NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA: “NGẬP CỨT”MIKE MARIOTTE CHUYÊN VIÊN QUAY PHIM

larryengelmann

chientranh

(Hãng tin CBS)

“Bọn Mỹ phản bội”

Khi Ban Mê Thuột thất thủ, cuộc triệt thoái cao nguyên bắt đầu, tôi đi với thông tín viên Peter Collins để thu hình “Đoàn xe nước mắt” từ Pleiku đổ xuống theo con lộ 7B. Cả một đoàn quân tương đương với ba sư đoàn rút khỏi cao nguyên mà không nổ một phát súng. Lúc ấy, một người bạn bên sở Tình báo điện thoại cho tôi, anh ta nói: “Này Mike, cậu biết cao nguyên mất rồi chứ?”. Tôi bảo “Hả, Đ.M. không!” Anh ta bảo: “Nghe đây, tôi có một chuyến bay” – đó là chiếc Air America hai động cơ – “Tôi sẽ cho bay lên trên ấy đón người của tôi trước khi họ bị bắt. Nếu cậu đi với bọn tôi, sẽ bảo đảm cho cậu một ghế trở về. Sẽ có một trực thăng của Trung ương Tình báo đưa cậu đến khu vực quay phim. Đang có hàng ngàn, hàng ngàn người tháo chạy. Tôi sẽ cho cậu một máy vô tuyến, bỏ cậu xuống khoảng trước đoàn xe. Cậu có thể đợi đoàn xe đến mà thu hình, sau đó tránh khỏi đoàn xe, ra phía ngoài đồng, dùng vô tuyến gọi trực thăng đến. Chúng tôi sẽ tới bốc cậu.”

Thế là chúng tôi đổ đến khoảng giữa vùng cao nguyên. Ở đúng vào một chỗ chẳng đâu ra đâu, đột nhiên vào một tầm xa mà mắt có thể trông thấy, bỗng xuất hiện hàng trăm ngàn con người khốn khổ, lính tráng, xe tăng, thiết vận xa, hướng lại phía chúng tôi. Tôi thu hình tất cả, rồi chúng tôi rời đi Tiếp tục đọc

TIẾNG CHUÔNG NGÂN ( Phần 2)

nguyenthingoclan

Mùa Hè năm 1972.

Hải Đường nhìn mọi thứ màu sắc hơn. Có gì đó đang dần thay đổi trong tâm hồn thơ dại của cô. Nó đến bất ngờ như cậu bé mỗi đêm ngồi dưới giàn hoa giấy. Hải Đường viết trong Đặc san Thềm Văn năm bảy hai : “Em ước ao được nói với những kỷ niệm thương yêu của ngày xưa cũ rằng. Ánh mắt và ý nghĩ trầm mặc đã đưa em vào cõi thần tiên. Để em lạc lối trên những đường mây rộng thênh thang..”( Lời Cho Kỷ Niệm)

Mùa hè thay đổi cuộc đời cô sau này.

Khách đến quán thường xuyên xuất hiện người đàn ông khoảng hai lăm tuổi. Một trung úy đang làm việc tại TTHL Lam Sơn. Đều đặn và chăm chỉ mỗi đêm, tiếp đó là cả thời gian sau giờ làm việc. Người đàn ông này nói giọng Bình Định rất khó nghe, hay chăm chú nhìn khi Hải Đường xuất hiện trong quán hay lúc đi học về. Đâu phải cô chưa chạm với những ánh mắt như vậy nhưng sao con người này có một cái nhìn rất khác. Nó vừa mãnh liệt lại vừa đáng sợ. Cái nhìn như nuốt chửng lấy con người cô, buộc Hải Đường cảnh giác với cái nhìn đó vì linh tính như có điều gì không hay đang đến.
Một thời gian sau, người đàn ông này bắt đầu lân la vào nhà nói chuyện với Ba Mẹ và cả anh của cô nữa. Số lần đến ngày càng nhiều và thời gian cũng cứ kéo dài thêm ra. Hải Đường có ý đề phòng ông ấy dù chưa rõ được ý đồ của ông ta lắm.
Cậu bé si tình cũng chăm chỉ đến uống cà phê. Ngồi dưới giàn hoa giấy vào khoảng thời gian từ bảy đến tám giờ mỗi đêm sau đó mới chịu về học bài, cũng là lúc Hải Đường ngồi học bên cửa sổ. Cô bắt đầu chú ý đến cậu bạn học cùng lớp kỳ lạ này vì tò mò pha lẫn chút khó chịu. Không như những người khác, cậu bé hay ngồi quay lưng lại phía cô. Đó là điều ngạc nhiên Hải Đường muốn biết. Sau này anh nói vì quá lo sợ cho cô trước những người lính mặc đủ loại quân phục này. Anh ví Hải Đường là con mèo con và anh cũng vậy. Anh đã nhiều lần nhìn cô phải chống chọi đơn độc trước những lời lẽ khiếm nhã của một số người. Đã trông thấy nhiều lần cô phải vụt chạy lên lầu trước hành động suồng sã của một vài người lính có học nhưng thiếu nhân cách. Cậu bé vẫn ngồi đó nhưng chỉ biết im lặng bất lực nhìn.

Rồi mùa hè đến, phải chia tay bạn bè, lớp học . Ba tháng này là khoảng thời gian buồn chán nhất. Hải Đường ngồi quầy ban đêm, còn ban ngày trông giữ mấy đứa em, giúp mẹ pha chế cà phê. Với cô, mỗi tối bốn tiếng đồng hồ là thời gian như bị đày đọa. Trừ những lúc phải tính tiền cho khách, cô luôn cúi đầu đọc sách hay tờ báo nào đó để tránh những cặp mắt nhìn, những lời chọc ghẹo.

Một hôm, Mẹ nói chuyện với Hải Đường:
– Quán cà phê mình bây giờ ngày mỗi đông khách, việc làm ăn đang thuận lợi. Thôi, con nghỉ học để giúp Ba Mẹ, rồi vài năm nữa lấy chồng, Mẹ đã chọn người cho con rồi.
Hải Đường choáng váng. Mọi thứ đổ sập trước mặt. Không nói được lời nào nhưng nước mắt cô tuôn dài. Mẹ! Mẹ nỡ đối xử với con như vậy sao? Hải Đường thảng thốt, nghẹn ngào.

Đêm đó vào phòng nằm úp mặt trong gối cô chỉ biết thổn thức khóc thầm. Từ bên ngoài, Hải Đường nghe tiếng Ba mẹ cãi nhau. Ba nói:
– Con nó còn nhỏ. Bà hãy để cho nó yên thân mà học hành.
– Nó không còn nhỏ nữa. Mười sáu tuổi rồi. Gia đình người ta giàu sang, có địa vị xã hội – Rồi sau này bầy em nó cũng được nhờ.
Tiếng Ba hét lớn rồi sau đó là tiếng ly tách vỡ. Hải Đường sợ hãi đóng kín cửa phòng ngồi khóc. Ba ơi! chỉ có ba yêu thương con gái thôi.
Hải Đường khóc suốt đêm, không hề chợp mắt. Đầu óc quay cuồng với hình ảnh bạn bè, trường lớp. Cô mất hết rồi sao? Chẳng lẽ niềm vui tuổi hồng đã nhường bước cho nỗi buồn tuổi trẻ, như lời anh viết trong bài “ Ngỡ ngàng” cuối năm học lớp 10 Đặc San Thềm Văn Hè 1973. Nửa khuya, Hải Đường bật dậy lấy tập vở ra viết vội nỗi lòng mình.
Bài viết “Cho mùa Hạ Cuối” cũng được đăng trong cuốn Đặc San năm đó.

Ba mẹ giận nhau cả tuần, hai người không nói với nhau một lời nào. Thỉnh thoảng ba đến bên cô an ủi:
– Con gái đừng lo nghĩ nhiều, Ba không để cho con nghỉ học đâu…
Niềm hy vọng được đến trường nhen nhúm. Trái tim bắt đầu vui trở lại nhưng Hải Đường không còn những ý nghĩ ngây ngô như trước nữa. Sau sự cố đó cô trầm lặng hơn, chỉ nói chuyện với Mẹ khi cần thiết.
Nghỉ hè một tuần không thấy “ Nửa Miệng” xuất hiện nơi cái bàn gần gốc cây bông giấy. Đầu óc Hai Đường phải đối phó với chuyện bị mẹ ép nghỉ học lấy chồng nên cô ít quan tâm đến mọi chuyện chung quanh. Dù vậy Hải Đường cũng cảm thấy thiếu thiếu điều gì đó ở góc sân nhà. À! Vậy là “Nửa Miệng” về quê nghỉ hè rồi. Hải Đường không biết năm học đến cậu ấy có còn vào nữa hay không? Và hơi thắc mắc, tại sao về quê lại không từ giã cô một lời nào. Tệ vậy sao?

Mỗi đêm ra ngồi quầy, bao cặp mắt nhìn ngắm nhưng cô vẫn thấy thiếu vắng một cái gì đó, nó mơ hồ, trong suốt, Hải Đường không nhận ra là cái gì. Dưới gốc cây hoa giấy đỏ, chiếc ghế ấy luôn có người ngồi nhưng không phải là dáng ngồi quen thuộc cô hay nhìn thấy. Dáng ngồi quay lưng về phía cô.

Giữa tháng tám năm bảy hai. Trong một tối ngồi quầy, Hải Đường vẫn thường cúi đầu để đọc sách. Bất ngờ cậu bé xuất hiện trước mặt, khẽ nói: “Hải Đường này! Quà quê mình ..”. Thoáng giật mình, cô ngước nhìn. Cũng bất ngờ với chính mình, Hải Đường nhoẻn miệng cười với anh.
– Khỏe chứ!
– Ừ, khỏe. Về quê có chi vui không?
– Vui lắm, gặp lại bạn học cũ, bọn nó dẫn đi suốt ngày… mà nhớ quá nên vào.
Hải Đường nhận gói kẹo gương :
– Cám ơn… nhé!
Cậu bé cười nửa miệng:
– Cám ơn… rứa thôi à? Mà thôi. Được trả lời, vui rồi. Cám ơn lại nhé.
Từ đó hai người gần nhau hơn, bắt đầu trò chuyện qua lại dù chỉ vài câu ngắn ngủi trong mỗi đêm cậu bé đến ngồi bên gốc cây bông giấy.
Thỉnh thoảng Hải Đường có cảm giác như ai đang vân vê mấy sợi tóc của mình từ phía sau. Thỉnh thoảng cô lại hay nghiêng mình nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi có nhánh sầu đông đơm hoa tím rung nhẹ trong gió.

Sự gần gũi thân mật của Hải Đường và anh không qua được cặp mắt của người mẹ. Cô không được ngồi quầy mỗi khi anh đến nữa. Bà nghiêm khắc không cho cô quan hệ với bất cứ người con trai nào, ngoại trừ một người. Người cha quyết liệt đấu tranh để cô được đi học trở lại, đó là niềm mơ ước và hy vọng nhất của cô. Bởi nơi đó cô còn có được bạn bè, còn được anh vô tình vuốt những sợi tóc cố tình để quên trên bàn học sau lưng. Bởi cô biết, chỉ cần quay lưng sẽ có nụ cười. Tuyệt tác của Leonardo Da Vinci.

