vùng biển miền Trung, và cuộc sống thoi thóp của cả triệu người dân trong khu vực nhiễm độc do tập đoàn Formosa gây ra.
Và Giám mục Nguyễn thái Hợp đã ủy quyền cho Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” (https://jffv.org/) đảm nhận sứ mệnh cao cả này. Hội tiếp nhận trọng trách này với 3 mục đích chính:
– Đòi hỏi sự đền bù xứng đáng cho các nạn nhân,
– Đòi hỏi làm sạch các vùng biển bị ô nhiễm,
– Đòi hỏi nhà cầm quyền cộng sản thả ngay các bloggers, nhà báo, ký giả, thường dân, giáo dân… đang bị bỏ tù oan ức chỉ vì lên tiếng về thảm họa Formosa.
Từng bước nhỏ nhưng chắc chắn, Hội tiến lên và kêu lớn tiếng. Tiếng kêu đầu tiên đề đạt lên Ủy Ban Nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc vào ngày 27 tháng 5, 2019 vừa qua, Tổ hợp luật sư Larochelle Avocats tại Canada; thay mặt Hội đã đưa đơn khiếu nại lên Ủy Ban Nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc, yêu cầu thành lập những tiểu ban để điều tra những sai phạm về môi trường của tập đoàn Formosa. Đơn khiếu nại cũng đề nghị Ủy Ban yêu cầu Formosa phải đền bù xứng đáng cho gần mười nghìn ngư dân và giám sát việc làm sạch môi trường đã bị ô nhiễm trong những năm qua.
Tiếng gào thứ hai mạnh mẽ hơn, gây được nhiều chú ý từ các giới hữu trách hơn. Ngày 11/6/2019 vừa qua, Hội chính thức khởi kiện công ty Formosa Hà Tĩnh tại tòa án Đài Loan, Đài Bắc. Trong đơn kiện, Hội yêu cầu số tiền đền bù là $4,4 triệu đô cho 51 hồ sơ trong đợt cứu xét đầu tiên. Tùy theo mức độ hoàn chỉnh, Hội sẽ đệ trình khoảng 280 hồ sơ trong đợt 2; đợt 3 gồm trên 3,000 hồ sơ và những hồ sơ còn lại trong đợt cuối cùng. Tổng số tiền bồi thường cho 7,875 hồ sơ là trên $600 triệu đô la. Hội cũng tổ chức một cuộc họp báo quốc tế ngay trước Tòa án thành phố Đài Bắc để công khai đòi hỏi tập đoàn Formosa phải chịu trách nhiệm bồi thường cho các ngư dân, đồng thời phải chịu trách nhiệm làm sạch môi trường biển miền Trung đã và đang bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng. Lúc 13:30 chiều cùng ngày, Hội tiến hành một cuộc biểu tình họp báo tại Trụ sở chính của tập đoàn Formosa, trong lúc công ty đang họp cổ đông hàng năm.
Đơn kiện được sự ủng hộ nhiệt tình của các tổ chức phi chính phủ (NGO) tranh đấu cho môi trường tại Đài Loan như: Hiệp Hội Theo Dõi và Thực Thi Công Ước Liên Hiệp Quốc (Covenant Watch); Hiệp Hội Thúc Đẩy Nhân Quyền Đài Loan (Taiwan Association for Human Rights – TAHR); Văn Phòng Trợ Giúp Công Nhân, Di Dân Việt Nam (Vietnamese Migrants and Immigrants Office – VMWIO); Quỹ Bảo Vệ Quyền Môi Trường (Environmental Rights Foundation – ERF); Hội Luật Sư Bảo Vệ Môi Trường (Environmental Jurist Association – EJA). Ngoài ra, giáo sư Paul Jobin (đề cập trên) thuộc Sinica Academics cũng có mặt trong buổi kiện lịch sử này.
Về phía tôn giáo, một phái đoàn từ Việt nam hiện diện trong cuộc biểu tình, cổ võ nỗ lực của Hội đòi công lý cho nạn nhân Formosa, gồm Đức Cha Hoàng Đức Oanh và hai linh mục thuộc Giáo phận Vinh và Hà tĩnh, nơi ngư dân bị ảnh hưởng kinh tế nặng nề nhất; và cũng chính nơi đây, môi trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất. Linh mục Phêrô Nguyễn văn Hùng, người đòi hỏi và tranh đấu quyền lợi cho các cô dâu Việt và các công nhân Việt lao động tại Đài Loan, hổ trợ phái đoàn khởi kiện từ những ngày đầu.

Cần nói thêm về số người Việt hiện đang sinh sống và làm ăn tại Đài Loan. Số cô dâu lấy chồng Đài cả trăm nghìn, còn “xuất khẩu” lao động khoảng hai trăm nghìn. Riêng tại Đài Bắc, tổng cộng số cô dâu và công nhân chiếm khoảng một trăm nghìn. Phần lớn cô dâu bị ngược đãi, đối xử tàn tệ trong gia đình chồng. Còn công nhân Việt thường làm việc trong một điều kiện khắc nghiệt, nếu không nói là bị bóc lột. Họ làm việc khổ nhọc – thường 16 tiếng một ngày – để đủ tiền trả món nợ từ $7-10 nghìn qua môi giới (nộp cho nhà cầm quyền Việtnam), và dư dả chút đỉnh giúp gia đình. Khi biết Hội đến tận Đài Bắc để khiếu kiện tập đoàn Formosa, họ nghẹn ngào đến bật khóc. Theo chị Nancy Bùi, Phó Hội đặc trách Ngoại vụ, họ tâm sự: “bọn con cứ tưởng các bác, các cô chú có đời sống an vui ở hải ngoại rồi quên chúng con, không nhớ gì đến quê hương. Khi nghe tin Hội JfFV đâm đơn kiện Formosa, bọn con đến tiếp sức ngay, cho dù phải bỏ vài ngày làm việc.” Đối với những thành viên trong Hội, đây là một phần thưởng tinh thần cao quý nhất từ trước đến nay.
Bước tiếp theo là tổ hợp luật sư của tổ chức Quốc Tế Quyền Môi Trường (Earth Rights International – ERI) tại New Jersey, Hoa Kỳ sẽ đại diện cho Hội và các nạn nhân Formosa nộp đơn kiện tại tòa án Liên Bang về môi trường tại tiểu bang New Jersey, nơi đặt bản doanh của Công ty Formosa USA. Đây là công ty có cổ phần lớn cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành Công Ty Hưng Nghiệp Gang Thép Formosa Hà Tĩnh.
Quỹ của Hội “Công lý cho Nạn nhân Formosa” hiện nay đủ trang trải án phí kiện tụng tại tòa án Đài Loan nhưng những bước kế tiếp Hội rất cần sự tiếp tay của tất cả đồng hương, các hội đoàn, các Mạnh Thường Quân, các thương gia, các nhà bảo trợ hầu thực hiện cho bằng được trọng trách này.
Gần mười nghìn nạn nhân Formosa đang cần chúng ta. Cả một môi trường biển dài 250km cần làm sạch đang cậy vào chúng ta. Thế hệ con cháu tương lai hy vọng từ việc làm của chúng ta hôm nay.
Xin góp một bàn tay vào công việc cao cả này.

Sơn Nghị

Gió thiên đường

Lần đầu tiên đến lớp khiêu vũ ở nhà tôi, Hiếu còn mảnh dẻ như cây tre non. Khi tôi cầm tay Hiếu chỉ những bước đi đầu tiên, hắn gọi tôi là “Sư Mi”. Tôi bảo: “Vậy thì từ nay Mi là sư phụ của Hiếu đó nghe”. Hiếu cười, khoe chiếc răng mẻ rất dễ thương.

Trong lớp này tôi phải dạy đến năm sáu anh chàng, anh nào cũng dẻo mồm. Đôi khi tôi thầm trách ba. Lẽ ra ba không nên phó mặc mọi chuyện cho tôi như thế, lẽ ra ba phải đứng dạy mấy ông con trai to xác này để đỡ cho con gái mười tám tuổi của ba. Có lúc bực mình tôi bảo: “Ba có nghe mấy chữ “con gái rượu” không? Rượu có đem chôn kín thì mới ngon”. Ba tôi lừng khừng: “Rượu tốt không sợ bay hơi”. Mắt ba tôi như nhìn xa xôi, đượm buồn.

Tự nhiên tôi thương ba. Lại lẳng lặng gánh vác hết mọi điều, để ba lặng thầm trong cõi riêng.
Những băng nhạc để tập trong lớp dều do ba tôi chọn. Nhạc vasle với Le beau Danube bleu của Strauss, Thu vàng của Cung Tiến, behop với Love is blue, tango với Vũ nữ thân gầy, Le Paloma. Hiếu bảo tôi: “Mi biết vì sao lớp nhà em ít người học không? tại nhạc chán quá”. Tôi ức: “Nhạc thế này mà còn chê. Toàn những bài bất tử”. “Nghe cổ lắm”. “Vậy Hiếu tới đây làm chi?”. “Nhạc sầu lắm nhưng cô giáo thì dễ thương”. Tôi mím môi, không thèm đáp. Yêu ai yêu trọn một đời, giọng Khánh Ly dìu dặt vang lên theo tiếng nhạc. Chừng nghe giai điệu quen thuộc, ba tôi ngồi lặng, mắt nhìn như soi vào quá khứ. Hiếu nháy mắt, hát nhại theo: Yêu ai, yêu chỉ vài giờ. Tôi nhăn mặt không nói gì, thừa lúc Hiếu bước sai tôi giả vờ lỡ chân đạp cho hắn một cái đau điếng.

Cả dòng họ tôi, trừ tôi ra, ai cũng có đôi mắt đẹp mà buồn. Mắt ba tôi cũng thế, lúc nào cũng u ẩn đầy kỷ niệm. Ngày xưa, ba tôi cũng từng có một mối tình lớn. Người con gái ấy tên là Lý Thanh Thúy, dân chơi ngày ấy thường gọi là Thanh Thúy Tàu. Đó là bông hoa nổi nhất trong vũ trường Đà Nẵng. Tất nhiên trong mắt ông bà nội tôi, một người con gái như thế không thể nào bước vào một gia đình thế gia vọng tộc tuy đã sa sút về tiền của nhưng chưa hề đánh mất nề nếp gia phong. Đám cưới của ba tôi, cho đến giờ những người bạn thân vẫn còn nhớ. Một đêm trước Giáng sinh, ba tôi và mấy người bạn đến vũ trường, đem theo một bó hoa và một chiếc bánh cưới. Vào cuối đêm, vũ trường vắng người, đôi tình nhân vừa cầm tay đi theo nhạc Oui devant Dieu vừa xuống từng bậc cầu thang dẫn đến phòng riêng. Đèn tắt, từng ngọn, tắt ngấm, tất cả chìm trong bóng đêm. Rồi những ngọn nến được thắp sáng dần, từng ngọn một và Thanh Thúy Tàu thấy người yêu đang nắm tay mình, lồng vào ngón tay một chiếc nhẫn cưới. Nàng bật khóc vì hạnh phúc… Từ đó chàng sĩ quan ở lại với Thanh Thúy Tàu, không về nhà cha mẹ. Thanh Thúy Tàu không tiếp những khách chơi giàu có nữa, và đáp lại, chàng trai hai sáu tuổi nổi tiếng khiêu vũ giỏi cũng tự nguyện không bao giờ nhảy với ai ngoài người vợ yêu của mình.

Thanh Thúy Tàu về sau đã phản bội cha tôi, đúng như lời tiên đoán của bà nội tôi ngày trước. Nàng quá đẹp và quá mong manh, mà những năm tháng dài ba tôi ở trong trại cải tạo là một thử thách quá lớn. Cha tôi trở về vào tuổi ba mươi hai, cảm thấy hụt hẫng từ mọi phía, nhận ra những kỹ năng của nghề lính không giúp ích gì được cuộc sống trước mắt. Ông lấy vợ, sinh con, bị buộc phải nghĩ tới mưu sinh, và không ngờ cái tài khiêu vũ, trước đây là thú vui, nay lại là sinh kế. Cuộc đời nghiệt ngã đã không cho ông giữ đúng lời ước nguyện: không nhảy với ai ngoài Thanh Thúy Tàu. Nhưng từ đó, vũ điệu với ông không còn là niềm say mê nữa, nó chỉ còn là việc kiếm sống nhọc nhằn. Có vẻ như ông đã chờ từ rất lâu ngày tôi mười tám tuổi; để trao lại cho con gái cái gánh nặng vui vẻ này.