Rồi năm học mới cũng đến, Hải Đường vui hót như chim sơn ca, líu lo với bạn bè. Điều này khác với tính dịu dàng, nhỏ nhẹ, trầm tư của cô học trò mười sáu tuổi khiến cho bạn bè ngạc nhiên. Nhưng tận trong sâu thẳm cô vẫn lo lắng về một ngày phải xa trường, may mắn điều đó bây giờ chưa xảy ra.
Hải Đường và cậu bé không còn học chung một lớp nữa. Dốt Toán nên cô chọn ban C. Còn anh học ban B. Học riêng hai lớp nhưng hằng ngày họ vẫn gặp nhau. Tình cảm chưa bộc lộ rõ ràng với nhau bằng lời nói nhưng mỗi lúc tan hoc mắt lại vội vã tìm mắt, gởi đi thông điệp dại khờ của tuổi học trò. Chàng trai luôn sôi nổi giữa đám đông, còn Hải Đường kín đáo, rụt rè giữa hai người bạn gái.

Sau này gặp lại nhau giữa tiệc cưới con trai Hải Đường, anh nói đùa với hai bạn của cô rằng ngày ấy anh ghét hai người lắm .

Người đàn ông vẫn xuất hiện thường xuyên bên trong quán cà phê. Có thể bất cứ giờ nào trong ngày. Hải Đường ghét con người này, nhất là cái nhìn đắc thắng, thách thức dành cho cô.
Một lần đang ngồi học bài, ông ấy đến sau lưng Hải Đường tự lúc nào, cúi đầu sát mái tóc cô. Nghe hơi thở nóng ran từ phía sau, Hải Đường giật mình quay lại và bắt gặp cái nhìn nóng bỏng trên khuôn mặt của ông ấy. Cô đứng phắt dậy, hét lên: “Anh làm cái trò gì vậy?”. Người mẹ xuất hiện đúng lúc giải cứu cho ông ta: “Giao! giúp cô cái này tí ”- Ông ta vội vã quay đi, còn tôi không còn tâm trí nào để học nữa.

Người đàn ông cứ luẩn quẩn trong nhà như bóng ma, khủng bố tinh thần khiến Hải Đường bắt đầu cảnh giác mỗi khi ông đến. Nhiều lần ông Giao lân la đến trò chuyện, nhưng cô tuyệt đối không nhìn, không trả lời. Cô ghét con người này và đôi lúc tỏ ra thái độ khó chịu, lẫn chút coi thường cho ông ta biết.
Không thuyết phục được Hải Đường, ông ấy càng ngày càng tìm cách thân mật với Ba Mẹ cô hơn. Mặc dù còn nhỏ nhưng cô cũng nhận ra được con người này đang tìm mọi cách để chiếm đoạt được mình. Ba cô càng ngày càng xuôi theo ý Mẹ. Vì ông là con người mềm mỏng, dù không muốn nhưng người mẹ quá cương quyết và cứng rắn nên cũng đành buông xuôi.

Anh vẫn thường đến uống cà phê mỗi đêm. Vẫn ngồi nơi cái bàn cũ dưới giàn hoa giấy và quay lưng lại phía Hải Đường ngồi học. Hiếm hoi lắm hai người mới nói được với nhau vài câu. Nhìn nhau, gửi cho nhau nụ cười.

Thời gian này Hải Đường nghe mọi người nói anh quen một cô nữ sinh tên Kim Anh học sau cô hai lớp. Cô hỏi điều này có đúng không nhưng chỉ nhận ở anh nụ cười.
Nụ cười đáng ghét! Nụ cười đểu, không còn thánh thiện nữa. Hải Đường giận anh.
Sau lần ấy, Hải Đường không nhìn anh, không nói câu nào dù mỗi đêm cô vẫn trông ngóng anh và anh vẫn đến ngồi bên gốc cây bông giấy.

Một buổi tối, vào khoảng tháng mười hai, sau giờ học bài Hải Đường đứng dậy nhìn ra không thấy anh ngồi đó nữa. Trên cửa sổ có bì thư nhỏ tự gấp, cô cầm lên và mở ra xem. Đó là bức thư đầu tiên anh gởi cho cô: “ Xin lỗi chuyện vừa qua. Không có điều gì xảy ra như Hải Đường nghĩ đâu. Chỉ mong rằng nếu Hải Đường là một loài hoa thì ta xin làm Xuân bốn mùa để hoa nở mãi”. Đọc thư, Hải Đường mỉm cười “ Bày đặt! Bốn mùa hoa nở mãi. Không tin!”

Có phải lá thư ngỏ lời của anh dành cho cô? Hải Đường cố suy nghĩ để tìm hiểu về ý nghĩa của lá thư anh viết. Phất phơ quá! Anh không đến quán trong mấy ngày sau đó. Hải Đường ghét, giận, hờn nhưng vẫn đợi chờ mỗi đêm bên cửa sổ nhìn ra. Hằng ngày đi học hai người vẫn gặp nhau nhưng cô cương quyết nén lòng không nhìn mặt anh lần nào, Hải Đường vẫn còn giận anh.

Một ngày, hai ngày, ba ngày rồi đến đêm thứ năm anh đến, vẫn ngồi quay lưng. Hải Đường xếp sách vở lại sớm hơn và đi ra quầy thu ngân, cố tình đi ngang qua chỗ anh ngồi nhưng giả vờ như không thấy. Anh gọi khẽ:
– Ơ!.. này!.
Cô vẫn không quay lại. Lát sau anh đứng dậy và ra quầy tính tiền để về. Hải Đường ngước mắt lên nhìn anh hỏi nhỏ:
– Đúng vậy không?
– Là sao?
– Chuyện hôm trước nói đó.
– Không đúng! Còn lá thư của họ thì sao? Giận dai rứa?
– Đọc rồi. Có gì đâu mà giận. Có giận ai đâu.
Hải Đường trả lời mà như không quan tâm đến câu hỏi.
– Vậy huề nhé. Mai lên trường gặp nghe. Mà nè! Suy nghĩ gì không?
Cô nhăn mặt khó chịu:
– Không thèm suy nghĩ. Có chi đâu bận tâm.
– Thiệt không?
– Sao lại không?
– Không mà sao lại giận? hơ..
Hải Đường nhìn sâu vào mắt anh:
.- Thôi, về đi. Mẹ gần ra rồi.
– A! Hết giận rồi. Nhớ vui nghe.
Anh nở nụ cười của Mona Lisa rồi quay lưng bước đi không thèm chúc cô ngủ ngon. Hải Đường tức lắm.

Trái tim cô gái mười sáu tuổi đang vui, hạnh phúc với tình yêu đầu đời vừa chớm nở. Hải Đường hay cười và nói chuyện nhiều hơn với bạn bè.
Năm học này cô tham gia văn nghệ của trường với nhiều tiết mục nên chuyện ảnh hưởng rất nhiều đến việc học. Có những buổi không đi học nhưng vẫn phải đến trường để tập dợt. Có lý do để thoát ra khỏi nhà, Hải Đường rất sung sướng vì thấy mình được thật sự tự do, được thoát khỏi đôi mắt theo dõi của Mẹ và nhất là tránh được con người mà cô ghét nhất, ông Giao.
Một hôm nghỉ học buổi chiều, đang quét dọn trong nhà thì ông Giao đến gần:
– Hải Đường cho phép anh ngồi nói chuyện chứ?
Cô nhìn thẳng vào mắt ông, mặt nghiêm nghị không cảm xúc:
– Được! Nhưng hình như anh đã nói hết với Ba Mẹ tôi rồi mà?
Ông Giao ngồi xuống ghế đối diện:
– Em ngồi đi. Em mới là người tôi cần nói.
Im lặng lúc lâu như để lấy can đảm, ông nhẹ nhàng từng tiếng:
– Tôi muốn lấy Hải Đường làm vợ. Em có cho tôi cơ hội không?
Cô trả lời ngay không do dự vì cũng đã đoán được câu hỏi của ông ta:
– Tôi chưa hề nghĩ đến chuyện lấy chồng.Tôi còn nhỏ và đang còn đi học. Anh nên suy nghĩ lại và để cho tôi yên lòng học hành.
Ông đứng lên nhìn cô rồi nói:
– Thôi được, anh sẽ chờ. Anh tin rằng một ngày nào đó em sẽ đồng ý.
Nói xong ông bước nhanh ra cửa, nổ máy xe và đi, không chào từ giã mẹ như thường lệ. Ông ấy đi rồi, ngực Hải Đường như khó thở, mặt cô tím tái vì giận con người lì lợm đó. Câu nói của ông ấy nhắc cho cô biết một điều là ông ta sẽ không bỏ cuộc. Ông ta sẽ dùng mọi thủ đoạn để chiếm cho bằng được Hải Đường.
Trời ơi! Cô chỉ là con bé mười sáu tuổi.

Đúng như suy nghĩ của Hải Đường. Hôm sau ông quay lại, không thèm chào hỏi gì cô. Mặc dù rất ghét nhưng điều đó cũng làm cho cô khó chịu. Hải Đường chuẩn bị đối đầu với con người đa mưu này. Đồng minh của ông là người mẹ và anh trai cô.
Người mẹ cũng dịu dàng với cô hơn, không cáu gắt như trước nữa. Tiếng “con” thay vì “mi” như thường dùng. Một tối, sau khi đóng quán, Mẹ vào phòng Hải Đường:
– Mấy hôm nay thấy con đi học cả ngày, Mẹ lo lắm.
Cô trả lời Mẹ:
– Dạ, con đi học rồi tập văn nghệ nữa, Ba biết mà Mẹ.
– Ba không nói cho Mẹ biết nên Mẹ nghĩ là con đi chơi. Thôi được, nhưng mà xong phải lo về nghe con.
– Dạ.
Mẹ cầm tay cô:
– Con nè! Mẹ thấy thằng Giao. nó cũng hiền, nhà nó giàu có, học thức.
Hải Đường im lặng:
– Nó xin mẹ rồi. Ba Mẹ đã đồng ý. Qua năm sau gia đình nó sẽ đến xin hỏi. Ráng nghe lời Mẹ, Mẹ chỉ muốn con được sung sướng. Hơn nữa, nó đã mua nhà riêng cho con ở Sài Gòn, sau này các em con cũng có chỗ để tá túc học hành.
Nước mắt Hải Đường lại chảy dài. Không! Cô không thể lấy ông ta. Cô ghét ông ta. Hải Đường sẽ đấu tranh đến cùng. Nhưng mà ai sẽ bảo vệ, giúp đỡ cô đây? Ba ư? Người đã bao lần bất lực nhìn cô khóc thầm thì làm sao có thể giúp được chứ?
Còn anh, anh chỉ là một cậu bé.
Người mẹ không nói gì nữa và đi ra cửa. Lời của bà như đóng đinh vào trái tim cô. Khóc suốt đêm, sáng hôm sau Hải Đường quyết định nghỉ buổi tập văn nghệ vì không thể nào nhấc người ra khỏi phòng được. Trưa cô ăn vội qua loa rồi ôm cặp đi học. Người cha nhìn theo. Cô nghe tiếng thở dài.
Chiều hôm đó đến trường Hải Đường trao vội vàng cho anh tập Tuổi Ngọc. Bên trong cuốn sách có mảnh giấy cô gởi anh: “Tối lên quán sớm nha. Đang có chuyện buồn.”
Anh đến sớm như cô dặn, bước thẳng vào quán, đến cửa sổ đặt lá thư xuống trên thành cửa sổ. Cô đang ngồi học bài, mỉm cười rồi len lén với lấy bức thư. Anh không quay lưng lại như thường lệ mà ngồi nhìn cô mở bức thư ra đọc: “Có chi buồn rứa? Họ chưa ăn chi hết, sốt ruột lắm” Hải Đường lấy phấn viết mấy chữ vào tấm bảng nhỏ đưa lên cho anh nhìn thấy: “ Mẹ bắt lấy chồng, buồn lắm”. Anh đến quầy xin vỏ gói thuốc, tháo tờ giấy bạc bên trong, hý hoáy viết rồi vo lại ném qua cửa sổ cho cô “Viết kể rõ mai gởi đọc nghe. Nhớ đừng buồn!”.
Anh xoay người, quay lưng lại, quán bây giờ đông khách nên cô không bút đàm với anh được nữa. Hải Đường ngạc nhiên khi thấy anh phả khói thuốc lá về phía trước mặt, điều mà cô chưa gặp bao giờ.

Ba mươi bốn năm, sau anh nói với Hải Đường đó là điếu thuốc đầu tiên trong đời anh hút.
.
Bốn ngày nữa là Tết. Năm nào cũng vậy, Tết ở đây rất buồn. Không như ngày còn bé gia đình ở Huế, những ngày sắp Tết đám trẻ như luôn cảm thấy niềm vui rạo rực, niềm hạnh phúc vô biên; không khí trong gia đình lúc nào cũng rộn ràng ấm cúng.

Tối hai bảy Tết anh đến quán, không ngại ngùng, sợ sệt bước thẳng vào nhà.. Hải Đường đang ngồi nói chuyện với Ba Mẹ, ánh mắt cô ngạc nhiên lẫn chút lo lắng. Anh gật đầu chào Ba Mẹ cô:
– Cháu chào hai bác.
Anh xoay về hướng cô chìa tấm thiệp chúc tết và nói:
– Gởi Hải Đường tấm thiệp chúc Tết.
Cô lí nhí:
– Cám ơn…
Hải Đường cũng có tấm thiệp chúc Tết định chờ anh lên để gởi tặng. Nhưng trong tình thế như vậy cô không thể vào lấy đem ra dưới con mắt giám sát của Mẹ, nên chỉ biết nhìn anh như một lời tạ tội mà thôi. Anh không nán lại để uống cà phê như mọi hôm mà đi về ngay.
Tối vào phòng ngủ Hải Đường mới mở tấm thiệp của anh ra. Cũng một tấm thiệp có đóa hồng nhung đỏ thắm rất đẹp, lớn hơn tấm thiệp năm ngoái. Bên trong kẹp hai mảnh giấy hồng và trắng. Bốn câu thơ ghi trên mẫu giấy trắng và lời chúc tết ghi ở giấy hồng:

Yêu em tôi hái trăng mơ
Lấy mây chắp nối làm thơ cho tình
Lấy sao làm chiếc độc bình
Cắm hoa hàm tiếu cho mình gần nhau.

Lá thư được đặt ở trong tấm thiệp, khi đó Hải Đường vẫn chưa nhìn thấy cho đến lúc đặt lại tấm thiệp vào lại bì. Anh viết: “Sớm mai họ về. Nhớ lắm, sẽ cố gắng vô sớm. Hãy đợi nhé!”

Ông Giao không về quê ăn Tết như Hải Đường mong đợi . Quanh quẩn suốt thời gian trước và những ngày Tết trong nhà cô. Trừ những lúc phải vào đơn vị ứng trực, còn không lúc nào vắng mặt khiến Hải Đường vô cùng khó chịu .Vì ngày Tết nên không thể tỏ thái độ khó chịu ra mặt được.
Hải Đường thường so sánh giữa anh và ông Giao, một trẻ con và một người lớn. Ông Giao có dáng người thấp đậm, dáng đi cứng cáp, cách nói mạnh mẽ, dứt khoát, môi luôn mím lại khi sắp diễn đạt một điều gì. Mẫu người như ông xứng đáng đại diện cho giới quân đội. Một sĩ quan nghiêm khắc, chững chạc. Anh, một thư sinh luôn có một nụ cười mỉm trên môi. Khi cười anh diễn đạt tình cảm bằng cả khuôn mặt. Từ mắt, môi cho đến hai gò má, hai cái lúm đồng tiền làm anh tươi hơn, trông như một đứa trẻ. Một cậu bé có tâm hồn của người lớn. Một tâm hồn lãng mạn mà anh đã biểu lộ qua cái nhìn, cách nói chuyện với bạn bè, cách đi đứng và cả những lúc đăm chiêu.
Người Hải Đường không yêu thương muốn cưỡng đoạt làm vợ bằng mọi cách. Người cô mong đợi lại không dám nói lời yêu thương.

Tết rồi cũng qua, Hải Đường trở lại với trường lớp. Không được vui như trước nữa nhưng ngày đầu năm cô cố gắng hòa đồng với bạn bè, hỏi thăm mọi người ăn Tết có vui không? Điều cô mong đợi bây giờ là được trông thấy anh nhưng bóng dáng anh vẫn không thấy đâu? Hải Đường hay lo sợ vẩn vơ vì không biết anh trở về bằng phương tiện gì, có đi đến nơi về đến chốn hay có điều gì xảy ra với anh . Lòng cô như lửa đốt. Sân trường vắng vẻ hơn. Mọi cảnh vật chung quanh như bất động.
Rồi ngày vui cũng đến. Anh trở vào sau Tết một tuần, trông bơ phờ, hốc hác. Tối đó anh đến quán muộn hơn thường ngày. Lúng túng tìm chỗ ngồi vì cái bàn quen thuộc đã có người khác chiếm hữu mất rồi. Người đàn ông này không quay lưng lại như anh.

Hai cái ghế kéo lại chỗ góc sân gần lối ra vào, một cái làm bàn, anh ngồi dựa vào tường nhìn Hải Đường đang học bài. Cô đã nhìn thấy anh vào nhưng cố tình làm ngơ, vẫn cúi đầu nhưng trái tim đập liên hồi.
Anh đốt thuốc. Giả như không thấy nhưng Hải Đường biết anh đang chăm chú nhìn . Không chịu nổi cái nhìn của anh, lát sau cô quay lại mỉm cười. Anh cười đáp lại và nháy mắt chỉ người đàn ông đang ngồi nơi chiếc bàn dưới giàn bông giấy. Hải Đường lắc đầu. (sau này người mà anh muốn hỏi là ai. Đó chính là anh Thịnh, sẽ nói rõ hơn ở phần sau).

Hải Đường xếp sách vở, đứng dậy, tay cầm cuốn sách kẹp lá thư gởi anh lúc đi ra quầy, cô viết: “Họ chờ, đi lâu dữ rứa!” Lát sau anh bước đến quầy, nhẹ nhàng đẩy mảnh giấy viết vội : “Không còn giận nữa chứ?”. Hải Đường không trả lời mà chỉ lắc đầu khi anh quay về ngồi lại chỗ cũ. Suốt buổi tối đó cả hai chỉ biết mỉm cười với nhau. Ánh mắt họ đã nói với nhau những lời thương nhớ.

Sau Tết nửa tháng ông Giao về thăm nhà. Ngày trở lại ông tặng Hải Đường đủ thứ quà. Từ sách vở, bút viết đến chiếc kẹp tóc… Cô không thể không nhận nhưng chưa một lần đụng đến chúng. Thái độ bất cần của cô, Mẹ và ông Giao đều nhận ra nhưng không nói gì.. Hải Đường càng tỏ ra lạnh nhạt, ông Giao càng đeo đuổi quyết liệt hơn, càng cố lấy cảm tình với mẹ nhiều hơn. Điều đó làm cho cô khó chịu và cảm thấy áp lực vô cùng nặng nề.

Một buổi tối thứ bảy Hải Đường không phải học bài, cô xuống phụ mẹ pha cà phê cho khách. Anh đến quán sớm hơn cùng với hai người bạn. Nhìn ra cửa, cô mỉm cười, anh cũng vẫy tay, cười với cô và nói gì đó với hai người bạn. Cặm cụi làm việc nhưng trong lòng rất vui vì được nhìn thấy anh nên không để ý đến Mẹ đã bước ra quán. Sau đó anh theo Mẹ vào trong nhà, ngồi xuống hai chiếc ghế đối diện. Linh tính có điều gì không hay đang xảy ra, Hải Đường đứng gần cửa lên xuống lắng nghe mẹ nói gì với anh. Mẹ nói rất nhỏ, cố gắng lắm cũng chỉ nghe được vài từ.. Cô biết anh không cần nghe, không muốn nghe gì hết vì những điều bà nói anh biết trước rồi. Bà nói rất nhiều. Khoảng mười phút sau cô nghe anh xin phép để ra ngoài với bạn. Bước chân anh nặng nề đi qua khoảng sân trống, đầu anh cúi xuống và chắc là anh đang giận. Hải Đường nghĩ vậy.

Hai ngày sau đi học lại Hải Đường không nhìn thấy ánh mắt và nụ cười của anh. Nhìn dáng anh đi buồn bã, trong lòng cô xót xa lắm nhưng không thể nào đến hỏi chuyện gì đã xảy ra giữa mẹ và anh.

Đó là thời gian bước vào kỳ thi học kỳ 2 năm lớp 10. Hải Đường không còn tâm trí đâu ôn bài vở để thi. Không gặp nhau suốt tuần, cô nhớ và thương anh lắm nhưng không có cách nào liên lạc được với anh. Mười ngày sau anh đến quán, ngồi hút thuốc liên tục và không hề nhìn cô lần nào. Lúc học xong, Hải Đường bước ra quầy, anh đến tính tiền, trao vội cho cô mảnh giấy. Anh viết: ” Phải quay về nhà thôi. Mình gặp nhau một lần nhé Được không?”

Trời ơi! Tình yêu của Hải Đường chỉ có vậy thôi sao? Cô buồn, nước mắt chảy dài suốt đêm. Hải Đường thương cho tình yêu vừa chín, thương anh vô cùng. Anh đến với cô bằng con người khác không giống như cái bề ngoài của mình,sôi nổi và nghịch ngợm. Anh đến bên cô bằng trái tim nồng cháy, tâm hồn lãng mạn nhưng với nụ cười buồn.

Được không?! Một câu hỏi khiến tim cô tan nát. Một cuộc gặp chẳng để làm gì. Chẳng cứu vãn được gì nhưng là cần thiết. Thật ra điều này là không dễ đối với Hải Đường trong lúc này. Được không? Một câu hỏi xé nát tim cô.

Hải Đường biết anh đã vượt qua bao nhiêu khó khăn để được có tình yêu này. Anh đã từ chối lời gọi về của gia đình mà ở lại đây cho đến lúc này cũng vì cô.
Được không?
Một ý nghĩ táo bạo và bất ngờ trong cô. Trốn học và một ngày với riêng anh.
Hôm sau đến trường Hải Đường trao vội mảnh giấy cho anh lúc giờ ra chơi trên hành lang của lớp: “Hải Đường cần nói chuyện với anh. Mai mình gặp nhau buổi sáng nhé.”