*
Hiếu bảo tôi: “Sư Mi ơi, người nhảy như cá bơi trong nước. Mi tập khiêu vũ mấy năm rồi”. Tôi không nhớ nổi đã tập bao lâu. Mới lớn lên, có trí nhớ là đã nắm tay ba đi hết các fan promenade. “Hồi Mi bắt đầu tập với ba, mỗi lần nhảy phải đóng cửa lại. Ba nói hồi đấy uống cà phê buổi sáng còn bị phê bình, nói gì đến khiêu vũ. Các học viên đi học phải gói theo giày, hết giờ lại phải đi dép về nhà”. Hiếu hỏi: “Mười mấy năm ở đây Mi thấy học viên nào ưa ý nhất?”. Tôi cười, lắc đầu. Nếu như thật lòng được nói ý mình, tôi sẽ nói: “Hiếu”. Nhưng mà ngượng lắm, nếu để cho y biết rằng người đầu tiên mà tôi thấy thú vị nhảy cùng, chính là y.

Không phải y nhảy giỏi, nhiều người thuộc và biết nhiều fan hơn y, nhưng y nhảy rất có hồn, y say đắm với vũ điệu, không phải chỉ nhảy bằng hai chân mà còn bằng cả tóc, mắt, miệng cười và niềm vui sôi nổi toát ra từ thân thể. Tôi dạy y phần kỹ thuật, còn chính y bằng năng khiếu trời cho đã dạy tôi rằng động tác vũ chẳng là gì cả nếu không thấm đẫm niềm hạnh phúc, không gợi cho người ta cảm giác về khát vọng sống, khát vọng tình yêu. Vì tự ái nghề nghiệp, tất nhiên không bao giờ tôi chịu thú nhận với y điều đó.

Ba tôi xem chừng không có cảm tình với Hiếu. “Cái đầu rẽ giữa trông khó thương.” Tôi nhìn Hiếu, nhưng lại thấy đầu tóc hai mái rất hợp với vẻ mặt lãng tử. Ba tôi, một thời đã từng bất chấp tất cả, thế mà bây giờ vẫn không thể vượt qua mấy phân xê xích của đường ngôi. Tôi nói với ba: “Con nghĩ cái quan trọng là cái bên trong đầu tóc”. Ba tôi nhún vai: “E rằng trong ấy chẳng có cài gì ngoài những câu tán tỉnh sáo rỗng. Bao giờ cũng thế, khi yêu con gái trở nên bao dạn, còn con trai thì hoá ra nhút nhát. Những thằng miệng tía lia là trong bụng không có gì”. Tôi nao núng. Hôm sau Hiếu tới. Tôi đi slow với y. “Mi có áo mới phải không?”. “Đẹp không?”. “Rực rỡ y như Claudia Schiffer”. Y vừa nhảy vừa nhìn tôi như ngắm một con nhân sư từ Ai Cập tới. Nụ cười răng mẻ thường ngày rất dễ thương, tự nhiên hôm nay làm tôi sợ. Như thể tự vệ, tôi bất giác dí ngón tay vào trán Hiếu: “Dẻo vừa thôi. Cái mặt này đểu lắm nghe chưa”. Nghe chữ đểu, Hiếu khựng lại, đột ngột ngừng nhảy bỏ về ghế ngồi. Tôi biết mình lỡ lời. Từ đó, Hiếu không đến nữa. Thảng hoặc có đến cũng không mời tôi nhảy. Tôi bối rối, ân hận, nhưng sự đã rồi. Mặt mũi nào nói lời xin lỗi. trong nửa tháng, tôi sụt ký, gầy xuống trông thấy. Soi gương, tôi tự an ủi: “Càng hay, gầy càng có dáng”.

Trước Giáng sinh, Hiếu đến gặp tôi: “Vũ trường có gửi vé nhảy cho lớp mình không?”. “Có”. “Cho Hiếu xin một cặp vé”. Tôi lẳng lặng mở hộc đưa cặp vé cho Hiếu. Hiếu cảm ơn rồi về, không chào. Ba tôi bảo: “Giáng sinh năm nay lớp mình đi chơi ở sàn Ngọc Anh, Nguyễn Huệ hay Ngô Quyền?”. Tôi tần ngần nghĩ ngợi. Ba tôi nói: “Ba sẽ nhảy với con một bản valse tuyệt vời, như Giáng sinh mọi năm”. Tôi im lặng. Chút gì đó như chán nản. Chút gì đó như nghẹn ngào. Tôi mười tám tuổi, nóng lòng chờ đợi một điều gì mới, không phải như mọi năm…

Đêm Giáng sinh, ba tôi đi với cả lớp. Tôi ở nhà. Tôi sợ, sợ một điều gì không rõ. Sợ gặp Hiếu đi với ai đó, trên sàn nhảy. Một người nào quan trọng với Hiếu đến thế, khiến Hiếu phải giành vé trước cả mười ngày trời? Y sẽ nhảy với ai đó, bằng cả thân mình, cả tóc, mắt và nụ cười “Sư Mi, ở nhà một mình hả?” Chợt Hiếu hiện ra sau lưng tôi, mảnh dẻ và dễ thương, sạch sẽ hơn hẳn mọi ngày, trông tươm tất y như một gói quà Giáng sinh.

Tôi dụi mắt, tưởng mình đang nằm mơ.

Lúc đó là mười một giờ khuya, chuông nhà thờ đổ. Và Hiếu, và tôi và đêm thánh vô cùng.
“Đi với Hiếu. “Đi đâu?”. Hiếu rút trong túi ra cập vé còn y nguyên. “Sư Mi dở quá, không biết vì sao mà Hiếu xin cặp vé này à?”. Tôi nhìn y, lòng muốn lao vào y mà cấu mà xé, “Đồ mắc dịch, đồ chết toi, đồ đùa dai, đồ mất dạy, làm người ta chết đi được”. Nhưng lẽ nào con gái mà tuôn ra những lời rủa sả như thế Cho nên tôi đành lặng nhìn Hiếu như thể một người con gái dịu hiền và ít lời nhất trên đời này. Hiếu cười cười, nụ cười răng mẻ mà lâu nay tôi quá nhớ. “Sư Mi, muốn chửi rủa gì thì chửi to lên đi, Hiếu sẵn sàng nghe đây”. Tôi ngậm bồ hòn làm ngọt: “Thông minh lắm, chưa nói đã hiểu rồi”. Hiếu chở tôi đi. Bỗng nhiên tôi sợ. “Sợ gì?”. “Sợ người ta thấy Hiếu đi với Mi”. “Mặc kệ thiên hạ”. Tôi không mặc kệ được. Giờ này mà đến vũ trường, ba tôi sẽ nhìn tôi như thế nào đây, bên cạnh chàng trai dẻo mồm mà ông luôn cảnh giác. Hiếu bảo: “Dù sao, đêm Giáng sinh cũng không cho Mi ngồi nhà đâu”. Hai đứa qua cầu Mới, lên dốc Bến Ngự. Quán cà phê Dã Thảo đêm nay lung linh ánh nến và tiếng nhạc, trông như một thế giới huyền thoại. Tôi run chân, như cô bé Lọ lem bước vào lâu đài của hoàng từ. Hiếu dẫn tôi lên lầu. Một bình hoa hồng xanh nằm trên chiếc giá gỗ nơi lưng chừng cầu thang. “Mi thích không?”. Không đợi tôi trả lời, Hiếu nhanh tay nhón ngay một bông hoa lạ. Tôi xanh mắt: “Sợ quá. Người ta nói chết”. Hiếu cười: “Đồ thỏ đế”.

Bên khung cửa sổ rộng mở, trời đen như nhung lác đác sao. Bên dưới là cỏ xanh, lá xanh và những tia nước lấp lánh. Hiếu khuấy cà phê sữa cho tôi. “Sao Mi thừ người ra như thế?”. Tôi không nói đây là lần đầu tiên tôi đi với một người con trai vào quán cà phê. Vừa lo sợ, vừa cảm thấy thích thích, hồi hộp, như thể đi vào một cuộc phiêu lưu, một thế giới khác. Một ngôi sao bay vụt ngang, rơi qua bầu trời. Hiếu kêu: “Mi ơi, nhanh lên, hãy ước một điều gì đi”. Tôi ước thầm một điều nhưng khi Hiếu hỏi, tôi không nói. Một điều ước thầm kín, có thể một ngày kia sẽ nói ra, nhưng không phải bây giờ…

Từ năm ấy, tôi mới hiểu thế nào là đêm Giáng sinh.

Không biết ba tôi sẽ nghĩ sao, nếu biết mỗi tuần tôi vẫn gặp Hiếu vài lần ở quán cà phê Dã Thảo. Cũng trước khung cửa sổ mênh mông đó không có những ngôi sao, nhưng có trời chiều và có những bông Hoàng Hậu lác đác hồng. Hiếu hỏi: “Mi hút thuốc không?”. “Sợ lắm”. “Cái gì cũng sợ. Thử cho biết”. Tôi phải hút thử vì Hiếu đưa điếu Ngựa Trắng tận miệng. Tôi sặc. Không thấy ngon lành gì, nhưng cảm thấy mình ngầu ngầu. Người Hiếu trông cứng cỏi, lấc cấc vậy mà khi ngồi bên tôi lại rất dịu dàng. Từ nhỏ, tôi đã thiếu sự dịu dàng chăm sóc. Anh chị không có, mẹ tôi quá chất phác vô tư. Hiếu thì khác, tế nhị và kiên nhẫn. Có hôm tôi đến trễ gần nửa giờ, Hiếu vẫn chờ trước quán, ngồi trên xe, dưới mưa. Thấy tôi đến, mặt Hiếu sáng lên với nụ cười đến là dễ thương. “Ngồi đồng trước quán thế này, không sợ người ta dòm ngó à?”. “Việc gì đến ai đâu mà sợ. Chỉ sợ Mi không dám đi vào quán một mình”. Gió đông lạnh, Hiếu vẫn đòi mở rộng cửa sổ cho Hiếu nhìn trời. “Hiếu có phải là quỷ sứ không? Chẳng bao giờ nghe Hiếu mệt, Hiếu lạnh, Hiếu bận việc”. Hiếu cười: “Hiếu mê cái quán này vì nó đầy gió. Nhất là từ khi Mi tới đây. Mi đừng dại mặc áo ấm kín mít làm gì. Mỗi năm mình đâu cần có hai mùa hè”. Tôi nghe lời Hiếu, mặc phong phanh ngồi trước cửa sổ mênh mông, nghe mưa. Dần dần tôi hiểu mùa đông, yêu mùa đông, biết thế nào là vẻ đẹp của gió, của giá buốt và hơi ấm khi ở bên nhau.

Hiếu ít tới nhà tôi, đơn giản vì thấy ba tôi không thích. Tôi bảo Hiếu: “Nếu nghĩ tới Mi thì sửa đầu tóc lại”. Hiếu bướng: “Tóc là của Hiếu. Hiếu rẽ ngôi trên đầu Hiếu. Khi nào Hiếu rẽ ngôi trên đầu người khác, người ta mới có quyền có ý kiến”. “Nhưng Mi không thích cái đường ngôi ấy”, tôi vờ bảo thế. “Sao Mi cứ muốn Hiếu trở thành con người khác”.

Trong suốt mùa đông tôi không còn cảm thấy lạnh, không thấy những giờ dạy khiêu vũ là mệt mỏi, không thấy những buổi học luyện thi ban đêm là chán chường, không thấy nỗi lo, nỗi căng thẳng khi mẹ tôi nói tiền hết, em cần mua sách vở, ba cần uống thuốc… Cả cuộc sống đang khó nhọc trở nên nhẹ nhàng. Quán cà phê thành địa chỉ thứ hai của tôi, đến nỗi hễ tôi và Hiếu đến người ta không đợi gọi, dọn ra thức uống quen thuộc: hai ly cà phê và hai điếu Ngựa Trắng.

Một hôm trời mưa, xe Hiếu chạy nhanh văng bùn đầy gấu quần Jean của tôi. Đến quán, Hiếu đòi lau cho tôi nhưng tôi ngượng, chạy vào toilet tự vẫy nước chùi một mình. Tiếng những người phục vụ nói cạnh đó vọng vào, họ nói tự nhiên vì không trông thấy tôi: “Một cà phê đá một sữa tươi phải không”‘. “Không phải. Cu cậu này có hai “mái”, một mái tóc xõa mới uống sữa tươi, con bé này tóc demi chuyên uống cà phê sữa. Coi chừng đưa lầm”. Tôi lạnh gáy. Trở lại bàn, tôi cố nhấm nháp hết ly. Hiếu rất tinh ý, vặn hỏi mãi. Tôi bảo: “Mi mệt. Bắt đầu cảm thấy gió lạnh thật rồi”. “Mi nói dối”. Nói vậy chứ Hiếu cũng mở cái áo Jacket ra ủ lên vai tôi. Tôi cố gắng ngồi nhưng ngồi không vững. Hiếu xốc tôi lên, bế xuống cầu thang. Tôi mệt lả nhưng cũng biết xấu hổ. Hiếu dỗ dành: “Nằm yên cho khỏe, Hiếu đem Mi về nhà. Thương Mi lắm, đội Mi lên đầu đi khắp phố cũng chẳng sao”.