Hôm sau cả hai vẫn đi học bình thường dù không có giờ học buổi sáng. Hải Đường nói dối với Mẹ trưa ở lại để chiều tiếp tục thi học kỳ.
Đây là lần đầu tiên Hải Đường liều lĩnh bước chân ra khỏi nhà mà Ba Mẹ không biết cô đi đâu. Con bé mười sáu tuổi như cô dám làm một chuyện động trời như vậy. Trốn học một ngày để đi theo tiếng gọi của tình yêu. Với người lớn ngày đó quả là một chuyện không thể chấp nhận được.
Hai người đi bên nhau như bạn bè. Bước chân đưa đẩy họ về phía biển lúc này vắng hoe, nắng lên chói chang. Anh cầm tay cô dẫn đến bên gốc dừa sát biển và ngồi xuống.
Hơn mười ngày rồi họ chưa được nói với nhau một lời nào, đến lúc đã ngồi bên nhau rất lâu rồi vẫn còn ngại ngùng. Cả hai quên hết những lo lắng, tim vẫn đập nhưng nhịp đập bây giờ có lẽ khác hơn, vội vã, rộn ràng, không thứ tự, nhịp sau như chồng lên nhịp trước. Anh nhẹ nhàng cầm tay Hải Đường. Bàn tay cô run run:
– Mình liều quá anh! Lỡ ai bắt gặp thì chỉ có chết.
Anh nắm chặt hơn:
– Ừ, liều thật nhưng anh không sợ. Chỉ lo cho em thôi. Chuyện mình buồn quá.
– Anh định quay về thật sao?
– Có lẽ vậy, anh xin lỗi đã làm cho em buồn. Đã hứa với Mẹ rồi, sẽ không đến tìm nữa. Nhưng đêm khuya không ngủ được, không học hành được chi hết.
– Vậy còn chuyện mình…?
Anh thở dài, im lặng khá lâu rồi thầm thì:
-Đây chỉ là nơi anh đến trọ, đến thì có ngày phải đi. Anh ghét vùng đất này nhưng chân lỡ vướng sợi tóc em rồi. Lẽ ra anh đã trở về từ năm học vừa qua nhưng em đã giữ anh lại..
– Anh gỡ sợi tóc ra rồi hay sao mà lại muốn về?
– Không! là mẹ em đã buộc anh gỡ nó ra.
– …
– Thi học kỳ xong anh sẽ quay về với gia đình, trường cũ. Đành phải vậy.
Hải Đường hỏi anh:
– Mẹ đã nói gì với anh hôm đó?
Anh hơi nhăn mặt, chậm rãi từng tiếng một:
– Mẹ nói nhiều lắm. Nói rằng nếu anh thương em thì hãy rời xa để cho em hạnh phúc, tương lai em tươi sáng hơn. Mẹ nói: “Cháu còn nhỏ lắm. Hải Đường thì đã đến tuổi lấy chồng được rồi. Cháu chỉ là cậu học trò mười sáu, mười bảy tuổi làm sao có thể…”
– …
– Mẹ em nói đúng. Anh chỉ là thằng trẻ con. Mẹ còn nói em đã đồng ý lấy ông Giao nhưng chưa tiện cho anh biết thôi. Đúng vậy không?

Hải Đường ngước mắt nhìn anh:
– Không đúng! Em không nói điều đó và cũng không bao giờ có ý định đó. Em ghét ông ấy. Em đang tìm cách trì hoãn để rồi trả lời không đồng ý. Nhất định em sẽ làm được.
– Không làm được đâu. Em không đủ sức. Mình còn nhỏ, không lường trước điều gì sẽ xảy ra. Anh chưa đủ lớn để bảo vệ được em. Hơn nữa anh ở xa lắm, đang sống nhờ Bà cô nơi đây thì làm sao cùng em chống chọi lại được. Ông ấy dù sao cũng là một sĩ quan, một người học thức. Ông ấy có mọi thứ, còn anh chỉ là thằng trẻ con..
– Em sẽ tìm cách trì hoãn đám hỏi cho đến khi thi xong tú tài rồi đi tìm việc làm đâu đó…
Anh ném nắm cát ra xa, quay lại nhìn xoáy vào mắt Hải Đường. Đôi mắt anh lộ vẻ giận dữ, tuyệt vọng:
– Em có biết Mẹ nói gì với anh không?
Hải Đường thoáng sững sờ trước cơn giận dữ bất ngờ của anh:
– Mẹ đã nói gì?
Anh lắc đầu không trả lời câu hỏi của tôi.

Mãi mãi cho đến tận bây giờ, khi hai người đã gặp lại nhau, hoặc khi gọi điện thoại thăm nhau, Hải Đường có hỏi lại anh điều bí mật ấy anh cũng chỉ lắc đầu, không nói ra. Điều bí mật của câu nói vẫn chìm sâu trong tâm hồn anh.

– Anh muốn mình xa nhau phải không?
– Không muốn! Không bao giờ anh muốn điều ấy. Anh có thể ở đây đợi em một hai năm nữa. Nhưng không thể được. Không bao giờ được. Em không hiểu.
– Vậy sao anh lại có ý định quay về?
Anh lay nhẹ vai cô:
– Anh không muốn về nhưng phải làm vậy.Anh chưa phải là người lớn như họ nhưng có lòng tự trọng và không muốn em đau khổ vì anh.
Hải Đường không gặng hỏi anh nữa. Cô kể cho anh nghe mọi chuyện xảy ra, cho anh biết cô phải chịu đựng và chống chọi lại như thế nào. Anh im lặng lắng nghe cho đến khi Hải Đường dừng lại.
Rồi bất ngờ anh đưa hai tay ôm đầu cô, xoay lại:
– Cách đây mấy hôm anh đến quán sớm và đã nhìn thấy em nhận gói quà của một ông sĩ quan, phải không? Ông ấy đã đến chiếm chiếc ghế của anh dưới cây bông giấy.
Anh hỏi thật đột ngột khiến Hải Đường bối rối. Cô đã cố tình giấu anh chuyện này nên trả lời:
– Ông Thịnh nhờ em giữ bức tranh, chỉ có vậy thôi. Em chưa mở nó ra.
Anh nhìn thẳng vào mắt cô:
– Tại sao em nhận? Bức tranh vẽ gì, em biết không?
Hải Đường hơi run vì câu hỏi tiếp theo của anh:
– Họ gởi thì mình nhận… có sao đâu anh?
Anh rút tay về ngồi bó gối, nét mặt nhìn xa xăm:
– Anh hỏi em lần nữa. Bức tranh ấy vẽ cái gì? Có phải một cô thiếu nữ xinh đẹp ngồi dưới ánh đèn màu không?
Hải Đường giật mình. Làm sao anh có thể biết rõ đến như vây. Cô nói:
-Nhưng sao anh lại nghĩ đó là chân dung của em?
Anh không trả lời câu hỏi này của cô. Lúc đó Hải Đường hơi hoảng vì sao anh có thể biết bức tranh ấy của ông trung uý Thịnh vẽ nàng thiếu nữ ngồi bên ánh đèn là cô. Đó là sự thật. Hải Đường đã nhận bức tranh ấy vì thấy nó đẹp và có hồn. Hơn nữa, nhân vật trong bức tranh là mình.

Hải Đường mong được hạnh phúc bên anh hôm đó. Mong được anh vỗ về, an ủi. Nhưng không phải như vậy. Hai người tranh cãi nhau rất nhiều.
Anh giận dữ đứng dậy và cô cũng vậy. Sau này mỗi lần nghĩ lại Hải Đường thấy hối hận nhưng lại bật cười chua chát rằng sao hồi đó cả hai quá trẻ con đến dại khờ như vậy. Ngu ngơ đến mức đánh mất cả mối tình đầu của mình.
Cả hai không ai nhường nhịn ai. Không ai chịu lên tiếng xin lỗi. Đến gần trường anh buồn bã nhìn cô bước qua cánh cổng sắt, còn anh vào quán nước bên kia đường.
Tan học, Hải Đường vội vã bước ra khỏi cổng trường dáo dác tìm anh. Tần ngần ngay giữa đám bạn khiến mọi người ngạc nhiên về thái độ của cô. Nhìn khắp chung quanh vẫn không thấy bóng dáng anh đâu.
Bỗng từ phía dưới ngược lên, chiếc xe jeep quân đội chở một ông sĩ quan trờ tới bên cạnh. Hải Đường hốt hoảng tránh dạt vào lề đường. Người ngồi trên xe là một ông khách đeo đuổi cô bấy lâu, ông ta làm việc ở quân trường Pháo binh. Hải Đường đã nhiều lần tỏ thái độ lạnh nhạt, khó chịu nhưng ông ấy vẫn cố tình như không nhận biết.

.Bước xuống xe đứng cạnh Hải Đường ông ta lên tiếng:
– Hải Đường ! Mời em lên xe tôi đưa về.
Hải Đường không trả lời. Miệng cô mim chặt. Cơn giận dữ xen lẫn lo lắng khiến Hải Đường không thể bình tĩnh được nữa:
– Tôi không về. Ông đi đi.
Hải Đường vội vã băng qua đường dưới ánh mắt ngạc nhiên của mọi người. Đoạn đường về nhà sao mà dài lê thê. Tâm trạng cô thật nặng nề nhìn xuống lòng đường. Con đường nhựa cứ lướt qua, lướt qua đắng sau xe, mang theo nỗi buồn, nỗi bực dọc trải dài .
Tối đó anh lên quán rất muộn. Không ngồi ở cái bàn quen thuộc nữa mà chọn một bàn khác, sát bên đường luồng vào nhà. Hải Đường đã ra ngồi quầy, anh xoay mặt về hướng cô, hút thuốc liên tục. Khuôn mặt anh bất động, lạnh băng, vô hồn. Linh tính như có điều gì không hay đang xảy ra. Một linh cảm như sẽ mất anh mãi mãi bùng lên trong cô. Nước mắt Hải Đường chảy dài xuống má. Cô không còn sợ sệt gì nữa. Ném cái nhìn giận dữ vào ông Giao đang ngồi bên chiếc bàn giữa phòng khách, vội vào nhà tìm tấm hình vừa mới chụp cách đây hai tháng, gói cẩn thận và đi đến bên anh, nhẹ nhàng đặt trên bàn:
– Anh sao vậy? Không thể nhìn anh như thế được. Anh về nghỉ, sáng mai đi học mình gặp nhau nghe.
Anh vẫn không ngước nhìn. Đầu gục xuống, khuôn mặt vẫn lạnh băng.
– Anh nhớ cất cẩn thận tấm hình của em.
Khi không còn người khách nào nữa anh mới đứng dậy bước ra khỏi quán sau khi nhét tấm hình cô đặt trước mặt vào túi áo.
Đêm sau và đêm sau nữa cũng vậy, anh đến uống cà phê và hút thuốc liên tục. Không mỉm cười với cô. Khuôn mặt như tượng đá.
Lần cuối cùng Hải Đường nhìn thấy anh ở quán lúc đó đêm đã khuya lắm rồi. Ông Giao vẫn còn ngồi nơi chiếc ghế trong phòng khách. Anh nặng nề đứng dậy ra về, không nhìn cô. Dáng anh liêu xiêu bước ra khỏi cửa, đưa hai tay lên vuốt mặt. Hình như anh đang nén lại những giọt nước mắt. Bóng anh khuất hẳn về phía trái.
Anh vĩnh viễn không bước vào quán cà phê Hải Đường một lần nào nữa.

Ba đêm liền anh đến ngồi bên chiếc bàn xa lạ, hút thuốc liên tục và không đến quầy trả tiền như mọi lần.

Đã thi xong học kỳ 2, xem như đã xong một năm học, nhưng Hải Đường cũng phải đến trường bình thường như mọi ngày. Cô vào lớp nhưng tâm trí để nơi anh đang ngồi cách lớp học của cô hai phòng. Có lẽ anh cũng đang gục đầu trên bàn. cô nghĩ vậy. Hải Đường hình dung nụ cười của anh, đôi mắt hay nhìn nghiêng đáng ghét. Cô nhớ dáng anh ngồi trước ly cà phê, hút thuốc liên tục. Nhớ dáng anh bước ra khỏi quán đêm trước, nặng nề cúi đầu, hai tay ôm mặt.

Bỗng nhiên Hải Đường hoảng sợ rồi bật khóc, úp mặt xuống bàn học.
Có tiếng bước chân vội vã bên ngoài hành lang. Nhanh dần, nhanh dần về phía phòng học của Hải Đường. Như một linh tính bất an, cô ngước mặt lên nhìn ra ngoài, nơi tiếng bước chân đến gần.
Anh hiện ra, lướt đi bên ngoài khung cửa. Anh bước nhanh nhưng cũng cố quay đầu nhìn vào. Hải Đường chạm đôi mắt anh trong mắt mình. Nét mặt anh buồn lắm. Khi anh lướt qua khỏi phòng học, cô hốt hoảng đứng dậy, bước ra ngoài hành lang nhìn theo anh. Anh đến cuối hành lang, xuống cầu thang. Cô chồm người qua lan can nhìn xuống sân trường.
Bóng anh mờ mờ dưới tán cây phượng rủ lá. Màu hoa phượng choàng lên người anh một màu đỏ rực. Anh mất dần, mất dần dưới sân trường rồi tan biến sau hai cánh cổng sắt.
Lần cuối cùng Hải Đường nhìn thấy anh. Cô mất anh từ đó!