Tối ấy tôi không đứng dậy nổi nữa, đành phó mặc mọi chuyện cho ba tôi. Gọi điện về nhà Hiếu. Không có Hiếu. Tôi đứng dậy mặc áo. Ba tôi lo ngại “Con đi đâu?”. Tôi lắc đầu, đi như người khùng. Tôi là con của ba tôi, cái tính bất chấp nằm sẵn trong máu tôi. Tôi phải nhìn vào sự thực, dù sự thực ấy như thế nào. Xe của Hiếu đang ở trước quán cà phê. Và Hiếu ngồi đó với một cô gái tóc dài trạc tuổi tôi, không phải trước cửa sổ mà khuất sau một cánh cửa. Có lẽ Hiếu không bao giờ nghĩ rằng tôi lại có can đảm một mình đi vào quán. Tôi ngồi vào bàn bên cạnh. Người ta bưng cho tôi cà phê sữa như mọi lần. Sữa ngọt không làm giảm nổi vị đắng. Hiếu sang bàn tôi “Mi đi đâu vậy?”. “Đi để nhìn. Để thấy con người không đơn giản”. Nói rồi tôi đứng dậy, ra về. Ba tôi nói đúng, nhưng khổ thay, chỉ có lời dạy của cuộc đời mới đủ sức thuyết phục đối với đứa con bướng bỉnh như tôi.

 

Cô bé tóc xõa ngồi trước mặt tôi, trông vẻ mặt cô xinh xắn và hiền. Cô từ chối chỗ ngồi trước khung cửa sổ. “Sợ gió lắm. Em thích cái quán này vì nó có những góc ấm”. Chúng tôi ngồi vào một chỗ kín sau chậu thủy trúc. “Em biết chị là Mi, dạy khiêu vũ ở đường Phượng Bay. Nói thực, em không ngờ lâu nay Hiếu vẫn đi nhảy. Em đã bảo Hiếu em biết Hiếu nhảy rất đẹp nhưng Hiếu phải tôn trọng người yêu của Hiếu là một người không biết nhảy”. “Thế Hiếu bảo sao?”. “Hiếu đã hứa với em là không bao giờ khiêu vũ nữa”. Tôi lặng lẽ không nói gì, tự mình gọi một điếu Ngựa Trắng và… hút. Chắc lúc ấy tôi trông giống một con quái vật lắm. Nhưng ít nhất không nói được, thì tôi cũng phải làm một cái gì đó, dù là một điều gì thật quái đản. Cô gái tâm sự: “Chị biết không, em và Hiếu yêu nhau đã ba năm nay. Hồi đầu ba em không cho, bắt em nhốt trong phòng riêng trên lầu. Nhớ em quá, Hiếu dựng xe trèo cột điện mà lên thăm em. Ba em chụp được dong Hiếu xuống tầng dưới mở cửa tống ra. Hiếu về nhà xong lại quay lại, trèo cột lên lần nữa. Lần này ba em không thèm mở cửa mà bảo: “Mày trèo lên đường nào thì cút xuống đường ấy”. Hiếu trèo cột xuống đi xe về. Lại đi bộ đến… sáng mai ba em lên, thấy chúng em vừa cắn hạt dưa vừa nói chuyện ngoài lan can, ba em bảo: “Ba keo mèo cắn cổ, tao thua chúng mày. Mày nói ba mẹ mày đến lo mà rước con gái tao về”. Tôi hỏi: “Rồi sau đó thì sao?’. “Hiếu lui tới nhà em đã hai năm. Ba mẹ em xem như con. Sáng, trưa, chiều Hiếu đều ghé, thường thường ăn cơm ở nhà em. Em không thể đoán là Hiếu có thời gian vớ vẩn đâu khác”.

Ừ, con gái thật khờ, ai cũng thế. Một ngày có đến hai mươi bốn giờ. Dù có ghé sáng, trưa, chiều, cùng lắm chỉ mười tiếng đồng hồ. Chỉ cần một ngày một giờ, chàng trai đủ tạo nên một huyền thoại phiêu lưu mới. Và một trong những huyền thoại phiêu lưu ấy là tôi… Tôi nghẹn như nuốt phải mật đắng. Dã Thảo ơi, ta sẽ không bao giờ còn đến đây. Từ biệt khung cửa sổ mênh mông và gió. Và những bản nhạc mà Hiếu thích. Giờ đây tôi hiểu vì sao Hiếu không thích nghe nhạc tiền chiến. Trong đó không có cách yêu, cách nghĩ của Hiếu. Thôi đừng nghĩ đến Hiếu, đừng nghĩ nữa…

Tôi bước đi, ngang qua góc cầu thang, nơi Hiếu đã lấy trộm bông hồng xanh cho tôi. Bây giờ ở đây chỉ đơn độc một bông cúc tím. Tiếng hát Cẩm Vân mãnh liệt mà nghẹn ngào: Còn trông mong chi cơn mơ phù du theo gió mây bay xa thật xa. Hãy thôi đam mê vấn vương buồn thương, nỗi đau trong đời sẽ qua…

Buổi tối, tôi ra đứng lớp, dạy điệu bebop cho các học viên mới. Một vũ điệu vui nhộn và lả lướt. Tôi nhảy, tôi cười. Chuyện đã qua, xin hãy qua… Tôi cố gắng ăn nhiều. Mẹ tôi bảo rất vô tư: “Con này thất tình mà không ốm, lại mập lên mới quái!”.

*
Lâu lắm, Hiếu mới đến nhà tôi. Trông Hiếu gầy và xanh, giống cây tre non hơn bao giờ hết. Tôi hầu như không nhận ra hắn. Hắn không cười và nói năng dẻo quẹo. Nhưng cũng không nhút nhát. Hiếu im lặng và dữ dội, ngồi một mình trên ghế nhìn tôi. Mắt Hiếu cứ thiêu đốt và tôi cứ cố làm cho lòng mình trở nên băng giá. Không biết trong cuộc chiến tranh im lặng này, ai lì hơn? Lừa trong mắt Hiếu tan trước hay tảng băng trong lòng tôi rã trước? Tôi giấu nỗi đau bằng vẻ điềm nhiên, nhưng làm sao giấu được con mắt sắc sảo của ba tôi. Ba tôi bảo: “Can đảm lên con. Còn đau đớn là còn có thể tha thứ. Mà tha thứ là sẽ tiếp tục đau thêm nữa”. “Con mắt Hiếu nhìn con, không phải là con mắt của kẻ lừa dối”. “Con đừng ảo tưởng. Sự thể đã quá rõ ràng mà con còn ngụy biện cho nó nữa ư? Ngày trước khi từ trại cải tạo trở về biết được Thanh Thúy lừa dối ba, ba nhất định cắt đứt dù cô ấy quỳ xuống đất van lạy hết lời. Với ba, tình yêu là sự chân thành tuyệt đối sự thủy chung như nhất, trước sau không thay đổi”. Tôi nghĩ thầm: “Mẹ con với ba lúc nào cũng chung thủy, nhưng có phải tình yêu không?”.

Hiếu đến đều đặn mỗi tối, không nhảy, không cười. Tôi không trách móc, không nặng lời, không cau mặt, xem như cuộc phiêu lưu vừa qua chỉ là một giấc mơ. Dần dần bỗng tôi thú vị với những cuộc gặp lặng lẽ đó: giống như một bản nhạc không lời, êm dịu và sâu vô tận.

Cuối tháng, cả lớp đi chơi Ngọc Anh, Hiếu cũng có mặt. Hiếu cứ ngồi, không nhảy với ai. Bỗng nhiên như ma xui, tôi bước ra và quay lại vẫy tay: “Hiếu”. Giọng ra vẻ một cô giáo đầy uy quyền, mà thực ra là một kẻ đầu hàng. Hiếu sáng trưng mặt mày, lâu lắm mới nhìn thấy nụ cười răng mẻ. Tôi và Hiếu cùng bước trên sàn nhảy, tôi hạnh phúc từ đầu đến chân, quên cả việc trước đây một giờ Hiếu đi đến đâu, ăn cơm nhà ai, làm gì…

Hiếu chỉ nhìn tôi, bao nhiêu lời lẽ bay đi đâu hết. Mãi sau mới đưa ngón tay cái lên môi tôi: “Mi cắn đi. Cắn một cái cho đau, cho đáng đời Hiếu”. Tôi bất giác ứa nước mắt không cầm được: “Cắn một cái mà đủ sao, Hiếu ơi!”. “Hiếu biết tội rồi. Nhưng ai bảo hồi đó Mi nói Hiếu đểu làm chi. Nói người ta đểu thì người ta đểu cho biết mặt”. Tôi nói: “Ân trả, oán trả. Mi cũng biết tội rồi. Từ nay khỏi nợ nhau”. Bất giác Hiếu đưa tôi xoay tròn như một cơn lốc. “Giờ thì Hiếu không cho Mi hết nợ đâu, Hiếu sẽ đi theo Mi đến cùng trời cuối đất”.

À à, lại còn thế nữa chứ. Tôi đâu còn dễ tin như tôi ngày xưa. “Vậy mấy cái cột điện ai sẽ trèo đây”. Hiếu trừng mắt nhìn tôi: “Đó là quá khứ, một quá khứ đang chờ chấm hết. Lúc đó Hiếu đã sống hết mình, và giờ đây Hiếu cũng sống hết mình”.

Hiếu nói rồi nắm chặt tay tôi, lòng bàn tay Hiếu tỏa hơi ấm như lửa. Bỗng nhiên tôi muốn òa khóc. “Rồi mai đây, Mi cũng sẽ là quá khứ sao?”. “Không ai nói trước được tương lai. Hiếu không nói chuyện tương lai, chỉ biết bây giờ”. Hiếu nói rồi nhẹ nhàng ôm tôi trong tay, và những đốm sáng đèn muôn màu, và nhạc valse, và tôi là cô bé Lọ lem trong vũ hội của hoàng tử…

Khi tôi trở về, ba không nói gì, chỉ nhìn. Đôi mắt đẹp của ông, dù qua bao thời gian, vẫn sâu thẳm và đầy dĩ vãng. “Con biết ba sẽ trách con. Nhưng con…”. Tôi muốn nói: Nhưng con hạnh phúc quá. Con không cầm lòng được. Ba tôi lạnh lùng: “Chỉ vì không chịu nổi đau đớn, nên nạn nhân không đứng vững, phải dựa vào chính tên sát thủ. Có biết đâu như thế là sẽ bị giết chết lần thứ hai”. Tôi nghẹn: “Hiếu không phải người như vậy”. Bỗng ba tôi không giấu được sự phẫn nộ: “Con muốn làm kẻ cướp đoạt sao? Thằng Hiếu đến đây ba sẽ đuổi. Nó phản bội một đứa con gái, nay lại định lừa dối một đứa con gái khác”.

Tôi khóc. Hiếu bảo tôi: “Đồ ngốc nghếch. Không ai sở hữu được ai trên đời này, thì làm gì có chuyện cướp đoạt ở đây”. “Nhưng mọi người bảo thế”. “Mọi người có sống giùm cuộc đời mình không?”. “Mọi người không tin Hiếu”. “Hiếu không cần. Mọi người không hiểu rằng người ta có thể cố gắng học, cố gắng làm, nhưng không ai có thể cố gắng yêu. Người ta chỉ có thể yêu cái người mà nhắm mắt mình vẫn thấy. Hiếu cứ nhắm mắt là thấy Mi. Mi tin không”.

Tôi tin Hiếu. Bởi vì chỉ có lòng tin mới giúp tôi sống. Như câu nói của Krishna Murti: “Đó là ánh chớp loé lên trong khoảnh khắc, ai thấy là thấy, ai không thấy là không thấy, không thể nói cho người khác”. Cuộc đời như dòng sông, ai nói trước được nó sẽ qua những ghềnh thác nào. Nhưng hôm nay, dòng sông đang trôi qua những bờ cỏ mịn màng, đang in bóng trời xanh mây trắng. Lẽ nào sợ thác ghềnh mà sông không dám chảy?

Năm nay, Giáng sinh.

Trời khô lạnh. Tôi nhìn ra cửa sổ phòng mình. Ba tôi bảo: “Đừng buồn, tối nay đi với cả lớp đến Ngọc Anh. Ba sẽ nhảy với con một bản valse tuyệt vời, như ngày trước.” Tôi im lặng, không nói. Nước mắt thập thò trên mi. Thèm đi một bản Blue Christmas trong tay Hiếu. Thèm ngồi cạnh Hiếu sau khung cửa mênh mông trong cà phê của Dã Thảo, chia với Hiếu một cơn gió. Thèm cùng đi một xe với Hiếu trên con đường dài, Hiếu thỉnh thoảng vừa cười vừa ngoái đầu ra sau khiến những sợi tóc cứng đâm vào má tôi…

“Sao ngồi thừ ra thế, mau lên con gái”. Ba tôi nhắc. Biết ba cố tình không cho tôi có thời gian để nghĩ tới chuyện riêng tư, tôi đứng dậy mặc áo, đi giày. Mở cửa, hơi lạnh tạt vào, tôi không cầm lòng được, kêu lên: “Nhớ quá!”. “Nhớ gì?”. Ba tôi hỏi. “Nhớ gió!”. Để tránh cái cau mày của ba, tôi vội soi mình lần chót trước khi ra đi. Bỗng tôi nhìn ra trong gương, đôi mắt tôi giờ này mênh mông và buồn, giống hệt mắt ba tôi…

Và tôi chợt hiểu, mình đã lớn. Đã trở thành một ai đó khác mình năm xưa. Đã biết thế nào là yêu thương và chịu đựng. Đôi mắt này, nỗi buồn này, Hiếu đã để lại cho tôi…

Sàn nhảy đêm Noel tưng bừng rực rỡ với những ngọn nến muôn màu. Từng đôi, từng đôi trai gái bên nhau hân hoan… Ba tôi bảo: “Nào, ra sàn nhảy với ba”. Nhưng tôi ngồi yên, giữa tiếng nhạc valse như những cơn xoáy dịu dàng. Thấy tôi bất động, ba tôi cũng không ép. Giờ lâu, ông bảo: “Thôi, con ạ. Đến tuổi này, ba mới nhận ra: Trong tình yêu hạnh phúc thật ngọt ngào, mà khổ đau cũng đầy thi vị. Chỉ có sự trống rỗng chán chường của kẻ không yêu mới thực sự là khủng khiếp”.

Nói rồi ông dõi mắt nhìn xa xôi về phía trước. Bỗng nhiên tôi se lòng. Thương ba. Thương tôi. Và chợt tôi hiểu vì sao mãi mãi ba tôi không quên được Thanh Thúy Tàu, một con người phản bội.

Trần Thùy Mai

 Symbol_End.gif

MƯA ƯỚT VỊ THÀNH

Cách đây hơn 20 năm, tôi bắt đầu tham dự khá thường xuyên vào các sinh hoạt văn học ở hải ngoại, trong suốt một thời gian khá dài kể cả lúc còn làm việc toàn thời gian ở NASA trước khi về hưu. Hợp tác với Wayne Karlin để thực hiện tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven, hợp tác với giáo sư Huỳnh Sanh Thông của đại học Yale cho tập san Việt Học The Vietnam Review, viết bài và hợp tác với một số tạp chí văn học Việt Nam ở hải ngoại, thuyết trình ở một số hội thảo về văn học, v.v… Sự tham dự tương đối năng động vào những sinh hoạt đó có vẻ như bất bình thường, vì văn học là một lãnh vực tôi không hề được đào tạo ở trình độ cao. Mà, ngay cả ở trung học, bạn bè đều biết tôi là một đứa học trò rất tầm thường về môn văn. Từ bé tới lớn, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ trở thành một nhà văn hay một giáo sư văn chương.

Một hôm, trong một hội thảo hè dành cho các nhà văn trẻ tổ chức ở đại học St. Mary thuộc tiểu bang Maryland, một nhà văn trao đổi với tôi về trường hợp của cô. Cô mê văn chương, viết rất nhiều truyện ngắn, đang vật lộn với đời sống và phấn đấu với chính mình để xem có nên tiếp tục sống toàn phần cho văn chương và bán phần cho sinh kế, hay ngược lại. Cô muốn tôi lấy kinh nghiệm cá nhân để giúp cô ý kiến. Rất tiếc, hôm đó tôi chẳng giúp gì được vì chẳng có kinh nghiệm nào về chuyện này. Câu trả lời của tôi khá mông lung. Văn chương có giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống của tôi thật nhưng không phải để tôi trở thành nhà văn, mặc dầu đôi khi, do những gì đã viết ra, nhiều người trong văn giới gọi tôi là nhà văn. Tuy nhiên, nhân câu chuyện trên, tôi thấy cần viết một bài về đề tài này, về cái vị trí của văn chương trong đời sống của mình, để từ kinh nghiệm riêng chia sẻ được gì với người khác. Đặc biệt, tôi muốn chia sẻ với những bạn trẻ giống như tôi trước đây, không được đào luyện tốt về văn chương ở trường ốc và sống với những ngành nghề gần như trái ngược. Tôi xin viết một cách tản mạn, và tản mạn từ những chuyện rất riêng tư.

Tôi tin mỗi người trong chúng ta đều mang trong tim mình những dấu ấn, những tì vết gây ra từ một biến cố trong đời, một chấn động mạnh hay có thể chỉ là một hình ảnh đến rất nhanh, như một nụ cười, một giọt nước mắt, … Để rồi, sau đó, vào một lúc rất bất chợt, con tim nhói lên, cái cách vui buồn thương ghét trong cuộc đời bỗng thay đổi. Một bài thơ, một cuốn sách đã đọc vào một lúc nào đó cũng có thể làm nên chuyện như vậy.

Tôi xuất thân là một thầy giáo toán, được gọi nhập ngũ khi có lệnh tổng động viên lúc chiến tranh ở miền Nam trở nên tàn khốc. Sau hơn hai năm, được biệt phái trở về dạy học lại. Cách sống của tôi thay đổi hẳn. Đời sống trong quân ngũ có làm tôi thay đổi thật, nhưng ảnh hưởng lớn nhất thật ra là từ một bài thơ, của một nhà thơ sống cách đây hơn ngàn năm ở một nơi xa lắm.

Cách đây gần 50 năm, sau khi tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi đi trình diện đơn vị ở một hải đảo xa. Tôi nhớ, đó là một buổi sáng mưa nhẹ hột. Trên đường đi đến đơn vị, tôi và một người bạn cùng khóa mang ba-lô đi bộ lên một ngọn đồi, trên đó có một quán ăn nhỏ. Chúng tôi vào quán uống cà phê. Ngồi khá lâu vì mưa bắt đầu nặng hột. Đơn vị ở cách đó không xa nhưng qua mưa không nhìn thấy. Cả hai châm thuốc hút, rồi bỗng nhiên, tôi nhớ tới một bài thơ của Vương Duy. Tôi đọc lên. Bạn tôi chỉ mỉm cười, im lặng, phà khói thuốc, rồi lãng đãng nhìn những giọt mưa rơi từ mái tôn xuống bậc thềm. Năm đó, dù đã dạy học một thời gian trước khi động viên, tôi chỉ mới vừa qua tuổi 26. Bạn tôi, cũng cùng tuổi và cả hai đều đã có gia đình. Tôi nhớ rất rõ bản tiếng Hán, Vị Thành Khúc (), của Vương Duy:

Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần

Khách xa thanh thanh liễu sắc tân

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

西Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

Và, cả bản dịch của Ngô Tất Tố:

Trời mai mưa ướt Vị Thành
Xanh xanh trước quán mấy nhành liễu non
Khuyên chàng hãy cạn chén son
Dương Quan đến đó không còn ai quen

Đây chắc không phải là bài thơ hay nhất của Vương Duy và càng không phải là bài thơ hay nhất của Đường Thi. Chắc cũng không có bao nhiêu bạn đọc cảm xúc gì nhiều khi đọc bài này. Nhưng, với tôi, khi đọc lên tôi xúc động. Tôi biết tôi đã đọc nó lần đầu tiên từ cuốn Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, lâu lắm rồi, khi còn ở trung học, trong căn nhà cũ gần bờ biển Nha Trang, nơi tôi đã sống suốt tuổi thơ. Bài thơ đó, thời gian đó, không gian đó, với những xúc cảm của lúc đó, tưởng quên đi, nhưng không. Cũng từ đó, tôi đọc nhiều sáng tác văn học hơn mỗi khi rảnh và nhớ lại nhiều bài thơ đã học và đã quên.

Ở hải đảo có một thời gian tôi làm sĩ quan tuần tra. Tôi nhớ, một buổi tối, mưa tầm tã, khi hết phiên trực, tôi ghé vào lều của một ông thượng sĩ già, xin cà phê uống. Ở đó, người sĩ quan trực kế tiếp, MDT, cũng đang ngồi uống cà phê. MDT trước khi động viên dạy Pháp văn ở Huế. Trong khi trò chuyện, bỗng nhiên T nói về những tiểu thuyết Pháp đang ăn khách như Bonjour Tristesse, Un Certain Sourire,… của Françoise Sagan, rồi quay trở lại nói về những tác phẩm học ở thời trung học, những tác phẩm của Alphonse Daudet hay Anatole France, rồi Nguyễn Du của ngày xưa, rồi Bùi Giáng của ngày nay, rồi quay sang nói về Sartre, về Camus, v.v… Chúng tôi nói say sưa, ông thượng sĩ già châm thêm cà phê, lặng lẽ nghe và thỉnh thoảng nở nụ cười độ lượng. Trước khi chia tay và bắt đầu phiên trực của mình, T nói với tôi: “Tụi mình… à la recherche de la jeunesse perdue!” Tôi cũng thấy mình già đi thật. Bây giờ, mỗi lần nghĩ lại, thấy… tếu tếu. Tuy nhiên, những câu chuyện theo kiểu câu chuyện trong lều của ông thượng sĩ già đó, đã giúp tôi rất nhiều để những ngày tháng nơi hải đảo bớt đi cái nhớ nhà, cái lo sợ, cái nhàm chán. Và, dù hễ mở miệng là thích nói về cái tuổi trẻ đã mất, nhưng chính vào thời gian đó, từ những câu chuyện văn chương đó, tôi thấy cái tuổi trẻ thật sự của mình bắt đầu bừng lên một sức sống mãnh liệt. Tôi nghĩ đến những ngày tháng tới, khi không còn chinh chiến, hay khi được trở về với đời sống thường dân, tôi sẽ sống khác, nhìn cuộc đời cách khác. Và, quả thật, khi về lại, tôi vẫn tiếp tục dạy toán, nhưng tôi có khác.

Trên sách vở, trong nghiên cứu, toán học và văn học có một lằn ranh rõ rệt, nhưng trong mỗi con người, lằn ranh đó có thể rất mờ nhạt. Khi tìm hiểu về cuộc đời các nhà toán học, tôi ấn tượng nhất về một thiên tài mà cuộc đời ngắn ngủi của ông có thể là đối tượng tuyệt vời cho một tác phẩm văn chương. Một thiên tài đã sống tận cùng cho sự đam mê về toán học, về những lý tưởng nhân bản, và về chất lãng mạn trong tình người và tình yêu. Tôi muốn nói về Evariste Galois. Ông sinh ngày 25 tháng 10 năm 1811 ở Bourg-la-Reine, Pháp. Năm 14 tuổi đã bắt đầu có những ý niệm mới và nghiêm chỉnh trong toán học. Đến năm 19 tuổi ông đã công bố những công trình quan trọng làm nền tảng cho “Lý Thuyết Galois” và “Lý Thuyết Nhóm” trong đại số trừu tượng (abstract algebra). Trong lúc chăm chú vào những phát kiến toán học, ông vẫn tham gia vào chính trị Pháp, tranh đấu cho nền cộng hòa Pháp, đi đầu trong cuộc biểu tình chống đối vua Louis Philippe. Bị bắt và bị xử sáu tháng tù. Trong tù, ông ngồi viết tiếp những công trình toán học. Ra khỏi tù tháng 4, 1832. Qua tháng sau, để bênh vực danh dự của người yêu, Stephanie-Felice du Motel, ông chấp nhận tham dự một cuộc đấu súng. Năm ngày trước cuộc đấu, ông viết thư cho một người bạn, tâm sự về mối tình này. Đêm trước khi đấu, biết rằng mình sẽ chết, ông thức suốt đêm để hoàn tất những công trình toán học còn dở dang. Sáng sớm hôm sau, ông bị bắn ở bụng, mọi người bỏ đi, để ông nằm một mình ở đấu trường. Đến 10 giờ, một nông dân nhìn thấy đưa đến bệnh viện gần đó. Chỉ có người em trai, Alfred, được thông báo. Câu cuối cùng ông nói với em: “Đừng khóc, Alfred! Anh cần sự can đảm để chết ở tuổi hai mươi.”