Anh ra đi sau ba đêm liên tục đến ngồi trên chiếc bàn xa lạ sát đường luồng vào nhà trong.
Uống ba ly cà phê và hút không biết bao nhiêu điếu thuốc.
Anh nợ Hải Đường ba ly cà phê. Còn cô nợ anh nửa cuộc đời mình.

Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày không thấy anh đi học. Không còn thấy bóng anh ngồi dưới giàn hoa giấy đỏ. Không tìm thấy ánh mắt và nụ cười của anh khiến Hải Đường hoang mang. Về nhà, không nói với ai một câu nào. Mẹ có hỏi gì cô cũng im lặng.
Hải Đường nuốt nỗi buồn vào trong để đến trường, không để lộ ra cho bạn bè biết chuyện gì xảy ra. Lúc nào cũng như muốn khóc, có lẽ mọi người nghĩ cô buồn chuyện Ba Mẹ bắt lấy chồng nên cũng không hỏi điều gì, chỉ nhìn nhau ái ngại.
Một tuần sau đó Hải Đường mới tin chắc rằng anh đã bỏ đi. Không một lời từ biệt. Anh không hề nói đã hờn giận hay oán trách cô. Hải Đường không biết gì hết ngoài hình ảnh anh bước vội trên hành lang buổi chiều hôm trước. Tiếng bước chân và ánh mắt buồn rười rượi của anh cứ ám ảnh cô suốt nhiều năm sau này.
Anh đã dứt khoát ra đi. Có lẽ anh đau khổ nhiều lắm khi bỏ lại đây một mối tình thơ dại. Hải Đường nghĩ vậy.
Nhưng còn một lý do khác khiến cô suy nghĩ. Không hiểu vì sao ra đi mà anh không từ giã lời nào với cô. Đi đâu về đâu cô không thể biết được. Hải Đường lại có ý nghĩ giận anh, hay anh về thành phố của mình với một người con gái nào khác. Cô nhớ thương anh lẫn lộn với một chút giận hờn, ghen tương khiến tim cô như thắt lại. Phải chi trước lúc ra đi anh cho Hải Đường một lời giải thích, hoặc một câu từ giã có lẽ đời cô sau này cũng đỡ ray rứt hơn.
Đúng vậy! Hải Đường đã ray rứt suốt cuộc đời còn lại của mình. Sau này có gia đình rồi cũng vậy. Cô đã cố gắng quên đi, giấu đôi mắt u buồn của anh lúc ấy vào tận sâu trong trái tim mình để làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ trong gia đình. Hải Đường đã làm được điều ấy một cách thật khó khăn.

Nhiều đêm, Hải Đường ôm hai tấm thiệp chúc tết và những lá thư anh gởi vào lòng để ngủ. Cuốn Đặc San hè 1973 có hai bài viết của họ. Nếu tinh tế, sâu sắc hơn, mọi người sẽ nhận ra nhiều điều giống nhau ở hai bài này. Cái buồn man mác, cái hụt hẫng của người con gái khi sắp chia xa người mình yêu thương để lấy chồng, cô đã gởi gắm vào trong bài viết ấy. Hải Đường và anh đã chia sẻ buồn vui trong tháng ngày qua, hòa tan trong những câu văn mình viết.
Thật ra hai bài văn ấy là đứa con tinh thần, cùng tác giả là của hai người. Anh học toán nhưng lại viết văn rất hay, lôi cuốn người đọc. Còn Hải Đường tuy học văn nhưng bài của mình luôn cần đến góp ý, chia sẻ của anh.
Cuốn đặc san này Hải Đường vẫn còn giữ cho đến hôm nay cùng với những lá thư và hai tấm thiệp chúc Tết như một kỷ vật quý giá đời mình.

NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

BÀI HOAN CA Ở A 38 (26+27)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Phần 26