Một trăm bốn mươi năm sau, ở Nha Trang, tôi bắt đầu dạy sinh viên Lý Thuyết Nhóm của Galois. Chương trình trung học Pháp đưa Lý Thuyết Nhóm vào năm cuối của ban toán trước đó vài năm. Chương trình trung học Việt thì chưa.

Tôi không phải là một thiên tài như Galois, dĩ nhiên, nhưng toán học ảnh hưởng vào đời sống tôi rất nhiều, Những hiểu biết cơ bản về toán học cũng đã giúp tôi không ít khi đi vào các chuyên môn khác như vật lý hạt nhân, như kỹ sư điện hay như kỹ thuật không gian mà sau này tôi phải sống với nó một thời gian khá dài. Tuy nhiên, điều tôi muốn chia sẻ ở đây với các bạn trẻ là tinh thần toán học, nhất là, thói quen tìm giải đáp cho những nghi vấn, đã giúp tôi đến với văn chương thi vị hơn. Xin kể một câu chuyện. Thời còn ở trung học, tôi được đọc bản tiếng Việt một tác phẩm của Leo Tolstoi, nhan đề Một Bản Đàn, do nhà văn Trương Bảo Sơn chuyển ngữ, có lẽ từ một bản tiếng Pháp. Tôi đọc say mê. Tác phẩm xây dựng trên thảm kịch của một cặp vợ chồng. Vì nghi ngờ vợ mình có tình ý với một ông thầy dạy nhạc, một nhà quý tộc giàu có nổi cơn ghen giết vợ. Một truyện dài rất hay. Rất thích nhưng tôi luôn tự hỏi tại sao nhà văn TBS lại đặt nhan đề là Một Bản Đàn. Vì, sau này, sau khi được đọc bản dịch tiếng Pháp La Sonate à Kreutzer, tôi ngờ rằng Tolstoi rất có cố ý khi lấy tên một bản sonate của Beethoven, “Bản Sonate cho Kreutzer”, làm nhan đề cho cuốn tiểu thuyết. Nó phải là bản sonate đó chớ không phải một bản đàn nào cũng được. Ý của Tolstoi, theo tôi, là chính bản nhạc đó, bản sonate đó của Beethoven, đã đóng góp vào thảm kịch. Nhưng, tôi không chắc lắm, vì không biết gì về bản sonate này.

Hơn hai mươi năm sau, khi sống ở Philadelphia, một hôm có dịp vào thư viện thành phố. Tình cờ, thấy bản tiếng Anh, The Kreutzer Sonata, tôi nhớ lại cái nghi vấn ngày nào. Tôi vào phòng thính âm, xin được nghe bản sonate này. Bản “Sonate cho Kreutzer” được Beethoven soạn cho dương cầm và vĩ cầm. Bản tôi được nghe do Arthur Rubinstein và Henryk Szeryng trình tấu. Rubinstein phụ trách dương cầm, Szeryng vĩ cầm. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần. Tiếng dương cầm hòa với tiếng vĩ cầm một cách tài tình, réo rắt, tha thiết, làm ruột gan người nghe thắt lại. Tôi hình dung ra buổi hòa nhạc trong ngôi nhà vị quý tộc. Tôi tưởng tượng ra cảnh ông quý tộc ngồi nhìn vợ mình với ông thầy dạy nhạc say sưa trình tấu, như không cần biết có ai xung quanh. Ông quý tộc giàu có nhưng trong người ông không có bao nhiêu chất âm nhạc, chất thi ca. Ông nhìn cảnh vợ ông (chơi dương cầm) với ông thầy (chơi vĩ cầm) để hết tâm hồn vào bản nhạc. Tiếng nhạc quyện lẫn vào nhau da diết mãnh liệt. Ông hình dung ra một cảnh khác. Ruột gan ông bấn lên nhưng ông ghìm lại. Sau buổi trình tấu, ông vẫn giữ cung cách của một quý tộc, cười nói khen ngợi vợ. Một thời gian ngắn sau đó, thảm kịch xảy ra.

Cách đây ba năm, tôi lên Amazon tìm mua CD bản The Kreutzer Sonata cũng do Rubinstein và Szerying trình tấu để nghe lại. Tôi tin rằng tôi hiểu được ý của Tolstoi khi chọn bản sonate này làm nhan đề cho cuốn tiểu thuyết. Tôi tin rằng cái nghi vấn của tôi đúng. Nhưng, thật ra, đúng hay sai không quan trọng. Quan trọng là chính cái nghi vấn đó đã cuối cùng mang đến tôi một niềm vui, một may mắn, được thưởng thức một bản sonate tuyệt vời. Riêng đối với nhà văn Trương Bảo Sơn, dù vẫn không đồng ý với ông về cách đặt tên cho bản dịch cuốn tiếu thuyết, tôi luôn kính trọng ông, và rất cám ơn ông đã đem đến cho lớp trẻ chúng tôi vào thời đó một món ăn tinh thần rất có giá trị của Leo Tolstoi.

Leo Tolstoi và Fyodor Dostoyevsky là những tên tuổi lớn của văn học cổ điển Nga, và của cả nhân loại. Ngoài hai nhà văn này, sự hiểu biết của tôi về văn học Nga vào thời còn đi học rất giới hạn. Về sau, do tình cờ, tôi đọc Anton Chekhov qua các bản dịch tiếng Anh và thích tác giả này, đặc biệt các kịch phẩm của ông như Three Sisters (Ba Chị Em), The Cherry Orchard (Vườn Anh Đào)… Do thích vở Three Sisters nên khi biết vở này được trình diễn tại một kịch viện nhỏ, The Studio Theatre, tôi đến xem. Nhân vật chính trong kịch là một gia đình có ba chị em và một em trai. Thời trẻ họ sống ở Moscow khi ông cha chỉ huy một lữ đoàn ở đó, cho đến khi ông về hưu cách đó mười một năm. Sau đó họ mất cả cha lẫn mẹ. Giấc mơ của ba chị em là một ngày nào đó họ sẽ về lại Moscow. Nhiều tình tiết và bi kịch được dựng lên từ đó. Lời lẽ trong vở kịch trình diễn ở The Studio Theatre hơi khác trong bản dịch tiếng Anh trong sách một chút. Tối hôm đó, sau khi dự vở kịch xong, về lại nhà, nghĩ lại vở kịch, tôi nhớ nhất câu nói và cách nói của người đóng vai Irina (cô em út) nói với Olga (cô chị cả): “Chị Olga, em sẽ lấy Nam Tước, em sẽ về Moscow. Tụi mình sẽ về Moscow.” Và rồi, tôi nghĩ đến một buổi tối ở giảng đường của trường Đại Học Duyên Hải trên đường Yersin, Nha Trang. Tối hôm đó, bạn tôi, giáo sư Bửu Ý, thuyết trình một đề tài đặc biệt: “Văn Chương Trên Giấy, Văn Chương Trên Sàn Gỗ.” Trong phần thuyết trình, một sinh viên Việt Hán, Dương Đề, được Bửu Ý chọn lên trình bày vài diễn xuất ngắn. Những câu nói trong phần diễn xuất của Dương Đề luôn chấm dứt bằng câu “Ngày mai tôi sẽ về Sài Gòn.” Bao nhiêu năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ khá rõ dáng điệu của Dương Đề khi vừa đi vừa nói câu đó trên sân khấu. Bửu Ý là một hoc giả nổi tiếng, dạy văn chương Pháp ở Đại Học Huế, và cũng là một kịch tác gia. Kịch phẩm Sương Hồng và Tuyệt Địa của Bửu Ý đã được xuất bản và trình diễn ở Sài Gòn trước 1975. Bửu Ý được mời phụ trách tín chỉ nhiệm ý về kịch nghệ cho sinh viên Duyên Hải và cùng với thầy Bửu Phi giúp sinh viên thực hiện một vở kịch cho đại học. Sau 1975, Bửu Ý có thời gian làm chủ nhiệm ban Văn Chương Pháp ở Đại Học Huế, nhiều lần được mời sang giảng dạy ở Pháp. Anh cũng được tưởng thưởng một huy chương cao quý của Pháp do chính đại sứ Pháp tại Việt Nam đích thân trao tặng. Tuy nhiên, không thấy Bửu Ý còn dính dấp gì đến kịch nghệ. Vở kịch năm xưa chắc chắn không thế nào được tái bản. “Văn chương trên sàn gỗ” cùng với trường Đại Học Duyên Hải đã hoàn toàn đi vào quá khứ.

Nhiều thứ đã đi vào quá khứ nhưng vẫn để lại những dấu vết sâu đậm trong tim mình. Tôi muốn nói về một câu chuyện thật, được kể lại để làm nền cho tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu trên sông Drina) của nhà văn Nam Tư (Yugoslavia) Ivo Andrić, giải thưởng văn chương Nobel 1961. Tác phẩm lấy bối cảnh của thành phố Visegrad của Bosnia từ thế kỷ 16 trở về sau. Đây là nơi thường xuyên chứng kiến những tranh chấp tàn bạo giữa hai đế chế Thổ và Áo-Hung, và cũng là tranh chấp giữa Hồi Giáo với Thiên Chúa Giáo (gồm Công Giáo và Chính Thống Giáo) liên tục suốt 400 năm. Để ngăn chận sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, người Thổ tổ chức bắt cóc những đứa con nít thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, thường là những gia đình nghèo, đưa sang vùng cai trị của Thổ, bên kia sông Drina. Những đứa bé này được cải sang đạo Hồi và lớn lên như người Thổ. Rất nhiều bà mẹ đưa con đi chợ với mình, quay nhìn lại không thấy con đâu, rượt theo kẻ cướp cho đến bờ sông Drina, dừng lại, ngơ ngác nhìn theo chiếc phà chở con qua sông. Lúc đó, phà là phương tiện duy nhất để qua sông. Bên kia là vùng cai trị của đế quốc Thổ.

Thời gian đầu ở Mỹ, cả gia đình tôi còn lại Việt Nam. Hình ảnh những bà mẹ đứng ngơ ngác bên này sông Drina luôn ám ảnh. Có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy dẫn các con đi chơi, đang ngồi ăn uống vui vẻ, chợt nhìn lại không thấy con mình đâu. Tôi thức dậy, tim còn nhói. Mãi sau này, bao nhiêu năm sau khi đã đoàn tụ đầy đủ với gia đình, những giấc chiêm bao như vậy thỉnh thoảng vẫn hiện ra. Tôi đồng cảm với cái nhói tim của ông Tể Tướng Thổ, Mehmed-paša Sokolović. Một trong những đứa bé bị bắt qua sông Drina như đã nói trên đây được một gia đình quyền quí Thổ nhận làm con nuôi, đổi đạo, đổi tên. Lớn lên, nhờ tài năng, thăng lần lên đến bậc thang cuối cùng của danh vọng, giúp đế quốc Thổ bành trướng tận Trung Âu, giữ chức Tể Tướng (First Grand Vizier) cho Thổ. Với ông Tể Tướng Thổ, chuyện đứa bé bị bắt đưa qua sông ngày nào tưởng đã hoàn toàn đi vào quá khứ. Nhưng không, có người nói là ông thường bị những cơn nhói tim. Vào một lúc như vậy, có lẽ, ông làm một quyết định lớn là cho xây một chiếc cầu qua sông Drina. Xây từ năm 1566 nhưng mãi đến 5 năm sau mới hoàn tất. Và, từ đó, cây cầu cũng như con sông tiếp tục chứng kiến bao đổi thay, bao bi hài kịch của cuộc đời, và cả bao tàn phá lẫn xây dựng.

Ở trên, tôi có nói về buổi thuyết trình của Bửu Ý trong một giảng đường của Đại Học Duyên Hải. Cũng chính trong giảng đường đó, một người bạn khác, nhà thơ Huy Tưởng, đã trình bày một đề tài về Thi Ca. Tôi xin kể lại đây câu chuyện mở đầu của Huy Tưởng. Có một ông thần, một buổi tối đẹp trời ông bay qua một con sông, nhìn xuống thấy một người con gái đang tắm dưới ánh trăng. Ông đoán đó là một hình ảnh đẹp và ông muốn biết nó thực sự đẹp như thế nào, ông muốn tận hưởng nó. Ông phải đến gần. Sợ gây tiếng động mạnh làm cô gái hoảng sợ, ông biến thành một con chuột, nhẹ nhàng đến gần cô gái. Tuy nhiên, là chuột thì cái ham thích chỉ là những rác rưới trên bờ sông, nó không màng gì đến cô gái, nó không thấy cô gái đẹp chỗ nào. Thất bại. Ông biến ra nhiều hóa thân khác. Có hóa thân là một vị hoàng đế trẻ đẹp, quyền uy. Nhưng, khi thấy cô gái, vị hoàng đế chỉ muốn ra lệnh đưa nạp cô vào cung. Thất bại. Và, nhiều thất bại tiếp theo. Cuối cùng, ông quyết định biến thành một thi sĩ. Người thi sĩ thấy được cái hồn nhiên, thanh thoát của cô gái, và cái đẹp tuyệt vời của sự quyện lẫn giữa thân xác mịn màng với trăng vàng long lanh trên mặt nước. Ông thành công.