Nơi đầu tiên hắn đến là Văn Sơn. Giữa con đường tráng nhựa, bề ngang khoảng 8m, chạy từ Phan Rang xuống Ninh Chữ là làng Văn Sơn. Làng gồm non 100 nóc nhà, nằm hai bên đường. Dân ở đây đa số là chủ rẫy hành tỏi ở Bình Sơn. Làng có nhiều hàng chè, hàng cháo, quán nhậu…những nơi cần nước đá.
Hắn chào vài nơi nhưng đều được trả lời là: có mối rồi. Hắn hơi thất vọng.
– Thầy, Thầy, con mời Thầy.
Hắn theo đứa học trò cũ vào ngồi ở quán cà phê ven đường.
– Thầy uống gì con gọi.
– Cho thầy ly đá chanh.
Đây là học sinh trường Nguyễn Công Trứ, tên Phải. Hắn nhớ Phải là học sinh học giỏi nhưng nghèo nhất lớp và phải nghỉ học giữa năm lớp 9.
– Con bây giờ làm gì?
– Con vừa ở nước ngoài về.
Hắn ngạc nhiên:
– Nước ngoài về?
– Dạ, thì vụ tàu Vĩnh Hy đó Thầy. Ai bị chở đi, muốn về, họ cho về.
– Bị chở đi là sao?
– Dạ, như em theo tàu ra Vĩnh Hy mua mắm cá thu về cho HTX, bị chở đi luôn. Những người như em nhiều lắm.
Phải tiếp:
– Thầy nhớ thằng Thuận không? Nó gởi lời về thăm Thầy Cô và các em.
– Thuận…
– Dạ, nó và gia đình đi Mỹ.
Hắn nói với Phải lý do Hắn có mặt ở Văn Sơn, nghe xong Phải nói:
– Để con đưa thầy đến Dì Bảy.
Dì Bảy khoảng 35, hai con, có chồng vừa bị CS tuyên án 17 năm tù, hiện giam ở Trại Sông Cái. Đây là một trong những người “đả đảo CS”, muốn lật đổ CS đầu tiên ở Ninh Thuận, và cũng của cả Miền Nam. Vụ việc làm bất ngờ mọi người, nhất là những cán bộ từ ngoài Bắc chi viện. Vụ việc xảy ra lúc Hắn còn ở A.38.
Nếu đi về hướng Ninh Chữ thì nhà dì Bảy ở bên trái con đường. Đó là căn nhà có bề ngang hơn 10m, phía sau xây gạch, mái ngói, nhưng phía trước lại lợp tôn, trống hoác. Hắn nghĩ đây là phần che thêm để Dì bán, buổi sáng: bánh canh, buổi chiều: bánh căn và suốt ngày bán cà phê bình dân.
Phải nhìn ra nhà sau, gọi:
– Dì Bảy ơi, Dì Bảy.
Có tiếng bước chân lẹp xẹp:
– Ai đó?
– Con đây.
Phải giới thiệu Hắn.
– Đây là thầy dạy con lúc con học ở Nguyễn Công Trứ.
– Chào Thầy.
– Chào … Dì.
– Thầy mới đi Học Tập Cải Tạo về. Thầy…
Hắn ngắt ngang.
– Tôi bỏ nước đá cây, ghé hỏi xem Dì có cần không?
– Bỏ đá… Thầy giáo bây giờ mất… dạy, làm đủ thứ nghề, nhưng không ai hành nghề bán nước… đá như Thầy.
Phải chen ngang:
– Bán nước đá… Đừng nói thiếu chữ ”đá”… bán nước … là chết thầy con…
Dì Bảy nhìn Hắn vẻ ái ngại.
– Thưa Thầy, tôi cần mỗi ngày vài cây 50, nhưng đã có mối bỏ rồi.
Phải đề nghị.
– Thì Dì lấy bên kia một nửa, thầy con một nửa…
Dì Bảy sau chút đắn đo.
– Thôi… Thầy đợi tôi vài hôm, chờ tôi điều đình với mối cũ xem sao đã.
– Cảm ơn Dì.
– Có gì tôi sẽ báo với Phải nhắn thầy.
Hắn và Phải chào Dì và bước ra khỏi cửa nhà Dì Bảy.
Chiếc 68 bên kia đường nơi quán cà phê Phải vừa mời Hắn uống ly chanh đá:
– Con sẽ báo ngay khi Dì “điều đình” xong.
– Cảm ơn em.
Hắn lên xe, 68 trườn tới, tiếng Phải vói theo:
– Thầy chạy cẩn thận…
Sáng hôm sau Hắn dậy sớm, chạy ra hãng Nam Anh, lên 1 cây đá, ràng ở bọt- ba-ga và chạy xuống Văn Sơn. Hắn dừng 4 lần, chặt làm 4 khúc, bỏ cho 4 chỗ, dọc hai bên, gần hết đoạn đường chạy qua Văn Sơn.
Hắn tiếp tục chạy xuống Cửa. Hắn nhìn thấy chiếc tàu Vĩnh Hy, trước đây lãnh công nghệ phẩm xong, chạy thẳng ra biển đông, không về, đang đậu ở bến cảng… Hắn nghe nói sau vài tháng, chiếc tàu được trả lại cho Việt Nam từ Indonesia. Bây giờ nó đậu chình ình ở bến cũ, làm công việc cũ, chuyển công nghệ phẩm cho Vĩnh Hy.
Hắn nhìn chếch phía Tây Bắc, chiếc cầu Tri Thủy bắc qua cửa đầm Nại, nơi đầu cầu bên này, còn khung sườn trường Đinh Bộ Lĩnh xây dở. Qua cây cầu này, đi thẳng thì đến nhà Tổng Thống Thiệu, cua phải, men theo núi đá là đụng làng nhỏ chuyên nuôi dê và làm nghề biển… Đó là cuối đường, xe không chạy tiếp được, kể cả xe đạp. Theo hướng đó, cách 20km là Vĩnh Hy. Vĩnh Hy là một cái vịnh, như Vũng Rô, Cam Ranh… Bao bọc chung quanh là những ngọn núi riêng lẻ, như từ dưới nước chui lên. Nước trong vịnh lúc nào cũng xanh ngắt, phẳng lặng cho dù biển có gió to sóng lớn. Điều đặc biệt của Vĩnh Hy là hàng năm, có vài tháng cá thu tập trung về đầm dày đặc, nhìn xuống nước thấy cá lúc nhúc như… dòi… và cũng hàng năm Tỉnh mở thầu, ai trúng thầu mới được đánh bắt.
Nếu nhìn từ Cà Ná, dãy núi chạy từ Vĩnh Hy đến Đầm Nại giống như hình Rồng Chầu, đuôi ở Vĩnh Hy, đầu gác Đầm Nại.
Bên bến cảng Cửa có cái chợ nhỏ, bên đường chạy quanh chợ có nhiều quán xá, tạp hóa, hủ tiếu, cà phê, có cả cửa hàng bán dụng cụ biển: lưới, chì, cần, lưỡi… v.v… Ở đây Hắn cũng gặp lại học sinh cũ, cũng được đưa đi giới thiệu, như Phải đã giới thiệu Hắn với Dì Bảy ở Văn Sơn.
Sáng ngày thứ hai, Hắn lên hai cây 50, và cứ như vậy, ngã Văn Sơn-Ninh Chữ lên 5 cây mỗi ngày trong chưa đầy một tuần lễ. Chị Nam Anh khen:
– Thầy giỏi thiệt…
Xuân, chàng thanh niên mất một bàn tay lại là người lên đá cừ nhất hãng Nam Anh:
– Thầy giỏi thiệt.
Ai cũng đều khen Hắn giỏi, vì không ai biết Hắn có không biết bao nhiêu người tiếp sức. Đó là những học sinh mà hắn đã dạy trước 75. Điều Hắn thành công nhất và tự hào nhất sau hơn 10 năm làm nhà giáo là có đến 90% học sinh Hắn dạy đều thương Hắn. Bây giờ tình thương ấy được dịp kiểm chứng và thể hiện. Rất nhiều lúc, các em học sinh thấy Hắn chờ khách bên đường…
– Thầy ơi…
Rồi giấu mặt, khóc ròng… Những lúc như vậy, Hắn an ủi học sinh và chính Hắn:
– Ai cũng khổ, đâu chỉ riêng một mình thầy…
Tiền kiếm được từ một cây đá mua được 1kg gạo loại nhì. Hắn chỉ mong kiếm đủ gạo cho gia đình. Bỏ được 5 cây đá là có 5kg gạo. Từ đây vợ chồng Hắn bắt đầu có chút dư, để dành.
Xuân nói:
– Anh chuẩn bị trấu để rải lên yên xe trước khi để cây đá lên. Trấu làm cây đá bớt trơn trượt.
Xuân, nguyên là công nhân hãng đá Mỹ Đức, do một nhà tư bản ở Saigon ra thành lập. Nghe rằng ông ta có đến 16 hãng nước đá ở các địa phương dọc bờ biển nổi tiếng nghề đánh bắt. Đá của ông chuyên cung cấp cho ghe tàu đánh bắt xa bờ, một ít dùng muối tiếp cá đi cao nguyên. Một lần máy ngừng vận hành, Xuân được lệnh lặn xuống bể nước để sửa, bị cánh quạt chặt mất bàn tay phải. Trước ngày Phan Rang giải phóng, ông chủ biệt tăm. Hãng đá của Tư Sản Mại Bản, diện tịch thu, giao HTX thủy sản quản lý, kể cả hãng đá Nam Anh. Nhưng gia đình anh chị Năm được nhà nước ưu tiên phân phối lại với giá tượng trưng 2 dãy, mỗi dãy 10 khuôn tức 20 cây 50 kí. Xuân về hãng Nam Anh theo phân công của HTX.
Hắn hỏi Xuân:
– Em thấy người ta chở -bằng Honda như anh- được bao nhiêu cây một lần?
– Ở hãng Mỹ Đức tối đa 4 cây, nhưng ở đây 3 cây.
– Sao vậy?
– Mỹ Đức đường phẳng, Nam Anh phải lên dốc.
Xuân nhìn Hắn cười nói:
– Anh không thấy “Dốc Nam Anh” sao? Nó tức ngược, đã có nhiều xe lọt mương.
Từ ngã ba Tam Giác đi về hướng NhaTrang chừng 300m có một cái cống ăn sâu dưới mặt đường, dẫn nước Đồng Cây Mét bằng một con mương nhỏ. Đầu dốc, so với con đường, chạy dọc theo bờ mương là rất cao, gần như dựng đứng. Đầu con đường này là nhà ở của gia đình anh chị Năm và hãng nước đá Nam Anh.
Hắn e ngại:
– Anh…
– Anh không phải tay chuyên nghiệp, nên chở 2 cây là vừa.
Xuân giúp Hắn nhiều việc mà Hắn không tự làm được nếu không có người phụ: rải trấu, lên đá, buộc dây cao su, thậm chí cả việc đẩy xe chồm tới để cây chống bật lại vị trí xe di chuyển cũng nhờ Xuân phụ đẩy. Mỗi buổi sáng Hắn chở 2 chuyến, mỗi chuyến 2 cây rưỡi. Mỗi lần lên dốc Hắn hồi hộp đến run tay lái. Nếu lên nửa chừng mà xe hết trớn tuột dốc là lọt xuống mương ngay.
Buổi chiều Hắn ra chỗ sửa xe nhờ Út Sáu tìm mua cái rờ-mọt.
– Anh kéo đá…
– Em biết rồi…
– Em giúp giùm…
– Anh cần gấp phải không? Em sẽ “lùng” cho anh ngay.
Buổi tối Út Sáu vô nhà.
– Có rồi, nhưng tận Tháp Chàm.
– Họ bán bao nhiêu?
– Em không hỏi. Anh chị hỏi giá và quyết định.
Út Sáu đưa cho Hắn mảnh giấy.
– Địa chỉ đây.
Ngay tối đó, Hắn chở Vân đi Tháp Chàm và cũng ngay đêm đó Hắn và Vân kéo cái rơ-mọt về nhà. Mua được cái rơ-mọt, hai vợ chồng đều vui, nhất là Vân cứ nhìn cái rơ-mọt mà cười.
Hôm sau khi xong hai chuyến đá đi Văn Sơn và Cửa, hắn đem xe 68 và cái rơ- mọt ra giao cho Út Sáu.
– Anh để đó, em sẽ “độ” cho.
– Em…
– Em sẽ “độ” cho anh kịp sử dụng sáng mai.
– Được như vậy, anh thưởng liền.
Buồi chiều Út Sáu lái 68, phía sau kéo cái rờ-mọt, chạy vô hẻm Quang Trung. Vân và Hắn cùng 4 đứa con chạy ra đứng nơi hiên nhà nhìn Út Sáu lái biểu diễn. Lần đầu tiên kể từ 16/4/75, gia đình Hắn nở đủ 6 nụ cười.
Sáng hôm sau Hắn lên 68, kéo theo rờ-mọt. Hắn thấy vừa mừng vừa lo, thời cha sanh mẹ đẻ tới giờ Hắn có kéo rờ-mọt bao giờ đâu. Hắn chạy chậm, thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra phía sau nơi rờ-mọt chạy theo có an toàn hay không.
Xuân cười:
– Hôm nay anh thành tay bỏ mối… chính hiệu rồi.
– Em xem… cái rờ-mọt có được không?
– Còn mới, nhưng lên đá, chạy thử, mớí biết được hay không.
Điều đầu tiên không ổn là chiều dài thùng rờ-mọt ngắn hơn chiều dài cây đá, mà như vậy thì không thể đóng bửng sau, đá dễ tuột khi lên dốc.
Xuân nói:
– Chẳng sao, cho trấu nhiều và rịt dây thun… là được.
– Thường người ta chở mấy cây với cái rờ-mọt?
– Có thể chở 10 cây, tức 500 kí nếu di chuyển đường phẳng, máy bốc, nhíp cứng…
– Còn phải qua dốc Nam Anh?
– 6 cây tức 300 kí là vừa.
Xuân chất lên rờ-mọt 5 cây.
– Em sẽ ra dốc chờ…
– Chi vậy?
– Em sợ xe không bốc, lúc đó phải kê bánh hay đẩy liền, không thì lọt mương.
– Hắn rất lo nhưng cố nói cứng.
– Còn lâu…
Hắn nổ máy vào số 1, vô ga khởi hành. Xe xìa bên trái, xìa bên phải, không chạy thẳng được. Hắn thắng lại, lo âu.
– Xuân… Xuân…
– Nhíp quá yếu, không thể chở đá được.
– Bây giờ làm sao?
– Thêm lá vào nhíp, hay thay cái mới.
Hắn tiu nghỉu, mặt buồn rười rượi.
– Công cóc.
Xuân nói:
– Em nghĩ, anh bán cái này, dồn tiền đặt làm cái mới, tốt hơn.
– Đặt cái mới?
– Mình sử dụng lâu dài mà anh.
Hắn lưỡng lự, có chút tiền, trả hết cho cái rơ-mọt thổ tả này rồi, còn đâu mà đặt cái mới.
– Thầy cứ đặt đi, tôi cho mượn.
Hắn và Xuân đều bất ngờ, không biết chị Năm đứng sau lưng từ lúc nào.

Tiếp tục đọc

BÀI HOAN CA Ở A 38 (24+25)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Phần 24

_____________

Hắn nhìn chị Út đang có chiều suy nghĩ.
– Chị thấy đó, các cháu nhỏ quá… Tôi sợ không chịu nổi sốt rét.
– Tôi biết và hiểu khó khăn của gia đình… nhưng…
– Xin chị can thiệp cho hoãn một thời gian thôi.
Chị Út trầm ngâm rồi nói:
-Thời gian thầy đi học tập, cô và 4 đứa nhỏ thuộc diện phải đi KTM đợt đầu, nói thật… tôi đã tranh đấu rất hung…
Chị như nhớ lại:
– Việc của cô phải đi KTM phải đưa ra cấp ủy đến 2 lần… Trong 2 lần này đều rất căng… Nhờ Quang bên Thanh Niên tiếp tay… “Một phụ nữ với 4 đứa con còn lũn đũn, đưa họ lên KTM, họ sẽ chết đói thôi. Nó ảnh hưởng xấu đến chính sách, xin các đ/c nghiên cứu lại…” Sau cùng họ chấp thuận hoãn. Bây giờ là lệnh gọi đợt hai, lần hai của gia đình, cho dù có muốn giúp Thầy cũng không thể nào giúp được…
Hắn nghe và hiểu khó khăn của chị Út.
-Họ dùng người, những người nằm trong lòng địch, cùng sống chết một thời… cũng chỉ là tình thế thôi… Tất cả còn trong giai đoạn thử thách…
Ngưng một chút, chị tiếp:
– Tất cả những chỉ thị đều nhận từ trên… Chủ tịch phường chỉ là người chỉ đạo thực thi, thực chất quyền hành nằm trong tay văn phòng Đảng Ủy…
Chị ngập ngừng:
– Chính sách KTM… lý thuyết thì như vậy… 5 đối tượng phải đi… nhưng…
Chị nhìn quanh rồi nhỏ giọng:
– Nhà của những người di tản, vượt biên bị nhà nước tịch thu và đã bố trí cho cơ quan và phân phối cho cán bộ hết rồi. Bây giờ đến lượt nhà của người đi KTM. Cán bộ đi lùng, chấm nhà nào là gia đình nhà đó phải đi, chẳng cần rơi vào năm đối tượng.
Giọng chị Út buồn buồn:
– Có một cách thầy được hoãn là cô có việc làm trong một cơ quan nhà nước.
Một năm Ngọc, cháu chị Út, học lớp Hắn làm chủ nhiệm. Có nhiều lần Hắn và chị Út gặp nhau để bàn về việc học của Ngọc. Thỉnh thoảng chị Út cho Hắn chùm tỏi Thái An, loại tỏi ngon nhất.
Hắn trở lại cty Mía Đường PR-TC, nằm trên đường vào phi trường Thanh Sơn.
– Thưa anh giám đốc…
– Lần trước tôi đã nói không được rồi, sao hôm nay lại đến… Mất thì giờ quá.
Hắn nói như ma rượt:
– Dạ… thưa giám đốc, vợ tôi có thể làm bất cứ việc gì mà cty phân công. Xin giám đốc giúp đỡ.
– Giúp cho anh… .. . rồi ai giúp cho tôi? Trung úy Ngụy, lại còn là Sĩ Quan biệt phái… Anh có đi mòn dép cũng không ai dám nhận đâu.
Hắn cầu cứu lần chót:
– Xin ông giám đốc…
– Anh là người có học … mà sao lì thế…
Hắn lên xe 68, trở lại con đường đã đến, con đường đá lổm chổm, khô khốc, không một bóng cây. Bên kia, trên ngọn đồi thấp, tháp Po Klaong Girai sừng sững. Hình ảnh Tháp cho Hắn liên tưởng đến sự kiên gan, không đầu hàng bão táp.
Khi xe qua Mỹ Đức, Hắn nhìn rừng Bạc Hà, nhớ lúc đưa Vân và các con về đây sống cuộc đời nghèo khó… Cũng chiếc 68 này, quay đều ngày và đêm. Có những đêm khuya tan lớp, từ Nguyễn công Trứ trở về, trong sương đêm, trong gió khuya lạnh lùng, Hắn viết bài Năm Mới tặng Vân:

Tiếp tục đọc

BÀI HOAN CA Ở A 38 (22+23)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Phần 22

________________

Sau buổi Sinh Hoạt hàng đêm, như thường lệ Hắn bước nhanh về hướng tây, bên kho lương thực. Hắn lấy hai cái tạ tay làm bằng ciment, Hắn bắt đầu tập. Thời khóa biểu Papillon đều đặn như vậy. Hắn hít sâu… thở dài theo nhịp tập.
– Anh khối trưởng.
Hắn giật mình khi nhìn cán bộ Hùng đứng một bên lúc nào không hay.
– Cán bộ…
– Khỏe … dữ hê…
Hắn đặt hai cái tạ xuống đất, đứng thẳng, chờ cán bộ Hùng ra chỉ thị.
– Có tin vui cho anh.
– Tin vui gì thế, cán bộ?
– Mai… về.
Hắn không hiểu:
– Mai… về?
Cán bộ Hùng nói nhanh:
– Thì về với vợ con …
– Tôi được thả hả cán bộ?
– Được trở về… chứ không phải được thả…
Cán bộ Hùng cười hiền:
– Nói như vậy là chưa tiến bộ.
Hắn run run:
– Thật hả… cán bộ…
Cán bộ Hùng không trả lời.
– Cả anh N nữa.
Hắn càng mừng hơn.
– Cảm ơn cán bộ.
– Tuyệt đối bí mật.
– Tôi hiểu.
– Đừng để anh em ở lại xao động.
– Tôi hiểu.
Cán bộ Hùng đưa tay, hai bàn tay siết nhẹ.
– Chúc khỏe.
Cán bộ Hùng từ giã Hắn, bước vội về hướng Trung Đoàn. Hắn ba chân bốn cẳng về phòng, dáo dác tìm anh N nhưng không thấy anh N đâu cả. Thời gian này, trại viên tự do, đa số súc miệng đánh răng… Đèn chỉ được thắp sáng đến 21 giờ thôi, từ đó trại viên phải ngủ. Hắn bước ra phía sau, anh N đang lùi khoai lang trong bếp. Hắn nói nhỏ:
– Em với anh… mai về.
– Chú nói cái gì?
– Em nói anh em mình được thả.
Anh N run giọng:
– Ai nói?
– Cán bộ Hùng… Ông ấy vừa báo với em.
– Thật không?
– Em nghĩ là thật… sáng mai…
– Còn ai nữa?
– Em không biết.
Trước khi quay về phòng, Hắn nói:
– Anh, anh nhớ bí mật.
– Anh biết rồi.
Hắn cố bình tỉnh, không hé lộ trạng thái khác lạ hơn mọi ngày. Hắn lấy trong cái balô – của Khánh tặng – một bị thuốc cảm cúm, sốt rét và ra khỏi phòng. Người sĩ quan già đang phủi chiếc chiếu, chuẩn bị ngã lưng, chợt thấy Hắn:
– Anh Khối Trưởng…
Hắn nói nhanh:
– Vừa rồi nhà tôi có gởi vô ít thuốc, tôi gởi anh…
– Anh khối trưởng giữ lấy để phòng thân…
– Còn nhiều, phần tôi có rồi.
Hắn nhét vào tay người sĩ quan già, rồi bước ra khỏi phòng. Hắn đến chỗ Hạt Mè.
– Hí hoáy cái gì đó, viết thư cho vợ hả?
Hạt Mè nhìn Hắn ngạc nhiên:
– Có gì… mà dẫn xác đến giờ này?
Hắn cướp lời:
– Có cái này cho cậu.
Hắn ném gói thuốc lên cái túi trên đầu chiếc chiếu và ngập ngừng.
– Tớ về đây.
Hắn muốn nói cái gì đó với Hạt Mè nhưng không nói được. Hắn quay đi. Đèn đã tắt, đêm tối choàng kín không gian. Hắn lầm lủi bước. Không có cuộc chia tay nào, kể cả cuộc chia tay mà mình mong đợi, là không buồn. Lòng Hắn ngậm ngùi.
Buổi sáng đến và diễn ra bình thường. Hắn hồi hộp chờ, anh N tay chân như luống cuống, anh không giữ được bình tỉnh như Hắn.
Khi mặt trời lên quá một sào, trại viên chuẩn bị đi học thì cán bộ Hùng xuất hiện và nói lớn.
– Anh Khối trưởng, tập họp khối.
Anh em bất ngờ, vì buổi sáng không bao giờ tập họp để cán bộ phổ biến.
Cán bộ Hùng:
– Khẩn trương lên.
– Anh em… khẩn trương…
Khi khối đã vào hàng chỉnh tề, cán bộ Hùng đứng bên tấm bảng, mà hàng đêm Hắn đứng trong giờ Sinh Hoạt.
– Các anh nghe đây. Hôm nay có một số trại viên phải đến một nơi học tập mới.
Cán Bộ Hùng lấy tờ giấy từ túi áo ra.
– Ai có tên thì ra khỏi hàng, thu xếp đồ cá nhân, chuyển trại.
Và đọc to:
-P.m T, N.v N… Anh em không có tên, tiếp tục công việc như thường lệ.
Hắn về phòng, anh em bu quanh từ giã…
– Anh Khối Trưởng đi mạnh giỏi.
– Anh Khối Trưởng cầm cái này phòng khi cảm cúm.
– Anh Khối Trưởng…
Hắn cuộn chiếc chiếu quanh balô, xốc lên lưng và bước ra khỏi phòng. Hắn nhìn khắp nơi, nhìn anh em, nhưng không thấy một ai. Hắn phải xa nơi này, xa anh em, xa những giọt mồ hôi đắng cay của cuộc đời. Anh H ngơ ngác, líu giọng hỏi anh N:
– Có chuyện gì… chuyện gì?
– Chuyển trại…
– Trại nào? Ở đâu?
– Không biết.
Cán Bộ Hùng ra lệnh:
– Anh T và N theo tôi, số còn lại lên lớp.
Ở sân trước Trung Đoàn đã có một số chuyển trại như Hắn. Một cán bộ ra lệnh:
– Các anh tập họp…
Tất cả tự giác vào hàng.
– Tôi đọc tên ai, người đó la “có” và ra khỏi hàng tập họp bên trái. Cán bộ đưa tay chỉ khoảng đất trống.
– Nguyen Van P, Tu Minh K, Pham M T,…
Tất cả có 58 tên trại viên “chuyển trại”. Có đứa mặt mày hớn hở, có đứa lo âu, có đứa trầm ngâm… Như vậy trong số 58 trại viên, có người biết “được thả” như Hắn, có người không biết, cứ nghĩ là chuyển trại.
– Các anh kiểm tra lại, coi có còn quên cái gì hay không.
Nhiều người trả lời:
– Không.
– Các anh xếp hàng hai, đi theo chúng tôi.
Hai cán bộ đi trước, 58 trại viên theo sau, về hướng cửa Bắc. Lúc đi ngang “Giảng Đường”, trại viên đang học nhìn ra. Có một vài cánh tay đưa lên, vẫy từ biệt. Số phận của những cuộc đời, cả của Hắn, ngày mai sẽ ra sao [?] Không có gì làm cơ sở để bảo đảm câu trả lời cả.
Khi qua khỏi chiếc cổng, ngăn cách giữa khu A.38 và bên ngoài, một cán bộ cười cười:
– Các anh sắp gặp lại vợ con, sướng nhe…
Và giải thích:
– Các anh sẽ ở trại “Bồi Dưỡng” một tuần… rồi có xe đưa về địa phương…
Hai cán bộ dẫn đường bàn giao 58 trại viên cho cán bộ trại Bồi Dưỡng và đưa tay giã từ.
– Chúc các anh về địa phương “tiến bộ”.

Tiếp tục đọc

BÀI HOAN CA Ở A 38 ( 20+21)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Phần 20

_______________

Có một chuyện cười ra nước mắt.
Quảng, tên nhân vật chính, biên chế tổ 7, khối 2, khu có cấp bậc từ Đại úy trở lên, trại A.38.
Lý lịch cũng chẳng có gì “ghê gớm”. Học chưa hết Đệ Tam bị động viên, vào Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Ra trường về sư 23 bộ binh, trấn giữ vùng Cao Nguyên Trung Phần. Qua bao ngày tháng năm, từ thời trai trẻ đến lúc vợ con “đùm đề”, thì được cho về trường Đồng Đế học lớp Sĩ Quan Đặc biệt, đó là vào năm 1973. Ra trường được gắn omega chuẩn úy. Về lại đơn vị được bố trí làm việc ở bộ phận truyền tin sư đoàn. Tháng 2/75 được ít ngày phép về thăm vợ ở Hòa Đa. Tình hình chiến sự biến đổi nhanh không kịp về đơn vị. Ngày 17/4 quân cách mạng giải phóng Tuy Phong, Hòa Đa, Phan Rí. Ngày 30/4 Quảng ra trình diện. Quảng thuộc những người có mặt ở A.38 sớm nhất.
Như đã nói, tờ tự khai phải thông qua tổ, qua khối mới nộp lên Trung Đoàn, một người không được thông qua là cả tổ, cả khối, dừng lại, chờ.
Thường nếu xảy ra như vậy thì cá nhân đó phải tự viết lại cho đến khi được thông qua. Đó là việc nội bộ trại viên, cán bộ quản giáo không can thiệp.
Nhưng khi Quảng cứ viết đi viết lại mãi, khi tổ, khối thông qua thì lần này Trung Đoàn lại không thông qua.
Cán bộ quản giáo gọi Quảng lên trung Đoàn và hỏi:
– Lần này… anh biết là lần bao nhiêu rồi không?
– Thưa… lần… lần…
– Lần thứ 7, cả tập thể chờ anh.
Quảng ngơ ngác:
– Tôi tình thiệt, có gì khai hết trong tờ tự khai rồi mà.
– Anh khai hết hay chưa, chúng tôi sẽ biết… nhưng…
– Nhưng … sao?
– Anh khai gian!
– Khai gian?
– Đúng, anh khai không đúng sự thật.
– Chỗ nào không đúng sự thật? Cán bộ chỉ giùm…
Cán bộ trợn mắt:
– Chúng tôi chỉ giùm thì nói làm gì… Cách mạng yêu cầu các anh phải tự giác.
– Tự giác… thì tôi tự giác hết rồi.
Cán bộ gằn giọng:
– Nhưng có đúng sự thật hay không?
– Đúng, nhất định đúng… vì làm sao che giấu cán bộ được việc gì.
– Anh hiểu được như vậy là tốt.
– Tôi xin thề, tôi khai gian thì cha, mẹ, vợ con tôi sẽ bị trời đánh, thánh đâm.
– Anh thề nghe hay quá.
– Cán bộ nói sao?
– Anh đem hết mọi người ra chết… trừ anh…
– Tôi nghĩ nhiều người chết thì cán bộ mới tin.
– Anh sai rồi. Nhiều người chết chỉ tổ thúi đất. Tôi cần cái chết của anh hơn.
Quảng bỗng cà lăm:
– Thì… thì… tôi nữa…. chế… chết… treo ngành… nếu tôi khai láo.
Không hiểu chữ “treo ngành” mà Quảng dùng là nghĩa gì và lúc nói có ý thức về từ đó hay không. Chỉ biết Quảng, về cuối cuộc gặp gỡ bất đắc dĩ, bỗng ngơ ngơ như người mộng du.
Ba ngày sau khi nộp tờ tự khai mới, anh tổ trưởng tổ 7 lại gọi: “Anh Quảng… Anh Quảng”, và khi Quảng xuất hiện, anh tổ trưởng lập lại như bao lần đã nói… “cán bộ quản giáo gọi lên Trung Đoàn.”
– Lần này là lần thứ 11. Chúng tôi không đủ kiên nhẫn chờ anh giác ngộ.
Quảng rắn rỏi:
– Tôi cũng chịu hết nổi cảnh “gọi lên Trung Đoàn” kiểu này rồi.
– Anh nói chịu hết nổi là ý gì?
– Là “chết sướng hơn” sống…
Cán bộ quản giáo gầm như cọp gầm:
– Chết sướng hơn… được… d/c.L đâu… cho tên cứng đầu này … biệt giam.