Huy Tưởng! Bạn đang ngồi đâu đó, nếu có đọc những dòng chữ này xin đừng cười. Dĩ nhiên là tôi… cương. Bao nhiêu năm tháng đã qua rồi, làm sao tôi nhớ cho đúng hết những gì bạn nói. Nhưng, tôi tin là tôi không sai ý. Dầu sao, tôi cũng chỉ muốn mượn câu chuyện này để nói đôi lời với các bạn trẻ. Hãy đem văn chương vào đời sống. Dù có làm thơ hay viết văn hay không, hãy đến với cuộc đời bằng tâm hồn của một thi sĩ. Bạn sẽ thấy cuộc đời đẹp hơn. Bạn sẽ thấy con người đẹp hơn. Dĩ nhiên, bạn vẫn có thể làm thơ hay viết văn mà lại không đến với cuộc đời bằng tâm hồn một thi sĩ. Nhưng, đây là câu chuyện khác.

Khi nhắc đến thành phố Visegrad, nơi có cây cầu được xây qua sông Drina, tôi nhớ đến cái thành phố tôi đã sống suốt tuổi thơ. Như nhiều người, tôi thỉnh thoảng vẫn có một ước mơ biết là không thể có, là có lại cái tuổi trẻ của mình. Của những ngày mà ba má tôi còn, tất cả anh chị em tôi còn, và cái hồn nhiên của tôi còn. Chỉ là mơ ước, dĩ nhiên! May mắn là bên cạnh những cái không còn đó, có những cái vẫn còn. Những con sông chảy qua thành phố, và biển. Từ một con sông chảy ra biển, một sớm nào tôi đã theo đó mà ra khơi. Tôi đã hò hẹn với con sông, với biển, và với bao nhiêu người là tôi sẽ trở lại. Và, tôi đã gặp lại rất nhiều trong số đó. Tôi nhớ mấy câu thơ của một người bạn Nha Trang của tôi, nhà thơ Hải Phương:

Cám ơn biển

biển trùng khơi con sóng vỗ

trăm nhánh sông hò hẹn chuyến đò qua

……..

Trương Vũ

Maryland, cuối tháng 7 năm 2017

HỒI CÒN MA

Cây sung nằm ở đầu một bức tường chia đôi đoạn đầu xóm Bà Ba. Từ nhà tôi ra đầu đường Nguyễn Minh Chiếu phải đi ngang cây sung. Những buổi tối ra tiệm thuốc gác khi nhà có người cảm sốt, từ xa thấy cây sung tôi đã cảm thấy ngần ngại. Không thấy có người đàn ông nào ngồi trên cành cây hút thuốc và rít đỏ tàn thuốc trong bóng tối như lời đồn đãi, cũng không có tay hay chân ai rớt xuống nhưng trong buổi tối cuối năm lạnh, lưng tôi lạnh nhưng đầu tôi bừng bừng. Chạy!

Khổ nỗi, đó mới chỉ là chuyện đầu ngỏ bên kia. Nếu không thích đi con ngõ đó, tôi ra con ngõ phía đường Trương Tấn Bửu thì lại gặp cây keo. Nói đúng ra, từ khi tôi lên mười tuổi, ở đó chẳng còn cái cây nào hết mà chỉ còn nơi đã từng có cây keo với khoảnh đất trống tối mò vì không có đèn đường. Ai đó đã đồn cây keo có ma? Phải chăng từ chuyện một người lái taxi trong xóm? Do công việc, ông thường lái xe về khuya. Một lần, ông về tới xóm với mặt tái mét, kể với mọi người là khi lái xe về tới cây keo đầu ngỏ thì thấy có một cái mặt to chần vần hiện ra trước đầu xe khiến ông lái lọang choạng. Dì tôi lúc đó đang học trường Gia Long, có tính dạn dĩ nên bảo với ông là không tin trên đời có ma. Dì dặn là khi nào ông thấy nữa thì bảo cho biết, dì sẽ chạy ra. Lần khác, ông lại thấy “ma” xuất hiện lần nữa trước mũi xe. Ông chạy về nhà dừng xe kêu cái “két”, kêu dì cùng ra cây keo xem sao có chuyện lạ vậy. Không hiểu do sợ hay vì sao mà dì không chịu ra xem ma. Sau câu chuyện của ông lái taxi, cả xóm đồn cây keo đầu ngỏ có ma khiến phụ nữ và con nít đi ngang qua đó luôn thấy chờn chờn.

Nhưng có lần dì bị “ma” nhát thiệt. Sát vách nhà thờ Nam phía ngoài mặt tiền đường Trương Tấn Bửu, nay là Trần Huy Liệu, có một con mương sâu lộ thiên, nước luôn chảy róc rách. Một buổi đi học về trễ khi trời đã chạng vạng, dì thấy một bóng đen dưới mương ngoi lên, miệng ngậm cây nhang đỏ lè trong bóng tối. Giật thót cả mình nhưng dì gan góc định thần nhìn kỹ chính là chú Trọng, một thanh niên trong xóm. Như vậy, dì có sợ ma nhưng lần này lại do ma giả nhát.

Dọc đường tuổi thơ tôi không hề thiếu vắng những câu chuyện ma. Cách nay nửa thế kỷ, đèn đóm trong nhà khu ngoại ô còn tù mù nói chi đến đèn ngoài đường nên chiều xuống bóng tối dần chiếm không gian, các ngỏ hẻm tối thui. Cây mọc sân nhà, cây mọc ngoài rào, ban ngày lung lay cành lá và ban đêm biến thành ma lắc lư quơ tay quơ chân tùy theo trí tưởng tượng từng người. Ngoài phía đường rầy đã có người bị xe lửa cán và xe cam nhông 18 bánh của Mỹ cũng làm chết vài người gần đó. Trong xóm có người chết trận, có người thắt cổ vì chồng Mỹ bỏ về nước. Ai chết oan, chết ức đều thành ma quỷ từ những lời đồn. Mua xác nhà cũ, giở ra xây lại thấy treo trên cột nhà cuốn sách chữ Hán Tam Tự Kinh cũng nghĩ bùa thợ mộc ếm. Tuổi thơ tôi sống chung với những câu chuyện huyền hoặc đáng sợ và kích thích trí tưởng tượng như vậy.

Các bà chị trong xóm là nguồn phát tán chuyện ma và là hình thành đường dây loan đi xa. Những buổi tối cúp điện trời nóng và khi người già con nít, thanh niên trai gái ra ngồi hóng mát trong bóng tối của khoảng sân trước nhà là các thể loại ma bắt đầu xuất hiện. Chị tôi khẳng định đã có lần thấy một ngón tay ló ra lỗ khoá vào ban đêm, khi chị đi ngang cái cửa hông thông ra con hẻm bên nhà để ra sau nhà vệ sinh vào nửa đêm. Một chị khác kể khá nhiều chuyện ma nhà thương thí vì chị đã từng nuôi bệnh cho mẹ suốt mấy tháng trong nhà thương Sài Gòn. Một anh trong xóm kể có lần anh đi Thủ Đức trên xe ngựa vào buổi sáng sớm trời còn tối. Xe ngựa đang lọc cọc chạy trên đường, hai bên là ruộng và trời còn tối thui thì có từ phía sau xe ngựa, anh thấy có hai bóng đen từ hai phía bờ ruộng nhảy lên. Có điều lạ là mỗi người chỉ có một giò ở chân phía gần tim đường. Cả hai nhanh chóng nắm tay nhau nhảy lò cò rượt theo cái xe. Ngựa lồng lên, hí to. Ông phu xe quay lại nhìn rồi hốt hoảng quất ngựa chạy thật nhanh nhưng nhanh tới cỡ nào, hai bóng đen lò cò này vẫn rượt kịp. Trong xe, mấy bà đi chợ sớm đọc kinh lâm râm trong miệng. Hai bóng đen, tức là hai con ma một giò, chạy theo riết cho đến khi xe ngựa chạy gần tới đường xe lửa và có tiếng còi tàu hú cùng đèn sáng thì chúng mới biến mất. Nghe xong, các chị gái hít hà còn tôi thì ngờ vực: “Chuyện này em đã đọc rồi, trên báo !”Anh kia tỉnh bơ còn mấy bà chị còn lừ mắt bảo tôi im lặng. Sau này, tôi đọc lại câu chuyện đó trên một tờ báo thiếu nhi và nghiệm rằng đối với người nghe, quan trọng là mức hấp dẫn và hồi hộp của chuyện từ một giọng kể khéo léo, không ai quan tâm nó từ đâu ra.

Hầu như địa phương nào cũng có những chuyện ma gắn với cuộc sống ở đó. Đi ngang cầu Ông Tạ, tôi nhớ lời đứa bạn sống ở đó kể về bóng ma nó thấy (?) chạy từ công-xy heo, lò sát sinh hàng chục con heo mỗi ngày, nháo nhào ra cầu và nhảy ùm xuống rạch Nhiêu Lộc vào một buổi sáng sớm khi nó đi lễ nhà thờ. Đến khu Bà Chiểu, câu chuyện cô Ba Trâm thắt cổ sau trường Vẽ Gia Định vì bị hãm hiếp được nghe kể dài dài từ khu cầu Băng Ky đến Ngả tư Bình Hòa rồi vòng ra đường Vạn Kiếp. Những lời thì thầm như không dám kinh động quỷ thần của các bà trong ngày giỗ, về chuyện những người đi xe bò xe ngựa được quá giang bởi một cô gái tóc xõa và trả tiền bằng lá cây. Đó là những ngày xa xưa, đường xá vùng Gia Định buổi trưa thường vắng hoe vì đang giờ Ngọ nhiều âm khí và ma đang đi. Câu chuyện cô gái bị xe điện chạy trên cầu sắt Đa Kao tông đến nỗi đầu của cô bay lên tới vọng gác của lính Tây gây ấn tượng mạnh đến nỗi sau 1975, con nít lớn lên đường Bùi Hữu Nghĩa dưới dốc cầu vẫn được người lớn khuyến cáo là không được ra cầu sắt chơi ban đêm nếu không muốn hồn ma cô gái ra nhát.

Trong đợt du lịch xứ xa, những câu chuyện huyền hoặc được kể giúp chuyến đi đậm màu sắc văn hoá và đáng nhớ hơn những cuộc mua sắm vội vàng. Thành phố nào cũng có những chuyện ma, tất nhiên. Nói cách khác, ở đâu có người sinh sống là có chuyện kể về những con ma. Năm 2000, tôi đến Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh và nghe A Xủn, hướng dẫn viên du lịch, một người Việt gốc Hoa Móng Cái và sau năm 1979 là người Hoa, kể một câu chuyện ma xa xưa. Thế kỷ 15, hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh đã ra lệnh giết gần ba ngàn cung nữ chỉ vì ông nghĩ rằng một người vợ yêu dấu đã bị ai trong số đó đầu độc. A Xủn bảo đến giờ thỉnh thoảng vẫn có những người lính gác ban đêm ở đó nhìn thấy một người phụ nữ với mái tóc đen chạy vụt ra và có những âm thanh la hét, khóc lóc và tiếng gươm khua như đang đánh nhau. Tử Cấm Thành chỉ mở vào ban ngày, đóng cửa trước khi màn đêm buông xuống. Rời thành lúc chiều tà để đến một nhà hàng trước khi đóng cửa, khách du lịch nghĩ về thân phận con người, nhất là phụ nữ thời vua chúa phương Đông, được nâng niu và sử dụng như một bông hoa hay con thú cưng và có thể vứt bỏ không thương tiếc. Một vài lần khác, khách sang Nhật du lịch được hướng dẫn viên đùa rằng hãy cẩn thận đi xuống phố vào đêm khuya, khi đến cửa hàng tiện lợi tranh thủ mua quà. Có thể khách sẽ gặp một phụ nữ tên là Kushisake Onna, tên có nghĩa là “Người phụ nữ bị rách miệng “. Cô ta xuất hiện khi mang một chiếc khẩu trang trong phòng phẫu thuật và một chiếc áo khoác. Cô ta sẽ hỏi: “Tôi có đẹp không?”. Nếu nói không, cô ấy sẽ cắt đầu khách bằng một chiếc kéo lớn mà cô ấy mang theo. Nếu nói có, cô ta sẽ tháo mặt nạ ra, để lộ cái miệng bị rách từ tai này sang tai kia. Một câu chuyện khác là đừng bao giờ ngồi trong nhà vệ sinh khi không có giấy vệ sinh. Sẽ có Aka Manto (có nghĩa là “áo choàng đỏ”) có thể đang chờ bạn. Đây là một hồn ma ám nhà vệ sinh ở Nhật. Nếu ta ngồi trong nhà vệ sinh và không có giấy, con ma này sẽ hỏi: “Bạn muốn giấy đỏ hoặc giấy màu xanh?”. Nếu bạn chọn màu đỏ, bạn sẽ được cắt thành từng miếng. Nếu bạn chọn màu xanh, bạn sẽ bị bóp nghẹt đến chết.

Ma, âm hồn, người khuất mày khuất mặt… ám ảnh cả thời niên thiếu của rất nhiều người. Những cơn rùng mình khi đi ngang một nhà có người mới chết, những sợ hãi trong căn phòng tối khi trời mưa sầm sập và sấm chớp đì đùng bên ngoài, khi tiếng cú kêu ngoài cây chùm ruột trước nhà, những lần cùng anh em vừa sợ hãi vừa phấn khích trùm vội tấm mền khi cả nhà cúp điện… đó là những cảm xúc mạnh mẽ và tuyệt vời đã xa biền biệt, kể từ khi ta bước vào cuộc đời đầy tranh giành và gặp nhiều người còn đáng sợ hơn những con ma mơ hồ không bao giờ thấy đụng chạm đến ai trong thuở thiếu thời.

Phạm Công Luận

(Trích sách NHỮNG BỨC TRANH PHÙ THẾ. Xuất bản tháng 1 – 2019)

ĐỌC THỦY TINH TAN VỠ CỦA TÔN NỮ THU DUNG

 

 

Thời chinh chiến mặc dù tôi đã qua tuổi vị thành niên từ lâu nhưng thói quen thời học trò không thay đổi. Trong ba lô của mỗi lần hành quân thế nào tôi cũng lận theo vài ba quyển Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc loại hoa tím để mỗi lúc dừng quân ven con suối nào đó lấy ra đọc. Tôi biết cô nhà văn Tôn Nữ Thu Dung từ đó qua những câu chuyện tình hay những bài thơ đăng trên những tập san kia. Biết để mà ngưỡng mộ vì không quen. Cho mãi sau này khi đã qua tuổi xuân thì lâu thật lâu chúng tôi lại gặp nhau trên Facebook và lần này tuy chưa có cơ duyên gặp mặt nhưng hai anh em chúng tôi thân nhau hơn.

Thân nhau hơn cũng vì cùng đi chung trên chiếc cầu thơ văn và cũng vì hai anh em cùng đồng hương chung thành phố biển Nha Trang. Văn Tôn Nữ Thu Dung mà tôi rất mến mộ của đâu chừng  50 năm về trước cho mãi đến bây giờ vẫn êm ả như mặt nước hồ cho dù chừng ấy năm giòng đời không hề êm ả sau khi mảnh đất miền Nam rơi vào tay của những người thắng trận miền Bắc.  Số phận tuổi trẻ của chúng tôi là số phận của những thanh niên sanh nhằm cuộc chiến.  Nam hay nữ không là ngoại lệ.  Tôn Nữ Thu Dung là một trong số đó. Cô sinh viên đang chạm cửa giảng đường đại học đầy phơi phới tương lai đành gác lại để tập tễnh bước vào đời bằng chiếc cuốc cầm tay với những ngày lao động ở những nông trường và những vùng đất khô cằn mà bom đạn của chiến tranh vẫn còn. Cho dù trong muôn vàn khốn khó như thế nhưng câu thơ của Herman Hesse ” dù đau đớn quằn quại tôi vẫn yêu thiết tha trần gian điên dại này ” vẫn theo nhân vật Diệp của Tôn Nữ Thu Dung trong Thủy Tinh Tan Vỡ. Đó cũng là câu thơ mà tôi chép trong quyển nhật ký hành quân cách đây gần 50 của thời còn trẻ. Năm 75 sau khi thua trận phải đun đẩy số phần vào trong các trại lao cải, câu thơ của Herman Hesse vẫn theo tôi trong mỗi khi tuyệt vọng. Nay gặp lại trong Thủy Tinh Tan Vỡ của Tôn Nữ Thu Dung khiến cho tôi xúc động vì đồng bệnh tương lân.  Tôi liền đọc một lèo bản thảo do Tôn Nữ gửi.  Sau đó tôi tắt computer rồi đi đâu đó để cho hồn mình lắng đọng.  Mãi hai ngày sau tôi ngồi đọc lại. Lần này thì đọc từ từ chậm rãi từng chương một

Thủy Tinh Tan Vỡ là số phận của cô sinh viên tên Diệp sau năm 75 bị cuốn theo lịch sử bi thương của đất nước. Một gia đình êm ấm trong phút chốc đổ nhào giữa tiếng reo vang của những kẻ thắng trận. Người cha cột trụ trong gia đình bị tập trung lên rừng khổ sai để rồi chết âm thầm bỏ lại gia đình cùng những trách nhiệm chưa tròn. Từ một cô sinh viên ăn chưa no lo chưa tới Diệp bị cuốn hút vào khát vọng tự do và phải đánh đổi muôn vàn khốn khổ trong những lần vượt biên và tổ chức vượt biên. Càng khốn khó cô sinh viên Diệp càng ngẩng cao, càng cứng cỏi

Tôi chưa hề là một nhà văn cũng chưa hề là một nhà thơ, tôi chỉ là độc giả của Tôn Nữ Thu Dung của 50 năm trước và bây giờ vẫn thế. Do đó những gì tôi viết xuống đây không phải là những lời phê bình văn học mà là những gì tôi cảm nhận được của một người đọc dành cho một tác phẩm. Tác phẩm Thuỷ Tinh Tan Vỡ được viết từ ký ức

Ký ức là nhiên liệu mà cuộc đời là những chiếc xe. Những chiếc xe chạy cần nhiên liệu. Thủy Tinh Tan Vỡ là nhiên liệu đổ vào bình chiếc xe đời. Những chiếc xe chạy trong những cơn bão cuồng nộ của lịch sử. Chạy trong vùng kinh khủng và đau buồn. Đó là “… anh Quang chết trong một trận lũ khi bơi thuyền qua sông cứu mấy đứa học trò “. Đó là ” …được gọi đến Bệnh Viện Tỉnh để ký giấy mang ba về nhà chôn cất“. Đó là “…Cao lăn xuống đồi trước khi tôi nghe tiếng súng hay gần như tôi không hề nghe tiếng súng

Để đau buồn dành cho người còn lại. Cám ơn người còn ở lại đã đi qua hết cuộc đời và cảm ơn cuộc đời đã vì Diệp mà đau buồn. Trong một đất nước khi lịch sử đã chọn kẻ ác làm người chiến thắng, biết bao biến cố tang thương dồn dập đổ ập xuống khiến những người bị trị chỉ muốn trở thành vô tri cho nên Diệp rất may mắn khi vẫn còn cảm xúc để được đau buồn. Nhờ những đau buồn đó mà trong văn học Việt Nam mới có hồi niệm Thủy Tinh Tan Vỡ

Trong chương ba khi cô sinh viên Diệp vào thăm nuôi cha ở trại lao động khổ sai tác giả tả lại hình ảnh người cha của mình như sau …. “Ông quay lưng đi, anh Thiện cúi xuống lượm chiếc rựa ông quên nhặt … Bóng hai người dềnh dàng đi trong chiều âm u … những sợi nắng quái rơi rớt trên từng đám cây rừng đe dọa một đêm mưa tầm tả … Ước chi ba tôi quay lại một lần, nhưng ông không hề quay lại… tôi ngồi xuống, khóc nức nở”

“Tôi không thể tưởng tượng nỗi là ba tôi đã ra đi, vĩnh viễn ra đi… Không một tin tức nào cho đến khi tôi được gọi đến Bệnh Viện Tỉnh để ký giấy mang ba về nhà chôn cất ….  “

Tôn Nữ Thu Dung đã khơi động lại trong tôi những hình ảnh mà tôi đã từng trải qua, cứ những tưởng thời gian lâu quá rồi đã làm cho nhạt nhoà. Hình ảnh ba của Diệp dềnh dàng đi trong chiều âm u của trại lao động khổ sai cũng chính là hình ảnh của tôi trong những năm tháng đó.

Nên tôi hiểu được tâm trạng của người thua trận. Chỉ những muốn chết đi để khỏi di luỵ đến gia đình cùng những người thân yêu nhưng lại không đủ can đảm. Cái chết không đáng sợ bằng sợ cái chết nên đành phải chấp nhận tù tội chia ly và đau cắt. Sau 75 tôi cũng từng đi ở tù sáu năm và trong khoảng thời gian đó đứa con đầu lòng của tôi sanh năm 75 bị mất khi lên bốn tuổi. Con tôi mất không có tôi bên cạnh cũng như ba của Diệp mất không có ai bên cạnh

Nên tôi hiểu được cái cảm giác mà Diệp tưởng rằng chai cứng. Thật ra đó là những vết sẹo không bao giờ lành da chỉ cần một cơn chuyển gió trở trời là vết sẹo đó lại mưng mủ

Thuỷ Tinh Tan Vỡ cũng ghi lại mối tình của hai kẻ cứng đầu giữa Diệp và Cao. Nếu như đất nước không có cái ngày 30/04 oan nghiệt thì đây là một mối tình có hậu. Nhưng bởi vì đất nước có cái ngày đó nên hai anh chị thay vì hẹn hò nhau thơ mộng lại mỗi lần gặp nhau là toàn bàn chuyện vượt biển tìm tự do. Tuy thế bản chất nhân bản của những người được lớn lên phía Nam vẫn không tránh khỏi nên hai anh chị cũng có những giờ phút đắm chìm trong lãng mạn

…. ” Giữa những công việc bận rộn của Cao, anh thường tìm đến tôi như một chốn nghỉ ngơi êm ả nhất… những buổi tối ngồi trên xích đu dưới giàn Huỳnh Anh chờ trăng lên bên kia cư xá nghe thoảng hương Dạ Lý từ khu vườn bên cạnh… Đêm thơm như một dòng sữa… đêm yên tĩnh lạ lùng như những đêm xưa…  “

Tôi thấy thơ phảng phất trong khung cảnh này. Được biết Thuỷ Tinh Tan Vỡ được in chung một số thơ cùng tác giả do đó không lấy gì làm ngạc nhiên khi bắt gặp ở đâu đó trong những đoạn văn có thơ

Đêm rơi vỡ những vì sao mê hoặc
Hứng trên tay buốt lạnh hạt sương buồn
Người cũng thế… chia cùng tôi ngọt đắng
Bên kia bờ còn đau đáu vết thương
(Ký Ức Tháng Tư /TNTD)

Thủy Tinh Tan Vỡ gồm 19 chương. Mỗi chương là mỗi đoạn khúc tự sinh tồn của lớp tuổi thanh niên miền Nam cuối thập niên 70 sau khi quân lính Bắc phương dùng vũ lưc chiếm đóng thành công. Tác giả đã kết thúc những đoạn khúc đó ở chương thứ 19 đầy bi thương sau khi chuyến đi cuối của Cao lại thêm một lần thất bại và đánh đổi bằng sinh mạng của mình

Nhưng không còn một nguy hiểm nào đe dọa tôi được nữa… Tôi đã chia chung với anh những giờ hạnh phúc và tôi phải chịu chung cùng anh cả những phút nguy nan… Tôi không để ý đến hai chân không vấp vào những cạnh đá xanh rướm máu, Tôi không còn sức để chạy nên lết đến bên anh, một tên du kích quay lại khóa chặt tay tôi

Trong cuộc sống của mỗi một chúng ta, ngoài tình yêu nam nữ ra còn có nhiều thứ tình bao dung hơn mà nếu chữ tình đó đem thả xuống dòng nước thì sẽ bị nước cuốn trôi đi. Nếu khắc trên trời xanh thì một ngày nào đó sẽ có những chòm mây bay ngang qua che khuất. Nếu khắc lên hy vọng thì sẽ bị chông gai gập ghềnh trong cuộc sống cản ngăn trắc trở. Chỉ có khắc lên trái tim thì chữ tình kia mới sẽ cùng ta vĩnh cửu. Tôi tin rằng trong trái tim của Diệp hình bóng người con trai tên Cao đã hằn chung cùng với những tháng ngày sẻ chia hoạn nạn. Hai người đó vừa là bạn, vừa là anh em, vừa là tri kỷ, vừa là tri âm và cũng vừa là được hiện hữu để dành cho nhau hai trái tim cùng chung nhịp đập.