Tiếp tục đọc

BÀI HOAN CA Ở A 38 (18+19)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

CHU TRẦM NGUYÊN MINH

Phần 18

________________

– Có một bà thăm nuôi chết ngoài chợ.
– Sao vậy… ?
– Nghe nói trúng gió.
Toán Trại Viên đi lấy trấu về cho bếp nấu ăn, vừa đổ trấu vào kho chất đốt vừa nói, một vài người hỏi thăm:
– Có biết người ở đâu đến không?
– Không.
Hắn có nghe, nhưng công việc lấp kín đầu, Hắn không để ý. Rồi mọi người ai có việc nấy, số đông ở trong phòng viết thu hoạch, số khác đi tập văn nghệ 2/9. Hắn cùng tổ lương thực và tổ nhà bếp, phối hợp kiểm kê lương thực, gạo, bắp, bo bo, cá khô, muối… v… v đã nhận của Trung Đoàn tháng qua, tổng thu, tổng chi mỗi loại. Công việc không đơn giản nhẹ nhàng chút nào, dù Hắn đã cho vào sổ từng ngày.
Mọi người đều cố gắng trong phần việc của mình, tiến hành nhịp nhàng, chênh lệch tổng chi rồi cũng tìm ra, khớp với tổng thu.
Trại viên đứng tán chuyện ở sân, nơi hàng đêm Sinh Hoạt. Chuyện người đàn bà đi thăm nuôi chết ngoài chợ Sông Mao lại được nhắc đến.
– Mày nghe ai nói?
– Dân ở ngoài đó, ai cũng biết chuyện. Họ nói người đàn bà vào chợ mua thêm quà cho chồng, bỗng ngã xuống, sùi bọt mép…
– Rồi sao nữa?
– Mày để tao thở đã…
– Tao biết… Những người trong chợ, đa số là dân tộc Nùng, họ lôi người đàn bà ra khỏi chợ, bỏ nằm bên đường.
– Phải cấp cứu người ta chớ!
– Nùng ghét Việt… đời nào.
– Quân… quân ác đức!
– Họ lấy chiếc chiếu rách đắp lên xác chết…
– Quân trời đánh!
Đến giờ Sinh Hoạt, trại viên đứng thành hàng, theo tổ. Anh khối phó có nhiệm vụ điểm danh, rồi báo cáo lại cho khối trưởng.
Hằng đêm, Hắn vẫn đứng ở vị trí này. Sau lưng là tấm bảng đen, dán đủ thứ thông báo, và công tác hàng ngày. Phía trên tấm bảng có bóng đèn điện hình trái bầu, phát ra ánh sáng vàng hiu hắt. Ở đây, hàng đêm Hắn không nhìn rõ mặt đồng đội, những khuôn mặt ngước nhìn lên, những khuôn mặt u hoài, chờ đợi…
Và đêm nào cũng vậy, khi tiếng còi tàu cất lên, vang xa trong sương đêm, sự yên lặng trở nên rợn người chìm theo những dòng nước mắt. Hắn biết, đồng đội Hắn đang khóc… và Hắn cũng vậy. Hắn nuốt trôi vào lồng ngực dòng nước mắt chực trào ra.
Những đêm không còn việc gì cần nói, không gian trở thành mênh mông và hồn người như gởi về nơi xa mù. Như đêm nay.
Hắn đột ngột nói to:
– Hát… hát… anh em ơi…
– Phải… hát… hát…
– Quản Ca Q đâu?
– Em đây.
Hắn vỗ vai Q và cất cao:
Hò dô ta nào
Kéo pháo ta vượt qua đèo

Tiếp tục đọc

BÀI HOAN CA Ở A38 (16+17)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

Chu Trầm Nguyên Minh

Phần 16

__________________

Trong cái xách bằng lát mà Vân đã trao cho Hắn có: hai gói Pall Mall, bốn gói Lucky Luke, 10 gói Bastos xanh, một bịch thuốc rê, một gói đường tán màu vàng, bốn quần tà lỏn, bốn áo thun, hai khăn tắm, một bộ đồ bà ba màu đen và hai hộp quẹt… và một ổ bánh mì thịt, nhiều bơ… loại Hắn thích ăn, vì mãi nói chuyện quên đưa cho chồng ăn, giờ mềm nhũng ướt nhẹp.
Khối 13 có gần 50 trại viên có thăm nuôi, hơn phân nửa, một số nhà xa, một số mất liên lạc với gia đinh…   nên không có người nhà vào thăm…   Anh em cùng cảnh ngộ, bây giờ có người vui, kẻ buồn, kẻ có người không.… Buổi Sinh Hoạt tối đó, Hắn nói:
-Thưa anh em, khối chúng ta có 130, ồ không 132 người nhưng hôm nay chỉ có hơn 50 người được thăm nuôi…
Hắn ngừng lại, nhìn khắp lượt những người đang ngồi bệt trên sân cỏ, ngước đôi mắt nhìn lên, bóng đèn vàng sau lưng Hắn, từ lâu đã không soi rõ mặt người, hôm nay như tối sầm lại.
-Thưa anh em, thời gian qua chúng ta cùng cam cộng khổ, vui buồn có nhau, mồ hôi cùng đổ, nước mắt cùng rơi…   Chúng ta bốn phương trời về đây nhưng giờ như anh em một nhà.
Chưa bao giờ Buổi Sinh Hoạt tối lặng yên như lúc này, dường như Hắn nghe cả tiếng thở của 131 con người và Hắn, tiếng thở lẫn theo sương đêm, theo tiếng còi tàu ở ga Sông Lòng Sông vọng lại, đêm trở nên âm thầm.
-Tôi xin đề nghị…   50 phần quà chia đều cho 132 anh em…
Hắn đưa cao cánh tay trái.
-Còn 49 anh em kia thế nào?
49 cánh tay đưa cao…  hét lớn…
-Nhất trí.
Tiếng vỗ tay vang lên, như xé nát bóng tối, tiếng vỗ tay của tình người.
Hắn cười và gọi lớn:
-Anh khối phó và 10 tổ trưởng thi hành… Lệnh khẩn…
Buổi Sinh Hoạt kết thúc, Hắn trở lại phòng. V hỏi:
-Các em khỏe không anh?
-Cảm ơn em, chúng khỏe. Hắn nói về trường hợp Ca Dao té gãy tay và hỏi:
-Theo em thầy thuốc Nam có tin được không?
-Hoàn toàn tin được, có những bài thuốc liền xương hay lắm anh à.
-Như vậy anh yên tâm rồi Tiếp tục đọc

Bài Hoan Ca Ở A38 (14+15)

Screen Shot 2014-02-22 at 9.44.35 AM

Phần 14

_________________

Buổi chiều ngày cuối cùng được nghỉ, trại viên đi lêu nghêu ngoài sân, những khoảng trống trước đây cỏ tranh đã được dọn sạch để làm chỗ tập họp, sinh hoạt về đêm. Nội dung những buổi sinh hoạt như vậy thường là “tổng kết” những công việc đã làm trong ngày, ưu khuyết điểm, công việc của ngày hôm sau. Có lúc xử kiện, những mâu thuẫn phát sinh giữa trại viên, có khi dẫn đến động tay động chân. Cuối buổi sinh hoạt bao giờ cũng là phần tập hát, những bài hát “cách mạng” từ: Như Có Bác Hồ, Cô Gái Vót Chông, Tiếng Chày Trên Sóc Bambo, Cô Gái Lam Hồng, Kéo Pháo Qua Đèo… Những bài hát có nhịp “đuổi gà” cộng với tiếng vỗ của nhiều bàn tay, vang vang trong đêm. 21 g thì tan hàng, ai về phòng nấy, đêm lại trôi qua trong trằn trọc, lo lắng, nhớ nhung.
Hạt Mè xuất hiện.
-Kỳ Khu…   Kỳ Khu…
-Sao? Rộng họng quá vậy?
-Ông thuộc loại…  lãng tai, không hét lớn làm sao ông nghe.
Hắn thấy Hạt Mè nói cũng đúng. Có lúc, quả thật…  không nghe gì…
-Việc gì nữa đây?  Chim của ông…
-Chim chóc gì. Đi với tớ Tiếp tục đọc

Bài Hoan Ca Ở A 38 (12+13)

Chu Trầm Nguyên Minh

Screen Shot 2014-02-25 at 7.06.09 PM

Phần 12

_______________

Chuyện giáo sư biệt phái được “thả 50%” là tin vịt, mà là vịt cồ nữa, vì chẳng có ai được thả cả. Giáo sư H ngã bệnh, anh hy vọng quá nhiều, nỗi thất vọng trở nên quá lớn, nó quật ngã anh không thương tiếc. Anh nằm trên chiếc chiếu số 2, cùng phòng 2 với Hắn.
Anh rên hừ hừ.
-Lát nữa trại viên V sẽ tẩm quất và xông cho anh.
-Không cần đâu.
Hắn ái ngại:
-Anh bệnh…   không nhẹ.
Anh H tung mền khỏi đầu:
-T này…
-Dạ…
-Có khối nào…   giáo sư…   được về không?
-Dứt khoát…   không.
Vẻ nghi ngờ:
-Vậy…  tại sao lại có tin?
Hắn cố cười.
-Tin vịt cồ đó mà.
-Vịt cồ?
Hắn cúi xuống nói nhỏ vừa đủ H nghe:
-“Đừng nghe những gì CS nói….”
Anh H trợn mắt. Hắn cười như thỏa mãn khi đã nói được điều muốn nói.
-Anh nghỉ đi…   Tôi xuống bếp xem họ nấu cháo cho anh chưa.
Hôm nay là ngày cuối cùng được nghỉ tự do, ngày mai sẽ bắt đầu học bài thứ nhất, mỗi bài học kéo dài bảy ngày, ngày đầu: lên lớp nghe cán bộ giảng bài, ngày hai lên lớp, nếu cán bộ giảng chưa xong thì giảng tiếp, khi nhiệm vụ cán bộ xong, đến phần giải đáp thắc mắc, những điều chưa rõ, học viên đưa tay được cho phép mới đứng lên phát biểu. Ngày thứ ba trở đi, làm bài Thu Hoạch, thông qua tổ rồi tập họp, khối nào nộp lên Trung Đoàn theo khối đó. Thu Hoạch là sau khi nghe cán bộ dạy ở giảng đường, viết và phân tích lại nội dung, và đưa ra kết luận. Kết luận mang tính chủ quan của từng cá nhân…   nhưng không lạc ngoài chủ đề của bài học. Thường mỗi bài người ta ghi hay nói rõ mục đích yêu cầu, cứ căn cứ vào đó mà “tán”. Chương trình có 10 bài, học xong chỉ hơn một tháng. Đây là thời gian nhẹ nhất, chỉ nghe và viết, nhưng chủ nhật không được nghỉ, phải tranh thủ đi lao động.
-Anh nấu cháo cho người bệnh chưa?
-Chín rồi…   khối trưởng.
-Anh múc một ca…   đem lên cho anh H giùm tôi Tiếp tục đọc