Và tôi suốt đời chẳng lẽ
Làm con ốc nhỏ chơi rong
Mà ôm trong lòng tiếng sóng
Ôm trong lòng cả đại dương…
(Tự Tình Với Biển /TNTD)

Hy vọng là một viên thần dược mà trên căn bản nó không hề tồn tại, nhưng điều thần kỳ là mọi người đều tin vào nó.  Tôi cũng tin vào nó. Bạn biết sao không? Tại vì mọi người đều muốn có một khát khao mãnh liệt tin vào một điều gì cho dù không thay đổi được lịch sử nhưng ít nhất cũng không để kẻ ác lợi dụng sự sai lầm của lịch sử thay đổi mình. Tôi tin Tôn Nữ Thu Dung cũng như tôi tin vào viên thần dược diệu kỳ kia cho dù không tồn tại. Bởi có niềm tin nên Thuỷ Tinh Tan Vỡ đã ra đời.  Tôi cũng tin rằng lớp thế hệ sau cuộc chiến hiểu được những điều mà tác giả gửi trong tác phẩm vì đó là sự thật trong một giai đoạn lịch sử. Lịch sử có thể sai nhưng sự thật không ai có quyền che đậy. Bởi đó là khát vọng

Và cuối cùng tôi xin dùng một đoạn văn và một đoạn thơ của chính tác giả để nói về Thuỷ Tinh Tan Vỡ mà Tôn Nữ Thu Dung, cô nhà văn nhà thơ chung thành phố biển Nha Trang đã ưu ái dành cho tôi đọc khi còn trong bản thảo

…Tôi vuột khỏi tay Sư bà, chạy vội theo anh, tôi sẽ ngã vào tay anh, tôi sẽ úp mặt vào ngực anh thơm mùi khói thuốc, tôi sẽ nói: Cao ơi, cho Diệp theo anh, cho Diệp đi với mà anh!

 

Khi không thể chia cùng nhau khổ nạn
Thắp cho người ngọn nến cháy rưng rưng
Từng giọt nến rơi vào đêm tan nát
Mái hiên khuya- gió tạt…
buốt căn phần
(Vọng Âm Buồn /TNTD)

New Orleans tháng 5/2019

Quan Dương

TÔ THÙY YÊN, CHIA SẺ CHÚT TÌNH CAY MẶN CŨ 

 

Trong thời kỳ hai mươi năm của thơ miền Nam, và giai đoạn kéo dài của nó, Tô Thùy Yên giữ một vị trí rất đặc biệt (*).

Đó là người khởi đi từ giai đoạn khai phóng đầu tiên, những năm 60, với sự nổi loạn chống ảnh hưởng của văn học tiền chiến. Nhà thơ của chiến tranh Việt Nam, của những suy nghiệm triết học, nhà thơ của những ngày tù tội cải tạo, và cuối cùng của giai đoạn lưu vong. Đời sống của ông đầy biến động. Tô Thùy Yên lúc nào cũng chăm chú sống cuộc đời mình, để tâm hồn rung lên theo nhịp điệu của thời thế. Nhưng đó không phải là thơ thời sự hay thơ trữ tình thế sự. Đó là một loại thơ trữ tình thực sự, tuy vậy mang dấu ấn lịch sử.
Trong khi tuân thủ nghiêm ngặt một số quy ước về vần điệu, sở trường nghiêng về thơ có vần hơn là về thơ tự do, Tô Thùy Yên vẫn sở hữu một ngôn ngữ vừa truyền thống vừa mới lạ. Sự chọn chữ, cách thiết lập câu thơ, âm điệu và từ vựng trong từng bài thơ, tạo nên phong cách riêng, một phong cách của tài hoa dụng ngữ.

Thơ Tô Thùy Yên có ba giai đoạn: trước năm 1975, sau năm 1975 ở trong nước và trong tù, và sau này khi ra hải ngoại. Giai đoạn thứ ba, thể hiện những cố gắng làm mới ngôn ngữ ở nhà thơ này, tuy vậy xét về thành tựu nghệ thuật, không thể nào sánh được với giai đoạn thứ nhất và thứ hai.
Là một tác giả được nhiều người biết tới và tìm đọc, có những bài thơ được phổ nhạc, nhưng Tô Thùy Yên vẫn là thi sĩ của giới trí thức, với bút pháp tinh lọc và sang trọng. Ông không thiết lập nên một thi pháp mới, và hầu hết thơ đều dựa trên những âm luật cũ, nhưng Tô Thùy Yên đẩy nghệ thuật dùng chữ đến mức tuyệt hảo. Sống trong thời binh lửa, ông mặc áo lính, đến các trận tiền, viết về cuộc chiến đấu bi thảm của một quân đội, đời sống thực của người lính, nỗi đau thương của quê hương bị tàn phá, sự nghĩ ngợi đầy tính triết học, nỗi u hoài Đông phương, tình yêu, sự lạc lối của tuổi trẻ, một thiên nhiên mù lòa cay đắng, những cây cỏ hiền hòa, tình yêu thuần hậu và bạo liệt.

Thơ Tô Thùy Yên là thơ nhân chứng. Bằng chính cuộc đời mình, ông sống qua những giai đoạn khác nhau của lịch sử. Bài thơ của ông, với tất cả hình ảnh và chất liệu của chúng bao giờ cũng tạo nên một lực đẩy hướng tới sự kết thúc, tạo ra một phức hợp tình cảm ở người đọc. Trong khi người đọc chia sẻ cùng nhà thơ gánh nặng của lịch sử, của số phận, thì cũng hạnh phúc được sống trong nguồn suối ngọt ngào của tiếng mẹ đẻ, vui thú với nhạc điệu, thưởng thức khả năng nắm bắt ý nghĩa của tồn tại. Ẩn dụ trong thơ Tô Thùy Yên giàu có, chúng chứa đầy khả năng mới mẻ: giá trị tiên đoán.
Thơ Tô Thùy Yên là loại thơ không những để đọc bằng mắt mà còn để đọc lớn lên, ngâm lên, giữa những người khác. Gần đây, sau tập thơ cuối cùng, không thấy Tô Thùy Yên viết nữa. Có lẽ công việc của ông đã xong. Sự thưởng thức và đánh giá là dành cho dư luận. Bất chấp khuynh hướng trừu tượng và khuynh hướng trí thức, sự dùng chữ tinh tế, khác thường, đó vẫn là một loại thơ mở lớn cánh cửa, tìm đến với người đọc, kêu gọi người đọc.

Một thứ thơ của ý thức tự do, của bi kịch lịch sử, của nhân phẩm, của lòng tin vào các giá trị căn bản của dân tộc. Thơ ông tạo nên một ảo ảnh nghệ thuật bằng chất liệu có thực của đời sống, một đời sống đã kinh qua hạnh phúc và bất hạnh, những vàng son và khổ nhục. Một loại thơ đôi khi siêu hình, đôi khi mênh mang kỳ bí, nhưng vẫn dung chứa xúc động chân thật. Đó có lẽ là một trong những bí ẩn sâu xa của thơ Tô Thùy Yên.
Nguyễn Đức Tùng

(*) Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, là cựu học sinh Petrus Ký và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông dạy học, làm báo tại Sài Gòn và mang cấp bậc Thiếu tá trong quân đội VNCH trước 1975. Sau 1975 ông bị giam gần 13 năm, từ 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ theo diện cựu tù nhân chính trị.
Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các hoạ sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng Tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ tự do” trên văn đàn miền Nam vào thập niên 60.

Tác phẩm: Thơ tuyển (1995), Thắp tạ (2004).
(trích từ tác phẩm Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, Văn Việt và Nguời Việt phối hợp xuất bản, 2017)

Tàu Đêm

Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi.
Lúc đó, sao trời đã ngủ mê.
Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy,
Long lanh muôn mắt tiễn tàu đi.

Thức dậy, những ai còn sống đó,
Nhìn ra nhớ lấy phút giây này.
Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay.

Cảnh vật mơ hồ trong bóng đêm
Dàn ra một ảo tượng im lìm.
Ủ ê những ngọn đèn thưa thớt,
Sáng ít làm đêm tối tối thêm.

Bến cảng, nhà kho, những dạng cây…
Chưa quen mà đã giã từ ngay.
Dẫu sao cũng một lần tan hợp,
Chớ tiếc nhau vài cái vẫy tay.

Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc,
Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai.
Ta gọi rụng rời ta thất lạc.
Ta còn chẳng đủ nửa ta đây.

Người bạn đường kia chắc chẳng ngủ.
Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?
Mai này xô giạt về đâu nữa?
Đất lạ ơi, đừng hắt hủi ta!

Đất lạ, người ta sống thế nào?
Trong lòng có sáng những trăng sao,
Có buồn bã lúc mùa trăn trở,
Có xót thương người qua biển dâu?

Tàu đi như một cơn điên đảo,
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau.
Ta tưởng chừng nghe thời đại động
Xô đi ầm ĩ một cơn đau.

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển dời xung xát bạo tàn,
Ta trở thành than, thành súc vật.
Tiếng người e cũng đã quên ngang.

Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc,
Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau.
Nghe cả hồn ta bị cán nghiến
Trên đường lịch sử sắt tuôn mau.

Dường như ta chợt khóc đau đớn.
Lệ nóng cường toan cháy ruột gan.
Lệ chảy không ra ngoài khóe mắt.
Nghẹn ngào đến cả tiếng than van.

Giá ta có được một hơi thuốc,
Dẫu chỉ là hơi thuốc mốc thôi.
Để phả cho hồn ấm tỉnh lại,
Để nghe còn sự sống trên môi.

Ta nhớ dăm ba hình ảnh cũ,
Lờ mờ như nhớ lại tiền thân.
Đời ta khi trước vui vầy thế
Bỗng thảm thương nghìn nỗi ngói tan.

Đem thân làm gã tù lưu xứ,
Xí xóa đời ta với đất trời,
Ngàn dặm lìa tan tình cố cựu,
Bàng hoàng thân thế cụm mây trôi.

Đã mấy năm nay quằn quại đói,
Thèm ăn như đứa trẻ con nghèo.
Mẹ ơi, con nhớ thời thơ dại,
Nhớ miếng ăn mà mẹ chắt chiu.

Liệu còn một bữa cơm đầm ấm
Bên ánh đèn đoàn tụ vợ con,
Chia xẻ chút tình cay mặn cũ,
Miếng không ngon cũng lấy làm ngon.

Tàu đi khoan xoáy sâu đêm thép,
Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa.
Lịch sử dường như rất vội vã.
Tàu không đỗ lại các ga qua.

Ô, những nhà ga rất cổ xưa,
Dường như ta đã thấy bao giờ.
Đến nay, người giữ ga còn đứng,
Đèn bão đong đưa chút sáng mờ.

Tàu qua những ruộng đồng châu thổ.
Hiu hắt làng xa mấy chấm đèn.
Đêm ở nơi đây buồn lặng lặng.
Cái buồn trải nặng mặt bằng đen.

Hỡi cô con gái trăng mười bốn,
Đêm có nằm mơ những hội xuân,
Đời có chăng lần cam dối mẹ,
Nhớ thương nào giấu thấm vành khăn?

Có lúc tàu qua những chiếc cầu
Sầm sầm những nhịp động đều nhau.
Dưới kia con nước còn thao thức
Bát ngát dềnh lên bãi sậy sầu.

Có lúc tàu qua những thị trấn
Mà đêm đã gói lại im lìm.
Tàu qua, âu cũng là thông lệ,
Nên chẳng ai buồn hé cửa xem.

Ôi những nỗi sầu vô dạng ấy
Gọi ta về với những đêm vui…
Ở đâu đèn sáng như châu ngọc,
Đường phố người chen chúc nói cười.

Ở đâu mộng ảo vườn sao tụ,
Yến tiệc bày trong những khóm cây.
Ta rót mừng em ly rượu đỏ…
Mà thôi, chớ nhớ nữa, lòng ơi.

Mà thôi, hãy nuốt lệ còn nghẹn,
Tỉnh thức, lòng ơi, nhìn tận tường
Thời đại đang đi từng mảng lớn,
Rào rào những cụm khói miên man.

Người bạn đường kia chắc vẫn thức,
Mong tàu đi đến chỗ đêm tan,
Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời đã rỉ han.

Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu,
Lay động những tầng mê sảng tối…
Loài người, hãy thức, thức cùng nhau.

Tô Thùy Yên 1980

Nguyễn Đức Tùng